|
5. Thanh kiếm báu Quốc nghĩ gì khi nhìn qua cửa sổ ngắm những cánh đồng lúa xuân đang vào
vụ gặt trên con tàu đi vào vô định ngày ấy. Chắc chắn là ông hài lòng
vì những gì đã làm ở Quảng châu. Đích thân ông đã đào tạo hàng trăm
chiến sĩ phân phối về cả 3 miền đất nước, thành lập một tổ chức vững
mạnh làm tiền thân cho đảng cộng sản Đông dương sau này. Cuộc đảo chính
của Tưởng đã làm đảo lộn tất cả. Thanh niên Hội không thể đặt trụ sở ở
Quảng châu được nữa. Liên lạc giữa Q với các đồng chí trong nước đã bị
cắt đứt, có thể phải đến hàng năm. Bản thân Q cũng chưa biết mình sẽ đi
về đâu!
Ban đầu, có thể Quốc (vẫn đang dùng tên là Lý Thuỵ) đã hy vọng là sẽ
dùng HongKong làm nơi cư trú và bàn đạp cho tổ chức của hội. Nhưng
chính quyền sở tại nghĩ khác và ngay ngày hôm sau Quốc phải lên đường
đến Thượng Hải, thành phố vẫn đang còn bàng hoàng về vụ “khủng bố
trắng”. Để che mắt, Quốc phải đóng giả một nhà buôn và thuê phòng khách
sạn sang trọng. Chẳng mấy chốc hết tiền, Quốc may mắn vớ được một
chuyến tàu về Vladivostok.
Vladivostock khi đó là cơ quan đầu não của các hoạt động cách mạng tại
Viễn đông. Tại đây, Quốc đã gặp lại Jacques Doriot, một trong những
ngôi sao đang lên của Đảng cộng sản Pháp. Ông cũng gặp lại đại diện
QTCS Grigori Vointinsky. Mỗi ông một ý, Doriot khuyên Quốc dựa vào FCP-
Đảng CS Pháp để thâm nhập Đông dương từ Thái lan, Voitinsky thì lại đề
nghị Quốc về Thượng hải và xây dựng phong trào trong đám lính Việt đang
đóng ở đó. Quốc lịch sự lắng nghe, nhưng trong thâm tâm, ông đã biết
mình phải làm gì. Quốc về đến Matxcova tháng 6 năm đó và ngay lập tức
viết đơn xin phép được cấp kinh phí để có thể hoạt động ở Thái lan
trong khoảng 2 năm. Trong khi chờ phê duyệt, Quốc viết một loạt các bài
báo cho Inprecor miêu tả tình hình tại Đông dương. Sau chuyến đi nghỉ
chữa bệnh ở nhà nghỉ Eppatoria - Crum (chưa rõ bệnh gì), Quốc nhận được
tin vui: Trường Stalin đã quyết định thành lập phân ban Việt nam cho
những sinh viên đã được Quốc gửi đi từ Quảng châu. Trong số đó, Trần
Phú là người gây được nhiều chú ý nhất. Con một viên quan triều đình ở
Quảng ngãi, Phú đã tham gia một đảng dân tộc nhỏ, khi sang Quảng châu
để bàn việc hợp tác với Thanh niên hội, Phú đã bị Quốc thu phục và gửi
sang Matxcova đào tạo.
Tháng 11/1927, thay vì chi tiền cho Quốc đến Thái lan, QTCS điều ông
sang Pháp để vạch một chiến lược toàn diện hơn xây dựng cơ sở cách mạng
trong vùng. Không thấy đả động gì đến chuyện kinh phí cả. Trên đường
sang Paris, Quốc ghé qua Berlin, tại đây ông tham gia xây dựng chi
nhánh của Liên hiệp Phản đế (vỏ bọc của đại diện Liên xô ở nước ngoài).
Đến Pháp, mặc dù được báo cáo trực tiếp cho trung ương FCP, Quốc tỏ ra
hết sức thất vọng vì vấn đề thuộc địa không được ai quan tâm. Cũng
không ai đề nghị tìm việc làm hoặc cấp kinh phí gì cho Quốc cả. Quãng
cuối tháng 12, Quốc tham gia hội nghị Trung ương Liên hiệp Phản đế tại
Brussel. Tại đây ông đã làm quen với Sukarno, Nehru, gặp lại ông bạn
Nhật Katayama Sen và đặc biệt với vợ góa của Tôn Trung Sơn Tống Khánh
Linh, người sẽ giúp đỡ Quốc trong thời điểm quyết định sau này.
Sau hội nghị, Quốc chỉ trở về Paris một thời gian ngắn và sang Berlin.
Ông viết thư cho Dombai xin tiền của Quốc tế Nông dân để về Đông dương
hoạt đông. Ông này khuyên Quốc nên xây dựng phong trào nông dân ở các
tỉnh biên giới với Trung quốc nhưng cũng không thấy đả động gì đến
chuyện tiền nong. Chẳng có việc gì làm, Quốc dự định hoàn thành một
cuốn sách khoảng 120 trang về những kinh nghiệm bản thân trong phong
trào nông dân Trung quốc. Đến khoảng tháng 4 thì Quốc cạn tiền, ông
viết một bức thư thống thiết về Dalburo miêu tả mình như một người :
Không được làm việc ở Pháp, vô dụng ở Đức nhưng rất cần ở Đông
dương. Tôi đã khẩn thiết đề nghị tổ chức cung cấp tài chính để tôi có
thể trở về Đông dương hoạt động. Tôi đã nói với đồng chí Khi Doriot khi
đi ngang qua đây là nếu không có tiền sống thì hãy cho tôi tiền đi lại
để tôi có thể lên đường chứ không phải lang thang ở châu Âu này nữa.
Rốt cuộc chẳng có hồi âm gì. Tình hình của tôi hiện tại như sau: 1/chờ
đợi chỉ đạo trong vô vọng 2/không có gì để sống...
Hai tuần sau Quốc nhận được giấy phép trở về Đông dương, FCP cấp tiền
đi đường và 3 tháng ăn ở. Đầu tháng 6, Quốc rời Berlin, qua Thụy sĩ,
sang Italia. Tại biên giới, theo lời kể của Quốc, may mắn sao tên Quốc
lại không có trong Từ điển chống QTCS của bọn cảnh sát phát xít. Tuy
nhiên Quốc vẫn bị bắt tại Rome và bị đánh đập tàn nhẫn. Cuối cùng ông
cũng được thả và lên một con tàu Nhật ở Naple để về Thái lan. Đó là
cuối tháng 6/1928. Quốc đến ThaiLan tháng 7/1928. Vương quốc Thái lan khi đó là quốc gia
duy nhất ở Đông Nam Á không phải là thuộc địa. Bởi thế ngay cả nhà cách
mạng nổi tiếng như Quốc cũng được đi lại thoải mái, chẳng ai quan tâm.
Trước đó, theo lệnh của Quốc, thanh niên Hội đã xây dựng mạng lưới
trong giới Việt kiều, vốn tập trung rất đông tại khu vực cao nguyên
Khorat, Đông bắc Thái lan. Từ vùng núi Trường sơn đến cao nguyên này
khoảng 2 tuần đi bộ, chính quyền Thái lan lại ưu ái các nhà yêu nước
Việt nam, bởi thế khu vực này có thể được coi là thánh địa chống thực
dân. Nhiều người trong số 20.000 Việt kiều ở khu vực này là tín đồ cũ
của phong trào Cần Vương và Phan Bội Châu. Từ năm 1925, Nguyễn Ái Quốc
đã cử Hồ Tùng Mậu sang lập 4 chi nhánh tại Phichit, Nakhon Panom, Udon
Thani và Sakon Nakhon dưới dạng các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.
Từ tháng 8 năm 1928, trong cộng đồng người Việt tại Bandong (một huyện
của Phichit) xuất hiện một người Việt nam lạ mặt tự xưng là Thầu Chin.
Ông ở đây 2 tuần và tháng 9/1928 vượt 10 ngày đường rừng để đến Udon
Thani. Có ngày ông đi được đến 70 km. Cộng đồng người Việt ở đây vốn
xuất phát là dân tiểu thương nên lười lao động và không muốn hoà nhập
với xã hội Thái. Thầu Chin đến thay đổi tất cả. Đích thân ông đứng ra
xin phép và khênh gạch để xây trường học cho bà con học tiếng Thái. Mỗi
ngày ông đặt quyết tâm học 10 từ Thái. Tối tối ông đến các gia đình, kể
cho họ nghe tình hình thế giới và Đông dương, giải thích cho họ chính
quyền và người dân Thái ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt nam.
Ông đổi tên tờ báo tiếng Việt Đồng Thanh thành Thân Ái (gắn với một tổ
chức do Thanh niên Hội lập ra), bằng cách hành văn dễ hiểu, qua các bài
thơ và vở kịch kích động tinh thần yêu nước.
Đầu năm 1929, Thầu Chin đến Sakhon Nakhon. Dân ta ở đây không được giác
ngộ cho lắm, thờ chúa, phật và cả Trần Hưng Đạo đủ cả. Mỗi khi mắc bệnh
lại cúng vái tứ phương. Thầu Chin đích thân chẩn bệnh và mời bác sĩ đến
chữa bệnh cho nhân dân. Ông cũng không ngần ngại sử dụng đức Thánh Trần
cho việc tuyên truyền yêu nước Trên Điện Diên Hồng, ngàn người như một
"Kẻ nào muốn cướp Việt nam hãy bước qua xác chúng ta Còn một người Việt
còn sống là sông núi Việt nam vẫn là của ta "
Mật thám Pháp đã mất khá nhiều công sức để tìm Quốc sau khi ông rời
Quảng châu năm 1927. Phòng nhì Pháp đã dò được Quốc ở Paris nhưng lại
mất vết khi Quốc bỏ Brussel. Năm 1928, 1929 chúng nghe nhiều tin đồn về
một người Việt kỳ lạ lang thang trong các làng Việt kiều ở Đông bắc
Thái và tìm cách xác định danh tính người này. Tháng 10/1929, toà án
triều đình tại Vinh đã xử tử Quốc vắng mặt về tội nổi loạn. Trong hồi
ký của mình, Quốc đã nhắc đến việc có lần phải cắt tóc trốn vào chùa đi
tu để tránh cảnh sát. Trong lúc Quốc lặn lội sang Xiêm thì các đồng chí
của ông tìm mọi cách để giữ vững hoạt động của Thanh niên Hội. Sau khi
hầu như những thành viên chủ chôt được thả, Hội được đặt dưới sự lãnh
đạo của Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu với trụ sở tại căn phố hẹp Dân Sinh
gần Cửa Dong Da địa điểm cũ của Trường đào tạo. Tháng 12/1927 các đảng
viên Đảng CS Trung Quốc liều lĩnh mở cuộc khởi nghĩa và bị đàn áp dã
man. Nhiều chiến sĩ của Hội cũng tham gia và bị giết. Lê Hồng Sơn và
một số người khác bị bắt và đưa ra toà, nhưng không bị buộc tội mà bị
trục xuất. Hồ Tùng Mậu chuyển trụ sở sang Hồng kông và mất liên lạc với
Đảng CS Trung Quốc và QTCS.
Dù những thất bại tạm thời Thanh niên Hội vẫn có vị trí vững chắc trong
phong trào cách mạng Việt nam. Hội tiếp tục mở rộng trong nước và đàm
phán với các đảng phái chính trị khác để thành lập mặt trận thống nhất
chống Pháp. Có điều các cuộc đàm phán này thường diễn ra trong không
khí nghi kỵ vì Hội kiên quyết giữ vai trò lãnh đạo. Quãng tháng
12/1927, một số nhà giáo và nhà báo ở Bắc bộ và Bắc Annam thành lập ra
VN Quốc Dân Đảng. Tuy cùng tên với đảng của Phan Bội Châu nhưng chẳng
có liên quan gì. Đảng này theo chủ nghĩa Tam dân của Tôn và cũng có
mong muốn hợp tác với Thanh niên Hội. Hai bên đã từng hẹn đàm phán tại
Xiêm nhưng thất bại vì Hội không cử đại diện đến. Vả lại VN Quốc Dân
Đảng không chấp nhận sự lãnh đạo của Hội ở trong nước, tất yếu dẫn đến
sự tranh giành ảnh hưởng quyết liệt giữa hai tổ chức. Ngoài ra những mâu thuẫn trong Hội cũng bắt đầu xuất hiện. Thực ra mâu
thuẫn này có nguồn gốc từ chính sách hai mặt của Quốc: "cam kết theo
chủ nghĩa quốc tế Max-Lenin nhưng vẫn lấy độc lập dân tộc làm cương
lĩnh hoạt động chính". Sau khi Quốc rời Quảng châu mùa xuân năm 1927,
một số học trò của ông như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu nhanh chóng trở
thành những người Marxist đầy khao khát, trong khi đó Lâm Đức Thụ và
một số cựu binh lại quan điểm khác. Mâu thuẫn trở nên trầm trọng khi
mùa xuân năm 1928, tại một cuộc họp ở nhà riêng của Thụ, ông này đã tìm cách thông qua
được bản cương lĩnh mang tính dân tộc mà chẳng đả động gì đến cách mạng
xã hội hay đấu tranh giai cấp gì cải.
Trong ba năm đầu tiên, cả hai phái trong Hội đều kìm chế, tuy nhiên sau
hội nghị HongKong, mâu thuẫn bùng phát dẫn đến tan vỡ tổ chức. Mọi sự
khởi đầu từ nhóm lãnh đạo Bắc bộ và bí thư thứ nhất Trần Văn Cung. Ông
này người xứ Nghệ, đảng viên đảng Tân Việt, tham gia khởi nghĩa Quảng
Châu và đã từng ngồi tù Quốc dân đảng. Cung cũng tham dự vào hội nghị
HongKong và tỏ ra rất thất vọng về đường lối uỷ mị của ban lãnh đạo
mới. Cung không tin là có thể thuyết phục nông dân và công nhân ủng hộ
chỉ bằng diễn thuyết chung chung về lòng yêu nước và độc lập dân tộc.
Cần phải mang lại cho họ những lợi ích kinh tế cụ thể. Không được chào
đón nồng nhiệt ở hội nghị, Cung quay ra thuyết phục các đồng chí mình ở
Bắc bộ.
Đầu tiên họ không hài lòng về việc chẳng ai quan tâm chiêu mộ giai cấp
vô sản vào Hội. Ngoài Tôn Đức Thắng, thợ máy của Pháp về nước trở thành
lãnh tụ công đoàn tại nhà máy đóng tàu Ba son và một vài “công hội đỏ”
khác ở những thành phố lớn, không có nhiều công nhân gia nhập Hội. Hoạt
động của Hội chủ yếu dựa vào các sinh viên từ Trung Quốc trở về. Số này
phần lớn xuất thân từ thành phần học giả và chủ yếu mở rộng tổ chức
trong tầng lớp bạn bè của mình. Cơ sở Hội ở nông thôn cũng rất yếu. Thứ
đến, họ không hài lòng về thái độ của lãnh đạo Hội đối với việc thành
lập Đảng cộng sản mà theo họ là tuyệt đối cần thiết. Tại hội nghị 5/28 ở HongKong,
khi Cung nêu vấn đề, Thụ đã gạt đi “để xem sau”. Sự bất mãn càng lộ rõ
trước thềm đại hội VI của QTCS được tổ chức vào hè năm 1928. Thất vọng
trước sự tan vỡ của liên minh Quốc - Cộng dẫn đến sự đàn áp đẫm máu
những người cộng sản tại Trung Quốc, bị buộc phải tỏ ra cứng rắn trong
cuộc đấu tranh giành quyền lực với Troski, Stalin đã yêu cầu các đại
biểu từ bỏ chính sách mặt trận liên hiệp rộng rãi được thông qua tại
đại hội II 8 năm trước. Các đảng CS tại thuộc địa được chỉ thị không
liên minh với các đảng tư sản dân tộc. Nội bộ trong đảng cũng phải
thanh lọc các phần tử “tiểu tư sản”. Những đảng viên thành phần trung
lưu phải được đưa đi “vô sản hoá”... . Tất cả phải hành động để chuẩn
bị cho làn sóng cách mạng mới trong điều kiện nền kinh tế của các nước
tư bản châu Âu đang có dấu hiệu đình trệ, hứa hẹn một cuộc khủng hoảng
kinh tế toàn cầu.
Vì chưa có đảng CS, Việt nam không có đại diện chính thức tại đại hội
VI. Tuy nhiên có 3 người Việt nam trong thành phần đảng CS Pháp. Một
người tên là Nguyễn Văn Tạo, quê gốc Nghệ an, đã từng bị đuổi khỏi
trường tại Sài gòn do các hoạt động chống đối. Ông này đã phát biểu tại
đại hội dưới tên An, kêu gọi cần nhanh chóng thành lập Đảng CS ở Việt
nam để lãnh đạo giai cấp vô sản nhỏ nhoi ở đó. Ông còn cho rằng những
tổ chức dân tộc cải lương như đảng Hiến pháp, đảng độc lập Việt nam (do
Nguyễn Thế Truyền lập) theo đường lối cải cách hoà bình là “cực nguy
hiểm” vì đánh lạc hướng dân chúng. Những nghị quyết của đại hội VI QTCS
càng làm căng thẳng thêm những bất đồng và đổ thêm dầu vào yêu sách đòi
cải tổ Hội thành đảng cộng sản có ý thức hệ tư tưởng rõ ràng. Dẫn đầu
phe chống đối vẫn là Trần Văn Cung. Sau một thời gian làm thợ, Cung tin
tưởng rằng chỉ bằng những khẩu hiệu yêu nước, khó có thể lấy được sự
ủng hộ của công nhân. Cần phải tăng tiền lương, giảm giờ làm! Và chỉ có
đảng CS mới làm được việc đó!!!
Tháng 5/1929, Thanh niên Hội tiến hành đại hội đầu tiên. 17 đại biểu
đại diện cho hơn 800 thành viên tại Bắc bộ, 200 từ Nam bộ và 200 từ
Trung bộ tập trung tại Hong Kong. Ngay sau khi đến nơi, Cung gặp Lê
Hồng Sơn đề nghị giải tán Hội và thành lập Đảng CS. Là thành viên của
nhóm cộng sản nòng cốt do Nguyến Ái Quốc thành lập trong Hội, đương
nhiên là Sơn ủng hộ việc cải tổ. Tuy nhiên Sơn nghĩ chưa đến thời điểm
vì các thành viên còn chưa đủ giác ngộ. Vả lại thành lập Đảng CS ở
Hongkong dễ gây chú ý cho chính quyền Quốc Dân Đảng tại Quảng châu. Tuy
nhiên Cung không nghe và đưa ra đề nghị ngay tại ngày đại hội đầu tiên.
Bị chủ tịch Lâm Đức Thụ từ chối thẳng thừng, Cung cùng với các đồng chí
liền bỏ hội nghị về Bắc bộ lập ra Đông dương cộng sản Đảng (CPI), công
khai chỉ trích Hội không tuân theo các quyết định của QTCS. Sau khi
Cung bỏ đi, hội nghị tiếp tục họp và thông qua nghị quyết về sự cần
thiết thành lập một Đảng CS ở Việt nam, tuy nhiên thời điểm chưa chín
muồi do giai cấp công nhân còn quá yếu và thiếu một lý thuyết cách
mạng. Hội nghị cũng chính thức đề nghị QTCS công nhận Hội. Các nhà lãnh đạo Hội đã mắc sai lầm nghiêm trọng khi đánh giá thấp sự
ủng hộ cho một đảng cộng sản từ phong trào cách mạng trong nước. Đông
Dương CS Đảng (CPI) ra sức lùa các thành viên của Hội sang hàng ngũ của
mình. Tháng 8, Hồ Tùng Mậu và Lê Quang Đạt ra tù ở Quảng châu và trở về
Hongkong . Được sự ủng hộ của Sơn, họ bí mật thành lập tổ chức cộng sản
bên trong Hội, gọi là An Nam cộng sản Đảng (ACP), cho Lâm Đức Thụ ra
rìa. Những chi bộ đầu tiên của ACP được thành lập ở Nam bộ. Cùng tháng,
Mậu gửi thư cho Cung đề nghị sát nhập, nhưng Cung từ chối vì “bận”. Bí
quá, Mậu viện cả QTCS: “Nếu chúng ta có hai Đảng, 1 ở phía Nam, một ở
phía Bắc, thì không hiểu quốc tế thứ Ba sẽ nghĩ thế nào?”.
Suốt năm 1929, các phe phái tiếp tục đả kích nhau với chiếc mũ
mensevick”. Cuối tháng 10, CPI cử Đỗ Ngọc Du tới HongkongK để hoà giải
mà không cần sự giúp đỡ của người ngoài. Tuy thế, do đã được dặn trước,
Du cứ khăng khăng đòi ACP giải thể và các đảng viên sẽ gia nhập CPI. Lẽ
dĩ nhiên là ACP từ chối. Trong khi đó, các đảng viên của Tân Việt ở
miền Trung cũng gia tăng hoạt động. Họ đổi tên thành Đông dương cộng
sản Liên đoàn, nhằm tránh sự đào tẩu của đảng viên sang hai đảng kia.
Thế là ở Việt nam có 3 đảng cộng sản một lúc còn Hội thì chỉ còn cái
vỏ. Cuối tháng 8, được tin Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Xiêm, Sơn cử
Lê Duy Diễm liên lạc với Quốc, hy vọng rằng Quốc, như người sáng lập
Hội có thể sử dụng uy tín và khả năng thuyết phục của mình để hoà giải
giữa các phe phái.
Matxcova cũng phê phán kịch liệt “sự chần chừ và thiếu kiên quyết” của
Hội và ra mặt ủng hộ CPI. QTCS nhấn mạnh sự cần thiết phải có ngay một
đảng thống nhất để lãnh đạo phong trào tại Đông dương và hứa sẽ gửi đại
diện đến làm trung gian. Giọng điệu của Matxxcova càng hưng phấn khi
nghe thị trường chứng khoán NewYork sập, tiếp theo những vụ khủng hoảng
ngân hàng tại Áo. Các nhà lãnh đạo Xô viết như cảm thấy thời khắc sụp
đổ của chủ nghĩa tư bản toàn cầu đã điểm. Mùa thu 1928, Dalburo mở chi
nhánh ở Thượng hải, gọi là Cục Viễn đông (FEB) . FEB đề xuất thành lập
một tổ chức mới với trụ sở ở Sing để điều phối hoạt động các nhóm cộng
sản ở Đông Nam Á, với tên gọi:“Liên hiệp các nhóm cộng sản”. ACP nắm
được tin này qua các đồng chí Trung Quốc của mình và tỏ ra không hào
hứng lắm. Đảng cộng sản Nam Dương, thành lập ở Sing giữa những năm 20,
chủ yếu là dành cho người Hoa, vì thế chịu ảnh hưởng sâu sắc của Đảng
CS Trung Quốc. ACP sợ rằng, Đảng CS Trung Quốc thực tế sẽ định hướng
các hành động của họ. Họ cho rằng các đồng chí Trung Quốc thường chỉ
quan tâm các vấn đề của mình và coi thường các dân tộc khác. Sơn gửi Lê
Quang Đạt đến Thượng Hải để thuyết phục FEB trực tiếp lãnh đạo ACP.
Ngày 16/12/1929 Hồ Tùng Mậu gặp phái viên của QTCS tại Hongkong. Phái
viên này cho rằng cả 3 phe đều chưa xứng với danh hiệu “cộng sản” và
nếu chưa có đảng thống nhất, hãy cứ để cho CPP lãnh đạo. ????
Tại Xiêm, Quốc được các đại biểu đi dự hội nghị 5/29 thông báo về sự
chia rẽ trong Hội. Liền đó, tháng 9, Quốc viết một bức thư gửi cho CPI
nói toẹt ra rằng, ông chỉ tin tưởng vào những người cộng sản, và để
chứng tỏ lòng trung thành của mình với QTCS, CPI cần cử đại diện sang
dự hội nghị dự kiến sẽ diễn ra ở Vladivostok vào đầu năm 1930. Lãnh đạo
CPI chần chừ. Quốc đã hai lần định vượt biên giới về Việt nam nhưg phải
hoãn vì bị cảnh sát
theo dõi quá sát sao. Khi ông đang chuẩn bị lần thứ ba thì phái viên từ
Hôngkong đến (có thể là Lê Duy Diễm???) mang theo những tin tức khẩn
cấp. Quốc liền đi Bangkok và từ đó đáp tàu đi Quảng châu.
Quốc đến Quảng châu 20/1/1930. Vì sợ cảnh sát Anh, Quốc viết thư mời
các đồng chí của mình từ Hongkong. Tuy nhiên họ lại cho rằng gặp nhau ở
Hongkong an toàn hơn vì cảnh sát Anh tỏ ra bao dung với các hoạt động
của các ngoại kiều, miễn là đừng mất ổn định của Hongkong. Điều kiện
sống ở Hongkong xem ra cũng tốt hơn ở Quảng châu. Người Hoa ở đây hiền
hơn, thỉnh thoảng mới xảy ra bãi công. Hồ Tùng Mậu cử một đệ tử của
mình hộ tống Quốc đến Hong kong và ở một khách sạn tại Cửu long. Ngay
lập tức, Quốc đến nhà Lê Hồng Sơn và gặp các lãnh đạo của Hội. Ông đả
kích họ đã xa rời quần chúng, miêu tả việc tách đảng như “trò trẻ con”.
Quốc còn gặp với đại diện của CCP_ Đảng CS Trung Quốc. Sau đó, ông gửi
thư mời ba phái cạnh tranh ở Đông Dương đến HongKong để chuẩn bị thành
lập đảng mới. Cuối tháng Giêng, các đoàn ACP, CPI từ Đông dương lục đục kéo đến HK.
Đại biểu của Liên đoàn bị bắt trên tàu thuỷ vì bị nghi đánh bạc. Ngày
3/2, Đại hội hợp nhất được diễn ra tại một căn nhà nhỏ ở khu phố nghèo
của Cửu long, sau đó lại phải chuyển đến một sân vận động. Đại biểu của
ACP là Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiều, đại biểu CPI là Trịnh Đình Cừ và
Nguyễn Đức Cảnh. Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn đại diện cho Hội cũ. Đại
hội diễn ra một cách êm thấm đáng ngạc nhiên. Quốc nhẹ nhàng chỉ trích
tất cả các bên và nhấn mạnh sự cần thiết phải đoàn kết. Hoá ra các mâu
thuẫn kịch liệt chỉ là biểu hiện của tự ái cá nhân. Miền bắc thì chê
miền nam lười và dễ tính, miền nam lại chê miền bắc khắc khổ và ương
ngạnh. Cả hai đều không bằng lòng với việc các đồng chí Nghệ An chiếm
hết vị trí lãnh đạo. Để tránh phiền phức, Quốc sử dụng uy tín QTCS của
mình đề xuất giải tán tất cả các tổ chức hiện tại, lập ra đảng mới và
được tán thành tức thì. Chỉ còn một vấn đề là đảng mới sẽ lấy tên là
gì. Nhưng điều này Quốc cũng đã lo trước, ông bỏ cả Đông dương, An nam
và sử dụng lại chữ Việt nam của triều Nguyễn, đảng mới sẽ có tên là
Đảng cộng sản Việt nam (VCP). Phần còn lại của Đại hội diễn ra trong
không khí đoàn kết và thân ái tiếp tục thông qua điều lệ và cương lĩnh
của Đảng.
Cần phải nhắc lại rằng Quốc đã được báo cáo về Đại hội 6 của QTCS và
những thay đổi về đường lối của phong trào, tuy nhiên ông không nhận
được bức thư phê phán của QTCS trực tiếp gửi Hội năm 1929 thông qua
FCP. Mặc dù thừa nhận rằng ở Việt nam chỉ có thể diễn ra cách mạng dân
chủ tư sản, QTCS vẫn nhấn mạnh giai cấp công nhân phải giữ vai trò lãnh
đạo và đấu tranh với tất cả các biểu hiện của bọn “dân tộc xét lại”. Lý
thuyết cách mạng hai giai đoạn của Lê nin được Hội kế tục cũng bị đả
kích là “kìm hãm và làm suy yếu quần chúng”. Cuối cùng bức thư kết
luận: “không cần phải đợi đến khi ACP được tái tổ chức mới có thể phát động quần chúng nổi dậy”.
Chịu ảnh hưởng của sự thay đổi đường lối của QTCS, Lời kêu gọi của đại
hội thống nhất tuy vẫn được gửi cho toàn thể nhân dân (công nhân, nông
dân, binh lính, sinh viên học sinh và tất cả anh chị em bị áp bức bóc
lột) Việt nam, nhưng đã xoá đi quan điểm của Quốc về liên minh
công-nông chiến lược. Lời kêu gọi công khai nhấn mạnh đây là “Đảng của
giai cấp vô sản”, có nhiệm vụ lật đổ “chế độ thực dân đế quốc, tàn dư
phong kiến và các lực lượng tư sản phản cách mạng”, lập nên nhà nước
“công nông binh” dần dần chuyển tiếp thành nhà nước XHCN. Dù thế, Quốc
cũng không dễ dàng từ bỏ đường lối thành lập mặt trận rộng rãi của
Lenin. Tài liệu chiến lược mới của đảng mới đòi hỏi phải lôi kéo sự ủng
hộ của trung nông, trí thức, tiểu tư sản và các nhóm dân tộc như đảng
Hy vọng Thanh niên của Nguyễn An Ninh. Chỉ có đảng Hiến pháp của Bùi
Quang Chiêu là bị coi là rõ ràng “phản động”. Chính sự trung thành với
Lê nin này sẽ mang lại cho Quốc rất nhiều sự rắc rối trong thời gian
sắp tới.
Trong thư gửi Hilary Noulens, đại diện cho FEB (Far East Buro), Quốc
miêu tả: “Từ quả trứng Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, đã nở ra Đảng
cộng sản Việt nam. Một tổ chức tuy còn non trẻ nhưng được tổ chức tốt
nhất, có hiệu quả nhất và sẽ tiến bộ nhanh chóng”. Đảng có 204 đảng
viên ở Bắc và Trung bộ, 51 tại Nam bộ, 15 ở Trung quốc và 40 ở Xiêm.
Trong các tổ chức sinh viên, học sinh, nông dân, Đảng có khoảng 3500
môn đồ. Thanh kiếm thần mà Lê Lợi đã dùng để đánh tan quân xâm lược từ thế kỷ 15, giờ đây đang nằm trong tầm tay của Quốc. *****************
FCP- Đảng CS Pháp CPI - Đông Dương CS Đảng ACP - An Nam cộng sản Đảng FEB - Cục Viễn đông CCP - Đảng CS Trung Quốc CPI - Đông Dương CS Đảng ACP - An Nam cộng sản Đảng VCP - Đảng cộng sản Việt Nam
|