Vũ Khí Trong Thế Chiến Thứ 2: Hồng quân Liên Xô-Hành Trình Vệ Quốc PDF Print E-mail
Written by lichsuvn.info   
Saturday, 08 September 2007
Vũ khi của Hồng Quân Liên Xô trong Thế Chiến Thứ Hai Nagant M1895

tên đầy đủ là Nagant M1895 Revolver. được thiết kế bởi một nhà ccoong nghiệp người bỉ: Léon Nagant. nó được trang bị thụy điển, poland, pháp, và quan trọng nhất là nga. có thể nói nó là một trong những khẩu súng có thời gian phục vụ dài nhất trong lịch sữ : từ năm 1895 đến tận bây giờ (nếu ai từng ra vùng siberi, cảnh sát vẫn còn dùng nó đãy). vào năm 1933, Nagant M1895 bắt đầu được thay thế bởi một khẩu súng hiện đại hơn khẩu TT-33. có tầm bắn khoảng 200 yard, dùng nhiều loại đạn khác nhau, bắn tốt nhất ở cự ly 36 yard, nó là súng tiêu chuẩn của quân đội nga, nhân viên cảnh sát, KGB và NKVD ( sorry, không hiểu lắm về từ này). tính cho tới nay, đã có khoảng hơn 2 triệu khẩu được sản xuất. trong suốt chiến tranh thế giới thứ 2 Nagant M1895 được trang bị cho lực lựong trinh sát vì nó có tiếng nổ khá nhỏ nên khó bị lộ. trong chiến tranh Việt Nam các sĩ quan của quân giải phóng cũng dùng nó bên cạnh khẩu TT-33
thông số
Class: Pistol
Functionality: Bolt-Action
Calibre: 7.62 x 38 R (7.62mm Nagant)
Magazine: 7 Rounds
Range: 200 yard

TT-33

tên đầy đủ là Tula Tokarev model 1933, được thiết kế vào năm 1930 bởi Fedor Tokarev nhằm thay thế cho khẩu Nagant M1895. tuy được thiết kế vào năm 1930 nhưng mãi đến năm 1933, TT-33 mới được quân đội chấp nhận và trở thnahf súng tiêu chuẩn không chỉ của binh lính mà còn của cả sĩ quan. là súng lục bán tự động,băng đạn 8 viên, có tầm bắn khoảng 50m, tuy nhiên, nó chưa bao giờ làm tròn nhiệm vụ thay thế khẩu Nagant M1895. khẩu TT-33 được rất nhiều các nươcs khác mô phỏng lại như China, Poland, Hungary, Bắc Triều Tiên, Nhưng thành công hơn cả có lẽ là Ai Cập, Yugoslavia , và Bắc Triều Tiên.
[color="Red"]thông số
Class: Pistol
Functionality: Semi-Auto
Calibre: 7.62x25mm Tokarev M1930
Magazine: 8 Rounds
Range: 50m

AVS-36

mặt bên trái

mặt bên phải
được thiết kế bởi Sergei Simonov, nó là khẩu súng trường sử dụng khí gas để lên đạn sau mỗi lần bắn, đông thời cũng có thể lựa chọn chế độ bắn riêng.
khẩu AVS-36 trở thành súng tiêu chuẩn của hồng quân trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, tuy nhiên không thấy nó xuất hiện nhiều trong các cuộc chiến với lính đức. với tầm bắn hiệu quả rất lớn 1500m, AVS-36 được gắn thêm ống ngắm bắn tỉa để tăng cường độ chính xác.
thông số
Class: Rife
Functionality: Semi-Auto
Calibre: 7.62x25mm Tokarev M1930
Magazine: 15 Rounds
Range: 1500m

SVT-40

là khẩu súng bán tự động được sử dụng rộng rãi trong thế chiến thứ hai bởi hông quân xô viết. thiết kế bởi Sergei Gavrilovich Simonov, vào những năm đầu cuộc chiến, thấy trước nguy cơ phát xít đức sẽ tấn công mình nên Stalin đã dành một sự quan tâm đặc biệt cho những loại súng trường bán tự động của quân đội. khẩu SVT-40 nhanh chóng đáp ứng được các yếu cầu cần thiết lúc bấy giờ và được đưa vào sản xuất hàng loạt để trang bị cho quân đội. có tầm bắn hiệu quả lên đến 500m, băng đạn 10 viên, chính xác, nó đã góp phần không nhỏ vào việc đánh bại phát xít đức của hồng quân.
thông số
Class: Rifle
Functionality: Semi-Auto
Calibre: 7.62x54mm
Magazine: 10 Rounds
Range: 400m

Mosin-Nagant

được thiết kế bởi một đại tá trẻ tuổi tên là Sergei Ivanovich Mosin. Mosin-Nagant là khẩu súng trường tiêu chuẩn của quân đôi hoàng gia nga, sau đó là hông quân, băng đạn 4 viên, tốc độ bắn 15 viên/phút, tầm bắn hiệu quả 548m (600 yard), tầm bắn lớn nhất 2000 yard (1848m). Mosin-Nagant được sử dụng bởi rất nhiều nước ngoài liên xô như: trung quốc, triều tiên, các nước trong khối Warsaw Pact. và mãi đến năm 1998 nó mới được ngừng sản xuất hoàn toàn. tính tới khi được ngưng sản xuất hoàn toàn, đã có khoảng hơn 37 triệu khẩu Mosin-Nagantđược sản xuất (kinh hoàng chưa )
thông số
Class: Rifle
Functionality: Bolt-Action
Calibre: 7.62x54mm
Magazine: 5 Rounds
Range: 400m

PPD-40

là sáng chế của Vasily Degtyaryov, nó là một bản sao của khẩu MP28 của đức về tính năng. tuy nhiên nó lại đắt và quá phức tạp đễ có thể sản xuất với số lượng lớn. nói cách khác hông quân liên xô cần một thứ "súng tiểu liên rẻ tiền"
thông số
Class: SMGle
Functionality: FULL auto
Calibre: 7.62 x 25 mm TT
Magazine: 25-71
Range: 160m

PPSh-41

khẩu súng cực kỳ nổi tiếng của hông quân liên xô, là một phiên bản rẻ tiền của khẩu PPD-40, nhưng các nhà sáng chế của liên xô đã thành công trong việc cải tạo tính năng chiến đấu của PPSh-41. với tầm bắn 200m, băng đạn 35 đến 71 viên, có thể bắn full hay semi, dễ bảo quản ngay cả trong điều kiện xấu, nó trở thành vũ khí tiêu chuẩn của hông quân và phần nào vượt qua cả khẩu PPD-40 về mặt tính năng. khoảng 6 triệu khẩu đã được sản xuất đến cuối năm 1945.
thông số
Class: SMG
Functionality: Full-Auto
Calibre: 7.62x25mm Tokarev M1930
Rate of Fire: 900 rpm
Magazine: 35 stickmag or 71 drum
Range: 200m

PPS-43

khó có thể nói chính xác đây là bản rút gọn hay là bản cải tiền của khẩu PPSh-41. nếu PPSh-41 trang bị cho hầu hết các đơn vị bộ binh xung phong thì PPS-43 lại được trang bị cho biệt kích, lính tăng, trinh sát, và công binh. sở dĩ như thế là vì PPS-43 nhẹ hơn, gọn hơn thích hợp cho các đơn vị không trực tiếp chiến đấu bằng vũ khí cá nhân (lính tăng, công binh) hay không phải chiến đấu dài ngày (trinh sát, biệt kích). là súng full auto, cự ly 200m, băng đạn 35 viên, được sản xuất khoảng 2 triệu khẩu.
thông số
Class: SMG
Functionality: Full-Auto
Calibre: 7,62 x 25 mm
Rate of Fire: 700 rpm
Magazine: 35 Rounds
Range: 200m

ực lượng lính bắn tỉa
cho phép Zero nói riêng cái này chút xíu nhá :
hiếm có quân đội nào lại có một lực lượng bắn tỉa đông như hồng quân. trong khi với các nước khác, lực lượng bắn tỉa chỉ đóng vai trò phụ trợ trong chiến trận. thì với hồng quân lính bắn tỉa của họ đựơc xem như những người lính xung phong. lực lượng bắn tỉa của hồng quân được tổ chức lên tới cấp sư đoàn và họ tham gia gần như tất cả các chiến dịch lớn trong chiến tranh. trong các trận chiến , thay vì ở lại phía sau và hỗ trợ cho bộ binh xung phong thì họ cũng phải dàn quân xung phong như bất kỳ một lính bộ binh xung phong nào. hồng quân có lý do để làm chuyện đó, trước sức tấn công của quân đôi đức, yêu cầu đặt ra với mọi người lính hồng quân là phải hạ dối phương càng nhanh càng tốt, ngay khi đối phương còn cách xa quân ta. chính vì thế, bộ chỉ huy đã quyết định đưa lực lượng bắn tỉa trở thành lực lượng xung phong thứ hai sau lính bộ binh, đồng thời tăng cường cự ly bắn hiệu quả của các loại vũ khí . với sự trợ giúp của ống ngắm quang học, lính bắn tỉa có thể hạ đối phưong ngay lập tức chỉ với một viên đạn ở cự ly rất xa. điều này giúp giảm thiểu thời gian chiến đấu hao phí do bắn trật bởi cự ly xa. hầu như mọi loại súng trường của hồng quân đều được gắn thêm ống ngắm quan học (trừ dòng tiểu liên PPSH). trên thực tế đã chứng minh sự đung dắn của quyết định trên, các lực lượng bộ binh quốc xã đã phải trả giá cực kỳ đắt khi xung phong trước mặt bộ binh hồng quân. họ phải chờ xe tăng lên trước làm khiên đỡ đạn. trong chiến dịch stalingrat lính bộ binh đức đã không dám xung phong mà phải nhờ đến xe tăng và máy bay, bộ binh đức hiểu rằng chỉ cần minh ngóc đầu lên, cái chết là điều không thể tránh khỏi.

F1 grenade

thông số
Weight:600 g
Length: 130 mm
Diameter: 55 mm
Filling: TNT
Filling weight: 60 g

RGD-33 Grenade

thông số
Class: Grenade
Charge: n/a
Throwdistance: Medium

RG-42

thông số
Weight: 420 g (with fuze)
Length: 130 mm (with fuze)
Diameter: 55 mm
Filling: TNT
Filling weight: 110 to 120 g

Russian M1910 Maxim

là súng trọng liên được dùng trong thế chiến 1 và cả trong thế chiến 2. nó có một tấm khiên lớn để bảo vệ cho xạ thủ nhưng đồng thời cũng làm tầm nhìn của xạ thủ kém đi.
thông số
Class: HMG
Functionality: Full-Auto
Calibre: 7.62 x 54 mm R
Rate of Fire: 600 rpm
Magazine: 250 round belt
Range: 500m

Degtyaryov light machine gun

là trung liên bắn chặn hiệu quả nhất của hồng quân trong suốt thế chiến thứ hai. tầm bắn hiệu quả lên tới 800m, nó còn được dùng làm súng cao xạ hạng nhẹ. nhược điểm của loại súng này là quá ít đạn (đối với một khẩu trung liên), chỉ có khoảng 47-49 viên.
thông số
Class: LMG
Functionality: Full-Auto
Calibre: 7.62x54mm
Rate of Fire: 600 rpm
Magazine: 47-49 round detachable pan
Range: 800m

SG-43 Goryunov

dược trang bị cho các sư đoàn kị binh của hông quân.
 
< Prev   Next >
Trang chủ Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam