|
Vũ khí của phe phát xít trong Thế Chiến Thứ Hai
Đức Quốc Xã Luger P08  được chế tạo bởi Georg Luger, bất cứ ai đã từng nghe qua hai chữ phát xít thì cũng biết tới khẩu Luger P08. là khẩu súng trứ danh trong quân đội quốc xã và trong lịch sử, nó là sự chứng nhận cho quá trình phục vụ lâu dài và có nhiều đóng góp của các tưỡng lĩnh trong quân đội quốc xã. bất cứ một vị tứơng lĩnh nào cũng mong mang bên mình khẩu súng này, đối với một quân nhân khẩu Luger P08 không khác gì một tấm huân chương cao quý nhất. tuy nổi tiếng nhưng khả năng chiên đấu của Luger P08 không cao (có lẽ vì nó quý quá nên không ai muốn đem nó ra chiến đấu chăng), chủ yếu làm vật trang sức hơn là vủ khí chiến đấu, các sĩ quan họa hoằn lắm mới sử dụng tới nó để chiến đấu. một lý do nữa để khiến nó nổi tiếng là số kượng của nó khá ít (chỉ khoảng 200 khẩu trong suốt cuộc chiến) THÔNG SỐ: Class: Pistol Functionality: Semi-Auto Calibre: 9mm Parabellum Magazine: 8 Rounds Range: 50m Walther Pistole 38  được phát triển bởi kỹ sư Walther, nó là loại vũ khí chiến đấu hữu dụng hơn khẩu Luger P08 nhờ được sản xuất đại trà (1.200.000 khẩu), băng đạn 8 viên. trang bị cho hầu hết tứong lĩnh và binh lính THÔNG SỐ: Class: Pistol Functionality: Semi-Auto Calibre: 9mm Parabellum Magazine: 8 Rounds Range: 50m Karabiner K98  có lẽ không cần phải nói nhiều về khẩu súng này. nó quá ư là nổi tiếng trên khắp thế giới. là súng tiêu chuẩn của bộ binh Đức quốc xã và được sử dụng trong suốt cuộc chiến tranh. khoảng 10 triệu khẩu K98 đã được xuất xưởng tinh cho đến cuối năm 1945. với tính năng chiến đấu ưu việt như bắn chính xác, hỏa lực mạnh, dễ bảo trì, dễ sử dụng (khe ngắm to, dễ ngắm bắn hơn) nó đã giúp bộ binh quốc xã trở nên bất khả chiến bại trong nửa đầu cuộc chiến, thậm chí quân đội sô viết đã cố gắng cải tạo súng trừơng của họ sao cho giống với khẩu k98 hoặc sử dụng những khẩu K98 cướp được (tình trạng này chỉ chấm dứt khi khẩu Mosin-Nagant được thay thế rộng rãi). nhược điểm duy nhất của nó là băng đạn ít (chỉ có 5 viên) THÔNG SỐ : Class: Rifle Functionality: Bolt-Action Calibre: 7.92x57mm Magazine: 5 Rounds Range: 400m Gewehr 43 (G43)  được cải tiến từ khẩu K98, với băng đạn 10 viên và kiểu bắn bán tự động (lấy ý tưởng từ khẩu Walther Pistole 38), nó trở thành súng tiêu chuẩn của bộ binh sau khẩu K98, ngoài ra nó còn có một số dạng phát triển thêm như G41(M) và G41(W).cũng như khẩu K98, đôi khi nó còn được gắn thêm ống nhòm và sử dụng làm súng bắn tỉa THÔNG SỐ : Class: Rifle Functionality: Semi-Auto Calibre: 7.92x57mm Magazine: 10 Rounds Range: 400m Fallschirmjägergewehr 42 (FG42)  là một loại súng tiểu liên đặc biệt được phát triển bởi Hermann Göring. Fallschirmjägergewehr 42 được phát triển đặc biêt và trang bị cho (và chỉ cho) lính dù sau trân nhảy dù lên Crete. điểm đặc biệt của loại súng này là nó được gắn thêm một ống ngắm phóng đại để bắn chính xác hơn trong khi nhảy dù, nó có thể bắn liên thanh nhưng củng có thể bắn từng phát một. có tính năng chiến đấu khá tốt, tuy nhiên không hiểu vì lý do gì mà nó được sản xuất rất hạn chế, chỉ khoảng 5000 khẩu được chế tạo trong khi quân đội Đức có thể làm hơn thế THÔNG SỐ : Class: Assault Rifles Functionality: Full-Auto Calibre: 7.92x57mm Rate of Fire: 600 Magazine: 20 Rounds Range: 400m Maschinenpistole 40 (MP40)  là súng tiểu liên tiêu chuẩn của quân đội Đức quốc xã, khoảng 1 triệu khẩu đã được sản xuất trong suốt chiến tranh và khoảng hơn 20.000 khẩu sau chiến tranh. sử dụng loại đạn 9mm, bắn hơi chậm nhưng nhờ có độ giật khá thấp nên binh lính sử dụng có thể bắn khá chính xác, hiệu quả ở cự ly 100m hoặc thấp hơn. MP40 đựoc trang bị cho lính dù, trung đội trưởng và tiểu đội trưởng. THÔNG SỐ : Class: SMG Functionality: Full-Auto Calibre: 9mm Parabellum Rate of Fire: 500 rpm Magazine: 32 Rounds Range: 100m Sturmgewehr 44 (Stg 44)  Sturmgewehr 44 (Stg 44) hay còn gọi là MP43, MP44 là loại súng tiêu liên dùng khí gas để lên đạn. về cơ bản, tính năng chiến đấu của nó không khác gì mấy so với khẩu MP40 ngoại trừ việc nó có tầm bắn xa hơn, ít đạn hơn và cỡ đạn nhỏ hơn. Có một điều mà mọi người nên biết là chính khẩu súng tiểu liên Sturmgewehr 44 là hình mẫu đễ tạo ra khẩu tiểu liên tốt nhất mọi thời đại AK47 (dĩ nhiên AK47 tôt hơn về mọi mặt) THÔNG SỐ : Class: Assault Rifles Functionality: Full-Auto Calibre: 7.92x33mm Rate of Fire: 500 rpm Magazine: 30 Rounds Range: 300m Maschinengewehr 34 (MG34)  với tộc độ bắn cực kỳ cao, MG34 là khẩu trung liên bắn chặn khá hiệu quả. tuy nhiên nhược điểm của khẩu trung liên này là thay đạn khá lâu. nó mất dần vai rò của mình khi khẩu MG42 được đưa vào thay thế. THÔNG SỐ : Class: MG Functionality: Full-Auto Calibre: 7.92x57mm Rate of Fire: 900 Magazine: 250 round belts or 50 Range: 800m Maschinengewehr 42 (MG42)  là khẩu anh em với MG34, nhưng sức mạnh của MG42 cao hơn nhiều so với MG34. do đó nó là sự lựa chọn hàng đầu của bộ binh quốc xã khi muốn phòng thủ hay bắn chặn đối phương đang xung phong. với MG34 người bắn có thể bắn 1 loạt không nghỉ cho tới khi hết đạn, nhưng với MG42 thì cach bắn đó không hiệu quả. lý do là vì chớp lửa đàu nòng của MG42 rất lớn và nó sẽ che khuất tầm nhìn của xạ thủ khiến anh ta không thể thấy đối phương. chính vì thế nó thường được bắn từng loạt 5-8 viên, với kiểu bắn này nó trở thành cơn ác mộng của bất quân đoàn bộ binh nào muốn xung phong. THÔNG SỐ : Class: MG Functionality: Full-Auto Calibre: 7.92x57mm Rate of Fire: 1400 rpm Magazine: 250 round belts or 50 Range: 800m Stielhandgranate 24   lính đức với một quả Stielhandgranate ở mặt trận liên xô THÔNG SỐ : Class: Grenade Charge: 165g Explosives Throwdistance: Far Geballte Ladung thực chất là nhiều Stielhandgranate được cột chùm lại với nhau (thường là 7 quả) THÔNG SỐ : Class: Grenade Charge: 7x165g Explosives Throwdistance: Short Panzerbüchse 35 (PzB35)  có khá ít tài liệu về Panzerbüchse 35 và trên thực tế là có khá ít ngừoi biết về nó, Panzerbüchse 35 là một loại súng chống tăng liên thanh (đây là điểm đặc biệt, mọi người đã bao giờ thấy một khẩu súng chống tăng bắn liên thanh chưa), băng đạn bao gồm 4 viên, và xạ thủ cứ bắn cho tới khi hết đạn thì thay băng mới. THÔNG SỐ : Class: Antitank Functionality: Bolt-Action Calibre: 7.92x107mm Magazine: 4 Rounds Range: 300m Faustpatrone klein  là súng chống tăng của đức, hiệu quả trong vòng 30m với các loại tăng hạng trung và hạng nhẹ THÔNG SỐ : Class: Antitank Functionality: Single Shot Calibre: 54g Explosives Magazine: 1 Rounds Range: 30m Panzerfaust 100 (PzFst100)  cũng giống như Faustpatrone klein, nhưng nhờ có đầu nổ mạnh hơn và tầm bắn xa hơn mà nó uu việt hơn Faustpatrone klein.  một lính đức đang chuẩn bị bắn bằng khẩu Panzerfaust 100  và chiếc xe tăng xấu số sẽ trông như thế này THÔNG SỐ : Class: Antitank Functionality: Single Shot Calibre: 190g Explosives Magazine: 1 Rounds Range: 100m Panzerschreck  điểm khác biệt đáng lưu ý nhất của Panzerschreck là nó được gắn thêm một "miếng ngắm" bằng sắt, đồng thời nó còn vũ khí tái nạp đạn. không như 2 loại súng chống tăng trên chỉ bắn một lần rồi bỏ, bộ chỉ huy quốc xã nhận thấy như vậy quá tốn kém, nên đã chế tạo Panzerschreck, tổ bắn Panzerschreck gồm 2 ngừơi một bắn và một người nạp đạn. với hỏa lực mạnh mẽ nó nhanh chóng được phổ biến trên toàn bộ chiến trường THÔNG SỐ : Class: Antitank Functionality: Single Shot Calibre: 660g Explosives Magazine: 1 Rounds Range: 120m FmW 35  không có nhiều tài liệu về nó, chỉ biết đay là một loai súng phun lửa của đức quốc xã Nhật phát xít Type 26 revolver  được phát triển vào năm 1893, khẩu Type 26 revolver nhanh chóng được phổ biến rộng rai trong giới tướng lĩnh nhật. khâu giống với phần lớn khẩu súng lục của các tướng lĩnh trên thế giới (chủ yếu dùng làm cảnh hay để tự sát ), khẩu Type 26 revolver dùng loại đạn 9mm với hỏa lực mãnh liệt có thể hạ đo ván bất cứ ai ở trong tầm bắn của nó THÔNG SỐ : Caliber 9 mm Action Double-action Feed system 6 round cylinder Sights blade, V-notch Type 98 Gunto  trong lịch sử nước Nhật, thanh tanaka là vũ khí không thể thiếu trong mọi cuộc chiến tranh (vệ quốc và xâm lược). tuy nhiên cùng với sự phát triển của hỏa khí (súng ống đạn dược), thanh tanaka cũng như tất cả các loại bạch khí khác mất dần vai trò của mình trong chiến tranh. đến chiến tranh thế giới lần 2, thanh tanaka này chỉ còn là biểu tượng cho ý chí chiến đấu đến người cuối cùng (hay người ta còn gọi là chiến đấu liều mạng). Type 98 Gunto là một thanh tanaka đặc biệt được đặc chế cho các sĩ quan của nhật, nhằm mục đích giúp họ tự vệ khi hết đạn và thực hiện việc harakiri (mổ bụng tự sát ) để tránh bị bắt, nhưng ít có ai làm cái chuyện này (lấy súng nã một phát vô đầu cho nhanh, đỡ đau ). hiện nay những thanh tanaka như thế này chủ yếu tồn tại ở Mỹ hơn là ở nhật THÔNG SỐ: Class: Close Combat Range: Far Type 14 Nambu  được phát triển và chế tạo bởi đại tá Kijiro Nambu (chỉ huy quân đội hoàng gia nhật bản) vào năm 1904, có vẻ bề ngoài hơi giống với khẩu Luger của đức nhưng nó yếu hơn. tuy có hỏa lực yếu hơn nhưng Type 14 Nambu nổi tiếng về sự chính xác của mình. một sỹ quan hồng quân liên xô đã từng nói về khẩu Type 14 Nambu sau khi chiến thắng quân nhật : " thật đáng kinh ngạc, người nhật quả là những thiên tài về sự chính xác, ngay cả vũ khí mà họ chế tạo cũng đạt được sự chính xác một cách hoàn hảo và tinh tế" THÔNG SỐ : Class: Pistol Functionality: Semi-Auto Calibre: 8mm Nambu Magazine: 8 Rounds Range: 30m Type 99 Rifle (Arisaka)  được chế tạo bởi đại tá Nariakira Arisaka (không rõ năm chế tạo). là súng tiêu chuẩn của quân đội nhật và nhanh chóng được phổ biến sang các nước lân cận như Trung Quốc, thái lan, triều tiên... mặc dù có cơ cấu khá giống với khẩu K98 của đức nhưng khẩu arisaka không ưu việt bằng : nó bắn chậm hơn, yếu hơn, và khó bảo trì hơn (do bộ nòng của nó nhỏ hơn). co lẽ ưu điểm duy nhất của nó là bắn rất chính xác. sau khi nhật thất bại trên chiến trường, khẩu arisaka bị ngưng sử dụng một cách đột ngột, nguyên nhân là do nó bị lỗi thời qua nhiều so với các vũ khí cùng thời. THÔNG SỐ: Class: Rifle Functionality: Bolt-Action Calibre: 6.5x50mm Magazine: 5 Rounds Range: 400m Type 99 Carbine (Arisaka)  là một biến thể của khẩu K98, khẩu Type 99 Carbine có vẻ bề ngoài hoàn toàn giống với khẩu Type 99 Rifle (mọi người đừng nhầm nhen Type 99 RIFLE và Type 99 CARBINE). điểm khác biệt duy nhất là khẩu Type 99 carbine có hỏa lực mạnh hơn. THÔNG SỐ : Class: Rifle Functionality: Bolt-Action Calibre: 7.7x58mm Magazine: 5 Rounds Range: 300m MP18  khó có thể nói là quân đội nước nào sử dụng MP18 nhiều hơn trong chiến tranh thế giới thứ hai. được đức chế tạo vào năm 1918, khẩu tiểu liên MP18 với tính năng ưu việt của mình đã nhanh chóng được ưa chuộng và phục vụ trong suốt hai cuộc chiến tranh thế giới 1-2 . với ưu điểm gọn, nhẹ, tốc độ bắn nhanh và chính xác, khẩu MP18 đã nhanh chóng chứng minh rằng nó là một vũ khí xuất sắc mặc dù đã được sản xuất từ rất lâu (có vẻ người nhật khoái xài đồ củ nhỉ ) nó được trang bị cho lính hải quân nhật trong các chiến dịch đánh chiếm các khu vực ở châu á-thái bình dương. khẩu MP18 có rất nhiều biến thể ở nhiều quốc gia, ai cũng muốn có một khẩu MP18 cho riêng mình : anh quốc là khẩu Lanchester, nhật bản là khẩu Type 100 submachine gun, và đặc biệt là khẩu sten nổi tiếng được gắn thêm nòng hãm thanh của lực lượng SAS COMANDOS - Anh quốc THÔNG SỐ : Class: SMG Functionality: Full-Auto Calibre: 9x19mm Rate of Fire: 400 rpm Magazine: 32 Rounds Range: 50m Type 100 submachine gun  được phát triển từ khẩu MP18 của đức, đây có thể nói là một khẩu tiểu liên hiếm hoi được mỹ nghiên cứu để mô phỏng các tính năng (nước mỹ luôn tự hào về sự vượt trội của họ về vũ khí trong WWII). nhẹ, độ giật thấp, hỏa lực mạnh mẽ, và được sản xuất đại trà, có lẽ nếu như nước nhật không nghèo về tài nguyên và nhân lực thì với loại vũ khí này lịch sử chiến tranh thế giới lần 2 đã khác. THÔNG SỐ : Class: SMG Functionality: Full-Auto Calibre: 8 mm Rate of Fire: 800 round/min Magazine: 30-round Range: 50m Type 96 LMG  người nhật có vẻ như không giỏi lắm trong việc tự chế tạo vũ khí cho mình thì phải. Type 96 LMG là khẩu trung liên được phát triển từ khẩu Type 11 Light Machine Gun,có băng đạn được gắn phía trên súng, nó sữ dụng loại đạn 6.5 x 50mm nên có tốc độ bắn nhanh. tuy nhiên Type 96 LMG có một nhược điểm khó chịu :mỗi băng đạn của Type 96 LMG đều phải được bôi một lớp dầu trơn, nhưng lớp dầu này lại khiến cho cát bám vào viên đạn và hậu quả hiển nhiên của việc này là súng sẽ bị kẹt. (đây cũng là nhược điểm đặc biệt của tất cả các loại trung liên nhật bản : chúng rất hay bị kẹt đạn ) THÔNG SỐ : Class: LMG Functionality: Full-Auto Calibre: 6.5mm Rate of Fire: 550 rpm Magazine: 30 Rounds Range: 500m Type 99 LMG  tốc độ bắn nhanh, hỏa lực mạnh, bắn chính xác đó là tất cả những gì có thể nói về Type 99 LMG. không hài lòng lắm với khẩu Type 96 LMG, bộ chỉ huy nhật đã quyết định phát triển thêm một loại súng có hỏa lực mạnh hơn và Type 99 LMG ra đời. dùng loại đạn cỡ 7.7mm nó có thể làm chùn chân bất cứ đại đội nào. ngoài ra nó còn được sử dụng làm anti-aircraft gun (súng phòng không hạng nhẹ). giống như hầu hết các loại súng trung liên khác của nhật, nó rất dễ bị tắc đạn. THÔNG SỐ : Class: LMG Functionality: Full-Auto Calibre: 7.7x58mm Rate of Fire: 800 rpm Magazine: 30 Rounds Range: 500m Type 92 Heavy Machine Gun  Type 92 Heavy Machine Gun là khẩu đại liên hạng nặng đáng sợ nhất của nhật, được đưa vào sử dụng lần đầu năm 1932 và trở thành súng đại liên tiêu chuẩn của quân đội nhật trong suốt chiến tranh thế giới 2. với tổ bắn 2 người và được đặt tại những nơi có địa hình cao, nó là được quân nhật gọi là "cánh cổng thép" với bất cứ ai muốn vượt qua. quân đồng minh gọi nó là "chim gõ kiến" do âm thanh nó phát ra giống với âm thanh của loài chim này khi gõ vào thân cây THÔNG SỐ : Class: MG Functionality: Full-Auto Calibre: 7.7mm Rate of Fire: 450 rpm Magazine: 30 Rounds Range: 800m 50mm Type 89 Knee Mortar  là một khẩu Mortar (súng cối) thông dụng của quân đội nhật. nó được dùng để bắn đạn cối 50mm, lựu đạn gây cháy. đặc biệt hữu dụng ở những nơi địa hình không bằng phẳng  một quả lựu đạn gây cháy THÔNG SỐ: Class: Mortar Calibre: 50mm Range: 1.000m Type 97 Handgrenade  lựu đạn cơ bản của lính nhật THÔNG SỐ : Class: Grenade Charge: n/a Throwdistance: Medium Type 97 20 mm AT Rifle  Type 97 20 mm AT Rifle là loại súng chống tăng của nhật trong suốt WWII. nó được chế tạo để bắn liên thanh với băng đạn 7 viên, tầm bắn xa, tuy nhiên rất ít thấy nó xuất hiện trong các cuộc chiến đấu, ngoại trừ trận đánh của Hồng quân liên xô tiêu diệt quân đội quan đông. Quân Ý Beretta M1934  Là súng tiêu chuẩn của quân đội Ý từ năm 1934. khẩu Beratta M1934 là một khẩu súng vào loại tốt nhất thời bấy giờ của Ý, chíng nó đã giúp nhà sản xuất Armi Beretta SpA thắng một hợp đồng sản xuất vũ khí lớn cho quân đội. với hỏa lực mạnh mẽ (sử dụng đạn 380 ACP 9mm) với băng đạn 7 viên nó có thể khiến cho bất cứ ai đối mặt đều phải e nghại. được sản xuất hàng loạt và trang bị cho tất cả các tướng lĩnh cũng như binh lính, khẩu Beretta được ưa chuộng hơn nhờ khả năng đièu chỉnh chế độ an toàn bằng tay của mình. Khẩu Beretta còn ăn điểm ở một điểm khác là khả năng lên đạn sau khi bắn hết đạn của mình. THỐNG SỐ : Class: Pistol Functionality: Semi-Auto Calibre: 9mm Magazine: 7 Rounds Range: 25m Beretta M1935  là một phiên bản phát triển từ khẩu Beretta M1934, sử dụng loại đạn nhở hơn (7.65mm), băng đạn nhiều hơn (8 viên), và có thể bắn nhanh hơn nhưng khẩu Beretta M1935 ít được ưa chuộng như khẩu Beretta M1934 THÔNG SỐ : Class: Pistol Functionality: Semi-Auto Calibre: 9mm Magazine: 9 Rounds Range: 25m Carcano M91/38  là súng trường tiêu chuẩn của bộ binh, khẩu Carcano M91 có khá nhiều biến thể nhưng về cơ bản chúng chỉ là một (có thay đổi một chút về tầm bắn). không có gì nổi trội hơn so với các loại súng cùng thời nếu không muốn nói là lạc hậu hơn THÔNG SỐ : Class: Rifle Functionality: Bolt-Action Calibre: 6.5x52 mm Magazine: 6 Rounds Range: 400m Beretta Model 1918  lạc hậu nhưng chưa hẳn là vô dụng. khẩu Beretta Model 1918 được đưa vào phục vụ từ năm 1918 và tới hết chiến tranh thế giới lần 2. khá là mạnh nhưng không có nhiều thông tin về nó. THÔNG SỐ : Class: SMG Functionality: Full-Auto Calibre: 9mm Glisenti pistol Rate of Fire: 900 rpm Magazine: 25 Rounds Range: 200m Beretta Model 38a  được Tullio Marengoni thiết kế năm 1935, khẩu Beretta Model 38a được lấy mâu từ Beretta Model 18. dùng loại đạn 9 mm Parabellum, băng đạn 10-20-40 viên, tầm bắn 200-250m, được sản xuất tới tận năm 1975 và trang cho cho cả cảnh sát địa phương. THÔNG SỐ : Class: SMG Functionality: Full-Auto Calibre: 9mm High Velocity Rate of Fire: 600 rpm Magazine: 10, 20 or 30 Rounds Range: 200m Fucile Mitragliatore Breda Modello 30  không mạnh lắm so với các loại trung liên cùng thời,sử dụng loại đạn 6.5mm nhưng nhờ vậy mà Fucile Mitragliatore Breda Modello 30 có tầm bắn xa vượt trội (3000m). được sử dụng nhiều trong các chiến dịch đánh chiếm bắc phi và tại các chiến dịch địa trung hải. THÔNG SỐ : Class: MG Functionality: Full-Auto Calibre: 6.5MM Rate of Fire: 500 rpm Magazine: 20 Rounds Range: 800-3000m Breda M1937  là súng trung liên tiêu chuẩn, hỏa lực mạnh nhưng nó lại khá nặng (17 kg) và khó di chuyển. nó dễ trở thành mồi ngon cho các đợt tập kích của không quân đồng minh THÔNG SỐ: Class: MG Functionality: Full-Auto Calibre: 8x57mm Breda Rate of Fire: 500 rpm Magazine: 20 Rounds Range: 600m Brixia Model 35  Không có nhiều thông tin về khẩu súng này, đôi khi nó được sử dụng làm súng phòng không |