|
Tuân Tử 298 – 238 trước Công Nguyên
1. Sơ yếu cuộc đời
Tuân Tử tên Huống , tự Khanh, cũng tự Tôn Khanh. Đời Hán đặt tên sách
của Tuân Tử là "Tôn Khanh Tử", sang thời Đường mới đổi lại xưng hô
"Tuân Tử". Tuân Tử người nước Triệu, sanh vào năm nào không được rõ,
chỉ biết "Niên giám Tuân Tử", bắt đầu ghi chép sự tích của Người từ năm
Triệu Huệ Văn Vương nguyên niên, tức 298 tr. KN. TL và mất vào năm thứ
25 Sở Khảo Liệt Vương, tức 238 tr. CN. Đại để là, trước 40 tuổi, Tuân
Tử chuyên tâm về việc trau dồi học vấn, khoảng trước sau 50 tuổi đi du
hành qua các nước, từ 60 tuổi trở đi, những năm đầu làm huyện lệnh Lan
Lăng của nước Sở, những năm sau thì mở lớp dạy học, y như Khổng Tử,
Mạnh Tử thuở trước. Đúng vào năm 50 tuổi, Tuân Tử đến nước Tề. Tuy được
người Tề hết sức kính nể, đã trước sau ba lần cử làm "Tế tửu , một danh
hiệu vinh dự trong buổi "quốc yến", nhưng rốt cuộc chẳng được trọng
dụng. Sau khi rời Tề sang Tần, Tuân Tử được gặp tể tướng Phạm Tuy. Lúc
đó Tần là một cường quốc, thường ỷ thế mạnh đe dọa chư hầu. Phạm Tuy
hỏi cảm nghĩ của khách ra sao, đối với Tần. Đáp lại câu hỏi đó, trước
hết, Tuân Tử ca ngợi Tần là một nước có tập tục tốt, núi non đẹp, hơn
nữa là, quan lại dốc lòng vì dân, triều đình làm việc mau mắn. Nhưng
tiếp theo thì vuốt mặt chẳng nể mũi, thẳng lời phê bình nước Tần hãy
còn khiếm khuyết đạo Nho. Chiếu theo tiêu chuẩn của Tuân Tử thì, thiếu
đạo Nho tức là thiếu Lễ nghĩa, mà lễ nghĩa là linh hồn của quốc gia.
Tuân Tử khen điều hay, chê điều dở của Tần một cách thẳng thắn, chẳng
ngại mếch lòng ai như vậy là thái độ nhận chân nghiêm túc, phải là
phải, trái là trái của con người Nho học. Song cũng vì thế, nên Tuân Tử
đã thiếu dịp may thi thố tài đức, thực hiện lý tưởng chính trị của
mình, đành phải trở về cố quốc. Ở Triệu là nơi nước nhà, Tuân Tử từng
biện luận phép dụng binh với Lâm Vũ Quân, trước mặt Triệu Hiếu Thành
Vương. Lâm Vũ Quân dựa vào nguyên tắc "xuất kỳ bất ý, công kỳ bất bị"
của Tôn Tử binh pháp, cho ràng kẻ dùng binh giỏi, bao giờ cũng "quyền
mưu thế lợi " và "công đoạt biến trá", nghĩa là không từ bỏ bất cứ thủ
đoạn gian trá nào. Ngược lại, Tuân Tử có quan điểm khác hẳn, Người nhấn
mạnh kẻ giỏi về quân sự là biết "thiện phụ dân", tức là dựa vào sức
mạnh của dân một cách hiệu quả. Tuân Tử cho rằng, được dân ủng hộ mới
nắm chắc phần thắng, cho nên "thiện phụ dân", là cái vốn quý nhất của
người điều khiển chiến tranh.
Tiếc thay, ngay tại bản quốc cũng không đắc chí Tuân Tử lại tái xuất
ngoại, sang nước Sở. Tại Sở, Tuân Tử được Xuân Thân Quân bổ làm huyện
lệnh huyện Lan Lăng, rồi từ đó định cư luôn tại chỗ, không trở về cố
quốc nữa. Vào những năm cuối cùng, lúc tuổi về già, Tuân Tử mở trường
tư thục dạy học và viết sách, sáng lập ra học phái Lan Lăng, tạo dựng
phong khí thư hương cho xứ này. Từ đó, học trò Lan Lăng hay lấy chữ
"Khanh" đặt tự, để kỷ niệm thầy Tuân Tử.
Người đời sau hay hiểu một cách tổng quát là, lúc về già, Khổng Tử cùng
Mạnh Tử đều cáo lão về vườn, lập ngôn và trước tác. Thật ra, bảo trọng
Khổng - Mạnh lập ngôn là đúng, nhưng viết sách vị tất đã đúng. Riêng
Tuân Tử, trong thời gian ở Lan Lăng, chẳng những đã lập ngôn, mà còn
lập thư nữa. Ba mươi ba thiên trong cuốn sách mà Tuân Tử đã viết, là
một bộ tác phẩm, có hệ thống tư tưởng hoàn chỉnh nhất của phái Nho học
thời Chu - lân. (Nói như vậy, không có nghĩa là cuốn "Tuân Tử" ngày
nay, hoàn toàn do một tay Tuân Tử viết ra, bởi cổ tịch nào cũng có phần
tả thêm, hoặc ít hoặc nhiều ngôn luận của các nhà Nho đời sau). Tuy
rằng, trong triết lý tư tưởng của Tuân Tử, có một số khác biệt với
Khổng - Mạnh, nhưng về lập trường căn bản của Người đối với thế sự,
nhất là thái độ khẳng định giá trị lý tưởng chính trị của nhà Nho, thì
chẳng có khác gì với Khổng - Mạnh. Có lẽ cũng vì thế mà cuộc đời của
Tuân Tử cũng chẳng khác chi mấy, so với Khổng Tử và Mạnh Tử. 2. Tư tưởng của Tuân Tử
Tuân Tử cũng như Mạnh Tử, cả hai đều là nhân vật lịch sử, thừa kế tư
tưởng, phát triển học thuyết của đức thầy Khổng Tử, nhưng kết cuộc thì
khác nhau về tao ngộ. Trên lịch sử Trung quốc, Mạnh Tử đã giành được
một địa vị chỉ có dưới một nấc, so với Khổng Tử, sách "Mạnh Tử" được
liệt vào mười ba kinh thư, mà tầng lớp trí thức cổ kim, ai nấy đều nên
học hỏi theo truyền thống. Còn sách "Tuân Tử" thì trái lại, không được
người đời coi trọng, thậm chí có chỗ còn bị coi như dị đoan". Xét ra
thì có hai nguyên nhân, tạo nên hiện lượng bất thường này: Một là, vì
Tuân Tử đề ra "Tính ác", ngược lại với "Tính thiện" của Mạnh Tử; hai
là, có hai đệ tử của Tuân Tử sau này, là Hàn Phi cùng Lý Tư, đều là
nhân vật chủ chốt, trong thế cuộc dẫn tới bạo chính của nhà Tần.
Người ta đã so sánh phần dị biệt về tư tưởng, giữa Tuân Tử với Mạnh Tử,
ngoài vấn đề "tính ác" với "tính thiện" ra, còn có những điểm sau đây:
1/- Mạnh Tử thuộc về chủ nghĩa "tiên nghiệm"; Tuân Tử thuộc về chủ nghĩa "kinh nghiệm".
2/- Mạnh Tử chú trọng về "tâm tính", nhằm xây dựng một hệ thống triết
lý cho Nho học; Tuân Tử thì để ý về vấn đề chính trị, xã hội nhiều hơn,
nhằm giải quyết sự việc thật
3/- Trong phần tu dưỡng tâm tính, Mạnh Tử chủ trương "quả dục"; Tuân Tử chủ trương "túc dục".
4/- Về phần bổng lộc, Mạnh Tử vẫn giữ nguyên thể chế thế tập với thái
độ bảo thủ; Tuân Tử thì chủ trương "vô đức bất quý, vô năng bất quan".
(kẻ thiếu đức không đáng hưởng địa vị cao sang, người thiếu tài không
được làm quan), có khuynh hướng chống quy tắc thế lộc (con cháu được
hưởng lộc ông cha), muốn giải thoát con người ra ngoài cương tỏa của
chế độ phong kiến.
5/- Mạnh Tử cố chấp về giá trị lý tưởng cao cả, coi nhẹ việc làm cho
quốc gia giầu mạnh; Tuân Tử thích ứng với trào lưu mới hơn, luôn luôn
nhấn mạnh, phải làm thế nào cho quốc gia phú cường.
Tuy nhiên, người ta công nhận, giữa Mạnh Tử và Tuân Tử cũng có nhiều điểm tương đồng sau đây:
(a) Cả hai đều tôn sùng Chu công và Khổng Tử, và có ý thức quý dân hơn vua.
(b) Đều nhấn mạnh, tính cách quan trọng của đạo đức và nhân phẩm con người.
(c) Khinh miệt thuyết "hợp tung", "liên hoành" của Tô Tần và Trương Nghi.
(d) Phê phán rất nghiêm khắc, các học thuyết khác đương thời.
Nói chung, tư tưởng của Tuân Tử có những điểm nổi bật sau đây:
1/- Luận tâm theo lý tít Tuân Tử bảo: "Tâm tri đạo, nhiên hậu khả đạo;
khả đạo nhiên hậu năng thủ đạo dĩ cấm phi đạo". (Khi lòng người đã hiểu
đạo thì đạo mới hành; đạo có hành thì người ta mới giữ theo đạo và ngăn
ngừa những gì trái đạo). Theo Tuân Tử thì, công dụng của "tâm" là để
"tri đạo" nghĩa là đạo ở ngoài tâm, là đối tượng để cho tâm tìm hiểu
một cách khách quan. Như vậy thì khác với tư tưởng của Khổng - Mạnh.
cho là đạo ở ngay trong lòng người (tâm). Cũng bởi khác nhau về trạng
thái tâm linh, cho nên Khổng - Mạnh đã trở thành giáo phái, Tuân Tử thì
tự thành học phái. Kẻ thành giáo phái thuộc mẫu "Chúa cứu thế”; người
thành học phái thuộc mẫu "nhà học vấn". Tư tưởng của hai đàng sở dĩ
khác nhau, là bởi hai mẫu người khác nhau.
2/- Khi luận về trí thức, Tuân Tử rằng: "Phàm dĩ tri, nhân chi tính
giã; khả dĩ trì, vật chi lý giã". (Sự hiểu biết là bản tính của con
người; những gì mà người ta biết được, đó là lý lẽ của sự vật). Câu
trước có hàm nghĩa "năng tri", câu sau có hàm nghĩa "Sở tri", năng tri
và sở tri kết hợp nhau, là thành trí thức.
3/- Luận về Trời (Tạo hóa), Tuân Tử giữ thái độ hoài nghi, phủ định
tính cách chúa tể của Trời, cho rằng Trời chẳng có liên can gì tới vấn
đề trị loạn, hưng vong của thế gian. Thái độ này là điều kiện tất yếu
cho nhà khoa học, trong số các nhà triết học truyền thống cổ Trung
Quốc, ít ai có được lối nhìn quý hóa này.
4/- Tuân Tử chú trọng đặc biệt về trí thức, chủ trương để trí thức
quyết định cho hành vi của con người. Điểm này có giá trị đặc biệt, bổ
khuyết cho học thuyết Khổng - Mạnh, bởi trong suốt cuộc đời, Khổng Tử
chưa hề có lời khẳng định, tầm quan trọng của kinh nghiệm và trí thức.
5/- Dầu cho tư tưởng của Tuân Tử, có khác biệt với Khổng - Mạnh, nhưng
Người không phủ định hẳn truyền thống nhà Chu, chẳng qua là, văn hóa
nhà Chu đối với Khổng Tử, thì có ý nghĩa về đạo đức cùng giáo hóa, khi
đến tay Tuân Tử thì áp dụng vào lý luận trí thức, xây dựng thành hệ
thống Lễ, Nghĩa của quốc gia, xã hội. Đặc điểm này của Tuân Tử, rất ăn
khớp với câu "Trí thức tức là đạo đức danh ngôn của triết gia Tây
phương Sơcrates. Tiếc rằng, Tuân Tử chưa hoàn thành được toàn bộ triết
lý theo quan niệm "trí thức luận", có lẽ vì nguồn tư tưởng của Người đã
bị giới hạn vô hình, bởi nền văn hóa truyền thống của Trung Quốc chăng.
Ngoài năm điểm trên, trong tư tưởng của Tuân Tử, còn một điểm nổi bật
nữa là, thuyết "Tính bản ác". Phần đông người ta đã hiểu lầm chân ý của
Tuân Tử về tính ác của con người. Thật ra thì Tuân Tử có bảo: "Tính giả
thiên chi tựu”. Nghĩa là khi sinh ra, người ta đã sẵn cái nhân tính tự
nhiên. Nhân tính đó, ví như tờ giấy trắng, được nhuộm màu gì sẽ ra màu
ấy. Sở dĩ nhân tính có thể thành ra ác, là bởi lòng người nảy sinh dục
vọng, như Tuân Tử đã bảo: "Kim nhân chi tính, sinh nhi háo lợi yên,
thuận chi, cố tranh đoạt sinh, nhi từ nhượng vong yên... Sinh nhi hữu
nhĩ mục chi dục, hữu háo thanh sắc yên, thuận chi, cố dâm loạn sinh,
nhi lễ nghĩa văn lý vong yên. Nhiên tắc, túng nhân chi tính, thuận nhân
chi tình, tất xuất ư tranh đoạt, thạp ư phạm nhân loạn lý, nhi quy ư
bạo... Dụng thử quan chi, nhiên tắc nhân chi tính ác minh dĩ". (Tính
người ngày nay, trời sinh có kẻ hiếu lợi, do đó, mới sinh ra vấn đề
tranh đoạt mà mất đi đức tính khiêm nhường... Trời sinh người ta có thứ
dục vọng bởi tai mắt, thích nghe cái hay, nhìn cái đẹp do đó mới sinh
ra vấn đề dâm loạn, mà mất đi lễ nghĩa, đạo lý văn hóa. Vậy thì, nếu cứ
chiều theo tính và thuận theo tình của con người, thì sẽ diễn ra cảnh
tranh giành, phạm tội loạn ly, rồi quy hết về bạo lực... Cứ nhìn theo
đó thì đã quá rõ ràng, tính người là ác vậy). Đấy là lý luận của Tuân
Tử, giải thích tại sao bản tính của con người, từ chỗ trong trắng dẫn
tới chỗ ác hại. Vậy phải làm sao để khử được ác, giúp cho con người
hướng về thiện? Tuân Tử nhận định rằng, hành động tội ác của con người,
là do hậu quả bị ảnh hưởng, bởi những yếu tố phản đạo lý trong văn hóa,
vậy thì phải cậy những yếu tố hạp đạo lý trong văn hóa, mới có thể chữa
trị được. Nói cách khác, phương pháp trừ ác của Tuân Tử là phát huy
công dụng giáo hóa của Lễ và Nghĩa, rồi cậy Lễ, Nghĩa kìm hãm hành vi
tham lam của con người. Thật ra, cách trừ ác của Tuân Tử nói trên, vốn
là một lối phổ thông nhất, trong xã hội lễ giáo mà Trung Quốc đã có sẵn
cái truyền thống đó. Chẳng qua vì người ta chỉ để ý đến cách giáo hóa
bằng lòng "Nhân" của Khổng Tử và bằng đức "Nghĩa" của Mạnh Tử, mà chẳng
nhớ tới cách giáo hóa Lễ, Nghĩa bằng phép vua của Tuân Tử đó thôi.
Về mặt tư tưởng chính trị của Tuân Tử, một phần là thừa kế chủ thuyết
của Khổng - Mạnh; phần khác là thuộc về sáng kiến riêng của Người.
Trong phần thừa kế, có hai điểm rõ rệt nhất là "quý dân" và "thượng
hiền". Sách "Tuân Tử" có rất nhiều chỗ nói về "quý dân" tựu trung có ba
điểm chính:
(I) Thương dân nước sẽ mạnh, như câu "ái dân giả cường, bất ái dân giả
nhược". (Kẻ thương dân thì mạnh, kẻ không thương dân là yếu)
(2) Thương dân thì chúa sẽ an vị, như câu "Quân giả châu giã; thứ nhân
giả, thủy giã; thủy tắc tải châu, thủy lắc phúc châu, thử chi vị giã.
Cố quân nhân giả, dục an, tắc mạc nhược bình chính ái dân dĩ". (Vua ví
như thuyền; dân ví như nước; nước chở được thuyền thì cũng lật được
thuyền. Cho nên kẻ nắm quyền cai trị nếu muốn được an vị, thì chẳng còn
cách nào hay bằng, thực hiện chính trị hòa bình và biết thương dân).
(3) Lập luận dân quý vua khinh, như câu "Thiên chi sinh dân, phi vi
quân giã; thiên chi lập quân, dĩ vi dân giã". (Trời sinh ra dân, chẳng
phải vì vua; trời lập ra vua ấy là vì dân). Điểm này hoàn toàn phù hợp
với lời "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh", của Mạnh Tử. Về
phần "thượng hiền", cũng có ba quan điểm rõ rệt là:
(a) Chọn hiền sĩ có thể giúp cho vua an vị, như câu tuyển hiền
trưởng... như thị tắc thứ nhân an chính; thứ nhân an chính, nhiên hậu
quân tử an vị". (Tuyển dụng kẻ hiền tài giúp việc nước... như thế là
dân sống yên nhờ chính trị tốt; dân có yên chính, thì chúa mới yên vị
được).
(b) Đức phải xứng với vị, như câu "Vô đức bất quý, vô năng bất quan, vô
công bất thưởng, vô tội bất phạt... (Kẻ thiếu đức không được ở địa vị
cao sang, người kém tài thì không được làm quan, chẳng có công thì đừng
thưởng, chẳng có tội thì đừng phạt...).
(c) Phê phán kẻ bất kính hiền, khác nào loài cầm thú, như câu "Nhân
hiền nhi bất kính, tắc thị cầm thú giã". (Không biết kính trọng kẻ hiền
sĩ, tức là loài cầm thú vậy).
Riêng về phần sáng kiến độc đáo của Tuân Tử, tức là chủ nghĩa Lễ trị.
Điều này sở dĩ khác biệt với Khổng - Mạnh, là vì trong vấn đề trị nước,
Khổng - Mạnh định luận theo ý niệm đạo đức, có tính cách chủ quan; còn
Tuân Tử thì định luận theo giáo hóa Lễ, Nghĩa, có tính cách khách quan.
Lý do rất giản dị là xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ, chẳng phải là thứ
xã hội pháp trị. nên chỉ trọng vào phép vua để trị nước chưa đủ, còn
phải cậy vào Lễ, Nghĩa để giáo hóa và bổ túc, mới được hoàn hảo hơn. Do
đó, Tuân Tử coi Lễ, Nghĩa là nền tảng của chính trị quốc gia, chẳng
những là pháp chế để thống ngự thần dân, đồng thời còn là then chốt của
cuộc trị loạn, hưng vong của một nước. 3. Công tích của Tuân Tử đối với Nho học
Giả thử chúng ta nhìn Nho học bằng khái niệm tổng quát, thì thấy Khổng
Tử thuộc về đạo "Nhân", Mạnh Tử thuộc về đạo "Nghĩa", còn Tuân Tử thì
thuộc về đạo "Trí". Nhân giả, giàu tình thương, có lòng thành khẩn và
tâm hồn quảng đạt; Nghĩa giả, cương trực tiết tháo, thị phi phân minh,
biểu lộ khí phách hiên ngang, độc lập của phần tử trí thức; Trí giả,
nhận xét sự vật bằng lý tính, phải là phải, trái là trái, không bị ảnh
hưởng bởi tình cảm. Dùng lý trí khách quan của Tuân Tử, bổ túc cho đạo
đức chủ quan của Khổng - Mạnh, giúp cho chủ thuyết Nho học càng hoàn
hảo hơn, hội đủ điều kiện tất yếu, vừa là giáo phái, vừa là học phái.
Phần bổ túc đó, có ba điểm trọng đại nhất sau đây:
1/- Túc dục: Khổng Tử từng chủ trương "tiên phú hậu giáo" Mạnh Tử cũng
từng khuyên vua chúa, nên hữu sản hóa cho lê dân, chứng tỏ Nho học đã
có sẵn quan niệm "túc dục" (thỏa mãn cho đòi hỏi). Song, quan niệm đó,
vô tình lại mâu thuẫn với giá trị căn bản trong tư tưởng Khổng - Mạnh,
như Khổng Tử từng bảo: "Quân tử mưu đạo bất mưu thực". Và Mạnh Tử cũng
kêu gọi người đời nên "quả dục" (bớt đòi hỏi đi). Trái lại, giá trị căn
bản của Tuân Tử bất do Nhân, bất do Nghĩa mà đánh giá vào chữ LỄ". Một
trong những công hiệu của Lễ, là "Dưỡng nhân chi dục cấp nhân chi cầu”.
(Chấp nhận những đòi hỏi chính đáng của người ta, và thỏa mãn theo nhu
cầu cho người ta). Cho nên Tuân Tử đề xướng chính sách tăng gia sản
xuất cho nước giàu mạnh, đặng có đủ điều kiện "túc dục" cho dân.
2/- Hợp quần: Đây là tư tưởng xã hội của Tuân Tử với câu: "Lực bất
nhược ngưu, tẩu bất nhược mã, nhi ngưu mã vi dụng hà giã? Viết: Nhân
năng quần, bỉ bất năng quần... Cố nhân sinh bất năng vô quần, quần nhi
vô phấn tắc tranh, tranh tắc loạn, loạn tắc ly, ly tắc nhược, nhược tắc
bất năng thắng vật... Năng dĩ sư thân vị chi hiếu, năng dĩ sư huynh vị
chi dễ, năng dĩ sư thượng vị chi thuận, năng dĩ sư hạ vị chi quân. Quân
giả, thiện quần giã, quần đạo đương, tắc vạn vật giai đắc kỳ nghi".
(Sức chẳng mạnh bằng trâu, chạy chẳng nhanh bằng ngựa, sao trâu ngựa
lại để cho ta khiển dụng? Câu trả lời là: Người ta biết hợp quần, trâu
ngựa không biết hợp quần... Cho nên người ta sinh ra chẳng thể không
hợp quần, nhưng đã hợp quần mà không định phận là tranh giành nhau, hễ
tranh là loạn, loạn thì chia rẽ nhau, chia rẽ nhau thì yếu, đã yếu thì
chẳng thành tựu được việc gì cả... Biết lấy đạo hợp quần mà thờ song
thân gọi là hiếu, biết lấy đạo hợp quần mà trọng đàn anh, gọi là đễ,
biết lấy đạo hợp quần mà kính bề trên, gọi là thuận, biết lấy đạo hợp
quần mà xử kẻ dưới, gọi là chúa. Người làm chúa phải giỏi đạo hợp quần,
đạo hợp quần tốt, là tất cả mọi sự vật đều được giải quyết một cách
thỏa đáng). Đoạn văn này của Tuân Tử gồm có bốn điểm chánh sau đây:
(1) Hợp quần là một trong những đặc tính của loài người. Nói khác đi,
con người là loài động vật có đặc tính xã hội, nhờ vậy mới ưu việt hơn
các loài động vật khác.
(2) Hợp quần tốt, là một phương thức giải quyết được các vấn đề phân tranh trong xã hội.
(3) Hợp quần cũng là một phương cách, tiến hành sự việc chung trong xã
hội, và mọi người đều có vị trí cùng quyền lợi tương xứng.
(4) Tuân Tử muốn lấy đạo hợp quần thay thế cho giá trị cũ của đạo hiếu
đễ. Nghĩa là, một khi con người ta đã góp phần cống hiến thích đáng cho
xã hội, thì kể như đã làm tròn bổn phận trong đạo Hiếu và Để rồi.
3/- Bình đẳng: Khổng Tử từng chủ trương bình đẳng về kinh tế, như câu:
"Bất hoạn quả nhi hoạn bất quân". (Chẳng lo ít, chỉ lo chia không đều),
nhưng tư tưởng bình đẳng của Tuân Tử thì hướng về địa vị xã hội nhiều
hơn.
Bởi vì đưa ra chủ trương bình đẳng về kinh tế, trong lúc xã hội cổ
Trung Quốc còn rất nghèo nàn về điều kiện vật chất, xét ra chẳng có ý
nghĩa gì cho lắm. Trái lại, ý thức bình đẳng về địa vị xã hội, mới đúng
là một đòn đả kích mạnh, nhắm vào chế độ phong kiến, một thể chế chính
trị bất hợp lý của tầng lớp quý tộc. Riêng về điểm này, Tuân Tử đã nói
rất rõ: "Tuy vương, công, sĩ đại phu chi tử tôn, bất năng thuộc ư lễ
nghĩa, tắc quy chi thứ nhân; tuy thứ nhân chi tử tôn giã, tích văn học,
chánh thân hạnh, năng thuộc ư lễ nghĩa, tắc quy chi khanh tướng, sĩ đại
phu . (Dù là con cháu của bậc vương công, sĩ đại phu chăng nữa, nếu
chẳng vào khuôn phép Lễ Nghĩa, thì nên đánh xuống hạng thường dân; tuy
là con cháu của thường dân, giá như có học thức cao, hạnh kiểm tốt,
thuộc vào khuôn phép Lễ Nghĩa, thì nên nâng lên hàng khanh tướng, sĩ
đại phu).
Tuân Tử có thể kết luận là, một triết gia theo chủ nghĩa nhân bản. Ở
Trung Quốc, Khổng Tử là người khởi xướng chủ nghĩa nhân bản, nhưng so
sánh ra thì, chủ nghĩa nhân bản của Tuân Tử có nhiều tiến bộ hơn. Một
là, tuy Tuân Tử cũng nhiệt tình với nền văn hóa truyền thống, nhưng
không có ý phục cổ, trái lại, còn rất mạnh dạn phê bình người xưa.
Ngoài Khổng Tử ra, ít có nhân vật tiêu biểu nào trong các học phái thời
Chu Tần, thoát khỏi lời phê bình của Tuân Tử, kể cả Mạnh Tử và Tử Tư.
Tuy nhiên, khi phê bình, Tuân Tử luôn luôn đứng vào cương vị học thuật
để đánh giá tư tưởng của người khác. Hai là, Tuân Tử chú trọng thực
tiễn hơn là lý thuyết suông, cho nên luôn luôn nhấn mạnh vấn đề chính
trị xã hội, gạt bỏ mọi ý tưởng than thoại ảo huyền, theo đuổi lý tưởng
giải phóng con người. Đáng liếc là, từ đời Chu Tần trở đi, xã hội Trung
Quốc vẫn là xã hội nặng về truyền thống, chính trị Trung Quốc vẫn là
chính trị chuyên chế vua quan, thiếu các chất tố dân chủ khoa học như
trong xã hội Tây phương, rút cuộc phong trào nhân văn, mà các triết gia
thời Chu Tần đã khởi xướng trước đây trên hai ngàn năm, bị mai một từ
đời nọ qua đời kia. |