|
4. Con Rồng Cháu Tiên
Châu Á năm 1924 đã khác xa so với thời Quốc ra đi năm 1911. Mặc dù Thế
chiến thứ Nhất không phá vỡ hệ thống thuộc địa tại Nam và Đông Nam á,
Trung quốc đã thay đổi sâu sắc. Mùa thu năm 1911, một cuộc cách mạng đã
phá vỡ triều đình Bắc Kinh. Những người nông dân của Tôn Dật Tiên đã
nổi dậy lật đổ nhà Thanh nhưng đã không qua mặt được Viên Thế Khải.
Tháng 2/1912 Tôn Dật Tiên đã buộc phải nhường chức tổng thống của nước
cộng hoà mới thành lập cho Viên Thế Khải với trụ sở tại Bắc kinh. Viên
Thế Khải thực chất muốn trở thành hoàng đế. Tuy nhiên đảng viên của
Tôn, chiếm gần nửa trong nghị viện đã không cho Viên thực hiện điều
này. Tháng Giêng năm 1914, Viên giải tán quốc hội và điều hành bằng sắc
lệnh. Đảng của Tôn bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Tôn phải chạy ra
nước ngoài. Năm 1916, Viên đột ngột qua đời. Trung Hoa rơi vào vòng
loạn đả của các thủ lĩnh địa phương. Mặc dù chính quyền vẫn còn tồn tại
một cách mong manh tại Bắc kinh, nhưng men xã hội đã tích luỹ khắp nơi.
Tháng 1/1919, sinh viên nổi dậy tại Bắc Kinh và các thành phố lớn. Cũng
năm đó, Tôn đổi tên đảng thành Quốc dân Đảng, hùng cứ tại Quảng Châu
(dưới sự bảo trợ của một thủ lĩnh địa phương). Tháng 4/1921, Tôn tuyên
bố thành lập nước cộng hoà mới và tự phong làm tổng thống.
Tại Nga, sau khi tạm yên tình hình trong nước, năm 1920, đảng bộ Viễn
đông được thành lập tại Iakurst để lãnh đạo phong trào cộng sản vùng
Viễn đông-Thái Bình dương. Grigorin Voitinsky được cử sang Trung Quốc.
Sau khi ở BK một thời gian ngắn, ông sang Thượng hải và bắt đầu tụ tập
các lực lượng cách mạng trong vùng. Mùa hè năm 1922, Đảng cộng sản
Trung Quốc được thành lập tại Thượng hải. Maring (đảng viên cộng sản
người Hà lan), người được cử thay Vointinsky phụ trách Quốc tế cộng sản
tại Trung Quốc đã rất kiên quyết yêu cầu ĐCS Trung Quốc kết hợp với
Quốc dân Đảng. Tháng giêng 1923, hai đảng ký thoả thuận Nội Liên (bloc
within) để thành lập mặt trận thống nhất Trung Quốc dưới sự hỗ trợ của
Nga. Các đảng viên ĐCS Trung Quốc được mời tham dự Quốc dân Đảng
Tại Đông Dương, tình hình cũng thay đổi nhanh chóng, mặc dù có thể
không nhanh như bên Trung Hoa. Dân số ở cả 3 miền tăng từ 7 triệu năm
1880 đến 16 triệu năm 1926 (Tokin: 6, Annam: 5 và khoảng hơn 4 triệu
tại Cochin China). Mặc dù vẫn là đất nước nông nghiệp nặng nề, đến giữa
những năm 20 đã có khoảng 1 triệu dân sống ở các đô thị, chủ yếu là Hà
nội và Sài gòn.
Phong trào đấu tranh giành độc lập cho Việt nam đã hầu như suy sụp.
Những nhà cải lương phải im tiếng sau khi Phan Chu Trinh bị bắt và đày
sang Pháp. Phan Bội Châu khởi đầu khá ấn tượng, lôi kéo được sự hỗ trợ
của nhiều nhà yêu nước xuất chúng, cũng dần dần héo hắt sau mấy cuộc
khởi nghĩa vội vàng thất bại, đặc biệt sau khi Phan Bội Châu bị bắt ở
Nam Trung quốc.
Năm 1911, nghe tin cuộc cách mạng của Tôn Trung Sơn, Phan Bội Châu đã
từ bỏ ý định phục hồi chế độ quân chủ, lập ra đảng mới: Việt nam Quang
phục Hội. Mục tiêu của Châu là xây dựng mô hình nước cộng hoà kiểu Tôn.
Năm 1912, Châu gặp Tôn và được hứa Việt nam sẽ là nước đầu tiên được
giúp đỡ một khi cách mạng thành công tại Trung hoa. Đáng tiếc sau đó,
Châu bị mấy thủ lĩnh địa phương tống giam vì các hoạt động lật đổ. Năm
1917, khi Châu ra tù, Quốc dân đảng đã bị mất quyền, Tôn thì đã chạy
sang Nhật bản. Một lần nữa hy vọng vào sự trợ giúp của nước ngoài bị
tan vỡ. Có vẻ như Châu đã hoàn toàn mất hết kiên nhẫn, ông thậm chí còn
đề nghị hợp tác với Pháp, hy vọng vào sự cải cách của chế độ thực dân.
Đầu những năm 20, bộ máy cách mạng của Châu tại Việt nam thực tế đã tan
vỡ. Châu ra sống lưu vong tại Nam Trung hoa với một số những môn đệ gần
gũi nhất. Thời kỹ Phan Bội Châu rõ ràng đã đến hồi kết thúc. Hai Phan thất bại đã cho thấy một sự thay đổi lớn lao trong xã hội Việt
nam. Tầng lớp quý tộc-học giả truyền thống, những người đã chi phối nền
chính trị Việt nam hàng thế kỷ qua, đã mất dần ảnh hưởng. Mặc dù nhiều
học giả đã nhận thức được sự thay đổi của thời cuộc và vai trò ngày
càng tăng của quần chúng, như một giai cấp, họ không cảm thấy tự tin.
Phan Bội Châu nhắc nhiều đến hình ảnh: “hàng chục nghìn anh hùng vô danh, đánh đuổi thực dân Pháp”,
nhưng đảng viên của ông chỉ gồm toàn những học giả với đời sống khá
giả. Mặc dù cương lĩnh của đảng là cổ vũ thương mại và công nghiệp,
thành phần lãnh đạo đảng lại chủ yếu là các địa chủ. Những nhà quý tộc
giàu có khăn áo thướt tha mở cửa hàng để quyên vốn cho đảng, thực chất
coi khách hàng bằng nửa con mắt.
Khoảng cuối chiến tranh thế giới thứ nhất, chế độ thi cử kiểu Khổng tử
bị bãi bỏ trên khắp Việt nam. Chữ quốc ngữ được phổ biến ở khắp 3 miền.
Mặc dù đa số thanh niên vẫn phải học ở các thầy đồ làng truyền thống,
con cháu của các quý tộc đã được gửi đi học tại các trường kiểu Pháp
như Quốc học. Họ được dạy bằng tiếng Pháp và được tiếp tục đưa sang
Pháp đào tạo. Cùng lúc đó, một tầng lớp trung lưu mới được hình thành.
Họ là những nhà buôn, chủ hãng hoặc công chức trong các công sở của
người châu Âu. Họ ngưỡng mộ lòng yêu nước của Phan và các bạn, nhưng
trong lòng họ giễu cợt các quan điểm bảo thủ. Họ mặc đồ Tây, uống vang
Bordeaux và nói tiếng Pháp. Nhà văn Pháp Paul Monet miêu tả họ như: “nguyên mẫu của nền văn minh Pháp, bị tách khỏi những tín ngưỡng truyền thống, hoàn toàn coi thường Khổng tử vì họ không hiểu”. Các quan chức thuộc địa Pháp vui mừng vì có những thành quả đầu tiên của quá trình văn minh hoá. Họ không hề ngờ rằng, chính thế hệ này mới là những người thách thức sự thống trị của họ.
Những hành động bất nhất của nhà cai trị Pháp vô tình lại tăng thêm nỗi
thất vọng của dân Việt. Năm 1919, toàn quyền Albert Sarraut hứa hẹn: “sẽ coi những con dân của mình như người anh em và dần dần phục hồi toàn bộ nhân quyền”.
Ngay cả Nguyến Ái Quốc khi đó đang ở Paris, cũng không khỏi khấp khởi
một chút hy vọng mong manh về đất nước đã sản sinh ra khẩu hiệu: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”.
Tuy nhiên sau khi Albert Sarraut được thăng chức đưa về cố quốc, chẳng
ai hơi đâu nhớ đến những lời hứa đó nữa. Hệ thống trường học thiếu
tiền, cả nước chỉ có khoảng 5000 học sinh trung học. Nếu trước đây
trong chế độ phong kiến, có đến 25% dân số có khả năng giải mã được
trên những ký tự ngoằn ngoèo của chữ Hán, thì sau chiến tranh thế giới
thứ nhất, tỷ lệ biết chữ (kể cả quốc ngữ hay chữ Hán) chỉ vào khoảng
5%. Những thống kê này đặt một dấu chấm hỏi to đùng lên “Sứ mệnh mang lại nền văn minh”
của thực dân Pháp. Mặc dù không ít người Việt nam đã cống hiến cho mẫu
quốc trong thế chiến thứ Nhất, họ vẫn không bộ máy thực dân công nhận
ngay tại nước mình. 10000 viên chức Pháp được trả lương cao gấp nhiều
lần đồng nghiệp Việt nam. Đại đa số trong hơn 40000 người châu
Âu, nhiều người đến Việt nam “trên răng, dưới dép”, nay khá giả nhìn
dân bản địa không khác gì một con chó.
Chính quyền độc quyền sản xuất muối, thuốc phiện và rượu bán cho dân
với giá cắt cổ. Hơn 500 ngàn nông dân không ruộng đất, phải cày thuê
cuốc mướn, nộp tô đôi khi tới 50% mùa màng cho khoảng 5 vạn địa chủ.
Georges Garros, trong cuốn sách xuất bản giữa thập kỷ Forceries
humaines lạnh lùng nhận xét: người Pháp mà rơi vào hoàn cảnh ấy, chắc chắn sẽ làm cách mạng.
Về phần mình, trong cuộc trả lời phỏng vấn Ossip Mandelstam năm 1923
tại Moscow, Nguyến Ái Quốc miêu tả Việt nam như một dân tộc: “bị đẩy
vào địa ngục”.
Một lớp các nhà hoạt động chính trị mới ra đời khoảng giữa những năm 20
là con đẻ của tâm trạng vỡ mộng của xã hội. Họ được đào tạo theo hệ
thống trường Tây, ngưỡng mộ văn hóa Tây, đọc sách báo Tây nhưng phẫn nộ
vì sự bất công mà nhà cầm quyền Pháp áp đặt cho đồng bào của mình. Họ
đòi hỏi: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” cho dân tộc mình. Những hạt giống
phản kháng đầu tiên nảy mầm ở Sài gòn nơi khoảng cách giàu nghèo, bản
xứ và ngoại quốc rõ rệt nhất. Sài gòn cũng là nơi tập trung nhiều ngoại
kiều và công
nhân nhất do sự phát triển kinh tế nhanh chóng. Người đầu tiên là nhà
địa chủ Bùi Quang Chiêu, người mà Nguyến Ái Quốc đã từng gặp trong
chuyến xuất ngoại đầu tiên của mình. Ông ra tờ báo La Tribune Indigene
và thành lập Đảng Hiến pháp, đảng chính trị đầu tiên ở Đông dương. Mặc
dù Chiêu và các đồng sự gây sức ép đòi Pháp cho người Việt nam nhiều
quyền hơn nữa trong đời sống chính trị, mục tiêu của các ông là giảm sự
thống trị của Hoa kiều trong lĩnh vực kinh tế.
Người mà người Pháp sợ hơn là Nguyễn An Ninh. Ông này là con của một
nhà nho Nam bộ, có liên quan đến Trường Tự do Hà nội, sau đó tham gia
vào phong trào kháng chiến của Phan Bội Châu. Ninh tốt nghiệp luật ở
Paris, đã từng gặp Nguyến Ái Quốc và tỏ ra rất ham thích chính trị. Về
nước đầu những năm 20, Ninh ra báo: La Cloche Felee (Tiếng chuông rè)
để kêu gọi tinh thần yêu nước của dân chúng và đòi cải cách chính trị.
Cũng như Phan Chu Trinh, Ninh ngưỡng mộ văn hoá phương Tây và coi đó là
sự bù đắp cho nền Nho giáo kìm hãm sự sáng tạo của con người. Theo ông
đó là nguyên nhân mà ta mất nước. Ông kêu gọi khởi xướng một nền văn
hoá mới, không bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng du nhập của Khổng tử và
Lão tử. Cũng như Mahamat Ghandi, Ninh cho rằng giải pháp nằm trong vấn
đề tinh thần và chỉ có thể tìm thấy trong nhân dân. Ảnh hưởng của Ninh
mạnh đến nỗi đại sứ Maurice Cognacq phải mời lên thẩm vấn. Ngài đại sứ
thông báo là các hoạt động của Ninh đã bị theo dõi chặt chẽ và Ninh
phải thôi ngay, nếu không ngài sẽ buộc phải có những hành động không
hay. Ngài còn châm biếm, dân Việt còn ngu lắm, làm sao hiểu được những
điều ông phát biểu, tốt hết là ông hãy đến Moscow. Ninh bỏ ngoài tai và
vẫn tiếp tục hoạt động. Khi Nguyễn Ái Quốc đến Quảng đông tháng 11/1924, thành phố đang náo
động vì hàng ngàn người đổ ra bờ sông để bày tỏ sự ủng hộ đối với chính
quyền Tôn Trung Sơn và tiễn tổng thống đi Bắc kinh. Từ tháng giêng năm
1923, theo sự thoả thuận với Maring mật vụ của Quốc Tế Cộng Sản,Tôn thi
hành chính sách: Nội liên, đưa một số Đảng viên CS Trung Quốc vào những
vị trí quan trọng của Quốc dân đảng. Sau khi đại diện của Quốc Tế Cộng
Sản- Mikhail Borodin đến Quảng đông, Quốc dân đảng được tái cơ cấu theo
đường lối của Lê nin. Học viện quân sự Hoàng phố được mở ra để đào tạo
các sĩ quan trẻ cho cách mạng. Tưởng Giới Thạch, cánh tay phải của Tôn
được bổ nhiệm làm Giám đốc, Chu Ân Lai làm chính uỷ học viện.
Quyết định của Tôn nghiêng về nước Nga xô viết và hợp tác với Đảng CS
Trung Quốc làm cho giới ngoại giao và thương mại phương tây ở Quảng
đông sôi máu. Mùa hè năm 1924, chính quyền Anh ra lệnh đàn áp các cuộc
biểu tình của công nhân trên Đảo Sa điện. Đáp lại, công nhân công bố
tổng bãi công. Chính phủ Tôn cử quân đội đến ủng hộ các công nhân bãi
công. Hội Công thương Quảng đông (chủ yếu gồm các thương gia phương
Tây) thành lập các đội du kích vũ trang để bảo vệ cộng đồng phương tây.
Đã xảy ra các cuộc đụng độ giữa họ và quân đội chính phủ. Tình hình bắc
Trung quốc cũng thay đổi nhanh chóng. “Tướng Thiên chúa” Phương Du
Tường lật đổ Vu Bắc Phú ở Bắc kinh. Phương có cái nhìn thiện cảm với
chế độ của Tôn và mời Tôn lên Bắc kinh đàm đạo. Tôn đồng ý.
Mặc dù không được giao nhiệm vụ rõ ràng, vừa đến Quảng châu, Nguyễn Ái
Quốc đã ngay lập tức bắt liên lạc với Borodin và được ông này mời đến ở
cùng với mình tại Bao công Quán, một biệt thự ngay cạnh cơ quan trung
ương của Quốc dân đảng. Tầng 1 là văn phòng của 20 nhân viên phái bộ
QTCS. Tầng 2, Quốc và Borodin ở. Cả hai đã từng gặp nhau ở Moscow, cùng
nói được tiếng Anh (Borodin đã ở Chicago) và cùng chia sẻ mục tiêu thúc
đẩy cách mạng ở châu á. Vì thế nên họ nói chuyện rất tâm đầu ý hợp. Để
che mắt mật thám Pháp, Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Lý Thuỵ. Chỉ có
Borodin và vợ biết được danh tính của Nguyễn Ái Quốc. Quốc được phân
vào phân xã của cơ quan thông tấn Xô viết ROSTA. Trong các bài viết về
Moscow, Quốc thường ký tên Nilovskii. Thỉnh thoảng Quốc còn làm việc
phiên dịch hoặc đại diện cho Quốc tế nông dân. Tuy nhiên, mục đích
chính của chuyến trở về của Nguyễn Ái Quốc là xây dựng hạt nhân cho một
đảng mới theo kiểu Lenin, từ đó tìm cách đưa phong trào cách mạng Việt
nam vào tổ chức, theo ý chỉ của mình.
Sự hiểu biết của các nhà cách mạng Việt nam lúc đó về chủ nghĩa Max và
cuộc cách mạng Nga lúc đó hết sức đơn giản. Một nhà dân tuý nói: “Chúng
tôi không theo chủ nghĩa cộng sản, chúng tôi theo những người cộng sản,
bởi vì họ hứa sẽ mang lại quyền tự quyết cho các dân tộc. Chúng tôi chờ
đợi họ như những vị cứu tinh.” Có người còn ngây thơ: “Nếu phương Tây căm thù người Nga và những người cộng sản, họ phải là những người tốt.”.Nguyễn
Ái Quốc không hề có một ảo tưởng nào. Từ năm 1922, trong một bài báo
viết tại Paris, ông nhận xét, đa số nhân dân tại thuộc địa hiểu
Bolsevism là: “Đạp đổ tất cả hoặc tẩy chay nước ngoài. Cả hai cách hiểu đều nguy hiểm”. Quần chúng “đã sẵn sàng nổi dậy, nhưng họ không biết bắt đầu như thế nào”.
Việc xây dựng một đảng đại diện cho các tư tưởng Max và Lenin nhưng lại
đáp ứng được khát vọng: độc lập dân tộc của đông đảo quần chúng, là một
việc cấp bách nhưng vô cùng khó khăn.
Người Việt nam nổi tiếng nhất ở Trung Quốc khi đó là Phan Bội Châu. Sau
khi ra tù vào năm 1917, Châu đã có một thời ve vãn ý tưởng dàn xếp với
Pháp nhưng nhanh chóng vỡ mộng. Ông xoay sang dưỡng lão tại Hàng Châu ở
nhà của đệ tử có tên là Hồ Học Lâm. Tuy đã 55 tuổi, lại chẳng có cơ sở
nào ở trong nước, nhưng hình ảnh một nhà cách mạng lão thành quắc thước
với bộ râu quai nón và cặp kính trắng lạnh lùng vẫn có sức hấp dẫn lớp
trẻ. Khoảng đầu những năm 20, một nhóm các thanh niên trí thức Việt nam
do Lê Hồng Phong, Lê Văn Phan (sau này gọi là Lê Hồng Sơn), Lê Quang
Đạt và Trương Văn Lệnh dẫn đầu đã vượt biên sang nhận Châu làm sư phụ.
Một điều thú vị là nhóm này hầu như đều đến từ Nghệ an và sau đều trở
thành nòng cốt của tổ chức cách mạng do Quốc thành lập. Nhóm thanh niên
kích động này nhanh chóng cảm thấy tù túng với tổ chức của Châu. 8
tháng trước khi Quốc tới Quảng châu, tháng 3/1924, họ tách ra thành lập
tổ chức mới lấy tên là Tâm Tâm Xã. Nóng nảy và dễ kích động, họ cho
rằng mọi thứ lý thuyết đều vớ vẩn, họ theo đuổi đường lối của Auguste
Blanqui ở châu Âu thế kỷ 19, người đã kích động khởi nghĩa tại Pháp,
Italia và Tây ban nha. Mục tiêu của tổ chức là tuyên truyền và khủng bố
để châm ngòi cho việc lật đổ chế độ cai trị của Pháp.
Người đỡ đầu cho tổ chức là Lâm Đức Thụ. Ông này tuy đã 36 tuổi và giàu
có nhờ lấy một bà vợ giàu, nhưng sinh ra trong một gia đình chống Pháp,
lại có tiền và quan hệ rộng rãi nên rất có uy tín. Trụ sở của Tâm Tâm
Xã đóng ngay tại hiệu thuốc của vợ chồng Thụ tại Da Trường, một phố nhỏ
gần trụ sở QTCS. Một trong những phi vụ đầu tiên của nhóm là đánh bom
toàn quyền Đông dương Martial Merlin khi tay này đến thăm Quảng đông
tháng 6/1924. Đáng ra chàng thanh niên ngăm đen đẹp trai Lê Hồng Sơn sẽ
xử lý vụ này, tuy nhiên anh này với biệt danh “Hit man” quá quen mặt
với cảnh sát. Phạm Hồng Thái, một chàng trai mới lò dò từ Đông dương
sang được giao nhiệm vụ thay thế. Anh này là con một viên quan đã từng
tham gia phong trào Cần vương ở Nghệ An, được tiêm nhiễm tư tưởng cách
mạng trong thời gian học tại trường Pháp ở Hà nội. Sau một thời gian
làm thợ cơ khí ở ga ra, rồi thợ mỏ, Thái cùng các bạn là Lê Hồng Phong
và Hồ Tùng Mậu chuồn sang Trung Quốc. Tối 19/6, khách sạn Victoria trên đảo Sa điện ồn ào những lời chúc tụng
nhân đại tiệc chúc mừng toàn quyền Pháp. Đúng 8:30, khi món súp đang
được dọn ra thì một tiếng nổ đinh tai nhức óc đã biến bàn tiệc thành
một địa ngục. Năm thực khách chết ngay tại chỗ, hàng chục người khác bị
thương nằm la liệt. Trên đường trốn chạy, Thái nhảy xuống sông và chết
đuối trên sông Châu Giang. Thoát chết trong gang tấc, Merlin rời Quảng
châu ngay hôm sau trong khi đám tang người liệt sĩ trẻ được tổ chức
trọng thể. Đây là vụ ám sát một quan chức cao cấp châu Âu đầu tiên ở
châu Á. Tiếng bom Sa điện đã gây một cú sốc lớn trong cộng đồng người
Pháp và tôn Phạm Hồng Thái lên vị trí “tử vì đạo”. Chính quyền Tôn
Trung Sơn quyết định dựng bia tưởng niệm. Phan Bội Châu thì tranh thủ
vụ việc để “đánh bóng” lại hình ảnh của mình. Ông này viết một bài tiểu
sử về Thái như một cộng sự trong tổ chức của ông.Tháng 7/1924, trong
chuyến đi dự lễ khai trương bia tưởng niệm Thái, Châu đã trao đổi với
một số đệ tử về việc thay Quang Phục Hội bằng Việt nam Quốc dân đảng,
theo mô hình đảng của Tôn. Châu trở về Hàng châu tháng 9/1924.
Mặc dù Merlin thoát hiểm nhờ có một thực khách có hình dạng giống
ngài toàn quyền một cách kỳ lạ (vị này chết ngay tại chỗ), nhưng vẫn có
những nghi ngờ về kẻ phản bội ở trong hàng ngũ. Một thành viên của Tâm
Tâm Xã, Lê Quang Đạt, đã công khai đặt vấn đề về vai trò của Lâm Đức
Thụ vì những mối quan hệ của ông này với Pháp. Tuy nhiên Lê Hồng Sơn đã
gạt đi, và Thụ vẫn tiếp tục cộng tác với tổ chức
Năm tháng sau vụ đánh bom, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng châu. Nhưng chỉ
ngày hôm sau, ông đã tiếp cận các thành viên Tâm Tâm Xã trong vai một
nhà báo Trung quốc họ Vương. Những hành vi cấp tiến của họ làm Quốc rất
khoái. Việc đầu óc họ còn trong trắng về lý thuyết càng thuận tiện cho
việc tuyên truyền những tư tưởng Max-Lenin. Quốc thích Lê Hồng Sơn, Hồ
Tùng Mậu nhưng đặc biệt ưu ái chàng trai chắc nịch Lê Hồng Phong, người
được đích thân Châu tuyển mộ. Với bản lĩnh của mình, có vẻ như Quốc
chẳng gặp khó khăn gì khi dụ khị mấy chàng trai trẻ.
Tháng 12/1924, Nguyễn Ái Quốc báo về Matxcova là đang bắt liên lạc và
hợp tác với “một nhóm nhà cách mạng Việt nam”. Tháng 2/1925, Quốc thành
lập nhóm 9 người và đặt tên là Quốc dân đảng Đông dương, 5 trong số đó
được ông coi là nòng cốt của Đảng cộng sản tương lai.Quốc khuyến khích
các thành viên về nước chiêu mộ thêm đệ tử, hoặc tham gia quân đội Quốc
dân đảng Trung hoa, hay gia nhập Đảng CS Trung Quốc. Quốc cần gấp sự hỗ
trợ về tài chính và tài liệu tuyên truyền từ Maxcova.
Mặc dù không nhất trí với các phương pháp đấu tranh của Châu, Quốc
vẫn sử dụng ông này vào việc xây dựng tổ chức của mình. Thông qua các
thành viên Tâm Tâm Xã, Quốc lần ra mối quan hệ với Châu. Châu có vẻ
cũng như đã nhận ra được danh tính của Lý Thuỵ. Vào khoảng giữa tháng 2
và tháng 3, Châu viết cho Quốc một bức thư có nhắc đến cuộc gặp đầu
tiên của hai người ở Kim liên. Châu hoàn toàn ủng hộ đường lối của Quốc
trong việc cải tổ lại đảng của mình. Tuy nhiên Quốc nhanh chóng nhận
thấy rằng Châu và nhiều cộng sự lớn tuổi của ông không thể là hạt nhân cho một tổ chức
mới mà Quốc đang gây dựng. Quốc thành lập Cộng sản đoàn với 5 hạt nhân
ưu tú, trong đó có Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu.
Sự xuất hiện của một nhân vật hoạt động tích cực như vậy ở trụ sở QTCS,
tất nhiên là gây chú ý cho các mật vụ Pháp. Một đặc vụ với bí danh
“Noel” được cử sang từ Paris với mục đích xác định được danh tính của
Lý Thuỵ. Kẻ giúp đỡ đắc lực nhất cho Noel chính là Lâm Đức Thụ với bí
danh là “Pinot”. Tay này làm điệp viên hai mang cho cả Pháp và các lực
lượng cách mạng. Tháng 3, Thụ chụp được 1 tấm ảnh Quốc cùng với các
dồng chí trước cửa trụ sở Quốc dân đảng. Phòng Nhì nhanh chóng xác
nhận: Lý Thuỵ chính là Nguyễn Ái Quốc.
Sự hình thành của một đảng cách mạng mới đã chín muồi. Tháng 6, tại nhà Lâm Đức Thụ, Quốc cùng với các nòng cốt trong Cộng sản đoàn lập nên Hội thanh niên cách mạng Việt nam.
Cùng vói các hoạt động của Hội, tờ báo Thanh niên mà đa phần các bài là
do Quốc viết đã đặt dần dần nền móng của một tầm nhìn mới vượt qua cả
chủ đề độc lập dân tộc. Nhờ mối liên hệ của chính quyền Tôn Trung Sơn với QTCS, Quảng châu lúc
đó được coi như là “Matxcơva của phương Đông” thu hút các nhà cách mạng
từ Triều tiên, ấn độ, Đông dương và Tây ấn thuộc Hà lan. Từ kinh nghiệm
hoạt động ở Paris, Quốc cùng với đặc vụ của QTCS người Ấn độ Roy và
lãnh tụ cực tả của Quốc Dân Đảng Lão Trung Kha, thành lập “Hội các dân
tộc bị áp bức châu Á”. Phiên họp đầu tiên của Hội được tiến hành vào
giữa tháng Bảy. Cương lĩnh hoạt động của Hội thanh niên cách mạng được
xây dựng dựa trên hai trụ cột chủ nghĩa dân tộc và cách mạng xã hội
theo mô hình của Lenin được đại hội QTCS lần II phê chuẩn năm 1920. Tuy
nhiên nếu Lenin coi cách mạng dân tộc chỉ là một bước chiến thuật nhằm
lôi kéo sự ủng hộ của những người theo chủ nghĩa dân tộc, cương lĩnh
của Hội lại tỏ ra chú trọng đến độc lập dân tộc hơn nhiều là số phận
của cách mạng thế giới. Chính điều đó đã gây nhiều nghi ngờ cho nhiều
nhà quan sát về sự trung thành của Quốc với các tư tưởng Maxism và cuộc
đấu tranh để xây dựng ảo tưởng cộng sản. Trên thực tế cuối những năm
20, đã xuất hiện những bài viết chỉ trích Quốc ở Matxcơva và từ những
người cộng sự của Quốc.
Có nhiều lý do để khẳng định, Quốc trước tiên là một nhà yêu nước.
Trong bài báo “Con đường đưa tôi đến với Lenin” viết năm 1960, Quốc
khẳng định, chính khao khát độc lập cho Việt nam đã đưa ông đến với chủ
nghĩa Max. Khác với Lenin, đối với Quốc độc lập dân tộc gần như đã là mục tiêu cuối cùng. Quốc thường xuyên phát biểu: “cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam sẽ được tiến hành vào một thời điểm thích hợp”.
Tuy nhiên cũng khó có thể nói, Quốc chỉ coi chủ nghĩa Max chỉ là công
cụ cho cuộc đấu tranh giành độc lập của mình. Những bài viết và phát
biểu của cậu ở Paris và Matxcova về một thế giới tương lai sôi sục
nhiệt huyết. Trước khi chết, khi trả lời một phóng viên Xoviet, Quốc đã
ân hận mãi về việc đã đả kích một nữ đồng chí của mình ở Nga vì đã mặc
lụa tơ tằm và đi giày cao gót. “Chẳng nhẽ những người trẻ tuổi ăn mặc
đẹp lại là điều xấu xa?”Câu hỏi ngơ ngác của cô gái đã hằn sâu vào trí
nhớ Quốc.
Nếu Quốc vừa là nhà dân tộc chủ nghĩa vừa là một người theo chủ nghĩa Max,
câu hỏi làm thế nào kết hợp giữa bản chất yêu nước của Quốc và đòi hỏi
tinh thần quốc tế vô sản của chủ nghĩa Max đã được Lenin phần nào đề
cập đến trong “Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa”. Lenin đề
xuất kháI niệm “Liên hiệp” các quốc gia độc lập như một hình thái
chuyển tiếp trước khi thành lập “Quốc gia vô sản toàn cầu”. Sự liên kết
giữa nước Nga cách mạng, Hungary và Phần lan cũng như giữa Armeni và
Azerbaijan không thể không ảnh hưởng đến Quốc. Trong một bức thư gửi
QTCS, Quốc đã đề nghị tuyển mộ thêm nhiều học viên vào trường Stalin
cho “Liên hiệp cộng sản Đông phương”. Một tài liệu mới được tìm thấy ở
Nga viết năm 1924, ký tên là Nguyễn. Có đến 99% đó chính là Quốc. Khi
bàn về tương lai của Đảng cộng sản Việt nam, tài liệu khẳng định: “Cần
phải tính đến thực tế Việt nam và giương cao ngọn cờ chủ nghĩa dân tộc
dưới danh nghĩa của QTCS” . Cương lĩnh của Việt nam thanh niên cách
mạng Hội cũng nhắc đến cách mạng toàn cầu như “mục đích cuối cùng” của
Hội.
Tại sao Quốc lại không chọn con đường phi bạo lực đòi lại độc lập dân
tộc mà lại tin vào cách mạng trên phạm vi toàn thế giới? Mùa xuân năm
1925, Nguyễn Thượng Huyền, (cháu của Nguyễn Thượng Hiền, người đã có
thời là hiệu trưởng Đông kinh nghĩa thục), có viết một bài báo và nhờ
Quốc nhận xét. Trong bài báo, Huyền cho rằng nguồn gốc cách mạng là từ
Kinh dịch và Khổng tử cho rằng thay đổi triều đại chính là cách mạng.
Huyền kết luận, thất bại của các cuộc khởi nghĩa chống Pháp là tất yếu
vì sự hung bạo của chúng và độc lập chỉ có thể đạt được bằng các cuộc
chống đối phi bạo lực trong xã hội như Mahatma Gandhi. Trong bức thư
trả lời, Quốc đã tỏ ý nghi ngờ nguồn gốc cách mạng và cho rằng nó xuất
phát từ văn hoá Tây phương. Cách mạng thay đổi các thể chế điều hành
đất nước, còn cải cách chỉ cải tiến chúng. Thay đổi triều đại không
phải là cách mạng. Về thất bại của cách mạng ở Việt nam, Quốc viết: "Không
lẽ ông chờ đợi người Pháp khoanh taynhìn ông đuổi họ ra? Tốt nhất là
hãy tự nhìn lại mình: tại sao người Pháp lại cai trị được dân ta? Sao
ta lại ngu thế? Bây giờ ta phải làm gì? "Ông so sanh với người ấn
độ, Ai cập. Họ có đảng phá chính trị, các hội nông dân, các tổ chức. Ta
không có đảng, không có tuyên truyền, không có tổ chức. Họ như chiếc
ô-tô có cả tài xế, còn ta mới chỉ có cái khung xe. Vậy mà ông muốn ta
chạy như họ! Để kết luận, Quốc dẫn câu chuyện của La Fontaine về các
con chuột đùn đẩy nhau đeo chuông lên cổ mèo. “Giờ đây, các con rồng cháu tiên Việt nam chẳng khác gì những con chuột. Thật là nhục nhã” Tại Hàng châu, Phan Bội Châu rất quan tâm đến những gì đang diễn ra.
Ông hứa sẽ đến Quảng châu thăm Quốc mùa hè năm 1925. Trong bức thư viết
cho Quốc trước đó, Châu hết lời khen ngợi sự sáng suốt và kinh nghiệm
của Quốc, Châu còn tỏ vẻ vui mừng vì đã có người nối nghiệp vì ông đã
quá “đát”. Tuy nhiên rõ ràng là Châu vẫn muốn đóng một vai trò trong tổ
chức. Trong một bức thư khác gửi cho Hồ Tùng Mậu, ông đã cạnh khoé phê
bình Quốc và các đồng sự quá nóng vội. Trước đó, Châu cũng đã từng than
vãn là Quốc bỏ rơi ông.
Khoảng giữa tháng 5, Châu rời Hàng châu đi Thượng hải. Tại đó, nhờ có
mật báo, các mật thám Pháp trong vai tài xế taxi đã đợi sẵn, tóm gọn và
chở thẳng ông về Hà nội để xét xử về tội phản quốc. Vụ bắt giữ này đã
gây ra một cuộc tranh cãi lâu dài và lôi thôi nhất trong lịch sử rắm
rối của chủ nghĩa dân tộc Việt nam. Nhiều thành viên của Thanh niên hội
cho rằng chính thư ký của Châu, Nguyễn Thượng Huyền đã phản bội ông.
Châu cũng nghĩ thế. Tuy nhiên một số người theo chủ nghĩa dân tộc không
cộng sản lại nghi ngờ Lâm Đức Thụ và thậm chí Nguyễn Ái Quốc đã dựng
lên vụ này để kiếm tiền thưởng và dùng Châu như một anh hùng - “vật tế
thần” cho phong trào. Quan điểm này cũng được nhiều nhà nghiên cứu
phương Tây nhắc lại nhưng không có những chứng cớ cụ thể. Các tài liệu
của phòng nhì Pháp không rõ, nhưng xu hướng không cho rằng Quốc có dính
líu. Họ cũng cho là Huyền có thông tin tốt hơn về sự di chuyển của
Châu. Lâm Đức Thụ về sau tự nhận trách nhiệm nhưng không đáng tin cậy
vì ông này ưa khoác lác và thổi phồng.
Mặc dù không phủ nhận là Quốc có thể phản bội Châu nếu tin rằng điều đó
phục vụ lợi ích cách mạng, nhưng trong vụ này rõ ràng là Quốc không tin
là có thể khai thác được gì cho phong trào từ việc bắt Châu. Thanh niên
Hội vẫn tập trung sử dụng hình ảnh Phạm Hồng Thái để tuyên truyền và
lôi kéo các thành viên của mình. Vả lại một lãnh tụ có tính chất biểu
tượng dễ điều khiển ngoài tự do rõ ràng có lợi hơn cho phong trào so
với ngồi tù ở Việt nam. Cũng cần nhận thấy rằng đến cuối đời Châu vẫn
dành sự kính trọng cao nhất cho Quốc.
Toà đã xử Châu khổ sai chung thân ngày 23/11/1925 dẫn đến một phong
trào phản kháng mạnh mẽ trong khắp nước. Toàn quyền mới, đảng viên Xã
hội Varrene chẳng muốn khởi đầu sự nghiệp của mình bằng sự thù hận, đã
đề nghị Paris giảm xuống án quản thúc tại gia ở Huế. Trước khi giảm án,
Varrene đã đề nghị Châu hợp tác. Lúc đầu ông này từ chối nhưng sau đã
tỏ ra khôn ngoan hơn. Tuy vẫn giữ quan hệ với các thành viên chủ chốt
của phong trào dân tộc, thỉnh thoảng Châu lại đưa ra những phát ngôn có
thể coi là có lợi cho Pháp ví như khen ngợi hệ thống giáo dục của Pháp
ở Đông dương. Theo mật thám Pháp, một số phần tử quá khích thậm chí đã
có kế hoạch ám sát Châu. Châu chết tại Huế năm 1940.
Trong thời gian vụ án Châu, một lãnh tụ cải lương khác là Phan Chu
Trinh đã trở về Việt nam sau nhiều thập kỷ trong sự chào đón của dân
chúng. Ông này chết năm 1926 vào tuổi 53 và đám tang ông đã trở thành
một sự kiện dân tộc. Quốc có vẻ như không hài lòng cho rằng Pháp đã
cường điệu sự kiện này nhằm mang lại một bộ mặt nhân tính hơn cho chính
sách thực dân của mình và đánh lạc hướng dân chúng.
Nhờ sự cố gắng không mệt mỏi của Quốc, những tư tưởng Marxism dần dần
được phổ biến trong các tầng lớp cách mạng ở Việt nam. Những nhà yêu
nước trẻ được đưa từ trong nước sang và được đào tạo tại một cơ sở có
cái tên rất kêu: Trường chính trị đặc biệt cho Cách mạng Việt nam.
Trường này ban đầu được đặt tại phố Dân Sinh, sau đó chuyển sang một
toà nhà 3 tầng thuộc sở hữu của một người thân Cộng sản ở phố Văn Minh
(đối diện với Đại học Quảng đông, bây giờ là bảo tàng Lỗ Tấn). Tầng 1
là cửa hàng, lớp học và văn phòng của Quốc ở tầng 2 còn ký túc xá ở
tầng 3. Đằng sau có cửa hậu để chạy trốn khi cảnh sát vây bắt. Giáo
viên chủ yếu là các thành viên Thanh niên Hội như Mậu, Quốc, nhưng
thỉnh thoảng cũng có thầy từ phái đoàn Xôviet như Vasily Blucher
(Galen), P.A. Pavlov, M.V. Kuibyshev, V.M. Primakov, hoặc từ CCP như Lý
Đạo Cơ, Chu Ân Lai, Lý Phu Quân và nhà tổ chức nông dân Bằng Bái. Một
phần ba kinh phí của trường do Đảng CS Trung Quốc - CCP đài thọ, phần
còn lại là đóng góp từ các tổ chức khác nhau, trong đó có các học viên
Việt nam tại học viện Hoàng Phố.
Thầy Vương (bí danh của Quốc) là thầy giáo nổi tiếng nhất trường. Học
viên đều yêu ông thầy mảnh khảnh, mắt sáng, giọng ấm, hài hước, dễ gần
và đặc biệt kiên nhẫn trong việc giải thích các khái niệm khó. Thầy
Vương trở thành cuốn bách khoa sống khi cần đến các số liệu. Một học
viên đến giờ còn nhớ: “Thầy
kể vanh vách, thực dân Pháp đã trộm bao nhiêu tấn thóc, Ngân hàng Đông
dương kiếm được bao nhiêu lợi nhuận, ông Varrene đã chở về nước bao
nhiêu cổ vật của dân ta”. Cũng như ở Paris, Quốc vừa là thầy giáo,
vừa là cố vấn tinh thần, một người nghiêm khắc và một người bày trò có
hạng. Quốc dạy học viên cách ăn nói, phát biểu, cách thông cảm với nhân
dân. Quốc lo lắng nơi ăn, chốn ở và động viên các học viên bằng một sự
lạc quan vô bờ bến vào sự thắng lợi của cách mạng. Như một nghi lễ, khi
kết thúc khoá học, Quốc dẫn các học viên thăm mộ của 72 liệt sĩ Trung
hoa trên đồi Hoàng Hoa và tuyên thệ trước lăng Phạm Hồng Thái.
Một số học viên tài ba hơn (ví dụ như Lê Hồng Phong) được phái đi tu
nghiệp tiếp ở Moscow. Một số người sung quân đội hoặc tham gia học viện
Hoàng Phố. Nguyễn Lương Bằng, một con nhà lao động, được chỉ thị kiếm
việc trên tàu viễn dương để móc nối giữa Hải phòng và Hongkong. Hơn 70
học viên đã tốt nghiệp cho đến hết năm 1927. Đa số học viên quay về
Việt nam và tiếp tục tìm kiếm thêm lính mới. Lớp này đa số cũng từ tầng
lớp môn sinh. Cảnh sát Pháp xác nhận khoảng 90% thành viên Thanh niên
hội là tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Năm 1928, hội có khoảng 300 thành
viên ở Đông dương, trong đó khoảng 150 ở Cochin China (Sài gòn, Cần
thơ, Mỹ tho), 80 ở Annam và 70 ở Tonkin. Một năm sau, con số đã lên đến
hơn 1700. Nguyễn Ái Quốc đã đi những bước quan trọng đầu tiên, tuy rất
nhỏ và thận trọng, để chuẩn bị cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
Việtnam. Ông đã viết trước đó vài năm: “Thật
là sai lầm khi cho rằng Đông dương đã sẵn sàng cho cách mạng, nhưng
càng sai lầm hơn khi nghĩ rằng họ cam chịu và không muốn làm cách mạng” Nguyễn Ái Quốc quá kinh nghiệm để hiểu rằng, muốn duy trì được tổ chức
hãy còn trong trứng nước của mình, tuyên truyền là quyết định. Tạp chí
Thanh niên ra đời. Được in tại Quảng châu, xuất bản hàng tuần và gửi
sang Việt nam qua đường thuỷ. Từ 21/6/1925 đến 5/1930, tổng cộng đã có
208 số được phát hành. Cũng như với tờ Người cùng khổ, Nguyễn Ái Quốc
sử dụng lối hành văn đơn giản, với nhiều biếm họa đả kích chế độ thực
dân Pháp cũng như bọn vua chúa bù nhìn. Hầu hết các bài xã luận đều do
ông viết nhưng không ký tên. Thanh niên Hội còn phát hành tờ Lính Kách
Mệnh 2 tuần 1 lần và tạp chí Việt nam Tiền phong hàng tháng.
Đối với các hội viên nằm trong chương trình đào tạo, Nguyễn Ái Quốc viết hẳn một cuốn sách nhỏ lấy tên là "Đường Kách mệnh".
Đây là cuốn sách đầu tiên bằng tiếng Việt giải thích những luận điểm
căn bản của chủ nghĩa Max-Lenin và khả năng áp dụng ở Việt nam. Tuy
không có mục đích trước nhưng chắc chắn 1 số bản của cuốn sách này được
tuồn về Việt nam. Cuốn sách được viết bằng một văn phong cực kỳ đơn
giản. Quốc biết chắc rằng đa số độc giả thậm chí còn chưa biết thế nào là Kách mệnh (thuật ngữ này mới được đưa vào tiếng Việt đầu thế kỷ 20, tiếng Hán có nghĩa là Thay đổi số mệnh), bởi thế, ngay từ đầu ông đã định nghĩa Kách Mệnh là “phá hủy cái cũ, xây dựng cái mới, phá hủy cái xấu, xây dựng cái tốt”. Tiếp đó, Quốc tiến hành phân thành 3 loại Kách Mệnh:
1. Tư sản (như ở Pháp, Nhật, US)
2. Dân tộc (như ở Italy thế kỷ 19, cách mạng 1911 ở Trung quốc)
3. Giai cấp (như cách mạng tháng 10 Nga)
Quốc khẳng định tất cả các cuộc Kách Mệnh đều được tiến hành theo hai
giai đoạn: giai đoạn dân tộc và giai đoạn toàn cầu. Tất nhiên quan điểm
này được mượn của Lenin, nhưng Quốc cũng đã khéo léo lồng ý của mình
vào đó. Ông không khẳng định rõ bao giờ thì giai đoạn 2 mới bắt đầu.
Thậm chí ông cho rằng, Kách Mạng Việt nam chỉ có thể chuyển sang giai
đoạn 2 nếu hầu như tất cả các nước đã làm việc đó. Quốc nhấn mạnh vai
trò lãnh đạo của liên minh công nông, đặc biệt là vai trò của nông thôn
trong Kách mạng Việt nam với hơn 90% dân làm nông nghiệp. Giống như
giai cấp công nhân trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản, người nông dân trong
Đường Kách Mệnh “không có gì để mất ngoài xiềng xích”. Cái mà họ cần,
như Quốc đã từng viết ở Pháp trước đó là Tổ chức và Sự lãnh đạo. Cách
mạnh Việt nam cần có một Đảng vững mạnh với những tư tưởng dễ hiểu và
theo đuổi.
Một vấn đề thú vị được đề cập đến trong cuốn sách là tính cách của “nhà
cách mạng”. Có thể so sánh với cuốn “Tự bạch về nhà cách mạng” nổi
tiếng của Nechayev, một tay khủng bố Nga thế kỷ 19. Ông này cho rằng,
nhà cách mạng là công cụ mù quáng để thực hiện những lý tưởng cách
mạng. Họ phải tàn nhẫn, dùng mọi thủ đoạn để đạt được mục tiêu, phải
tuân thủ kỷ luật đảng, sẵn sàng từ bỏ những quan hệ bè bạn, gia đình,
thậm chí lừa dối vì lợi ích của Cách mạng. Tuy quan điểm cực đoan của
Nechayev bị phê phán nhiều, nhưng Lenin vẫn rất khoái và nhiều điểm
trong cuốn “Tự bạch” trở thành tiêu chuẩn của người Bolsheviks. Có
nhiều điểm tương đồng trong định nghĩa của Quốc về nhà cách mạng, như
tuân thủ kỷ luật đảng, đặt quyền lợi cách mạng lên trên quyền lợi cá
nhân. Nhưng điểm khác biệt chủ chốt ở cái hồn tinh thần nằm đằng sau
hai bản tiêu chuẩn này. Trong
khi Lenin cho rằng những quan điểm đạo đức không liên quan lắm đến tính
cách của người Cách Mạng thì Quốc hầu như áp dụng tất cả những chuẩn
mực đạo đức của người quân tử trong đạo Khổng: tiết kiệm, cởi mở nhưng
công bằng, cương quyết sửa chữa lỗi lầm, thận trọng, ham học và quan
sát, không kiêu ngạo và khoan hồng.
Nếu tính đến tài năng xuất chúng của Quốc trong việc thay đổi hình thức
tuyên truyền cho những đối tượng khác nhau, có thể cho rằng Quốc cố
tình giữ những “bình cũ” để đưa “rượu mới” vì biết rằng đa số hội viên
của ông xuất phát từ những gia đình nho học và chắc chắn vẫn giữ những
giá trị căn bản của đạo Khổng. Tuy nhiên, thực tế cuộc đời Hồ Chí Minh
đã chứng tỏ rằng đạo đức cá nhân ông: hình ảnh một con người giản dị và
hào hiệp với niềm lạc quan vô bờ bến và tinh thần nghiêm túc và hiến
dâng cho những lý tưởng cách mạng, đã trở thành sự đảm bảo tiêu chuẩn
của ảnh hưởng của ông trong đảng. Đối với rất nhiều người khác, Hồ Chí
Minh trở thành biểu tượng của chủ nghĩa cộng sản Việt nam.
Cuốn sách của Quốc còn thỏa mãn những logic thầm kín của Việt nam.
Trong khi bảo đảm rằng cách mạng VN sẽ được giúp đỡ từ cách mạng thế
giới,người đọc cũng sẽ lấy làm sung sướng được biết rằng phương Tây
cũng chưa ra gì và sẽ còn phải trải qua những thời loạn lạc. Việc phân
tích nguyên nhân thất bại của các nhóm dân tộc chủ nghĩa cũng rất có ý
nghĩa cho lớp trẻ. Quốc đã chỉ ra rằng các nhóm này thiếu hẳn một tư
tưởng, một ý niệm rõ ràng về tương lai của Việt nam độc lập. Phật giáo
với triết lý chịu đựng không thể là tác nhân thay đổi. Khổng giáo bị
mất giá trị trầm trọng do sự đầu hàng của triều đình. Bởi thế các nhóm
dân tộc chủ nghĩa chủ yếu được xác định bởi vùng, miền, chiến thuật hay
cá nhân thủ lĩnh. Những hành động của họ chỉ biểu hiện sự phẫn uất của
một nhóm người trước một kẻ thù muôn lần mạnh hơn. Có thể coi "Đường Kách mệnh" là cuốn sách tư tưởng nhưng quá hoang sơ,
thậm chí nhiều chỗ gây bối rối cho người đọc về chủ nghĩa Max-Lenin.
Tuy nhiên với quan điểm tuyên truyền rất rõ ràng của Quốc: càng đơn giản càng tốt,
cuốn sách đã trở thành công cụ giới thiệu tư tưởng tốt cho những nhà
cách mạng sơ khởi. Ngoài ra, Quốc đã tiến một bước dài trong phong trào
cách mạng Việt nam và thế giới bằng việc lần đầu tiên nhấn mạnh vai trò
của nông thôn ở Việt nam và tương lai cách mạng châu Á. Một số nhà quan
sát còn cho rằng Đường Kách Mệnh là tác phẩm đầu tiên của “chủ nghĩa
cộng sản nông thôn”, một biến thể của chủ nghĩa Max-Lenin, vốn thường
được gắn cho Mao Trạch Đông.
Tính đến mùa xuân năm 1927, chỉ với 2 năm ở Quảng châu, Quốc đã trở
thành một thành viên được kính trọng và không thể thiếu của phong trào
cách mạng ở đây. Quốc chơi thân với Chu Ân Lai, nhà tổ chức thanh niên
Trương Đại Lợi (cần xem lại Zhang Tailei), lãnh tụ cánh tả của Quốc dân
Đảng Lão Trung Khải (Liao Zhong Kai). Cuộc sống xem ra đã có vẻ ổn
định, Quốc dự kiến kiếm 1 cô vợ Tàu vừa để học tiếng và lo việc gia
đình và nhờ “thổ công” Lâm Đức Thụ lo hộ vụ này. Quốc chỉ đặt một điều
kiện: “không trả một xu” (trái với tục lệ người Hoa) .Nhưng
chẳng có vấn đề gì, Thụ tìm ngay được 1 cô tên là Tăng Tuyết Minh, con
gái vợ ba của một nhà buôn. Sau khi bố chết, cô này bị đuổi ra khỏi
nhà, sống vạ vật cho đến khi làm quen được với vợ của Thụ. Nhiều đồng
chí của Quốc đã phản đối cuộc hôn nhân này vì cho rằng Minh không được
học hành đầy đủ, tuy nhiên Quốc vẫn quyết định cưới và hai vợ chồng
cùng sống trong căn phòng của Quốc tại biệt thự của Borodin. Tuyết Minh
khá xinh (theo lời kể thì mặt tròn, môi nhỏ, da mịn, tóc thề ngang
vai), nhưng chẳng quan tâm gì đến các vấn đề dân tộc và cách mạng. Sau
mấy lần thử tìm cách dụ dỗ thất bại, Quốc từ bỏ ý định thay đổi quan
điểm chính trị của vợ. Có nguồn tin cho rằng, vợ chồng Quốc có một đứa
con gái??? ( Cần thêm tài liệu chứng minh)
Tuy nhiên mây đen đang che phủ dần sự nghiệp của Quốc ở Quảng châu.
Trong khi ông đang tìm cách dẹp yên những đốm lửa bất hoà ở trong nước
thì tình hình Trung quốc thay đổi nhanh chóng. Cuộc hôn phối khó khăn
Quốc - Cộng trong những năm qua được duy trì chủ yếu nhờ uy tín cá nhân
của Tôn cũng như quan hệ thân thiết giữa Tôn và Borodin. Tuy nhiên cái
chết của Tôn năm 1925 trong khi đang thương thảo với tướng Phương
Yuxiang, đã thay đổi tất cả. Sau một cuộc chiến quyền lực ngắn, Tưởng
Giới Thạch lên nắm quyền. Tưởng tạm thời duy trì liên minh mặc dù có sự
phản đối quyết liệt của phái hữu trong Quốc Dân Đảng. Bản thân Tưởng
cũng chẳng có thiện cảm gì với cộng sản. Sau chuyến viếng thăm Matxcova
năm 1923, Tưởng hiểu rằng mục đích cuối cùng của Matxcova là loại bỏ
đảng của ông ta. Ngày 12/4/1927, trong chiến dịch chung tiễu trừ cát cứ
tại phía Bắc và Trung nguyên, Tưởng đã ra tay, điều quân tàn sát hàng
ngàn đảng viên cộng sản và những người ủng hộ tại Thượng Hải.
Quảng châu phản ứng tức thì, quân đội của Lu Jishen bao vây hơn 2000
đảng viên cộng sản. Hàng trăm học viên thân cộng tại Hoàng Phố (trong
đó có một số Việt nam) bị bao vây và bắn chết. Bạn Quốc, Trương Lợi
cũng nằm trong số này. Khi quân của Lý tiến hành bao vây lãnh sự quán
Liên xô, Borodin và một số cộng sự phải trốn sang Vũ hán. Ban đầu,
phòng nhì Pháp cũng nghĩ là Quốc sẽ chạy theo Borodin. Thực tế thì Quốc
đã ở lại vì tin tưởng vào những mối quan hệ của mình với Quốc Dân Đảng.
Tuy nhiên ông cũng ẩn vào một chỗ hẻo lánh hơn và đi bán báo để kiếm
tiền sinh sống.
Chẳng được bao lâu, Trương Văn Lệnh, một tay chân trước đây của
Tâm Tâm Xã, đang là quan chức của chính quyền thành phố, đã mật báo là
đã có lệnh bắt Quốc và ông phải trốn càng nhanh càng tốt. Người đã chỉ điểm Quốc chính là Nguyễn Hải Thần.
Thần vốn là bạn thân của Thụ và đã từng ở nhà ông này. Quốc muốn hợp
tác với Thần và những thành viên còn sót lại của Phan Bội Châu VN Quốc
Dân Đảng, nhưng Thần kịch liệt phê phán xu hướng thân cộng của Thanh
niên hội. Năm 1926 Trương Bội Công mò đến từ Bắc kinh càng thôi thúc
Thần phải thành lập đảng mới để chống lại ảnh hưởng của hội.
Ngày 5/5/1927, Quốc lên tàu đi Hồng kông bỏ Tuyết Minh lại Quảng châu.
Cùng ngày, nhà ông bị khám xét. Một lần nữa Nguyễn Ái Quốc lại lên
đường.
|