1.7. Giai đoạn đánh thắng chiến tranh xâm lược ở biên giới phía Bắc và
phía Tây - Nam, xây dựng quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
(từ sau năm 1975).
Nước Việt Nam vừa độc lập, thống nhất, đang bước vào công cuộc xây dựng
trong hoà bình thì các thế lực thù địch mưu toan phá hoại thành quả
cách mạng của nhân dân ta, dùng hành động tiến công xâm lược, gây nên
nhiều tội ác man rợ từ hai đầu biên giới phía Tây - Nam và phía Bắc Tổ
cuốc Quân, dân ta buộc phải tiếp tục cầm súng bảo vệ Tổ quốc và giúp
nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.
Trong giai đoạn đất nước đổi mới, các lực lượng vũ trang của ta được
xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện
đại, phù hợp với tình hình mới và thực hiện nhiệm vụ xây dựng quốc
phòng bảo vệ nền độc lập, tự do và chủ quyền đất nước Việt Nam .
Dân tộc ta đã trải qua mấy nghìn năm lịch sử với nhiều biến cố thăng
trầm, lúc thịnh lúc suy, khi thành công khi thất bại, nhưng lịch sử
quân sự nước ta là một quá trình phát triển liên tục, khi hoà bình thì
xây dựng tiềm lực, hễ giặc đến là toàn dân, cả nước một lòng đứng lên
chiến đấu và chiến thắng. Nhân dân ta đã vượt qua mọi gian nan thử
thách, đạt được nhiều thành tựu lớn lao trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Lịch sử quân sự luôn luôn là nội dung nổi bật của lịch sử
Việt Nam. Tất cả những hoạt động quân sự, trong đó nổi bật là chiến
tranh và khởi nghĩa vũ trang yêu nước chống ngoại xâm nói trên đã tô
đậm và làm rạng rỡ truyền thống quân sự Việt Nam. Đó là những cuộc
chiến đấu chính nghĩa, anh dũng và tài giỏi của một dân tộc nhỏ chống
lại sự xâm lăng của những thế lực xâm lược to lớn quân đông và giầu
mạnh. Lịch sử quân sự Việt Nam để lại những trang oanh liệt, hào hùng -
hếch sử anh hùng của một dân tộc anh hùng.
2. Mấy đặc điểm của lịch sử quân sự Việt Nam:
2. 1. Trong tiên trình lịch sử, nạn ngoại xâm là mối đe doạ thường
xuyên và nguy hiểm nhất đối với sự sông còn của dân tộc, vì thê, khởi
nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm đã diễn ra hầu như liên tục, dựng
nước gắn liền với giừ nước là mối quan hệ mang tính quy luật chi phổi
quá trình lịch sử quân sự của đất nước ta.
Ngay từ cuối thời Hùng Vương, người Việt đã phải chiến đấu chống ngoại
xâm và luôn trong tư thế sẵn sàng đánh giặc. Gần như ở triều đại nào,
thời đại nào nhân dân ta cũng phải cầm vũ khí đánh giặc giữ nước. Kể từ
thế kỷ thứ III Tí.CN đến thế kỷ XX, trong khoảng hơn 22 thế kỷ với hàng
chục cuộc chiến tranh giữ nước cùng hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến
tranh giải phóng, tính ra thời gian kháng chiến giữ nước và đấu tranh
chống đô hộ ngoại bang đã chiếm tới 12 thế kỷ.
Hoạ mất nước có khi kéo dài mấy chục, mấy trăm, thậm chí tới nghìn năm;
có những thế kỷ nhân dân ta phải nhiều lần đứng lên đánh giặc. Điều
đáng lưu ý ở đây là độ dài thời gian, tần số xuất hiện và số lượng các
cuộc kháng chiến giữ nước, khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng ở Việt
Nam quá lớn so với nhiều nước khác trên thế giới. Chiến đấu chống ngoại
xâm vừa là thử thách gay go, ác liệt nhất, vừa thể hiện ý chí quật
cường, là niềm tự hào lớn nhất của nhân dân ta.
Tất nhiên, chống ngoại xâm không phải là đặc điểm riêng của lịch sử
Việt Nam. Trên trái đất này, có quốc gi nào, dân tộc nào mà trong lịch
sử sinh tồn và phát triển của mình lại không có một đôi lần phải chiến
đấu để tự vệ? ... Nhưng điều chắc chắn là trong lịch sử nhân loại, hiếm
có một dân tộc nào mà quá trình đấu tranh giữ nước lại liên tục, lâu
dài và oanh liệt như dân tộc Việt Nam.
Do điều kiện đặc biệt về vị trí chiến lược và hoàn cảnh lịch sử của đất
nước, quá trình đấu tranh để tồn tại và phát triển của dân tộc ta chịu
sự chi phối thường xuyên của quy luật dựng nước gắn liền với giữ nước,
nhiệm vụ xây dựng Tổ quốc luôn gắn liền với nhiệm vụ chống lại âm mưu
thôn tính và hành động xâm lăng độc ác của kẻ thù bên ngoài. Trong lịch
sử, ông cha ta vừa phải chăm lo phát triển kinh tế và mở mang văn hoá,
vừa phải luôn củng cố quốc phòng, sẵn sàng ứng phó với hoạ xâm lăng.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tống (1075-l077), vua Lý Nhân
Tông đã căn dặn con cháu: “cần phải sửa sang giáo mác để đề phòng việc
bất ngờ”. Trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai (1285),
Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải đã làm thơ rằng: “Thái bình tu trí
lực, vạn cổ thử giang san” (thái bình nên gắng sức, non nước vững nghìn
thu). Vua Lê Thái Tổ sau khi bình Ngô, xây dựng đất nước thịnh vượng,
vẫn lo nghĩ: “Biên phòng hảo vị trù phương lược, xã tắc ưng tu kế cửu
an” (biên phòng cần có phương lược tốt, đất nước nên có kế lâu dài) và
không quên di chúc cho con cháu đời sau phải “lo giữ nước từ lúc nước
chưa nguy”. Vua Lê Thánh Tông cho rằng: “Phàm có nhà nước tất có võ bị”
và luôn nhắc nhở các quần thần, tướng lĩnh phải bảo vệ từng thước núi
tấc sông của vua Thái Tổ đã để lại.
Từ những nhận thức đó, nhiều vị vua sáng tôi hiền, giỏi việc nước luôn
luôn có những chủ trương lớn nhằm kết hợp dựng nước và giữ nước. Quốc
sách “Ngụ binh ư nông” (gửi binh ở nông), xây dựng quân đội gắn liền
với nông dân, nông nghiệp và nông thôn dưới thời Lý, Trần và Lê Sơ là
một phương thức xây dựng lực lượng vũ trang thích hợp, liên kết hài hoà
giữa “việc binh” và “việc nông”, giữa kinh tế và quân sự.
Dựng nước và giữ nước, hai nhiệm vụ khác nhau nhưng liên quan chặt chẽ;
là tiền đề, đồng thời là điều kiện của nhau. Dựng nước đi đôi với giữ
nước; dựng nước để giữ nước và ngược lại. Đó là tư tưởng biểu thị nhận
thức của người Việt Nam từ xưa đến nay về mối quan hệ giữa xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Nó được biểu hiện rõ nét trong diễn trình lịch sử dân
tộc Việt Nam và đã chi phối quá trình vận động, phát triển của lịch sử
quân sự dân tộc ta. 2.2. Trong phần lớn các cuộc chiến tranh, kẻ thù dân tộc ta là những
thế lực xâm lược to lớn, giầu mạnh, có quân đông gấp nhiều lần quân ta;
vì thế, dân tộc ta luôn phải “lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy
yếu chống mạnh”.
Các đối tượng xâm lược mà dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu chủ yếu là
những triều đại phong kiến lớn mạnh ở phương Bắc và bọn đế quốc tư bản
phương Tây. Dưới thời cổ - trung đại, đó là những thế lực xâm lược có
cùng một trình độ phương thức sản xuất, điều kiện vật chất và khoa học
kỹ thuật quân sự không hơn kém nhau nhiều, nhưng là những nước lớn, có
tiềm lực kinh tế hơn ta, có quân đội đông và thiện chiến.
Dưới thời cận - hiện đại, dân tộc ta phải chống lại những đế quốc giàu
mạnh, với phương thức sản xuất tư bản hiện đại, có tiềm lực về mọi mặt,
phương tiện vật chất, kỹ thuật quân sự tiên tiến.
Trải qua các thời đại, nhân dân Việt Nam đã phải tiến hành biết bao
cuộc chiến tranh lớn, vì độc lập tự do. Hoàn cảnh lịch sử của mỗi cuộc
khởi nghĩa và chiến tranh có khác, nhưng điểm chung xuyên suốt trong cả
dọc dài lịch sử dân tộc từ thời cổ đại đến thời hiện đại là: với một
nước nhỏ, dân không đông, quân không nhiều mà Việt Nam thường xuyên
phải đương đầu, chống lại các thế lực xâm lược có đất nước rộng lớn,
dân số nhiều, quân đội thường trực đông và giầu mạnh, đã từng chinh
phục nhiều quốc gia lại ở sát biên giới phía Bắc hoặc là những đế quốc
tư bản phương Tây có tiềm lực kinh tế và quân sự rất mạnh.
Dân tộc ta phải chống ngoại xâm trong điều kiện so sánh lực lượng quá
chênh lệch. Nước đi xâm lược ngoại trừ vài ba trường hợp là những quốc
gia không lớn lắm, so sánh về đất đai, dân số và tiềm lực các mặt không
hơn kém nhiều như Nam Việt, (Nam Hán và Xiêm), còn lại là những đế chế
giầu mạnh ở phương Đông hay những cường quốc đế quốc tư bản chủ nghĩa ở
phương Tây.
Đế chế Tần cuối thế kỷ III Tr.CN huy động 50 vạn quân chinh phục các
dân tộc Bách Việt, trong đó có một bộ phận lớn tiến vào Văn Lang. Bấy
giờ, dân số nước ta chưa đầy một triệu người. Nhà Tống trong cuộc xâm
lược Đại Việt lần thứ hai (1075-1077) đã huy động hơn 30 vạn quân các
loại; khi ấy dân số nước Đại Việt có khoảng 4 triệu và quân thường trực
có khoảng 5-7 vạn người. Đế chế Nguyên - Mông thế kỷ XIII là một đế
quốc giầu mạnh, rộng lớn, đã từng chinh phục khắp các lục địa âu - á.
Trong hai cuộc chiến tranh xâm lược nước ta các năm 1285 và 1288, nhà
Nguyên đã huy động tất cả trên một triệu lượt quân: cuộc xâm lược năm
1285 có 60 vạn, cuộc xâm lược năm 1288 có trên 50 vạn quân. Lúc đó, nhà
Nguyên đã thống trị toàn Trung Quốc, có quân đông tướng mạnh; còn nước
Đại Việt có khoảng 5 - 6 triệu dân và quân thường trực của vương triều
Trần lúc huy động cao nhất chỉ có khoảng 30 vạn. Cuối thế kỷ XVIII, nhà
Thanh đã sử dụng 29 vạn quân tiến công chiếm đóng Thăng Long, còn quân
đội Nguyễn Huệ có chừng 10 vạn.
Trước Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta phải chịu cảnh “một cổ đôi
tròng”, vừa phải chống thực dân Pháp vừa phải chống phát xít Nhật -
những thế lực xâm lược lớn mạnh và hiếu chiến. Trong kháng chiến chống
Pháp (1945-1954) và chống Mỹ (1954-1975), nước Việt Nam còn nghèo, kinh
tế còn lạc hậu mà phải chống lại hai đế quốc to, có tiềm lực kinh tế
mạnh, có quân đội đông được trang bị đủ loại vũ khí tối tân hiện đại
bậc nhất.
Đặc biệt, cuộc kháng chiến chống Mỹ là thử thách chưa từng có của dân
tộc Việt Nam. Chưa bao giờ quân và dân ta phải chống lại một đạo quân
viễn chinh được huy động đông và trang bị hiện đại đến như vậy. Đó là
cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc
điển hình, lâu dài, chống lại thế lực xâm lược lớn mạnh gấp bội lần.
Lúc cao nhất đế quốc Mỹ đã huy động trên 60 vạn quân Mỹ và chư hầu,
cùng với hàng triệu lính nguỵ được Mỹ tổ chức và trang bị hiện đại. Đây
là thời điểm xuất hiện đội quân xâm lược đông nhất, trang bị hiện đại
nhất trong lịch sử dân tộc ta.
Mặt khác, hầu hết các cuộc chiến tranh xưa nay, quân thù còn có khả
năng huy động những đạo viện binh lớn và chi viện các mặt cho chiến
trường.
Vì thế, trong lịch sử chiến tranh giữ nước, dân tộc Việt Nam thường
phải lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh. Trong
hoàn cảnh đó, muốn chiến thắng quân thù lớn mạnh, Việt Nam phải huy
động sức mạnh tổng hợp của cả nước, đánh giặc trên cả ba mặt trận chính
trị, quân sự và ngoại giao. Đối với dân tộc Việt Nam xưa nay, lực lượng
đánh giặc không chỉ là lực lượng quân sự mà còn là lực lượng chính trị,
kinh tế và văn hoá. Chế độ chính trị, nền kinh tế, văn hoá và con người
Việt Nam luôn luôn là những cơ sở của sức mạnh giữ nước. Sức mạnh đó
không chỉ là của riêng nhà nước (triều đình) mà còn là sức mạnh của cả
dân tộc được huy động từ mỗi địa phương, mỗi làng xã, động bản và mỗi
gia đình ở khắp mọi nẻo miền đất nước (quốc gia tính lực), là sức mạnh
truyền thống cả nước đánh giặc (cử quốc nghênh địch). 2.3. Dựa vào dân, xây dựng lực lượng vũ trang từ nhân dân, thực hiện
chiến tranh nhân dân và nghệ thuật quân sự toàn dân, cả nước đánh giặc,
là phương thức thích hợp nhất, là bài học thành công trong sự nghiệp
giữ nước của dân tộc Việt Nam .
Sức mạnh to lớn cho phép một nước nhỏ đánh thắng một kẻ thù lớn mạnh là
sức mạnh của cả dân tộc đứng lên bảo vệ và giải phóng Tổ quốc. Kinh
nghiệm lịch sử cho thấy, những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thành
công từ thới xa xưa đến thời hiện đại của dân tộc ta đều là chiến tranh
nhân dân, với nền nghệ thuật quân sự tiêu biểu, nghệ thuật toàn dân
đánh giặc, kết hợp sức mạnh chiến đấu của quân chủ lực với sự tham gia
đông đảo của các tặng lớp nhân dân, của toàn dân, của cả nước.
Trong lịch sử quân sự Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông
(thế kỷ XIII), chiến tranh giải phóng chống Minh (thế kỷ XV), kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ (thế kỷ XX) là những cuộc chiến tranh mang
tính nhân dân sâu sắc nhất. Trần Quốc Tuấn và các vua Trần, Lê Lợi và
Nguyễn Trãi cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta thời hiện đại luôn
có tư tưởng quân sự dựa vào dân, xây dựng lực lượng từ dân chúng và
tiến hành chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược, tư tưởng
"lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”. Chính sách
“Ngụ binh ư nông” được vận dụng trong suốt thời Lý, Trần và Lê Sơ là
phương thức xây dựng lực lượng vũ trang nằm trong nhân dân, gắn liền
với sản xuất, là một chính sách đúng đắn nhằm kết hợp kinh tế với quốc
phòng, vừa bảo đảm tập trung lao động nông nghiệp, vừa duy trì lực
lượng quân đội cần thiết trong thời bình và có thể huy động tối đa trai
tráng, nhân lực khi có chiến tranh. “Ngụ binh ư nông” đã giúp nhà nước
đảm bảo cân đối giữa quân thường trực và quân dự bị. Khi hoà bình vẫn
đủ sức canh phòng, thời chiến huy động được đông đảo quân đội, thực
hiện chiến tranh nhân dân, toàn dân là lính.
Lực lượng vũ trang, trong đó có quân đội bao giờ cũng giữ vai trò nòng
cốt của sức mạnh giữ nước. Trong lịch sử, lực lượng đó bao gồm quân
triều đình, quân các lộ, trấn và hương binh, dân binh các bản làng;
trong thời hiện đại, đó là lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân: bộ
đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Quân chủ lực của
triều đình, của Nhà nước là lực lượng trụ cột, có số lượng hợp lý và
tinh nhuệ, được xây dựng theo hướng chính quy với phương thức: “quân
cần tinh không cần nhiều”. Đó là cơ cấu tổ chức quân sự truyền thống
của dân tộc ta, đó là lực lượng vũ trang của nền quốc phòng toàn dân,
của chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Tất nhiên, khi tiến hành chiến tranh, ông cha ta trước kia cũng như
Đảng và Nhà nước ta ngày nay đều không chỉ dựa vào lực lượng vũ trang,
vào quân đội mà còn dựa vào lực lượng nhân dân, cả nước đánh giặc.
Những nhà lãnh đạo đất nước tài giỏi đều nhận thức được vai trò của
nhân dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nhân dân được coi là cơ
sở để tiến hành các cuộc chiến tranh giữ nước. Chính vì lẽ đó mà Trần
Quốc Tuấn đã đề nghị vua Trần Nhân Tông ngay sau khi chiến thắng quân
Nguyên - Mông chưa vội xây thành Thăng Long nguy nga đồ sộ, mà việc cần
kíp trước hết phải làm là giảm thuế cho dân, nhất là ở những nơi có
chiến tranh tàn phá; thực hiện “chúng chí thành thành”, xây dựng bức
thành kiên cố bằng ý chí của nhân dân và ông đã tổng kết kinh nghiệm
các cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc rằng:
“ Đến đời Đinh - Lê dùng được người hiền lương, đất phương Nam mới mạnh
mà phương Bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới cùng lòng, lòng dân không
chia, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống, đó là một thì... Mới rồi
Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây, vì vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục,
cả nước góp sức, giặc tự bị bắt... Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế
sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”1. Nguyễn Trái coi dân như
nước, nước có thể chở thuyền và nước cũng có thể lật thuyền, “phúc chu
thuỷ tín dân do thuỷ” (lật thuyền mới hay sức dân như nước). Ông khuyên
vua Lê “nguyện xin bệ hạ yêu thương và nuôi dưỡng dân chúng để nơi thôn
cùng xóm vắng không có tiếng oán hận, sầu than”. Từ quan điểm: “việc
nhân nghĩa cốt ở yên dân” mà trong cuộc chiến tranh giải phóng, Lê Lợi
và Nguyễn Trái đã có một đội nghĩa binh đông tới 35 vạn, phần lớn là
“manh lệ bốn phương tụ hội”; và nghĩa quân Lam Sơn đi đến đâu thì “chật
đất người theo, đầy đường rượu bày, dân chúng kéo đến như đi chợ”, “họ
nguyện đồng lòng hợp sức, liều chết vây thành diệt giặc”2.
Trong Cách mạng Tháng Tám 1945 cũng như kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Mình và Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn giương cao
ngọn cờ dân tộc và dân chủ, tập hợp hết thảy mọi người dân yêu nước
trong Mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc, đấu tranh vì tự do độc
lập. Tổ quốc trên hết! Dân tộc trên hết! Triệu người Việt Nam như một,
dưới ngọn cờ đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sẵn sàng hy sinh tất
cả tính mạng và của cải để bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được.
Trong kháng chiến chống Pháp nhân dân cả nước nhất tề vùng dậy chống
xâm lăng, thực hiện lợi kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “... Bất kỳ
đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng
phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân
Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không
có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực
dân Pháp cứu nước”3.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cả dân tộc Việt Nam đứng lên chiến đấu hy
sinh vì một chân lý vĩnh hằng: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam
là một. Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới ngọn cờ của Đảng,
chủ nghĩa yêu nước và tinh thần cách mạng Việt Nam đã được phát huy và
nâng lên gấp bội. Cả miền Bắc và miền Nam, cả hậu phương và tiền tuyến,
cả nước đánh giặc. Biết bao bà mẹ Việt Nam anh hùng đã tiễn đưa người
con cuối cùng của mình ra mặt trận để cứu nước, cứu nhà. Hàng triệu
thanh mền nam nữ đã lớp lớp “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Hậu phương
tuôn người, tuôn của ra tiền tuyến. Hàng triệu người con ưu tú của dân
tộc đã ngã xuống. Tư tưởng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành
công, thành công, đại thành công” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết chặt
người Việt Nam thành một khối vững chắc để “nhấn chìm tất cả lũ bán
nước và lũ cướp nước”.
Dựa vào dân, tiến hành chiến tranh nhân dân, cả nước đánh giặc trở
thành phương thức thích hợp, là chìa khoá thắng lợi trong chiến tranh
giữ nước của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, trong lịch sử dân tộc ta cũng
có đôi ba lần phải chịu thất bại cay đắng khi tiến hành chiến tranh tự
vệ, như dưới thời An Dương Vương (thế kỷ II Tr.CN), thời Hồ (đầu thế kỷ
XV) và thời Nguyễn (cuối thế kỷ XIX). Một bài học lớn rút ra từ ba lần
mất nước nói trên là các vương triều đó đã không có một đường lối chính
trị - quân sự đúng đắn để động viên, đoàn kết nhân dân cả nước cùng
đừng lên đánh giặc giữ nước.
1. Đại Việt sử ký toàn thơ, tập II, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 79.
2. Nguyễn Trái: Toàn tập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 58, 59.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995,T.4, Tr.480. 2.4. Dân tộc Việt Nam chiến đấu và chiến thắng giặc ngoại xâm bằng ý
chí và lòng yêu nước, bằng trí thông minh, tài thao lược, nhân nghĩa và
văn hoá Việt Nam.
Từ thế hệ này đến thế hệ khác, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đã
tôi luyện truyền thống yêu nước, ý chí độc lập tự chủ, tự lực tự cường
của nhân dân ta. Trước hoạ xâm lăng, thái độ nhất quán của toàn dân,
của cả nước là quyết đứng lên chiến đấu “quét sạch nó đi”. Lời tuyên bố
của Trần Thủ Độ vào lúc gay go nhất của cuộc kháng chiến: “Đầu tôi chưa
rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” (1258); những tiếng hô “quyết đánh”
của các bô lão vang lên trong Hội nghị Diên Hồng (1284); tinh thần
quyết chiến của Trần Quốc Tuấn: “Bệ hạ muốn hàng trước hết hãy chém đầu
tôi đi đã”; gương chiến đấu “sát Thát” của Lê Tần, Trần Bình Trọng,
Trần Quốc Toàn và các binh sĩ trong kháng chiến chống Nguyên - Mông;
gương lấy thân mình lấp lỗ châu mai của Phan Đình Giót, đem thân mình
chèn pháo của Tô Vĩnh Diện trong kháng chiến chống Pháp; khí phách hiên
ngang của Nguyễn Văn Trỗi và tiếng hô “nhằm thẳng quân thù mà bắn” của
Nguyễn Viết Xuân trong kháng chiến chống Mỹ,... là những biểu tượng
sáng ngời chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Đó chính là tinh thần xả thân vì
nước, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc giống nòi. Dù cho cuộc chiến đấu gay go,
phức tạp, thậm chí có lúc thất bại tạm thời, dù cho phải chịu đựng
nhiều gian khổ hy sinh, nhưng lòng yêu nước và chí căm thù giặc vẫn rực
cháy.
Lịch sử đã hun đúc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và trở thành truyền
thống lâu dài, bất tử. Nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử dân
tộc, là tư tưởng, tình cảm thiêng liêng nhất của nhân dân ta. Yêu nước
là đá thử vàng, là chuẩn mực giá trị cao nhất của con người, biểu hiện
tập trung tinh thần làm chủ rất cao của nhân dân Việt Nam đối với Tổ
quốc, quê hương, đối với nền văn hoá lâu đời của cộng đồng, là chủ
nghĩa anh hùng, tinh thần bất khuất trong đấu tranh vì sự sống còn của
dân tộc. “Không có gì quý hơn độc lập tự do” đã sớm trở thành lẽ sống
thiêng liêng của dân tộc ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Từ xưa đến nay,
mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành
một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó
khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” 1.
Trong cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và rất hào hùng của mình, dân
tộc ta chẳng những đã thắng địch bằng lực lượng vật chất, bằng tinh
thần và ý chí chiến đấu kiên cường, bằng nghị lực vượt khó khăn thử
thách phi thường mà còn thắng địch bằng cả trí tuệ và tài thao lược
Việt Nam. Trong dựng nước và giữ nước, Việt Nam tỏ rõ là một dân tộc
giàu tài năng, dũng cảm, thông minh, sáng tạo. Tài dụng binh, mưu cao,
mẹo giỏi, biết địch, biết ta biểu hiện phong phú trong quá trình đấu
tranh chống thù trong giặc ngoài. Dám đánh, quyết đánh, biết đánh và
biết thắng giặc là nội dung bao quát của nghệ thuật quân sự Việt Nam,
một nền nghệ thuật truyền thống lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu chống mạnh
xưa nay.
Một trường phái nghệ thuật quân sự tiên tiến của dân tộc ta ra đời và
phát triển theo yêu cầu ngày càng cao của công cuộc giữ nước. Các nhà
quân sự đã tổng kết thành những phương châm lớn, những tư tưởng, lý
luận quân sự tiến bộ: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước
để chặn mũi nhọn của chúng” (tiên phát chế nhân - Lý Thường Kiệt); “Vua
tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức, “khoan thư sức dân
làm kế sâu rễ bền gốc”, “dĩ đoản binh chế trường trận” (Trần Quốc
Tuấn); “Đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo”, “việc nhân
nghĩa cốt ở yên dân”, “lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh” (Nguyễn
Trãi); thần tốc táo bạo “đánh cho giặc không còn một chiếc xe, một mảnh
giáp quay về; đánh cho chúng biết rằng nước Nam anh hùng là có chủ”
(Nguyễn Huệ); “Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến”, “vừa kháng
chiến vừa kiến quốc”, “kiên quyết không ngừng thế tiến công”, “đánh cho
Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” (Hồ Chí Minh), v.v..
Tư tưởng quân sự và nghệ thuật quân sự dân tộc ta mang sắc thái độc đáo
Việt Nam. Những di sản quý giá đó tiêu biểu cho tài thao lược kiệt
xuất, cho trí tuệ và tài ba của ông cha, nó từng bước được kế thừa và
nâng cao trong tiến trình lịch sử. Thắng lợi trong chiến tranh chống
ngoại xâm là thắng lợi của sức mạnh con người mà trước hết là của trí
tuệ, tinh thần và văn hoá Việt Nam.
Trong lịch sử quân sự dân tộc có những đỉnh cao trí tuệ tiêu biểu. Đó
là thời Lý - Trần với các tài năng quân sự lớn như Lý Thường Kiệt và
Trần Quốc Tuấn, thể hiện trong kế sách giữ nước, trong cuộc phạt Tống
thắng lợi (thế kỷ XI) và ba lần đại phá Nguyên - Mông (thế kỷ XIII); đó
là trí tuệ trong khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc đầu thế
kỷ XV mà tiêu biểu là thiên tài quân sự Lê Lợi và Nguyễn Trãi; đó là
tài thao lược của dân tộc hồi cuối thế kỷ XVIII mà người đại diện là
anh hùng Quang Trung - Nguyễn Huệ, với nghệ thuật dụng binh đặc sắc,
tài giỏi, mưu trí, với cách đánh thần tốc, táo bạo, bất ngờ và mãnh
liệt; đó là đỉnh cao trí tuệ Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh trong cuộc
chiến tranh cách mạng 30 năm, đánh thắng chiến tranh xâm lược của cả
chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới của Pháp và Mỹ.
1. Hồ Chí MinhToàn tập, Sđd, T.6, tr.171. Tinh thẩn cùng trí tuệ Việt Nam, ý chí chiến đấu ngoan cường kết hợp
với tài thao lược kiệt xuất càng làm tăng thêm sức mạnh giữ nước, là cơ
sở để dân tộc ta lập nên những chiến công vang dội. Bạch Đằng, Như
Nguyệt, Đông Bộ Đầu, Tốt Động - Chúc Động, Chi Lăng - Xương Giang, Rạch
Gầm - Xoài Mút, Ngọc Hồi - Đống Đa, Điện Biên Phủ, Xuân Mậu Thân, Chiến
dịch Hồ Chí Minh, v.v. mãi mãi được khắc ghi vào lịch sử dân tộc Việt
Nam như những võ công hiển hách, tiêu biểu cho lòng yêu nước, ý chí
quật cường vì độc lập tự do và trí tuệ tài năng đánh giặc cứu nước, để
lại những tấm gương chói lọi và bài học sâu sắc cho muôn đời.
Trong quá trình chỉ đạo chiến lược, ở mỗi thời kỳ, mỗi cuộc chiến tranh
đều mang những đặc trưng sắc thái Việt Nam và để lại những bài học lớn.
Đối với các lân quốc, giới lãnh đạo quốc gia trong các giai đoạn lịch
sử luôn cố gắng giừ mối hoà hiếu, thi hành nhiều biện pháp ngoại giao
mềm mỏng để duy trì hoà bình, xây dựng đất nước. Khi có nguy cơ bị xâm
lược, ông cha chúng ta đều cố sức tránh chiến tranh, hoặc tìm cách trì
hoãn để chuẩn bị lực lượng. Phương châm xử thế là “dĩ bất biến ứng vạn
biến”, vì hoà bình và hữu nghị, vì hạnh phúc của nhân dân. Tuy nhiên,
khi kẻ thù đã đẩy dân tộc ta vào thế không còn con đường nào khác, để
bảo vệ độc lập và chủ quyền thì chúng ta chấp nhận cuộc thử thách với
tất cả quyết tâm, ý chí và nghị lực phi thường của mình.
Như một quy luật là trên cơ sở giành được những thắng lợi có ý nghĩa
quyết định trên chiến trường, dân tộc ta biết dùng những biện pháp
chính trị, ngoại giao khôn ngoan, thích hợp để kết thúc chiến tranh.
Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thường kết thúc bằng những trận
quyết chiến chiến lược và sau đó là những cuộc thương thuyết, đàm phán
để chấm dứt chiến tranh và lập lại quan hệ bang giao giữa hai nước. Tư
tưởng kết thúc chiến tranh mang tinh thần đại nghĩa đó được Nguyễn Trãi
đúc kết rằng:
“Nghĩ về kế lâu dài của nước nhà
Tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh
Sửa hoà hiếu cho hai nước
Tắt muôn đời chiến tranh” . . . 1
Đó là tư tưởng nhân văn - nhân nghĩa Việt Nam và cũng nhờ đó mà nhân
dân ta đã giành được thắng lợi trọn vẹn, bảo vệ vững chắc được độc lập
tự do.
|