|
1. Mất nước
Khi đội quân của ông đang rong ruổi ầm ĩ trên các đường phố tiếp nhận
sự đầu hàng của quân thù, ông lặng lẽ vào thành phố, trong một ngôi nhà
2 tầng nhỏ với chiếc máy chữ đã theo sát mình từ Matxcova đến Trung hoa
và Việt nam trong những tuần đầu 1941. 2h chiều ngày 2/9/1945 trên lễ
đài dựng tạm tại một quảng trường mà sau này được gọi là Ba Đình, trong
bộ quần áo kaki bạc màu, với chất giọng còn đậm nguồn gốc xứ Nghệ,ông
đã đọc bản tuyên ngôn khai sinh cho một dân tộc độc lập. Những lời đầu
tiên của bản hiến pháp đã làm sửng sốt một số người Mỹ có mặt trong đám
đông: "Tất
cả mọi người đều có quyền bình đẳng. Tạo hoá đã cho họ những quyền tối
thượng trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
.Tại thời điểm đó, chỉ có ít người biết được Hồ Chí Minh chính
là đại diện của Quốc Tế Cộng Sản, người sáng lập ra ICP( Đảng CS Đông
Dương) năm 1930. Đối với đa số dân Việt nam, Hồ Chí Minh chỉ đơn giản
là một người yêu nước, đã phục vụ lâu dài cho đất nước. Trong suốt 1/4
thế kỷ tiếp sau, nhân dân Việt nam và cả thế giới mới có cơ hội đê
chiêm nghiệm, đánh giá con người này.
Cuộc trường chinh của Hồ Chí Minh đến quảng trường Ba đình ngày đó,
được khởi đầu từ một ngày hè năm 1858, khi hạm đội Pháp nổ súng tấn
công thương cảng Đà nẵng. Mặc dù cuộc tấn công không phải hoàn toàn là
bất ngờ. Trước đó vài thập kỷ, các nhà truyền giáo Pháp đã lang thang
khắp nơi để cứu rỗi tâm hồn Việt, các nhà buôn thì bận rộn tìm kiếm thị
trường và tìm những con đường thâm nhập vào Trung quốc, các nhà chính
trị Pháp thì tin rằng, chỉ có thôn tính các thuộc địa tại châu Á mới
giúp nước Pháp đứng vững ở vị trí siêu cường. Cho đến giữa thế kỷ,
người Pháp vẫn hy vọng bằng con đường ngoại giao thuyết phục được triều
đình Huế chịu ảnh hưởng của họ. Tuy nhiên khi các cuộc đàm phán chắng
đi đến đâu, chính quyền của Hoàng đế Luise quyết định dùng vũ lực.
Cuộc chiến với Pháp không phải là cuộc chiến đầu tiên của Việt nam. Có
thể nói, hiếm có dân tộc nào trên châu Á đã chiến đấu bền bỉ và lâu dài
để bảo vệ nền độc lập của mình hơn người Việt nam. Từ thế kỷ thứ hai
trước công nguyên, khi nước cộng hoà Roma còn đang trong trứng nước,
Trung hoa đã xâm chiếm Việt nam và thực hiện hàng loạt các chương trình
chính trị và văn hoá để đồng hoá dân tộc này. Mặc dù Việt nam đã giành
được độc lập vào thế kỷ thứ 10, phải đến hàng trăm năm sau, khi Việt
nam chấp nhận một hình thức triều cống, các hoàng đế Trung hoa mới chịu
chấp nhận sự thật về một nước Việt nam độc lập.
Hơn nghìn năm chung sống với Trung hoa đã để lại những hệ quả sâu sắc.
Hệ thống chính trị, văn học, nghệ thuật, tư tưởng, tôn giáo và cả ngôn
ngữ Hoa đã bắt rễ sâu bền trên mảnh đất Việt nam. Mặc dù những yếu tố
dân tộc chưa bao giờ biến mất trong văn hoá Việt nam, đối với người
quan sát không được đào tạo bên ngoài, Việt nam chẳng khác gì một con
rồng thu nhỏ hình ảnh của người láng giềng khổng lồ ở phía Bắc.
Tuy có vẻ như người Việt sẵn sàng hấp thụ những ảnh hưởng văn hoá từ
phương Bắc, họ vô cùng cương quyết trong vấn đề độc lập dân tộc. Những
vị anh hùng dân tộc, từ Hai Bà Trưng đến Lê Lợi, Nguyễn Trãi đều xuất
thân từ các cuộc kháng chiến. Lịch sử đã hình thành một dân tộc có có
đặc tính dân tộc và ý chí chống ngoại xâm mạnh mẽ. Cuộc đấu tranh về sự
tồn vong đã hun đúc truyền thống quân sự, sẵn sàng chấp nhận dùng vũ
lực để bảo vệ đất nước. Từ sau khi giành được độc lập, Việt nam (lúc đó
gọi là Đại Việt)
đã có cuộc hành quân lâu dài về phương Nam chống lại Champa. Bắt đầu từ
thế kỷ 13, Đại Việt đã bắt đầu thắng thế và thôn tính hoàn toàn Champa
vào thế kỷ 17. Đất nước Việt nam trải dài đến tận mũi Cà mau trong vịnh
Thái lan và Việt nam trở thành một cường quốc ở Đông Nam Á. Tuy nhiên
đất nước đã phải trả giá cho sự phát triển. Các mâu thuẫn đã phát sinh
ra cuộc nội chiến dai dẳng Đằng Trong - Đằng Ngoài. Gia Long tạm thời
thống nhất được đất nước từ đầu thế kỷ 19, tuy nhiên các mâu thuẫn
quyết liệt giữa các vùng về quyền lợi kinh tế chưa bao giờ được giải
quyết trọn vẹn.
Cũng tại thời điểm đó, các hạm đội châu Âu, theo chân của Vasco da Gama
bắt đầu lảng vảng dọc bờ biển Nam Trung Hoa và vịnh Thái lan để tìm
kiếm kim loại quý, đặc sản và các linh hồn cần cứu rỗi. Không chịu ngồi
nhìn kẻ kình địch Anh củng cố lực lượng tại Ấn độ và Miến điện, người
Pháp quyết định chọn Việt nam.
Vào năm 1853, Tự Đức lên ngôi. Thật không may, ông vua trẻ này phải
gánh trên vai trách nhiệm chống lại cuộc xâm lược đầu tiên sau nhiều
thế kỷ. Tuy có thiện chí và thông minh, ông vua này lại thiếu tính
cương quyết và có một sức khoẻ ẻo lả. Khi quân Pháp tấn công Đà nẵng,
bản năng của Tự Đức đã mách bảo là phải chiến đấu. Hạm đội của đô đốc
Charlé Rigault de Genuoilly, đợi mãi không thấy sự nổi dậy của quần
chúng như các nhà truyền giáo thông báo, lại bị bệnh tả và lỵ hoành
hành đã bỏ Đà nẵng và tấn công vào Sài gòn, một thành phố đang trên đà
phát triển. Sau 2 tuần, Sài gòn thất thủ. Thất bại tại phía Nam đã làm
nản lòng Tự Đức. Ông đồng ý đàm phán và cắt 3 tỉnh Nam Bộ (sau đó là 3
tỉnh nữa) thành thuộc địa của Pháp với tên gọi Cochin China. Pháp đã
thắng hiệp đầu. Trong những năm tiếp sau, triều đình cố gắng giữ độc
lập. Nhưng sau khi Pháp tấn công Hà nội và chiếm một số thành phố tại
châu thổ sông Hồng thì triều đình hoàn toàn bị tê liệt. Ông vua ốm yếu
Tự Đức vừa chết trước đó vài tháng đã để lại một triều đình đầy mâu
thuẫn. Sau vài tháng đấu đá, Tôn Thất Thuyết nắm được quyền bính và đưa
Hàm Nghi lên ngôi với hy vọng tiếp tục kháng chiến. Theo yêu cầu của
Việt nam, Nhà Thanh gửi quân sang giúp đỡ nhưng vô hiệu. Năm 1885,Trung
hoa rút quân và ký hiệp định với Pháp, bãi bỏ chế độ triều cống của
Việt nam. Tại Huế, Hàm Nghi phải bỏ chạy lên núi cùng với Tôn Thất
Thuyết. Triều đình chấp nhận nhượng bộ và để cho Pháp trên thực tế thôn
tính nốt Tonkin (Bắc bộ) và Annam (Trung bộ), mặc dù triều đình bù nhìn
vẫn được duy trì ở Annam.
Quá trình Pháp thôn tính Việt nam là cuộc thị uy của các quốc gia tiên
tiến phương Tây đang bước vào thời đại công nghiệp hoá. Bị thúc ép bởi
nhu cầu tìm kiếm nguyên liệu rẻ và thị trường, phương Tây đã dùng vũ
lực để áp đặt chế độ cai trị của mình. Vào cuối thế kỷ 19, tất cả các
quốc gia Nam và Đông Nam Á (trừ Thái lan - Xiêm) đã trở thành thuộc
địa.
Triều đình đầu hàng không đồng nghĩa với kết thúc mong muốn độc lập của
Việt nam. Rất nhiều các quan lại và tướng lĩnh không chấp nhận hạ vũ
khí. Đáng kể nhất là phong trào Cần Vương (Cứu Vua) của Phan Đình Phùng
tại Hà tĩnh. Khi Hoàng Cao Khải, bạn thơ ấu của Phan đến khuyên ông đầu
hàng, ông đã khảng khái trả lời như một nhà nho yêu nước: "Nếu
Trung Hoa, hàng ngàn lần mạnh hơn chúng ta, lại có biên giới chung với
chúng ta, đã không thể dùng sức mạnh để đè bẹp Việt nam, chỉ có thể nói
sự tồn vong của dân tộc Việt nam đã chính là ý định của Trời"Tuy
nhiên sự tồn tại của hai nhà Vua: Đồng Khánh và Hàm Nghi đã tạo nên một
sự chia rẽ sâu sắc trong tầng lớp trí thức nho giáo theo tư tưởng Trung
quân trong suốt gần nửa thế kỷ sau.
Nghệ An, nơi có những bãi biển yên ả, những dãy núi tím đỏ, những cánh
đồng lúa xanh, là trung tâm của phong trào chống Pháp. Mảnh đất hẹp và
cằn cỗi này luôn phải đối mặt với mọi thử thách của thiên nhiên, đã làm
cho những con người sống trên nó nổi tiếng là cứng đầu và bất trị.
Trong 2 thập kỷ cuối của thế kỷ 19, nhiều người trong số những tầng lới
ưu tú nhất của Nghệ an đã chiến đấu và hy sinh dưới ngọn cờ Cần Vương.
Tại đây, làng Kim Liên - Huyện Nam Đàn, năm 1863, vợ hai của phú nông
Nguyễn Sinh Vương (hay còn gọi là Nguyễn Sinh Nhâm), bà Hà Thị Hy đã
sinh con trai đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc. Vợ cả của Vương đã chết trước
đó vài năm, để lại cho chồng một con trai khác tên là Nguyễn Sinh Tro.
Lên 4 tuổi, Sắc mồ côi cả cha lẫn mẹ và được anh Tro nuôi nấng. Do
thường xuyên bị hạn hán đe doạ, người dân phải làm đủ mọi việc để sống:
thợ mộc, thợ đấu, thợ rèn, thêu. Tuy vậy truyền thống học hành vẫn được
đề cao. Nhiều nhà nho đèn sách đi thi hoặc mở thêm lớp dạy học kiếm
sống.
Mặc dù gia phả nhà Vương còn ghi lại nhiều đời đỗ đạt, Sắc không có
nhiều cơ hội để trở thành thư sinh. Những buổi đi chăn trâu cho anh,
cậu thường ghé vào nghe ké lớp học của Vương Thúc Mậu. Lớn lên, Sắc đã
nổi tiếng khắp làng về tính ham học và được Hoàng Dương (Hoàng Xuân
Dương), bạn của Mậu, chú ý. Để ý thấy cậu bé thường xuyên nằm trên lưng
trâu đọc sách trong lúc chúng bạn chơi đùa, Dương nhận lời đỡ đầu cậu.
Năm 15 tuổi, Sắc theo Dương chuyển sang làng Hoàng Trù và bắt đầu học
với cha nuôi của mình. (theo truyền thống nho giáo, những học trò tài
năng thường hay được họ hàng hoặc người thân đỡ đầu. Khi đỗ đạt, cả cha
mẹ và người đỡ đầu đều được hưởng vinh quang)
Họ Hoàng bắt đầu từ Hưng Yên và có dòng dõi khoa bảng. Bố của ông Dương
đã từng ba lần đi thi và đậu tú tài. Trong lúc chồng dạy học, vợ ông là
Nguyễn Thị Kép và hai con gái là Hoàng Thị Loan và Hoàng Thị An suốt
ngày bận rộn ngoài đồng để nuôi sống gia đình. Truyền thống xã hội Việt
nam trao nhiều quyền cho người phụ nữ, tuy nhiên với ảnh hưởng ngày
càng lan rộng của đạo Khổng đến thời điểm đó, vai trò của phụ nữ ngày
càng trở nên thứ yếu. Họ không có cơ hội được hưởng giáo dục. Trong bối
cảnh đó, bà Kép và con gái đã may mắn hơn vì có được chút ít kiến thức.
Gia đình bà Kép cũng có truyền thống khoa bảng và bố bà cũng đậu tú
tài.
Cậu bé Sắc đã lớn lên trong một môi trường như vậy. Cũng không ngạc
nhiên khi cậu phải lòng cô bé Loan xinh đẹp. Mặc dù bà Kép hơi băn
khoăn vì cậu mồ côi cha mẹ, đám cưới vẫn được tiến hành vào năm 1883.
Cặp vợ chồng trẻ được bố mẹ vợ cho một căn nhà 3 gian ấm cúng ngay cạnh
nhà. Ở giữa hai nhà là gian nhà nhỏ đặt bàn thờ tổ tiên. Trong 7 năm
sau đó, bà Loan sinh được 3 người con: con gái Nguyễn Thị Thanh, 1884;
con trai Nguyễn Sinh Khiêm năm 1888 và ngày 19 tháng 5 năm 1890, cậu bé
Nguyễn Sinh Cung mà sau này là Hồ Chí Minh ra đời.
Năm 1891, Sắc ra Vinh thí Tú Tài và bị trượt. Không nản chí ông vẫn
tiếp tục đèn sách. Năm 1893, bố vợ ông qua đời, ông phải đi dạy thêm để
giúp đỡ gia đình. 5/1894 Sắc đi thi lần thứ hai và đỗ cử nhân. Thông
thường người có học vị cử nhân thường tim các vị trí trong bộ máy chính
quyền. Ông Sắc lại quyết định sống thanh bạch bằng nghề dạy học tại quê
nhà. Và bà Loan lại tiếp tục ra ruộng.
Tình hình kéo dài không lâu, mùa xuân năm 1895, Nguyễn Sinh Sắc ra Huế
thi Hội. Ông bị trượt nhưng quyết định xin ở lại vào trường Quốc tử
giám để ôn thi cho kỳ sau. Quốc tử giám có nguồn gốc từ những ngày đầu
độc lập tại Hà nội và là nơi đào tạo cho bộ máy cai trị của triều đình.
Nhờ một số người bạn giúp đỡ, Sắc được nhận học bổng. Ông quay về Nghệ
an để đón vợ và con vào. Không có tiền để đi tàu thuỷ, gia đình Sắc
quyết định đi bộ. Vào thời đó, đường từ Vinh đi Huế hết sức vất vả và
nguy hiểm phải vượt qua những cánh rừng rậm đầy hổ báo cũng như luôn
phải đối phó với những băng cướp đường. Họ đi khoảng 30 km/ngày và mất
tổng cộng khoảng 1 tháng. Khi mệt quá cậu bé Cung 5 tuổi được cha mẹ
cõng và kể cho những câu chuyện về những vị anh hùng cứu nước Việt nam.
Mặc dù đã trở thành trung tâm chính trị của cả nước (Gia Long quyết
định chuyển kinh đô vào miền Trung để thể hiện ý chí thống nhất đất
nước của mình), Huế tại thời đó cũng chỉ có không đến chục ngàn dân.
Kiệt sức vì đi đường, Sắc may mắn được một người bạn cho ở nhờ. Sau đó
gia đình chuyển đến một căn nhà nhỏ trên phố Mai Thúc Loan, nằm gần
tường đông của Cấm thành trên bờ bắc sông Hương. Sắc ít khi đến trường,
ông thích tự học ở nhà và dạy con cũng như con cái của lớp quan lại
láng giềng. Cậu bé Cung từ nhỏ đã tỏ ra rất thích tìm hiểu thế giới
xung quanh. Khi quan sát những nghi lễ cung đình, cậu đã hỏi mẹ, liệu
không biết vua có què không mà phải đi kiệu. Năm 1898, Sắc thi trượt lần 2 và buộc phải chấp nhận công việc dạy học
tại thôn Dương Nỗ. Bà Loan thì kiếm thêm bằng công việc may vá và giặt
thuê. Chủ trường Dương Nỗ, một tay phú nông đã đồng ý cho 2 con trai
của Sắc được tham dự trường. Có thể đây là nền giáo dục Khổng tử chính
thức đầu tiên mà cậu bé Cung được hưởng.
Tháng 8/1900 Sắc được bổ nhiệm làm giám khảo trường thi tại Thanh hóa.
Ông mang cậu bé Khiêm đi, còn Cung ở lại Huế với mẹ. Trên đường về, ông
ghé qua Kim Liên để xây lại mộ cho bố mẹ. Đây được coi là vinh hạnh vì
thông thường cử nhân không được làm giám khảo, tuy nhiên cái giá của
chuyến đi là quá đắt. Tại Huế, bà Loan đã qua đời ngày 10/2/1901 vì hậu
sản sau khi sinh cậu bé thứ tư: Nguyễn Sinh Xin. Bà con hàng xóm vẫn
nhớ cảnh cậu bé Cung vừa đi vừa khóc qua các nhà để xin sữa nuôi em.
Khuôn mặt tươi vui của cậu trở nên buồn rười rượi.
Nghe tin vợ chết, ông Sắc lập tức trở về Huế và mang các con ra Hoàng
Trù. Cậu bé Cung khi đó đã là một học trò nhanh trí và nhớ được khá
nhiều chứ Hán, tuy nhiên bố cậu vẫn lo cậu ham chơi và gửi cậu học ở
một người bà con xa bên vợ: ông Vương Thúc Đỗ. Vương nổi tiếng thời bấy
giờ vì không bao giờ đánh học trò và thường chiêu đãi các học trò của
mình bằng những câu chuyện những anh hùng chống ngoại xâm, trong đó có
anh cả của ông, người đã từng chiến đấu dưới ngọn cờ Cần Vương.
Sắc quay lại Huế sau vài tháng, nhưng các con ông vẫn ở Hoàng Trù với
bà nội. Thanh lúc này đã là một cô gái trưởng thành, giúp bà nội việc
đồng áng. Ngoài việc nhà, cậu bé Cung chạy chơi khắp xóm với chúng bạn,
câu cá, thả diều. Trong các trò chơi, bao giờ cậu cũng là người kiên
trì nhất. Cậu thích nhất là leo lên núi Chung, thả tầm nhìn xuống những
cánh đồng lúa, rặng tre và dãy Trường sơn xanh mờ phía xa. Trên núi có
đền thờ Nguyễn Đức Du, một vị tướng chống quân Nguyên Mông. Cũng trên
núi này, năm 1885, ông Vương Thúc Mậu, người mà ông Sắc thường mon men
học lỏm ngoài cửa, đã phất cờ khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương.
Chỉ có một nốt buồn trong giai đoạn này của cuộc đời Cung: em Xìn cậu
đã chết lúc mới 1 tuổi.
Quay về Huế, Sắc lại đi thi và lần này ông đỗ Tiến sĩ đệ nhị, hay Phó
Bảng. Tin vui này làm nức lòng cả hai làng Kim Liên và Hoàng Trù. Lần
đầu tiên từ giữa thế kỷ 17, khu vực này mới có người đỗ cao như vậy.
Kim Liên từ nay đã có thể coi mình là "Đất văn vật". Cũng như lần trước
Sắc từ chối những nghi lễ long trọng, ông phân phát thức ăn cho người
nghèo. Tuy nhiên ông chấp nhận căn nhà 3 gian và 2 sào ruộng như là quà
tặng của làng Kim Liên. Gia đình ông chuyển về Kim Liên. Phó bảng là
một học vị danh giá và thường mang lại quyền lực cũng như tiền bạc. Tuy
nhiên Sắc không có mong muốn tham gia vào quan trường trong cảnh nước
mất. Lấy cớ là đang để tang vợ, ông quyết định ở lại Kim Liên dạy học.
Ông cũng lấy tên mới là Nguyễn Sinh Huy (sinh ra cho danh dự)
Khi đó cậu bé Cung đã 11 tuổi, bắt đầu vào tuổi trưởng thành. Theo
thông lệ, bố cậu đặt tên cho cậu là Nguyễn Tất Thành (Người sẽ thành
công). Cậu được bố gửi đến học lớp của nhà nho Vương Thúc Quý, con của
Vương Thúc Mậu, người đã nhảy xuống hồ tự tử để khỏi rơi vào tay giặc
Pháp. Cũng như Sắc, sau khi đỗ đạt, Quý từ chối quan trường, ở làng dạy
học, bí mật tìm cách lật đổ chế độ bù nhìn ở Huế. Khác với thông lệ,
ông không bắt học sinh học thuộc lòng mà tìm cách cho các em hiểu được
bản chất nhân đạo của các tác phẩm của Khổng Tử. Trước mỗi giờ học, ông
lại thắp hương trước bàn thờ cha ngay trên tường lớp học để khắc sâu
tinh thần yêu nước, chiến đấu cho Việt nam độc lập vào tâm trí các học
trò của mình. Đáng tiếc là chẳng bao lâu sau lớp học bị đóng cửa vì Quý
bỏ làng theo quân khởi nghĩa. Thành theo học một thầy giáo khác, nhưng
không chịu nổi kiểu dạy nhồi sọ cổ lỗ, cậu quay về học với bố. Cũng như
bạn mình, Sắc không bao giờ khuyến khích học trò học chỉ để đỗ đạt làm
quan, mà hãy tìm cách cứu giúp đồng loại.
Thành nhận được học vấn không chỉ ở trên lớp học. Bác thợ rèn hàng xóm
tên là Diên thường xuyên dạy cậu nghề và dẫn cậu đi săn chim. Những
buổi tối, cậu thường cùng bạn bè quây quần quanh bác để nghe kể chuyện.
Diên thường kể về những anh hùng dân tộc như Lê Lợi, Mai Thúc Loan. Ông
cũng say sưa kể về cuộc chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ trong phong
trào Cần Vương, về cuộc tự sát của Vương Thúc Mậu, về sự hy sinh của
Phan Đình Phùng. Thành rất xúc động được biết rằng nhiều bà con của cha
cậu cũng đã chiến đấu và hy sinh vì chính nghĩa.
Tinh thần yêu nước bắt đầu thấm sâu vào cậu bé. Thành phát hiện
ra rằng những quyển sách cậu đọc chỉ nói về lịch sử Trung quốc. Cậu đi
bộ ra Vinh để mua sách về lịch sử Việt nam, không đủ tiền, cậu nán lại,
học thuộc lòng để có thể về kể lại cho các bạn bè của mình.
Cho đến giờ, Thành chưa có nhiều điều kiện để biết về người Pháp. Cậu
chỉ nhìn thấy họ khi còn nhỏ ở Huế, và vẫn thường ngạc nhiên tự hỏi
không hiểu sao quan quân lại phải cúi đầu trước người ngoại quốc. Anh
em cậu cũng hay lân la chơi với các công nhân Pháp đang xây dựng cầu
Tràng Tiền. Thỉnh thoảng họ đùa với cậu và cho kẹo. Về nhà Thành hỏi
mẹ, tại sao những người Pháp cũng lại khác nhau? Tại quê nhà Nghệ An,
công trình làm đường sang Lào đã làm biết bao thanh niên trong làng
phải trở thành thân tàn ma dại, hoặc không bao giờ trở về. Con đường
sang Lào, "con đường chết" đã làm cho sự thiếu thiện cảm của Thành với người nước ngoài càng mạnh mẽ thêm. Một trong những người bạn gần gũi với Nguyễn Sinh Sắc là nhà yêu nước
nổi tiếng Phan Bội Châu, quê cách Kim Liên chỉ vài cây số. Mặc dù bố đỗ
tú tài và được học kinh điển từ nhỏ, đối với Châu số phận của đất nước
quan trọng hơn là quan trường. Khi còn trẻ ông đã tụ tập những thanh
niên cùng chí hướng, phất cờ khởi nghĩa tại quê nhà. Khi bị giặc Pháp
đàn áp, ông đã phải chạy vào rừng ẩn náu.
Năm 1900, Châu thi đỗ giải nguyên. Không hề có ý định quan trường, ông
bắt đầu xây dựng phong trào tại các tỉnh miền Trung. Trong khi đi vận
động, Châu thường ghé qua Kim Liên thăm các ông bạn là Nguyễn Sinh Sắc
và Vương Thúc Quý. Họ thường trải chiếu ngồi uống rượu, có cậu Thành
phục vụ. Thành rất ấn tượng về phong cách lưu loát, nhã nhặn của Châu.
Nhờ đã được đọc trước một số tác phẩm của Châu, Thành rất kính trọng
lòng yêu nước và chia sẻ sự khinh bỉ của ông với triều đình thối nát ở
Huế
Châu nghiên cứu các tác phẩm của những nhà cải cách Trung Hoa như Khang
Ưu Vị, Lương Kỳ Siêu và tin tưởng rằng Việt nam phải từ bỏ xã hội
truyền thống, tiếp thu công nghệ và cách tổ chức xã hội của các nước
phương Tây thì mới có thể tồn tại được. Nhưng Châu lại tin rằng chỉ có
lớp học giả mới có thể dẫn dắt đến những thay đổi đấy. Ông cũng muốn
mượn một số di sản truyền thống để có thể có được sử ủng hộ của nhân
dân. Vì thế, khi thành lập Hội Duy Tân năm 1904, ông đã mời hoàng thân
Cường Để, một thành viên hoàng gia làm chủ tịch hội.
Cùng với các nhà cải cách Trung hoa, Phan Bội Châu rất ngưỡng mộ mô
hình Nhật bản. Hoàng đế Minh Trị đã tụ tập được các tầng lớp ưu tú
trong xã hội, thay đổi một cách sâu sắc xã hội Nhật bản. Chiến thắng
của Nhật hoàng trước quân đội Nga năm 1905 được coi như là biểu tượng
của sức mạnh châu Á trước quân xâm lược châu Âu. Cuối năm 1904, Phan
Bội Châu đi Nhật và bắt tay xây dựng trường học tại Yokohama để đào tạo
những thanh niên Việt nam yêu nước. Đó là khởi đầu của phong trào Đông
Du.
Khi quay về Việt nam, Châu đến Kim Liên và đề nghị anh em Tất Thành
tham gia Đông Du. Nhưng Thành đã từ chối. Theo một số người, cậu cho
rằng dựa vào Nhật để đánh Pháp chẳng khác gì "Đuổi hổ cửa trước, đưa
sói vào cửa sau". Một số nhà nghiên cứu lại cho rằng đó là quyết định
của bố cậu. Trong bản tự truyện của mình, Hồ Chí Minh đã giải thích
rằng, ông muốn sang Pháp để "nắm được bí quyết thành công của phương Tây ngay tại quê hương của nó". Sau
đó ít lâu, Thành đề nghị bố cho mình đi học tiếng Pháp. Ông Sắc hơi băn
khoăn vì tại thời đó, chỉ có những người chịu làm tay sai cho Pháp mới
học tiếng Pháp. Nhưng cuối cùng ông cũng đồng ý, có thể do ảnh hưởng từ
các tác phẩm của những nhà cải cách Trung hoa đang thuyết phục nhà
Thanh thay đổi. Mặc dù gắn chặt sự nghiệp của mình với nền giáo dục
truyền thống, Sắc hiểu rằng các con ông phải thích nghi với những hiện
thực mới. Ông cũng thường hay nhắc đến lời dạy của Nguyễn Trãi về việc
phải hiểu được kẻ địch mới có thể đánh bại chúng.
Hè năm 1905, Thành bắt đầu học tiếng Pháp với một người bạn của bố tại
Kim Liên. Tháng 9, ông Sắc đã xin cho cả hai con mình vào trường dự bị
Pháp-Việt tại Vinh. Các trường kiểu này tại các tỉnh miền Trung được
thành lập theo quyết định của toàn quyền Dume, nhằm lôi kéo các trí
thức trẻ khỏi nền giáo dục Khổng tử, chuẩn bị nhân sự cho bộ máy cai
trị. Hai anh em Thành lần đầu tiên được học tiếng và văn hoá của Pháp.
Các cậu còn được học chữ quốc ngữ do các nhà truyền giáo sáng lập vào
thế kỷ 17 và đang được truyền bá trong giới trí thức tiến bộ.
Tháng 6, năm 1906, Sắc quyết định nhận chức phong của triều đình và đưa
cả hai con trai vào Huế. Vẫn như xưa, họ đi bộ nhưng cả hai cậu bé đã
lớn nên cũng đỡ vất vả hơn. Các cậu thường tra khảo nhau về các tên
tuổi qua các triều đại phong kiến Việt nam. Thành phố đã có nhiều thay
đổi. Tường thành của kinh đô cổ vẫn soi bóng xuống bờ bắc sông Hương,
những cô gái điếm tóc dài tha thướt vẫn khẩn khoản mời chào khách hàng.
Nhưng những cơn bão lớn trong hai năm vừa qua đã để lại nhiều ngôi nhà
đổ nát rêu phong hai bên sông. Những ngôi nhà trắng kiểu châu Âu của
các cố vấn Pháp cũng đang nhanh chóng thay thế những cửa hàng lụp xụp
trong khu thương mại cũ.
Ban đầu mấy cha con sống nhờ một người bạn, nhưng rồi họ được phân một
căn phòng nhỏ trong trại lính cũ cạnh cửa Đông Ba bên bờ tường phía
đông của cấm thành. Họ sống đơn giản, thức ăc chủ yếu là cá muối, vừng,
rau quả và gạo rê tiền. Nước uống được sử dụng từ giếng chung hoặc từ
con kênh chảy ngang cửa Đông Ba. Được sự giúp đỡ của Cao Xuân Đức, một
quan chức của Hàn Lâm Viện đã giúp ông từ lần trước, Sắc được phân làm
thanh tra Bộ Lễ, theo dõi các học sinh của Quốc học. Đây là một chức
quan nhỏ so với học vị phó bảng của ông. Các bạn ông đều đã làm đến tri
huyện hoặc cao hơn. Chắc chắn là triều đình đã nghi ngờ vào sự trung
thành của Sắc khi ông từ chối làm quan.Thực tế là Sắc không cảm thấy dễ
chịu phục vụ trong bộ máy đang thối ruỗng. Ông thường chia sẻ với bạn
bè sự cấp thiết của việc cải cách. Không giải thích được quan điểm
"trung quân ái quốc" trong hoàn cảnh thực tế, ông khuyên học sinh từ bỏ
con đường quan trường. Theo ông, tầng lớp quan lại hiện tại chỉ biết hà
hiếp nhân dân.
Dễ dàng lý giải được sự thất vọng của Sắc về hệ thống xã hội lúc đó. Mô
hình chính quyền nho giáo phụ thuộc rất nhiều vào sự trong sạch về đạo
đức của tầng lớp quan lại được tuyển chọn qua thi cử. Hệ thống chỉ có
hiệu quả nếu các quan lại áp dụng các tiêu chuẩn đạo đức như phục vụ xã
hội, chính trực và nhân từ, được huấn luyện từ nhỏ, trong việc thực thi
quyền lực. Thế nhưng từ cuối thế kỷ 19, sự bạc nhược của triều đình đã
dẫn đến sự suy thoái của các thể chế xã hội. Uy tín của Hoàng đế giảm
sút nghiêm trọng. Tầng lớp quan lại lợi dụng chức quyền để làm giàu.
Ruộng công bị chiếm hữu, nhà giàu lại được miễn thuế.
Một tiếng nói phản kháng quan trọng nữa vào thời điểm đó là Phan Chu
Trinh - người đỗ phó bảng cùng năm với Sắc. Trinh sinh năm 1872 tại
Quảng Nam, là con út trong một gia đình 3 anh em. Bố ông là quan võ,
cũng đã từng tham gia thi cử nhưng không thành, theo Cần Vương và bị
đồng đội xử tử vì bị nghi làm phản. Trinh làm việc Bộ Lễ từ năm 1903.
Ông đặc biệt quan ngại về nạn ăn hối lộ và bất tài của các viên chức
tại nông thôn. Ông đã từng công khai nêu vấn đề này cho các thí sinh
tham gia kỳ thi năm 1904. Năm 1905,Trinh từ chức, ông dự kiến tham khảo
ý kiến với các nhà nho khác trên toàn quốc về phương thức hành động
trong tương lai. Trinh gặp Châu tại Hồng Kông và theo Châu sang Nhật.
Trinh tán thành những cố gắng của Châu trong việc đào tạo cho thế hệ
mới nhưng họ bất đồng trong việc sử dụng thành viên của hoàng gia cho
phong trào. Trinh cũng cho rằng, tốt hơn hết là thuyết phục Pháp phải
tiến hành những cải cách cần thiết cho xã hội Việt nam. Tháng 8 năm
1906, Trinh công bố bức thư cho toàn quyền Paul Beau chỉ ra tình hình
nguy kịch tại Việt nam. Trong bức thư, Trinh đánh giá cao những thay
đổi mà Pháp mang đến cho Việt nam trong lĩnh vực giao thông và liên
lạc. Nhưng ông phản đối việc duy trì một triều đình bù nhìn thối nát,
phản đối sự coi thường và khinh bỉ người Việt dẫn đến sự căm thù trong
dân chúng. Trinh kêu gọi toàn quyền Pháp tiến hành ngay những cải cách
xã hội theo các định chế dân chủ phương Tây. Nhân dân Việt nam sẽ đời
đời biết ơn.Bức thư của Trinh gây chấn động lớn trong tầng lớp trí thức
Việt nam, đẩy cao sự mâu thuẫn với chính quyền. Chế độ thực dân của
Pháp, dưới chiêu bài "khai hoá văn minh", bóc lột các tài nguyên thiên
nhiên và áp đặt lối sống phương Tây, đã tạo nên sự căm thù trong tất cả
các tầng lớp xã hội Việt nam lúc đó. Trí thức căm hận trước các cuộc
tấn công vào các định chế và chuẩn mực nho giáo. Nông dân rên xiết dưới
các loại thuế khoá nặng nề, nhất là thuế rượu, cấm nông dân chưng ruợu
gạo và phải mua các loại rượu vang Pháp đắt tiền cho những ngày lễ tết.
Công nhân các đồn điền cao su phải dãi nắng dầm mưa và thường là bỏ xác
nơi đất khách quê người. Công nhân nhà máy và thợ mỏ cũng chẳng hơn gì,
lương thấp, làm ngoài giờ và điều kiện sống thì dưới đáy xã hội.
Trinh không phải là người duy nhất tìm kiếm câu trả lời cho sự tồn vong
của đất nước ở phương Tây. Đầu năm 1907, một nhóm các trí trức yêu nước
đã lập ra Trường Hà nội tự do, hay còn gọi là Đông Kinh Nghĩa Thục,
theo mô hình Học viện của nhà cải cách Nhật bản Fukuzawa Yukichi. Mục
tiêu của trường là tuyên truyền các tư tưởng tiến bộ của Trung hoa và
phương Tây vào tầng lớp thanh niên Việt nam. Đến giữa hè, trường đã mở
được 40 lớp với hơn 1000 sinh viên. Phan Bội Châu khi đó vẫn đang ở
Nhật bản, tiếp tục tuyển sinh cho chương trình đào tạo của mình và gửi
các bài thơ đầy nhiệt huyết về nước.Một trong những bài thơ hay nhất là
"Việt nam Vong quốc Sử", hay Lịch sử của một Việt nam mất nước. Đáng
buồn, bài thơ lại được viết bằng chứ Hán.
Được một thời gian, chính quyền Pháp nghi ngờ mục đích giáo dục của
Đông Kinh Nghĩa Thục và ra lệnh đóng cửa vào tháng 12. Nhưng người Pháp
không thể ngăn được các cuộc thảo luận về sự tồn vong của dân tộc trên
khắp đất nước. Tại Quốc Tử Giám, Huế, Nguyễn Sinh Sắc dạy các học sinh:
làm quan của một xã hội nô lệ còn tệ hơn là nô lệ. Nhưng ông không tìm
được lời giải. Sau này, Hồ Chí Minh nhớ lại cha ông thường ngửa mặt tự
hỏi: Đi về đâu, “Anh, Nhật hay Mỹ?” Sau khi quay lại Huế, theo lời khuyên của Cao Xuân Đức, Sắc gửi hai con
mình vào trường Đông Ba nằm trong hệ thống giáo dục Việt Pháp mới.
Trường nằm ngay trước cổng Đông Ba của thành Nội, trên khuôn viên cũ
của chợ Đông Ba sau khi chợ được chuyển đi chỗ khác vào năm 1899, có 4
phòng học và văn phòng. Các năm đầu, học sinh được dạy bằng 3 thứ
tiếng: Pháp, Hán, Việt. Lên năm trên, tiếng Hán bị hạn chế. Không phải
ai cũng đồng tình, nhưng Thành tỏ ra hài lòng. Ngay từ khi ở Vinh, thầy
giáo dạy tiếng Pháp của cậu đã dạy: "muốn đánh Pháp phải hiểu Pháp, muốn hiểu Pháp phải biết tiếng Pháp".
Ban đầu, Thành hơi bị lập dị với đôi guốc mộc, tóc dài và bộ quần áo
nâu sồng, trong lúc các bạn cậu hoặc khăn đóng, áo dài hoặc đồng phục
kiểu phương Tây. Nhưng cậu hoà nhập nhanh. Cậu học cật lực và trong một
năm đã hoàn thành chương trình hai năm học.
Mùa thu năm 1907. hai anh em Thành thi đậu vào Quốc học Huế, trường cao
nhất trong hệ thống giáo dục Pháp Việt. Trường được thành lập vào năm
1896 theo chỉ dụ của vua Thành Thái, nhưng đặt dưới sự điều khiển của
Thống sứ Pháp. Trường có 7 bậc, 4 lớp bậc tiểu học và 3 lớp bậc trung
học, chương trình tập trung vào tiếng Pháp và văn hoá. Triều đình muốn
dần dần thay thế Quốc Tử Giám để đào tạo tầng lớp cai trị mới. Vì thế
dân địa phương thường gọi là: "Trường thiên đường". Tuy nhiên điều kiện
sống và học tập ở đó khó có thể gọi là "thiên đường". Nhà chính vốn là
một trại lính, mái lợp rạ, nay trở nên dột nát và xiêu vẹo. Xung quanh
có một số túp lều tre. Cổng trường được xây theo kiểu mái Trung hoa hai
tầng hướng ra đại lộ Jules Ferry. Thành phần học sinh khá đa dạng. Một
số theo kiểu tự học, được học bổng như Thành. Số khác con nhà giàu có
xe đưa đón. Cũng như các trường khác, thầy giáo rất nghiêm khắc, không
chần chừ khi dùng roi vọt. Hiệu trưởng đầu tiên của trường là ông
Nordemann, lấy vợ Việt nam và nói được tiếng Việt. Hiệu trưởng tiếp
theo là ông Logiou, đã từng là lính lê dương. Bạn bè nhớ lại Thành
thường ngồi cuối lớp, ít khi để ý đến những gì xảy ra trong lớp. Nhưng
cậu nổi tiếng với nhiều câu hỏi đôi khi có tính khiêu khích, nhất là
những câu hỏi về ý nghĩa của những tác phẩm của các nhà triết học Ánh
sáng Pháp. Cậu rất giỏi ngoại ngữ và được các thầy cô quý. Một trong
những thầy giáo có nhiều ảnh hưởng với Thành là Lê Văn Miên, tốt nghiệp
trường Mỹ thuật Paris. Tuy thường xuyên đả kích chế độ thực dân, Miên
có một kiến thức sâu rộng về văn hoá Pháp. Ông dạy các học sinh về
những người Pháp tốt hơn ở nước Pháp, thổi vào tâm hồn các em một thành
phố Paris vĩ đại với các bảo tàng và thư viện.
Tuy học rất giỏi, nhưng giọng nói và điệu bộ nhà quê của Thành thường
bị các bạn trêu chọc. Một lần, không giữ được bình tình cậu đã thọi cho
một kẻ trêu chọc một quả. Thầy giáo đã khuyên cậu, tốt hết là hãy dồn
sức vào việc tìm hiểu những vấn đề thế giới. Quả vậy, Thành quan tâm
nhiều đến chính trị. Sau giờ học, cậu thường tụ tập ngoài bờ sông, chờ
đợi những tin tức của Phan Bội Châu, cùng nhau đọc thơ: "Á tế Á ca",
bài thơ về một châu Á tự do khỏi ách nô lệ da trắng.Một động lực thúc
đẩy lòng yêu nước của Thành ở trường là thầy Hoàng Thông. Thông thường
dạy học sinh: mất nước nghiêm trọng hơn mất nhà, mất nước là mất tất
cả. Thành thường đến nhà thầy đọc sách. Một số nhà nghiên cứu còn cho
rằng Thông đã cho Thành tiếp xúc với một số nhóm khởi nghĩa.
Cuối năm 1907, tình hình ngày càng trở nên căng thẳng. Vua Thành Thái
lên ngôi từ năm 1889 đã buộc phải thoái vị vì bị nghi ngờ có liên quan
đến quân nổi loạn chống Pháp. Tuy nhiên vị vua kế vị 8-tuổi càng có tư
tưởng chống Pháp hơn. Theo gương Hoàng đế Minh trị Nhật bản, ông lấy
hiệu là Duy Tân, nhằm mục đích mang lại cách tân cho đất nước. Tuy
nhiên đại đa số các tầng lớp tiến bộ Việt nam cho rằng đã quá muộn để
có thể hy vọng gì đó ở triều đình phong kiến. Nguyễn Quyền ở trường Hà
nội Tự do đã viết một bài thơ kêu gọi đồng bào cắt bỏ mái tóc dài búi
tó, như một cử chỉ đoạn tuyệt với quá khứ phong kiến. Thành và các bạn
thường đi cắt tóc rong, vừa đi vừa hát: Tay lược, tay kéo, Cắt! Cắt! Cắt đi sự ngu dốt, cắt đi sự trì trệ, Cắt! Cắt! Từ
đầu năm 1908, sự bất bình bắt đầu lan rộng trong nông dân. Giữa tháng
Ba, đám đông nông dân tụ tập tại phủ tri huyện tại Quảng Nam và tiến về
Hội An. Họ đòi miễn các loại sưu cao thuế nặng, và được sự ủng hộ rộng
rãi của các tầng lớp trí thức. Phong trào bắt đầu lan rộng ra các tỉnh
duyên hải miền Trung và có dấu hiệu bạo lực. Triều đình đem quân đàn áp
bắt bớ, sau khi các nông dân biểu tình chiếm một số công sở, giam giữ
một số quan lại. Đôi khi đoàn biểu tình bắt và cắt trọc những người qua
đường. Người Pháp gọi đây là "Cuộc nổi dậy tóc ngắn"
Đến cuối mùa xuân, những làn sóng nổi dậy đã dội đến chân thành Huế.
Trong tuần đầu tháng Năm, dân làng Công Lương biểu tình chống thuế.
Viên quan đến xử lý bị bắt trói cho vào cũi, chở đến cổng Thống sứ
Pháp. Ngày 9/5, khi đoàn biểu tình đi qua chỗ các sinh viên, Thành đã
bất ngờ kêu gọi hai người bạn của mình tham gia để làm phiên dịch cho
các nông dân. Cậu lật ngửa chiếc mũ nan, báo hiệu vứt bỏ "status quo"
của mình. Trước sức ép của đoàn biểu tình, Thống sứ Lavecque phải tiếp
đoàn đại biểu nông dân có
cậu học sinh Nguyễn Tất Thành làm phiên dịch. Cuộc đàm phán thất bại,
kể cả sau khi vua Duy Tân đã can thiệp. Quân đội Pháp đã xả súng lên
cầu Tràng Tiền làm hàng trăm người chết và bị thương.
Đêm đó Thành phải đi trốn. Các bạn cậu chẳng ai có thể ngờ rằng, sáng
hôm sau, khi tiếng chuông báo hiệu giờ học vừa dứt, cậu lại xuất hiện,
ngồi đúng vào vị trí của mình. Nhưng cũng không được lâu. Đúng 9:00,
một sĩ quan cảnh sát Pháp xuất hiện và sau khi nhận ra Thành, đã yêu
cầu ban giám hiệu đuổi ngay kẻ phản nghịch ra khỏi trường. Trong những
tuần tiếp theo, tình hình tiếp tục phức tạp. Cuối tháng sáu, những
người theo Phan Bội Châu tiến hành cuộc đầu độc các sĩ quan Pháp tại Hà
nội sau đó khởi nghĩa cướp chính quyền. Tuy nhiên do có kẻ phản bội,
cuộc binh biến bất thành. Quân Pháp đàn áp dã man, 13 người bị xử tử,
nhiều người bị lưu đày. Hốt hoảng, triều đình hạ lệnh bắt tất cả các
trí thức yêu nước. Phan Chu Trinh cũng bị bắt và bị đưa về Huế xử. Nhờ
có Thống sứ Pháp can thiệp, Trinh thoát chết nhưng bị đày đi Côn Đảo.
Từ năm 1911, Trinh sống lưu vong tại Pháp. Do hành động của hai cậu con trai, Sắc bị khiển trách và bị đưa về làm
tri huyện Bình Khê, Bình Định. Đây là một vùng không phải là quá heo
hút, nhưng là nơi xuất phát của khởi nghĩa Tây Sơn chống lại nhà
Nguyễn. Bởi thế triều đình thường đưa những viên quan lại không vừa ý
về đó. Anh trai Thành là Khiêm cũng bị theo dõi, đến năm 1914 thì bị xử
về tội mưu phản. Nhà chức trách còn tra hỏi cả chị gái Thành ở Kim Liên
vì nghi ngờ về tội chứa chấp 1 số phần tử mưu phản.
Sau khi bị đuổi khỏi trường, Thành mất tích mấy tháng. Có tin đồn là
anh đi xin việc một số nơi nhưng đều không được nhận. Nhưng chắc chắn
là anh không quay lại quê vì đã bị theo dõi. Sau đó, Thành quyết định
đi bộ vào phía Nam để tránh sự theo dõi của triều đình. Cũng có thể vào
thời điểm đó anh đã quyết định xuất dương tìm đường cứu nước tại phương
Tây. Điạ điểm thuận tiện nhất vào thời điểm đó chỉ có thể là cảng Sài
gòn. Tháng 7/1909 Thành dừng lại tại Bình Khê để gặp cha mình. Cuộc gặp
gỡ không mấy vui vẻ với anh vì ông Sắc đang trầm uất, suốt ngày uống
rượu. Sắc đã mắng nhiếc và cho cậu con trai mấy gậy.
Sau đó Thành đến Quy Nhơn ở nhờ nhà một người bạn của cha mình là Phạm
Ngọc Thọ. Theo lời khuyên của Thọ, Thành đâm đơn thi vào chân giáo viên
của một trường học địa phương dưới tên là Nguyễn Sinh Cung. Chủ tịch
hội đồng thi vốn là giáo viên cũ của cậu tại trường Đông Ba nên rất quý
cậu. Tuy nhiên không hiểu sao chính quyển tỉnh biết được thành tích bất
hảo của Thành và tên anh bị đưa ra khỏi danh sách dự thi.
Không thất vọng, Thành đi tiếp đến Phan Rang gặp Trương Gia Mỗ, đồng
nghiệp của cha cậu ở Huế và cũng là bạn của Phan Chu Trinh. Chủ nhà đã
thuyết phục Thành chậm lại chuyến xuất ngoại của mình và xin cho anh
một chân dạy học ở trường Dục Thanh (Phan Thiết). Vì đã cạn tiền, Thành
chấp nhận. Trước khi đến Phan Thiết, anh phải chứng kiến một cảnh tượng
đau lòng khi các sĩ quan Pháp cười ha hả bắt các công nhân cảng Việt
nam phải nhảy xuống nước trong giông tố. Nhiều người đã chết.
Trường Dục Thanh được các nhà yêu nước địa phương thành lập theo mô
hình trường Tự do Hà Nội. Ngôi nhà là sở hữu của một nhà thơ bản xứ,
nằm ở bờ nam sông Phan Thiết. Trường do hai người con của nhà thơ điều
hành. Cổng trường kẻ rõ khẩu hiệu: "Đoạn tuyệt với cổ hủ, đem tới văn
minh". Ngôn ngữ chính thức là quốc ngữ, một số môn được dạy bằng tiếng
Pháp và tiếng Hán. Thành đến Phan Thiết ngay trước Tết nguyên đán năm
1910, và nhận trách nhiệm dạy tiếng Hán và quốc ngữ. Anh còn kiêm luôn
chân dạy võ. Theo trí nhớ của các học viên, thầy giáo Thành rất được
ngưỡng mộ. Mặc bộ bà ba trắng, đi guốc mộc, Thành dạy theo phong cách
của Socrat khuyến khích các học sinh đưa ra những ý tưởng của riêng
mình. Thành cùng các học sinh thăm quan các vùng phụ cận, lên rừng,
xuống biển. Khung cảnh khá điền viên ngoài việc một xưởng nước mắm ở
khá gần với những hương vị đặc biệt làm cho học sinh khó tập trung. 
Chương trình giảng dạy tại Dục Thanh mang nội dung yêu nước khá rõ
ràng. Thành thường mở đầu bài giảng của mình bằng bài thơ từ trường Tự
do Hà Nội
Ôi, thượng đế có thấu nồi khổ đau
Dân ta mang xiềng xích, héo mòn trong tai ương
Bởi thế chủ đề tranh cãi không bao giờ là mục tiêu giành độc lập mà là
bằng cách nào. Các thầy giáo trong trường chia làm 2 phe. Một bên ủng
hộ Phan Chu Trinh với đường lối cải cách, bên kia ủng hộ Phan Bội Châu
với chủ trương dùng vũ lực và dựa vào Nhật bản. Thành không chọn phe,
cậu biết rằng cậu phải hiểu tận cùng tình thế trước khi quyết định.
Đầu năm 1911, trước khi năm học kết thúc, Thành biến mất. Nguyên nhân
chính xác về sự ra đi của Thành không rõ ràng, nhưng có thể có liên
quan đến tin cha cậu chuyển vào Cochin China. Trước đó, đầu năm 1910,
Sắc bị triệu hồi khỏi Bình Khê. Trong thời gian làm tri huyện ở đó, ông
nổi tiếng là ủng hộ người nghèo, tha cho các nông dân tham gia biểu
tình, khoan dung với những tội hình sự lặt vặt. Ông cho rằng lố bịch để
mất thời gian vào những việc đó khi nước đã mất. Ngược lại ông rất cứng
rắn với bọn nhà giàu và có thế lực. Sau khi tẩn 100 roi vào mông một
nhân vật thế lực trong vùng và sau đó tên này lăn ra chết, Sắc bị gọi
về Huế, hạ 4 bậc, phạt đánh roi và cách chức. Theo lời bạn bè, Sắc cũng
chẳng buồn. Ông nói: "nước đã mất, liệu có thể có nhà được không?"
Đầu năm 1911, ông xin phép chính quyền Pháp được đến Cochin China nhưng bị từ chối. Hồ sơ của cảnh sát Pháp viết: "Nguyễn
Sinh Sắc... bị nghi ngờ là đồng loã với Phan Chu Trinh và Phan Bội
Châu. Con trai y, đang học ở Huế bỗng nhiên mất tích, nghi rằng đang ở
Cochin China. Sắc chắc muốn gặp con và hội kiến với Trinh.". Nhưng
Sắc cũng chẳng đợi được cấp phép, ngày 26/2/1911, ông tới Tourane (Đà
nẵng) và lên tàu đi Sài gòn. Đến nơi, ông tìm được một chân dạy tiếng
Hán và bán thuốc Nam để kiếm sống. Liệu Thành có biết được tất cả thông
tin về cha cậu và rời Phan Thiết để đi tìm cha? Một người bạn của Thành
ở Dục Thanh cho biết là cậu đã chia sẻ với anh ta là sẽ cùng ăn tết với
cha. Hay cậu đã biết mình bị theo dõi và quyết định lẩn trốn? Ngay sau
khi Thành đi, một viên chức Pháp có đến trường tìm hiểu tung tích cậu.
Thành đi chỉ để lại một mảnh giấy nhỏ, nhờ các bạn trả lại sách cho thư
viện. Chẳng bao lâu sau, trường Dục Thanh cũng bị đóng cửa.
Sài gòn là miền đất hoàn toàn mới lạ với cậu thanh niên Nguyễn Tất
Thành. Một thời chỉ là thành phố nhỏ trên bờ sông Sài gòn, thành phố đã
lớn rất nhanh và vượt cả cố đô Hà Nội với dân số lên tới hàng trăm
ngàn. Sự lớn mạnh của Sài gòn chủ yếu dựa trên lĩnh vực kinh tế. Ở đây
đã hình thành cả một lớp thương nhân người Âu, Việt và người Hoa định
cư trên khu vực này từ thế kỷ trước. Lĩnh vực làm ăn chủ yếu là khai
thác các đồn điền cao su dọc biên giới Campuchia (cây cao su được đưa
vào Việt nam từ Brazil vào cuối thế kỷ 19) và canh tác lúa trên những
cánh đồng rộng lớn đồng bằng Nam Bộ. Trong 25 năm đầu của thế kỷ 20,
Nam Bộ đã đứng thứ ba trên thế giới về xuất khẩu gạo. Ban đầu Thành
sống trong một vựa lúa cũ. Chủ vựa lúa là Lê Văn Đạt còn có xưởng sản
xuất chiếu cói và có quan hệ với các thành viên của trường Dục Thanh.
Thành tìm được cha, lúc đó đang ở tạm trong một nhà kho cũ. Qua các mối
quen biết của Dục Thanh,Thành tìm được một ngôi nhà ở phố Châu Văn Liêm
gần cảng Sài gòn. Được cha khuyến khích, Thành bắt đầu chuẩn bị cho
chuyến đi của mình. Vào tháng Ba, cậu đăng ký tham gia một lớp thợ mộc
và sắt, chắc là để kiếm tiền cho chuyến đi. Sau khi được biết phải mất
ba năm mới có thể thành nghề kiếm tiền, Thành bỏ học, đi bán báo cùng
với một người bạn từ Kim Liên, tên là Hoàng.
Chỗ ở của Thành ở gần bến Nhà Rồng nơi các con tàu xuyên đại dương
thường xuyên lui tới. Thành quyết định tìm việc làm trên một trong
những con tàu đó để ra nước ngoài. Thời đó chỉ có hai hãng tàu hoạt
động tại cảng Sài gòn là Messageries Maritimes và Chargeurs Reunis. Chỉ
có hãng Reunis cần tuyển người địa phương cho một số vị trí phụ bếp và
bồi bàn. Thông qua một người bạn ở Hải phòng đang làm trong hãng, Thành
đã có được cuộc hẹn phỏng vấn với thuyền trưởng tàu Đô đốc Latouche
Treville vừa đến từ Tourane. Ngày 2/6, một anh thanh niên tên là Ba
xuất hiện ở cầu tàu. Thuyền trưởng Louis Eduard Maisen e ngại nhìn
khuôn mặt thông minh nhưng thân hình khá mảnh khảnh của anh. Ba quả
quyết là việc gì anh cũng làm được và đã thuyết phục được Maisen cho
một chân phụ bếp. Ngày hôm sau, anh bắt tay ngay vào công việc rửa bát,
giặt quần áo, lau sàn, nhặt rau và đốt lò. Ngày 5/6, "Đô đốc Latouche
Treville" hú còi rời sông Sài gòn ra biển Nam Trung Hoa- Biển Đông, thẳng tiến tới Singapore lúc đó đang thuộc Anh.
Tại sao Nguyễn Tất Thành lại quyết định rời đất nước? Trong bình luận
gửi nhà báo xôviết Ossip Mandelstam nhiều năm sau, Hồ Chí Minh đã viết
"Khi tôi 13 tuổi, lần đầu tiên tôi nghe thấy những từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái.
Lúc đó tôi nghĩ mọi người da trắng đều là người Pháp. Và vì người Pháp
viết ra những từ đó, tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp để có thể
hiểu được ý nghĩa đằng sau những từ đó". Muộn hơn, Hồ Chí Minh cũng đã
trả lời tương tự cho câu hỏi của phóng viên Mỹ Anna Luise Strong: "Nhân
dân Việt nam, bao gồm cả cha tôi, thường xuyên tự đặt câu hỏi, ai sẽ
giúp chúng ta cởi bỏ ách thống trị của Pháp. Nhiều người nói Nhật bản,
có người nói Anh, lại có người nói Mỹ. Tôi thấy tôi phải ra nước ngoài.
Sau khi đã tìm hiểu họ sống như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào
tôi" Các nhà viết sử ở Hà nội cũng thường nhắc đến những hồi
ức của HCM về việc rời đất nước như một sứ mệnh cứu nước. Cũng nên nhớ
rằng Hồ Chí Minh hay có khuynh hướng kịch hoá những sự kiện trong đời
mình cho những mục đích khác. Tuy nhiên, không nghi ngờ gì, khi rời Sài
gòn tháng 6 năm 1911, cậu thanh niên Nguyễn Tất Thành đã hoàn toàn nhận
thức được những bất công mà đất nước mình đang phải gánh chịu và trong
nước không có lời giải. Biết đâu, anh có thể tìm kiếm được những lời
giải ở nước ngoài.
|