THỜI HÙNG VƯƠNG - AN DƯƠNG VƯƠNG. NỀN VĂN MINH SÔNG HỒNG.
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC. SỰ HÌNH THÀNH Ý THỨC BẢO VỆ CỘNG ĐỒNG VÀ LÃNH THỔ
.
I. VIỆT NAM THỜI NGUYÊN THUỶ. QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH Ý THỨC BẢO VỆ CỘNG ĐỒNG
Trên địa cầu, lãnh thổ Việt Nam nổi lên như một bao lơn lài rộng ở góc
Đông Nam của đại lục châu Á, nhìn ra Thái bình Dương mênh mông, có thế
đứng vững chãi : núi tựa núi, sông hoà sông, biển liền biển, với bao
nước láng giềng gần xa, thêm vào đó là chế độ gió mùa và hoạt động của
các dòng hải ưu giúp cho sự tiếp xúc về mặt tự nhiên và văn hoá diễn ra
nạnh mẽ sôi động.
Về địa hình, lãnh thổ Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển địa
chất phức tạp, lâu dài. Sau những vận động tạo núi thuộc cuối đại trung
sinh cụ thể là vận động tạo núi Hymalaia (cách ngày nay chừng 5 triệu
năm), bộ mặt lãnh thổ nước ta căn bản như ngày nay mới tương đối định
hình. Trong khoảng đầu kỷ thứ ba, lãnh thổ nước ta có dạng một bán bình
nguyên rộng lớn.
Sang cuối kỷ thứ ba do vận động nâng lên của vỏ trái đất, bán bình
nguyên cổ ấy được cải biến thành một xứ núi đồi trùng điệp với những
nếp gãy khổng lồ, ở đó hình thành các dòng sông lớn chảy dọc theo hướng
Bắc Nam hay hướng Tây Bắc - Đông Nam. Tiếp đó, những trận mưa lớn đã
mang bồi tích của lũ từ núi xuống cùng trầm tích của biển do những lần
biển tiến đưa vào, san lấp phẳng dần tạo ra các đồng bằng phì nhiêu nằm
giữa núi và biển, trong đó hai châu thổ, lớn nhất là châu thổ sông Hồng
và châu thổ sông Cửu Long được hình thành cách ngày nay chừng 5000 đến
4000 năm. Sự tương phản giữa núi rừng, châu thổ và biển cả tạo cho
thiên nhiên Việt Nam sự thống nhất trong đa dạng.
Nhìn bao quát, thiên nhiên Việt Nam nổi lên những nét lớn:
Nằm trọn trong vòng đai nhiệt đới, nhưng nước ta lại không phải là một
nước nhiệt đới đơn thuần. Trên lãnh thổ nước ta có nhiều loài cây, con
sinh sống phản ảnh một sự cực kỳ phong phú về giống loài, song lại khá
ít về số lượng ở từng loài. Tính chất phổ tạp này có ảnh hưởng rất lớn
tới phương thức kiếm sống của người xưa và đồng thời cũng là một điểm
cần hết sức chú ý khi định hướng chuyên canh đại trà cây trồng cũng như
phát triển chăn nuôi đàn gia súc trong chiến lược phát triển kinh tế
ngày nay.
Nước ta có lượng mưa vào loại cao trên thế giới với 1500mm/năm, song
lại không trải đều, có 85% lượng mưa cả năm được tập trung trong mấy
tháng mùa mưa. Hiện tượng này đã gây ra lũ lụt, hạn hán, khiến con
người phải tốn nhiều công sức để điều tiết, khắc phục. Nguồn nước dồi
dào tạo ra mạng lưới sông ngòi, hệ thống đầm, hồ, ao dày đặc. Cứ khoảng
20 km đường bờ biển lại có một cửa sông lớn và vô số lạch nhỏ khác và
cứ trên 1 km2 đất đai lại có 1 km dòng chảy, cùng với 3.260 km đường bờ
biển với nhiều vũng, vịnh thông ra biển Đông. Đặc điểm này đã khiến
nước ta được mệnh danh là một xứ sở nước. Thật vô cùng đặc sắc và chí
lý khi nước cùng với đất tạo ra khái mềm đất nước trong ý mềm quê
hương, Tổ quốc của người Việt Nam.
Hệ thống , sông ngòi dày đặc chuyển tải một lượng nước khổng lồ mang
theo phù sa màu mỡ bồi đắp cho miền thấp và mở rộng đất đai ra biển tạo
cho đất một độ phì lớn và dưới nước đầy các loài thuỷ sinh phong phú.
Lòng đất và thềm lục địa nước ta chứa nhiều tài nguyên, khoáng sản có
giá trị kinh tế cao như than, dầu lửa, khí đốt, sắt đồng, thiếc, chì,
kẽm, rôm... Trong đó có những khoáng sản có ý nghĩa và vị trí to lớn
như: đồng, sắt. . . , tạo ra những cuộc cách mạng công cụ của người xưa.
Có thể nói, sự hình thành, vận động và biến đổi tự thân, cùng với sự
tác động của con người đã tạo cho địa hình và thiên nhiên Việt Nam bộ
mặt ngày nay với đầy đủ tính đa dạng và phức tạp của một xứ nhiệt đới
gió mùa ẩm ướt, khiến cho con người sống ở đây vừa được hưởng những
điều kiện thuận lợi ưu ái, vừa phải chịu đựng và vượt lên những khó
khăn, tai hoạ, lo âu . . . , để lại dấu ấn sâu đậm trên con người,
trong con người và cuộc sống của người Việt Nam.
Cổ nhân học và khảo cổ học nghiên cứu về con người và các nền văn hoá
xưa đã tập hợp được nhiều tư nếu và bằng chứng khoa học cho thấy từ
hàng phục vạn năm nay trên lãnh thổ Việt Nam đã có con người sinh sống.
Thế hệ đổi thay nối tiếp thế hệ, văn hoá đổi thay nối tiếp văn hoá, các
mối quan hệ bên trong và bên ngoài của con người, xã hội và tự nhiên
đan xen vào nhau, tác động lên nhau, hoà nhập vào nhau, tạo ra bức
tranh lịch sử của một quốc gia thống nhất - đa tộc, một nền văn hoá
thống nhất - đa dạng của dân tộc Việt Nam. Cho đến nay, những hiểu biết
của chúng ta về giai đoạn sinh thành và thời thư ấu của con người trên
lãnh thổ nước ta vẫn còn ít ỏi.
Trong các hang động Thẩm Khuyên và Thẩm Hai (huyện Bình Gia, tỉnh Lạng
Sơn) chúng ta đã tìm được 10 chiếc răng hoá thạch của người vượn Hom
erectus trong lớp trầm tích màu đỏ chứa xương cốt các động vật hoá
thạch có niên đại trung kỳ cánh tân, cách ngày nay chừng 50 vạn năm với
phức hệ voi răng kiếm - đười ươi - gấu tre (stegodon - Po ngo -
Ailuropoda) điển hình cho khu vực Hoa Nam và Bắc Việt Nam. Những con
người đang hình thành về mặt thể chất và trí lực này sinh sống ra sao ?
Họ kiếm ăn bằng cách nào ? Chúng ta chưa biết rõ vì chưa tìm được công
cụ lao động của họ. Công cụ bằng đá của người vượn tìm thấy trên đất nước ta lần đầu tiên
vào năm 1960, ở núi Đọ (huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá) - một quả núi
không cao nằm sát bờ hữu ngạn sông Chu, nơi sông này hợp nguồn với sông
Mã có chứa những mạch đá và tảng đá ba dan phong phú nằm lộ thiên.
Người xưa đã đến đây chọn lọc, thu lượm những hòn đá thích hợp để chế
tạo ra công cụ tại chỗ. Trong số hàng vạn mảnh đá có vết ghè đẽo, đã
tìm thấy một số công cụ có hình dáng ổn định, được ghè đẽo công phu. Đó
là các rìu tay (Bản vẽ 1, hình 1) dùng để bổ, chặt, mổ, xẻ, các dao nạo
để róc thịt thú vật những trôp-pơ dùng để chặt... Những công cụ đá thô
sơ dạng này còn thấy ở một số nơi khác như ở núi Quan Yên, núi Nuông
cách núi Đọ không xa và xa hơn là ở các địa điểm Hàng Gòn, Dầu Giây
trong vùng Xuân Lộc thuộc tỉnh Đồng Nai. Sự nổi trội về lượng của loại
hình công cụ chặt và trớp-pơ này với kỹ thuật ghè thô nói lên những
khác biệt địa phương nhất định, phản ánh lối sững săn bắt, hái lượm ở
vùng nhiệt đới với ưu thế sử dụng công cụ tre gỗ được tạo ra nhờ những
trôp-pơ bằng đá.
Về các mặt hình thái, tập tính và tổ chức đời sống, các người vượn này
còn tiếp thu rất nhiều tập tính ở tổ tiên họ, nổi trội lên là tính bầy
đàn thể hiện khá đậm.
Tính cộng đồng, ý thức cộng đồng của người nảy sinh từ tính bầy đàn
được hình thành, nâng cao và hoàn chỉnh dần trong quá trình phát triển
dài lâu của loài người.
Tính cộng đồng vốn là bản năng cố hữu của con người và con người vốn là
một loài sinh vật yếu trung ngôn ngữ tiếng Việt từ con người tự nó đã
nói lên bản chất của nó. Người cũng chỉ là một con trong vô vàn con vật
khác, song nhờ lao động mà con đã trở thành người và trong con người ít
nhiều vẫn còn lại phần con) sống trong thế giới tự nhiên mà ở đó cạnh
tranh giữa các loài để tồn tại là quy luật khách quan và tự nhiên, bảo
đảm cân bằng sinh thái và sự hài hoà của tự nhiên. Trong quá trình đấu
tranh để phát triển và hoàn thiện mình, nhờ lao động và hợp quần, con
người trở thành một sinh vật mạnh, siêu mạnh - một sinh vật xã hội -
khác về chất so với các sinh vật khác.
Để tồn tại được giữa thiên nhiên hoang dã với núi cao vực sâu rừng rậm
đầy thú dữ như hổ, báo, lợn rừng, gấu, voi... người vượn Thẩm Khuyên,
núi Đọ... hẳn phải hợp quần thành sức mạnh để kiêm ăn, tự vệ.
Bước chuyển từ tổ chức bầy đàn của người vượn sang tổ chức cộng đồng
của xã hội nguyên thuỷ được xem như một mốc lớn biến đổi về chất, cả về
mặt thể chất người cũng như về mặt văn hoá - xã hội.
Trong hang Thẩm Hòm (Quỳ Châu - Nghệ An) đã tìm được ba chiếc răng của
người cổ hoá thạch có nhiều nét Sapiens hoá (tức nét của người khôn
ngoan) cùng với xương răng hoá thạch của quần động vật tiêu biểu thời
Cánh tân là voi răng kiếm, đười ươi và gấu tre, cùng một vài mảnh đá
thạch anh có vết vỡ dường như công cụ của người cổ ở đây. Có thể xem
người Thẩm Khuyên thuộc dạng người vượn cuối cùng đã từng sống trên đất
nước ta.
Trong kh đó, ở hang Hùm (Lục Yên - Yên Bái) lại tìm được răng người có
nhiều đặc điểm của Hom sapiens (người khôn ngoan, tức người hiện đại)
trong lớp trầm tích thuộc đầu hậu kỳ Cánh tân. Phải chăng người hang
Hùm là đại diện H.sapiens đầu tiên sống ở đây? Vết tích người hiện đại
chân chính được tìm thấy trong lớp trầm tích vàng có tuổi Cánh tân muộn
hơn ở hang Kéo Lũng (Bình Gia - Lạng Sơn). Đó là một dãy răng hàm của
một xương hàm và một mảnh xương trán người. Nhưng ở đây cũng chưa tìm
ra công cụ của họ. Năm 1972, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy trong các hang thuộc thung
lũng Thần Sa (Võ Nhai, Thái Nguyên) hai địa điểm thuộc văn hoá hậu kỳ
đá cũ là hang Miệng Hổ và phang Nà Khù. Tiếp đó, cũng trong thung lũng
này còn tìm được một di chỉ đá cũ quan trọng khác có tuổi địa chất cuối
cánh tân. Đó là mái đá Người. Trong lớp đất sớm nhất nằm ở độ sâu 1,15m
đến 1,35m, có màu vàng nhạt cũng như trong lớp văn hoá các hang Miệng
Hổ và Nà Khù đã tìm được những công cụ nhỏ được tách ra từ những hòn
cuội thuộc loại đá silíc, đá sửng hay đá quăcdít. Phần lớn chúng là
những mảnh tước có cả những phiến tước dài được ghè đẽo tu chỉnh cẩn
thận tạo ra các rìa sắc, mũi nhọn. Đó là các nạo có rìa lưỡi cong lồi
hoặc cong lõm, các mũi nhọn có hình tam giác ở giữa có sống nổi. Cũng ở
lớp này còn có một số công cụ làm từ hòn cuội lớn, gia công giống như
các công cụ cuội tìm thấy ở lớp trên và trong các văn hoá cuội sau này.
Lớp văn hoá này đại diện cho một dạng văn hoá mảnh tước lần đầu tiên
phát hiện được ở Việt Nam có mền đại khoảng 23 nghìn năm về tước. Chủ
nhân văn hoá Người đã săn bắt động vật thuộc các giống loài hiện đại
như lợn rừng, bò rừng, nhím, khỉ...
Nằm trên lớp dăm đá vôi phủ lên lớp văn hoá mảnh tước ở dưới, là lớp
văn hoá chứa các công cụ mang một truyền thống kỹ thuật khác và có diện
mạo tương tự như văn hoá Sơn Vi - một văn hoá hậu kỳ đá cũ khác, nổi
tiếng lần đầu tiên được các nhà khảo cổ học Việt Nam xác định và phân
lập Văn hoá Sơn Vi có địa bàn phân bố rất rộng ở miền Bắc nước ta. Dấu
vết của nó tìm thấy trên các đồi gò thềm sông miền trung du như Lâm
Thao (Phú Thọ), Lục Ngạn (Bắt Giang), Nghĩa Đàn (Nghệ An) hay miền núi
dọc sông Thao từ Lào Cai đến Yên Bái, trong các hang động đá vôi ở các
tỉnh Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hoá, uảng Bình... Người Sơn Vi
dùng công cụ được chế tác từ các hòn cuội nguyên được ghè đẽo ở na cạnh
với các loại hình tiêu biểu. Đó là các công cụ chặt có rìa lưỡi ngang
(tức ở cạnh hẹp viên cuội), rìa lưỡi dọc hay rìa lưỡi chéo. Công cụ
chặt có mũi nhọn... (Bản vẽ 1 – hình 2) còn được dùng như một loại vũ
khí. phân tích các tàn tích động, thực vật thu lượm được trong các di
tích văn hoá Sơn Vi, chúng ta được biết người Sơn Vi đã săn bát các
loại động vật như trâu bò, lợn rừng, hoẵng, nhím, khỉ... là những loài
động vật sống ở một không gian thoáng dáng, những bãi cỏ và những rừng
cây thưa thân bụi. Tại hang Phúng Quyền (Hoà Bình) các nhà khảo cổ học
đã tìm thấy mảnh hàm trên của một con gấu tre đã bị đập vỡ và có cả vết
lửa cháy. Cũng vậy, tại hang Kéo Lựng cũng tìm thấy một số sọ lợn, hưu:
gấu tre đã bị vát mất phần sọ não; chúng tỏ người thời này đã săn bắt
cả những loài thú lớn, mạnh và dữ. Đối tượng thức ăn và phương thúc tổ
chức kiêm sông bằng săn bắt đòi hỏi một tổ chức chặt chẽ và một sự phôí
hợp ăn ý mạnh mẽ. Điều đó giúp thêm một buộc củng cố và nâng cao ý thức
bảo vệ cộng đồng trong ý thức cộng đồng chung rộng diễn ra trong một
thời gian dài hàng vạn năm dựa vào các mền đại C4 của lớp khởi chuyển
sang văn hoá Sơn Vi ở Mái đá Ngầm là 23.000 +200 năm cách ngày nay, ở
hang Phúng Quyền là 18.390 + 125 năm cách ngày nay, ở lớp đáy hang Con
Moong (vườn quốc gia Cúc Phương, Thạch Thành, Thanh Hoá) là 11.755 + 75
năm cách ngày nay. Dấu tích văn hoá ở hang Con Moong cũng như một số
hang động khác như Động ean (Hoà Bình), Mái đá Điều thanh Hoá) có tầng
văn hoá dày chứa các lớp văn hoá nói lên sự phát triển liên tục từ văn
hoá Sơn Vi lên văn hoá Hoà Bình.
Văn hoá Hoà Bình được mệnh danh là văn hoá thung lũng vì môi trường
sống chủ yếu của người thời đó là ở trong các hang động và kiếm ăn
trong các thung lũng miền núi, họ để lại dấu vết của mình trong hàng
trăm di tích thuộc các tỉnh Lai Châu, Yên Bái, Sơn La, Hoà Bình, Ninh
Bình, Thanh Hoá qua Nghệ An, Hà ĩ nh cho tới các tỉnh Quảng Bình, Quảng
Trị. . .
Cũng như những công cụ thuộc văn hoá Sơn Vi, những công cụ văn hoá Hoà
Bình đều làm bằng đá cuội. Song về kỹ thuật chế tạo và loại hình đã có
sự tiến bộ đáng kể. Người Hoà Bình thường ghè từ một mặt viên cuội bằng
những nhát ghè quanh rìa hướng vào tâm tạo ra những công cụ hình ớ a,
hình bầu dục, hình hạnh nhân... Bằng kỹ thuật bẻ cuội họ đã tạo ra công
cụ gọi là rìu ngắn. Người Hoà Bình eòn dùng kỹ thuật bổ pha hòn cuội
thành những lát mỏng tạo ra các công cụ cắt sắc bén. Đặc biệt người Hoà
Bình đã biết kỹ thuật mài tạo lưỡi sắc cho công cụ mà sự phổ biến của
kỹ thuật mới này đã có mặt ở 77 trong số 119 di tích Hoà Bình đã được
phát hiện.
Người Hoà Bình sống trong môi trường có những thay đôi, ở đó khí hậu đã
trở nên nóng và ẩm, các loại nhuyễn thể sống ở cạn cũng như dưới nước
sinh sản rất mạnh, trở thành đối tượng thu lượm làm thức ăn của người
nguyên thuỷ, trong khi họ vẫn tiếp tục lượm hái thực vật và săn bắt các
loài động vật như chủ nhân các văn hoá trước đó vẫn làm, trong đó có
các thú lớn như voi, tê giác, trâu, bò rừng bằng các vũ khí thô sơ
(13ản vẽ 1, h.3. h.5). Điều đáng chú ý là trong thành phần thức ăn của
họ ngày càng có nhiều phế thải là xương răng các loài thú nhỏ tinh khôn
nhanh nhẹn như cầy, cáo, thỏ, chồn, sóc, cũng như các loài chim như
ngỗng, gà... săn bắt được nhờ phát minh ra cung tên (Bản vẽ 1, hình.4). Trong bộ công cụ lao động và chế biến thức ăn của người Hoà Hình xuất
hiện các loại hình công cụ tồn tại đã khá phổ biến như những lưỡi cuốc
đá, những bàn nghiền, chày nghiền thức ăn chứa tinh bột. Đã tìm thấy
phấn hoa của họ rau đậu (Leguminosae) ở một số hang dộng như Thẩm
Thương (Lai Châu), Sũng Sàm (Hà Tây) đó là những tín hiệu nói lên khả
năng ra đời của nền nông nghiệp sơ khai từ trong lòng văn hoá Hoà Bình.
Văn hoá loà lình thực sự là một văn hoá mang tầm cỡ thời đại, tồn tại
và phát triển ở khúc chuyển lịch sử, khúc chuyển thời đại, từ thời đại
đá cũ sang và vào dầu thời đại đá mới; từ kinh i.ế khai thác sang kinh
tế sản xuất, một bước nhảy vọt có ý nghĩa cách mạng trong đời sống con
người, diễn ra cách ngày nay trên mười nghìn năm.
Những thay đổi trong đời sống kinh tế này phản ánh vốn tri thức của
người Hoà Bình được mở rộng. Đã có sự hiểu biết khá sâu sắc về tập tính
các loài cây: con. Sự nhân lên, trao truyền, làm phong phú những hiểu
biết, những kinh nghiệm làm ăn này là tiền đề cho sự tiếp tục phát
triển tiến lên, tạo ra một hướng khác giúp vào tăng cường ý thức cộng
đồng, ý thức về nghĩa vụ duy trì, bảo vệ và phát triển cộng đồng của
người Hoà Bình.
Dường như cùng một lúc tồn tại với văn hoá Hoà Bình cổ điển, tại vùng
núi đá vôi Bắc Sơn thuộc hai tỉnh Lạng Sơn và Thái Nguyên, một nền văn
hoá đầu thời đại đá mới khác đã ra đời và phát triển mang tên văn hoá
Bắc Sơn bắt nguồn từ dạng văn hoá cuội hạch pha lẫn cuội mảnh như thấy
ở lớp trên Mái đá Ngầm. Văn hoá Bắc Sơn có nhiều điểm gần gũi với văn
hoá Hoà Bình về nhiều phương diện như đặc điểm cư trú, phương thức kiếm
sống, kỹ thuật ehế tác và loại hình công cụ. . . , cùng thuộc dòng
truyền thống công cụ cuội. Tuy nhiên, văn hoá Bắc Sơn có những nét đặc
Trưng riêng như kế thừa đậm nét truyền thống kỹ thuật mảnh ở sự tồn tại
phổ biến của cuốc và rìu mài lưỡi, đặc biệt là của loại công cụ độc đáo
làm bằng hòn cuội dài mỏng dẹt trên rìa cạnh dọc của viên cuội có vết
lõm đôi song song được gọi ỉa “dấu Bắc Sơn” được bảo lưu lâu dài, có
mặt trong nhiều di tích khảo cổ học thuộc đầu thời kỳ kim khí.
Biển tiến Holocen trùng với mực nước biển dâng cực đại cao hơn mặt nước
biển ngày nay khoảng 4m vào thời điểm cách đây khoảng 6.000 năm, làm
tràn ngập một vùng lãnh thổ khá rộng ven bờ khiến người Hoà Bình eo thể
tiếp cận với biển khơi, bằng chứng của sự kiện đó là những mảnh ngao sò
nước mặn có mặt trong nhiều di chỉ Hoà Bình như Mộc Long, Hang Đắng,
Con Mang... Theo đà đồng bằng dần hình thành, một bộ phận của cư dân
Hoà Bình đã tràn xuống sát biển khai thác đồng bằng, tìm kiếm hải sản.
Tại đây, trong điều kiện ban đầu đồng bằng còn hoang sơ lầy ngập, sông
nước mênh mông, truyền thống khai thác thuỷ sản của người Hoà Bình được
mở rộng và phát huy mạnh mẽ, để lại dấu ấn sâu đậm trong sinh hoạt qua
các đống rác bếp tạo thành các đồi vỏ liền khổng lồ như ở Đa Bút, Bản
Thuỷ (Thanh Hoá), qua sưu tập phong phú chì lưới và xương cá biển ở di
chỉ Gò Trũng thanh Hoá). Từ đó đã hình thành một văn hoá mới - văn hoá
Đa Bút. Phương thức sống của người Đa Bút được mở rộng và dần hình
thành một hướng mới ngày một phát triển mạnh mẽ - nghề nông tạp canh,
dần phát huy thế mạnh của mình, được minh chứng bằng một tập hợp phong
phú các loại cuốc đá, rìu đá được mài ở lưỡi và được mài rộng ra dần
khắp bề mặt công cụ. Văn hoá Đa Bút thuộc giai đoạn đá mới phát triển
eo niên đại khoảng 7.000 đến 5.000 năm cách ngày nay.
Cùng một bình tuyến với văn hoá Đa Bút song có mến đại sớm muộn hơn
nhau ít nhiều có các văn hoá Cái Bèo (Quảng Ninh), Quỳnh Văn (Nghệ An)
và dạng di tích Bàu Dủ (Quảng Nam) là những văn hoá hay nhóm di tích
văn hoá, phân bố ở ven biển và đảo ven bờ, lấy thu lượm và đánh bắt hải
sản làm hoạt động kinh tế chính. Họ sử dụng những công cụ ghè đẽo thô
sơ hoặc một chút công cụ mài mang bóng dáng của văn hoá Hoà Bình. Tất
nhiên là có những công cụ dặc Trưng riêng cho mỗi văn hoá được quy định
bởi những khác biệt về môi trường sống và phương thức sinh hoạt, ví như
công cụ có dạng bàn là của văn hóa Quỳnh Văn.
Trước đồng bằng lầy lội. sông nước mênh mông và biển cả rộng xa tít
chân trời, trên con đường mưu cầu một cuộc sống dễ chịu hơn, phong phú
hơn, con người của các văn hoá này đã phải đối mặt với những thử thách
mới, đòi hỏi một thế ứng xử mới, một sự cố kết mới. Từ đó ý thức cộng
đồng, sự che đỡ, hỗ trợ bảo vệ lẫn nhau của từng thành viên và của cả
cộng đồng được đề cao, được tăng cường và được nâng lên một bước.
Thời điểm 4.000 năm cách ngày nay, lại hiện lên như một mốc son lịch sử
mới, con người đã có mặt hầu như ở mọi miền đất nước, cố kết thành
những nhóm tộc khác nhau để lại những nền văn hoá khác nhau mà trong đó
đồng bằng dường như là nơi tụ hội tộc người, sức mạnh và tinh hoa văn
hoá của họ.
Lúc này cư dân sững ở vùng núi dường như đã đi hết một vòng xoáy ốc
phát triển của họ. Ky thuật ghè đá và kinh tế khai thác đã tới đỉnh
cao. Kỹ thuật mài đá và kinh tế sản xuất đã ra đời, song thế mạnh của
nó còn ở dạng tiềm năng. Dân số mở ra và miền dết mới cũng mở ra. Để
tháo gỡ những khó khăn, tận dụng những cư may, phát huy những thuận
lợi, đại bộ phận họ đã rời bỏ núi rừng để lập quê hương mới. Số ở lại
tiếp tục làm ăn sinh sống theo lối sống cũ, tập tục cũ trong khi cái
mới được tiếp thu, triển khai chậm chạp, ngập ngừng. Điều đó phản ảnh
trong các di tồn vật chất thường tìm được trong lớp văn hoá trên cùng
của các di tích hang động Hoà Bình - Bắc Sơn. ở đó, bên cạnh những di
vật mới như những mảnh của đồ gốm vặn thừng và văn khắc vạch, những rìu
đá có vai hay tứ giác mài nhẵn, những vòng trang sức đá thanh mảnh bằng
đá ngọc - sản phẩm của tiếp thu kỹ thuật hay giao lưu văn hoá . . . ,
còn thấy không ít những công cụ đá ghè mang bóng dáng Hoà Bình - Bắc
Sơn. Cũng gặp một số ít di tích có bộ mặt thuần hậu kỳ đá mới - sơ kỳ
kim khí ở vùng núi như Mai Pha, Ba Xã (Lạng Sơn), Lò Gạch Hà Giang),
Ngòi Nhủ (Lao Cai), Sập Việt (Sơn La), Minh Cầm (Quảng Bình)... Trong lúc đó, cùng thời gian đó, ở vùng cao châu thổ sông Hồng, ở các
lưu vực sông Mã, sông Cả, các đồng bằng duyên hải miền Trung, trên Tây
Nguyên, miền Đông Nam Bộ và rìa cao đồng bằng sông Cửu Long hình thành
các văn hóa khác nhau với nhiều nét tương đồng phản ánh mối quan hệ qua
lại nhiều chiều, nhiều kiểu ở các mức độ khác nhau.
Lan toả, phân chia, đan xen là xu thế phát triển văn hoá của giai đoạn lịch sử bản lề này. .
Trung du và đồng bằng cao lưu vực sông Hồng có văn hoá Phùng Nguyên với
đồ gốm mịn áo đỏ, có hoa văn trang in khắc vạch đối xứng, công cụ rìu
đục hình tứ giác nhỏ nhắn, vòng trang sức thanh mảnh với các đường ren
nổi bằng đá ngọc... tồn tại bên cạnh nhóm di tích Gò Con Lợn phong
Châu, Phú Thọ) với đồ gốm thô bở, rìu cuốc đá có vai. Vùng duyên hải và
các đảo ven bờ Quảng Ninh, Hải Phòng, có văn hoá Hạ Long nổi lên với đồ
gốm xốp hoa văn trang trí đắp nổi hay trổ lỗ cùng các rìu bôn có nấc.
Bên cạnh là nhóm di tích Tràng Kênh mang diện mạo của văn hoá Phùng
Nguyên lấn biển.
Đồng bằng sông Mã có nhóm di tích Cồn Chân Tiên - Bái Man với đặc Trưng
văn hoá tiêu biểu là các đồ gốm có miệng bẻ cong mỏng vát nhọn có hoa
văn trang trí các vòng tròn trổ lỗ giới hạn bởi các đường khắc vạch,
rìu tứ giác dài có mặt cắt hình chữ nhật bằng đá ba dan, cùng các rìu
bôn tứ giác và vòng trang sức bằng đá ngọc mang bóng dáng Phùng Nguyên.
Bên cạnh đó, ở vùng duyên hải huyện Hậu Lộc lại tồn tại một nền văn hoá
riêng, mang tên văn hoá Hoa Lộc với đặc Trưng nổi lên là những lưỡi
cuốc lớn có vai bằng đá, đồ gốm với các loại hình độc đáo là những hình
nồi có vành miệng rộng hình đa giác, hoa văn in mép miệng vỏ sò, những
khuyên tai bằng đất nung, những con dấu, con lăn in hoa Lưu vực sông Cả
có nhóm di tích Thạch Lạc (một loại hình địa phương của văn hoá Bàu
Trỏ) mà đặc trưng văn hoá tiêu biểu cho nó là gốm áo đỏ hoa văn khuông
nhạc, vạch, không hay lượn sóng tạo bằng que nhiều răng, đồ đá có rìu
cuốc có vai hay chữ nhật có số lượng gần tương đương nhau và đều có mặt
cắt ngang hình bầu dục.
Xen vào đó là di tích Rú Ta (Diễn Châu) với rìu đá hình tứ giác nổi
trội; là di tích Lèn Hai Vai mà đồ gốm ở đây lại mang bóng dáng gốm văn
hoá Hoa Lộc. ở bình tuyến văn hoá này trên cao nguyên Tây Nguyên tồn
tại văn hoá Biển Hồ (Gia Lai). Chủ nhân văn hoá này ưa dùng rìu đá có
vai, trong đó có những rìu dáng răng trâu gợi mối liên hệ nguồn gốc với
văn hoá Bàu Trỏ vùng Quảng Bình, có tục chôn người chết trong các nồi
hay chum gốm. trong khi đó ở vùng Đắc - Lấp (Đắc Lắc) lại tồn tại một
nhóm di tích khác với đặc trưng nổi nét là những rìu đá hình tứ giác.
Trong lưu vực sông Đồng Nai tồn tại nhóm di tích Cầu Sắt Bình Đa với
những nét văn hoá độc đáo thể hiện ở sự tồn tại dường như tuyệt đối của
rìu có vai ở những công cụ gặt bằng đá hình bán nguyệt lưỡi cong. ở
loại dụng cụ âm nhạc là những thanh đàn đá kiểu tư-rơng Tây Nguyên. Đồ
gốm có chậu, nồi, bát, có xưởng gốm khá mịn, áo đỏ hoặc đen, cốc bát
chân cao thành mỏng được chế tạo từ đất sét trắng. Đây là nhóm di tích
chủ đạo phân bố rộng khắp lưu vực sông Đồng Nai. Trong khi đó ở hạ lưu
của nó và ở vùng sông Vàm Cỏ lại tồn tại nhóm di tích An Sơn - Rạch Núi
(Long An) lấy rìu tứ giác đá và cà rằng làm tiêu biểu...
Từ phác thảo bức tranh văn hoá đa sắc đó, nổi lên tổ hợp di vật mang
tính đại đồng chung là: gốm đáy tròn văn thừng, hoa văn trang trí khắc
vạch kỷ hà, rìu cuốc đá mài nhẵn; đồ trang sức là những vòng tay khuyên
tai có mặt cắt bản vòng hình chữ D hay hình tam giác cân, phản ảnh lối
sống và tâm lý thẩm mỹ của cư dân lấy nông nghiệp làm hoạt động kinh tế
chủ yếu hay chủ đạo. Mảng màu văn hoá chủ đạo này tụ đậm ở đồng bằng,
nhất là ở các châu thổ lớn, phản ảnh hướng đi và tốc độ phát triển của
cuộc “Cách mạng đá mới” ở nước ta.
Cuộc cách mạng này đã cuốn hút các nhóm cư dân, hội nhập các dòng văn
hoá, thâu hoá sức mạnh và tinh hoa văn hoá của họ về đồng bằng - cái
nôi sinh thành của các nền văn minh cổ đại trên đất nước ta.
Nhập cuộc vào miền đất mới đầy hấp dẫn song cũng rất khác lạ này và để
trụ lại được ở đây, rõ ràng các nhóm cộng đồng cư dân khác nhau này
muốn hay không, cũng đều phải chuyển đổi nền kinh tế, thay đổi cung
cách sống, lựa chọn cách ứng xử mà muốn làm được những việc đó thì mỗi
cá nhân hay từng gia đình đều không thể tự mình bươn chải nổi mà cần có
sự hợp lực của cả cộng đồng, đầu tiên là trong các cộng đồng tộc nhỏ -
công xã thị tộc, rồi đến sự gắn kết giữa các cộng đồng đồng tộc có
chung nguồn gốc . Và vì lợi ích phát triển chung mà các cộng đồng khác
tộc sống xen kẽ gần nhau liên kết lại thành các công xã - láng giềng.
Cứ như vậy, theo thời gian mà khối cộng đồng ngày một mở rộng ra, ý
thức bảo vệ cộng đồng cũng được đổi mới và nâng cao không ngừng. Từ đó
ý thức bảo vệ cộng đồng ngày càng trở nên sâu sắc hơn, phương thức bảo
vệ cộng đồng càng trở nên phong phú và hữu hiệu hơn trở thành mặt hữu
cư, khách quan tất yếu của đời sông ở mọi xã hội, mọi thà đại.
Vậy là từ hàng chục vạn năm nay, trên lãnh thổ Việt Nam đã có và luôn
có con người sinh sống. Vết tích của họ còn để lại trong các nền văn
hoá khảo cổ nguyên thuỷ, phản ảnh cuộc sống lao động và đấu tranh đầy
gian lao, vất vả, song cũng đầy ý nghĩa.
Rừng rậm được phát quang. Thú dữ được săn trừ...
Cây củ được trồng tỉa. Vật nuôi được chăn thả...
Đồng đất được khai phá. Làng bản được dựng lên...
Bộ mặt quê hương buổi đầu được tạo dựng, chấm phá.
Những chiến công thầm lặng đó, nhờ ý thức cộng đồng cùng ý thức đấu
tranh bảo vệ cộng đồng đã tạo tiền đề, cư sở và điều kiện thuận lợi để
các cộng đồng người, các tộc người kế tiếp, tiếp tục sứ mạng lịch sử
tạo dựng nền tảng văn minh cho sự hình thành quốc gia dân tộc Việt Nam.
|