|
9.Triều dâng Sau hội nghị trung ương 5/41, các thành viên tản ra khắp nơi. Chinh cùng
với Việt, Thụ trở về xây dựng trụ sở TƯ tại ngoại ô Hà nội. Một số khác
chạy ra các tỉnh lân cận xây dựng các đội du kích, mở rộng căn cứ tại
Việt bắc. Một số vượt biên tiếp tục củng cố quan hệ đồng minh lỏng lẻo
với các phần tử dân tộc không cộng sản. Quốc vẫn ở lại Pacbo, chuẩn bị
cho công cuộc nam tiến. Cũng như ở thời gian ở Thái, không để phí thời
gian Quốc liền biến mình thành người thầy và người cha cho đám quần
chúng - con chiên. Quốc tổ chức các khoá học ngắn ngày về chủ nghĩa
Max-Lê và các kỹ năng quân sự biến các cán bộ địa phương vừa là chiến
binh vừa là tông đồ. Quốc đích thân giảng dạy các khoá này, giải thích
về tình hình và tương quan lực lượng trên thế giới. Giáo trình về cách
thức tổ chức chiến tranh du kích cũng do Quốc chuẩn bị, chắc là nhờ
những kinh nghiệm học được trong thời gian ở trong bát lộ quân. Quốc
cũng thường xuyên viết bài cho tờ Việt nam độc lập in trên giấy được chế
từ bột tre. Để cho dân chúng có thể đọc được báo, chương trình xoá mù
chữ được tiến hành trong vùng. Các bài báo của Quốc đề cập đến nhiều vấn
đề khác nhau, bao gồm cả lịch sử đảng và phong trào cách mạng thế giới
nhưng tựu trung là đều kêu gọi quần chúng chuẩn bị cho cuộc chiến đấu
không khoan nhượng với kẻ thù.
( bị mất mấy dòng........)
Trong các bài viết của mình, Quốc luôn nhắc đến việc dành độc lập cho
đất nước như một nghĩa vụ thiêng liêng. Trong bài thơ “Lịch sử nước ta”,
ngay trang đầu Quốc đã viết: “Dân ta phải biết sử ta, Cho tường gốc
tích nước nhà Việt nam” và kết luận: ”Dân ta xin nhớ chữ đồng, Đồng
lòng, đồng sức, đồng tình, đồng minh”. Cuối bài này, Quốc đã liệt kê ra một loạt những mốc thời gian quan trọng của Việt nam. Thời điểm cuối cùng là năm 1945, Việt nam độc lập. Khi các đồng chí hỏi tại sao ông lại biết trước là năm 45 nước ta sẽ được độc lập, Quốc chỉ trả lời: để rồi xem.
Trong lúc đó, Phùng Chí Kiên được chỉ thị đi tìm địa điểm cho căn cứ
cách mạng đã quyết định dừng chân tại một vùng núi giữa hai huyện Nguyên
Bình và Hoà An phía tây tỉnh lỵ Cao bằng. Căn cứ này nằm trong thung
lũng nhỏ bao quanh bằng những tảng đá đỏ nên được Võ Nguyên Giáp gọi là
Lô cốt đỏ. Bản thân trụ sở thì chỉ là một túp lều nhưng so với hang
Pacbo thì quả là đã quá sang trọng. Tháng 1/42, trong bộ quần áo người
Nùng mang theo chiếc máy chữ và những dụng cụ luyện tập thể dục, Quốc
cùng với một vài đồng chí nữa rời Pác bó đi bộ đến căn cứ mới. Trên
đường có lúc cả đoàn bị lạc nhưng Quốc chỉ cười to “Thế này đâm ra hay,
biết đâu sau này lại dùng được đường này để chạy trốn”. Quốc đặt tên cho
căn cứ mới là Lam sơn và lại bắt tay vào công việc đào tạo và khích lệ
một số đồng chí sốt ruột vì cuộc đấu tranh không có hồi kết. Quốc nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ nòng cốt. Ông nói: “cách
mạng như nước thuỷ triều, có lúc lên lúc xuống. Cán bộ nòng cốt chính là
những cột cừ giữ đất khi nước xuống”. Tuy điều kiện ở tốt hơn nhưng căn
cứ mới dễ bị Pháp truy quét. Thỉnh thoảng cả bọn lại phải trốn vào rừng
rậm hoang sơ rất vất vả. Quốc luôn sẵn sàng chia sẻ những điều kiện khó
khăn nhất với các đồng chí của mình. Khi tinh thần xuống, ông động
viên: "người cách mạng cần nhất 3 tính cách: kiên trì, bình tĩnh và cảnh giác”. Từ những năm 30, Đảng đã chủ trương chọn Việt bắc để xây dựng căn cứ hỗ
trợ cho mình. Đại hội I năm 1935 đã hứa sẽ dành cho tất cả các dân tộc
sống ở trong khu vực này quyền tự trị trong liên bang Đông dương độc lập
trong tương lai. Được Quốc khuyến khích, rất nhiều cán bộ đã học tiếng
cũng như các phong tục địa phương, tham gia vào các hoạt động cộng đồng,
một số lập gia đình tại chỗ. Quốc luôn nhắc các đồng chí của mình:"Tuyên truyền là công tác quan trọng nhất của cách mạng, và là bảo đảm cho thành công".
7/12/1941, Nhật bất ngờ tấn công Mỹ ở Trân Châu Cảng. Ngay lập tức trên
báo Độc lập, Quốc có bài phân tích tình hình, nhận định cuộc chiến trên
Thái Bình Dương đã trở thành cuộc xung đột có tính toàn cầu, và cách
mạng Việt nam cần có những điều chỉnh để có thể tập hợp lực lượng sẵn
sàng cho những thách thức mới. Quốc cho rằng từ Cao bằng phải mở rộng
liên kết với những đội du kích đang hoạt động ở Bắc sơn, Võ nhai do Chu
Văn Tấn chỉ huy, tiến tới mở hành lang xuống đồng bằng Bắc bộ. Cũng
trong thời gian này, quân Pháp tăng cường càn quét, lùng sục. Phùng Chí
Kiên bị giết trong một trận càn. Tháng 6 năm 1942, Quốc quyết định rời
Lam sơn về lại Pacbo trong vai một thầy cúng đi chữa bệnh cho vợ.
Ngày 13/8/1942 Q cùng Lê Quảng Ba lên đường sang Tàu để tìm kiếm thêm sự
hỗ trợ quốc tế. Họ đi bộ, ngày nghỉ, đêm đi để tránh mật thám Pháp, đến
được thị trấn biên giới nhỏ Bamong ngày 25/8. Sau khi nghỉ 2 ngày tại
nhà một nông dân có cảm tình với cách mạng Việt nam Xu Weisan, cùng với
một liên lạc viên trẻ Trung Quốc, Quốc lên đường tới kinh đô cách mạng
Trùng khánh, để Lê Quảng Ba lại ở Bamong. Chưa đi được bao xa thì cả hai
đã bị cảnh sát Trung Quốc bắt tại làng Teyuan, gần thị trấn Debao, 20
dặm về phía Đông bắc của Giang tây. Chính quyền địa phương nghi họ là
gián điệp của Nhật vì cả giấy chứng nhận của Hội Chống xâm lăng, thẻ nhà
báo mang tên Hồ Chí Minh của Tân xã quốc tế, lẫn chứng minh thư của
Quân đoàn 4 mà Quốc mang theo người đều đã hết hạn. Mục tiêu chuyến đi
Trung Quốc này của Quốc cũng là một câu hỏi được nhiều người quan tâm.
Trong hồi ký của mình, Quốc tự nhận là nhằm tìm kiếm mối quan hệ với
Tưởng và nhờ chính phủ Quốc dân đảng giúp đỡ đuổi Nhật. Một số nhà sử
học thì cho rằng chẳng qua Quốc muốn bắt liên lạc với các đồng chí của
mình ở Đảng CS Trung Quốc. Sự thật thì chắc là cả hai. Hiển nhiên là
Quốc muốn gặp lại Chu Ân Lai và những người quen cũ mà ông đã không gặp
từ năm 1938 tại ở Diên An, nhưng mục đích chính của Quốc chắc là tìm sự
ủng hộ của Tưởng. Quốc thừa biết sau chiến thắng Midway, quân đồng minh
đang chiếm ưu thế và chính phủ Tưởng được đồng minh ủng hộ, có nhiều khả
năng sống sót sau hậu chiến. Quốc cũng cần chính phủ Tưởng làm ngơ cho
các hoạt động của Việt minh ở phía Nam Trung Quốc. Người mà Quốc muốn
liên lạc để giới thiệu nhiều khả năng là Tống Khánh Linh, đang phụ trách
chi nhánh Trung Quốc của Hội Chống xâm lăng.
Hoa mắt với đống giấy tờ giả, chính quyền địa phương cho rằng kẻ bị bắt
chắc phải có tầm quan trọng lớn. Họ đã liên lạc với toà án quân sự ở Quế
lâm, thủ phủ Quảng tây. Toà này yêu cầu dẫn giải Quốc đến để xét xử.
Mặc dù Xu Weisan có người quen trong chính quyền nhưng vẫn không can
thiệp được. Ngày 29/8, Quốc bị tống vào nhà giam Quốc dân đảng ở Jingxi,
để tiếp tục đợi lệnh trên. Chính trong điều kiện tù ngục khó khăn này,
tập thơ nổi tiếng của Quốc “Nhật ký trong tù” đã ra đời.
Ngâm thơ ta vốn không ham
Nhưng ngồi trong ngục biết làm chi đây
Ngồi buồn ngâm vịnh cho khuây
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do Ngày 10/10, kỷ niệm 31 năm cách mạng tư sản Trung Quốc, Quốc bị chuyển
sang Debao. Trong thời gian này, được tin Wendell Willkie, đặc phái viên
của Rusevelt cũng đến Trùng khánh và được tiếp đón nồng nhiệt, Quốc đã
cám cảnh làm bài thơ:
Tôi với ông... ( mất mấy dòng...)
Từ Debao, Quốc bị chuyển qua Tiandong và Lungan tới Nam ninh. Tình hình
có vẻ như cũng được cải thiện. Ngày 9/12, Quốc được đưa lên tàu chuyển
về Liễu Châu, trụ sở của quân khu 4. Tư lệnh vùng là tướng Trương Phát
Khuê, cũng không chia sẻ quan điểm chống cộng điên cuồng của Tưởng và
ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Việt nam. Quốc hy vọng là
vụ việc sẽ được báo cáo lên ông này. Tuy nhiên, chẳng có gì xảy ra cả,
ngày hôm sau Quốc bị đưa đi Quế lâm. Tại đây Quốc khai trước thẩm phán
toà quân sự là có quan hệ với phong trào cộng sản ở Đông dương nhưng
không liên quan gì đến Đảng CS Trung Quốc cả. Thẩm phán tuyên bố Quốc là
tù chính trị và được trả lại Liễu châu cho Phòng chính trị quân khu xử.
Quốc về lại đến Liễu châu đầu tháng 2 năm 1943.
Tin Quốc bị bắt về đến Pacbo vào cuối tháng 10. Các đồng chí của ông đã
gửi thư phản đối khắp nơi cho các hãng thông tấn như AP, Reuters, UPI,
Tass. Trong điện gửi Tass, họ khoe rằng Hội Chống xâm lăng Việt nam có
đến 200,000 thành viên và Quốc là nhân vật chủ chốt của Hội. Một cán bộ
của Đảng là Hoàng Đình Gióng đã được cử đi đưa một bức thư đến tận tay
Tôn Kế, con trai Tôn Trung Sơn, hiện là chủ tịch Nghị viện. Bức thư
viết:
Kính thưa Tôn Chủ tịch
Đại diện của chúng tôi, ông Hồ Chí Minh đã bị bắt trên đường đến diện
kiến Tưởng Nguyên soái. Chúng tôi khẩn thiết yêu cầu ngài can thiệp để
thả ông ấy ra càng sớm càng tốt
Mặc dù chẳng biết Hồ Chí Minh là ai, Tôn chuyển vụ việc cho Vũ Thế
Chương (Wu Tiecheng), tổng thư ký của Ban thường vụ TƯ Quốc dân đảng.
Ngày 9/11, ông này điện xuống Quế lâm và Liễu châu đề nghị nghiên cứu vụ
việc và nếu được thì thả Quốc ra. Đáng tiếc là lúc đó Quốc vẫn còn đang
ở trên đường từ Debao đến Nam ninh. Khoảng mùa đông năm 1942-1943, một cán bộ Đảng được cử đi tìm gặp Quốc
mới trở về thông báo là Quốc đã chết tại nhà tù ở Liễu châu. Các lãnh
đạo ở Việt bắc vội báo ngay tin cho các đồng chí của mình đang đóng gần
Hà nội và cử Phạm Văn Đồng phụ trách việc tang lễ. Vài tuần sau, khi sự
việc còn đang tù mù, bỗng có tờ báo đến từ Trung Quốc, trên đó có mấy
dòng viết tay nét chữ của Quốc: “Gửi các chíên hữu. Chúc khoẻ và dũng
cảm trong công việc” kèm theo là bài thơ:
Núi ấp ôm mây, mây ấp núi
Lòng sông gương sáng bụi không mờ
Bòi hồi dạo bước Tây phong lĩnh
Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa
Anh em mừng hú, mới gọi tay cán bộ kia ra tra hỏi. Tay này khẳng định là
chính Tỉnh trưởng thông báo tin này. Vặn vẹo kỹ mới vỡ lẽ là tay này
kém tiếng Tàu, nghe nhầm chữ "Shi" tức là OK thành "Xi" tức là chết
Trong tập Nhật ký trong tù, Quốc ví mình như quả bóng bị đá đi đá lại
giữa các nhà tù. Trong 5 tháng cuối, ông đã từng qua đến 18 nhà tù của
13 huyện nam Trung hoa. Cuộc sống đã dễ thở hơn. Thức ăn đã tạm được,
tối ngủ không bị xiềng, thỉnh thoảng ban ngày còn được đi dạo, thậm chí
còn được đọc sách báo. Quốc thường tận dụng cơ hội liên lạc với các đồng
chí của mình bằng cách viết bằng nước cơm lên mép của các quyển tạp
chí. Để giết thời gian, Quốc đã dịch cuốn Nguyên tắc Tam dân của Tôn
Trung Sơn sang tiếng Việt.
Khoảng mùa xuân năm 1943, Trương Phát Khuê cũng hiểu ra rằng tay tù
chính trị của mình là ai, hay ít nhất cũng nắm được rằng tay này là cộng
sản. Theo Hoàng Văn Hoan, chính một thành viên quốc dân đảng Việt nam
tên là Trần Bao đã khai ra Quốc chính là đặc vụ của QTCS. Tuy nhiên
trong hồi ký của mình sau này, trưởng phòng chính trị QK 4, tướng Lương
Hoa Sinh kể rằng khi thẩm vấn Quốc, ông đã hiểu ngay tay này là cộng sản
và đề nghị thủ tiêu. Không hiểu sao, Trùng khánh lại phản đối và yêu
cầu Lương “cải tạo” tay tù này.
Quan điểm của chính phủ TW có thể bị Chu Ân Lai, lúc đó là trưởng đại
diện của Đảng CS Trung Quốc làm cho ảnh hưởng. Nghe tin Quốc bị bắt,
Chu đã liên hệ với tướng Phương Yuxiang, một trong những đối thủ của
Tưởng những năm 20-30, giúp đỡ. Phương đã tư vấn với đại điện Xô viết ở
Chính quyền, rồi cùng với Phó chủ tịch chính phủ là Lý Trung Nhân đến
gặp Tưởng. Phương nói với Tưởng, việc Quốc là cộng sản VN chẳng ảnh
hưởng gi đến QD đảng, Trung cộng rồi Xô cộng đều có đại diện tại Chính
quyền, đâu có ai bị bắt bớ gì? Chưa nói đến VN đang đứng cùng bên với
Tưởng trong cuộc chiến chống Nhật, xử Quốc như tội phạm sẽ làm mất uy
tín chính phủ, có thể ảnh hưởng đến sự ủng hộ của thế giới. Lý cũng hùa
vào, đề nghị giao cho vụ việc cho địa phương xử lý. Tưởng miễn cưỡng
đồng ý, điện cho QK 4 thả Quốc ra dưới sự giám sát và tìm cách lợi dụng
Quốc cho các mục đích của Quốc Dân Đảng.
Không rõ bức điện này có tác dụng gì không! Trong một cuộc phỏng vấn sau
này ở Mỹ, Trương Phát khuê cho rằng mình chưa bao giờ hành động theo
lệnh trên trong vụ giam giữ Hồ Chí Minh. Khi biết được Quốc là đại diện
của phong trào cộng sản VN, Trương đã giao cho trưởng phòng chính trị
mới là tướng Hầu Chí minh nhiệm vụ dụ dỗ Quốc hợp tác để đổi lấy tự do.
Trương cho biết ông đã trực tiếp thẩm vấn và bị thuyết phục bởi năng lực
tổ chức và nhiệt huyết chống Pháp của Quốc. Quốc thông báo đảng CS VN
đặt mục tiêu hàng đầu là độc lập và tự do của dân tộc mình. Quốc đề nghị
giúp đỡ Trương trong việc tổ chức lại các lực lượng VN yêu nước ở Nam
Trung hoa và cam kết sẽ không xây dựng xã hội cộng sản tại VN trong ít
nhất là 50 năm.
Trương hiển nhiên là có những mưu đồ chính trị dài hạn riêng trong việc
thả Quốc. Xuất thân từ Quảng đông, đã từng tham gia cuộc hành quân Bắc
phạt, Trương lại bị cho ra rìa trong các quan hệ chính trị Quốc - Cộng.
Trương ghét cả Nhật và Pháp và không loại trừ có cảm tình với tham vọng
dành độc lập của nhân dân Việt nam. Là tư lệnh QK4, Trương cần phải
chuẩn bị lực lượng để có thể tấn công quân Nhật ở Đông dương khi cần
thiết. Kế hoạch tập hợp lực lượng Việt nam của Trương đang bị nhiều vấn
đề nghiêm trọng. Cuối năm 1941, Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt nam, liên
minh giữa Quốc dân đảng và Đảng Cs Đông Dương tan vỡ do các lãnh tụ
Quốc Dân Đảng phát hiện ra mưu đồ của Giáp và Đồng. Sau đó thì chính
Tường Tam, Hải Thần và Nghiêm Kế Tộ hục hặc lẫn nhau, Nhà tài trợ chính
Trương Bội Công bị bắt vì tội hối lộ. Mùa hè 1942, Trương quyết định tổ
chức lại, thành lập Việt nam cách mạng đồng minh Hội, do tướng Hau
Chiminh làm cố vấn. Tuy nhiên Hội này cũng chẳng hơn gì Uỷ ban trước do
các lãnh đạo suốt ngày đấu đá. Có lẽ Trương hy vọng là Quốc sẽ mang lại
được nguồn sinh khí mới cho đám tay chân VN của mình. Ngày 10/9/1943,
Quốc được trả tự do. Một thành viên phòng chính trị kể rằng, ông ta đang
ăn thì bỗng thấy tay tù bước vào sà xuống tán phét với tướng Hầu
Chiminh và các cộng sự khác.
Mùa thu 43, Trương tuyên bố sẽ quan tâm trực tiếp đến Đồng minh Hội và
cử phó của mình là tướng Tiêu Văn làm cố vấn. Hồ Chí Minh được bổ nhiệm
làm phó chủ tịch. Chủ tịch hội lúc đó là Nguyễn Hải Thần chắc chắn là
rất khó chịu nhưng không dám làm mất lòng người đỡ đầu của mình. Trong
một bữa chiêu đãi, Hải Thần đã đưa ra câu đối: “Hồ Chí Minh, Hầu Chí
Minh, hai đồng chí cùng quyết chí minh”. Hồ Chí Minh đã trả lời: “Anh
cách mạng, tôi cách mạng, chúng ta sẽ cùng nhau cách mạng” . Được sự ưu
ái của Trương, Quốc càng ngày càng hoạt động tích cực trong Đồng minh
Hội. Ông chuyển đến sống ở trụ sở Hội và thường xuyên tham gia giảng dạy
về các vấn đề quốc tế và địa phương. Quốc thường nói với các học viên
là Trung hoa là động lực hòa bình, Nhật sẽ thất bại trước Đồng minh
trong khoảng 1 năm nữa và Trung Quốc sẽ giúp Việt Nam trở thành một quốc
gia thống nhất, hòa bình,
độc lập và dân chủ ỏ Đông Nam Á. Cảm thấy yên tâm, Trương đề nghị Quốc giúp đỡ để tổ chức đại hội lần 2
của Đồng Minh Hội. Quốc đồng ý và đề xuất hội nghị trù bị vào cuối tháng
2 năm 1944. Tại hội nghị này, Quốc kêu gọi Đồng Minh Hội mở rộng cửa
cho Việt minh cũng như tất cả các tổ chức Việt nam yêu nước và chống
phát xít khác. Đề cập đến nỗi sợ cộng sản của các đại biểu, Quốc nhấn
mạnh Đảng Cs Đông Dương hiện là tổ chức có ảnh hưởng lớn nhất và “nhân
dân Việt nam không có gì phảI sợ chủ nghĩa cộng sản”. Chủ nghĩa cộng
sản sẽ lan tỏa tư tưởng bình đẳng kinh tế trên toàn thế giới, như sự
bình đẳng chính trị do Cách mạng Pháp khởi xướng năm 1789 được dân chủ
gieo rắc khắp châu Âu. Theo ông, các đảng phái chính trị phải đoàn kết
vì mục tiêu chung như nước Trung hoa tam dân đã liên kết với đế quốc
Anh, cộng sản Nga và tư bản Mỹ để chống lại chủ nghĩa phát xít. Trương
Phát Khuê nghe rất sướng tai, đề nghị Hồ tổ chức đại hội vào cuối tháng
3. 
Mặc dù một số phần tử không cộng sản chẳng thích thú gì với ý tưởng mở
rộng phong trào của Hồ ra sức chống đối, tuy nhiên do Trương “đại ca”
đích thân đứng ra đốc thúc và bảo kê, đại hội vẫn được tổ chức vào ngày
24/3/1944 với 15 đại biểu từ Đảng Cs Đông Dương, Việt Nam Quốc Dân Đảng
và Đại Việt. 2 đại diện của Việt minh là Phạm Văn Đồng và Lê Tống Sơn.
Đại hội đã bầu ra ban chấp hành 7 thành viên trong đó có Hồ. Sau đại
hội, Trương hoàn toàn tin tưởng rằng là Hồ mới là người có thể đứng ra
lãnh đạo được các họat động của Đồng minh hội (ĐMH) và ủy quyền cho Hồ
toàn quyền hành động với lời hứa sẽ gửi Hồ trở lại Việt nam. Để chứng
minh sự “trung thành” của mình, Hồ lập kế hoạch mở rộng ĐMH (kêu gọi cả
những đảng được coi là bù nhìn như đảng Hiến pháp), tuyên truyền thiện
chí của Trung Quốc với nền độc lập của Việt Nam, tăng cường các hoạt
động vũ trang để chuẩn bị cơ sở để đón quân đội Trung Quốc vào Việt nam
đánh Nhật... và đề nghị Trương cung cấp tài chính, vũ khí. Trương đã
khôn khéo “né” và hứa chỉ cung cấp hộ chiếu, tiền bạc cũng như các
phương tiện đi lại cho Hồ, còn giúp đỡ trực tiếp những hoạt động kháng
Nhật bên trong Đông dương thì còn phải xem xét.
Trước khi rời Lưu châu, Hồ tới thăm tướng Tiêu Văn, cố vấn của Trương
cho ĐMH và là người đã giúp Hồ chuẩn bị cho chuyến trở lại Việt Nam.
Trong lúc trà dư tửu hậu, Hồ đã thề với Tiêu: “99% những điều tôi nói về
cách mạng Việt Nam là đúng, chỉ có 1% chưa nói với tướng quân thôi”. Có
lẽ Hồ ám chỉ lời hứa với Trương về việc không xây dựng chủ nghĩa cộng
sản ở Việt Nam trong 50 năm. Cuối tháng 8, Hồ cùng 18 học sinh Việt Nam
từ trường đào tạo của Trương, trong quân phục Tưởng, qua Long châu,
Jingxi lên đường về Việt nam. Sau khi nghỉ lại vài ngày ở thị trấn biên
giới Pingmeng để dưỡng sức và đảm bảo an toàn, cả đoàn về đến Pacbo vào
ngày 20/9. Trong thời gian Quốc vắng mặt, tình hình Việt Nam đã có nhiều biến đổi.
Cuộc chiến Thái bình dương bùng nổ đã mang lại cơ hội cũng như thách
thức mới cho Việt nam với sự có mặt của Anh, Mỹ và Tàu Tưởng. Sau một số
thắng lợi ban đầu của phong trào cách mạng, Pháp đã xiết chặt kiểm soát
và bố ráp trong năm 1943, Hoàng Văn Thụ bị bắt và tử hình. Trường Chinh
thoát chết vì kịp thời cải trang thành nông dân. Tuy nhiên từ giữa
1944, các nhóm cách mạng nhỏ bị Pháp truy quét lại có cơ hội tập hợp lực
lượng lại, tình hình kinh tế tiếp tục bi đát dẫn đến sự bất bình của
dân chúng ở thành thị và nông thôn tạo thành môi trường lý tưởng để nuôi
dưỡng những hạt nhân cách mạng. Trong hội nghị tháng 7/1944 có đại diện
của Đảng CS Đông Dương tại 3 tỉnh biên giới, các đại biểu đã cãi nhau
kịch liệt về đề nghị của Giáp về việc phát động chiến tranh du kích để
thành lập khu giải phóng và xây dựng quân đội chính quy. Hội nghị tạm
thời đồng ý với Giáp về chiến tranh du kích nhưng chưa xác định được
thời điểm khởi động. Hội nghị cũng không thống nhất được về việc thành
lập quân đội. Trong chuyến đi cùng Vũ Anh đón Hồ về Pacbo, Giáp đã trình
bày về kế hoạch của mình cũng như những nghị quyết của hội nghị tháng
7. Hồ đã không đồng ý với Giáp và chỉ rõ: “quyết định mở cuộc tấn công ở
Việt bắc là chỉ dựa vào tình hình địa phương và chưa đánh giá tình hình
cả nước. Do chưa có nơi nào có phong trào mạnh, nên sẽ không thể cùng
đứng lên ủng hộ. Pháp sẽ dễ dàng có điều kiện tập trung lực lượng và đàn
áp. Giai đoạn cách mạng hòa bình đã qua, nhưng thời khắc tổng tiến công
vẫn chưa tới. Trước mắt các hoạt động tuyên truyền chính trị vẫn phải
được ưu tiên”. Để bù lại cho nỗi thất vọng của người đồng chí trẻ, Hồ đề
nghị Giáp bắt tay vào xây dựng những đơn vị đầu tiên của quân đội và
đặt tên là đội “Việt nam tuyên truyền giải phóng quân”. Hồ còn căn dặn
tiêu chí đầu tiên của đội là “bí mật, luôn luôn bí mật. Địch nghĩ ta ở
tây thì ta đang ở đông. Đánh bất ngờ, rút ngay khi địch chưa kịp trở
tay”. Ngày 22/12, Giáp đã tập hợp 34 thành viên trong một khu rừng Việt bắc, khởi đầu cho một đội quân huyền thoại.
2 ngày sau khi chào đời, đội quân mới thành lập đánh chiếm 2 đồn Na
ngần, Phai khắt. Ngoài vô khối vũ khí thu được, tin thắng trận lan như
lửa cháy rừng trong toàn Việt bắc.
Ngày 11/11/1944, máy bay trinh sát của trung úy Rudolph Shaw bị trục
trặc động cơ và Shaw phải nhảy dù xuống những cánh rừng Việt bắc. Việt
minh là những người đầu tiên tìm ra anh ta. Shaw kêu lên: “Viet minh,
Viet minh”, những người còn lại hét “America, Roosevelt!” và đó cũng là
cuộc nói chuyện duy nhất của họ. Việt minh quyết định đưa viên phi công
đến chỗ Hồ Chí Minh . Đêm đi, ngày nghỉ để tránh quân Nhật, trèo đèo,
lội suối, họ đã mất gần một tháng để vượt qua quãng đường có 40 dặm. Hồ
chào đón Shaw bằng thứ tiếng Anh thông dụng: “how do you do, pilot!
Where are you from?”. Viên phi công ứa nước mắt ôm chầm lấy Hồ và nói
“tôi nghe giọng ông mà như nghe tiếng bố tôi ở US”.
Hồ đã không chờ đợi cuộc gặp gỡ bất ngờ này với viên phi công Mỹ. Mặc dù
khi Mỹ bắt đầu tham chiến, Hồ đã coi sự ủng hộ của Mỹ là quân chủ bài
mà mình phải có để đánh Pháp, đuổi Nhật để dành độc lập. Trong thời gian
ở Lưu châu, Hồ đã dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu các tài liệu
của thư viện Văn phòng Thông tin chiến tranh Mỹ (OWI). Hiển nhiên là Hồ
biết Roosevelt không có cảm tình với chủ nghĩa thực dân châu Âu và ủng
hộ việc trao trả lại độc lập cho các thuộc địa ở châu á sau chiến tranh.
Về Đông dương, Roosevelt đã từng nói: “Pháp đã vắt kiệt mảnh đất
này trong 100 năm, các dân tộc Đông dương xứng đáng một số phận tốt hơn
thế”. Mặc dù thừa biết chế độ Mỹ là một chế độ tư bản, Hồ khâm
phục cam kết của nước Mỹ với những nguyên tắc dân chủ và tin tưởng
Roosevelt sẽ dẫn dắt nước Mỹ tiến tới bình đẳng hơn về kinh tế và xã
hội.
Các viên chức Mỹ ở Nam Trung hoa cũng đã biết đến Hồ từ lâu trước khi Hồ
được phóng thích. Từ mùa thu năm 1942, báo chí địa phương đã đưa tin về
một tù nhân chính trị tên là Ho Chih Chi vì những quan hệ với một chính
phủ Việt nam lâm thời thân Đồng minh. Khi các nhân viên đại sứ quán Mỹ
liên lạc với đại diện của phong trào Nước Pháp tự do, tay này đã phủ
nhận những tin này. Tuy nhiên, đại sứ Clarence Gauss cũng vẫn điện báo
cho bộ ngoại giao ngày 31/12/1942 tin về vụ bắt bớ, và ra lệnh cho các
nhân viên của mình tìm hiểu thêm. Vì không có sự hợp tác từ phía chính
phủ Trùng khánh, họ chẳng tìm được gì và cho rằng cái phong trào nào đó ở
Đông dương chẳng có tí ý nghĩa nào với nước Mỹ. Nhưng có những người Mỹ
khác không nghĩ như vậy. Mùa hè năm 1943, Chu ân Lai tiếp cận các quan
chức OSS để nhờ thả H đổi lấy sự ủng hộ quân đội Đồng minh tại Đông
dương. OSS đã trao đổi với một viên chức OWI mà Hồ đã từng đến xin làm
phiên dịch và một nhân viên sứ quán để tìm cách can thiệp với chính phủ
Trung Quốc thả Hồ và thảo luận sự cộng tác. Không rõ kế hoạch này có ảnh
hưởng gì đến quyết định của Trương Phát Khuê nhưng ít nhất là cũng
không thấy Hồ hợp tác ngay với quân Mỹ, ngoài việc sứ quán Mỹ nhận được
điện của Phân hội Việt nam của Hội quốc tế chống xâm lược nhờ xin thả Hồ
để tham gia vào các hoạt động chống Nhật tháng 11/1943. Một viên chức
sứ quán tên là Philip Sprouse nhận ra ngay tên của người tù từ năm
ngoái. Tuy nhiên đại diện của phong trào Nước Pháp Tự do đã thuyết phục
Sprouse rằng chẳng qua các Hội, đoàn này chỉ là trò chính trị vớ vẩn
phục vụ mục đích của Trung quốc và không nên bận tâm làm gì. Đại sứ
Gauss đã gửi cả bức thư xin cũng như lời giải thích của ông về việc
“Không trả lời” cho bộ Ngoại giao và vụ việc “chim nghỉm” ở Washington.
Mùa xuân 1944, đại diện Vietminh tại Nam Trung hoa lại tiếp tục gửi thư
đến văn phòng OSS, OWI và Sứ quán Mỹ đề nghị chiến đấu cùng Đồng minh
chống Nhật tại Đông dương và nhờ Mỹ giúp đỡ giành độc lập. Ngày 18/8,
đại diện OSS đã chuyển thư đến tùy viên sứ quán William Langdon kèm theo
lời bình: “Đông dương hậu chiến sẽ đại loạn nếu chúng ta không dựng lên
một cơ chế tự trị trước đó”. Ngày 8/9 Langdon tiếp đoàn Việt minh, hứa
sẽ chuyển thư cho Đại sứ, nhắc lại sự ủng hộ độc lập cho các dân tộc
phương đông, trong đó có Việt nam. Ông này cũng khôn khéo lờ đi việc
giúp đỡ trực tiếp :”các bạn đang là công dân Pháp mà chúng tôi lại đang
sát cánh với Pháp để đánh lại phe Trục. Không có lý gì Mỹ lại cùng lúc
vừa tốn xương máu, tiền bạc để cứu nước Pháp vừa giúp đỡ người khác lật
đổ đế chế Pháp”. Đại diện Việt minh là Phạm Việt Tú ra sức thuyết phục
là Việt Minh chỉ đánh Nhật chứ không đánh Pháp, và mong được sự độc lập.
Langdon không lay chuyển, viện cớ tướng Đờ Gôn đã tuyên bố ở Wasinhton
là sẽ trao cho các nước thuộc đế quốc Pháp những quyền tự trị, và nếu
Việt MInh không hài lòng, có thể nói chuyện trực tiếp với người Pháp.
Mặc dù OSS báo cáo tương đối lạc quan về cuộc gặp gỡ, Langdon và OWI cho
rằng các phần tử dân tộc chủ nghĩa Việt Nam tại Nam Trung hoa chưa có
đủ kinh nghiệm để điều hành đất nước và những hội, nhóm của họ không có ý
nghĩa nào cả trong Đông dương. Các nguồn Pháp còn tung tin Việt minh
chỉ là bộ mặt cho vài trí thức bất mãn và không được dân chúng hưởng
ứng.
Hồ Chí Minh không liên quan trực tiếp đến vụ này, nhưng có vẻ như Hồ đã
có liên lạc với Tú và các đồng chí của anh ta để đề xuất cuộc gặp với
các viên chức Mỹ tại Côn minh. Sau khi ra tù tháng 9 năm 1943, Hồ đã lân
la làm quen, tạo niềm tin và giữ quan hệ tốt với các nhân viên OWI tại
Lưu châu. Văn phòng OWI tại đây chính là người đã tìm cách sắp xếp để Hồ
đi San Francisco tháng 8/1944. Lãnh sự quán tại Côn minh đã xin ý kiến
chỉ đạo của Bộ ngoại giao trước yêu cầu của OWI cấp visa cho một người
có tên là Ho Tinh-ching (được miêu tả là người Việt gốc Hoa) sang Mỹ để
cung cấp một số tin tức về Việt nam. Viên chức bộ ngoại giao xử lý yêu
cầu này lại chính là Sprouse. Anh này nhận ra Mr. Ho và viết thư giới
thiệu, ghi nhận thành tích của Hồ giúp quốc dân đảng tuyên truyền trong
Việt nam. Vụ Viễn đông đồng ý cấp visa nhưng Vụ châu Âu phản đối vì sợ
những rắc rối với Pháp. Mặc dù OWI ra sức bảo vệ rằng những hoạt động
của Hồ trên đất Mỹ sẽ được kiểm soát chặt chẽ, cuối cùng bộ ngoại giao
đã từ chối cấp visa cho Hồ.
Tại sao Hồ lại muốn đi Mỹ vào lúc này? Tình hình mặt trận Thái bình
dương đang biến chuyển có lợi cho Đồng minh và chiến thắng rất có thể
đến vào năm sau. Hồ thừa biết phải có mặt ở Việt nam vào thời điểm đó để
lãnh đạo cuộc đấu tranh. Có thể tại thời điểm tháng 8/44, Trương Phát
Khuê vẫn chưa đồng ý cho Hồ quay về Việt nam, và Hồ định xin sang Mỹ để
trực tiếp nhờ các quan chức cao cấp Mỹ can thiệp cho ông được trở về
Việt Nam. Vụ trung uý Shaw tự nhiên dẫn xác đến trước cửa đã tạo cơ hội vàng để Hồ
có thể đề nghị Mỹ giúp đỡ Việt minh. Ngay lập tức, lấy cớ phải đi công
tác cùng, Hồ đã cùng 2 chiến sĩ trẻ nữa hộ tống Shaw sang Côn minh. Sang
bên kia biên giới, Shaw bắt được liên lạc với tổ chức cứu trợ phi công
Mỹ (AGAS) và được đưa ngay về Côn minh (CM) bằng máy bay. Không nản chí,
Hồ quyết định đi bộ đến Côn Minh, trong vai người tuần đường trên
tuyến đường sắt Hà Nội-Côn Minh. Nếu gặp người có lòng, họ nghỉ đêm
nhờ, còn không thì ngủ ngoài trời. Lúc qua Y lương, một thành phố nhỏ
trên đường, cả đoàn đã gặp Hoàng Quảng Bình, một người quen cũ cách đây 4
năm của Hồ ở Côn Minh, hiện đang hành nghề cắt tóc. Theo lời Bình,
trông Hồ rất ốm yếu và trầm uất, ăn ít, quần áo thì rách rưới, giầy
thủng lỗ chỗ, lại đang sốt do lây của những người đi đường. Vậy mà khi
Bình nhắc đến chuyện từ chối sự lôi kéo của Đồng Minh Hội, mắt Hồ sáng
lên. Hồ khuyên Bình phải gia nhập ngay Đồng minh Hội rồi tuyên truyền
kéo người từ đó sang với Đảng.
Sau khi ở lại Y lương vài ngày cho khỏe, cả đoàn lại lên đường và đến
Côn minh trong những tuần đầu tiên của năm 1945. Đáng tiếc là khi đến
nơi thì Shaw đã bay về Mỹ. Hồ ở cùng với Tống Minh Phương, đại diện Việt
minh tại địa phương, một sinh viên Hà nội sang đây từ năm 1943, mở quán
ngay cạnh trụ sở OSS. Hồ quyết định liên lạc với AGAS, hy vọng có thể
nhờ họ dàn xếp gặp mặt với tướng Chennault, tư lệnh Sư đoàn không quân
số 14. Đồng thời Hồ cũng liên lạc với văn phòng OSS, những người đã giúp
Phương gửi lá thư cho đại sứ Gauss.
Hồ đã cực kỳ gặp may và đến Côn Minh đúng thời điểm. Cách đây vài tháng
AGAS được chỉ thị ngoài việc cứu phi công còn phải tăng cường thu nhập
thông tin tình báo về quân Nhật trong Đông dương. Nguồn chính của AGAS
là nhóm được gọi là GBT (do tên đầu của 3 người: Canada LL Gordon, Mỹ:
Harry Bernard và một người Mỹ gốc Tàu: Frank Tan). Nhóm này làm việc
trong một hãng dầu và sử dụng các nguồn địa phương để thu nhập tin tức.
Ngày 9/3/1945, Nhật chính thức truất quyền Pháp ở Đông dương, những
người nước ngoài bị thuyên chuyển, theo dõi, thậm chí bắt giữ. Nhóm GBT
tháo chạy sang Nam Trung hoa. AGAS mất một nguồn tin quan trọng. Các
quan chức Mỹ ở Wasinhton tháo dỡ lệnh cấm, cho phép liên lạc với các
nhóm kháng chiến chống Pháp để thu nhập tin tình báo (trước đây Mỹ từ
chối liên lạc với các nhóm này vì sợ mất lòng Pháp).
Khoảng giữa tháng 3, người chịu trách nhiệm về GBT ở AGAS - trung úy
thủy quân lục chiến Charles Fen, được thông báo là có một cụ già đã từng
cứu sống một phi công Mỹ, hiện đang ở Côn minh và có thể có những quan
hệ trong nước để thu thập tin tình báo. Trung úy Fen vốn là một phóng
viên sinh ra tại Ailen, được chuyển đến Tung Quốc vì biết tiếng Hoa và
am hiểu châu á. Fen liền đề nghị sắp xếp cuộc gặp với Hồ, lúc đó đang
suốt ngày ngồi tại thư viện OWI đọc từ tờ Thời báo đến Từ điến bách khoa
Mỹ. Cuộc gặp đã diễn ra ngày 17/3/1945 và được Fen ghi lại trong hồi ký
của mình như sau:
Hồ đi cùng với một thanh niên tên la Fam. Không hoàn toàn như tôi
tưởng. Nhất là Hồ không “già”, tuy bộ râu bạc có dấu hiệu tuổi tác nhưng
khuôn mặt đầy sức sống, đôi mắt tinh tường và ánh lên những tia sáng.
Chúng tôi nói bằng tiếng Pháp. Hồ đã gặp Hall, Blass và Sibours (những
sĩ quan OSS khác) nhưng có vẻ như chẳng đi đến đâu.. Tôi hỏi ông muốn gì
khi gặp bọn họ, Hồ nói: chỉ cần sự công nhận tổ chức của ông ta (Việt
minh). Đã từng nghe đến tổ chức này có xu hướng cộng sản, tôi liền hỏi
luôn Hồ. Ông ta trả lời: người Pháp gọi tất cả những người muốn độc lập
là cộng sản. Tôi giải thích những yêu cầu của AGAS và hỏi không biết ông
có giúp được không?Hồ đồng ý ngay nhưng nói rằng ông ta không có điện
đài viên cũng như các phương tiện kỹ thuật. Chúng tôi bàn với nhau về
điện đài, máy phát và điện đài viên. Hồ đề nghị dùng pin thay cho máy
phát vì sợ ồn dễ bị quân Nhật phát hiện. Tôi nói, pin không dùng được vì
không đủ công suất. Khi được hỏi muốn được chúng tôi giúp gì để trao
đổi, Ho nói ngay: thuốc men và vũ khí. Tôi từ chối ngay vũ khí vì rất
rách việc với Pháp. Chúng tôi lại thảo luận về Pháp. Hồ khẳng định lại
Việt minh là một tổ chức chống Nhật. Tôi rất ấn tượng về cách ăn nói gãy
gọn của Hồ. Nếu không để ý đến những ngón tay nhăn nheo luôn động đậy,
dáng ngồi của ông ta rất giống Đức Phật. Fam ghi lại nội dung cuộc gặp
và chúng tôi thống nhất sẽ gặp nhau nữa. Khi ra về cả hai để lại tên của
họ viết bằng chữ Hán, có thể đọc phiên âm là Pham Phuc Pao và Ho Tchi
Ming. Fenn trao đổi với các đồng nghiệp của mình và quyết định chuẩn bị gửi
Già Hồ (mặc dù mật hiệu của Hồ là Lucius, hội này vẫn thích gọi là Già
Hồ) về Đông dương cùng với một điện đài viên người Trung Quốc. Ba ngày
sau, chúng tôi gặp những người Việt Nam lần thứ hai tại một quán cafe
trên đường Chin Pi. Có vẻ như chủ quán là bạn họ. Chúng tôi ngồi trên
tầng 2, uống cafe fin, kiểu Pháp, rất đặc và ngon. Xung quanh chẳng có
ai nhưng Hồ bảo cứ phải cẩn thận. Chúng tôi gọi người Trung Quốc là
“bạn”, Mỹ là “anh em”, Pháp là “trung lập”, Nhật là “chiếm đóng” còn
người Việt nam là “bản xứ”. Hồ nói rằng mang cả hai điện đài viên người
Hoa đi rất dễ lộ đặc biệt là anh người Mỹ gốc Hoa. Nhóm của Hồ thi lại
hay nghi ngờ người Hoa. Tốt hết là để Frank Tan lại, sau đó gửi cho ông
một sĩ quan Mỹ. Hồ hỏi tôi có đi được không và tôi sẽ rất được hoan
nghênh. Sau đó chúng tôi bàn về những đồ tiếp tế khác. Fam nhắc đến loại
“thuốc nổ cao cấp” nào đó mà Hall đã hứa, làm tôi phải lờ ngay đi. Tuy
nhiên chúng tôi thống nhất là có thể thả một số vũ khí nhẹ, thuốc men và
một bộ điện đài nữa. Người của tôi sẽ huấn luyện quân Hồ sử dụng điện
đài. Hồ còn muốn gặp Chennault. Tôi đồng ý thu xếp nhưng bắt Hồ phải hứa
không được mè nheo Chennault giúp đỡ bất cứ thứ gì. Già Hồ mặc quần
bông, áo kaki cài cúc cổ màu cát, chòm râu bạc, thưa. Đôi mày nâu chuyển
sang xám ở đuôi, tóc vẫn đen nhưng đã hơi rụng. Fạm còn trẻ, mặc đồ âu,
xương gò má cao, cằm bự. Cả hai nói chuyện thì thầm nhưng thỉnh thoảng
như bị nén lại. Tóm lại là chúng tôi đã có cuộc gặp gỡ thú vị.
Sau cuộc gặp, Fenn kiểm tra lại thì biết rằng mặc dù Pháp dán cho Việt
minh cái nhãn cộng sản, Trung hoa quốc dân đảng chỉ coi đây là một tổ
chức cơ hội. Khi Fenn hỏi về chỉ huy sở ở Trùng khánh thì được lệnh: “cứ
cái gì có lợi thì làm, có điều đừng can thiệp vao chuyện chính trị giữa
Pháp và dân bản xứ”. Mấy ngày sau, Fenn thu xếp Hồ gặp tướng Chennault
tại chỉ huy sở của sư đoàn 14, sau khi đã nhắc lại Hồ không được chính
thức đề nghị giúp đỡ gì. Hồ đến cuộc gặp vẫn trong bộ kaki cũ, có điều
một chiếc cúc cổ bị mất đã được đơm lại. .Chennault
là người đặc biệt thích phô trương bề ngoài của mình nên diện bộ đại lễ
phục nhà binh. Viên tướng này nổi tiếng ở Trung hoa nhờ chỉ huy phi đội
“Phi Hổ” giúp Hoa kháng Nhật trong những năm 30. Trong cuộc gặp,
Chennault cảm ơn Hồ đã cứu phi công Shaw và không đả động gì đến chính
trị. Hồ cũng làm đúng như lời hứa, không đòi hỏi giúp đỡ gì, lại còn tỏ
ra tâng bốc đội Phi Hổ. Đến cuối buổi gặp, bỗng nhiên Hồ ngỏ ý xin một
tấm ảnh có chữ ký.
Chennault đặc biệt thích cho ảnh. Bởi vậy ông ta ấn nút gọi ngay thư ký
riêng Doreen. Một cô gái mang vào một anbum dày 8x6. “Lấy một cái đi”
Chennault nói. Hồ chọn một tấm và nhờ Channault ký tặng. Doreen đưa ra
chiếc Parker 51 và Channault viết vào tấm ảnh “Bạn chân thành của anh,
Clair L. Chennault”. Và chúng tôi chui ra khỏi căn phòng để hoà với
không khí rộn ràng của Côn minh.
Thế là Hồ Chí Minh đã xây dựng được quan hệ với những quan chức Mỹ chủ
chốt ở Côn minh. Tuy nhiên, Việt minh vẫn không được Mỹ chính thức thừa
nhận và Hồ phải bằng lòng với những sự trợ giúp hết sức khiêm tốn. Trước
khi lên đường, Hồ được Fenn cấp cho 6 khẩu Colt 45 mới cóng nguyên hộp.
Cuối tháng 3.45, Hồ và một điện đài viên nữa được máy bay Mỹ chở đến
thành phố Paise, 60 dặm phía bắc Jingxi. Sau chiến dịch “Số 1” ở nam
Trung hoa, tháng 11 năm ngoái, Nhật chiếm Lưu Châu, Trương Phát Khuê
phải chuyển chỉ huy sở của quân đoàn 4 đến thành phố Paise này. Mục đích
đến Paise của Hồ là bắt liên lạc với Đồng minh Hội để biến hội này
thành phương tiện phục vụ các mục tiêu của Việt minh. Hội này hầu như đã
tan rã sau khi Hồ rời Lưu châu tháng 8 năm ngoái, vì Tàu tưởng không
quan tâm, một số thành viên không cộng sản chủ chốt thì lại quyết định
quay về Vân nam. Thông qua đại diện của Việt minh là Lê Tống Sơn, Hồ
thành lập “Uỷ ban hành động” gồm toàn tay chân của mình. Để trấn an một
số phần tử còn nghi hoặc, Hồ xem ảnh có chữ ký của Chennault và phát cho
mỗi thành viên một khẩu Colt. Tuy nhiên, vài ngày sau, Tiêu Văn, vốn
rất nghi ngờ Việt minh, đã ra lệnh giải tán uỷ ban hành động để thành
lập một uỷ ban khác có đông đảo đại diện hơn, bao gồm cả Hồ. Không còn
gì để làm, Hồ lên đường về Pắc bó.
Tháng tư 1945, đại uý Archimes ‘Al’ Patti tới Côn minh với chức vụ trợ
lý cho đại tá Paul Helliwell phụ trách công tác của OSS tại Đông dương.
Patti chiến đấu ở châu Âu đến 1/1944 thì được chuyển về phòng Đông dương
tại trụ sở OSS ở Washinhton. Patti rất tôn trọng lịch sử và coi thường
chế độ thực dân của Pháp. Trong thời gian lục lọi đống tài liệu, Patti
đã được biết về các hoạt động của Việt minh và vị lãnh đạo huyền bí của
họ “Già Hồ”. Trong một cuộc họp ngay sau khi Patti nhậm chức, AGAS đã
thông báo việc Hồ đồng ý hợp tác tổ chức mạng lưới tình báo ở Đông
dương. Một sĩ quan khác cũng cho biết Hồ tham gia vào một chiến dịch tâm
lý cùng với cơ quan tuyên truyền của Tưởng và sự hỗ trợ của văn phòng
OWI. Rõ ràng là tổ chức của Hồ là công cụ hợp lý nhất để Patti thực hiện
các nhiệm vụ của mình, mặc dù có thể có những trở ngại trong quan hệ
với Tưởng và phong trào nước Pháp Tự do. Có trong tay chỉ thị của
Washington về việc thu nhập thông tin tình báo bằng mọi giá, Patti yêu
cầu được gặp Hồ lúc đó đã rời Côn minh. Cũng may là ngay sau khi mới đến
Patti có được tiếp Phương, đại diện Việt minh ở Côn Minh. Anh này cho
biết có thể gặp Hồ lúc đó đang ở Jingxi. Xếp của Patti ở Trùng khánh là
Heppner hơi do dự vì lúc đó đại sứ mới của Mỹ là Hurley rất thân Tưởng
và không thích những hoạt động của OSS nhằm xây dựng liên minh
Quốc-Cộng. Hurley cảnh báo là Tưởng và Pháp sẽ rất không hài lòng nếu Mỹ
liên lạc với Việt minh vì phòng nhì Pháp đã xác định chính xác Hồ là
Nguyễn ái Quốc. Tuy nhiên, ngày 26/4, Heppner nhận được công điện của
tướng Albert Wedemayer, tư lệnh quân đội Mỹ ở Trung hoa cho phép tiến
hành các hoạt động của OSS ở Đông dương. Heppner bật đèn xanh cho Patti,
không quên dặn ông này đừng làm mất lòng Tưởng và Pháp.
Ngày hôm sau Patti bay đến Jingxi và được đại diện Việt minh dẫn đi gặp
Hồ tại một ngôi làng cách thành phố chừng 10km. Sau khi thăm dò danh
tính và quan điểm của đối tác, Hồ nhanh chóng miêu tả tình hình Đông
dương, thông báo rằng Việt minh có thể tiến hành rất nhiều hoạt động
chiến tranh và tình báo có hiệu quả nếu được cung cấp thuốc men, vũ khí
và phương tiện liên lạc. Patti không cam kết nhưng hứa sẽ xem xét. Theo
như hồi ký, có vẻ Patti rất hài lòng. Một tuần sau đó, Hồ trở về Pacbo
với đoàn tháp tùng hơn 40 người, trong đó có điện đài viên Mỹ, anh Mac
Shin và Frank Tan, thành viên cũ của nhóm GBT. Hồ bắt đầu cung cấp những
thông tin bổ ích, trong đó có cả thời tiết, cứu sống một số phi công
Mỹ. OSS cũng thả dù thêm một bộ điện đài, vũ khí và thuốc men. Việt Minh
đã chính thức chiến đấu cùng với lực lượng đồng minh. Tình hình tại chiến trường Thái bình dương càng ngày càng thuận lợi cho
quân Đồng minh. Các thành phố Nhật tan hoang do các phi đội B29. Nhà
trắng xem xét phương án tấn công Đông dương với sự hỗ trợ của quân Tưởng
từ phía Nam trung hoa đánh xuống. Trong khi đó, tại Đông dương, nạn đói
đang hoành hành do hạn hán từ cuối năm 1944, cộng với việc trưng thu
thóc và bắt nhổ lúa trồng đay của quân Nhật. Chính quyền Nhật từ chối mở
cửa các kho thóc hay tăng cường việc vận chuyển gạo từ phía nam ra.
Nông dân ăn hết khoai sắn, chuyển sang các loại rau, củ, cùng đường phải
ăn vỏ cây, lá cây. Nạn đói lan dần đến thành phố. Giá hàng tiêu dùng
phi mã. Thị dân phải đem đổi các đồ dùng trong nhà để mua gạo. Xác chết
chất đống 2 bên đường, nông dân lang thang từng đám kiếm ăn.
Cho dù hậu quả của cơn đói có nặng nề thế nào đi nữa, nó đã cho Việt
minh một cơ hội vàng để thu phục lòng dân. Việt Minh đã kích động nông
dân phá kho thóc để chia cho dân nghèo, khơi dậy lòng căm thù cả Pháp và
Nhật đã gây ra nạn đói. Sau chiến thắng ban đầu tại Nà ngần, Phai khắt,
đội quân của Giáp tiến lên phía bắc gần biên giới Việt - Trung, giải
phóng các làng dân tộc 2 bên đường. Khi quân Pháp phản kích ác liệt,
Giáp lui về khu rừng nằm giữa Cao bằng và Bắc cạn, gọi là chiến khu
Hoàng Hoa Thám, cùng với Vũ Anh và Phạm Văn Đồng bàn kế hoạch Nam tiến.
Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, thành lập chính phủ bù nhìn do Bảo
đại cầm đầu. Vì thế toàn bộ vùng phía bắc châu thổ sông Hồng trở nên
mảnh đất màu mỡ cho cách mạng phát triển. Trước đó 1 ngày, thấy trước
tình huống Trường Chinh đã triệu tập cuộc họp trung ương tại làng Đình
bảng, khoảng 12 dặm phía bắc Hà nội. Phân tích các yếu tố có lợi: khoảng
trống quyền lực do cuộc đảo chính, nạn đói và khả năng Đồng minh tấn
công Đông dương, TƯ đã ra nghị quyết đặt ưu tiên cao nhất cho đấu tranh
quân sự, phát triển các căn cứ du kích, mở rộng cơ sở chính trị của Việt
minh và tập hợp các đội quân khác nhau dưới chung một ngọn cờ Giải
phóng quân Việt nam. Tuy nhiên Trường Chinh cũng cẩn thận nhắc các cơ sở
Đảng không được manh động, chỉ hoạt động phía sau lưng Nhật để đợi cho
quân Đồng minh bắt đầu tiến công mới được ra tay. Trong trường hợp Nhật
đầu hàng trước khi Đồng minh tấn công, cũng có thể lợi dụng cơ hội để
tổng khởi nghĩa.
Trước khi rời Côn minh, Hồ đã gửi văn bản ký tên Lực cho OSS để đưa ra
nhận định của mình về sự kiện 9/3. Mục tiêu của văn bản này là thuyết
phục Đồng minh tấn công Đông dương. Như mọi khi, Hồ dùng ngôn ngữ ví
von: “từ đảo Nhật bản đến New Guinea, quân Nhật như con rắn mà cổ nó là
Đông dương. Nếu đập gẫy cổ, con rắn sẽ hết cựa quậy”. Lực nhận xét: “Con
sói thực dân Pháp đã bị phát xít Nhật hất khỏi Việt nam sau 87 năm. Đối
với thế giới đang chiến tranh, sự kiện đó chỉ là tích tắc, nhưng chắc
chắn nó sẽ có hậu quả sâu sắc đối với Đông dương, Phát, Nhật và Trung
quốc” . Tại Cao bằng các lãnh đạo đảng cũng đưa ra nhận định của mình
phải tăng cường cuộc đấu tranh vũ trang. Giáp đưa đội quân của mình Nam
tiến, giải phóng các làng trên đường và liên tục tuyển mộ quân. Sau khi
vượt qua Chợ Chu, cuối cùng Giáp đã hội quân với Cứu quốc quân của Chu
Văn Tấn ở một làng nhỏ có tên là Kim Lũng nằm sâu trong rừng giữa Thái
nguyên và Tuyên quang.
Đầu tháng 4/1945, TƯ quyết định tổ chức hội nghị quân sự tại Hiệp hoà.
Hội nghị đã đưa ra nhận định, chỉ tổng tấn công khi quân Đồng minh đã
đánh nhau với quân Nhật bên trong Đông dương, hoặc khi Nhật đã đầu hàng
Đồng minh trước đó. Cũng trong hội nghị này, Giáp được tin vợ mình
(Nguyễn Thị Minh Thái) đã chết trước đó 3 năm. Được tin Hồ đã trở lại
Việt nam, về đến Cao bằng sau hội nghị, Giáp lập tức lên đường đi đón.
Cuối tháng 4, Hồ về đến Pacbo và gửi báo cáo tình báo đầu tiên cho
Patti, kèm theo hai bức thư: một cho các lãnh đạo Đồng Minh và một cho
tổ chức vừa mới thành lập là Liên hợp quốc. Nội dung của cả hai bức thư
là đề nghị công nhận Việt minh và Việt nam. Cả hai tài liệu này đều được
đứng tên là Đảng Dân tộc Đông dương, tổ chức tự xưng là đã thành lập
Đồng minh Hội, sau đó sát nhập với Việt minh. Patti đã chuyển các tài
liệu này cho chính quyền Mỹ ở Trùng khánh. Ngày 4/5, trong vai một ông
già Nùng được các vệ
sĩ và nhóm AGAS tháp tùng, Hồ lên đường đi Kim Lũng, nơi hội quân của
các lực lượng cách mạng. Tại Lam sơn họ gặp Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn
Đồng và Vũ Anh. Hồ gửi báo cáo cho Fenn cám ơn ông này đã gửi thiết bị
liên lạc và huấn luyện cho quân. Ngày 9/5 cả đoàn đi Ngân sơn. Ngày 17,
tại Nà kiên Hồ gặp Giáp đang đi lên phía bắc. Hai người chưa gặp nhau từ
cuối năm ngoái khi thành lập Việt nam tuyên truyền giải phóng quân.
Giáp báo cáo với Hồ về tình hình trong nước và kết quả của hội nghị Hiệp
hoà. Hồ cũng thông tin về tình hình thế giới. Cả hai bàn bạc việc chọn
địa điểm để xây dựng căn cứ địa cách mạng và đã thống nhất chọn Kim
Lũng. Cảm nhận được ngôi làng nhỏ bé này sẽ trở thành địa danh lịch sử
của cách mạng Việt nam, Hồ đã quyết định đổi tên thành Tân Trào (Thuỷ
triều mới).
Cả đoàn tiếp tục nam tiến, ngày 21/5 họ vượt sông Đáy, đến Tân trào.
Thoạt đầu Hồ ở trong một nhà dân, còn hai sĩ quan liên lạc Mỹ được cho ở
ngoài rừng. Sau đó dân làng đã dựng lên một ngôi nhà sàn để làm trụ sở.
Còn Hồ đích thân chọn chỗ để dựng lán cho mình trong một khu rừng tre.
Để chuẩn bị khởi nghĩa, Hồ ra lệnh triệu tập Hội nghị cán sự vào đầu
tháng 6. Hội nghị đã thống nhất tất cả các lực lượng vũ trang tại 6 tỉnh
Việt bắc (Cao bằng, Bắc kạn, Lạng sơn, Hà giang, Tuyên quang, Thái
nguyên) thành Quân giải phóng Việt nam (VLA). Chính quyền dân sự do Uỷ
ban lâm thời điều hành, tiến hành tuyển cử bầu ra các cơ quan hành chính
địa phương, cải cách ruộng đất và xoá mù chữ.
Giáp được chỉ định đứng ra để điều phối các công việc tương tự trong
toàn quốc, dưới sự cố vấn của Hồ. Trong hai tháng tiếp theo, một nhiệm
vụ quan trọng của Hồ là giữ vững liên lạc với các nhà bảo trợ Mỹ ở Nam
Trung quốc. Trong một báo cáo, Hồ đã đề nghị sử dụng đội du kích hàng
ngàn người ở Chợ Chu để tấn công quân Nhật. Mặc dù e ngại những rắc rối
chính trị khi có quan hệ chính thức với Việt minh, Patti vẫn được cấp
trên là đại tá Helliwell “bật đèn xanh”, sau khi thấy rõ sự bất lực của
đội tàn quân Pháp chạy trốn do tướng Gabriel Sabatier chỉ huy. Patti
điện cho Hồ chuẩn bị một sân bay nhỏ để tiếp đón vũ khí và quân đội.
Ngày 30/6 Hồ đồng ý tiếp nhận với điều kiện không được có người Pháp
tham gia vào chiến dịch. Trung uý Dan Phelan được thả dù xuống Tân trào
từ trước làm đại diện cho OSS. Ngày 16/7, thiếu tá Allison Thomas cùng
đội “Con nai” của OSS nhày dù xuống Tân trào để nghiên cứu tình hình và
giúp đỡ Việt minh chống Nhật trong sự chào mừng của hàng trăm du kích.
Thomas kể lại:
Tôi được dấn đến gặp Ông Hồ, một lãnh đạo lớn của VML (Việt minh
League). Ông ta nói tiếng Anh thành thạo, nhưng trông rất yếu vì mới đi
bộ từ Trung Quốc về. Người ta đã dựng cho chúng tôi những cái lán tre có
sàn cao và mái lợp lá cọ. Người ta còn giết một con bò để chiêu đãi, và
chúng tôi được chén bữa tối gồm bia, cơm, măng rừng và beefsteak.
Cũng có những người trong nhóm Con nai không được chào đón. Ví dụ như
trung uý Pháp Montfort. Sáng hôm sau, Hồ nói với Thomas: “Tôi không có
vấn đề gì với người Pháp, nhưng nếu quân tôi mà biết tay này là người
Pháp, họ đã bắn chết tươi rồi”. Montfort cùng hai sĩ quan Pháp nữa được
lệnh biến khỏi làng càng sớm càng tốt và nhập vào đoàn người di tản sang
Trung Quốc. Sau đó Hồ gọi một tay đầu bếp đến để dạy cách quay gà theo
kiểu Mỹ, và sai người đi kiếm vài chai Sâmpanh và Dubonnet để mở tiệc
chào
mừng.
Ngay ngày hôm sau, Hồ đã đề nghị qua Thomas báo cáo với chính quyền Mỹ
là Việt minh sẵn sàng đàm phán với đại diện cấp cao của Pháp. Patti đã
chuyển thông điệp này cho thiếu tá Jean Sainteny, đại diện của phái bộ
quân sự Nước Pháp Tự do mới được cử đến để tiếp nhận lại Đông dương sau
chiến tranh. Vài ngày sau, Hồ lại gửi lời kêu gọi sẵn sàng tiếp xúc với
Pháp ở trong Đông dương hoặc Trung quốc. Trong lời kêu gọi, Hồ đề nghị
tổ chức nghị viện thông qua bầu cử phổ thông đầu phiếu, trả lại các
nguồn tài nguyên cho nhân dân Việt nam, cấm buôn bán thuốc phiện, và cam
kết phục hồi độc lập cho Việt nam theo những quy định của Hiến chương
Lien Hiệp Quốc trong vòng từ 5-10 năm. Pháp vẫn lờ đi những đề nghị của
Hồ.
Trong lúc đó các sĩ quan Mỹ vẫn tiếp tục huấn luyện hơn 100 quân du kích
cách sử dụng các loại vũ khí Mỹ (súng trường M1, carbin, bazooka) và
các kỹ thuật chiến tranh du kích tại một địa điểm cách Tân trào khoảng 2
dặm. Henri Prunier, một “thầy” Mỹ tỏ ra rất ấn tượng về khả năng học
hỏi nhanh của quân du kích. Hồ cũng nhanh chóng đả thông về mặt tư tưởng
cho các sĩ quan Mỹ. Thomas đã viết trong một báo cáo gửi về Côn minh:
“Quên ngay mấy cái nghi ngờ vớ vẩn. Việt Minh không phải là cộng sản.
Đấu tranh cho tự do và cải cách nhằm thoát khỏi sự tàn bạo của Pháp”.
Phelan cũng đã từng ngần ngại tham gia chiến dịch này vì nghe đồn là Hồ
có tư tưởng cộng sản. Một lần Hồ hỏi Phelan có nhớ những câu mở đầu của
tuyên ngôn Độc lập Mỹ để ông ta cho vào bản tuyên ngôn Độc lập của đất
nước mình. “Nhưng rõ ràng là ông ta biết nhiều hơn tôi” Phelan nhớ lại
và báo cáo Việt Minh “... là những người yêu nước đáng được sự tin cậy và giúp đỡ toàn diện”.
Sau này, Phelan cũng không bao giờ thay đổi lập trường của mình. Nhiều
năm sau, ông đã trả lời phỏng vấn của nhà báo Mỹ Robert Shaplen, miêu tả
Hồ như ´”Một con người cực kỳ dễ chịu. Nếu tôi phải chọn một tính
cách của con người nhỏ bé đó, ngồi trên ngọn đồi trong những cánh rừng
già, thì đó chính là sự dịu dàng của ông ta”.
Sức khôe của Hồ vốn đã suy sụp sau khi mắc bệnh lao trong những tháng
ngồi tù ở Trung Quốc, lại bị đày đoạ bởi chuyến đi bộ sang Côn minh. Hồ
đã bị ốm nặng trên đường đến Jingxi những vẫn tiếp tục hành trình của
mình. Giờ đây Hồ đang rất yếu. Võ Nguyên Giáp kể lại:
Bác ốm. Mặc dù mệt và sốt, Bác vẫn tiếp tục làm việc. Ngày nào lên
báo cáo tình hình tôi cũng cảm thấy lo lắng. Nhưng Bác nói: “yên tâm,
mọi sự sẽ qua thôi, báo cáo tình hình cho Bác đi”. Tuy nhiên tôi nhận
thấy Bác yếu đi và gầy đi rõ ràng. Chúng tôi chẳng có thuốc thang gì
ngoài mấy viên aspirin và ký ninh nhưng tình hình vẫn xấu đi. Một hôm
tôi thấy Bác mệt lả đi, bình thường trừ những lúc ngủ, Bác chắc bao giờ
chịu nằm nhưng giờ đây Bác nằm sốt li bì trong ổ rơm. Trong những đồng
chí hay ở bên Bác chỉ còn tôi lúc đó đang ở Tân trào. Tôi xin phép Bác
được ở lại cùng với người một đêm, chỉ thấy Bác hơi mở mắt và khẽ gật
đầu đồng ý. Đêm tối mịt mùng và rừng sâu bao quanh căn lán nhỏ. Mỗi khi
tỉnh dậy, Bác lại quay lại tình hình hiện tại: “điều kiện đang rất thuận lợi cho cách mạng, dù có phải đốt cháy dãy Trường sơn cũng phải dành cho được độc lập”,
Bác nhắc lại những quan điểm vẫn hay thường nói hàng ngày: “trong
chiến tranh du kích, khi phong trào lên, phải tận dụng thời cơ để mở
rộng căn cứ, chuẩn bị cho những thời điểm quyết định”. Dù không muốn tin, tôi vẫn nhận ra rằng, có lẽ Bác đang cố gắng truyền lại những lời di chúc cuối cùng của mình.
Cứ thế suốt đêm, mê man nối tiếp những phút tỉnh táo. Sáng hôm sau, tôi
báo tin ngay lập tức cho Trung ương, đồng thời hỏi bà con dân tộc xem
có ai có bài thuốc gì. Dân làng mách có một ông lang chuyên chữa sốt.
Tôi liền cử người đi đón về ngay. Sau khi bắt mạch, ông lang sắc một
niêu thuốc từ một thừ rễ cây ông đào trong rừng, hoà với một bát cháo và
đút cho Bác. Điều kỳ diệu đã xảy ra. Bác tỉnh dậy. Ngày hôm sau, Bác uống thêm 2, 3 bát thuốc nữa. Cơn sốt lui dần, Bác đã đứng dậy được và có thể tiếp tục công việc.
Về chuyện này, người Mỹ có một câu chuyện khác. Một nhân viên OSS là y
tá. Anh này đã khám bệnh cho Hồ, chẩn đoán là sốt rét và ỉa chảy và đã
tiêm mấy mũi kí ninh cùng với sulfa. Không rõ điều này có tác dụng đến
đâu, Thomas ghi lại sau này: “Mặc dù Hồ bệnh nặng, nhưng tôi cũng không
chắc chắn là nếu không có chúng tôi thì ông ta sẽ chết” . Viên y tá đã
khám cho Hồ là Paul Hoagland thì một mực cho rằng chính thuốc của ông ta
đã cứu sống Hồ. Đầu tháng 8, sau khi nghe tin Mỹ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima, Hồ
đã chỉ thị cho tổng bộ Việt minh từ khắp nước ngay lập tức cử đại biểu
về Tân trào để tham dự Quốc dân Đại hội. Ngày đại hội dự kiến là ngày
16/8. Hội nghị TƯ đảng lần thứ 9 được dự kiến họp trước đó 3 ngày. Qua
chiếc radio của Thomas, Hồ cảm được cuộc chiến đã đến hồi kết: thành lập
Liên hiệp quốc, Mỹ thả quả bom nguyên tử thứ hai, Nga trực tiếp tham
chiến. Trước đó sau một hồi lưỡng lự, Hồ đã đồng ý đi gặp phong trào
Nước Pháp tự do tại Côn minh. Có lần Hồ đã ra đứng đợi ở đường băng
nhưng vì thời tiết xấu máy bay không hạ cánh được. Sau sự kiện
Hiroshima, Hồ đã huỷ bỏ ý định này.
Ngày 12/8, các lãnh đạo Đảng đã quyết định kêu gọi tổng khởi nghĩa trong
toàn quốc, và quyết định vẫn triệu tập Hội nghị TW lần thứ 9 vào ngày
hôm sau mặc dù một số đại biểu vẫn chưa đến được. Hội nghị đã bầu ra Uỷ
ban khởi nghĩa toàn quốc do Trường Chinh làm chủ tịch và ra lời hiệu
triệu khởi nghĩa. Ngày 16/8 Tổng bộ Việt minh tiến hành Đại hội Quốc dân
tại Tân trào. Có hơn 60 đại biểu từ khắp nước về dự. Có người đã phải
đi hàng tuần. Nhiều người mang theo quà là gạo và thịt. Một đại biểu dân
tộc còn dắt theo cả một con trâu. Đại hội được tiến hành trong một ngôi
đình 3 gian bên bờ suối. Gian trái treo ảnh Lenin, Mao và tướng Clair
Chennault, gian giữa bày các vũ khí chiếm được của Nhật còn gian phải là
thư viện kiêm luôn nhà ăn của các đại biểu. Sau khi Trường Chinh khai
mạc, Hồ Chí Minh lên phát biểu. Do Ban tổ chức chỉ giới thiệu Hồ Chí
Minh như một nhà cách mạng lão thành nên nhiều đại biểu cũng không rõ
nhân thân của Hồ. Tuy nhiên sau đó đã có tiếng thì thầm, Hồ Chí Minh
chính là Nguyễn ái Quốc.
Trong bài phát biểu của mình, Hồ nhắc lại việc phải nhanh chóng
chiếm chính quyền để có thể chào đón quân đồng minh trên thế mạnh.
Tránh đối đầu mà dùng biện pháp mềm dẻo để thu phục quân Nhật. Hồ cũng
cảnh báo rằng Pháp có thể dựa vào Đồng minh để mở cuộc tiến công chiếm
lại Đông dương và chúng ta sẽ phải tiến hành cuộc đấu tranh kéo dài để
có được nền độc lập hoàn toàn. Đại hội đã phê duyệt “10 quốc sách” của
Việt minh, quyết định quốc kỳ, quốc ca của nước Việt nam Dân chủ Cộng
hoà, một quốc gia dân chủ, theo đuổi sự công bằng kinh tế và xã hội. Đại
hội cũng bầu ra Uỷ ban giải phóng Dân tộc gồm 5 người do Hồ Chí Minh
làm Chủ tịch, sẽ chỉ đạo khởi nghĩa và hoạt động như chính phủ lâm thời.
Ngày hôm sau, Hồ Chí Minh đã cùng các đại biểu làm lễ tuyên thệ ngay
trên bờ suối. Bản “Kêu gọi khởi nghĩa” được phát ra Giờ quyết định
cho dân tộc đã điểm. Hãy đứng lên giải phóng bản thân mình. Các dân tộc
bị áp bức trên thế giới đều đang đua tranh giành lại độc lập, chúng ta
không thể lạc hậu. Tiến lên, Tiến lên dưới ngọn cờ Việt minh, Dũng cảm
tiến lên. " Đây cũng là văn bản cuối cùng được ký tên NGUYỄN ÁI QUỐC. ***************** AGAS: Tổ chức cứu trợ phi công Mỹ
OSS: Tổ chức Tình báo Chiến lược (tiền thân của CIA)
OWI: Phòng Thông tin chiến tranh
|