|
6. Nghệ Tĩnh đỏ
Đảng cộng sản Việt nam ra đời, thỏa mãn ước mơ của Quốc khi rời quê
hương cách đây 21 năm, tìm một con đường để giải phóng đất nước. Cùng
với cuộc đại khủng hoảng đang diễn ra ở thế giới tư bản, phong trào
cách mạng ở Đông dương có vẻ như minh chứng cho dự báo của QTCS về ngày
huy hoàng sắp đến của cách mạng thế giới. Tuy nhiên, với Quốc, có nhiều
câu hỏi cần phải trả lời. Liệu đảng mới sẽ thuộc đảng bộ sắp được thành
lập tại Singapore hay sẽ báo cáo trực tiếp cho văn phòng FEB tại Thượng
Hải? Liệu Quốc sẽ tiếp tục đóng vai trò đại diện của QTCS hay sẽ trực
tiếp lãnh đạo Đảng? Nếu lãnh đạo thì sẽ đóng ở đâu vì nếu Quốc về Đông
dương, sẽ bị bắt và xử ngay.
Ngày 13/2, bất chấp cái lạnh, Quốc đi Thượng hải để liên lạc với
Hilaire Noulens tại trụ sở của FEB trong một biệt thự châu Âu trên phố
Nam kinh náo nhiệt. Gặp Noulens không phải là việc dễ. Ngày 18, Quốc
viết thư cho Nou, giọng rất bức xúc:
Tôi phải gặp đồng chí ngay, bởi vì
1/ báo cáo này đã viết 2 ngày vẫn chưa đến được tay đc;
2/ Mọi việc có thể giải quyết trong 1 giờ mà tôi đã ở đây 5 ngày rồi;
3/ tôi buộc phải ngồi không trong khi công việc chỗ khác đang chờ.
Trong bức thư, Quốc cũng kiên quyết phản đối quan điểm của QTCS về việc
thành lập các đảng khu vực, bỏ qua yếu tố dân tộc. Quốc không đồng ý để
VCP thuộc đảng bộ Đông Nam A, cho rằng Việt nam cần phải có một đảng
độc lập, báo cáo cho FEB qua văn phòng Hồng kông. Có vẻ như cuối cùng
Quốc cũng gặp được Nou và thuyết phục Nou đồng ý với quan điểm của
mình, vì sau đó vài ngày Quốc báo cáo với Dalburo ở Moscow. Nhưng vẫn
còn một vài khúc mắc:
Tôi không rõ vai trò của mình. Tôi là thành viên Đảng CS Pháp hay
Việt nam. Khi chưa có lệnh mới, tôi sẽ tiếp tục làm việc với VCP. Nhưng
dưới danh nghĩa nào? Tôi không thể về Đông dương vì đã có bản án tử
hình vắng mặt. Liệu vai trò của tôi với QTCS đã chấm dứt? Nếu không,
tôi có thể liên lạc với văn phòng địa phương được không? Rất mong Ban
chấp hành xem xét nhanh.
Trước khi rời Thượng hải, Quốc gặp Nguyễn Lương Bằng, một tay chân cũ
từ thời ở Quảng đông. Quốc dặn Bằng tìm cách tuyên truyền, thu phục gần
4000 lính Việt nam hiện đang đóng trong khu nhượng địa Pháp. Quốc còn
nhấn mạnh việc giữ vững quan hệ với Đảng CS Trung Quốc. Sau đó Quốc về
Hongkong thành lập văn phòng phía Nam của FEB, đợi lệnh mới. Văn phòng
này được đặt trong một ngôi nhà 2 tầng ở đảo HongKong, dưới danh nghĩa
một hãng buôn. Quốc thuê một căn hộ gần sân bay ở Cửu long, hoạt động
với tên gọi nhà báo Vương. Văn phòng có trách nhiệm liên lạc với các
đảng ở Đông Nam Á: Thái, Sing và Việt Nam
Cuối tháng 3, Quốc đi tour trong khu vực với nhiệm vụ khôi phục tổ chức
ở Nam Dương. Tại Thái lan, Quốc qua Udon Thani, thông báo về việc thành
lập VCP. Theo lời của Hoàng Văn Hoan, Quốc kêu gọi các thành viên của
Hội tham gia tích cực vào các hoạt động của đảng CS Thái sắp được thành
lập. Để trấn an tâm lý bất ổn vì không được tham gia trực tiếp vào giải
phóng VietNam, Quốc khuyên nên tổ chức Hội thành văn phòng tỉnh của
VCP. Cuối thàng 4, Quốc quay trở về Băng Cốc chủ tọa hội nghị thành lập
đảng CS Thái, bầu ban chấp hành lâm thời với 1 đại biểu Việt nam từ
Udon Thani. Sau đó Quốc đi Malaya và Sing, dự hội nghị đảng Nam Dương,
cải tổ thành đảng CS Malayan. Cả hai đảng mới đều báo cáo cho FEB qua
văn phòng HongKong. Quốc quay về HongKong giữa tháng 5.
Trong khi Quốc bận rộn “đỡ đẻ” cho các đảng mới, tình hình Việt nam
nhanh chóng trở nên căng thẳng. Đầu tiên là cuộc khởi nghĩa của Vietnam
Quốc Dân Đảng vào đầu tháng 2. Bỏ qua những nguyên tắc của Lenin về
việc vận động quần chúng, xây dựng cơ sở, Vietnam Quốc Dân Đảng dựa vào
một lớp các nhà cách mạng tinh túy, dự kiến sử dụng khởi nghĩa vũ trang
để lật đổ Pháp, với sự hậu thuẫn của các binh sĩ phản chiến. Quân đội
viễn chinh Pháp, do Toàn quyền Ly Myre thành lập từ năm 1879, có khoảng
30,000 quân, với khoảng 2/3 là dân địa phương. Đội quân này được chia
thành 31 tiểu đoàn do các sĩ quan Pháp chỉ huy. Ngoài ra còn khoảng
15,000 dân quân do hạ sĩ quan Pháp chỉ huy. Đa phần lính Việt nam là do
các chức sắc trong làng bắt đi, chẳng có cảm tình gì với Pháp. Đến cuối
những năm 20, tâm lý ghét Pháp trong binh sĩ dâng cao, là mảnh đất màu
mỡ để gieo tinh thần dân tộc chủ nghĩa. Từ năm 1929, Quốc Dân Đảng đã
bắt đầu tàng trữ vũ khí tại nhiều địa điểm trên cả nước. Đáng tiếc là
Pháp đã phát hiện và tiêu hủy phần lớn. Sau đó vấn đề thêm căng thẳng.
Một chủ đồn điền Pháp bị ám sát trên đường phố Hà nội khi vừa bước ra
cửa nhà người tình. Chính quyền nghi ngờ Quốc Dân Đảng đứng đằng sau,
lập tức vây bắt hàng trăm lãnh đạo đảng và những người ủng hộ. Lo ngại
trước nguy cơ bị tiêu diệt,Quốc Dân Đảng quyết định ra tay nhanh. Lúc
đó, họ đã có khoảng 1000 cơ sở trong các trại lính ở Bắc bộ. Đầu tháng
2, cuộc binh biến nổ ra ở một số đồn ở trung du Bắc bộ, quan trọng nhất
là ở Yên bái. Kế hoạch đầu độc các sĩ quan Pháp bị một tên chỉ điểm
tuồn cho Pháp. Viên chỉ huy trại lính đã đề phòng và khi cuộc bạo động
nổ ra vào giữa đêm, quân Pháp đã được chuẩn bị. Đến đầu giờ sáng thì
Pháp đã kiểm soát được tình hình. Cuộc nổi dậy ở một số địa điểm khác
cũng nhanh chóng bị dập tắt. Rất nhiều lãnh đạo bị bắt. Ngày 17/6, 13
kẻ cầm đầu bị xử tử tại Yên bái.
Cuộc khởi nghĩa đã thất bại ngay từ đầu về nguyên tắc, khi không có
những biện pháp kích động dân chúng tham gia, cũng không có phương án
“tẩu vi” khi gặp sự cố. Liên lạc cũng bị cắt đứt ở phút cuối, dẫn đến
sự thiếu đồng bộ trong hành động. Quan trọng hơn nữa là cuộc khởi nghĩa
không được sự ủng hộ của dân chúng trong toàn quốc. Các lãnh đạo thoát
chết chạy trốn sang Trung quốc và bị phân rã thành 2 nhánh: một nhánh
vẫn trung thành với chủ trương khởi nghĩa vũ trang, nhánh kia thì
nghiêng về cải cách hòa hoãn.
Trên thực tế thì tình hình Đông dương đang chứa đựng nhiều dấu hiệu bất
ổn. Đầu tiên là trong giới học trò. Mặc dù số lượng học sinh liên tục
tăng (đầu năm 1930, cả nước có 7000 trường công với gần 340,000 học
sinh), bất mãn vẫn không ngừng gia tăng do thiếu điều kiện học lên. Chỉ
có khoảng 5000 học sinh ở cấp trung học và khoảng 500 được vào học tại
đại học duy nhất ở Hà nội. Việc làm sau khi học xong càng không có,
lương thì thấp hơn hẳn các đồng cấp châu Âu, làm tăng thêm tinh thần
chống sự thống trị của ngoại quốc. Khi phong trào học sinh tạm lắng
xuống cuối những năm 20, đến lượt công nhân nổi dậy. Công nghiệp phát
triển mạnh kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nhưng chỉ có
giới chủ được hưởng lợi. Cuối những năm 20, giai cấp công nhân Việt nam
có 200,000 người, trong đó đã có 50,000 làm việc trong các khu mỏ ở
miền Đông bắc. Tình cảnh của công nhân làm việc tại các đồn điền chè và
cao su ở Tây nguyên và dọc biên giới Campuchia, hết sức khốn khổ:
Tất cả đều phải dậy từ 4h sáng mà nhiều người vẫn chưa kịp ăn sáng.
Kẻng tập trung lúc 5h và không ai được muộn. 20 phút tập trung là một
cực hình vì bọn chủ tìm mọi cớ để đánh đập, chửi bới. Sau đó tất cả
phải ra đồn điền, mỗi người phải cạo mủ từ khoảng 280 đến 350 gốc. Ai
không đủ tiêu chuẩn sẽ bị đánh, nếu không có tiền nộp chuộc. Chiều về,
phải phục dịch chủ, dọn dẹp nhà cửa. Cuộc sống đúng là: “con không biết
mặt cha, chó không biết mặt chủ”. Thực tế châu Âu cho thấy điều kiện trong xã hội tiền công nghiệp không
bao giờ dễ chịu. Việt nam cũng không phải là ngoại lệ. Công nhân các
“nhà hàng mồ hôi” ở Nam định, Hải phòng, hầm mỏ Quảng ninh hay các đồn
điền miền Nam đều cùng khổ như nhau. Việc tuyển dụng cũng không hẳn là
tự nguyện. Các băng nhóm tội phạm nhiều khi rình bắt người trên đường
rồi tống thẳng đến các nhà máy. Một số nông dân không đủ tiền nộp tô
cho địa chủ trốn ra thành phố. Nhưng cũng chẳng hơn gì. Đồng lương thì
chết đói. Bạo lực tràn lan. Charles Dickens mà còn sống hẳn sẽ rất hiểu
cuộc sống này.
Rồi cuộc đại khủng hoảng xảy ra. Tư bản Pháp bỏ chạy. Hơn một nửa số
nhân viên phải ra đường. Có người chạy về quê cuống quít tìm đường
sống. Nhiều người biểu tình phản đối. Bãi công nổ ra tràn lan. Có
trường hợp là do Tân Việt hoặc Thanh niên Hội xúi giục, nhưng đa số là
tự phát. Tháng ba/1930, công nhân đồn điền Phú riềng nổi loạn. Vài tuần
sau đến lượt nhà máy dệt Nam định, rồi Diêm Bến thủy. Pháp thẳng tay
dẹp loạn. Đã có nngười chết, nhiều người bị thương. Tình hình đặc biệt
nghiêm trọng ở Vinh. Rất nhiều công nhân có nguồn gốc từ những địa
phương lân cận, dẫn đến sự bất mãn cao độ ở nông thôn. Hàng ngàn nông
dân Thanh chương đã tràn vào đập phá đồn điền và treo cờ đỏ búa liềm.
Lính lê dương Pháp đàn áp giết hàng chục người.
Từ cuối năm 1929, Đông Dương CS Đảng đã cử một đảng viên kỳ cựu của
mình là Nguyễn Phong Sắc về nằm vùng ở nhà máy Diêm Bến thủy. Vài tuần
ngay sau Hội nghị thành lập tháng 2/1930, Tỉnh ủy Nghệ an rồi các chi
bộ địa phương liên tiếp được thành lập và hầu như hoạt động tự do vì
Pháp không để ý, còn quan lại địa phương thì sợ. Các cán bộ địa phương
tự chủ hoạt động mà không cần bất cứ sự lãnh đạo nào từ TƯ, tiếp tục
thổi ngọn lửa cách mạng.
Đến đầu tháng 9, tình hình bắt đầu vượt khỏi tầm kiểm soát. Nông dân
các huyện dọc sông Cả nổi dậy cướp chính quyền, tổ chức theo kiểu Liên
xô thành các Xô-viết, chủ yếu là từ thành phần nông dân nghèo. Chính
quyền mới lập tức xóa bỏ các loại sưu thuế, lấy lại ruộng đất từ tay
địa chủ để chia cho dân nghèo. Công nhân Bến thủy và học sinh Huế đồng
loạt biểu tình ủng hộ. Lo sợ, Pháp lập tức tăng cường quân lê dương để
hỗ trợ quân triều đình. Ngày 12/9 khi hàng ngàn người từ Yên Xuyên đổ
về Vinh để chiếm trụ sở ngân hàng Đông dương, máy bay Pháp đã ném bom
thẳng vào đoàn người. Con đường từ Yên xuyên về Vinh đẫm máu và xác
người.
Trong lúc Nghệ Tĩnh đang bạo loạn, Đảng bộ địa phương đang bối rối
không biết phải hành động thế nào, tại Hongkong, những lãnh đạo cao cấp
ráo riết chuẩn bị cho Hội nghị toàn thể trung ương lần thứ nhất. Cuối
tháng 9, đoàn Nam bộ đến nơi nhưng chẳng thấy dấu hiệu gì của đoàn Bắc
và Trung bộ. Được sự đồng ý của Quốc, anh em định bỏ về, thì thật may
mắn có mấy đại biểu của Bắc kỳ đến từ Hải phòng ngay trước giờ lên
đường. Tất cả quyết định vẫn tiếp tục hội nghị. Quốc và Trần Phú đi
Thượng hải để tư vấn với Noulens. Đầu tháng 10, Phú quay về. Quốc ở lại
thêm vài ngày rồi trở về HongKong trên một con tàu Mỹ.
Ngày 20/10, Hội nghị khai mạc tại một căn hộ nhỏ ở phố Khai Y, đảo
HongKong. Nhờ trời, đến lúc này, đại biểu 3 miền đều có mặt, trừ một
đại biểu đã đến được HongKong nhưng lại bị lạc vì không tìm được địa
điểm.
Quốc vừa là chủ tịch vừa là đại diện của QTCS. Trong số đại biểu, có
một thiếu nữ da nâu, hấp dẫn. Đó chính là Nguyễn Thị Minh Khai, được cử
sang giúp cho Quốc tại Văn phòng miền Nam từ tháng 4/1930. Chủ đề chủ
yếu của Hội nghị là thảo luận cương lĩnh chính trị chính thức thay thế
đề cương tạm thời do Quốc soạn thảo tại Hội nghị thống nhất hồi tháng
2. Đề cương của Quốc thừa hưởng từ cương lĩnh của Thanh niên Hội nên
hiển nhiên là có một số điểm không trùng với quan điểm chính thống của
Matxcova tại thời điểm này, tỷ như vai trò chính thống của giai cấp
công nhân hoặc kế hoạch cách mạng 2 giai đoạn của Lênin. Đa số các đại
biểu đã chấp nhận quan điểm của Matxcova, thay thế cho những “khiếm
khuyết” của đề cương tạm thời của Quốc. Ngày 9/12, Ban chấp hành TƯ mới
ra thông tư (chắc là do Phú thảo), đả kích quan điểm mặt trận thống
nhất bao gồm cả những phần tử tư sản của hội nghị tháng 2. Thông tư
cũng phê phán chủ trương hợp nhất bình đẳng, cho rằng lẽ ra phải chọn
những thành phần ưu tú nhất của mỗi phái.
Cương lĩnh chính trị mới đề nghị thành lập mặt trận phản đế, do công
nhân lãnh đạo, kết hợp với bần nông và trung nông. Mặt trận không cấm
các phần tử tư sản, nhưng cương lĩnh cảnh báo, phải hết sức cẩn thận
với bọn này. Đảng có thể hợp tác với các đảng dân tộc khác, nhưng phải
chống lại quan điểm “dân tộc hẹp hòi” của các đảng này, và tiêu diệt
ảnh hưởng của chúng đến quần chúng. Cương lĩnh cũng đề xuất khai trừ
những phần tử chủ trương khủng bố, ám sát, coi thường quần chúng. Chủ
trương này chắc chắn được sự ủng hộ của Quốc, vì ông đã phát biểu tương
tự khi nhận xét cuộc khởi nghĩa Yên bái. Một kết quả nữa của hội nghị
tháng 10 là việc đổi tên đảng từ đảng cộng sản Việt nam thành đảng cộng sản Đông dương do sức ép của Liên xô.
Rõ ràng là Matxcova cho rằng chữ “Việt nam” quá “dân tộc chủ nghĩa”
không phù hợp với “cách mạng thế giới”. QTCS cũng đang kêu gọi những
nước nhỏ thành lập những đảng khu vực.
Tình hình bạo loạn ở miền Trung cũng đã gây chú ý. Đến lúc đó gần như
mọi sự ngã ngũ, cuộc nổi dậy chỉ diễn ra lẻ tẻ ở vài huyện. Nông dân,
công nhân, tầng lớp thị dân, thậm chí cả dân nghèo miền Bắc cũng tỏ
thái độ thờ ơ, không nổi dậy hưởng ứng. Nghị quyết hội nghị kêu gọi các
lãnh đạo địa phương tìm mọi cách để mở rộng phạm vi ảnh hưởng trong cả
nước, và chỉ thị không được manh động, sử dụng bạo lực mù quáng. Một
thông điệp gửi riêng cho đảng bộ Nghệ tĩnh nêu rõ:
Nếu quần chúng đứng lên tự phát, đảng đương nhiên phải lãnh đạo.
Trường hợp này, có bằng chứng cho thấy đảng bộ địa phương đã chủ động
“giật dây”, và đấy là một sai lầm chết người:
1/ Tình hình cách mạng và nhận thức quần chúng chưa chín muồi ở nhiều địa phương.
2/ Tại một số xã, phong trào mạnh thì lại quá thiếu vũ khí.
Hội nghị đã bầu Ban chấp hành TƯ và Ban thường vụ gồm Trần Phú, Nguyễn
Trọng Nghĩa và Nguyễn Phong Sắc (mặc dù ông này không dự). Trần Phú còn
được bầu làm Tổng bí thư. Quốc tiếp tục là đại diện cho QTCS. Ban đầu
Ban thường vụ định đóng ở Hải phòng, nhưng sau chyển vào Sài gòn do lý
do an ninh. Quốc không thể không biết rằng những quyết định của Hội
nghị lần này đã mâu thuẫn rõ ràng và thậm chí trắng trợn với những tư
tưởng và phong cách lãnh đạo của mình. Nhiều chỉ trích hoàn toàn không
có cơ sở. Từ thời lãnh đạo Thanh niên Hội, Quốc đã cố gắng nâng cao
trình độ nhận thức tư tưởng của các thành viên. Bây giờ khi các thành
viên trẻ hơn cáo buộc về tội yếu kém về tư tưởng, chắc Quốc rất đau. Trên
thực tế, quan điểm mới của QTCS không những không phù hợp với Quốc mà
còn là bước lùi so với những tư tưởng của Lenin đầu những năm 20. Quốc đã chấp nhận tất cả với một thái độ nhã nhặn: “lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác” và viết báo cáo gửi cho Noulens sau khi hội nghị kết thúc.
Vào cuối thu và mùa đông năm 1930-1931, Pháp tăng cường đàn áp. Biểu
tình bị dập tắt ngay lập tức, quân đội tràn vào chiếm đóng những làng
xã ủng hộ biểu tình. Đảng bộ các tỉnh miền Trung báo cáo tinh thần dân
chúng xuống thấp. Những phần tử tích cực cuống quýt quay sang các biện
pháp như ám sát hoặc khủng bố để trấn áp dân chúng. Pháp càng đàn áp dữ
hơn. Ban thường vụ cũng lúng túng, chỉ thị: ”chúng ta không có máy bay,không có quân đội để ứng cứu. Nhưng tuyệt đối không được hoảng loạn”.
Tại Hongkong, Quốc cũng hết sức cố gắng để lôi kéo sự chú ý của thế
giới. Trong báo cáo gửi cho Moscow, Quốc nói suốt ngày gõ cửa các đồng
chí ở văn phòng FEB tại Thượng hải, để kêu gọi các đảng khác ủng hộ
phong trào tại Việt nam. Trong một bài báo viết năm 1931, có tên “Nghệ
Tĩnh đỏ”, Quốc ca ngợi sự kết hợp của công nhân với nông dân và kết
luận, cuộc nổi dậy xứng đáng được tô màu “đỏ”.
Quốc cũng hết sức băn khoăn về khả năng của mình có thể tham gia tích
cực vào việc lãnh đạo phong trào. Mâu thuẫn với Trần Phú ngày càng căng
thẳng. Phú thẳng cánh chỉ trích quan điểm “dân tộc” của Quốc, phản bội
lại những tư tưởng của QTCS. Phú cũng không dấu diếm tham vọng kiểm
soát đảng trong tương lai. Trong một lá thư gửi Quốc tháng Giêng năm
1931, Phú kêu ca về sự mất liên lạc với văn phòng FEB tại Thượng hải và
cho rằng Quốc chính là thủ phạm. Phú viết, nếu Quốc không thể đảm bảo
được liên lạc, thì văn phòng ở Hongkong có vai trò gì? Mặc dù rất khó
chịu với giọng điệu “bề trên” của Phú, Quốc vẫn tìm cách bắt liên lạc
với Thượng hải và thúc giục Noulens nhanh chóng có những chỉ thị cho
phong trào ở Việt nam.
Đầu tháng 3, Joseph Ducroux, điệp vụ của QTCS dưới tên gọi Serge
Lefranc đến HongKong để gặp Quốc trong chuyến đi thị sát khu vực. Quốc
và Lefranc quen nhau từ đầu những năm 1920 khi cùng tham gia Liên đoàn
cộng sản trẻ tại Paris. Lefranc cho rằng sử dụng Quốc chỉ với mục đích
liên lạc và phiên dịch thì quá phí và đề nghị chuyển Quốc về văn phòng
Thượng hải, trực tiếp chỉ đạo Đông dương. Hai tuần sau, Lefranc đến Sài
gòn. Ngày 23, Ngô Đức Trí, thành viên Ban thường vụ mới, từng gặp
Lefranc khi học tại trường Stalin, gặp Lefranc tại khách sạn Sài gòn
Palace. Ngày hôm sau, Lefranc gặp 2 thành viên còn lại tại nhà Phú,
chuyển tiền và hứa Noulens sẽ sớm gặp ban lãnh đạo Đảng CS Đông Dương.
Lefranc cũng thông báo việc chuyển Quốc về Thượng hải. Sau khi gửi bưu
thiếp cho Quốc, Lefranc rời Sài gòn ngày 27.
Cảnh sát Pháp bắt đầu thành công trong việc truy quét, bắt bớ những
phần tử cộng sản đầu sỏ, từ đó tra khảo ra những đầu mối khác. Nội bộ
phong trào bắt đầu có hiện tượng rối loạn, nghi kỵ lẫn nhau. Thậm chí
khi Nguyễn Đức Cảnh bị bắt năm 1929, đảng bộ miền Trung đã quyết định
ám sát ông này trong nhà tù để khỏi khai lung tung. Cuối tháng 3/1931,
Trần Phú triệu tập hội nghị trung ương lần thứ hai tại Sài Gòn.Không rõ
là hội nghị bàn về vấn đề gì nhưng thấy nghị quyết dũng cảm tuyên bố
nhờ tình hình thế giới
thuận lợi và những cố gắng của đảng, phong trào vẫn phát triển mạnh mẽ.
Hội nghị cũng thừa nhận những vấn đề nghiêm trọng đang tồn tại. Vai trò
lãnh đạo của đảng tại Bắc kỳ rất yếu, do tư tưởng “tiểu tư sản” bị thừa
hưởng từ Thanh niên Hội, không thâm nhập được vào giai cấp nông dân và
công nhân. Vài ngày sau hội nghị, cảnh sát bất thình lình ập vào ngôi
nhà Ban thường vụ đang họp kín với đại diện các địa phương ở Nam bộ.
Tất cả đều bị bắt, trừ Trần Phú đúng lúc đó đang ra vườn đi vệ sinh nên
đã kịp thoát ra cổng sau. Trong tù, Ngô Đức Trí không chịu được tra tấn
đã khai ra tuốt tuột. Đến ngày 17/4, trong ban lãnh đạo đảng, chỉ còn
Trần Phú tự do.
Cùng ngày, Phú viết thư cho văn phòng FEB - Cục Viễn đông , buộc tội
những đảng viên nòng cốt Bắc kỳ và Trung kỳ, vẫn bị ảnh hưởng của giới
lãnh đạo cũ, chống đối lại đường lối mới, dẫn đến thảm họa hiện tại.
Tuy nhiên Phú vẫn lạc quan thông báo, hiện tại đảng đã có tới 2400 đảng
viên so với 1500 hồi tháng 10; hơn 63000 nông dân đã tham gia cách
mạng, so với chỉ có 2800 mùa thu năm trước. Đảng sẽ phát triển và cần
tiền, Phú kết luận. Trước đó vài ngày, Noulens đã viết thư phê phán
Quốc ở HongKong không cung cấp đầy đủ các thông tin về tình hình ở Đông
dương, chẳng hạn tại sao lãnh đạo bị bắt và trong hoàn cảnh nào? Để FEB
có thể rút ra những kinh nghiệm và bài học. Noulens cho rằng việc
chuyển Quốc về Thượng hải tại thời điểm này là không hiện thực và cần
chuẩn bị kỹ lưỡng hơn nữa. Ngày 20/4, Quốc viết cho Ban thường vụ ở Sài
gòn, chuyển tải những yêu cầu của Noulens. Ngày 24/4 Quốc viết cho Phú,
kêu ca về vai trò của mình chẳng khác gì “hộp thư”, và sẵn sàng làm
nhiệm vụ khác. Trong mọi trường hợp Quốc nhấn mạnh vai trò của việc bảo
đảm thông tin đầy đủ. Nhưng Phú không bao giờ nhận được những bức thư
này. Ngày 18/4 Phú bị bắt. Mấy tháng sau, Phú chết trong tù. Có nguồn
tin nói là do lao phổi, nguồn khác lại cho rằng do tra tấn. Ngô Đức Trí
và Nguyễn Trọng Nghĩa đang ngồi tù. Nguyễn Phong Sắc bị hành hình trong
tháng 4. Ban lãnh đạo đảng trong Đông dương hoàn toàn bị tan rã. Theo báo cáo của Surête, cuối mùa xuân năm 1931, hơn 2000 người đã bị
hành hình, 51000 thành viên của phong trào bị bắt. Thêm vào đó là hạn
hán trong các tỉnh miền Trung dẫn đến mất mùa. Hơn 90% dân Nam đàn,
Nghệ an có nguy cơ chết đói. Ngay cả những người ôn hòa như Bùi Quang
Chiêu cũng phải viết trên tờ La Tribune Indochinoise: miền Trung đang
yên tĩnh, nhưng đó là sự im lặng của chết chóc.
Ngày 12/5/1931, Noulens gửi cho Quốc bản đánh giá có tính phê phán tình
hình Đông dương. Noulens phê phán lãnh đạo đảng đã không tuân thủ
nghiêm ngặt những chỉ dẫn của QTCS. Đặc biệt là chủ nghĩa “anh hùng quá
khích”, nổi dậy vội vã, bắn cảnh sát hay những hành động khủng bộ khác
đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến phong trào. Họp hành thì dài dòng và
thoải mái, không có những biện pháp bảo mật. Thiếu những biện pháp giáo
dục và tổ chức quần chúng. Cuối cùng Noulens hứa sẽ báo cáo tình hình
Đông dương cho phong trào cách mạng thế giới và dặn “Tìm mọi cách viết
cho chúng tôi về hoạt động, thành tích và thất bại của các bạn”
Trong lúc chờ đợi phân công công tác mới, Quốc sống trong một căn hộ
nhỏ ở bán đảo Cửu long và sa vào quan hệ tình ái với Nguyễn Thị Minh
Khai.????? Cũng như Quốc, Duy (tên hoạt động của Nguyễn Thị Minh Khai)
là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại. Cô sinh năm 1910 tại một gia đình
danh giá ở Hà đông. Ông nội Duy là một quan chức triều đình ở Bắc
giang, đã đậu đến Phó bảng. Bố Duy, ông Nguyễn Văn Bình, sau khi thi
trượt, chấp nhận làm một nhân viên hỏa xa ở Vinh năm 1907. 14 tuổi, khi
vào trường trung học, Duy được Trần Phú truyền bá những tư tưởng cách
mạng. Năng nổ và xinh xắn, cô lập tức được Quốc chú ý ngay khi đến Hong
kong. Không có nhiều tài liệu viết về mối tình Quốc-Khai và cũng không
rõ họ có cưới nhau chính thức hay không?
Cuộc hôn nhân của Quốc với Tăng Tuyết Minh coi như tan vỡ sau khi Quốc
bỏ trốn năm 1927, mặc dù có một số chứng cớ cho thấy Minh đã gặp Quốc
tại HongKong đầu những năm 1930. Lâm Đức Thụ đã khai với mật thám Pháp
là Minh chê Quốc già, và đồng ý lấy Quốc chỉ vì tiền???? Trong một bức
thư nhờ Thụ chuyển cho Minh, Quốc viết: “Mặc dù chúng ta xa nhau và
không nói ra nhưng tình cảm vẫn nguyên vẹn. Cho anh gửi lời hỏi thăm
tới mẹ em”. Mùa xuân năm 1931, Quốc xin phép văn phòng FEB được cưới
Nguyễn Thị Minh Khai. Noulens trả lời phải báo trước cho ông ta hai
tháng trước khi làm đám cưới. Không may, ngay sau đó Khai bị cảnh sát
HongKong bắt vì nghi ngờ hoạt động chống phá. Nhờ tự khai là công dân
Trung Quốc dưới cái tên Trần Thái Lan, Khai bị di lý về Quảng đông,
tống giam vài tháng rồi được thả ra vì thiếu chứng cớ. Khoảng cuối
tháng 4, đầu tháng 5, Quốc viết thư cho Noulens thông báo vắn tắt một
đồng chí trong đội liên lạc bị bắt. Sau đó lại nhắc lại đề nghị được
chuyển công tác.
Cùng thời điểm, Lefranc vẫn tiếp tục chuyến đi của mình đến Singapore
để tiếp xúc và thu nhập thông tin với các thành viên của đảng cộng sản
Malayan - MCP. Cả Quốc lẫn Noulens đều đang rất cần những thông tin
này. Do được Quốc báo trước, một lãnh đạo của MCP là Phú Đại Thanh,
chiến hữu của Quốc khi thành lập đảng ở Xiêm, đã hẹn gặp Lefrance tại
Collier’s Quay. Cảnh sát Anh đã theo dõi Lefranc từ lâu và mất dấu ông
này ở Ấn và Xrilanca. Lần này thì chúng gặp may. Phú đang bị cảnh sát
bám sát vì quan hệ với một đảng viên người Indonexia Tan Malaka. Khi
được biết là Phú sẽ gặp một điệp viên từ châu Âu sang có tên là
Lefranc, cảnh sát nghi ngờ ngay đó chính là Joseph Ducroux, đã được
London báo từ trước. Sau khi bắt giữ cả hai, cảnh sát đã lục soát phòng
ngủ và thu tất cả các giấy tờ của Lefranc, trong đó có cả bưu thiếp của
Quốc (dưới tên T.V. Wong) và Noulens. Lefranc và đồng phạm bị xét xử và
tống giam tại Sing, còn thông tin về Quốc và Noulens ngay lập tức được
báo về Thượng hải và Hong kong.
2:00 giờ sáng ngày 6/6, cảnh sát HongKong ập vào một căn hộ trên bán
đảo Cửu long, bắt đi trên tầng 2 một người đàn ông có tên là Tống và
một phụ nữ trẻ tự xưng là cháu của ông ta và có tên là Lý Sâm. Dựa trên
những tài liệu, truyền đơn thu được, cảnh sát đã xâc định đó chính là
điệp vụ của QTCS Nguyễn Ái Quốc, còn người phụ nữ là Lý ưng Thuận, vợ
của Hồ Tùng Mậu. Cuộc sống phút chốc bị đảo lộn. Mọi quan hệ với trong
nước bị cắt đứt. Đe dọa nhãn tiền là bị dẫn độ cho Pháp và triều đình
Annam. Tương lai vô cùng bất định!
*****************
* FEB - Cục Viễn đông
* CCP - Đảng CS Trung Quốc
* VCP - Đảng cộng sản Việt nam
|