|
III. NỀN VĂN MINH SÔNG HỒNG
Văn minh sông Hồng, văn minh Đông Sơn hay văn minh Việt cổ đều có chung
một nội dung phản ánh quá trình dựng nước và giữ nước buổi đầu của dân
tộc Việt Nam nhìn từ góc độ địa lý nhân văn, khảo cổ học hay lịch sử
tộc người. Về thời kỳ lịch sử này, tổ tiên ta từ xưa đã sớm nhận ra nền
văn hiến được dựng xây lâu đời, hào quang văn minh toả sáng. Nguyễn
Trải trong Bình Ngô Đại Cáo đã tuyên bố long trọng, khẳng định đanh
thép:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Cõi bờ sông núi đã riêng
Phong tục Bắc - Nam cũng khác”...
Còn Vũ Quỳnh trong lời tựa sách Lĩnh Nam chích quái đã khái quát: “Nước
ta khởi đầu từ Hùng Vương đã khá văn minh. Núi non kỳ lạ, đất đai linh
thiêng, nhân dân anh hào, chuyện tích thần kỳ, thường thường vẫn có...”.
Bằng cảm quan của tâm thức sâu thẳm, của tâm linh huyền diệu, tác giả
đã tái hiện nên bức tranh thoáng nhìn có phần nhuốm màu, đượm vẻ thần
tiên, song đã làm nổi lên được cái thực chất của bước chuyển mình của
dân tộc; những đổi thay to lớn của đất nước, xã hội và con người trong
khí thế hào hùng tiến vào văn minh.
Núi sông, đất đai, bờ cõi, không gian sống này của thời các Vua Hùng
quả đã khác xưa lắm lắm. Đầm lầy đã được phủ lên màu xanh của lúa. Rừng
rậm lùi xa, xóm làng, đồng ruộng, bến sông cứ mở rộng, trải dài mãi
mãi... Một cuộc đổi đời thực sự như vậy há chẳng phải là điều kỳ lạ,
linh thiêng?
Và cái sức mạnh tạo ra sự đổi thay kỳ lạ đó, tạo ra bộ mặt văn minh đó
chính là nhân dân anh hào đã lớn lên lẫm liệt trong khí thiêng sông núi
- cái khí thiêng do chính con người tạo ra bằng biết bao mồ hôi, nước
mắt và cả máu đào, nó được hoà nhập trở lại vào họ, tạo ra những điều
thần kỳ.
Bức tranh lịch sử, bộ mặt văn minh buổi đầu dân tộc được khôi phục lại
bằng ký ức và suy tưởng đó, đã phần nào phản ảnh được sự thật, đáp ứng
được tình cảm của nhân dân ta hướng về cội nguồn, ngưỡng mộ thành kính
tiên liệt.
Chỉ đến ngày nay, cùng với ý thức dân tộc được khơi dậy mạnh mẽ, lịch
sử nhiều nghìn năm được động viên góp vào đổi mới đất nước, chấn hưng
dân tộc, những giá trị, những chuẩn mực chứa đựng trong di sản văn hoá
được khai thác, bảo tồn và phát huy, văn minh Việt Nam thời dựng nước
đầu tiên được dựng lại ngày một chính xác hơn, đầy đủ hơn. Câu nói nổi
tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước. .
.” như kim chỉ nam chuẩn xác, định hướng cho những tìm tòi về cội nguồn
dân tộc, phục dựng văn minh.
Quá trình hình thành và diễn biến của nền văn minh sông Hồng được phục
dựng chủ yếu trên các cứ liệu khảo cổ học thu thập được có không gian
phân bố và thời gian tồn tại được thư tịch cổ và truyền thuyết gọi là
nước Văn Lang đời các Vua Hùng và nước Âu Lạc đời vua Thục.
Các mạch văn hoá khởi đầu chảy từ các văn hoá Hoà Bình và hậu Hoà Bình
hình thành các nguồn hợp tiếp theo qua các văn hoá hậu kỳ đá mới được
ngưng kết lại trong văn hoá Phùng Nguyên - nhân lõi đầu tiên và điểm
xuất phát của văn minh sông Hồng.
Văn hoá Phùng Nguyên có niên đại khởi đầu khoảng 4000 năm cách ngày
nay, có địa vực phân bố chủ yếu là các tỉnh thuộc trung du và đồng bằng
cao sông Hồng lan rộng ra cả ven biển và toả xa xuống phía nam. Các di
tích Phùng Nguyên thường có quy mô rộng (hàng vạn mét vuông) tầng văn
hoá dày (trên một mét) chứng tỏ mật độ dân cư đông đúc và cư trú lâu
dài ổn định của cư dân nông nghiệp mà chứng tích của hoạt động kinh tế
này là bộ công cụ bằng đá đồ sộ và phong phú cùng với vết tích nhiều
hạt lúa gạo tìm được. Bước đầu đã có sự chuyên hoá một số nghề thủ
công: làm đá, nung gốm. Vết tích sử dụng và chế tạo kim loại đã thấy ở
nhiều nơi (ít ra là ở 11 địa điểm). Tài năng kỹ thuật và nghệ thuật đạt
đỉnh cao biểu lộ trên các đồ trang sức tinh tế bằng đá, những đồ gốm có
hoa văn trang trí, cân xứng, mềm mại, hài hoà. Đặc điểm của tư duy mỹ
cảm của người Phùng Nguyên là phản ánh thế giới khách quan một cánh ước
lệ, không chuộng chi tiết, tỉa tót mà chú trọng làm bật cái thần, cái
sống động có thể thấy qua các tượng đầu gà bằng đất nung ở Xóm Rền (Phú
Thọ), tượng người đàn ông bằng đá ở Văn Điển (Hà Nội)... Theo dõi quá trình hình thành và phát triển các văn hoá tiền Đông Sơn
và Đông Sơn có thể nhận ra những nét đặc Trưng cư bản của các nền văn
hoá này là đều có khởi nguồn từ văn hoá Phùng Nguyên. Từ hình dáng công
cụ, vũ khí, đồ trang sức và nghệ thuật đều được tạo lập từ thời Phùng
Nguyên, chúng chỉ được đa dạng về kiểu loại và chất liệu ở các giai
đoạn sau.
Từ khoảng thế kỷ XIII-VIII trước công nguyên, trên địa bàn văn hoá
Phùng Nguyên và các văn hoá ở bình tuyến Phùng Nguyên kế tiếp nhau phát
triển thành các văn hoá Đồng Đậu, Gò Mun ở vùng sông Hồng, Bái Man, Quỳ
Chữ ở vùng sông Mã và Rú Cật, Rú Trăn ở vùng sông Lam.
Tiếp tục phát triển truyền thống Phùng Nguyên, một trong những đặc
trưng quan trọng của các giai đoạn kế liền trước Đông Sơn là sự phát
triển bùng nổ của kỹ thuật luyện kim đồng thau và kỹ thuật đúc chế đồ
đồng thau.
Nhân tố mới, thể hiện cuộc sống sôi động, mạnh mẽ phóng khoáng, bám trụ
vững chắc và mở rộng không gian sinh tồn xuống miền châu thổ sông nước
mênh mông được in dấu trên đồ gốm với các hoa văn khuông nhạc cuộn
sóng. Văn hoá Gò Mun lại thể hiện sự nhân lên và trở về với truyền
thống Phùng Nguyên ban đầu được nhận biết qua hàng loạt di vật và nhất
là qua hoa văn biểu trưng.
Ý nghĩa tạo nền cho văn minh sông Hồng ra đời của các văn hoá tiền Đông
Sơn này thể hiện ở tiến bộ kỹ thuật, ở sự chọn lọc, xác lập và góp mới
những yếu tố văn hoá, biến chúng thành đặc điểm, thành truyền thống văn
hoá phản ánh tính cách và sở đắc chung, định hình những thói quen lao
động, tâm lý, thẩm mỹ của một cộng đồng người phát triển đang đi vào ổn
định.
Văn hoá Đông Sơn - Hiện thân của văn minh sông Hồng
Những tiền đề vật chất xã hội được chuẩn bị từ các giai đoạn trước, nay
trong hoàn cảnh sống và các mối giao tiếp mới đã được phát huy mạnh mẽ
tạo ra diện mạo Đông Sơn với những đường nét hết sức phong phú, đa sắc
và độc đáo thể hiện sự đổi thay chất biến trong toàn bộ đời sống của
người Việt cổ.
Người Đông Sơn lúc này đã cư trú trên mọi địa hình trong nhiều vùng
sinh thái khác nhau trải rộng từ vùng núi phía Bắc đến vùng sông Gianh.
Chính do đặc điểm cư trú trong các vùng sinh thái khác nhau cộng với
những khác biệt về sắc tộc và tốc độ phát triển của từng nhóm tộc cụ
thể đã tạo ra sự khác biệt vùng, sự khác biệt địa phương của văn hoá
Đông Sơn ở ba trung tâm sông Hồng, sông Mã và sông Lam.
Nét độc đáo của loại hình Đường Cồ vùng sông Hồng thể hiện ở đồ gốm có
chất lượng chế tác cao, gốm mịn màu trắng ngả xám hoặc phớt hồng được
trang trí hoa văn thừng dập thành mắt võng hoặc ấn lõm nhăn hình tổ
ong, đồ đồng có lưỡi cày hình tim, dao gặt hình vỏ trai, rìu lưỡi xéo
gót vuông, giáo lao họng ngắn rìa lưỡi lượn. . . Trong khi đó, ở loại
hình Đông Sơn vùng sông Mã nét riêng lại thể hiện ra ở đồ gốm thường có
áo đỏ, lưỡi cày hình chân vịt, rìu lưỡi xéo gót tròn, giáo lao họng dài
bản lưỡi rộng hình tam giác có rãnh thoát máu. Còn ở loại hình Làng Vạc
vùng sông Lam, cư dân ở đây lại ưa chuộng dùng đồ gốm có áo nâu sẫm,
lưỡi cày đồng vai ngang, vòng trang sức đồng có đính các chuông nhạc...
Song tính thống nhất Đông Sơn được thể hiện tập trung ở bộ vũ khí bao
gồm những rìu lưỡi xéo, dao găm có đốc hình củ hành, ở những trống,
thạp, thố đặc sắc...
Từ những di tồn vật chất đúc kết lại hình thành những đặc Trưng cư bản
của văn hoá Đông Sơn có thể nhận ra những đặc điểm và giá trị tiêu biểu
của nền văn minh sông Hồng. Các di tồn vật chất nói lên sự vận động
chất biến của văn hoá Đông Sơn thể hiện ở sự xuất hiện một loạt những
sản phẩm mới, những loại hình di vật mới bằng đồng, bằng sắt, cho thấy
nền văn minh sông Hồng được hình thành và phát triển trên cư sở cuộc
cách mạng luyện kim diễn ra như kết quả phát triển nội tại tất yếu của
những thành tựu kỹ thuật mà những thế hệ, những lớp lớp cư dân ở đây kế
tiếp sáng tạo và giành được.
Những thế hệ cư dân thời Hùng, thời Thục, khi họ nấu chảy kim loại, cũng là lúc họ từng bước đúc nên nền văn minh sông Hồng.
Bằng những công cụ tiên tiến có hiệu suất cao, với những kinh nghiệm
làm ăn lâu đời được đúc kết lại, người dân Lạc, dân Âu, tuy không rời
bỏ nền kinh tế khai thác mà lúc này đối tượng đánh bắt, thu hái vẫn còn
rất phong phú dồi dào, dễ kiếm, đã tập trung sức vào canh tác nông
nghiệp, đưa kỹ thuật trồng lúa nước đạt tới đỉnh cao của thời đại, hình
thành phức hợp kỹ thuật canh tác tiên tiến: Thuỷ lợi - cày kim loại -
sức kéo trâu bò - cấy trồng hai vụ. Ngoài lúa, người thời đó còn trồng
rau quả như bầu bí, đỗ, cà, dưa hấu, trám, nhãn, vải, na, cau, dưa. . .
mà vết tích của chúng được các nhà khảo cổ học phát hiện ở nhiều nơi,
trong nhiều di tích tiền Đông Sơn, Đông Sơn.
Trong nền nông nghiệp trồng lúa nước, thì nước nổi lên như một yếu tố
quan trọng, một biện pháp kỹ thuật hàng đầu Người xưa đã biết đắp đê để
ngăn chặn lũ. Vùng Đông Anh - Cổ Loa đã phát hiện được dấu tích một
đoạn đê cổ có trước thời Bắc thuộc. Họ cũng biết lợi dụng thế nước cao
thấp để đưa nước vào tưới ruộng theo nước triều lên xuống (được ghi
trong Giao Chỉ thành ký, được dẫn lại trong An Nam chí lược đời Trần).
Bảo đảm cho cây lúa đủ nước để sinh trưởng quả là một việc làm đầy gian
lao vất vả. Khi gặp hạn hán phải đưa nước vào ruộng để chống hạn, khi
mưa bão quá nhiều gây ngập lụt, cần tiêu nước chống úng, tất cả đều cần
đến sự có mặt của các con kênh mương nhân tạo và điều đó chỉ có thể
thực hiện nhờ sự hiệp lực chung của nhiều gia đình, nhiều làng xóm,
dưới sự điều hành chung của bộ máy quyền lực công. Như vậy là, nước ảnh hưởng quyết định đôi với lúa nước, một loại cây
lương thực chính của cư dân thời đó; đồng thời nước cũng cung cấp nguồn
đạm thuỷ sản dồi dào cùng nhiều sản vật quý hiếm khác như ngọc trai -
đồi mồi. . . Nước còn là không gian nối liền các làng xã lại với nhau
và với các miền đất xa xôi trong khu vực. Định tính sông nước này của
nền văn minh sông Hồng đã có ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mặt đời sống của
cư dân Văn Lang, Âu Lạc. Từ những sinh hoạt vật chất hàng ngày như ở,
ăn, mặc, đi lại đến những phong tục tập quán tín ngưỡng, lễ hội, tâm
lý, ý thức đều dựa trên nền tảng của nông nghiệp lúa nước, là sản phẩm
và là hiện thân của xã hội nông nghiệp.
Bức tranh văn hoá toàn cảnh này hiện lên đậm đà độc đáo ở mọi mặt của đời sống.
1. Về ở:
Nổi bật lên là cách chọn đất định cư của người Việt cổ. Họ thường chọn
nơi vừa thuận lợi cho đi lại làm ăn, lại vừa an toàn cho cuộc sống. Thế
đất đó thường là có sông suối bọc quanh, có đồi gò che chở (như ở Làng
Cả, Đông Sơn, Làng Vạc Cổ Loa... những trung tâm cư trú của người thời
Đông Sơn).
Sách Lĩnh Nam chích quái có chép việc dựng hàng rào gỗ (mộc sách) để
bảo vệ nơi ở thời Hùng Vương. Cách phòng ngự truyền thống của các làng
người Việt là trồng tre gai thành luỹ quanh làng. Lưu An tác giả sách
Hoài Nam tử (thế kỷ II Tr.CN) có nhận xét “Bách Việt không có thành
quách thôn ấp. Họ ở trong vùng lau trúc, bên bờ sông giữa rừng tre”.
Luỹ tre xanh đã trở thành biểu tượng làng quê của người Việt, một kiểu
làng trại , “làng chiến đấu” hết sức độc đáo. Qua những đám gỗ cọc, cột
tìm thấy ở di chỉ Đông Sơn qua hình khắc ngôi nhà trên trống đồng có
thể thấy ngôi nhà của cư dân Đông Sơn là nhà sàn rất thích hợp với điều
kiện ở trên thế đất dốc, sống giữa cây rừng, nước lội. . .
2. Về ăn uống:
Lương thực chủ yếu của người thời Hùng Vương - An Dương Vương là lúa
gạo 1, trong đó gạo nếp được dùng phổ biến 2. Bữa ăn truyền thống của
cư dân Đông Sơn là cơm-rau-cá. Đồ ăn được chế biến thích hợp cho từng
dạng sinh hoạt: bánh dày, bánh chưng cho các ngày lễ tết. Bỏng rang,
cơm nắm, cơm lam cho những cuộc đi săn thú rừng hay hành quân chiến đấu
. . .
3. Về trang phục:
Về đầu tóc, phổ biến là lối cắt tóc ngắn ngang vai 3 và búi tóc sau gáy
4 đôi khi cũng thấy hình người tết tóc hoặc buộc tóc thành đuôi sam,
thả dài sau lưng hay vấn cuộn trên đỉnh đầu. Các tài liệu đều phản ánh
lối ăn mặc giản dị của người Đông Sơn: ở trần, đóng khố, đi chân đất.
Sự trang điểm ở người phụ nữ, nhất là những phụ nữ thuộc lớp người
quyền quý có phần cầu kỳ sang trọng hơn: Khăn, yếm, áo, váy, thắt lưng
đều được thế hiện trên chuôi cán dao găm hay kiếm ngắn cùng với mũ, váy
lông chim được hoá trang thấy ở mọi lớp người trong ngày hội, khảo cổ
học còn phát hiện ra những tấm đồng che ngực hình vuông hay hình chữ
nhật uốn cong có vòng khuyên hay lỗ buộc trên mặt trang trí hoa văn
người chèo thuyền, cặp cá sấu, chồn cáo điển hình của nghệ thuật Đông
Sơn, những bộ khoá thắt lưng hình tượng rùa hay chim . . . có thể đó là
võ phục của các thủ lĩnh.
4. Về giao thông:
Phương tiện giao thông quan trọng nhất của người Đông Sơn là thuyền,
ghe, bè, mảng. Con thuyền còn là phương tiện cư động chiến đấu rất quan
trọng. Đời sống sông nước và hình ảnh con thuyền đã đi vào tâm thức,
trở thành đối tượng phản ánh của nghệ thuật hay trở thành vật thiêng
đưa xác và hồn người chết về thế giới cội nguồn của họ.
Nếu như thuyền gắn với sông nước thì voi gắn với đời sống núi rừng.
Người Đông Sơn đã thuần dưỡng voi để chuyên chở. Hình voi chở trên lưng
chiếc trống đồng trang trí trên cán dao găm Làng Vạc đã nói lên điều
đó. Voi còn được người Đông Sơn và tổ tiên ta sau này sử dụng trong
chiến trận. Sử sách đều nhắc đến những con voi đầy dũng mãnh và nghĩa
cử của Bà Trưng, Bà Triệu, của đức Thánh Trần Hưng Đạo trở thành con
vật thiêng, được khắc hoạ trên qua đồng của người Đông Sơn, đắp thành
tượng voi chầu ở các cổng đình làng người Việt. Thêm vào đó, trong một
chừng mực nhất định thì ngựa chắc hẳn cũng đã được sử dụng trong giao
thông hay trong trận mạc.
1. Nhiều hạt thóc, vỏ trấu tìm được ở các di chỉ như Đồng Vông, Xuân
Kiểu, Đồng Đậu, Từ Sơn, Đồng Dền, Gò Mun, Gò Chiền, Chợ Ghềnh, Trung
Màu, Chiền Vậy, Làng Cả, Đồng Tiến, Làng Vạc . . .
2. Khảo cổ học đã tìm được nhiều mảnh chõ vỡ và cả chõ nguyên, thấy ở
nhiều di chỉ như An Đạo, Đông Sơn, Đồng Tiến, Làng Vạc . . .
3. Lối để tóc này thể hiện ở các tượng trên nắp thạp Đào Thịnh, hình người khắc trên trống đồng.
4. Hình người trên các thuyền ở trống Làng Vạc - Đồi Ro - tượng người trên muôi đồng Việt Khê.
Hình tượng người Việt cổ cắt tóc ngắn ở trần đóng khố, đi chân đất đã
gây ấn tượng mạnh mẽ với người phương Bắc, như một cái gì đó thô, thấp,
gần với hoang dã. Song nó lại rất thích hợp với điều kiện tự nhiên môi
trường khí hậu, sinh hoạt và chiến đấu của người thời đó. Cắt tóc ở
trần, đóng khố đi chân đất rất tiện cho việc bơi lội dưới nước, hoạt
động và chiến đấu trên mặt nước. Nền văn minh Đông Sơn phát triển rực rỡ, độc đáo, có sức sống mãnh
liệt, được thể hiện cực kỳ phong phú và đa dạng trên mọi lĩnh vực của
đời sống tinh thần.
Về phương diện thẩm mỹ từ những cảm xúc và sự thể hiện cái đẹp của
người Đông Sơn nổi lên cái trau chuốt, cái tinh tế qua các hoa văn hình
học đôi xứng hài hoà trên đồ gốm và đồ đồng, ở đó các đường nét hay nền
móng của trang trí đều được thể hiện rất tỉ mỉ, tinh tế. Cảnh vật và
sinh hoạt sống động của con người khắc hoạ trên đồ đồng lớn, các bức
tượng tròn Đông Sơn được phác dựng đại thể về khối hình, song các chi
tiết được nhấn mạnh ở những bộ phận, những vị trí mà nghệ thuật cho là
đắt nhất, nhằm nêu bật cái bản chất, cái thần thái tàng ẩn trong đó.
Các pho tượng người tạc trên chuôi dao, kiếm đều có chung một phong
cách thể hiện là người đứng thẳng, hai mắt mở to, hai tay chống nạnh,
hai tai đeo vòng lớn trễ vai. Tượng người Gò Mun được tạc ở tư thế ngồi
xổm bó gối đầu hơi nghiêng toát lên cái nội tâm của nhân vật đang trầm
tư suy ngẫm. Tượng người thổi kèn trên cán muôi đồng Việt Khê được làm
nổi lên cái hình bóng chung, bàng bạc của một đêm trăng nước mênh
mang...
Nghệ thuật tạo dáng và cách chọn màu cũng nói nhiều đến tính cách của người sáng tạo ra chúng.
Điểm lại toàn bộ đồ vật mà chủ nhân văn minh sông Hồng tạo ra, chúng ta
nhận ra cái độc đáo thấm đậm một cảm xúc thẩm mỹ chung là cái mềm mại
dịu nhẹ và trầm đọng sâu lắng biểu hiện qua những vòng trang sức bằng
đá quý ở đó sản phẩm được tạo ra có hình dáng thanh thoát với các gam
màu nhã, dịu nhẹ, xanh lơ, trắng ngà, xanh lá mạ, vàng nhạt...
Cũng vậy, những bình vò bát đĩa, những đồ đựng nói chung dù là bằng gốm
hay bằng đồng thì dáng chung của chúng đều tròn trịa, ít những đường
gãy góc, những mảng đắp nổi gồ ghề. Nhìn chung nhịp nhàng và cân xứng
là hai mẫu số chung của mô hình thẩm mỹ Đông Sơn.
Nhạc cụ đào được hay được khắc hoạ trên đồ đồng Đông Sơn như cồng,
chiếng, sênh, phách, chuông, đèn, sao. . . đặc biệt là trống đồng đều
là những dụng cụ truyền tín hiệu hành động hay tạo ra sự hưng phấn được
cuốn hút vào sinh hoạt cộng đồng như nhảy múa, ca hát, hò reo...
Những nhạc cụ này chứa rất nhiều nét riêng phản ánh tâm lý, mỹ cảm, tính cách riêng của chủ nhân chúng.
Có thể tìm thấy nhiều phong tục, tập quán, tín ngưỡng, trò chơi, lễ hội còn in dấu trên các đồ vật của người Đông Sơn.
Xăm mình giống loài thuỷ quái là xuất phát từ nhu cầu cuộc sống luôn
tiếp xúc với nước, ở đó có nhiều con vật hung ác như cá sấu, thuồng
luồng, rắn. . . nhằm tránh sự làm hại của chúng. Vết tích xăm mặt, xăm
trán còn thấy trên một số chuôi tượng dao găm. Và dần trở thành một
tiêu chí đẹp, mạnh mẽ của người Việt Cổ. Tục nhuộm răng đen, cũng như
tục ăn trầu, hàm chứa một chuẩn mực đạo đức ứng xử của con người trong
giao tiếp.
Các tập tục sinh hoạt cộng đồng khác như đánh cồng, giã cối hát đối,
bơi thuyền, đâm trâu, đánh trống đồng. . . cũng được phản ánh đậm nét
trên trống đồng Đông Sơn.
Có những tập tục phản ảnh tư tưởng căn bản của người Việt cổ về cách
nhận thức và ứng xử với cái sông và cái chết. Từ quan sát sự sống của
bản thân và vạn vật xung quanh, ở người Việt cổ đã nảy sinh, dần hình
thành một quan niệm biện chứng thô sơ về sự hình thành, vận động và
phát triển của sự vật với sự kết hợp và tách biệt của hai mặt đối lập:
Đất-trời, Nước-Lửa, Đêm - Ngày, Mưa-Nắng, Đực-Cái được cô đúc lại trong
ý niệm phồn thực và được thể hiện ra ở vô vàn các hiện tượng cụ thể
khác nhau: từ những linga-yoni bằng đất nung tìm được ở di chỉ Mả Đống
(Hà Tây) đến những cặp tượng nam nữ giao hợp trên nắp thạp Đào Thịnh;
từ những cặp lồng -yoni, những cặp hưu, nai, chồn, cáo đực-cái nối đôi
trong vòng quay trời đất đến trò chơi chồng nụ - chồng hoa, khoèo chân
ngoắc tay dưới nhịp trống được khắc hoạ trên mặt trống đồng...
Ý thức về giống nòi, về cộng đồng được thể hiện thành tín ngưỡng sùng
bái tổ tiên và những người đã khuất; lo tang ma chôn cất chu đáo, lo mồ
yên mả đẹp, coi đó là nơi đất thiêng được các thế hệ con cháu sau chăm
nom cẩn trọng, tục tảo mộ hằng năm của dân ta là biểu hiện lòng sùng
kính đó.
Sùng kính, tôn thờ những anh hùng văn hoá, anh hùng chiến trận cũng làm
nên nét đặc sắc của tín ngưỡng thời Văn Lang - Âu Lạc. Sơn Tinh, Gióng,
Cao Sơn, Quý Minh, Cốt Tung... được thần thoại hoá. Những Bà Dâu, Bà
Đậu, Bà Nành. . . tên gọi gợi lên công lao của họ trong sản xuất nông
nghiệp, trong việc tìm ra và thuần hoá các cây con mới, được tôn thờ ở
khắp nơi.
Đời thường với những con người và cảnh vật đậm đà sắc thái đồng quê,
trong tâm linh người Đông Sơn đã được khác hoạ, tô phóng thành những
biểu tượng riêng cho từng mặt hay trọn vẹn cho cả cái đời thường đó.
Chim lạc - hay con cò - một loại chim nước kiếm ăn theo đàn rợp bóng
trên mặt đầm hay đơn chiếc bên bờ ao - được khắc hoạ ở vị trí trang
trọng trên mặt trống đồng, được nghệ nhân Đông Sơn chọn làm biểu tượng
cho thấy đức tính chuyên cần làm ăn, chịu đựng lam lũ cốt giữ tiếng ở
đời, sống sao cho trong sạch , thanh cao. Cá sấu một loại vật dũng mãnh vẫy vùng làm chủ nơi sông nước được cách
điệu thành con giao long, hoá thân vào con thuyền để nâng đỡ các chiến
binh đang ngồi trên đó, hoặc cuộn chầu từng đôi dưới mũi thuyền (như ở
thạp Đào Thịnh) hoặc được thể hiện từng cặp trên bốn góc tấm đồng che
ngực hàm súc sức mạnh siêu nhiên che chở và nâng đỡ, hỗ trợ con người
chiến thắng kẻ thù. Sau này cá sấu được hoá thân thành con rồng - rồi
thành biểu tượng tổ tiên khai sinh ra dòng giống người Việt.
Có thể phân tích hình ảnh nhiều loài vật thân quen được phản ảnh trong
các tác phẩm nghệ thuật của người Đông Sơn như cóc, rùa, rắn, voi,
hổ... để tìm ra biểu tượng của từng mặt đời thường, đã được siêu nhiên
hoá trong đời sống tâm linh.
Ở trên, văn minh sông Hồng đã được phản ảnh cái định tính cư bản của nó
là một nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước ở đồng bằng, mọi hoạt
động của đời sống gắn liền với nước, đậm đà chất sông nước cùng với sắc
thái núi và sắc thái biển, tạo ra tính đa dạng cho nền văn minh này.
Môi trường sinh thái với nền kinh tế then chốt và bao trùm đó đã tạo
cho nền văn minh sông Hồng một diện mạo riêng độc đáo, xét về mặt xã
hội. Đó là nền văn minh thôn dã - nền văn minh nông nghiệp xóm làng,
dựa trên cư cấu công xã nông thôn kiểu châu Á, ở đó xã hội phân hoá
chưa sâu sắc, nhà nước sơ khai đã xuất hiện. Với chức năng hên kết các
làng xã trong tổ chức khai hoang, làm thủy lợi và đấu tranh giữ gìn,
củng cố và mở rộng đất đai.
Những công xã nông thôn trong tiếng Việt cổ được gọi là kẻ, chạ,
chiếng... là một tổ chức xã hội bao gồm một số gia đình đồng tộc và
khác tộc, một dạng làng - họ , nắm sở hữu ruộng đất công xã chung và có
quyền tự trị rộng lớn. Song do những nhu cầu kinh tế - xã hội trên, họ
tự nguyện liên kết và được liên kết lại với nhau trong một cộng đồng
rộng lớn hơn hình thành các liên làng, siêu làng mà sau này được gọi là
tổng. Cứ lần lượt như vậy, các tổ chức liên kết rộng lớn hơn hình thành
và bao trùm lên tất cả là cộng đồng quốc gia. Gia đình vừa là đơn vị
kinh tế cư sở quan trọng, vừa là tế bào hạt nhân của tổ chức xã hội.
Thế kết hợp của kết cấu xã hội nhà - làng - nước này mang hình bóng của
xã hội Việt cổ truyền được phóng dọi lên từ kết cấu xã hội của văn minh
sông Hồng qua vết tích những ngôi nhà Đông Sơn còn lại và dựa vào kiểu
liên kết chùm - thang bậc của các di chỉ cư trú thời Đông Sơn.
Trong các làng xóm thời Đông Sơn, vết tích văn hoá mà chủ nhân nó để
lại cho thấy kết cấu dân cư và nội dung cuộc sống ngày càng trở nên
phong phú hơn, phức tạp và đa dạng hơn. Điều đó được tạo ra không chỉ
bởi các nhân tố văn hoá của các nền văn hoá bản địa bên trong mà còn
hội nhập tiếp nhận và chuyển hoá nhiều yếu tố văn hoá của các nền văn
minh gần xa.
Trống đồng Đông Sơn, nghệ thuật Đông Sơn toả sáng khắp khu vực Đông Nam
Á Vành chim Lạc trên trống Đông Sơn được mô phỏng và được trang trí
trên vai bình gốm văn hoá Bản Chiếng (Thái Lan). Dao găm chuôi tượng
người Đông Sơn tìm được trong mộ ở Thụ Mộc Lãnh, Hồ Nam (Trung Quốc)...
hẳn là bằng trao đổi mà có.
Và sức hút của văn hoá Đông Sơn cũng cực kỳ mạnh mẽ. Chủ nhân văn hoá
Đông Sơn ưa chuộng đồ trang sức bằng thuỷ tinh và đá quý của văn hoá Sa
Huỳnh (Nam Trung Bộ Việt Nam), của thế giới Tây và Nam Á. Khuyên tai
hai đầu thú, khuyên tai hình trái lê có ba mấu nhọn đặc trưng của văn
hoá Sa Huỳnh có mặt ở Xuân An (Hà Tĩnh), ở Làng Vạc (Nghệ An) . . .
Điều quan trọng ở đây là chủ nhân văn minh sông Hồng đã biết “Đông Sơn
hoá”, bản địa hoá các yếu tố văn hoá nhập ngoại, chuyển hoá chúng,
nhuần nhuyễn chúng với các yếu tố văn hoá nội sinh làm phong phú thêm
bộ mặt văn hoá Việt cổ.
Có thể nhận ra dấu ấn “Đông Sơn hoá” trên rất nhiều di vật. Chiếc búa
chiến bằng đồng có lỗ tra cán, một vũ khí điển hình của cư dân đồng cỏ
Á - Âu trong thời đại kim khí đã có mặt trong khu mộ táng Làng Vạc được
Đông Sơn hoá bằng các hoạ tiết vòng tròn xoắn ốc thành hình chữ S.
Những lưỡi qua đồng có hoa văn trang trí hình cá sấu, hình chim nước,
hình voi, hổ... ở Núi Voi, Đông Sơn. Chiếc liềm đồng ở Đá Đỏ (Sơn La)...
Phong cách nghệ thuật tả thực của văn hoá Điền với các đề tài người thú
đầu sức rất dữ dằn qua lăng kính nghệ thuật Đông Sơn được thể hiện ít
“căng” hơn, nhẹ nhàng hơn qua cảnh hổ vồ mồi trên nắp thạp Vạn Thắng.
Dù có tiếp thu chất tả thực thì nghệ nhân Đông Sơn cũng chỉ đưa vào,
tạo cái hình bóng mà thôi để làm nổi lên cái thần thái mà nghệ nhân
muốn diễn tả.
Có thể dễ dàng nhận ra điều này qua hình ảnh người múa được thể hiện
trên mặt trống Quảng Xương (Thanh Hoá). Sự bay bổng của tâm hồn người
múa siêu nhập vào cõi tâm linh được thể hiện ở đường cong vút của thân
thể với chân co, bước duỗi và tấm khoác choàng lật hẳn sang một bên làm
lộ đường cong cơ bắp của chân tay.
Nhiều yếu tố của văn hoá Hán cũng được Đông Sơn hoá rất nhuần nhuyễn.
Ví như chiếc chậu đồng, trong lòng đáy chậu đúc nồi đôi cá chép “song
ngư”, nhưng khi chậu được đặt úp miệng xuống, thì chậu lại mang dáng
trống với những hoa văn trang trí rất Đông Sơn của nó...
Tính mở của văn minh sông Hồng đã tạo cho nó một sức sống mạnh mẽ, phát
triển ổn định trong nhiều thế kỷ và luôn được đổi mới, được tiếp thêm
sức mạnh tạo ra những hằng số làm thành bản sắc văn hoá Việt. Nhìn từ
tụ điểm thời gian và xét trong mối tương quan khu vực rộng lớn, thì văn
minh sông Hồng thấm đượm, tràn đầy nhất anh hùng ca thời đại. Hào khí
Đông Sơn hun đúc và chứa đựng trong nó lòng yêu nước và tinh thần dân
tộc của người Việt cổ toát ra trên nhiều mặt của đời sống lúc ấy. Bộ vũ
khí đồng sắt đồ sộ với nhiều hình loại phong phú, số lượng không kém bộ
công cụ sản xuất phản ánh cuộc sống sôi động, đầy biến động. Nhu cầu
phải thường xuyên đấu tranh chống lại mọi mưu đồ xâm lược và đe doạ từ
bên ngoài đã tạo ra ở người Việt truyền thống giữ nước dẻo dai, mạnh lẽ
kiên cường, tạo thành mặt hữu cơ của truyền thống dựng nước và giữ nước
gắn liền với nhau suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Người anh hùng
làng Gióng là hình tượng dân tộc Việt Nam trưởng thành nhanh chóng, vừa
tự ý thức được về mình thì hai vai đã gánh nặng hai nhiệm vụ làm ăn và
đánh giặc. Đó là hai mặt cư bản nhất trong cuộc sống của nhân dân ta.
Giai đoạn Văn Lang - Âu Lạc là một thời kỳ lịch sử hết sức trọng yếu, ở
đó đã nảy nở nền văn minh sông Hồng, đã ra đời một hình thái nhà nước
sơ khai. Chính trong thời kỳ này nhiều giá trì văn hoá, nhiều yếu tố
văn hoá tạo thành truyền thống, thành bản sắc văn hoá Việt Nam được
hình thành, đồng thời diễn ra quá trình hình thành ý thức dân tộc, xây
dựng nên nền tảng văn hoá Việt Nam, nền tảng dân tộc Việt Nam và truyền
thống tinh thần Việt Nam.
|