|
2. Con ngựa hoang
Mặc dù không có những ghi chép chính xác về các hoạt động của Thành sau
khi rời Việt nam, những bằng chứng thu thập được cho phép dự đoán rằng
phần lớn thời gian của Thành dành cho việc lang thang trên biển và đi
qua khắp 5 châu. Vào thời đó, chế độ thực dân châu Âu đã thuộc địa hóa
hầu như cả thế giới. Trên các bến cảng Á, Phi, Mỹ la tinh, những người
dân bản xứ xun xoe thoả mãn nhu cầu của các ông chủ da trắng. Trong các
tác phẩm sau này, Hồ Chí Minh đã miêu tả sự tàn bạo của các ông chủ và
sự khốn cùng của dân lao động một cách hết sức ấn tượng. Có thể phần
lớn các quan điểm cách mạng của Hồ Chí Minh đã được hình thành trong
giai đoạn này.
Tàu "Đô đốc Latouche Treville" là một tàu nhỏ đối với các tàu vượt đại
dương, dài khoảng 400 fut và có trọng tải nhỏ hơn 6000 tấn. Vì thế cuộc
sống của Thành trên tàu hết sức vất vả. Tuy nhiên anh vẫn nhìn đời một
cách hóm hỉnh: "nhân vật của chúng ta vừa huýt sáo vừa chùi toa lét và đổ rác".
Một trong những đối thủ chính trị của Hồ Chí Minh sau này, ông Bùi
Quang Chiêu đã tình cờ gặp Thành trong chuyến đi. Ông lấy làm kinh ngạc
sao một người thông minh như Thành lại chấp nhận một thứ lao động khổ
sai như vậy. Thành chỉ cười và nói, anh cần đi đến Pháp để đòi sửa lại
bản án cho cha.
"Đô đốc Latouche Treville" cập bến Marseilles ngày 6 tháng bảy năm 1911
sau khi đã qua Singapore, Colombo và Port Said. Thành nhận được những
đồng lương đầu tiên khoảng 10 frances. Chừng đó chỉ đú cho vài ngày
trên bờ, nhưng Thành đã có thể dừng bước uống cafe trên đường
Cannebiere, để được gọi bằng "Ngài". Thành ngạc nhiên kết luận: "Người Pháp ở Pháp tốt hơn và lịch sự hơn người Pháp ở Đông dương". Sau
khi tìm hiểu các hang cùng, ngõ hẻm, gặp gỡ đủ các loại đĩ bợm ở đây,
Thành tự hỏi, tại sao người Pháp lại không khai hoá văn mình cho đồng
bào chính quốc trước.
Thành quay lại tàu trước khi nó nhổ neo và đến Le Havre ngày 15 tháng
7. Sau đó "Đô đốc Latouche Treville" giong buồm đi Dunkirk, rồi quay về
Marseilles và neo ở đó đến giữa tháng 9. Từ đó,Thành đã viết một bức
thư gửi thẳng cho tổng thống Pháp. Quả là một sự kiện gây tò mò, và
đáng để in toàn văn bức thư ở đây:
Marseilles
15 tháng 9 năm 1911 Thưa ngài Tổng thống!
Tôi rất rất lấy làm vinh dự được nhờ ngài một việc nhỏ để có thể được vào học tại trường Thuộc địa như một sinh viên thực tập.
Hiện tại, để kiếm sống, tôi đang phải làm việc tại hãng Chargeurs
Réunis (tàu đô đốc LT). Tôi đang bị bỏ rơi và rất muốn có được một nền
giáo dục đầy đủ. Tôi muốn trở thành có ích cho nước Pháp về vấn đề các
đồng bào của tôi, và giúp họ có thể được hưởng những thành quả của giáo
dục. Tôi sinh tại tỉnh Nghệan thuộc Annam .Vô cùng biết ơn Ngài Tổng
thống đã ra tay cứu giúp
Nguyễn Tất Thành
Sinh năm 1892
Con ông Nguyễn Sinh Huy (Tiến sĩ)
Sinh viên Pháp ngữ và Hán ngữ
Trường Thuộc địa được thành lập năm 1885 nhằm mục đích đào tạo nhân
viên cho bộ máy cai trị của Pháp tại thuộc địa, có khoảng 20 học bổng
cho các sinh viên từ Đông Dương. Một số nhà nghiên cứu tỏ ra ngạc nhiên
về quyết định xin học của Thành, họ cho rằng có thể lúc đó Thành đã từ
bỏ giấc mộng ái quốc để đeo đuổi con đường công chức. Tuy nhiên, thực
ra quyết định này chẳng có gì khác với việc gia nhập Quốc học Huế. Rõ
ràng là Thành chưa quyết định được mình sẽ phải chọn con đường nào để
cứu nước. Và điều có ích nhất bây giờ là tiếp tục sự nghiệp học hành.
Trong bức thư viết cho chị cậu mùa hè năm 1911, Thành cũng đã nói với
chị là sẽ đi học tại Pháp khoảng 5-6 năm. Cũng có thể đây chỉ là một
động tác “qua người” đẹp mắt, mà sau này Hồ Chí Minh cũng đã nhiều lần
sử dụng, nguỵ trang cho ý đồ đích thực của mình nhằm đạt được mục đích
cuối cùng.
Từ Marseilles, tàu "Đô đốc Latouche Treville" về Việt nam và cập bến
Sài gòn vào khoảng giữa tháng 10, Thành rời tàu và tìm cách gặp cha. Từ
khi mất việc, Sắc lang thang bán thuốc nam và dạy học trong khắp Nam
bộ. Thậm chí có lần còn bị bắt vì say rượu. Mặc dù rất có thể trong
khoảng thời gian đó, ông đang ở loang quanh Sài gòn, nhưng không có
bằng chứng là hai cha con đã gặp nhau. Ngày 31/10/1911, Thành viết một
lá thư cho Toàn quyền Pháp tại Annam, giải thích về việc cha con chia
cách đã 2 năm và nhờ chuyển cho cha một khoản tiền nhỏ nhưng không được
trả lời.
Quay trở lại Marseilles, Thành nhận được tin là đơn xin học của mình đã
bị từ chối. Nhà trường chỉ nhận những học sinh được toàn quyền Đông
Dương giới thiệu. Khi tàu được đưa lên bờ sửa chữa tại Le Havre, Thành
quyết định ở lại. Anh xin vào làm vườn cho một chủ tàu ở
Sainte-Addresse, một khu nghỉ mát đã nổi tiếng nhờ những bức tranh mà
Monet vẽ tại đây. Hàng ngày, lúc rảnh rỗi anh lang thang trong thư viện
của ông chủ hoặc luyện tiếng Pháp với con gái ông chủ. Có thể là Thành
đã đi Paris gặp Phan Chu Trinh trong thời gian này. (Theo một số nguồn
tin, ông Sắc đã viết cho Thành một thư giới thiệu cho Trinh khi cậu rời
Việt nam). Nếu họ gặp nhau, chắc chắn chủ đề sôi nổi nhất là cuộc cách
mạng dân quyền của Trần Dân Tiên lật đổ triều đình nhà Thanh để thành
lập một nước cộng hoà kiểu phương Tây.
Thành có quan hệ rất tốt với chủ nhà, và chính ông này đã giới thiệu
cậu cho một con tàu đi châu Phi cũng của hãng Chargeurs Reunis. Mặc dù
nhiều người ngăn cản, Thành vẫn quyết chí ra đi. Anh đã đến một loạt
các nước Á-Phi, bao gồm Algeria, Tunisia, Morroco, India, Indochina,
Saudi Arabia, Senegal, Sudan, Dahomey và Madagascar. Anh bị mê hoặc bởi
những điều nghe được, học được. Những cảnh tượng kinh hoàng của chế độ
thuộc địa cũng gây cho anh những xúc động sâu sắc. “Đối với bọn thực dân, tính mạng những người dân thuộc địa không đáng 1 đồng xu.”
Trong những năm đó, Thành đã đến nhiều hải cảng trên Tây bán cầu. Sau
này, HCM đã kể lại cho những người bạn Cuba của mình rằng ông đã đến
Rio và Buenos Aires. Con tàu của anh cũng đã ghé qua bờ Đông nước Mỹ,
và Thành đã chọn NewYork làm nơi dừng chân của mình. Anh rời tàu và
quyết định tìm việc để ở lại nước Mỹ. Giai đoạn này là một trong những
giai đoạn mù mờ nhất trong cuộc đời Hồ Chí Minh. Theo lời ông và một số
người quen biết khác, anh đã làm đầy tớ cho một gia đình giàu có ở New
York với mức lương “trên trời” là 40$/tháng. Ngoài giờ làm việc, Thành
lang thang với bạn trong khu China town, ngửa cổ ngắm những toà nhà
chọc trời NewYork, tham dự các cuộc họp của hội da đen Harlem, và ngạc
nhiên khi thấy pháp luật công nhận sự bình đẳng của những kẻ nhập cư
châu Á. Sau này, một đoàn đại biểu các nhà hoạt động hoà bình Mỹ đã hỏi
Hồ Chí Minh: tại sao ông lại đến nước Mỹ? Hồ Chí Minh đã trả lời, ông nghĩ là nước Mỹ là biểu tượng chống chủ nghĩa thực dân châu Âu và sẽ giúp Việt nam giành độc lập. Nhưng ông đã nhầm.
Hồ Chí Minh còn nói là ông đã từng sống ở Boston và làm bánh ngọt cho
khách sạn Parker House. Ông cũng đã đi thăm một số bang miền Nam để
chứng kiến cảnh bọn 3K (?) hành hình người da đen mà sau này ông đã
miêu tả rất sống động trong một truyện ngắn viết khi đang ở Nga những
năm 1920. Rất tiếc là chỉ có ít bằng chứng rõ ràng về việc Hồ Chí Minh
đã từng ở nước Mỹ. Một là bức thư ký tên là Paul Tất Thành gửi cho toàn
quyền Pháp xin phục hồi cho cha anh. Bức thư đóng dấu New York ngày
15/12/1912. Thứ hai là tấm bưu thiếp gửi Phan Chu Trinh từ Boston, kể
rằng anh đang phụ bếp tại khách sạn Parker House , Hồ Chí Minh nói với
một nhà báo Mỹ, bà Anna Louise Strong rằng quãng thời gian ở Mỹ ảnh
hưởng rất ít đến quan điểm chính trị của ông vì lúc đó ông còn quá trẻ.
Nhiều khả năng là Hồ Chí Minh rời Mỹ vào năm 1913. Sau chặng dừng chân ở Le Harve, anh đến Anh để học tiếng Anh. Trong một
bức thư gửi Phan Chu Trinh, anh nói rằng đã ở London bốn tháng rưỡi để
học tiếng Anh và giao lưu với người nước ngoài. Bức thư chắc phải được
viết trước khi nổ ra đại chiến thế giới I, tháng 8 năm 1914, vì Thành
còn hỏi Phan Chu Trinh sẽ đi nghỉ hè ở đâu. Bức thư thứ hai cho Phan
Chu Trinh, Thành đã bình luận về sự khởi đầu của chiến tranh. Anh cho
rằng những kẻ dây vào sẽ phải lãnh đủ, anh chờ đợi những sự thay đổi
lớn ở châu Á và hy vọng chiến tranh sẽ làm sụp đổ hệ thống thuộc địa
của Pháp.
Trong hồi ký của mình Hồ Chí Minh đã thừa nhận những công việc rất cực
nhọc của ông ở Anh như quét tuyết và đốt lò. Một vài người quen khi gặp
Thành ở Pháp đã nhận thấy bàn tay của anh bị cái lạnh làm cho cong
queo. Cũng may là sau đó anh tìm được một chân phụ bếp trong khách sạn
Drayton Court rồi chuyển đến Carton giúp việc cho đầu bếp nổi tiếng
Auguste Escoffier và ông đã từ chối cơ hội để trở thành đầu bếp.
Ngoài việc lang thang ở Hayden Park với cây bút chì và quyển sách để
học tiếng Anh, Thành còn tham gia vào các hoạt động chính trị của Hội
công nhân hải ngoại, tham gia vào các cuộc biểu tình đòi độc lập của
người Ailen. Có thể là trong thời gian này Thành đã lần đầu tiên làm
quen với các tác phẩm của Karl Max. Anh vẫn không quên nỗi đau mất
nước. Trong một bức thư gửi Phan Chu Trinh, Thành đã viết những câu
thơ:
Đương đầu với trời đất
Thôi thúc bởi ý chí
Người anh hùng phải chiến đấu cho đồng bào
Có một điều Thành không biết là các bức thư của anh gửi cho Phan Chu
Trinh đều rơi vào tay mật thám Pháp. Trong khi khám xét căn hộ của Phan
Chu Trinh, chúng đã phát hiện ra những bức thư ký tên N. Tất Thành gửi
từ số 8, Stephen Street, Tottenham Court Road, London. Trong một bức
thư, người thanh niên này còn thề thốt là sẽ tiếp tục sự nghiệp của
Phan Chu Trinh. Cảnh sát Pháp đã nhờ các đồng nghiệp Anh tìm kiếm nhưng
chẳng thấy ai ở địa chỉ đó. Cảnh sát Anh lục khắp London được 2 sinh
viên Việt nam tên là Thành, trong đó có một Nguyễn Tất Thành, nhưng họ
chẳng có dính líu gì đến chính trị.
Không có nhiều tài liệu minh chứng cho hoạt động của Hồ Chí Minh ở Anh.
Một số nhà sử học thậm chí nghi ngờ ông đã ở Anh. Họ cho rằng ông đã
bịa ra giai đoạn đó để có được tấm áo xuất thân vô sản. Điều này hơi vô
lý vì Hồ Chí Minh chẳng bao giờ phủ nhận nguồn gốc nhà nho của mình.
Tuy nhiên có nhiều chứng cớ khằng định được Hồ Chí Minh đã ở London.
Thời điểm chính xác Thành quay về Pháp cũng gây nhiều tranh cãi. ít
nhất là chính quyền Pháp cũng không biết gì về chuyện này cho đến khi
có một sự kiện làm cho Thành trở thành người Việt nam yêu nước nổi
tiếng nhất ở đất nước mình. Hồ Chí Minh viết rằng, ông đã quay về Pháp
khi chiến tranh còn đang xảy ra. Một số người quen cũ của ông ở Pari
cho rằng ông đến Pháp năm 1917 hoặc 1918. Viên mật vụ được phân công
theo dõi ông vào năm 1919 báo cáo rằng Hồ Chí Minh đã “ở Pháp từ lâu”.
Nhiều nguồn cho rằng đó là khoảng tháng 12/1917. Lý do Thành về Pháp có
thể dễ hiểu. Sau chiến tranh, số người Việt nam tại Pháp đã tăng lên
gấp bội so với trước đó. Hàng ngàn người Việt nam làm việc tại các công
xưởng, tham gia quân đội so với không đến 100 người trước chiến tranh.
Qua mối quan hệ đã sẵn có với Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường, Thành
có thể thâm nhập vào cộng đồng chính trị Việt nam hải ngoại nhằm mưu đồ
cứu nước. Trinh đang được coi là lãnh tụ của phong trào, nhưng sau khi
bị bắt vì nghi ngờ phản bội hồi đầu chiến tranh, Trinh trở nên rất thận
trọng.
Sau khi về Paris, Thành nhanh chóng tham gia vào các hoạt động kích
động công nhân Việt nam trong bối cảnh các cuộc chống đối ở Pháp ngày
một nhiều do sự kéo dài khốc liệt của chiến tranh. Cũng chưa rõ, làm
thế nào Thành có thể tham gia vào các hoạt động đó. Có thể với tư cách
của Hội công nhân hải ngoại? Cũng có thể là quan hệ trực tiếp với các
nhà hoạt động cánh tả. Một nhà hoạt động cách mạng, Boris Souvarine,
sau này trở thành sử gia nhớ lại đã từng gặp Thành ngay sau khi anh từ
London trở về. Ông cho rằng đó là vào khoảng năm 1917.
Thành thuê 1 căn hộ dơ dáy tại Montmartre và tham gia sinh hoạt với chi
bộ đảng Xã hội Pháp tại đó. Souvarine đã giới thiệu Thành với Leo
Poldes, người sáng lập câu lạc bộ Faubourg. Các buổi nói chuyện diễn ra
thường xuyên về tất cả các chủ đề từ chính trị tới những điều huyền bí.
Souvarine nhớ lại là Thành rất bẽn lẽn, thậm chí khúm núm, nhưng hoà
nhã và ham học. Mọi người còn gọi anh là “Người câm ở Montmartre”. Leo
Poldes là người đã rèn luyện tính nhút nhát của Thành bằng cách bắt anh
phát biểu trước cử toạ. Trong bài phát biểu đầu tiên của mình miêu tả
sự thống khổ của nhân dân thuộc địa, Thành thậm chí còn nói lắp. .
Không mấy người trong cử toạ hiểu, nhưng họ thông cảm với chủ đề và
Thành được hoan hô nhiệt liệt. Sau đó Thành được mời phát biểu thường
xuyên.
Trong cuộc trả lời phỏng vấn nhà văn Mỹ Stanley Karnow, Leo đã nhận xét
về Thành trong thời gian anh tham gia câu lạc bộ Faubourg: “có hơi hướng của Chapline, hài hước nhưng buồn, vous savez”.
i Leo đặc biệt có ấn tượng về đôi mắt sáng và lòng ham mê học hỏi của
Thành. Anh đã vượt qua được nỗi sợ hãi phải phát biểu trước công chúng
và tích cực tham gia vào các cuộc tranh luận. Qua đó Thành quen biết
những nhân vật nổi tiếng trong giới trí thức cách mạng Pháp: nhà văn xã
hội Paul Louis, nhà quân sự Jacque Doriot, tiểu thuyết gia Henri
Barbeusse với những tác phẩm miêu tả sự cùng cực của binh lính trên mặt
trận.
Đã gần 30 tuổi, và hầu như kinh nghiệm nghề nghiệp chỉ loanh quanh mấy
việc phụ bếp hoặc dạy học, lại không có giấy phép làm việc Thành không
thể xin được việc ổn định. Anh phải làm đủ việc từ bán món ăn Việt nam,
kẻ bảng hiệu, dạy chữ Hán, làm nến... Cuối cùng anh kiếm được một chân
tô màu ảnh đen trắng trong một hiệu ảnh của Phan Chu Trinh. Vào những
thời gian rỗi Thành hay ngồi lì trong thư viện và đọc các tác phẩm của
Secxpia, Tolxtoi, Lỗ Tấn, Hugo, Zola, Dickens. Gia tài của anh chỉ có
cái va li và thường xuyên chuyển chỗ trong những nhà trọ chật hẹp của
khu công nhân Paris.
Thủ đô của nước Pháp cuối chiến tranh vẫn tham vọng trở thành trung tâm
chính trị và văn hoá của thế giới phương Tây. Rất nhiều những nhà tư
tưởng lỗi lạc của thế kỷ 19 đã sống ở Paris. Không khí cách mạng càng
sục sôi trong giai đoạn cuối chiến tranh, khi sự tàn bạo của cuộc chiến
đổ thêm dầu vào phong trào chống chủ nghĩa tư bản. Việt nam chiếm số
lượng lớn nhất trong cộng đồng hải ngoại tại Paris thời điểm đó: khoảng
50.000 người, trong đó có hàng trăm con em trí thức. Trong bầu không
khí bị chính trị hoá cao độ, lớp sinh viên này đã hoàn toàn chín muồi
cho những hoạt động chính trị hướng tới độc lập dân tộc. Rất tiếc là
chẳng có gì xảy ra cả. Trong giới có ảnh hưởng, một số muốn mặc cả với
Pháp cho thêm quyền tự chủ đổi lấy việc đã tham gia bảo vệ mẫu quốc
trong chiến tranh, một số thì lại bí mật đi đêm với Đức để hy vọng Pháp
thua trận. Theo cảnh sát Pháp, Phan Chu Trinh và bạn ông là Phan Văn
Trường đã thử cả hai phương án này. (Phan Văn Trường sinh năm 1878 tại
Hà đông, học luật và trở thành công dân Pháp năm 1910). Cả hai đã thành
lập “Hội đồng thân ái” trước khi chiến tranh xảy ra, nhưng chỉ thu thập
được khoảng 20 chục thành viên. Trinh, được coi là nhà ý tưởng, tỏ ra
rất ít có khả năng tổ chức. Tuy nhiên, do có tin đồn về việc họ đang dự
kiến lật đổ chính quyền tại Đông dương, cả hai đã bị tạm giam ngay sau
khi chiến tranh nổ ra. Chính vì lý do đó mà những bức thư Thành gửi cho
Trinh đều rơi vào tay cảnh sát Pháp.
Sau khi được tha, Trường và Trinh không dám nghĩ đến chuyện thách thức
chế độ thực dân nữa. Cộng đồng Việt nam hải ngoại thực sự đình trệ về
mặt chính trị. Thành muốn nhanh chóng thay đổi tình hình đó. Mặc dù,
cho đến lúc đó thành tích chính trị của anh mới chỉ là phiên dịch cho
cuộc biểu tình tại Huế năm nào. Trông bề ngoài hoàn toàn không bắt mắt,
bạn bè đều phải thừa nhận anh có một đôi mắt sáng và cái nhìn mãnh liệt như xuyên thấu suy nghĩ của người đối thoại.
Hè năm 1919, được sự bảo trợ của Trinh & Trường, Thành thành lập
Hội ái quốc Annam. Ngoài những thành viên trí thức, Thành còn lôi kéo
thêm một số thành viên từ tầng lớp lao động mà anh quen từ hồi còn làm
thuỷ thủ tại Marseilles, Le Havre, Toulon. Bề ngoài, hội không đặt ra
những mục tiêu cực đoan để lôi kéo đông đảo sự tham gia của cộng đồng
người Việt. Việc dùng chữ Annam thay cho Việt nam muốn cho chính quyền
thấy Hội không phải là mối nguy hiểm cho chế độ thực dân. Thực chất,
ngay từ đầu, Thành muốn biến hội thành một lực lượng hiệu quả chống lại
chế độ thực dân ở Đông Dương. Anh đã liên lạc với những hội tương tự
của người Triều tiên và Tuynizi. Đây là một thời điểm hết sức thuận lợi
cho những hoạt động tương tự. Sau chiến tranh, Paris trở thành trung
tâm kích động của các nhóm chống thực dân. Các cuộc thảo luận về chủ đề
này diễn ra thường xuyên ở quốc hội Pháp. Toàn quyền Albert Sarraut đã
phát biểu tại Hà nội hứa hẹn nhiều quyền hơn cho nhân dân Việt nam. Năm
1919, đại diện các nước Đồng minh thắng trận họp tại Versailles để đàm
phán điều kiện đầu hàng của khối Trung tâm và tổ chức thế giới sau
chiến tranh. Tổng thống Mỹ Wilson đã mang lại niềm hy vọng cho các dân
tộc thuộc địa bằng luận cương 14 điểm, trong đó thừa nhận quyền tự
quyết của tất cả các dân tộc.
Ngày 18/6/1919, Hội ái quốc Annam do Nguyễn Ái Quốc ký tên đã công bố bản kiến nghị 8 điểm có tên: “Yêu cầu của nhân dân Annam”
gửi các quốc gia Đồng minh, đề nghị áp dụng những tư tưởng của Wilson
cho thuộc địa của Pháp tại Đông Nam Á. Ngôn ngữ của bản kiến nghị rất
ôn hoà, không đặt điều kiện độc lập dân tộc mà chỉ đòi hỏi quyền tự
quyết về chính trị, sự bình đẳng giữa người Pháp và người Việt, quyền
tự do báo chí, hội họp, bãi bỏ các loại thuế hà khắc.
Nhiều nhà sử học đã nghi ngờ rằng Thành là tác giả duy nhất của bản
kiến nghị. Họ cho đó là công sức tập thể. Nhiều người cho rằng đây là
tác phẩm của Phan Văn Trường, người được cho là trí thức nhất trong
hội. Trong cuốn tự truyện của mình, Hồ Chí Minh tự nhận mình là tác giả
và Phan Văn Trường đã chỉnh văn phạm tiếng Pháp cho ông. Tuy nhiên việc
Thành có là tác giả hay không không quan trọng bởi chính anh là người
đã tổ chức công bố bản kiến nghị và sau đó tự nhận mình là Nguyễn Ái
Quốc. Chính Thành đã đưa tận tay bản kiến nghị cho các thành viên chủ
yếu của nghị viện và tổng thống Pháp. Cũng là anh dấn bước trên các
hành lang của điện Verseille để trao bản kiến nghị cho các đoàn đại
biểu Đồng minh. Qua các mối quan hệ của mình Thành đã công bố bản kiến
nghị trên báo Nhân đạo và nhờ các chiến hữu từ thời còn thuỷ thủ phân
phối hơn 6000 bản copy trên các đường phố Paris.Chẳng có hồi âm nào từ chính quyền Pháp mặc dù các cuộc thảo luận về
vấn đề thuộc địa vẫn đang diễn ra tại nghị viện. Hội nghị Versaille
cũng làm thinh về chủ đề này. Tổng thống Wilson, dưới sức ép của các
đồng minh đã không bảo vệ tuyên bố 14 điểm của mình. Cả thế giới thuộc
địa bị thất vọng.
Tuy nhiên bản kiến nghị cũng đã làm kinh ngạc giới chức chính trị Pháp.
Ngày 23/6, tổng thống Pháp viết thư cho toàn quyền Albert Sarraut, đề
nghị xem xét và xác định danh tính tác giả. Tháng 8, tin từ Đông dương
báo về: bản kiến nghị đang được phân phát trên các đường phố Hà nội và
đã gây nên cuộc thảo luận sôi nổi trong báo giới. Tháng 9, Thành chính
thức xác nhận mình là Nguyễn Ái Quốc trong một cuộc phỏng vấn cho một
phóng viên người Mỹ của một tờ báo Trung hoa tại Paris. Cũng vào quãng
thời gian đó, thanh
tra mật thám Pháp Paul Arnoux, chuyên theo dõi cộng đồng Việt nam hải
ngoại, tình cờ gặp Thành đang đi phân phát truyền đơn. Sau mấy lần uống
cafe, bị ảnh hưởng bởi nhiệt huyết của chàng trai trẻ, Arnoux đã liên
lạc với Bộ thuộc địa và thu xếp để Albert Sarraut gặp Thành. Và cuộc
gặp đã diễn ra ngày 6 tháng 9 tại toà nhà Bộ thuộc địa ở phố Ordinot.
Các mật thám Pháp đã tranh thủ thời cơ này để chụp ảnh hòng tìm ra tung
tích chính xác của Thành.
Có thể Nguyễn Ái Quốc (như Thành đã tự gọi mình) đã nuôi một chút hy
vọng bản kiến nghị của mình có thể thấu tai chính quyền Pháp và mang
lại những thay đổi ở Đông Dương. Bản tính của anh là tin vào những điều
tốt đẹp của con người, kể cả kẻ thù. Sau khi đi một vòng Thuỵ sĩ, ý,
Đức, Thành đã kể với bạn của mình: “nếu bạn là người tốt, ở đâu bạn cũng gặp người tốt”
. Cũng có thể là Thành đã tin vào những lời dụ dỗ của A. Sarraut. Trong
cuộc trả lời phỏng vấn cho tờ báo Trung hoa Thế giới, sau khi phàn nàn
về tình hình tồi tệ ở Đông Dương, Thành đã thừa nhận là trước tiên cần
có quyền tự do ngôn luận để nâng cao dân trí sau đó mới có thể tính đến
quyền tự trị, tiến lên độc lập.
Nhưng những hy vọng của Nguyễn Ái Quốc đã nhanh chóng bị tàn lụi. Ngay
sau cuộc gặp gỡ, Thành đã gửi đến A. Sarraut toàn văn bản kiến nghị
cùng với bức thư đi kèm như sau:
Như đã trao đổi với Ngài hôm qua, tôi xin gửi kèm đây toàn văn Bán
kiến nghị. Vì Ngài đã thật là tốt bụng cho phép tôi nói chuyện thẳng
thắn, tôi đã mạo muội hỏi Ngài rằng liệu đã có hành động nào được tiến
hành liên quan đến 8 điểm kiến nghị. Đáng tiếc là câu trả lời không
được thoả mãn.
Xin Ngài nhận cho lòng kính trọng của tôi.
Nguyễn Ái Quốc
Mấy ngày sau, mật thám Pháp đã xác định được Nguyễn Ái Quốc tên thật là
Nguyễn Tất Thành, con ông Nguyễn Sinh Sắc và đã tham gia xúi giục nổi
loạn ở Huế năm 1908.
Cho dù động cơ gửi Bản kiến nghị là gì đi nữa, không nghi ngờ là Nguyễn
Ái Quốc đã gây được tiếng vang to lớn trong phong trào yêu nước Việt
nam tại Pháp. Người già thì kinh ngạc vì sự táo tợn của anh thợ tô màu.
Thanh niên thì như được tiếp thêm nhiệt huyết. Một số kẻ khôn ngoan thì
coi anh như “Người man rợ”. Họ thì thầm: liệu có thể hy vọng được gì ở
một tay đầu gấu xứ Nghệ? 
Bán kiến nghị cũng đã mang lại cho Nguyễn Ái Quốc sự kính trọng của các
đồng chí trong Đảng Xã hội Pháp (FSP). Mặc dù lúc đó đã quen với những
tên tuổi lớn của FSP như Marcel Cachin, Paul-Vaillant Couturier, Leon
Blum, Edouard Herriot, Henri Barbusse và cháu của Karl Max -Jean
Longuet, theo lời của Zecchini, Thành chưa bao giờ được coi là thành
viên đầy đủ của FSP cho đến khi Bản kiến nghị được công bố.Hồ Chí Minh
đã thừa nhận rằng ông tham gia FSP vì “họ thông cảm với tôi, với cuộc đấu tranh của những dân tộc bị áp bức”.
Thiên hướng về Chủ Nghĩa Xã Hội của Hồ Chí Minh cũng như của nhiều nhà
dân tuý châu Á khác có thể giải thích như hậu quả tự nhiên của chế độ
thuộc địa tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đế quốc. Nhưng giải thích như
thế cũng chưa đầy đủ. Các nhà trí thức châu Á, (đặc biệt là ở Trung
quốc và Việt nam) cảm thấy đạo đức tập thể của chủ nghĩa xã hội phương
Tây xem ra gần gũi với đạo Khổng hơn thái độ vị kỷ và chạy đua lợi
nhuận của chủ nghĩa tư bản. Đối với họ sự hào nhoáng của các thành phố
thương mại thật đáng tởm, còn nền công nghiệp thì bị tha hoá bởi sự
tham lam và bành trướng. Ngược lại chủ nghĩa xã hội tán dương các cố
gắng tập thể, kêu gọi lối sống giản dị, bình đẳng về của cải và cơ hội
có nhiều điểm tương đồng với nho giáo. Xem ra là từ Khổng tử tới Max
gần hơn tới Adam Smith và John Mill.
Từ năm 1920 trở đi Ngài (Monsieur) Nguyễn tham gia tích cực hơn các
hoạt động chính trị của FSP, Liên đoàn lao động và Liên minh quyền con
người. Nhưng có vẻ như ông cũng dần dần nhận ra rằng, các đồng chí của
ông chẳng mấy quan tâm đến các vấn đề thuộc địa. Max có khuynh hướng
trọng Âu và hội của ông cũng vậy. Thuộc địa, nói cho cùng, cung cấp của
cải cho cách mạng và công việc cho các công nhân. Cuộc cách mạng
Bolsevich ở Nga đã làm sâu sắc thêm sự bất đồng trong hàng ngũ những
người xã hội, giữa một bên là phe ôn hoà của Jean Longuet, Leo Blum và
phe cấp tiến của Couturier và Cachin. Nên nhớ rằng lúc đó Quốc tế thứ
nhất của Max đã bị thay bởi Quốc tế II chủ trương ôn hoà và đấu tranh
nghị viện. Vào cuối năm 1919, một uỷ ban ủng hộ lời kêu gọi của Lênin
thành lập Quốc tế thứ ba, đấu tranh vũ lực để giành chính quyền cho
giai cấp vô sản, đã được thành lập trong nội bộ FSP. Nguyễn Ái Quốc
cũng tích cực tham gia, quyên góp tiền cho chế độ Xôviết. Tuy nhiên ông
vẫn tỏ ra ngờ nghệch, mơ hồ về sự khác nhau giữa Quốc tế II và Quốc tế
III, đặc biệt mù mờ trong lĩnh vực lý thuyết. Có lần Quốc còn đề nghị
Longuet giải thích ý nghĩa của chủ nghĩa Max. Ông này ngượng nghịu chỉ
cho Quốc chỗ tìm đọc cuốn Tư bản luận. Đúng lúc đó “Luận cương về các
vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lê nin ra đời đã biến Quốc từ một
người yêu nước thành nhà cách mạng Marxist chân chính. Sau này, Nguyễn
Ái Quốc thừa nhận, ông chẳng hiểu gì các cuộc cãi vã lúc đó và đơn giản
chỉ ủng hộ phe nào đứng về phía nhân dân các thuộc địa. Lê nin đã chỉ
ra rằng, chế độ thuộc địa là dinh luỹ cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc,
và các Đảng cộng sản châu Âu cần liên minh với các phong trào giải
phóng dân tộc Á-Phi chống lại kẻ thù chung. Khác xa với các nhà xã hội
Paris, Lê nin là con người của hành động và đã chinh phục hoàn toàn
Nguyễn Ái Quốc.
Nguyễn Ái Quốc bắt đầu viết cho các báo cánh tả từ hè 1919. Các bạn
phóng viên của ông như Jean Longuet, Gaston Monmosseau đã giúp hoàn
thiện lối viết mộc mạc và nhiều khi quá thẳng của Quốc. Bài báo đầu
tiên: “Vấn đề người bản xứ” được đăng trên báo Nhân đạo ngày 2/8/1919.
NAQ cho rằng, người Pháp chẳng mang lại gì cho người bản xứ. Mang tiếng
là khai hoá văn minh, hệ thống giáo dục của họ chỉ nhồi sọ và phục vụ
một số nhỏ con cái các quan chức. Quốc dự đoán, người Việt nam hoàn
toàn không được chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh với các nước láng giềng,
sớm muộn sẽ bị Nhật bản đè bẹp về kinh tế. Trong một bài khác “Đông
dương và Triều tiên” đăng trên báo Nhân dân tháng 10/1919, và sau đó là
“Thư gửi Ngài Outrey” Quốc đả kích Maurice Outrey, đại diện cho Nam bộ
tại Nghị viện Pháp vì tay này đả kích Hội an nam ái quốc và cho rằng
chẳng có ai đàn áp dân chúng cả.
Công việc thợ ảnh của Quốc rõ ràng là chẳng bận rộn lắm. Ngoài viết
báo, anh còn bắt tay vào viết một tác phẩm dài với tên gọi “Những người
bị áp bức” với sự giúp đỡ của một nhà văn chống chế độ thuộc địa Paul
Vigne d’Octon. Anh cố tình sử dụng rất nhiều trích dẫn mà không nói rõ
nguồn, hy vọng khi các nhà xuất bản xúm vào đòi quyền tác giả sẽ làm
cho cuốn sách nổi tiếng hơn. Đáng tiếc là bản thảo cuốn sách này bị
đánh cắp. Nhiều người cho rằng mật thám Pháp đã “tháu”, tuy nhiên không
thấy có bằng chứng lưu lại trong hồ sơ. Mặc dù không có nhiều thông tin
về nội dung cuốn sách, chúng ta có thể dự đoán là rất nhiều dữ liệu đã
được dùng lại trong cuốn sách viết được công bố năm 1925: “Bản án chế độ thực dân Pháp”. Giọng điệu cuốn sách này đã gay gắt hơn rất nhiều, thể hiện rõ quan điểm Marxism của Quốc.
Quãng tháng 7/1919, Nguyễn Ái Quốc chuyển đến căn hộ của Phan Chu Trinh
tại Villa des Gobelins, (gần quảng trường Italia, khu trung lưu của
Paris) cùng với 1 số đồng nghiệp khác. So với những chỗ ở trước của
Quốc thì đây quả là một sự cải thiện đáng kể. Tuy nhiên cuộc sống chung
cũng có nhiều vấn đề. Theo các báo cáo của cảnh sát Pháp theo dõi
Trinh, Nguyễn Ái Quốc và Phan Chu Trinh thường to tiếng với nhau về con
đường của cách mạng Việt nam. Quốc cho rằng các quan lại Việt nam như
những con cừu non trong tay Pháp, sử dụng để ngăn cản và bóc lột nhân
dân. Trinh thì cho rằng Quốc quá nông nổi: “Anh
bạn Quốc, hãy để tôi nói rằng anh còn rất trẻ và có cái đầu nóng. Anh
muốn 20 triệu đồng bào ta đứng lên làm gì đó khi họ không có một tấc vũ
khí trong tay. Tại sao lại phải tự sát một cách vô mục đích như vậy?” Trinh muốn dựa vào Pháp để cải cách chế độ đã thối nát trong tay các nhà nho. Quốc thì coi Pháp là kẻ thù số một: “Tại
sao 20 triệu dân ta không làm gì đó để buộc chính quyền phải coi chúng
ta như những con người. Kẻ nào không coi chúng ta là người, kẻ đó là kẻ
thù. Chúng ta không thể chung sống với chúng. Không thể chịu nhục!” Quốc nói, “Ông
có kinh nghiệm hơn tôi, nhưng hãy nhìn xem. Cha anh ta đã đòi cái mà
ông đòi suốt hơn 60 năm nay. Hỏi họ nhận lại được cái gì?” Tuy nhiên Quốc vẫn rất kính trọng Trinh và thường dẫn ông này đến các cuộc hội họp của các nhà cách mạng cấp tiến, hy vọng rằng Trinh sẽ thay đổi quan điểm.
Trong lúc đó, chính quyền Pháp vẫn tiếp tục thẩm tra nhân thân của
Quốc. Họ đã thẩm vấn cha, anh và chị của Thành và hy vọng có thể kiểm
tra vết sẹo trên tai từ thời nhỏ.Năm 1920, khi vào viện vì bị apxe,
Quốc đã bị cảnh sát chụp ảnh. Ngày 17/8/1920, Albert Sarraut, khi đó đã
là Bộ trưởng thuộc địa, ra lệnh phải truy xét bằng được nguồn gốc của
Nguyễn Ái Quốc. Quốc bị chất vấn tại Bộ thuộc địa. Sau đó 3 ngày lại bị
gọi lên đồn cảnh sát. Tại đó Quốc khai mình sinh năm 1894, tại Vinh có
6 anh chị em và đều đã chết cả.
“Hắn ta là ai vậy? Hắn thường xuyên thay tên đổi họ và hiện đang dùng
một cái tên mà ngay cả người mù tịt về tiếng Việt cũng thừa hiểu nghĩa
là gì. Hắn không có một tí giấy tờ tuỳ thân nào từ Đông Dương, thế mà
dám can thiệp vào công việc chính trị của chính phủ, tham gia các đảng
phái, phát biểu tại các cuộc hội họp. Và còn cười vào mũi chúng ta bằng
những thông tin giả mạo”. Đó là nội dung báo cáo của Pierre Guesde cho
Bộ thuộc địa. Cũng theo báo cáo đó, mật thám Pháp đã nhận dạng chính xác Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Tất Thành.
Trong một thời gian dài, các phong trào xã hội Pháp do nhiều phe phái hợp thành:
- Những người theo Auguste Blanqui đòi lật đổ cái đã, xây dựng xã hội mới tính sau.
- Những nhà cải cách ôn hoà, đệ tử của Eduard Bernstein và Quốc tế II
- Những lý thuyết gia cấp tiến có nguồn gốc từ cách mạng Pháp chứ không phải Marx
- Những lãnh đạo công đoàn, đấu tranh đòi quyền lợi trước mắt và không quan tâm lắm đến ý thức hệ
Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất đã giáng một đòn mạnh vào sự thống
nhất mong manh trong một Đảng Xã Hội Pháp (FSD ) hỗn tạp. Và khi Lenin
đứng lên kêu gọi cuộc thánh chiến chống chủ nghĩa tư bản, các thành
viên của FSP phải lựa chọn chỗ đứng của mình. Tại hội nghị Strasbourg
tháng 2/1920, mặc dù đa số đồng ý ly khai với Quốc tế II, cũng còn rất
đông người phản đối gia nhập Quốc tế III. Cuộc tranh luận ngày càng trở
nên quyết liệt. Marcel Cachin và Tổng bí thư Louise Frossard sau khi
tham gia đại hội QTCS lần thứ hai ở Matxcơva, đã tổ chức một cuộc biểu
tình với khoảng 30 ngàn người tham gia tại ngoại ô phía Tây Paris ngày
13/8. Nguyễn Ái Quốc chen trong đoàn người lắng nghe Cachin nhân danh
Quốc Tế Cộng Sản (QTCS) phát động cuộc chiến đấu giải phóng các dân tộc
bị nô lệ, đánh thẳng vào thành trì của chủ nghĩa đế quốc. Trước thềm
đại hội Tour vào cuối tháng 12, các cuộc họp cấp địa phương diễn ra
liên miên, với hai nhóm tả hữu và lớp lưng chừng dưới cờ của Jean
Longuet. Nguyễn Ái Quốc ít tham gia tranh luận, khi phải phát biểu, ông
kêu gọi sự đoàn kết và chú ý đến các vấn đề thuộc địa: “Các đồng chí,
chúng ta đều là những nhà xã hội. Dù là quốc tế Hai, Hai rưỡi, hay Ba,
chúng ta đều cùng muốn giải phóng giai cấp công nhân... Trong lúc các
đồng chí tranh cãi ở đây, đồng bào của tôi đang chết dần chết mòn”
Nguyễn Ái Quốc được mời đi dự đại hội với tư cách đại diện cho nhóm các
đảng viên từ Đông Dương. Đại hội khai mạc ngày 25/12/1920 trong một
trường dạy đua ngựa cạnh nhà thờ St. Julian trên bờ nam sông Loire.
Gian đại hội được trang trí bằng các bức ảnh nhà xã hội Jean Jaure và
những khẩu hiệu kêu gọi giai cấp công nhân đoàn kết. Bục phát biểu được
dựng tạm bằng những tấm ván gỗ đặt lên trên các giá cưa. 285 đại biểu
đại diện cho 178,000 đảng viên, ngồi sau các bàn gỗ theo khuynh hướng
chính trị của mình. Nguyễn Ái Quốc ngồi với cánh tả do Marcel Cachin
lãnh đạo. Chủ đề chính của đại hội là có tham dự QTCS hay không? Với bộ
comple rộng thùng thình trên một cơ thể mảnh khảnh của đại biểu châu Á
duy nhất, Nguyễn Ái Quốc nổi bật giữa một đám hàng trăm tay người Âu
râu ria xồm xoàm. Vì thế ảnh Quốc được báo Le Matin đăng ngay sáng hôm
sau. Lần theo bức ảnh, cảnh sát mò đến định tóm Nguyễn Ái Quốc, nhưng
các đại biểu đã xúm vào bảo vệ được Quốc.
Nguyễn Ái Quốc đã lên diễn đàn ngay hôm đầu tiên của hội nghị. Ông nói
một mạch, không cần giấy tờ và đi thẳng vào vấn đề, đả kích sự tàn bạo
của chế độ thực dân và kêu gọi các nhà xã hội hành động ủng hộ các dân
tộc bị áp bức. Bài diễn thuyết của ông bị Jean Longuet cắt đứt với lý
do rằng ông ta đã bàn đến chuyện đấy rồi. Quốc đã nhanh trí ví von ngay
với quan điểm của Max (ông của Jean Longuet ): “tôi đành phải áp dụng
chuyên chính của sự im lặng”. Theo Quốc, chỉ có gia nhập quốc tế III
mới chứng tỏ rằng FSP đánh giá được tầm quan trọng của vấn đề thuộc
địa. “Nhân danh loài người, nhân danh tất cả các nhà xã hội cánh hữu và
cánh tả, chúng tôi khẩn thiết kêu gọi các đồng chí. Hãy cứu chúng tôi”
đó là những lời cuối cùng của bài phát biểu của Nguyễn Ái Quốc . Ngay
sau đó Jean Longuet vội vã giải thích rằng ông ủng hộ nhân dân Việt nam
và vấn đề đang được thảo luận ở quốc hội. Nhưng Couturier đã bác bỏ
luận điểm đó: nhân dân thuộc địa đang cần những hành động chứ không phải các cuộc thảo luận.
Ngày 27, Cachin chính thức đề nghị FSP chấp nhận những điều kiện của
Lênin và gia nhập quốc tế III. Hơn 70% đại biểu ủng hộ. Những người đối
lập đã rời khỏi hội trường để phản đối. Các đại biểu còn lại đã biểu
quyết tách ra khỏi FSP và thành lập Đảng cộng sản Pháp (FCP). Tuy nhiên
chẳng có cuộc thảo luận tiếp theo nào về vấn đề thuộc địa và chủ tịch
đoàn đã từ chối đề nghị (chắc là của Nguyễn Ái Quốc ) ra một thông cáo
ủng hộ các dân tộc thuộc địa.
Tại đại hội Tour, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra chính kiến rõ ràng, ông
không chỉ quan tâm đến sự thành công của cách mạng quốc tế mà còn cả
vận mệnh của dân tộc mình. Trong một nhận xét gửi cho bạn mình Quốc
viết: “Tôi không có may mắn được học hành trong trường đại học. Nhưng
tôi đã được học trong cuộc sống từ lịch sử, xã hội đến khoa học quân
sự. Người ta phải yêu quý điều gì? Khinh thường điều gì? Người Việt nam
chúng tôi yêu độc lập, lao động và tổ quốc”. Nhưng Nguyễn Ái Quốc cũng
bắt đầu cảm thấy thất vọng về các đồng nghiệp của mình ở FCP (Đảng cộng
sản Pháp ).
Tháng 2/1921, Nguyễn Ái Quốc bị ốm phải vào viện. Khi khỏi bệnh, Quốc
viết bài “Đông Dương” cho tạp chí Người Cộng sản. Bài báo đã thể hiện
thái độ phê bình gay gắt đối với sự thiếu quan tâm của FCP tới các vấn
đề thuộc địa. Ngược lại với quan điểm thế giới vô sản đại đồng, Nguyễn
Ái Quốc khẳng định: “các dân tộc Đông dương sẽ sống mãi”. Ông cũng từ
bỏ hy vọng giành được mục tiêu mà không phải dùng đến vũ lực. “Dưới bề
ngoài dễ bảo là sự bất bình đang sôi sục, chờ dịp bùng nổ”. Trong bài
báo thứ hai dưới cùng một tiêu đề viết trong tháng 5, Nguyễn Ái Quốc đề
cập đến khả năng tiến hành cách mạng tại các nước thuộc địa. Nên nhớ
rằng, tại thời điểm đó, các nhà cách mạng cấp tiến châu Âu cho rằng
phải còn lâu các dân tộc chậm tiến mới có thể tiến hành cách mạng. Cũng
trong tháng đó, Stalin đăng đàn trên báo Sự thật khẳng định “các dân
tộc tiên tiến sau khi tự giải phóng bản thân, sẽ có trách nhiệm giải
phóng các dân tộc chậm tiến”. Về phía mình, Nguyễn Ái Quốc cho rằng các
điều kiện cách mạng đã hình thành ở Trung quốc và Nhật bản, rất có thể
một ngày gần đây, Trung quốc sẽ là đồng minh với Nga trong cách mạng
toàn cầu. Quả là một sự tiên tri khi tình hình ở Trung quốc lúc đó còn
đang rối ren sau cái chết của Viên Thế Khải và Tôn Dật Tiên thì phải đi
tị nạn.
Nguyễn Ái Quốc đã dẫn ra những chứng cớ lịch sử cho rằng chủ nghĩa cộng
sản có nhiều cơ hội để phát triển ở châu Á hơn châu Âu. Người Trung hoa
cổ đại đã áp dụng hệ thống “bình điền”, chia ruộng đất thành những phần
bằng nhau cho nông dân và dành một phần cho ruộng công. Hơn 4000 năm
trước, nhà Hạ đã áp dụng chế độ lao động bắt buộc. Và chính Khổng Tử đã
qua mặt Quốc tế cộng sản khi tuyên truyền học thuyết về bình đẳng tài
sản từ thế kỷ 6 trước công nguyên. Ông nói, sẽ không có hoà bình cho
thế giới cho đến ngày xây dựng được một nhà nước toàn cầu. Ông còn
thuyết giảng: “người ta không sợ có ít, chỉ sợ chia không bình đẳng”.
Một trong những học trò của ông là Mạnh Tử còn đi xa hơn trong việc xây
dựng kế hoạch chi tiết cho sản xuất và tiêu thụ. Những truyền thống như
vậy vẫn còn ảnh hưởng to lớn trong những xã hội châu Á. Chẳng hạn, Việt
nam đã áp dụng những hạn chế trong việc mua bán đất đai, 1/4 đất ruộng
được sử dụng như tài sản công. Khi các dân tộc châu Á thức dậy, họ sẽ
trở thành một thế lực to lớn của cách mạng, lật đổ chủ nghĩa đế quốc
toàn cầu.
Nguyễn Ái Quốc còn dùng ngòi bút của mình để vạch trần những ảo tưởng
của xã hội văn minh Pháp. Trong bài báo với nhan đề: “nền văn minh
thượng đẳng”, viết tháng 9 năm đó, Nguyễn Ái Quốc chế diễu nguyên tắc
tam ngôi của cách mạng Pháp, sử dụng những ví dụ cụ thể trong một cuốn
hồi ký của 1 người lính Pháp. Trong tờ Le Libertaire, Quốc kể lại những
sự tàn bạo của các thầy giáo Pháp ở trường quốc học Huế, ngay dưới khẩu
hiệu Aimez la France, qui vous protege. Chính quyền Pháp càng ngày càng theo dõi Nguyễn Ái Quốc chặt chẽ hơn vì sự cấp tiến của ông.
Đầu năm 1921, Allbert Sarraut lại mời Quốc lên Bộ thuộc địa và tuyên bố
“Nếu Pháp trả lập của Đông Dương cho ông, ông làm sao có thể điều hành
được. Các ông làm gì có đủ sức mạnh”. Nguyễn Ái Quốc đã trả lời “Ngược
lại, các ông sẽ thấy chúng tôi sẽ biết cách cai trị như thế nào. Nhật
bản và Xiêm cũng chẳng có bề dày lịch sử hơn chúng tôi, và họ là những
dân tộc tự do”. Đến đó, Allbert Sarraut chủ động đổi chủ đề. Việc Quốc
tham gia Đảng cộng sản Pháp đã làm tình hình tại Villa des Gobellin
thêm căng thẳng. Một người bạn thân của Quốc là Trần Tiến Nam đã tâm sự
với 1 cô bạn gái của mình (trong thời gian Đại hội Tour) là ít người
đồng tình với quan điểm của Nguyễn Ái Quốc.
Cảnh sát theo dõi ngôi nhà cũng thông báo là thường xuyên có những cuộc
cãi lộn. Mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm vào tháng Bảy. Ngày 6/6, Quốc tham
gia vào đoàn biểu tình công nhân kỷ niệm những chiến sĩ ngã xuống trong
Công xã Paris 1871, bị cảnh sát đánh tơi bời may mắn thoát được về nhà.
Bạn cùng phòng được một phen khiếp vía. Trần Tiến Nam vội vàng chuyển
chỗ vì sợ dính líu. Ngày 11/7, cảnh sát báo cáo đã xảy ra một cuộc cãi
vã lớn từ 9h tối tới tận sáng hôm sau. Quốc thu xếp hành lý bỏ đến ở
với mình là Võ Văn Toàn ở 12 Rue Buot. Một tuần sau, Paul Couturier thu
xếp được cho Quốc một căn phòng nhỏ tại số 9 ngõ cụt Compoint khu công
nhân Batignolles - Tây bắc Paris
*************
1. FSD - Đảng Xã Hội Pháp
2. FCP - Đảng cộng sản Pháp Chỗ ở mới thật là thảm hại so với tiện nghi tại Villa des Gobellin. Căn
phòng chỉ vừa đủ để kê một chiếc giường, một chiếc bàn nhỏ và tủ quần
áo. Cửa sổ nhòm thẳng vào tường nhà người khác. Không điện, nước, lò
sưởi. Công việc của Nguyễn Ái Quốc cũng thay đổi thường xuyên, anh làm
thợ tô màu cho Phan Chu Trinh đến ngày 7/1920. Sau đó chuyển sang vẽ
bích hoạ cho một nhà sản xuất đồ gỗ Tàu ở khu Latin. Lại chuyển đến
hiệu ảnh tại phố Froidevaux. Cuối cùng Quốc cũng tìm được một chỗ làm ở
hiệu ảnh gần nhà sau khi chuyển khỏi Villa des Gobellin. Nhưng đồng
lương còm cõi khoảng 40 fr/tuần có vẻ chẳng ảnh hưởng gì đến lối sống
của Quốc. Anh vẫn thường xuyên dự các cuộc miting, thậm chí ở tỉnh xa,
thăm triển lãm, đi thư viện, thù đãi bạn bè trong căn phòng nhỏ của
mình.Trong số những người quen mới có ca sĩ Maurice Chevalier và nhà
văn Collete. Chắc chắn là Nguyễn Ái Quốc được Đảng CS Pháp (FCP) tài
trợ thêm.
Cuộc chia tay tại Villa des Gobellin có lẽ đã được khơi mào bằng sự bất
đồng xung quanh việc thành lập Uỷ ban các vấn đề thuộc địa thuộc Đảng
Xã Hội Pháp(FSP). Khoảng giữa tháng sáu, Quốc đã dẫn Phan Chu Trinh đến
dự một cuộc họp của Uỷ ban. Vài tuần sau, Quốc dự cuộc họp thứ hai tại
Fontaineblau. Sau khi trở về 2 ngày, đã xảy ra cuộc cãi lộn cuối cùng
(cảnh sát còn thông báo là trước đó 1 ngày có 6 người đàn ông lạ mặt
đến căn hộ). Một trong những hoạt động đầu tiên của ủy ban là thành lập
Hội Liên thuộc địa, nhằm tạo một tiếng nói chung cho đại diện tất cả
các thuộc địa hiện đang sinh sống ở Pháp. Lúc mới thành lập hội có
khoảng 200 thành viên, chủ yếu là Việt nam và Madagascar, thêm vài
thành viên Bắc Phi và Ấn độ. Nguyễn Ái Quốc là động lực chủ yếu của tổ
chức mới cùng với Nguyễn Thế Truyền, Max Bloncourt, Hadj Ali người
Alger. Chính tại đây anh hiểu ra những khó khăn to lớn khi liên kết các
lực lượng thuộc địa thành một tổ chức thống nhất. Người Việt thì đòi
một tổ chức thuần Việt, người Phi thì cho rằng dân châu Á kiêu căng,
hợm mình. Một số phần tử cấp tiến châu Âu muốn tham dự thì lại bị cho
ra rìa... Các cuộc họp cứ vắng dần, từ hơn 200 người xuống còn khoảng
50. Trong một phiên họp thậm chí chỉ có 27 mống, kể cả hai cô gái Pháp,
bồ của các thành viên. Quốc cũng có một số bạn gái nhưng chẳng dính
dáng gì đến chính trị. Tuy nhiên Quốc cũng đã có một thành công nhỏ là
thuyết phục được Phan Văn Trường tham gia.
Hội họp chẳng phải là hoạt động duy nhất của Quốc trong thời gian này.
Anh đã học được từ những người bạn Pháp cách sử dụng các phương tiện
thông tin đại chúng để tuyên truyền cách mạng. Được sự đồng tình của uỷ
ban và Hội, Quốc thành lập báo Le Paria (Người cùng khổ) viết bằng
tiếng Pháp, nhưng có thêm tiêu đề tiếng Hoa và Arab. Báo ra hàng tháng
và số đầu tiên ra ngày 1/4/1922. Nguyễn Ái Quốc là tổng biên tập kiêm
phóng viên chính, và thỉnh thoảng kiêm luôn cả việc trình bày và phát
hành. Qua các trang Le Paria (Người cùng khổ), Quốc tiếp tục rèn luyện
kỹ năng viết báo của mình. Lối viết của anh đơn giản, không hoa mỹ,
chịu ảnh hưởng nhiều của Leo Tonstoi. Quốc chủ yếu dựa trên các sự kiện
và con số để nêu quan điểm của mình. Độc giả có cảm tưởng như Quốc là
một từ điển thống kê sống về cuộc sống khổ cực tại các thuộc địa. Đôi
khi, anh sử dụng giọng văn châm biếm thay cho các con số. Lối châm biếm
của anh cũng rất trực diện, đi thẳng vào vấn đề không mang tính triết
lý như Lỗ Tấn thời bấy giờ. Sau này, rất nhiều nhà nghiên cứu cũng
không thể hiểu nổi, tạo sao một con người có sự quyến rũ cá nhân sâu
sắc và một tính cách huyền ảo lại có thể áp dụng một cách hành văn có
vẻ vụng về và đơn giản như vậy. Đây chính là chìa khoá của tính cách và
sự hiệu quả trong hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Không giống như
nhiều lãnh tụ Marxist khác, Hồ Chí Minh luôn coi độc giả của mình là
tầng lớp bình dân: nông dân, thợ thuyền, viên chức, binh lính, chứ
không phải các trí thức của xã hội. Ông không có ý định gây ấn tượng
bằng sự uyên bác, sắc sảo của mình mà thuyết phục độc giả bằng sự đơn
giản và sống động, để chia sẻ các quan điểm về thế giới và con đường
tiến tới thay đổi. Độc giả sành điệu sẽ có khi cảm thấy chán ngấy,
ngược lại, những bài viết tố cáo, kêu gọi lại có sức mạnh phi thường.
Phút chốc, Người cùng khổ đã trở nên nổi tiếng là tiếng nói đại diện
cho các dân tộc bị áp bức. Bất cứ ai sẽ bị bắt ngay lập tức nếu bị bắt
gặp đang đọc báo. Nguyễn Ái Quốc nhớ lại “Hầu như tất cả các số báo đều được Bộ thuộc địa mua hết”.
Tuy nhiên một số lượng nhỏ cũng được chuyển về các thuộc địa qua kênh
các thuỷ thủ. Đồng thời, Nguyễn Ái Quốc vẫn tiếp tục viết cho các báo
cánh tả khác tại Paris.
Năm 1922, Khải Định sang Pháp dự Triển lãm thuộc địa, được tiến hành từ
tháng 4 đến tháng 8 tại Marseille. Mặc dù đã được Sarraut đề nghị im
lặng, Nguyễn Ái Quốc và Phan Chu Trinh vẫn tận dụng cơ hội này. Trên tờ
Dán báo, 9/8/1922, Quốc miêu tả Khải Định như một món đồ trang trí được
bày trong tủ kính của Triển lãm trong khi dân chúng thì bị đày xuống
bùn đen. Nguyễn Ái Quốc còn viết vở kịch “Con rồng tre” được công diễn
tại CLB Fabourg. Sự khinh quân này đã đẩy cha con Nguyễn Ái Quốc tới sự
chia rẽ sâu sắc hơn. Khi nhận được tin con, Sắc đã tuyên bố, đứa con
nào không công nhận hoàng đế, đứa con đấy cũng không có cha.
Chuyến đi thăm của Khải Định là cơ hội cuối cùng cho Quốc và Trinh đứng
trên một trận tuyến. Trước đó, tháng 2/1922, Trinh đã gửi cho Quốc một
lá thư. Mặc dù vẫn bảo vệ quan điểm của mình về việc nhấn mạnh giáo
dục, Trinh tự nhận mình là một “con ngựa già”, con Quốc đang là một
“chú ngựa hoang” đầy sức sống. Tuy nhiên Trinh khuyên Quốcđừng mất thời
giờ tại nước ngoài như Phan Bội Châu mà hãy về nước chiến đấu. Nếu
chẳng may thất bại, sẽ có người khác đứng lên tiếp tục. Quốc lại có
những kế hoạch khác. Bây giờ anh đã trở nên một nhân vật chủ chốt trong
phong trào cấp tiến của Pháp. Được sự trợ giúp của George Pioch, kỹ
năng phát biểu của anh đã hoàn thiện và Quốc thường xuyên tranh luận
với các lãnh đạo chủ chốt của Đảng CS Pháp (FCP). Anh cũng bị mật thám
Pháp quan tâm kỹ lưỡng. Ngày 22/6/1922, Albert Sarraut lại mời Quốc lên
Bộ thuộc địa. Sau khi đe doạ sẽ trừng trị thẳng tay những hoạt động
nhập khẩu cách mạng vào Đông Dương, Albert Sarraut định mua chuộc Quốc:
“Tôi rất kính trọng ý chí của anh. Hãy để quá khứ thành quá khứ. Chúng
ta đã là bạn. Khi nào anh cần gì cứ bảo tôi”. Nguyễn Ái Quốc đứng dậy
cám ơn và nói: “Điều tôi cần nhất trong cuộc đời là độc lập cho đồng bào của tôi. Xin phép ngài cho tôi đi”.
Vài ngày sau, Quốc viết thư cho Bộ thuộc địa. (Bức thư này cũng được
công bố trong báo Nhân đạo và Người cùng khổ). Trong thư Quốc đã cám ơn
chính phủ Pháp đã cung cấp một số “phụ tá” (tức các mật thám theo dõi)
và rất lấy làm “xấu hổ” vì đã tiêu tốn mồ hôi của giai cấp vô sản. Quốc
cũng cung cấp luôn lịch hoạt động hàng ngày của mình
“Sáng: từ 8h-12h, tại cửa hàng
Chiều:tại toà báo
Tối: ở nhà hoặc đi học
Chủ nhật/ngày nghỉ: viện bảo tàng, thăm quan
Tôi mong rằng phương pháp này sẽ làm Ngài hài lòng, kính thư - Nguyễn ái Quốc”
Sarraut tất nhiên là chẳng có bụng dạ nào để ý đến sự châm biếm của
Quốc. Ông này liên lạc với Toàn quyền Đông dương Maurice Long, đề nghị
bắt và đưa về VN. Long cho rằng cứ nên giữ Quốc ở Pháp, dễ theo dõi
hơn. Sarraut lại đề nghị đầy Quốc đến vùng Nam Trung Quốc. Long cũng
không đồng ý, sợ Quốc có thể lãnh đạo cách mạng trong nước từ đó. Tuy nhiên điều làm Quốc thất vọng hơn cả là thái độ của các đồng chí
trong cánh tả Pháp về vấn đề thuộc địa. Sau khi xuất hiện rùm beng, Hội
Liên thuộc địa nhanh chóng bị lãng quên. Theo Quốc ngay cả báo Nhân đạo
cũng không quan tâm đến vấn đề đúng mức. Quốc cho rằng các báo tư sản
còn miêu tả thuộc địa kỹ hơn, thậm chí đã tạo cho mọi người hình ảnh
các nước thuộc địa hết sức mỹ mãn: “cát, mặt trời, gió biển, những hàng dừa xanh và các thổ dân loè loẹt”.
Điều này làm cho giọng điệu của Quốc ngày càng trở nên chống Pháp.
Trong loạt bài báo miêu tả cảnh khổ cực của các công nhân cảng
Marseilles cuối năm 1921, Quốc đã ký tên Nguyễn Ô Pháp (tức là ông
Nguyễn ghét Pháp). Quốc còn tranh luận nảy lửa với một lãnh đạo của FCP
về vấn đề thuộc địa. Đến nỗi, Jacques Doriot - một ngôi sao mới nổi của
FCP phải thì thầm khuyên Quốc dịu giọng.
Tháng 3/1923, một mặt để tiết kiệm tiền, mặt khác tiện làm việc, Quốc
chuyển từ ngõ Compoint đến căn phòng 100fr/tháng ở tâng trên của trụ sở
báo Người Cùng Khổ tại Rue du Marche des Patriarches. Đây là chỗ ở cuối
cùng của Quốc ở Paris. Một nhân vật Việt nam quan trọng đã giúp Quốc
rất nhiều trong việc phát hành báo là Nguyễn Thế Truyền. Truyền sinh
năm 1898, đến Paris năm 1920 để nghiên cứu kỹ nghệ. Năm 1921 Truyền gia
nhập FCP và trở thành đồng minh thân cận nhất của Quốc trong cộng đồng
Việt nam.
Trong một lần đại hội FCP vào tháng 10 năm trước, Nguyễn Ái Quốc gặp
Dmitri Manuilsky, đại diện của QTCS tại Liên xô. Ông này rất đắc ý nghe
Quốc đả phá kịch liệt sự thiếu quan tâm đến các vấn đề thuộc địa của
FCP. Nhiều tháng sau, khi Mauilsky được phân công chuẩn bị bản báo cáo
về các vấn đề dân tộc và thuộc địa cho Đại hội 5 QTCS mùa hè năm 1924,
ông lập tức nhớ đến chàng thanh niên Việt nam đầy nhiệt huyết. Quốc
được mời đến Moscow làm việc cho QTCS.
Đối với Quốc, lời mời đến Moscow là phần thưởng to lớn cho nhiệt huyết
anh đã bỏ ra cho Đảng. Đây cũng là cơ hội to lớn để Quốc quay về châu Á
và Việt nam. Nhưng vốn tính cẩn thận, Quốc thông báo cho bạn bè là
chuẩn bị đi nghỉ 3 tuần ở miền Nam Pháp. Ngày 13/6/1923, sau khi không
để lại một chút nghi ngờ nào cho 2 “trợ lý” của cảnh sát Pháp, Quốc đi
ra cửa sau của một rạp chiếu bóng, đến Gare du Nord và lên tàu đi
Berlin trong vai một nhà buôn châu Á giàu có. Đến Berlin, Quốc đi tiếp
đến Hamburg, lên tàu Karl Liebknecht đến nước Nga Xô viết. Ngày 30/6
Quốc cập bến Petrograd với hộ chiếu của một nhà buôn Trung quốc - Trần
Vang Chuyến đi của Nguyễn Ái Quốc đã làm cho cả cảnh sát Pháp và những
người bạn của Quốc nhức đầu. Quốc đã chính thức nói không với con đường
cải cách của Phan Chu Trinh để đi theo Vladimir Lenin.
“Mặc dù Quốc còn trẻ và có thể có những hành động thiếu suy nghĩ.
Nhưng điều quan trọng là anh ta có một trái tim của con người yêu nước.
Anh đã chọn con đường cô đơn và đầy gian khó để giải phóng dân tộc
mình. Và tất cả chúng ta phải kính trọng trái tim can đảm đó”. Đó
là những lời tâm huyết của Phan Chu Trinh dành cho người đồng chí trẻ
tuổi của mình trong bức thư gửi cho bạn bè tháng 9/1923.
|