|
11. Tái thiết và kháng chiến Tình hình Hà nội trở nên xấu đi và đặt những gánh nặng to lớn lên Hồ CHí
Minh như người lãnh đạo Đảng và chính phủ. Những cái đầu nóng ở Đảng CS
Đông DƯơng- ICP đòi phải dẹp các nhóm đối lập thì Hồ CHí Minh lại kiên
trì chính sách hoà giải và hoà hợp dân tộc, nhằm chia rẽ và cô lập những
kẻ thù của Đảng. Trong khi đa số người Việt nam quyết liệt phản đối
Pháp quay trở lại, thi Hồ lại đánh tiếng sẽ đón tiếp Pháp như những
người bạn.
Mặc dù tìm kiếm hoà bình, chính phủ mới cũng tích cực chuẩn bị cho chiến
tranh. Lực lượng dân quân tự vệ được Hồ gọi là “bức tường thép của Tổ
quốc” được tổ chức khắp các làng xã, nhà máy, đường phố, do cơ sở đảng
địa phương lãnh đạo và tổ chức tập luyện. Thức ăn và vũ khí thì tự lo
lấy. Tại Hà nội, hàng chục ngàn thanh niên gia nhập tự vệ. Ngoài ra còn
có bộ đội địa phương, được lựa chọn nòng cốt từ hội thanh niên cứu quốc,
do Bộ quốc phòng trang bị và huấn luyện tại Trường huấn luyện quốc
phòng Hồ Chí Minh. Quân đội chính quy: Quân giải phóng Việt nam mới đổi
tên thành Vệ quốc quân, được tổ chức thành các tiểu đoàn, du nhập thêm
số Dân vệ của chính phủ cũ bị giải ngũ. Trường kháng Nhật Việt bắc
chuyển về Hà nội được đổi thành Học viện chính trị quân sự, dưới danh
nghĩa huấn luyện để có thể hợp tác với quân Tưởng. Nếu kể cả số quân
phía Nam, quân đội lên tới 80,000 người. Tuy nhiên vũ khí thì hết sức
thiếu thốn. Nếu có thì cũng từ loại đồ cổ, nhiều khi từ thế kỷ trước
ngoại trừ một ít mìn chống tăng và tiểu liên thu được của Nhật. Còn lại
đa số là giáo, mác hoặc súng kíp do mấy bác thợ rèn địa phương tự chế.
Để có tiền mua vũ khí từ lực lượng chiếm đóng, Hồ CHí Minh miễn cưỡng
đồng ý tổ chức “Tuần lễ vàng” kêu gọi nhân dân đóng góp. Theo Patti, Hồ
không tin tưởng lắm vào sự thành công của việc này vì sẽ chỉ có người
nghèo là tích cực, còn tầng lớp giàu có sẽ chẳng đóng được bao nhiêu.
Thực tế đã diễn ra đúng như vậy, và Hồ “cảm thấy như kẻ phản bội” khi để
“vụ việc” này diễn ra. Chính phủ tìm cách tăng thuế thực phẩm. Khi một
quan chức đề nghị đánh thuế thịt gà, vịt, bò, “Công dân” Vĩnh Thuỵ buột
miệng “sao không thêm cả thịt chó?”. Hồ là người đầu tiên lăn ra cười.
Chính phủ còn phát động phong trào thu gom đồng và các loại kim loại
khác để đúc vũ khí khắp nơi.
Mặc dù vậy Hồ CHí Minh tin tưởng rằng vũ khí quan trọng nhất sẽ là sự
ủng hộ của quần chúng, đi đâu ông cũng nhắc cán bộ hành xử cho đúng với
dân: “Trợn mắt nhìn ngàn tráng sĩ, cúi đầu làm ngựa nhi đồng”. Ông luôn
luôn nhấn mạnh, cuộc đấu tranh sống còn của chính phủ là trên mặt trận
ngoại giao và chính trị. Nếu dụ dỗ nhượng bộ quân Tưởng, bọn dân tộc chủ
nghĩa sẽ bị cô lập. Và lúc đó Hồ CHí Minh có thể xây dựng mặt trận
thống nhất để chống sự trở lại của Pháp ở phía Bắc. Sau khi đặc phái
viên của Tưởng, tướng He Yingqin đến thị sát Hà nội và ra lệnh: giảm ảnh
hưởng của cộng sản, chính phủ đã tỏ thái độ mềm mỏng.Hồ CHí Minh ra
lệnh thả Ngô Đình Diệm, con của một quan chức triều đình yêu nước, bộ
trưởng nội vụ trong chính phủ Bảo đại trước WWII, nhưng đã từ chức vì
cho rằng Pháp không cho chính phủ thực quyền. Diệm theo Thiên chúa và
chống cộng điên cuồng, đặc biệt là khi một trong 5 anh em của Diệm là
Ngô Đình Khôi bị Việt minh thủ tiêu. Hành động này của Hồ CHí Minh đã bị
nhiều đồng chí chỉ trích, trong đó có cả Bùi Lâm- bạn chiến đấu từ thời
Paris . Để lôi kéo cộng đồng thiên chúa, Hồ CHí Minh còn dành cho họ
một chân trong chính phủ và thỉnh thoảng đi dự lễ nhà thờ. Ông cũng
không ngần ngại đến thăm các đồng bào miền núi,thắp hương cho Khổng tử ở
Văn miếu.
Dưới sức ép của tướng Tiêu Văn, từ cuối tháng mười Hồ CHí Minh bắt đầu
đàm phán với Nguyễn Hải Thần,“lãnh đạo tối cao” của Đại Việt cùng các
đảng khác như Việt Quốc và Đồng minh Hội. Nhưng các cuộc đàm phán chẳng
đi đến đâu. Đồng Minh Hội đòi giải tán chính phủ, đổi tên Việt minh,
thay đổi quốc kỳ. Các đồng chí của Hồ rất bực tức, một người viết Tôi là
người tán thành việc diệt sạch bọn Việt quốc tay sai của Tưởng. Có hôm
tôi bảo: “Thưa Bác, tại sao ta lại để cho bọn ám sát và phản bội đó tồn
tại? Bác cứ ra lệnh, bảo đảm cháu sẽ bọn nó tiêu trong một đêm”. Bác
cười và chỉ vào phòng, hỏi lại “Nếu có con chuột chạy vào phòng này, chú
sẽ dùng đá ném hay đặt bẫy hoặc đuổi nó ra?” “Thưa Bác, nếu ném đá sẽ
vỡ mất nhưng đồ quý trong phòng”.
Mặc dù không nhượng bộ những yêu cầu của phe đối lập, ngày 11/11, Đảng
CS Đông Dương - ICP đột ngột tuyên bố tự giải tán, đổi thành Hội nghiên
cứu chủ nghĩa Max ở Đông dương. Rõ ràng Đảng muốn thể hiện yêu cầu của
đất nước cao hơn cuộc đấu tranh giai cấp, và lợi ích của nhân dân cao
hơn lợi ích của Đảng. Dù thế, ngày hôm sau vẫn xảy ra vụ đụng độ lớn
giữa Việt minh và phe dân tộc gần Nhà hát Lớn làm hàng chục người chết.
Rõ ràng là ngoài việc nhằm thống nhất dân chúng, động thái này chủ yếu
là hướng đến quân Tưởng và xoa dịu phe đối lập. Trong Đảng cũng đã có
những cuộc tranh luận gay gắt, các đảng cộng sản khác cũng lúng túng
không hiểu. Thực chất thì đảng không giải tán mà chỉ rút vào hoạt động
bí mật để rồi mấy năm sau lại tái xuất hiện. Ngày 19/11, theo lệnh của
Trương Phát Khuê, Tiêu Văn triệu tập cuộc họp chính phủ và phe đối lập.
Hai bên thống nhất thành lập chính phủ liên hiệp, tập hợp tất cả các tổ
chức vũ trang dưới sự lãnh đạo của chính phủ, tổ chức hội nghị quân sự
để bàn cách giúp đồng báo phía Nam chống Pháp. Các phe phái phải ngay
lập tức ngừng các hoạt động chống đối nhau. Cuộc đàm phán kéo dài mấy
tuần. Đầu tiên, phe đối lập đòi chức Chủ tịch và 6 ghế bộ trưởng. Hồ CHí
Minh thì đề nghị thành lập Hội đồng Cố vấn chính trị do Thần làm chủ
tịch và 3 ghế bộ trưởng. Căng thẳng leo thang khi Giáp cho tay chân mặc
thường phục đuổi các phần tử Việt quốc đang rải truyền đơn chạy re kèn.
Sau vụ này Hồ Chí Minh liền lập tức bị triệu đến trụ sở quân Tưởng nghe
chửi.
Một vấn đề nữa là ngày bầu cử. Phe đối lập cho là ngày 23/12 là quá gấp
để họ chuẩn bị. Trương Phát Khuê can thiệp, ngày 19/12 hai bên nhất trí
dời ngày tổng tuyển cử 15 ngày. Không phụ thuộc vào kết quả bầu cử, Việt
quốc sẽ có 50 ghế và Đồng MInh Hội có 20 ghế trong quốc hội tương lai.
HCM sẽ làm chủ tịch, Hải Thần phó chủ tịch, Việt minh, Việt Quốc, Đồng
MInh Hội và Đảng Dân chủ mỗi đảng có 2 ghế bộ trưởng và hai ghế nữa sẽ
dành cho các phần tử không đảng phái. Quyết định này bị phản ứng quyết
liệt trong đảng. Một đồng chí đã hỏi “Hải Thần có phải là cục phân bẩn thỉu?”. Hồ trả lời “Nhưng nếu dùng để bón lúa được thì tại sao lại không dùng?”
Khi một số cho rằng Việt minh và phe đối lập như lửa với nước, cớ sao
lại nhượng bộ 70 ghế, Hồ châm biếm: “Nếu lấy lửa để đun sôi nước, thì
lại có thể uống được đấy”.
Ngày 1/1/1946, chính phủ liên hiệp lâm thời ra mắt tại Nhà hát Lớn. Hồ
Chí Minh kêu gọi bầu cử dân chủ và thống nhất các lực lượng vũ trang.
Hải Thần cũng phát biểu, nhận một phần trách nhiệm về sự chậm trễ trong
việc hoà hợp dân tộc và hứa sẽ hợp tác chống Pháp. Ngày 6/1 cuộc tổng
tuyển cử đầu tiên được tiến hành trên toàn quốc và các vùng do Việt minh
kiểm soát ở Nam bộ. Việt minh nhận được 97% phiếu và lẽ ra sẽ có 300
ghế quốc hội, nhưng 70 ghế phải nhường cho phe đối lập. Hồ Chí Minh cũng
ra ứng cử tại Hà nội và được 98.4% phiếu bầu. Trong một cuộc hội nghị tháng 11, TW đã ra nghị quyết hy vọng là Pháp có
thể dành độc lập cho Đông dương để đổi lấy những lợi ích kinh tế. Paris
thì lại nghĩ khác và không muốn đàm phán gì trước khi chủ quyền của
Pháp được phục hồi. Cuối tháng 9, De Gaul điện cho Leclerc “Việc của
ngài là khôi phục lại sự cai trị của Pháp và tôi rất lấy làm tiếc là
ngài vẫn chưa làm điều đó” . Trong khi đó, Leo Pignon và Alessandri lại
coi Hồ Chí Minh là người có bản lĩnh, tin cậy và đáng đàm phán. Cedile
cũng điện từ Sài gòn cho rằng có nhiều phần tử ôn hoà trong chính phủ và
nên đàm phán. Ngày 10/10 Paris điện cho Alessandri đề nghị thương lượng
với Hà nội về các vấn đề trên toàn Đông dương. Hai ngày trước đó, Jean
Sainteny trở lại Việt nam với tư cách đại diện toàn quyền cho Pháp tại
Bắc bộ và Bắc Trung bộ, sau chuyến đi sang Ân độ thăm tướng D’Argenlieu
để xin từ chức vì bất mãn, bị từ chối.
Sainteny ở trong toà nhà Ngân hàng Đông dương. Sainteny gặp Hồ Chí Minh
lần đầu tiên vào giữa tháng 10 cùng với một quan chức thực dân cũ là
Pignon. Hồ đi cùng với bộ trưởng văn hoá Hoàng Minh Giám. Mặc dù là
người đàm phán cứng rắn và yêu nước Pháp, Sainteny rất kính trọng Hồ và tự đáy lòng, ông này cảm thấy Hồ thân Pháp.
Nhiệm vụ của Saiteny là thuyết phục để Hồ đồng ý cho quân Pháp quay trở
lại Bắc bộ, đổi lấy việc Pháp sẽ thương lượng để đuổi Tưởng đi. Tại lúc
đó, tướng Leclerc đang có 8000 quân ở Nam bộ từ Sư đoàn số 2 đã nổi
tiếng trong chiến dịch Normandy. Pháp không dễ dàng tràn vào bằng vũ lực
bởi ngoại trừ sự chống đối của Việt minh, còn có hơn 30000 quân Tưởng
đang thong thả “giải giáp” quân Nhật. Sainteny đã cảnh báo chính phủ
Pháp “tuyệt đối chưa dùng vũ lực, vì sẽ vấp phải sự chống đối mạnh mẽ”.
Ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã thành thật thú nhận là ông không yêu cầu độc
lập ngay lập tức. Ông đồng ý để Pháp quay lại với một chân trong liên
hiệp Pháp nếu Pháp đồng ý độc lập trong vài năm tới. Nhưng mọi việc
không dễ dàng, rắc rối đầu tiên là câu chữ, Hồ đề nghị phải dùng chữ
“Independence” trong văn bản cuối cùng, trong khi đó De Gaul không chịu
chấp nhận. Leclerc, sau khi đi thăm tướng Mountbatten về, định hoà giải
bằng cách đề nghị Paris có một thể chế phù hợp cho Đông dương sau chiến
tranh ( ông này dùng chữ “Autonomie”), liền bị De Gaul chửi mắng thậm tệ
“Nếu tôi mà nghe mấy thứ nhảm nhí này thì đế quốc Pháp đã tiêu vong lâu
rồi. Hãy đọc thật kỹ câu chữ trong tuyên bố tháng 3 của Pháp về Đông
dương”.
Vấn đề gây tranh cãi thứ hai là quy chế của Nam bộ, Hồ Chí Minh muốn gộp
chung cả vào đàm phán nhưng Saiteny cho rằng dân chúng ở thuộc địa cũ
của Pháp này phải được tự do lựa chọn thể chế cho mình. Cả hai tranh cãi
liên miên mấy tuần liền trong căn phòng mịt mù khói thuốc. Sainteny hút
tẩu sang trọng, còn Hồ hút đủ thứ thuốc Tàu, Mỹ và Gaulois Pháp. Thỉnh
thoảng Hồ xin nghỉ để hội ý với chính phủ mình, hoặc xin ý kiến “Cố vấn”
Vĩnh Thuỵ.
Thái độ của Hồ Chí Minh với Bảo đại làm Sainteny và nhiều người khác
ngạc nhiên. Hồ bao giờ cũng tỏ ra rất lễ phép. Hồ còn mắng cán bộ của
mình đã gọi là “ông cố vấn” mà không phải là “thưa Ngài”. Có lần Hồ còn
đề nghị Bảo đại làm người đứng đầu nhà nước trong tương lai. Như cố vấn
tối cao, Bảo Đại dự tất cả các cuộc họp chính phủ và cảm thấy như ở nhà,
kể cả trong quan hệ với những kẻ cứng rắn như bộ trưởng tuyên truyền
Trần Huy Liệu, trước đây đa số thời gian là sống ở Nga hoặc trong tù.
Thoạt tiên Bảo Đại có cảm tình với Hồ so với mấy tay đối lập bám đít
Tưởng. Ông chủ tịch yếu đuối và mềm dẻo này , thích nói chuyện văn thơ
hơn chính trị và có vẻ giống một nhà nho hay thầy đồ hơn là điệp viên
của Quốc Tế Cộng Sản hay chủ tịch nước. Dần dần Bảo Đại cũng nhận ra bộ
mặt thật của Hồ và chính phủ. Khi nghe tin Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi
bị bắt, Bảo Đại đã phản đối và đề nghị thả. Hồ ậm ừ nói rằng nhân dân sẽ
không hiểu (hai ông này đều bị thủ tiêu). Khi xung đột giữa các phe
phái tăng cao, Bảo Đại được cử đi Thanh hoá lánh nạn. Trở về, ông được
bầu vào đại biểu quốc hội và thỉnh thoảng theo Hồ đi thăm thú để nhân
dân thấy rằng ông vẫn còn sống.
Trong những tuần đầu 1946, dưới vỏ bọc của chính phủ liên hiệp mới, Hồ
Chí Minh nối lại các cuộc thương lượng với Sainteny. Cũng quãng thời
gian đó, Kenneth Landon, chuyên gia về các vấn đề châu á của vụ Đông Nam
Á Bộ ngoại giao Mỹ đến Hà nội để tìm hiểu tình hình. Sainteny hứa với
Landon rằng chính phủ Pháp sẽ tìm cách hoà giải với Việt nam. Nhưng Hồ
lại không lạc quan khi trao đổi riêng với Landon. Hồ nghi ngờ sự thành
thật của chính phủ Pháp và khẳng định quyết tâm sắt đá của Việt Nam
giành lại độc lập. Hồ nhờ Landon chuyển bức thư cho tổng thống Truman
kêu gọi Mỹ ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt nam, trong
bối cảnh Mỹ đang chuẩn bị trao trả lại độc lập cho Philippines.
Những nghi ngờ của Hồ đối với Pháp xem ra là có cơ sở. Tại Paris, bộ
ngoại giao Pháp thông báo cho đại sứ Mỹ Jefferson Caffery rằng Pháp sẽ
“thoáng” trong đàm phán, tuy nhiên vấn đề độc lập hoàn toàn của Việt nam
chưa được xét đến lúc này. Trong báo cáo sau đó cho Washington, Caffery
nhận xét: chính sách về Đông dương của chính phủ Pháp đang bị một số
viên tướng thủ cựu lũng đoạn.
Tuy nhiên tình hình biến chuyển theo chiều hướng có lợi cho đàm phán.
Paris cần một số tiến bộ tại Hà nội để hỗ trợ cho cuộc đàm phán với
Tưởng ở Trùng khánh về việc quân Pháp sẽ thay thế quân Tưởng ở Bắc bộ.
Chính phủ xã hội mới của Felix Guin thay thế De Gaul cũng tỏ ra mềm mỏng
hơn. D’Arengenlieu quay về Pháp để xin ý kiến chính phủ mới, không quên
dặn Leclerc chưa vội nhượng bộ với chữ “Independence”. Ngày
14/2,Leclerc điện về Paris “đang có cơ hội để chính phủ Pháp ra tuyên bố
ủng hộ việc dùng chữ Độc lập cho toàn Đông dương, nhưng có giới hạn,
trong khuôn khổ khối Liên hiệp Pháp”. Đáng tiếc là D’Argenlieu, một
người bảo thủ được mệnh danh là “bộ óc thông minh nhất của thế kỷ 12” đã
không chấp nhận ý tưởng này.Trước khi từ chức, De Gaul cũng cử bộ
trưởng Max Andre sang thăm dò thái độ của Hồ. Theo Pháp, Hồ sẵn sàng
chấp nhận sự quay lại của Pháp với một số điều kiện.
Mặt khác, Hồ phải đối diện với nhiều sức ép bên trong về việc không được
nhượng bộ Pháp. Báo chí đối lập ra sức đả kích vụ Hồ đàm phán với Pháp,
đòi giải tán chính phủ “của bọn phản bội” đang bán đứng quyền lợi dân
tộc cho Pháp. Hồ càng khó thoả hiệp trong bối cảnh Pháp càng ngày càng
đẩy mạnh chiến tranh tại phía Nam. Tháng 11/1945, mặc dù bị Việt Minh
bao vây, Pháp vẫn chiếm thành phố nghỉ mát Nha trang. Vài tuần sau, quân
của tướng Alessandri vượt biên giới tại Lai châu, bắt đầu chiến dịch
đóng cửa biên giới, cắt đứt liên hệ của Việt Minh với Nam Trung hoa.
Khoảng giữa tháng 2/46 Pháp cảnh báo Việt Nam phải thoả hiệp nhanh vì
hiệp định Hoa-Pháp sắp được ký. 18/2, Sainteny điện về Paris thông báo
Hồ đã nhượng bộ không dùng chữ “Independence” mà chỉ cần Pháp “công
nhận những nguyên tắc tự trị của Việt nam, trong khuôn khổ Liên hiệp
Pháp”. D’Argenlieu đồng ý trên nguyên tắc.
Ngày 20/2, hãng Reuters công bố những điều khoản của hiệp định Trùng
khánh sắp được ký kết, cho phép quân Pháp vào thay thế quân Tưởng. Paris
cũng lệnh cho Leclerc chuẩn bị đổ bộ ra Hải phòng. Hà nội rối loạn.
Những phần tử đối lập, vốn đang tức việc Hồ đàm phán với Pháp, kêu gọi
tổng bãi công và đòi Hồ từ chức, lập chính phủ mới do “Công dân” Vĩnh
Thuỵ đứng đầu. Hai bên đã đụng độ ở khu vực quanh hồ Hoàn kiếm. Ngày
22/2, Hồ trả lời phỏng vấn, không bình luận về tin đồn về hiệp định
Hoa-Việt. Trên thực tế, chính phủ tích cực chuẩn bị chiến tranh, thành
lập thêm các đơn vị dân quân tự vệ, bắt đầu sơ tán trẻ em và người già
khỏi thành phố.
Sainteny, đã đồng ý với nguyên tắc tự trị của Việt Nam (nhưng không nhắc
đến từ độc lập), lại nêu yêu cầu mới, đòi hỏi chính phủ Việt nam phải
có sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp dân chúng mới có thể đứng ra ký
hiệp định. Hồ cũng chỉ đạo đẩy nhanh kỳ hạn họp quốc hội lần thứ nhất
mới được bầu tháng giêng, lập ra chính phủ liên hiệp. Nhưng Việt quốc
được Tưởng ủng hộ, kiên quyết đòi đa số trong chính phủ. Có vẻ như có
lúc Hồ đã mất hy vọng. Theo Bảo đại, sáng 23/2, Hồ bất thình lình đến
thăm và đề nghị Bảo đại ra nắm quyền.
“Thưa ngài, tôi không biết làm gì hơn. Tình hình căng thẳng. Tôi hiểu
rõ người Pháp không muốn nói chuyện với tôi. Tôi không thuyết phục được
đồng minh ủng hộ. Cả thế giới bảo tôi đỏ quá. Tôi đề nghị ngài hy sinh
một lần nữa và ra nắm chính quyền”. Bảo Đại từ chối, nhưng sau khi tham khảo ý kiến các cố vấn đã nhận lời.
Nhưng Hồ Chí Minh lại đổi ý. Chiều đó, Hồ gặp lại Bảo Đại
“Thưa ngài, hãy quên những điều tôi nói lúc sáng. Tôi không có quyền
từ bỏ những trách nhiệm của mình lúc khó khăn. Trả lại quyền lực cho
ngài là sự hèn nhát của tôi. Xin ngài hãy tha lỗi cho phút yếu mềm và ý
định chuyển gánh nặng trách nhiệm cho ngài. Tôi có kế hoạch từ chức
chẳng qua vì sự chống đối quyết liệt của phe đối lập với hiệp định mà
tôi đang thảo luận với Pháp.”
Cái gì đã làm Hồ thay đổi ý định? Chỉ biết là ngày hôm sau, thấy các bên
thông báo là đã thoả thuận được thành phần chính phủ liên hiệp. Hai bộ
quan trọng nhất là Nội vụ và Quốc phòng được trao cho các phần tử trung
lập. Việt minh và các đảng khác chia nhau 8 ghế còn lại. Theo Võ Nguyên
Giáp, Hồ đã nhờ Tiêu Văn, vốn rất ghét Pháp, thuyết phục phe đối lập
thoả hiệp để có thể thành lập chính phủ chống Pháp.
D’Argenlieu quay lại Sài gòn ngày 27/2. Cùng ngày, ông đồng ý bản hiệp
định khung do Sainteny đề nghị, công nhận Việt nam là “Nhà nước tự do,
có quốc hội, quân đội và tài chính riêng” nhưng không chấp nhận quyền tự
trị của Việt Nam trong đối ngoại cũng như sự thống nhất về chính trị và
lãnh thổ giữa 3 miền. Tuy nhiên vấn đề thống nhất có thể giải quyết
thông qua trưng cầu ý dân. Cùng ngày tại Trùng khánh, Pháp đồng ý bỏ yêu
cầu về các lãnh thổ hải ngoại tại Quảng châu và Thượng hải và sẵn sàng
ký hiệp định Hoa Việt. Tất cả đã sẵn sàng để quân Pháp quay trở lại Bắc
bộ. Paris tức tốc điện cho Leclerc: “Hãy giương buồm lên”
Ngày 2/3, Quốc hội họp phiên đầu tiên tại Nhà hát lớn. Cả toà nhà tràn
ngập cờ đỏ sao vàng. Hơn 300 đại biểu, khách mời và phóng viên tham dự.
Trong bộ quần áo kaki nổi tiếng Hồ Chí MInh bước lên diễn đàn đề nghị
quốc hội chấp nhận 70 đại biểu của Việt quốc và Đồng Minh Hội đang phải
đợi ở phòng chờ. Sau khi được chấp nhận, Hồ tuyên bố khai mạc quốc hội
đại diện cho toàn thể dân tộc Việt nam và đại diện cho chính phủ liên
hiệp lâm thời xin từ chức. Quốc hội đã nhất trí bầu Hồ Chí MInh làm chủ
tịch, Nguyễn Hải Thần làm phó chủ tịch mặc dù ông này cáo ốm không đến
dự. Hồ Chí MInh tuyên bố thành lập Uỷ ban dân tộc kháng chiến đấu tranh
cho độc lập hoàn toàn của dân tộc và Hội đồng cố vấn quốc gia do Bảo
Đại làm chủ tịch.Cùng ngày hạm đội Pháp chở đạo quân của tướng Leclerc
rời Sài gòn nhằm hướng Hải phòng thẳng tiến.
Ngày 5/3 Hồ Chí MInh triệu tập lãnh đạo đảng họp tại Hương canh ngoại ô
Hà nội (sau khi TƯ đã họp ngày 24/2) để đánh giá tình hình và đề ra
chiến lược thích hợp. ý kiến rất khác nhau. Một số đòi đánh ngay lập
tức, số khác thì đề nghị theo Tàu chống Pháp... Đánh giá là lực lượng vũ
trang Việt minh còn quá yếu, Hồ Chí Minh khẳng định cần phải hoà hoãn
bằng mọi giá. Có lúc Hồ phải hét lên: “Moi người quên lịch sử rồi sao?
Mỗi khi bọn Tàu đến, chúng ở lại hàng ngàn năm. Tây thì bất quá ở vài
năm rồi cũng sẽ phải cuốn xéo”. Sau này khi nói chuyện với nhà sử học
Pháp Paul Mus, Hồ dùng từ còn kinh hơn: ”Thà ngửi c. Tây một lúc, còn
hơn ăn c. Tàu cả đời” (1). Cuối cùng quan điểm của Hồ thắng thế. Nghi
quyết cuộc họp nêu rõ: “Vấn đề bây giờ không phải là đánh hay không.
Mà là biết ta và biết người, đánh giá đúng tình hình để có hành động
thích hợp. Tình hình hiện tại phức tạp hơn nhiều so với lúc xảy ra Cách
mạng Tháng 8. Khi đó, các lực lượng đối lập hoặc không muốn hoặc không
thể ngăn cản. Bây giờ, được Tưởng giúp sức, chúng sẵn sàng manh động
chống chính phủ. Lúc đó, đồng minh đang lộn xộn, chúng ta có thể khai
thác những mâu thuẫn. Bây giờ mâu thuẫn đã tạm thời lắng xuống. Lực
lượng tiến bộ do Liên Xô lãnh đạo thì ở xa, chẳng cách nào giúp được
cách mạng Việt Nam. Bởi vậy “chiến đấu đến cùng” chẳng khác gì tự làm
yếu và cô lập mình”. Nghị quyết cũng nêu rõ, hoà hoãn với Pháp sẽ làm
cho chính phủ bị chửi là bán nước, giúp Pháp củng cố lực lượng tấn công
miền bắc. Nhưng hoà hoãn với Pháp sẽ làm Tưởng suy yếu, kéo theo bọn cơ
hội dân tộc chủ nghĩa. Hoà hoãn cũng giúp chính phủ có thời gian chuẩn
bị đầy đủ các điều kiện lâu dài cho cuộc đấu tranh giành độc lập hoàn
toàn. Cuối cùng nghị quyết yêu cầu Pháp phải công nhận các quyền tự
quyết và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt nam. Cùng ngày 5/3, hạm đội Pháp của Leclerc tiến vào vịnh Bắc bộ. Bất ngờ
Saiteny nhận được điện từ Sài gòn thông báo, Tưởng từ chối cho Pháp đổ
bộ nếu không có những nhượng bộ nữa. Uỷ ban kháng chiến quốc gia cũng ra
lời kêu gọi chuẩn bị đứng lên bảo vệ đất nước. Quân Pháp lên bờ chắc
chắn sẽ vấp phải sự kháng cự của cả Việt nam lẫn Tưởng. Leclerc hoảng
quá, yêu cầu Sainteny phải làm mọi cách để thoả thuận với các bên, kể cả
“hứa những điều mà sau này sẽ vứt đi”. Cuối ngày hôm đó, Sainteny gặp
Hồ. Cảm nhận được cuộc đàm phán Hoa - Pháp đang gặp khó khăn, Hồ thừa cơ
đòi thêm chữ “independence” và toàn vẹn lãnh thổ. Sainteny hứa sẽ tổ
chức trưng cầu ý dân 3 miền về việc thống nhất nhưng kiên quyết từ chối
dùng từ “Independence”. Cuộc đàm phán chẳng đi đến đâu.
Sáng hôm sau, hạm đội Pháp tiến vào vịnh Hải phòng. 8h30, tàu đổ bộ Pháp
được hạ xuống cửa sông Cấm. Quân Tưởng trên bờ nổ súng. Sau chừng 15
phút suy nghĩ, quân Pháp đã bắn trả. Đạn vãi như mưa trên đường phố Hải
phòng đến tận 11h. Kết quả, một số tàu Pháp bị hư hại, một kho đạn của
Tưởng bốc cháy dữ dội. Tại Hà nội, tình hình lại tiến triển thuận lợi.
Sau khi tư vấn với các đồng chí, Hồ quyết định nhượng bộ. Hoàng Minh
Giám được phái đến biệt thự của Sainteny thông báo Việt Nam đồng ý những
điều kiện của Pháp, thay chữ “indepedence” bằng chữ “Free state”.
Khoảng 4h chiều, tại toà biệt thự trên Lý Thái Tổ đối điện với Bắc bộ
phủ, toàn văn bản hiệp định đã được công bố trước các đại diện Việt nam,
Pháp và một số nhà quan sát khác. Hiệp định thừa nhận Việt nam
dân chủ cộng hoà “là một quốc gia tự do, có chính phủ, quốc hội, quân
đội và tài chính riêng, nằm trong khối Liên hiệp Pháp”. Pháp
cũng đồng ý việc tiến hành trưng cầu ý dân ở cả ba miền để thống nhất
đất nước. Đổi lại Việt nam đồng ý để 15.000 quân Pháp vào Bắc bộ thay
thế quân Tưởng. Hồ Chí Minh ký trước rồi đưa cho thứ trưởng quốc phòng
Vũ Hồng Khanh (Việt quốc) ký tiếp theo. Sau lễ ký, đáp lại sự hài lòng
ra mặt của Sainteny, Hồ Chí Minh phát biểu:
“ông đã thắng, ông biết rằng tôi muốn nhiều hơn thế. Nhưng tôi hiểu rằng
không thể có mọi thứ ngay một lúc”. Sau đó Hồ bình thản lại ngay, quay
sang nói với Pignon và Sainteny: “Tôi có một điều an ủi, đó là tình bạn
giữa chúng ta”. Ban chấp hành TƯ họp sau lễ ký bàn cách tuyên truyền về
hiệp định. Hoàng Quốc Việt được cử đi Sài gòn, Hoàng Minh Giám đi Huế,
Võ Nguyên Giáp đi Hải phòng để giải thích về nội dung bản hiệp định.
Tin về bản hiệp định được loan trên các báo ngay sáng hôm sau và được
dân chúng đón nhận với sự thờ ơ chen lẫn ngạc nhiên và giận dữ. Tình
hình ở thủ đô khá căng thẳng. Các báo đối lập gọi Hồ là Việt gian. Đảng
quyết định tổ chức một cuộc mít tinh của quần chúng trước cửa nhà hát
lớn lúc 4h chiều để ủng hộ chính phủ. Phe đối lập đã cài người vào để
gây kích động, một kẻ giấu mặt thậm chí đã ném một quả lựu đạn, may mà
quên rút chốt. Giáp vừa mới quay về từ Hải phòng, lên diễn đàn giải
thích nội dung hiệp định và kêu gọi mọi người bình tĩnh giữ vững trật
tự. Giáp so hiệp định này với hiệp định Brest Litovsk mà Lê nin đã ký
với Đức năm 1918, tuy có nhượng bộ một phần lãnh thổ Nga nhưng cuối cùng
dẫn đến độc lập hoàn toàn. Tiếp theo một số diễn giả, Hồ xuất hiện trên
ban công:
Đất nước chúng ta được tự do từ tháng 8/1945. Nhưng đến giờ, chưa có
một cường quốc nào công nhận điều đó. Bản hiệp định này mở đường cho
việc công nhận quốc tế và nâng cao vị thế của Việt nam trên thế giới.
Chúng ta đã trở thành một dân tộc tự do. Quân Pháp sẽ rút khỏi Việt nam.
Đồng bào cần phải bình tĩnh, giữ gìn kỷ luật, củng cố khối đoàn kết dân
tộc. Tôi, Hồ Chí Minh, đã cùng với các đồng chí của mình chiến đấu suốt
đời vì độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không thể phản bội đất
nước của mình.
Sự chân thành và xúc động trong phát biểu của Hồ đã gây ấn tượng. Buổi
mitting kết thúc trong tiếng hô vang dậy “Hồ Chí Minh muôn năm”.
Nhưng các lãnh đạo đảng thì thực tế hơn. Hai ngày sau, ủy ban thường vụ
ra nghị quyết với tên gọi “Hoà để tiến”, nêu rõ “Tổ quốc đang lâm nguy,
thoả thuận với Pháp cho chúng ta thêm thời gian bảo toàn lực lượng, củng
cố vị trí để có thể nhanh chóng tiến tới độc lập hoàn toàn”. Võ Nguyên
Giáp quay lại Hải phòng để đàm phán với Leclerc về các điều khoản quân
sự quy định trong hiệp định tạm thời. Nguyễn Lương Bằng được cử lên Thái
nguyên để chuẩn bị căn cứ kháng chiến, Hoàng Văn Hoan được cử đi Thanh
hoá cũng với mục đích đó. Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam bộ thông
báo về việc ngừng bắn, nhưng kêu gọi giữ vững kỷ luật và chuẩn bị. Tại
Paris, bản hiệp định được chào đón tích cực. Bộ trưởng thuộc địa Marius
Moutet trình lên chính phủ và được phê duyệt về nguyên tắc. Thủ tướng
Pháp Bidault còn gọi đây là mô hình để giải quyết tình hình ở các nước
thuộc địa khác. Trong nước, các phần tử đối lập vẫn đòi chính phủ tìm
kiếm sự ủng hộ của Tưởng hoặc Mỹ. Cố vấn Vĩnh Thuỵ xin và được phép đi
Trùng khánh để trực tiếp kêu gọi Tưởng Giới Thạch giúp đỡ.
Ngày 18/3, 1200 quân Pháp trên 200 xe quân sự, chủ yếu là của Mỹ, tiến
qua cầu Paul Doumer vào nội thành Hà nội trong sự hân hoan của kiều dân
Pháp. Quân Tưởng đã rút khỏi thành phố trước đó mấy ngày. Dân Việt nam
nhìn thấy đội quân được trang bị tối tân của Pháp đều choáng váng:
“Chúng ta thua mất rồi, họ mạnh quá”. Trong khi Leclerc thừa biết rằng 1
sư đoàn khó có thể bình định được giải đất này. Chiều đó, Leclerc,
Sainteny, Pignon cùng một số sĩ quan khác đến Bắc bộ phủ để chào Hồ Chí
Minh và các thành viên chính phủ. Mặc dù Hồ và Leclerc nâng cốc chúc
mừng tình hữu nghị Việt Pháp, không khí trong phòng họp cũng nặng chẳng
kém gì ngoài phố. Tối đó, Hồ mở tiệc chiêu đãi. Một trong những khách
mời danh dự là thiếu tá Frank White, đại diện mới của OSS. White được
xếp ngồi ngay cạnh Hồ làm cho nhiều sĩ quan có cấp cao hơn cùng dự buổi
tiệc đó cảm thấy khó chịu. Bản thân White cũng lúng túng. Nhưng Hồ nói:
“nếu không nói chuyện với anh thì tôi nói chuyện với ai”. Theo White,
không khí rất khách sáo. Bên Pháp thì chẳng có gì mà nói, quân Tàu do Lư
Hán đứng đầu thì “say khướt”. Tuy nhiên Hồ cũng bi quan về sự quan tâm
của Mỹ tới Đông dương. Sự thực là Truman cũng chẳng buồn động đến lá thư
do Hồ gửi kêu gọi Mỹ ủng hộ Việt nam độc lập theo các điều khoản của
hiến chương Liên Hiệp Quốc. Khi nghe tin về hiệp định Việt Pháp, ngoại
trưởng Mỹ James Byrnes nói “thế là Pháp đã hoàn thành việc thâu tóm Đông
dương”. Sau khi Churchil đọc bài diễn văn nổi tiếng về “bức màn sắt”
tại Fulton, Missouri, quan tâm hàng đầu của Mỹ là chủ nghĩa cộng sản thế
giới, chứ không phải việc công nhận Việt nam là “quốc gia tự do” trong
khối liên hiệp Pháp.
Ngày 22/3, một cuộc diễu binh chung được tổ chức gần khu thành cổ Hà nội
để hâm nóng “tình hữu nghị Việt Pháp”. Xe của Pháp toàn do Mỹ sản xuất,
máy bay Spitfire thì của Anh. Đám đông thì bên nào vỗ tay quân bên đấy.
Ngày hôm sau Leclerc rời Hà nội, bàn giao lại cho tướng Valluy. Tuy
không có những giao tranh lớn, đã xảy ra đụng độ khi quân Pháp chiếm một
số công sở và chỉ chịu rút sau khi nhân dân tổng bãi công.
Khi trao đổi với Sainteny, thống sứ Pháp là D’Argenlier ngỏ lời muốn gặp
Hồ Chí Minh trực tiếp. Hồ nhận lời ngay vì thấy đây là cơ hội để có thể
đàm phán chính thức tiến tới phê duyệt hiệp định sơ bộ càng nhanh càng
tốt. Ngày 24/3, Hồ đội một chiếc mũ rộng vành, cùng với Giám và bộ
trưởng ngoại giao mới Nguyễn Tường Tam, lên chiếc thuỷ phi cơ Catalina,
bay đến Hạ long gặp D’Argenlier trên chiến hạm Emile Bertin. Sau khi xem
những chiến hạm của D’Argenlier biểu dương lực lượng, hai bên trao đổi
trong cabin của đô đốc. Hồ muốn phê chuẩn hiệp định ngay lập tức.
D’Argenlier ngược lại, muốn các đại diện khác của Pháp làm quen với
những điều khoản căn bản của hiệp định trước. D’Argenlier đề nghị tổ
chức một cuộc họp trù bị dự kiến ở Đà lạt và sau đó sẽ đàm phán tiếp tục
ở đó. Hồ đồng ý họp trù bị, nhưng sợ D’Argenlier sẽ kiểm soát tình hình
ở Đà lạt, nên đề nghị chuyển địa điểm đàm phán sang Pháp, hy vọng có
thể dùng uy tín cũ ảnh hưởng đến ý kiến của công chúng Pháp vốn đang rất
dao động từ sau chiến tranh. Sainteny and Leclerc lại vào hùa với Hồ,
cho rằng như thế Hồ sẽ đỡ bị sức ép của phe đối lập và quân Tưởng. Cuối
cùng D’Argenlier cũng đồng ý. Cuộc gặp gỡ này là một bài tập hữu ích cho
Hồ. Nó giúp ông được đối diện với một tay thực dân lõi đời như
D’Argenlier và đã đứng vững trong cuộc nói chuyện. Trên đường về, Hồ
chia sẻ với thuộc cấp của D’Argenlier là tướng Salan: “Nếu đô đốc
nghĩ rằng hạm đội của ông ta làm tôi sợ thì ông ấy lầm to. Những chiến
hạm to đùng đấy làm sao bơi ngược vào các cửa sông của chúng tôi được.” Hội nghị trù bị được tổ chức tại Đà lạt vào giữa tháng 4/1946. Đoàn Việt
nam gồm có Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Trường Tam đã không thuyết phục
được D’Argenlier thảo luận về tình hình Nam bộ lúc đó đang có giao tranh
dữ dội mặc dù đã có lệnh ngừng bắn. Mâu thuẫn cũng phát sinh khi bàn về
vị trí tương lai của Việt Nam trong khối Liên Hiệp Pháp. Đoàn Việt Nam
cho rằng Việt Nam sẽ là một quốc gia có chủ quyền trong Liên hiệp. Pháp
thì cho rằng Liên Hiệp Pháp là một nhà nước liên bang, mỗi quốc gia tự
do cần phải nhượng bộ phần lớn chủ quyền cho cơ chế liên bang và thống
sứ do Paris bổ nhiệm. Giáp quay về Hà nội rất thất vọng. Hồ an ủi, hai
bên dù sao đã hiểu nhau hơn, các vấn đề khác biệt không phải là quá đối
kháng và có thể thoả hiệp trong cuộc đàm phán sắp tới tại Pháp.Năm ngày
sau, D’Argenlier bay ra Hà nội định thuyết phục Hồ hoãn chuyến đi với
lý do cuộc vận động tranh cử ở Pháp đang đến hồi cao trào. D’Argenlier
còn doạ hình như sắp tới sẽ thành lập Nhà nước Nam bộ tự trị, hoàn toàn
đi ngược lại với những gì đã quy định trong hiệp định tạm thời giữa Hồ
và Sainteny. Hồ quyết định không nhượng bộ.
Ngày 30/5/1946, hơn 50,000 dân đã đội mưa đến khuôn viên Đại học Đông
dương để tiễn phái đoàn chính phủ đi Pháp đàm phán hoà bình. Phái đoàn
do Phạm Văn Đồng dẫn đầu. Hồ không có trong thành phần đàm phán chính
thức mà tham gia với tư cách “Khách mời danh dự” của chính phủ Pháp.
Cùng đi có Salan. Hồ thề trước đám đông sẽ phục vụ quyền lợi Tổ quốc và
nhân dân Việt nam, kêu gọi nhân dân tuân thủ các yêu cầu của chính quyền
khi Hồ vắng mặt và tôn trọng người ngoại quốc. Sáng hôm sau, cả đoàn
khởi hành từ Bắc bộ phủ, sang sân bay Gia lâm và cất cánh trên 2 chiếc
Dakota. Tất cả đều mặc âu phục trừ Hồ vẫn chiếc áo khoác kaki và đi giày
đen.
Paris chỉ thị cho phi công bay lòng vòng, bảo đảm phái đoàn chỉ đến Pháp
khi kết quả bầu cử đã ngã ngũ. Chặng nghỉ đầu tiên là ở Calcuta (sau
khi dừng tại Miến điện). Ra đón đoàn có Lãnh sự Pháp và đại diện chính
quyền Anh. Cả hội được bố trí ở khách sạn Great Eastern hai ngày đi ngắm
cảnh. Ngày thứ 4 đi Agra thăm Taj Mahal, sau đó đi Karachi, Iraq, đến
Cairo ngày thứ bảy và ở lại đó 3 ngày. Trước khi rời Ai cập, Hồ nhận
được tin D’Argenlier đã lập nhà nước Nam bộ tự trị và được chính phủ
Pháp công nhận. Hồ yêu cầu Salan hành động để đừng biến Nam bộ thành
“Alsace-Lorraine mới” có thể dẫn đến cuộc chiến tranh Trăm năm.
Cuộc bầu cử ở Pháp ngày 2/6 đã đánh đổ chính phủ xã hội của thủ tướng
Guin. Trong khi chính phủ mới đang được thành lập, không rõ ai sẽ đứng
ra tiếp đón chính thức phái đoàn. Paris đành phải lái chuyến bay đến bãi
biển Biarritz trên vịnh Biscay. Các quan chức địa phương đã ra đón và
đưa Hồ đến khách sạn Carlton ngay bờ biển, còn các thành viên khác được
mời đến chỗ ít sang trọng hơn. Sau đó các thành viên khác được đưa đến
Paris, còn thủ tướng bảo thủ mới bầu Georges Bidault phái Sainteny đến
hầu chuyện Hồ mấy ngày ở Biarritz cho đến khí chính phủ mới được thành
lập xong. Hồ rất lo lắng về diễn biến tình hình Paris và đặc biệt ở là
Đông dương. Có vẻ như D’Argenlier đang làm mọi cách để phá hoại hiệp
định sơ bộ giữa Hồ và Sainteny. Sainteny ra sức trấn an Hồ là quốc hội
Pháp sẽ không công nhận Nam bộ nếu không có kết quả trưng cầu ý dân.
Saiteny cố gắng làm cho Hồ khuây khoả. Thỉnh thoảng hai người đến thăm
biệt thự của em gái Sainteny tại Hendaye, ở đó Hồ chơi đùa hàng giờ với
cháu gái của Sainteny trên bãi biển. Hồ còn đi xem đấu bò ở biên giới
Tây ban nha, thăm tu viện Lourdes. Khi ăn trưa tại làng đánh cá nhỏ
Biristou, Hồ đã để lại dòng lưu niệm: “Đại dương và biển cả không thể
chia cắt những người anh em gắn bó với nhau”. Có hôm, họ dành cả ngày đi
đánh cá trên biển ở St-Jean de Luz. Hồ có vẻ thích thú, tự câu được mấy
con cá ngừ và tán ngẫu với thuyền trưởng. Khi bàn đến phong trào ly
khai xứ Basque ở trong vùng, Hồ nhấn mạnh: “Riêng khoản này tôi có kinh
nghiệm hơn anh, tôi e rằng người anh em Basque nên nghĩ rất kỹ trước khi
hành động”. Vào những năm sau này, thỉnh thoảng Hồ có nhắc lại đây là
một trong những ngày hạnh phúc nhất của đời ông.
Hồ còn dành một số thời gian cho việc nhà nước. Ông vào vai “Bác Hồ”
tiếp các đại diện Việt kiều, công đoàn và phóng viên báo Nhân đạo. Hồ
quan tâm đến mọi thứ, mọi người, cư xử hết sức giản dị và nhũn nhặn.
Nhưng cũng có lúc Hồ tỏ ra cứng rắn. Khi được một đảng viên xã hội Pháp
thông báo là Việt minh đã ám sát phần tử Troskit Tạ Thu Thâu tại Sài
gòn, Hồ đã khóc “người yêu nước vĩ đại” nhưng sau đó nói thêm “Tất cả
những người đi sai đường đều sẽ bị loại bỏ”.
Ngày 22/6 Hồ và Sainteny bay đến Paris qua vùng đồng bằng sông Loa tuyệt đẹp. Sainteny kể lại, khi
máy bay chuẩn bị hạ cánh “ Hồ Chí Minh tái mặt, mắt chớp liên tục, thậm
chí cổ họng nghẹn lại, không nói được nên lời”. Khi máy bay chạy chậm
trên đường băng, Hồ cầm tay Sainteny: “Hãy ở gần tôi. Đông người quá.” Sân bay Bourger quả thật hôm đó rất đông. Cờ Việt nam và cờ Pháp tung
bay trong gió. Đón Hồ Chí Minh tận sân bay là Maurius Moutet, bộ trưởng
hải ngoại, cũng là bạn cũ của Hồ thời sau Thế chiến I. Sau vài nghi lễ
ngoại giao, Hồ được bố trí đưa về căn phòng suit (- cao cấp), khách sạn
Royal Monceau phố Hoche. Hình ảnh lãnh tụ du kích loay hoay xoay xở với
những đồ vật sang trọng của căn phòng khắc đậm trong trí nhớ của
Saiteny. Sainteny còn nghi ngờ là thể nào Hồ cũng ngủ trên thảm sàn chứ
không phải trên giường.
Chính phủ Bidault đến tận ngày 26 mới chính thức nhậm chức, bởi thế đàm
phán chỉ có thể bắt đầu vào tháng 7. Hồ loanh quanh thăm thú những chỗ
trước đây, ra rừng Boulogne rồi đến ngõ Compoint. Hồ còn đề nghị
Sainteny đưa đến bãi biển Normandy nơi đồng minh đổ bộ. Hồ ngủ tại biệt
thự của Sainteny ở gần đó và dậy rất sớm để tán gẫu và hỏi kinh nghiệm
chăn nuôi của các nông dân Pháp.
Hồ còn phải tiếp đón vô số khách khứa, dưới sự chỉ đạo của vụ trưởng lễ
tân Jacques Dumaine. Nhưng nói chung là Hồ làm đơn giản, mời tất cả
những người muốn phỏng vấn đến ăn sáng với ông từ 6h sáng và ăn mặc bình
thường. Kể cả tại tiệc chiêu đãi tân thủ tưởng Bidault tối 4/7, Hồ cũng
chỉ cài kín cổ chiếc áo kaki của mình cho trang trọng, tuy nhiên vẫn
diện đôi dép cao su. Trong một bữa tiệc do Sainteny tổ chức tại nhà
riêng, Hồ đã gặp lại Albert Sarraut. Ông này kêu lên: “Cuối cùng thì tôi
cũng tóm được ngài, tôi đã phải tốn gần cả đời để theo đuổi ngài” rồi
ôm chầm lấy rất thân thiết. Saraut chỉ quan tâm không biết trường A.
Saraut ở Hà nội có còn không? Hồ cũng xin gặp De Gaule nhưng không được
vì Charle “Lớn” không thích can thiệp vào công việc của chính phủ sau
khi ra nghỉ hưu ở Colombey. Lạ nhất là Leclerc lại tìm cách tránh Hồ mặc
dù cả hai có vẻ rất thân nhau ở Đông dương. Sainteny cho rằng các hoạt
động của Leclerc tại Đông dương bị các giới chức quân sự Pháp phê phán
dữ dội nên ông này tránh đổ thêm dầu vào lửa. Cũng có thể là Leclerc cho
rằng Hồ đã lừa mình khi khăng khăng khẳng định là chính phủ Việt Nam
không chuẩn bị chiến tranh.
11h sáng 2/7, ôtô cùng với Dumaine đón Hồ đến khách sạn Matignon dự lễ
tiếp đón chính thức của Bidault. Trong bài phát biểu khai mạc, Bidault
xin lỗi về sự chậm trễ tiến hành đàm phán hoà bình và nhắc đến tình hữu
nghị lâu đời giữa hai dân tộc. Ông này miêu tả Khối Liên hiệp Pháp mới
sẽ thấm đẫm tính nhân đạo và hy vọng hai bên sẽ đàm phán chân thành và
trên tinh thần hiểu biết lẫn nhau. Đáp lời, Hồ nhắc lại Paris là cái nôi
của những lý tưởng cao cả của cách mạng Pháp năm 1789. Hồ dự đoán đàm
phán sẽ khó khăn nhưng sẽ thành công nếu cả hai bên đều “không làm với
người khác những điều mà không muốn người khác làm với mình”. Ngày hôm
sau, Hồ đi bộ trên đại lộ Champ-Elysees, đặt hoa tại mộ chiến sĩ vô danh
cạnh Khái hoàn môn, kéo theo một đám đông người tò mò. Hồ nói đùa “Họ
muốn xem Charlie Chaplin của châu á như thế nào.” Hồ cũng đến điện
Versailles nơi ông đã trao “Bản kiến nghị” cho lãnh đạo các nước đồng
minh thắng trận sau Thế chiến I, thăm mộ Napoleon tại điện Les Invalides
và thăm tượng đài kỷ niệm các chiến sĩ du kích bị Đức hành hình trên
núi Valerian ở Monmartre.
Cuộc đàm phán chính thức bắt đầu từ ngày 6/7 tại cung Fontainebleau cổ
kính. Đoàn Pháp do Max André (đã được De Gault cử sang Đông dương hồi
tháng Giêng) lãnh đạo. D’Argenlier đã đề nghị bay về Paris làm trưởng
đoàn nhưng Bidault từ chối vì sợ phản ứng của Việt nam và công chúng
Pháp. Thành phần chính trị tương đối hỗn hợp gồm cả đảng viên Đảng CS
Pháp (FCP), đảng Xã hội và đảng Nhân dân cộng hoà (MRP) của Bidault.
Tình hình Việt nam trước đàm phán xấu đi nhanh chóng. Ngày 1/6, chính
quyền Nam bộ do Nguyễn Văn Thịnh lãnh đạo đã nhậm chức ở Sài gòn. Tại Hà
nội, quân Pháp chiếm toà nhà Thống sứ, biểu tượng quyền lực ở Đông
dương. Chỉ sau khi bị phía Việt nam phản đối kịch liệt, Valluy mới chịu
rút ra và tổ chức canh gác chung cùng với quân đội Việt nam đợi kết quả
đàm phán ở Paris. Phạm Văn Đồng đã đả kích những hành động này của Pháp
ngay trong phiên khai mạc. Hai bên cũng thống nhất được nội dung gồm 3 phần: vị trí Việt nam trong Liên hiệp Pháp, quan hệ với các nước thứ ba và thống nhất 3 miền.
Tuy nhiên các bên vẫn giữ nguyên ý kiến như tại Hội nghị tháng Tư ở Đà
lạt. Người Pháp đặc biệt khó chịu khi nói đến chuyện Nam bộ, đòi rút tất
cả các quân của miền Bắc trước khi có ngừng bắn, họ cũng đưa ra một
định nghĩa rất hẹp cho khái niệm “quốc gia tự do”. Một số còn tỏ thái độ
coi thường bằng cách thường xuyên vắng mặt tại các cuộc họp. Đoàn Việt
Nam hy vọng sự ủng hộ từ FCP và may ra thì từ cả đảng Xã hội. Báo chí
hai đảng này đều có thái độ ủng hộ Hồ Chí Minh rõ rệt.
Trước đó đoàn đại biểu quốc hội cũng đã đến Pháp và nối lại quan hệ với
FCP. Tuy vậy, mặc dù nhiều đảng viên FCP có thiện chí với ước vọng của
Việt Nam, lãnh đạo đảng FCP tỏ ra nghi ngờ trước động thái giải tán Đảng
CS Đông Dương (ICP) hồi tháng 11 năm ngoái. FCP cũng đang bị cuốn vào
làn sóng khôi phục tinh thần dân tộc chủ nghĩa sau chiến tranh tại Pháp.
Sainteny đã biết thái độ của FCP khi ông trình bản hiệp định sơ bộ lên
Maurice Thorez, một thợ mỏ được đôn lên phó thủ tướng. Thorez duyệt bản
hiệp định và nói thêm: “Nếu Việt nam không tuân thủ những điều khoản
này, hãy để nòng súng nói chuyện hộ chúng ta”.
Hồ không tham gia vào cuộc đàm phán chính thức mà lợi dụng tất cả các cơ
hội bằng uy tín và sự cuốn hút của mình để tìm kiếm sự ủng hộ cho sự
nghiệp của Việt nam. Có người gọi những hoạt động này là “Chiến dịch làm
duyên” của Hồ. Hồ gặp đại diện tất cả các đảng phái chính trị, nói
chuyện với tất cả các nhà báo và trí thức nổi tiếng. Hồ còn đề nghị ông
bạn cũ là Thorez giúp ảnh hưởng đến chính phủ Pháp. Không rõ Thorez trả
lời thế
nào.
Do không có thông tin từ các cuộc hội đàm, xem ra công chúng thì ủng hộ
Việt nam còn phe bảo thủ chống lại. Không khí khá nóng trong xã hội
Pháp. Ngày 12/7 Hồ Chí Minh tổ chức cuộc họp báo để trình bày quan điểm
của chính phủ mình. Hồ nhấn mạnh, Việt Nam tìm kiếm độc lập dân tộc và
không tán thành phương án liên bang. Tuy nhiên Việt Nam sẵn sàng chấp
nhận độc lập trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp. Hồ tuyên bố các tỉnh Nam bộ
là một phần không thể tách rời của Việt nam và không thể đàm phán riêng
rẽ. Hồ hứa sẽ bảo vệ tất cả các tài sản và quyền lợi kinh tế của Pháp ở
Đông dương, bảo đảm quyền ưu tiên cho Pháp khi Việt nam cần sự trợ giúp
của nước ngoài. Khi một phóng viên Mỹ hỏi, có phải Hồ là cộng sản? Hồ
thừa nhận là học trò của Marx, tuy nhiên cho rằng chủ nghĩa cộng sản đòi
hỏi một nền công nghiệp phát triển do đó không có điều kiện xây dựng ở
Việt Nam. Ai mà biết được bao giờ giấc mơ thế giới đại đồng của Marx
được thực hiện. 2000 năm trước Jesus cũng đã dạy ta phải yêu kẻ thù của
mình, bây giờ có thấy ở đâu đâu? Tại Sài gòn, D’Argenlier bắt đầu các hành động nhằm gây ảnh hưởng đến
cuộc đàm phán. Ngày 23/7, có tin đồn là D’Argenlier dự kiến sẽ tổ chức
hội nghị tại Đà lạt ngày 1/8 để thành lập liên bang Đông dương gồm Nam
bộ, Nam Trung bộ, Tây nguyên, Lao, Cambodia. Phạm Văn Đồng lập tức bỏ
cuộc họp, phía Pháp phải hứa trình chính phủ xem xét. Việt minh cũng
tiến hành một loạt các cuộc tấn công vào các quyền lợi của Pháp. Ngày
26/7, Hồ Chí Minh đến Fontenebleau và thuyết phục được 2 bên ngồi lại
bàn đàm phán. Nhưng không được bao lâu. Ngày 1/8, D’Argenlier vẫn tiến
hành hội nghị Đà lạt, đoàn Việt Nam sau khi chính thức phản đối, không
được chính phủ Pháp trả lời, đã rời bàn họp. Hồ lại phải nhờ đến ông bạn
cũ Moutet để tìm ra công thức nối lại đàm phán. Moutet cho rằng đàm
phán với Hồ vẫn là tốt hơn cả, trên tinh thần hiệp định sơ bộ 6/3. Tuy
nhiên hai bên phải giảm cường độ phê phán, tuyên truyền và khiêu khích.
Moutet dự đoán là Việt Minh sẽ thắng trong bất cứ cuộc bầu cử tại Nam
bộ nếu pháp luật ở đó không được khôi phục. Cuối tháng 8, các cuộc đàm
phán được nối lại. Tuy nhiên phía Pháp kiên quyết không chịu chấp nhận
độc lập của Việt Nam cũng như định chính xác ngày trưng cầu ý dân tại
Nam bộ, ngày 10/9 đoàn Việt nam bỏ bàn họp. Ba ngày sau, họ lên tàu về
nước để Hồ Chí Minh ở lại một mình.
Khi đàm phán rơi vào bế tắc, Sainteny đã đề nghị Hồ Chí Minh về nước để
dẹp những tư tưởng chống Pháp ở trong nước, nhưng Hồ không thể ra về
“tay trắng” và quyết định ở lại. Chính phủ Pháp gây sức ép bằng cách
không trả tiền tại Roayl Monceau. Hồ chuyển đến nhà người quen là
Raymond Aubrac tại Soysy-sous-Montmorency và tiếp tục tiếp khách, trả
lời phỏng vấn. Hồ kêu gọi Moutet “đừng để tôi rời Pháp trong tình trạng
này, hãy trang bị cho tôi chống lại những kẻ muốn tiêu diệt tôi, ông sẽ
không phải tiếc”.
Ngày 11/9, Hồ tổ chức họp báo nhấn mạnh Việt Nam muốn tìm kiếm thoả
thuận. Hồ cho rằng những mâu thuẫn hiện tại cũng như mâu thuẫn trong gia
đình, dự đoán có thể ký hiệp định trong 6 tháng và hứa sẽ ổn định tình
hình tại Đông dương. Cùng ngày Hồ gặp đại sứ Mỹ Jefferson Caffery tại
đại sứ quán. Caffery trong báo cáo về Washington đã nhận định rằng Hồ
Chí Minh rất có tư cách và đúng mực trong nói chuyện, dự định lôi kéo Mỹ
vào đàm phán để gây sức ép với Pháp. Ngày hôm sau, Hồ gặp George
Abott, bí thư thứ nhất sứ quán Mỹ sau này là tổng lãnh sự Mỹ tại Sài
gòn. Hồ nhắc lại chuyện hợp tác với Mỹ trong chiến tranh, bày tỏ sự
ngưỡng mộ với Rousevelt, kêu gọi Mỹ giúp đỡ kinh tế cho Việt nam vì Pháp
quá nghèo không thể làm gì được. Cuối buổi, Hồ nhắc khéo về chuyện Mỹ
có thể sử dụng Cam Ranh làm căn cứ hải quân cho mình.
Một số chuyên gia châu á của Bộ ngoại giao Mỹ cũng tỏ ra lo ngại. Abott
Low Moffat của vụ Đông Nam Á trong một bức thư gửi thứ trưởng phụ trách
các công việc Viễn đông John Carter Vincent đã cảnh báo: “tình hình đã
trở nên nghiêm trọng” ở Đông dương do Pháp vi phạm hiệp định 6/3. Người
Việt rất phẫn nộ về các hành động của Pháp dẫn đến Pháp sẽ sử dụng vũ
lực để tái chiếm Đông dương. Moffat khuyến cáo bộ ngoại giao nên “bày tỏ
Mỹ hy vọng Pháp sẽ tuân thủ các điều khoản của hiệp định 6/3, ổn định
trật tự và bảo đảm quyền lợi của các dân tộc phụ thuộc”. Tất nhiên chính
phủ Truman chẳng dại gì mà dây với Pháp vào thời điểm chính trị nhạy
cảm này của nước Pháp. Thêm nữa, có tin báo chính phủ Hà nội chẳng qua
là công cụ của Kremlin để mở rộng ảnh hưởng sang châu Á. Tháng 8, tổng
lãnh sự Charles Reed nhận được điện phải tìm hiểu tương quan giữa cộng
sản và không cộng sản trong chính phủ, cũng như đường lối của Hồ và các
đồng chí. Reed đã thông báo cho Washington rằng người Việt Nam đều tin
là Mỹ ủng hộ Pháp, bằng chứng là lính Pháp cưỡi xe Jeep chạy trên đường,
khí tài quân sự mà Pháp sử dụng được lấy từ kho quân dụng của Mỹ ở
Manila nên vẫn còn nguyên phù hiệu của quân đội Mỹ. Bộ ngoại giao đã báo
cho Nhà trắng về tình hình này, nhưng Truman quyết định không can
thiệp.
Quyết định của Hồ Chí Minh ở lại Paris sau khi cả đoàn đàm phán đã về
nước đã gây nên tranh luận lớn. Một số nhà quan sát Pháp cho rằng Hồ
muốn ăn vạ chính phủ Pháp những điều mà Hồ không thoả thuận được trên
bàn đàm phán. Một số cho rằng lời kêu gọi tới Moutet là không chân thành
vì cuối cùng Hồ đã ra lệnh cho chính phủ tiến hành chiến tranh chống
Pháp, mà nếu có chân thành thì đã chắc gì Hồ bảo được đám thuộc cấp cũng
như kiểm soát được tình hình lộn xộn ở Đông dương. Đúng thế, ở Việt
nam, và thậm chí ngay trong giới Việt kiều ở Pháp, tinh thần chống Pháp
đang lên cao và Hồ chịu sức ép to lớn trước bất kỳ thoả hiệp nào.
Saiteny thì tin rằng Hồ chân thành, bằng chứng là Hồ đã bỏ nhiều công
sức để xoa dịu lòng căm thù Pháp trong dân chúng. Bidault thì cho rằng
Hồ chỉ diễn “tình hữu nghị” còn trên thực tế đã chỉ đạo Hà nội chuẩn bị
chiến tranh.
Bidault không phải là không có lý, Trong một cuộc phỏng vấn Hồ ngày
11/9, phóng viên Newyork Times David Schoenbrun đã hỏi thẳng: “Liệu ông
có nghĩ chiến tranh là không thể tránh khỏi?”. Hồ đã trả lời “Chắc chắn
chúng tôi sẽ phải chiến đấu. Người Pháp ký hiệp định và vẫy cờ chào đón
tôi. Nhưng tất cả chỉ là để che mắt”. Khi David cho rằng bắt đầu cuộc
chiến tranh mà thiếu quân đội và vũ khí thì thật là vô vọng, Hồ đã phản
đối: "Không, không vô vọng. Đó sẽ là một cuộc chiến gay go và
quyết liệt nhưng chúng tôi sẽ thắng. Chúng tôi có một vũ khí mạnh chẳng
kém những cỗ đại bác: đó là tinh thần dân tộc! Đừng có đánh giá
thấp điều đó. Người Mỹ chắc hẳn phải nhớ là một đám nông dân chân đất Mỹ
đã đánh thắng quân đội hoàng gia Anh như thế nào ". David cho rằng đó
là chuyện xưa rồi. Còn bây giờ vũ khí đã phát triển đến mức quyết định.
Hồ nhấn mạnh, vũ khí lúc nào cũng có thể mua được, và tinh thần anh dũng
của con người mới là quyết định, như các du kích Nam tư đã đánh thắng
phát xít Đức. “Hàng triệu cây tầm vông sẽ mọc lên sau lưng quân thù” và
đây sẽ là cuộc chiến Giữa hổ và voi. Nếu hổ đứng yên, chắc chắn voi sẽ
dẫm bẹp. Nhưng hổ nấp trong rừng và sẽ xuất hiện ban đêm, cắn một miếng
rồi lại biến mất vào rừng sâu. Dần dần voi sẽ chảy hết máu mà chết. Đó
sẽ là cuộc chiến tranh Đông dương .
Do vẫn có hy vọng là Đảng CS Pháp - FCP sẽ lên nắm quyền ở Pháp, Thorez
đã thuyết phục Hồ hoãn tiến hành các hoạt động quân sự để tìm biện pháp
ngoại giao. Ngày 14/9 ngay trước khi đi gặp Moutet, Hồ đã cảnh cáo
Sainteny là nếu không đạt được thoả thuận, chắc chắn chiến tranh sẽ xảy
ra. “Mỗi người các ông bị giết, các ông sẽ giết 10 người của chúng tôi.
Nhưng các ông mới là người bỏ cuộc trước”. Trong cuộc gặp Hồ đã đề nghị
hai bên cùng chịu trách nhiệm về tình hình ở Nam bộ, nhưng Moutet từ
chối, cho rằng Việt nam tham gia vào uỷ ban theo dõi tình hình là vi
phạm chủ quyền của Pháp. Moutet đề nghị ký bản Ghi nhớ (modus vivendi)
để tránh cho đàm phán đổ vỡ hoàn toàn. Bản ghi nhớ kêu gọi ngừng bắn tại
Nam bộ từ ngày 30/10 và nối lại đàm phán vào tháng Giêng 1947. Hồ không
đồng ý và rời bàn đàm phán lúc 11h đêm, tuyên bố sẽ trở về Đông dương
vào thứ hai 16/9. Sau nửa đêm, Hồ liên lạc lại với Moutet. Hai bên đồng ý
về nguyên tắc là đại diện VN được uỷ quyền hợp tác với D’Argenlier để
tiến tới hoà bình tại Đông dương. Hồ đã đồng ý ký bản Ghi nhớ. Bản Ghi
nhớ là tất cả những gì Hồ có được sau 2 tháng đàm phán tại Fontenableau.
Saiteny nhớ lại mẩu giấy “nóng bỏng” đó đã được soạn thảo vội vã ngay
trong phòng làm việc của ông và cho Hồ “ít hơn nhiều cái mà ông ta hy
vọng”. Tại Đông dương, người Pháp thở phào, còn người Việt cảm thấy bị
làm nhục. Hồ đã nói với
Sainteny khi cuộc họp kết thúc lúc 3h sáng: “Tôi đã ký vào bản án tử hình của tôi.” Kỳ lạ là sau khi ký kết thoả thuận, Hồ Chí Minh cũng có vẻ không vội
vàng gì quay về Việt nam. Hồ từ chối chiếc máy bay do chính phủ Pháp bố
trí, lấy cớ là sức khoẻ yếu và đề nghị được đi tàu thuỷ. Trong khi
Sainteny đang lưỡng lự, Hồ liên lạc thẳng với bộ trưởng hàng hải và được
đồng ý lên tàu Dumont D’Urville khởi hành từ Toulon. Ngày 16, Hồ và
Sainteny lên tàu đi Toulon. Tại Montelimar, Hồ đã xuống tàu và gặp đoàn
đại biểu sinh viên Việt Nam để giải thích về Bản ghi nhớ và khuyên sinh
viên cố gắng học tập. Tại Marseill, Hồ cũng làm tương tự, mặc dù trong
đám đông có nhiều tiếng kêu “Việt gian”. Ngày 18/9 Hồ đến Toulon và lên
tàu về nước. (Đoàn Việt nam cũng khởi hành từ đây 4 ngày trước đó trên
tàu Pasteur). Cùng đi với Hồ là một số trợ lý và 4 sinh viên mới kết
thúc năm học trở về Việt nam. Sáng ngày 19/9, con tàu mang cờ đỏ sao
vàng do thuyền trưởng Gerbaud chỉ huy nhổ neo nhằm hướng Địa trung hải
thẳng tiến.
Ngay ngày đầu, Hồ đã điện về Hà Nội để giải thích những điều khoản của
Bản ghi nhớ. Hồ cũng gửi điện cảm ơn Moutet và hy vọng ông này sẽ giúp
đỡ thực hiện hiệp định. Vài ngày sau, Hồ nhận được điện của Bidault và
lập tức trả lời, cảm ơn về lòng hiếu khách, nhưng cũng nhận xét rằng
nhân dân Việt nam không hài lòng về Bản ghi nhớ. Theo Hồ, đó cũng là
chuyện thường tình “Tôi đã làm tất cả và chắc đã thành công, nếu những
người bạn Pháp áp dụng những quyền tự do dân chủ tại Nam bộ, chấm dứt
những khiêu khích vũ trang, trả lại tự do cho tù nhân và tránh dùng
những từ ngữ xúc phạm. Tôi hy vọng vào sự hỗ trợ tích cực của ông để
tiến hành công việc vì lợi ích của hai dân tộc”.
Ngày 22/9, tàu cập bến Port Said, cửa ngõ phía bắc của kênh Suez. Hồ gửi
thư trả lời một phụ nữ Pháp kêu gọi ông đừng để xảy ra chiến tranh. Hồ
nói Việt nam cũng như Pháp rất ghét đổ máu, nhưng cũng như dân Pháp, dân
Việt mong muốn độc lập và thống nhất. Nếu Pháp công nhận những ước vọng
chính đáng đó, Pháp sẽ chiếm được trái tim của cả dân tộc Việt nam.
Điểm đến tiếp theo là cảng Djibuti thuộc Pháp, Hồ đã xuống tàu đến thăm
Thống sứ. Sau đó tàu đến Ceylon, Colombo và Hồ được các đồng chí của
Gandhi và Nehru chào đón.
Tàu đi chậm vì thỉnh thoảng phải dừng lại vài ngày để duy tu hoặc bắn
vài loạt đại bác để hoàn thành nhiệm vụ tuần tiễu. Hồ sống đơn giản, chỉ
có một bộ quần áo để thay và tự giặt lấy. Lúc rỗi rãi Hồ tán gẫu với
các thuỷ thủ và sinh viên, dĩ nhiên là không quên công tác tuyên truyền.
Một sinh viên cùng đi nhớ lại, Hồ đã nói: “Chúng ta không có gì, không
có máy móc, nguyên liệu và cả thợ lành nghề. Bù lại chúng ta có sông
núi, biển khơi và những con người mạnh mẽ, dũng cảm và sáng tạo”. Có
người hỏi Hồ khi thuyền trưởng cho tàu thử pháo: “Họ thử thần kinh ông
đấy, ông có sợ không?” Hồ đã cười phá lên. Đối với thuyền trưởng Gerbaud
thì Hồ là một người “thông minh nhưng lý tưởng hoá, hiến dâng đời mình
cho sự nghiệp mà ông ta tưởng tượng ra”
Ngày 18/10, tàu đến vịnh Cam ranh. D’Argenlier và tướng Morliere (người
thay thế Sainteny, đại diện cho Pháp với chính phủ Hà nội) đón tiếp Hồ
trên chiến hạm Suffren, lần thứ hai trong vòng 7 tháng, Hồ được xem diễu
binh của hải quân Pháp. Hồ và D’Argenlier bàn về việc triển khai Bản
ghi nhớ. D’Argenlier nhất trí hợp tác với đại diện của Việt nam để ngưng
bắn, D’Argenlier cũng bày tỏ sự phản đối trước những hành động khủng bố
diễn ra gần đây. Mặc dù 2 bên không thống nhất được về việc rút quân
miền bắc ra khỏi miền nam, cuộc gặp đã kết thúc vui vẻ. D’Argenlier báo
cáo về Paris, tất cả phụ thuộc hành động của chính phủ Việt Nam khi Hồ
về đến Hà nội. 2 ngày sau, Dumont d’Urville vào cửa Cấm trong sự chào
đón của đám đông hát Tiến quân ca và Marseillaise (theo đề nghị của Hồ).
Tối hôm đó, Hồ chiêu đãi các đồng chí và báo cáo sơ bộ tình hình đàm
phán 4 tháng qua. Sáng hôm sau Hồ lên tàu hoả về Hà nội và được đưa về
Bắc bộ phủ nơi đã có hơn 100,000 người tụ tập chào đón.
Cho đến giờ, các nhà sử học vẫn băn khoăn là tại sao Hồ Chí Minh không
trở về nước ngay. Lý do Hồ viện ra với chính phủ Pháp là sức khoẻ là
không thể chấp nhận được vì Hồ chưa bao giờ để sức khoẻ của mình ảnh
hưởng đến các mục đích chính trị. Một số người cho rằng, Hồ dành thời
gian để Giáp tranh thủ diệt bớt bọn đối lập, tập trung quyền lực để
chuẩn bị chiến tranh. Số khác thì nghĩ Hồ muốn những phản ứng tức thời
về Bản Ghi nhớ lắng xuống đã. Sainteny thì đoán là Hồ sợ bị ám sát.
Nhiều năm sau này, Hồ thừa nhận với các đồng chí ở Hà nội, đó là một
trong những lo ngại lớn nhất của ông. Ông còn thêm vào “đi tàu thuỷ để
xem nhiều sự thay đổi cũng hay”
Không hề nghi ngờ gì là Võ Nguyên Giáp đã sử dụng thời gian Hồ vắng mặt
để tăng cường sự quản lý của Đảng với chính phủ. Đầu hè, Pháp đề nghị
được tổ chức diễu binh nhân ngày 14/7. Theo tin tình báo, Giáp được biết
là các phần tử đối lập sẽ tổ chức khiêu khích quân Pháp để phá vỡ đàm
phán. Giáp từ chối Pháp vì lý do an ninh và ngày hôm sau tổ chức đột
nhập trụ sở Việt quốc, phát hiện ra phòng tra tấn và một số tù nhân,
cùng với kế hoạch bắt cóc con tin Pháp. Cuộc tấn công này đã chặn đứng
âm mưu chống chính phủ nhưng đã làm sự căng thẳng giữa hai bên lên cao
dẫn đến Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Tường Tam rút khỏi
chính phủ. Quan hệ giữa chính phủ Viẹt Nam và Pháp cũng không lấy gì làm
tốt. Mặc dù Morliere là người khá ôn hoà, sau khi hội nghị Fontenebleau
thất bại, các cuộc đụng độ giữa người Pháp và người Việt xảy ra như cơm
bữa. Mỗi lần lại thấy Morliere ra tối hậu thư để tìm thủ phạm nên nhân
dân gọi ông này là “Tướng tối hậu thư”.
Cuộc chiến Nam bộ, đương nhiên là làm xấu thêm tình hình. Trần Văn Giàu
bị phê phán vì những hành động tàn bạo được thay bằng Nguyễn Bình. Ông
này trông võ biền, một mắt chột sau cặp kính đen. Đặc biệt ghét Pháp. Đã
tham gia Quốc dân đảng từ cuối những năm 20, sau đó biến mất và đột
ngột xuất hiện lại ở Việt bắc vào cuối thế chiến II tham gia Việt minh.
Có thiên tài quân sự và mặc dù không phải là đảng viên vẫn được trao
trách nhiệm tổng chỉ huy quân kháng chiến ở Nam bộ từ tháng 1/1946. Bình
đã tổ chức những khu căn cứ du kích lớn ở phía bắc Sài gòn (sau này
được biết đến như là chiến khu D), Đồng tháp mười và trong rừng U minh
để từ đó quấy phá quân Pháp. Tuy nhiên Bình đã bỏ qua lời dặn của Hồ
phải tránh vũ lực và tập hợp được đông đảo dân chúng. Bình đã đưa những
hành động khủng bố lên tầm cao mới, đăch biệt là vụ ám sát Huỳnh Phú Sổ
“mad bonze”, người sáng lập ra giáo phái Hoà Hảo.
Bốn tháng đi xa, chắc chắn làm Hồ Chí Minh phải nhìn nhận tình hình với
con mắt khác. Một mặt các đồng chí đã giúp ông củng cố quyền lực dễ bề
đưa ra các chính sách. Mặt khác những hành động đấy sẽ thu hẹp sự ủng hộ
của đông đảo nhân dân mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp trong những
ngày sau Cách Mạng Tháng 8, sẽ đặt Hồ vào thế khó để thống nhất dân tộc
trong cuộc chiến tranh dự kiến. Các đồng chí của Hồ như Giáp, Đồng,
Việt, Chinh cũng lợi dụng khoảng thời gian này để thể hiện mình nhiều
hơn trong Đảng. Nhiều người không tin là có thể hoà hoãn với Pháp mà
phải nhanh chóng chuẩn bị chiến tranh. Trong bài diễn văn kỷ niệm 1 năm
quốc khánh, Trường Chinh đã áp đặt tầm nhìn của mình cho cách mạng Việt
nam, phê phán xu hướng “thoả hiệp không nguyên tắc”, không tin tưởng vào
quần chúng, nhấn mạnh rằng chúng ta không sợ quân thù mà chỉ sợ “sai
lầm của các đồng chí của chúng ta”. Mặc dù không ai dám phê bình Hồ công
khai, rõ ràng là Hồ sẽ phải mất công hơn nhiều để thuyết phục các đồng
chí của mình.
Đối với nhân dân, đặc biệt phía bắc, Hồ vẫn được coi là người mang những
khát vọng của dân tộc. Ngày 23/10 Hồ tuyên bố với dân chúng, dù tình
hình rất khó khăn nhưng nhất định Việt nam sẽ là một nước độc lập và
thống nhất. Do Hồ thường từ chối nói về quá khứ mà chỉ nhận mình là
“người yêu nước già” nên ít người biết được Hồ chính là Nguyễn Ái Quốc.
Chị Hồ là Nguyễn Thị Thanh tình cờ nhận ra ảnh của em trên báo đã ra tận
Hà nội thăm Hồ tại Bắc bộ phủ. Anh trai Hồ là Khiêm cũng lên thăm và
được tiếp đón tại một căn nhà ngoại ô. Cả Thanh và Khiêm đều sống ở Kim
liên, Khiêm chết năm 1950, Thanh chết 4 năm sau đó.
Việc đầu tiên của Hồ khi về đến Việt Nam làm họp ngay Ban thường vụ để
phân tích tình hình và định ra kế hoạch hành động. Hai vấn đề chủ chốt
là có đồng ý ngày ngừng bắn 30/10 và đối phó với phe đối lập. Hồ đề xuất
triệu tập họp quốc hội để thông qua hiến pháp tiến tới thành lập chính
phủ mới thay thế cho chính phủ liên hiệp đã bị yếu đi rất nhiều sau khi
những người như Hải Thần từ chức.
Phiên họp quốc hội ngày 28/10 thật khác xa không khí thống nhất dân tộc
của kỳ họp 7 tháng trước. Có tổng cộng 291 đại biểu trong số 444 đại
biểu được bầu tham dự. Trong số 70 đại biểu chỉ định chỉ có 37 người
đến. Khi một đại biểu đứng lên hỏi những người còn lại đâu, ông này được
trả lời là cả lũ đã bị bắt theo yêu cầu của uỷ ban thường vụ quốc hội
vì những tội hình sự. Trước đó vài ngày, hàng trăm nhân vật đối lập đã
bị bắt, đã xảy ra xung đột vũ trang làm nhiều người chết trong đó có hai
nhà báo. Tình hình khá căng thẳng. Các đại biểu ngồi thành 3 khối: bên
trái là các đại biểu Đảng CS Đông Dương - CIP, đảng xã hội và đảng dân
chủ đeo cà vạt đỏ. Trung tâm là các đại biểu Việt minh không cộng sản,
bên phải là các đại biểu Việt quốc và Đồng minh hội. Sang ngày thứ hai,
chính phủ xin từ chức và ba ngày sau quốc hội phê duyệt danh sách chính
phủ mới do Hồ Chí Minh đệ trình. Danh sách chính phủ mới chỉ còn 2 phần
tử ngoài Việt minh, trái ngược lại những gì Hồ hứa khi rời Paris là sẽ
mở rộng thành phần chính phủ. Giáp giữ chân bộ trưởng Quốc phòng, Đồng
bộ trưởng Kinh tế. Hồ là chủ tịch kiêm thủ tướng, kiêm bộ trưởng ngoại
giao. Mặt trận liên hiệp với các đảng dân tộc tan vỡ. Có thể do các đảng
dân tộc công khai đối lập chính phủ buộc ICP không thấy sự cần thiết
phải thoả hiệp. Cũng có thể phe cứng rắn như Chinh, Việt, Liệu đang
thắng thế (bằng chứng là mấy tuần sau, Chinh công bố một bài báo phê
phán chủ trương cách mạng từng giai đoạn của Hồ).
Mấy ngày sau, quốc hội dự thảo Hiến pháp mới, mặc dù bị Chinh phê phán,
rõ ràng là nội dung bản Hiến pháp rất ôn hoà và đáp ứng mong ước của đại
đa số dân chúng. Chương về tổ chức chính trị nhấn mạnh bảo đảm các
quyền tự do dân chủ và nhu cầu liên kết rộng rãi để chống lại việc khôi
phục chế độ thực dân Pháp. Chương kinh tế bảo đảm quyền tư hữu và không
đả động gì đến việc thành lập xã hội phi giai cấp. Người Pháp hẳn phải
rất thất vọng khi bản Hiến pháp tuyên bố nền độc lập hoàn toàn cho Việt
nam mà chẳng thấy đả động gì đến liên bang Đông dương hoặc khối Liên
hiệp Pháp cả. Quốc hội đã phê duyệt Hiến pháp và uỷ quyền cho chính phủ
quyết định ngày đưa vào hiệu lực. Ngày 14/11 Quốc hội giải tán, chỉ còn
242 đại biểu, trong đó chỉ có 2 thuộc phe đối lập. Trong khi quốc hội họp, hai bên cũng đã thử cố gắng tuân thủ điều khoản
ngừng bắn của Bản ghi nhớ vào ngày 30/10, nhưng không ăn thua.
D’Argenlier đề phòng Việt minh bất ngờ tấn công mình ở miền Bắc và miền
Trung, đã chuẩn bị kế hoạch thay thế Hồ Chí Minh bằng một chính phủ ôn
hoà hơn. Từ tháng 9, Pháp đã liên lạc với Bảo đại khi đó đang ở HongKong
về khả năng ông này trở lại chính trường. Vào giữa tháng 11 D’Argenlier
cũng đã chỉ thị Valluy chuẩn bị phương án tấn công nhanh cho trường hợp
đàm phán đổ vỡ.
Với nguy cơ chiến tranh đã cận kề, Đảng cũng ra sức chuẩn bị vũ khí qua
cảng Hải phòng để trang bị cho quân đội vì trên thực tế biên giới đường
bộ đã bị quân Pháp phong toả. Hải phòng trở thành điểm nóng trong đàm
phán giữa hai bên, nhất là vấn đề hải quan vì thuế nhập khẩu vốn là
nguồn thu nhập chính của chính phủ thuộc địa trước đây. Được D’Argenlier
bật đèn xanh, đầu tháng 11, quân Pháp chiếm trụ sở hải quan Hải phòng
mặc cho phía Việt nam ra sức phản đối. Ngày 20/11, quân Pháp bắt một tàu
Trung quốc chở xăng lậu được nghi là cho mục đích quân sự và kéo vào
bờ. Các dân quân Việt nam đã nổ súng và Pháp lập tức đáp trả. Cuộc bắn
nhau lan nhanh khắp thành phố trước khi được dập tắt bằng một lệnh ngừng
bắn. Hai ngày sau, Valluy ra lệnh cho quân Pháp chiếm thành phố. Ngày
23/11, Pháp nã pháo vào khu phố Tàu đòi Việt minh phải hạ vũ khí. Hàng
trăm thường dân chết, hàng ngàn người bị thương. Hơn 2000 quân Pháp tràn
vào khu vực và vấp phải sức kháng cự mãnh liệt, trước khi Việt minh bỏ
trận địa vào ngày 28/11.
Sự cố Hải phòng ngay lập tức được James O’Sullivan báo về Nhà trắng. Ông
này nói mặc dù Việt minh khai hoả trước nhưng thái độ của Pháp là không
thể chấp nhận được. Đại sứ Mỹ tại Pháp Caffery được lệnh bày tỏ sự
không hài lòng với chính phủ Pháp. Phía Pháp trưng ra bằng chứng là
chính phủ Hồ nhận chỉ thị từ Moscow. Từ Sài gòn, lãnh sự Mỹ là Charles
Reed cũng cảnh báo là nếu Nam bộ rơi vào tay Việt minh, thì Lào và
Cambodia sẽ nguy hiểm. Đây là một trong những phát biểu đầu tiên của một
quan chức về cái sau
này được gọi là “học thuyết domino”. Cuối tháng 11, bộ ngoại giao Mỹ cử Moffat vụ trưởng vụ Đông Nam á sang
Đông dương để đánh giá tình hình và tìm hiểu bản chất của chính phủ Hà
nội. Moffat là người công khai ủng hộ độc lập của Việt nam và được uỷ
quyền thông báo với Việt Nam là Mỹ ủng hộ hiệp định 6/3 và có thể bảo
được chính phủ Pháp. Moffat cũng dự kiến sẽ khuyên Hồ Chí Minh không
dùng vũ lực và thoả hiệp trong vấn đề Nam bộ. Moffat đến Sai gon ngày
3/12 và ra Hà nội ngày 7/12.
Sullivan cho rằng Hồ đang “cực kỳ cô đơn” và thông tin công khai về
chuyến viếng thăm của Moffat sẽ làm tăng uy tín của Hồ. Mặc dù rất ốm do
lao phổi trở lại, Hồ vẫn mời Moffat đến Bắc bộ phủ. Hồ khẳng định mình
không phải là cộng sản mà chỉ đấu tranh vì độc lập, kêu gọi Mỹ ủng hộ và
nhắc lại đề nghị cho Mỹ sử dụng Cam ranh. Do không chuẩn bị trước vấn
đề này, Moffat “không nói được câu nào” như về sau ông này điều trần
trước Thượng viện Mỹ. Moffat khẳng định rằng Mỹ không thể có quan hệ
ngoại giao chính thức với Việt Nam nếu Việt nam không thoả thuận được
với Pháp về thể chế. Trong báo cáo sau khi rời Đông dương, Moffat nhận
định chính phủ Hà nội đang nằm dưới sự kiểm soát của cộng sản và có thể
có quan hệ với Nga - Xô và Trung cộng. Tuy nhiên ông này cũng thấy sự
khác biệt giữa những phần tử ôn hoà xung quanh Hồ và các phần tử cứng
rắn như Giáp. Moffat kết luận, hiện tại cần có sự hiện diện của Pháp để
không những chống ảnh hưởng của Nga mà đề phòng Trung Quốc tấn công.
Moffat đề nghị Mỹ ủng hộ thoả thuận trước khi tình hình tiếp tục xấu đi
cho Pháp. Nhà sử học Pháp Philippe Devillers cũng nhận thấy sự chia rẽ
trong lãnh đạo Việt minh giữa Hồ và những phần tử hiếu chiến hơn như
Giáp, Việt. Bản thân Hồ cũng thường xuyên kêu gọi Pháp và các nước
phương Tây giúp ông củng cố quyền lực với đối thủ. Nhưng cũng có người
bi quan cho rằng đó là đòn của Hồ sử dụng để gây sức ép với Pháp.
Nhận xét của Moffat về quan hệ của Hà nội và Nga có vẻ không đúng, thực
tế thì Hồ và các đồng chí của mình chỉ có thể biết được tình hình Nga xô
qua Đảng CS Pháp - FCP. Báo cáo của Moffat cùng với cuộc nội chiến đang
nóng lên ở Trung quốc đã dẫn Bộ ngoại giao Mỹ đi đến kết luận “Sự có
mặt của Pháp ở khu vực là quan trọng, không chỉ để ngăn ảnh hưởng của
Nga- Xô mà còn bảo vệ Việt nam và Đông nam á khỏi đế quốc Trung Quốc”.
Ngày 13/11 D’Argenlier đi Pháp xin thêm quân để có thể tiến hành tiến
công phủ đầu. Không ngờ chính phủ Pháp vẫn đang hy vọng hoà hoãn.
Bidault đang chuẩn bị chuyển giao quyền lực cho đảng Xã hội mới thắng
cử, hứa là sẽ có thêm quân nhưng cũng cảnh báo rằng Đông dương không thể
giữ được chỉ bằng quân sự. Trong khi đợi chính phủ mới được thành lập,
Sainteny được bổ nhiệm thay thế cho Morliere. Saiteny đến Sài gòn ngày
23/11, chỉ vài giờ sau sự cố Hải phòng. Đợi ở đó vài ngày cho tình hình
lắng xuống, ngày 2/12 Sainteny ra Hà nội với chỉ thị của D’Argenlier
trong túi: “Danh dự quân sự đã được bảo vệ, uy tín của Pháp đang tăng,
không nên làm tình hình căng thẳng thêm dồn chính phủ của Hồ vào những
hành động cùng quẫn. Tôi cho rằng ông không nên ở trong dinh Thống sứ,
dễ bị coi là hành động khiêu khích và quay trở lại phương pháp thống trị
cũ” . Valluy cũng ủng hộ hoà hoãn, cho rằng “có thể Hồ không muốn chiến
tranh”. Do ốm, Hồ Chí Minh không đón được Sainteny tại phi trường mà tiếp ông
này vào ngày hôm sau, đúng ngày Pháp đổ thêm quân vào cảng Đà nẵng. Tuy
nhiên Hồ đã được Hoàng Minh Giám tư vấn về thái độ hoà hoãn của Pháp.
Hai bên không bàn chuyện gì nghiêm túc mà chỉ xoay quanh sức khoẻ của Hồ
và chuyến đi từ Pháp về Việt nam. Mấy ngày sau, Sainteny mất luôn liên
lạc với Hồ nên cứ bán tin bán nghi không biết Hồ có còn kiểm soát được
tình hình nữa không? Mặc dù ghi nhận lo ngại của Hồ về sự thay đổi bất
chợt nhưng Sainteny đã yêu cầu Hồ phải khai trừ những phần tử cực đoan
khỏi chính phủ, bằng không Pháp sẽ dùng các biện pháp “cảnh sát”.
Sainteny chia sẻ quan điểm của mình với Sullivan nhưng ông này tỏ ra bi
quan: “Nếu ông muốn đuổi Việt minh đi thì e rằng sẽ mất thời giờ hơn
nhiều”
Quãng giữa tháng 12, Hồ điện cho Blum- Thủ tướng mới của Pháp nêu ra
những giải pháp cụ thể để giải quyết căng thẳng. Nhưng rõ ràng là Hồ đã
không hy vọng vào các giải pháp chính trị. Tháng 10, Đảng CS Đông Dương -
ICP thiết lập Uỷ ban quân sự để có thể bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng
trong quân đội, cử chính uỷ cho từng đơn vị, lập cơ sở đảng tại tất cả
các vùng quân sự. Văn Tiến Dũng, người sau này sẽ là tổng tư lệnh cuộc
tiến công vào Sài gòn, chỉ đạo toàn bộ việc này. Theo tin tình báo Pháp,
quân Việt minh nay được đổi thành Quân đội Nhân dân Việt nam - VPA có
khoảng 60,000 quân ở phía Bắc được tổ chức thành 35 tiểu đoàn bộ binh và
3 tiểu đoàn pháo binh, cộng với khoảng 12.000 quân ở Nam bộ. Về vũ khí
VPA có khoảng 35.000 khẩu súng trường, 1000 tiểu liên và 55 pháo. Việt
minh đang tích cực chuẩn bị căn cứ, các quân xưởng ở Tân trào, Việt bắc
và sơ tán các cơ quan chính phủ đến đó khi chiến tranh xảy ra. Đa số
quân Việt Minh được bố trí ở ngoại ô, trong thành phố chỉ có khoảng
10,000 dân quân và thanh niên xung phong. Quân Pháp có vài ngàn lính lê
dương, đóng chủ yếu trong thành và các điểm quan trọng như Dinh Thống
sứ, nhà Ga, cầu Doumer- Long Biên và sân bay Gia lâm. Giáp nhận định là
có thể giữ Hà nội được trong vòng 1 tháng để các cơ quan có thời gian
rút ra chiến khu. Ngày 6/12, Hồ kêu gọi quân Pháp rút lui về các vị trí
trước ngày 20/11 nhưng không được đáp lại. Trả lời phỏng vấn báo Pháp
vào ngày hôm sau, Hồ nói “chúng tôi bị áp đặt chấp nhận cuộc chiến này,
chúng tôi thà đấu tranh chứ không hy sinh sự tự do của mình”
Cũng lúc đó, tướng Valluy hiểu rằng Hồ không hề có ý định loại các phần
tử cực đoan ra khỏi chính phủ. Valluy xin chỉ thị được hành động ngay
sau khi quân tăng viện đến, nếu để đến sang năm sẽ ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quyền lợi của Pháp. Nhưng thủ tướng Blum có vẻ chưa muốn dùng
đến quân sự. Ngày 12/12, Blum tuyên bố sẽ xem xét việc công nhận độc lập
của Việt nam. Ba ngày sau, Hồ trao cho Sainteny bức thư gửi thủ tướng
Pháp với những đề nghị cụ thể. Sainteny điện vào Sài gòn nhờ chuyển sang
Paris. Không rõ là các nhà lãnh đạo khác của Việt nam có thực sự hy
vọng gì vào tuyên bố của Blum? Còn Giáp trong hồi ký của mình cho rằng
Blum chỉ là công cụ của tư bản Mỹ và Pháp. Rõ ràng là Blum không lựa
chọn một bộ trưởng cộng sản nào và tiếp tục bổ nhiệm D’Argenlier làm Đại
diện toàn quyền ở Đông dương. Tuy nhiên nội các mới của Blum đã không
quyết định được có tăng viện cho D’Argenlier hay không và có nên tiến
hành những hành động quân sự tức thời hay không. Valluy, cũng như
D’Argenlier quyết tâm duy trì sự có mặt của Pháp ở Việt nam đã quyết
định cần phải khiêu khích để Việt nam khởi xướng những hoạt động thù
địch đặt Paris vào sự đã rồi. Valluy ra lệnh cho Morliere phá huỷ các
chiến luỹ trên đường phố. Khi nhận được điện của Hồ do Sainteny chuyển
vào, Valluy đã tự bình phẩm thêm vào là phải tiến hành các hoạt động
quân sự vào trước cuối năm. Bức điện chỉ được
chuyển đến Paris vào ngày 19, khi đã quá muộn. Ngày 17, các chiến xa bắt đầu xô đổ các chiến luỹ, lính lê dương đứng
đầy từ thành cổ ra đầu cầu Doumet - Long biên dọc đường đến sân bay.
Ngày hôm sau, Pháp ra tối hậu thư cấm được xây các công sự trên đường
phố, ngay buổi trưa hôm đó, lại ra tiếp tối hậu thư từ ngày 20, quân
Pháp sẽ bảo đảm trật tự an ninh trên đường phố. Sáng ngày 19, Pháp yêu
cầu Việt nam ngưng tất cả các hoạt động chuẩn bị chiến tranh, giải tán
các đơn vị dân quân và chuyển giao toàn bộ việc bảo đảm an ninh cho
Pháp. Tình hình rất giống ở Hải phòng, khi trung tá Debes ra hết tối hậu
thư này đến tối hậu thư khác trước khi ném bom Hải phòng. Ngày 18, Hồ
Chí Minh chỉ thị chuẩn bị tấn công các cơ sở của Pháp vào ngày 19. Cùng
ngày, sợ thư gửi qua Sainteny không tới được Paris, Hồ đã điện thẳng cho
Blum - Thủ tướng Pháp. Sáng 19, Hồ viết một bức thư cho Sainteny nhờ
Hoàng Minh Giám chuyển hộ, nội dung viết: “Tình hình đã trở nên rất
nghiêm trọng, trong lúc chờ đợi quyết định từ Paris, tôi hy vọng là ông
sẽ cùng với ông Giám tìm được giải pháp để cải tiến tình hình hiện tại”.
Theo giọng văn mà đoán thì rõ ràng Hồ cũng chẳng đợi trả lời một cách
nghiêm túc. Chưa kể sáng hôm đó, Sainteny đã gửi cho Hồ một bức thư dài
phản đối Việt minh nổi loạn giết chết và làm bị thương mấy người Pháp,
đòi phải trừng trị ngay lập tức kẻ phạm tội. Do đã đồng thuận để Valluy
khiêu khích, Sainteny hẹn gặp Giám sang sáng hôm sau. Khi được Vũ Kỳ báo
tin Sainerny từ chối gặp Giám, ngay lập tức Hồ triệu tập họp uỷ ban
thường vụ gồm Võ Nguyên Giáp , Lê Đức Thọ và Trường Chinh. Uỷ ban đã
nhận xét trong hoàn cảnh hiện tại, không thể tiếp tục nhượng bộ và quyết
định toàn dân kháng chiến. Uỷ ban cũng xem xét lời kêu gọi của Hồ gửi
toàn thể đồng bào mới được Hồ dự thảo lúc trưa. Giáp được giao chỉ huy
các hoạt động quân sự. Thời điểm tiến công được xác định là 8h tối. Sau
đó Uỷ ban giải tán.
Buổi tối hôm đó 19/12. Sainerny đang chuẩn bị rời nhiệm sở về nhà riêng.
Cũng như mọi người Sainteny biết rằng cuộc chiến đã có thể nổ ra bất cứ
lúc nào. Khi đồng hồ tại bệnh viên Yersin điểm 8h, Sainteny nói với
đồng nghiệp “Thế là không phải hôm nay rồi, tôi đi về nhà đây”. Đúng
lúc Sainteny đang chuẩn bị bước vào xe, một tiếng nổ lớn phát ra. Điện
tắt phụt, toàn thành phố chìm vào bóng tối. Sainteny chạy vội về nhà,
lên chiếc xe bọc thép chạy thẳng vào thành. Được một đoạn, chiếc xe
trúng mìn. Sainteny bị thương nặng nằm trong vũng máu trong gần 2h giữa
các đồng đội quằn quại hấp hối.
Theo đúng kế hoạch, Việt minh đã đặt mìn nhà máy điện. Các đội dân quân
tấn công các cơ sở của Pháp, còn biệt động thì thâm nhập vào tư dinh
trong khu phố Tây. Giáp có 3 sư đoàn bố trí ở ngoại ô phía tây nam và
cạnh Hồ Tây, nhưng quyết định không sử dụng. Quân Pháp bị bất ngờ lúc
ban đầu nhưng nhanh chóng giành lại thế chủ động. Gần đến nửa đêm Pháp
đã kiểm soát hầu hết những điểm trọng yếu. Một cánh quân tấn công Bắc bộ
phủ suýt bắt được Hồ. Cuộc chiến tranh Đông dương lần thứ nhất bắt đầu.
Sự kiện 19/12 gây nên phản ứng dữ dội tại Pháp. Đa số cho rằng Việt minh
đã tấn công khiêu khích các lợi ích và công dân Pháp. Nhưng nhìn kỹ có
thể thấy vai trò của Pháp cũng rất quan trọng. Mặc dù, chính phủ Paris
còn đang lưỡng lự trong việc có tiến hành chiến tranh không, thì các
tướng Pháp ở Đông dương đã tự cho mình quyền hành động. Valluy cho rằng
Hồ không thể hoặc không muốn kiểm soát các phần tử cực đoan trong chính
phủ, nên đã quyết định ra tay trước khi lực lượng Pháp tại khu vực yếu
đi. Tối hậu thư 17/12 đòi hỏi chuyển quyền kiểm soát an ninh trật tự ở
thành phố cho Pháp rõ ràng là đã được tính toán để khiêu khích Việt
minh. Liệu Hồ có thực sự muốn tránh chiến tranh hay chỉ “động tác giả”
để có thêm thời gian chuẩn bị chiến tranh? Thực ra cũng chẳng cần trả
lời. Là học trò của Tôn Tử, Hồ tin rằng chiến thắng đẹp nhất là chiến
thắng không cần vũ lực. Để đạt được nó, ngoại giao và tuyên truyền là
các vũ khí sắc bén làm chia rẽ và giảm năng lực chiến đấu của đối thủ.
Đến ngày 19/12, Hồ và các đồng chí của mình hiểu rằng, không thể thoả
hiệp được nữa. Vấn đề phải được quyết định trên chiến trường. *************** (1): Xem “Jours passes aupres Oncle Ho” in Avec l’Oncle Ho (NXB Ngoại ngữ, 1972) p 352
FCP : Đảng CS Pháp
ICP : Đảng CS Đông Dương
|