|
IV. SỰ HÌNH THÀNH BƯỚC ĐẦU BẢN SẮC VĂN HÓA
DÂN TỘC, NHỮNG YẾU TỐ TRUYỀN THỐNG
TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC.
QUÁ TRÌNH Ý THỨC DÂN TỘC.
1. Bản sắc văn hoá và những yếu tố truyền thống trong cộng đồng dân tộc:
Nhìn nhận và khái quát lại những giá trị, những đặc điểm tiêu biểu của
nền văn minh sông Hồng có thể thấy bức tranh tổng quát về quá trình
hình thành văn hiến, quốc gia, dân tộc Việt Nam diễn ra trong những
điều kiện lịch sử đặc thù về đấu tranh khắc phục những bất lợi của
thiên nhiên về lũ lụt hạn hán để phát triển nền nông nghiệp trồng lúa
nước nhiệt đới, về đấu tranh chống lại sự đe doạ xâm lược, môi hiểm hoạ
xâm lược thường xuyên từ ngoài để bảo vệ đất đai quê hương và cuộc
sống. Cuộc đấu tranh đó đòi hỏi một sự liên kết, chung sức hành động vì
cái chung, vì lợi ích cộng đồng của mọi nhóm tộc, có chung số phận và
cùng chung sống trên dải đất này.
Quá trình hình thành dân tộc cũng là quá trình hình thành và nâng cao ý
thức dân tộc. Ý thức dân tộc thể hiện trước hết ở ý thức về một lãnh
thổ chung, ý thức về sự cần thiết và cốt tử phải bảo vệ cái không gian
sinh tồn của cộng đồng và cho toàn cộng đồng. ý thức dân tộc còn thể
hiện ở ý thức về một cội nguồn chung, một gốc ngôn ngữ chung, một nền
văn hoá vật chất và tinh thần chung. ý thức dân tộc xem như là cái thần
thái, cái thần sắc dân tộc, ý thức về độc lập dân tộc, về tự chủ của
đất nước có chủ quyền.
Lòng yêu nước, tình đoàn kết gắn bó là cư sở sức mạnh cho sự bảo tồn và
phát triển dân tộc. Ý thức dân tộc và lòng yêu nước đã thấm sâu vào mọi
hoạt động, hướng dẫn mọi hành vi ứng xử của con người trong những hoàn
cảnh sống cụ thể, tạo ra những giá trị văn hoá mang màu sắc riêng, hình
thành hệ giá trị phản ánh bản sắc văn hoá riêng của mỗi dân tộc.
Bản sắc văn hoá là những nét văn hoá riêng làm thành hệ giá trị được
một dân tộc chấp nhận, được xem là phù hợp và thích hợp với dân tộc đó
và được vận hành trong cuộc sống nhằm thoả mãn nhu cầu sống và phát
triển của dân tộc trong nền cảnh lịch sử tương ứng và phù hợp. Trong
bản sắc văn hoá dân tộc chứa đựng tính nhân loại, tính khu vực và tính
tộc. Tính nhân loại và tính khu vực của văn hoá được đa dạng hoá, được
biến đổi và được kết hợp với cái riêng dân tộc và dân tộc đó sáng tạo
ra trong những hoàn cảnh lịch sử riêng của mình. Tất cả những cái đó
làm thành bản sắc văn hoá dân tộc, chứ bản sắc dân tộc không phải chỉ
là những cái gì riêng của dân tộc đó nghĩ ra, làm ra. Như vậy có thể
hình dung bản sắc dân tộc của văn hoá như một vòng chính tâm đa sắc,
hội kết và chiết xuất muôn vàn vòng sáng đa sắc của văn hoá nhân loại.
Bản sắc văn hoá Việt Nam được hình thành và phát triển trong suốt chiều
dài mấy nghìn năm lịch sử. Nền văn hoá đó, mà những yếu tố làm thành
bản sắc luôn được tuyển chọn và chắt lọc, luôn được đổi mới, thêm giàu
có và đầy sức sống, phát triển, vươn lên không ngừng.
Văn hoá Việt cổ ở buổi sinh thành và ấu thơ, mang ý nghĩa là nền tảng
giá đỡ và bệ phóng cho sự cất cánh của dân tộc và văn hoá ó các thời kỳ
lịch sử tiếp theo. Bởi vậy, tìm về cội nguồn và nhận ra cái cốt lõi đầu
tiên của bản sắc văn hoá Việt Nam là việc làm hết sức quan trọng và cần
thiết nhằm kế thừa, bảo vệ, đổi mới và phát huy những tinh hoa; đẩy
lùi, loại bỏ những cái lạc hậu, thiếu văn hoá, thực hiện được chức năng
làm nền và định hướng cho cách ứng xử (thể hiện ở tâm hồn, đạo lý, lối
sống, hành vi...) của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng hướng tới cái
chân, thiện, mỹ trong quan hệ với mình, với người, với xã hội và với tự
nhiên 1.
Ở bên trên đã chỉ ra cái trường lịch sử, tức môi trường tự nhiên và nền
cảnh xã hội, trong đó hình thành các đặc Trưng văn hoá tạo thành bản
sắc văn hoá của nền văn minh Việt cổ thời kỳ Đông Sơn, khi ấy đời sống,
lẽ sống được người Việt cổ hiểu rất hồn nhiên, nôm na, nhưng cũng thật
bản chất, chính xác súc tích và sâu sắc được diễn tả qua ngôn từ đời
thường rất ngắn gọn thể hiện hai mạch sống cư bản: việc làm ăn (lao
động sản xuất, hoạt động kiếm sống nói chung) và cách ăn ở (nếp sinh
hoạt, cách ứng xử, đấu tranh, các quan niệm đạo đức tâm lý, thẩm mỹ,
tâm linh...), trong đó làm và ăn được chú ý trên hết, quán xuyến hết
thảy.
1 Hà Văn Tấn: Bản sắc văn hoá Việt cổ in trong Văn hoá - phát triển và bản sắc, Hà Nội, 1995, tr. 28. Dựng nghiệp trên một không gian sống rộng lớn và đa dạng với trung tâm
hoạt động và hưng khởi là miền đồng bằng sông nước mênh mông tựa núi và
tiếp biển. Không gian sinh tồn đặc sắc đã đào luyện nên tính cách, tâm
lý hoá thân vào đồng đất và mở rộng cõi bờ với hướng chảy dọc theo các
mạch đồng bằng ven biển. Màu nâu của nón áo và đồng đất cùng với màu
xanh của đồng lúa và tre làng đã tạo nên sắc thái độc đáo của văn hoá
nông nghiệp - xóm làng Việt.
Những chứng tích khảo cổ học về nhà ở và mộ táng, cùng với những tài
liệu về công điền, về tổ chức làng xã sau này cho thấy vị trí của gia
đình như một tế bào xã hội và như một đơn vị sản xuất cư bản. Chính mối
quan hệ giữa quyền sở hữu ruộng đất thuộc về làng xã và quyền sử dụng
ruộng đất thuộc về cá nhân và gia đình là cư sở và là động lực cho phát
triển sản xuất suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trở thành cung cách làm
ăn, cách thức tổ chức và truyền thống trong sản xuất nông nghiệp nước
ta, mà ngày nay chúng ta đang khai thác và phát huy sức mạnh của kinh
tế gia đình.
Nhìn sang lĩnh vực thủ công nghiệp, một hiện tượng nổi lên và bao trùm
là các lò thủ công tràn ngập trong các xóm làng nông nghiệp, các làng
nghề hoà nhập quyện chặt vào các làng nông. Nền kinh tế tự cấp tự túc
phát triển còn ở mức thấp khiến dường như mọi người, mọi gia đình có
thể làm ra những đồ dùng tối thiểu dùng cho cuộc sống bản thân và gia
đình trong các lúc nông nhàn. Nền kinh tế phụ gia đình này nột thời đã
là sự hợp lý, cân bằng hài hoà trong việc điều tiết sức lao động xã
hội. Song mặt khác, lại làm chậm lại tốc độ chuyên hoá sản xuất và phân
công lao động xã hội lần thứ hai, khiến kinh tế hàng hoá thị trường ra
đời muộn và kém phát triển. Trong những nghề thủ công truyền thống được
hình thành từ thời Đông Sơn phải kể đến nghề đúc đồng, khắc gỗ, chạm
đá, nơi mà óc sáng tạo và bàn tay tài hoa của nghệ nhân Đông Sơn được
thể hiện rõ nlất. Đây cũng là một mặt, một khía cạnh quan trọng thể
hiện tính trí tuệ cao của văn hoá Việt cổ. Tính trí tuệ trong văn hoá
hay cũng có thể nói văn hoá trí tuệ, là một nền văn hoá có sức sống,
sức vươn lên mãnh hệt, một nền văn hoá có tầm cỡ hay nói cách khác là ở
vị trí tiên tiến của thời đại. Kỹ thuật và nghệ thuật trống đồng Đông
Sơn là biểu hiện của trí tuệ Việt, đã toả sáng vùng trời Đông Nam Á,
góp tạo nên cho nền văn hoá Việt Nam nổi tiếng vì sự bao dung và trí
tuệ 1.
Sắc thái trí tuệ Việt của văn hoá dân tộc được thể hiện chói lọi nhất
trong sự nghiệp chiến đấu, giữ nước. Trong lĩnh vực này thuật giữ nước
của người Đông Sơn cũng thật đặc sắc tài ba. Bộ vũ khí Đông Sơn với
những lưỡi rìu chiến cong vút những thanh kiếm ngắn, lưỡi dao găm chắc
khoẻ, những mũi lao sắc nhọn đủ kích cỡ được tra lắp những cán bằng cây
song nhẹ, chắc, bền, dẻo, những mũi tên đồng ba cánh hình múi khế... đã
mách chỉ sở trường đánh gần, tài cung nỏ của chủ nhân nó.
Cũng vậy, đời sống sông nước cùng với những con thuyền chiến, thuyền
đồng lại nói lên tài đánh thuỷ của người Việt cổ giỏi bơi lội, thạo
dùng thuyền. Vị thế và cảnh quan thiên nhiên đất nước cũng như bối cảnh
xã hội khách quan tồn tại bên cạnh một nước lớn, một đế chế đang có xu
hướng bành trướng mạnh mẽ đã khiến người Đông Sơn, người Việt cổ có thể
khai thác, tận dụng thế mạnh thiên nhiên hiểm yếu, rừng rậm, khe vực,
đầm lầy... dùng chiến thuật bất ngờ, đánh du kích; huy động sức mạnh và
dựa vào sức mạnh toàn cộng đồng để chống lại sức mạnh to lớn gấp bội
của đối phương.
Bộ đồ tuỳ táng và nghi thức mai táng trong các ngôi mộ Đông Sơn cho ta
thấy công cuộc dựng nước và giữ nước, lao động và chiến đấu thấm đậm và
nhuần nhuyễn vào nhau tạo thành nếp sống của người Đông Sơn, từ già,
trẻ, gái, trai là mầm mống hình thành chiến tranh nhân dân. Trong lĩnh
vực nghệ thuật quân sự, thành Cổ Loa có thể coi như hiện thân của tài
trí Việt cổ, sự hội tụ và kết hợp nhuần nhuyễn của hai thế mạnh Núi -
Âu, tài cung nỏ và Nước - Lạc, thạo thuỷ chiến, giỏi dùng thuyền.
Năng lực trí tuệ của người Đông Sơn được thể hiện trong vũ trụ quan của
họ, trong đó vũ trụ gồm ba tầng và bốn thế giới được thể hiện trên
trống Đông Sơn. ở đó, tầng trên là Trời, bầu trời, Nhiên giới hay Thiên
giới được tượng trưng bằng mặt trời ở chính giữa và nổi cao trên mặt
trống. Tầng giữa là mặt đất, Trần giới hay Nhân giới, ở đó người và
sinh vật cạn được thể hiện trên các vành hoa văn tả thực trên mặt
trống. Tầng dưới là Nước và lòng đất, thuỷ giới, âm ty. Nước được biểu
hiện qua hình ảnh con thuyền lướt trên tang trống và thế giới âm là ảnh
xạ lộn ngược của thế giới Trần... của cải sống với những hình ảnh như
cảnh đâm trâu...
Mặt trống Đông Sơn còn thể hiện quan niệm về dịch chuyển có thể coi là
hệ thông triết học - biểu tượng của người Việt cổ trong đó hai mặt đối
lập của sự vật liên tục vận động và chuyển hoá lẫn nhau. Từ đây còn có
thể nhìn thấy tri thức về lịch nông của người Đông Sơn với sự chuyển
hoá của hai mùa lạnh - nóng, khô- mưa, Đông Xuân - Hè Thu qua các cặp
biểu tượng hưu , chim . . . Tất cả cho thấy trí tuệ và năng lực sáng
tạo là động lực tạo ra sự phồn vinh và phát triển lâu bền của quốc gia.
Nhưng thành tựu cơ bản nhất, di sản quý giá nhất mà người Đông Sơn đã
để lại cho hậu thế là ở chỗ người Đông Sơn đã tạo lập được, đã định
hình được những đường nét lớn, cư bản của một nền văn hoá mang đậm đà
bản sắc dân tộc, bản sắc Việt, mà ở đó cái thần của nền văn hoá được
hun đúc từ hệ thống những giá trị, những bản tính, những phẩm chất,
những tính cách, những truyền thông về đức tính kiên nhẫn, cần cù lao
động, kiên định, kiên trì, nhẫn nại, chịu đựng gian khó khi phải đối
mặt với một thiên nhiên hà khắc, dữ dằn, lắm lũ lụt, nhiều hạn hán tàn
phá mùa màng, nơi ở. Cũng như nhẫn nại chịu đựng áp bức, chờ thời cư
vùng lên tự giải phóng.
1 Theo F.Childe: Bài phát biểu tại Hội thảo phương pháp luận về văn hoá trong phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993. Vốn có bản lĩnh và ý chí tạo lập cho mình một nền văn hoá có sức sống
mạnh mẽ, tràn đầy trí tuệ lại được tư tưởng Hoá dắt dẫn, người Việt đã
tạo được một biệt tài riêng, một tính cách riêng độc đáo là biết biến
cái của người thành của mình. Đó cũng chính là tính mở của văn hoá Việt.
Dũng cảm cũng là một phẩm chất, một tư chất Việt. Phẩm chất này được
nảy sinh trong những bối cảnh tự nhiên và xã hội đã phân tích ở trên.
Thời đại Đông Sơn là thời đại mà nhiều cộng đồng người trong khu vực
chuyển mình thành giai cấp, thành quốc gia - dân tộc.
Quốc gia không phải là một cộng đồng văn hoá tự nhiên, mà là một cộng
đồng quyền lực chỗ dựa chủ yếu của quyền lực là sức mạnh quân sự.
“Chiến tranh là biện pháp thường dùng để mở rộng hay bảo vệ biên giới
vì lợi ích quốc gia”1 và quân sự là lĩnh vực ưu tiên của mỗi quốc gia.
Sức mạnh quân sự được thể hiện ở cả hai mặt vật chất và tinh thần: vũ
khí, kỹ thuật quân sự và lòng dũng cảm, mưu lược. ở người Đông Sơn cả
hai mặt của sức mạnh đó đều thể hiện rất rõ và cái nọ bổ sung, nói cho
cái kia.
Nét đặc sắc trong văn hoá chiến đấu của người Việt là vai trò
không mờ, kém của người phụ nữ, người Mẹ được đề cao trong xã hội Việt
cổ truyền. Ngay từ thời kỳ Đông Sơn, hình tượng người phụ nữ đã được
tạc lên chuôi kiếm - biểu tượng quyền uy của thủ lĩnh. Chỉ có thể giải
thích chân xác hiện tượng này bằng cách tìm hiểu những yếu tố khách
quan dẫn đến hình thành nguyên lý đó. Yếu tố khách quan quyết định đặt
người phụ nữ vào địa vị cao, xứng đáng chính là ở năng lực làm ra giá
trị cuộc sống của họ (không kể năng lực sáng tạo ra chính bản thân con
người). Cái năng lực sáng tạo ra của cải vật chất - nguồn năng lượng
sống của họ cũng rất đáng kể, rất to lớn. Trong xã hội nông nghiệp
trồng lúa nước cổ truyền, ở ngay khâu sản xuất, cùng với nam giới tham
gia vào việc cày bừa, vỡ đất, đắp đập, tát nước... Còn lại ở các công
việc khác, các công đoạn khác từ chăm sóc, làm cỏ cho lúa, gặt hái đến
chế biến, bảo quản lương thực... ở đấy lao động của phụ nữ nổi trội và
quán xuyến tất cả. Cái thực tế mà xã hội cổ truyền thừa nhận “của chồng
công vợ” đã tự nó nói lên vai trò không thể coi nhẹ của người phụ nữ
trong quan hệ kinh tế.
Nguyên lý Mẹ đã ăn sâu trong tâm trí và biểu hiện thành các chuẩn mực
trong ứng xử ngoài đời. Khái niệm Mẹ, cái được dùng để chỉ những cái
lớn lao,vô tận, nổi trội lên trong biển rừng của cái đồng dạng. Những
con sông lớn, con đường lớn, rễ cây lớn, ngón tay lớn... đều được gọi
là sông cái, đường cái, rễ cái, ngón cái và công lao sinh thành, dưỡng
dục của người Mẹ được ví như nước trong nguồn chảy ra vô tận. . .
Tóm lại, đi vào lớp văn hóa đầu tiên - lớp văn hoá thuộc văn minh sông
Hồng - cho thấy người Việt cổ thời Đông Sơn đã tạo được một phổ sắc văn
hoá mà nhiều sắc màu trong đó “góp phần xác định tính chất và truyền
thống của nhân dân Việt Nam, bản lĩnh và tâm hồn của dân tộc Việt Nam.
Nó chứng tỏ, trong linh vực của mình, những đức tính cổ truyền của nhân
dân Việt Nam là cần cù, dũng cảm, sáng tạo có sức sống mãnh liệt, có
tinh thần tập thể trong lao động và đoàn kết trong chiến đấu chống
ngoại xâm v.v..”2. Đó là những mặt tất, mặt mạnh của văn hoá Việt cần
nhấn mạnh, cần đề cao, cần phát huy. Song như vậy không có nghĩa là
trong những hằng số văn hoá Việt cổ truyền mà nhiều yếu tố của nó được
hình thành từ buổi đầu dân tộc, không có mặt hạn chế, mặt yếu kém, phổ
sắc văn hoá chỉ có màu hồng mà không có màu xám nhạt.
Bởi lẽ, mọi sự vật trong thế giới này đều không đứng yên mà luôn vận
động, hai mặt đối lập của nó đều luôn chuyển hoá lăn nhau, mọi cái tồn
tại đều có giới hạn của nó, hụt thiếu hay quá đi đều có khả năng dẫn
tới chưa là nó hay không còn là nó nữa. Vấn đề ở chỗ phụ thuộc vào cách
nhìn nhận (biện chứng hay máy móc) và vào khả năng điều tiết của con
người (nắm được, làm theo quy luật hay chủ quan duy ý chí). Và khi nhận
định một hành vi ứng xử, một phẩm chất hay một tính cách tồn tại ở một
cộng đồng người nào đó thông qua các thành viên của mình, cần phải xem
cái đó là hiện tượng phổ biến ở số đông người hay không. Ví như, đức
tính cần cù kiên nhẫn của người Việt, tự nó không thể đẻ ra tính nhu
nhược, an phận thủ thường, cam tâm... cùng lắm tính nhẫn nại ở một khía
cạnh nào đó cũng chỉ là biểu hiện của sự kiềm chế, cố chịu nhẫn nhục để
chờ thời cơ. Trong một con người hay một bộ phận nào đó của cộng đồng
có thể có đức tính yếu hèn này, song người Việt Nam nói chung là một
dân tộc kiên cường, bất khuất. Nếu khác đi hẳn dân tộc đó đã bị đồng
hoá, diệt vong.
Lễ hội, giỗ tết là một phong tục đẹp để tưởng nhớ tổ tiên, suy tôn
những người anh hùng. Song cúng bái tràn lan, sùng bái mọi thứ... lại
là biểu hiện của mê tín dị đoan, một hoạt động mê hoặc, làm cho tâm
thức con người u tối, tốn kém thời gian và tiền của vô ích, cần bài trừ.
Cũng vậy, tính dung hoà là giá trị căn bản của văn hóa Việt Nam, nó
giúp làm giàu và mạnh cho nền văn hoá và cho dân tộc. Bản tính này cũng
dễ dẫn tới thoả hiệp, ba phải, khiến con người trong những trường hợp
cụ thể cần tỉnh táo, thận trọng, cảnh giác, phải biết đề phòng cũng như
biết điều tiết đúng mức.
Tuy nhiên, cùng cần chỉ ra những mặt yếu, mặt hạn chế do hoàn cảnh và
điều kiện khách quan hạn chế của lịch sử đem lại và để lại.
1. Nguyễn Tấn Đắc: Văn hoá và thếgiới ngày nay, in trong Phương pháp
luận về vai trò của vặn hoá trong phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1993.
2. Trường Chinh: Bài nói tại Hội nghị kỷ mềm 10 năm ngày hành lập Viện Khảo học, Tạp chí KCH, số 4, 1978Nếu như tính cộng đồng là sức mạnh của văn hoá Việt, thì ở một mặt nào
đó nó cũng mang tính hạn chế, không có sự kích thích cá nhân sáng tạo
mạnh mẽ trong sản xuất vật chất, hạn chế phát triển nhân cách, cá nhân
bị chìm đi không kích thích phát triển cá tính, hạn chế tự do và dân
chủ trong sinh hoạt cộng đồng 1.
Nền văn hoá nông nghiệp ngàn đời đã để lại dấu ấn trong tác phong sinh
hoạt lề mề không quý trọng thời gian “tháng giêng là tháng ăn chơi. .
.” còn gặp khá phổ biến hiện nay có nguyên nhân sinh thành trong môi
trường tự nhiên và hoàn cảnh kinh tế của một xã hội trồng lúa nhiệt
đới; cảnh thanh bình của đồng quê, những chu kỳ nghỉ của sản xuất,
những dịp nông nhàn mà kinh tế phụ lại ít phát triển, cách thức tiến
hành cũng không đòi hỏi khẩn trương, chuẩn xác về thời gian . . .
Phép vua thua lệ làng, là chuẩn mực ứng xử của nền dân chủ xóm làng,
một thời đã giữ an bình cho người dân. Hẳn không mấy thích hợp vời công
cuộc đổi mới ngày nay, cần phải có pháp luật, một sự quy định tối thiểu
của phẩm chất mà mọi người nhất thiết phải tuân theo 2, cần khắc phục
tâm lý cục bộ, họ ta, làng ta nảy sinh do tính tương đối dốc lập, khép
kín của các làng xã cổ truyền; cần đặt lệ làng trong phép nước, dưới
phép nước...
Trên đây là những phổ sắc văn hóa nổi rõ làm thành hệ giá trị của văn
hoá Việt cổ thời dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc. Chúng được
hội kết và toả sáng, được tô đậm hay pha loãng trong suốt quá trình vận
động, từ khi chỉ là những yếu tố manh nha, tới lúc đã định hình vững
chắc, thành truyền thống, thành cư sở của sức mạnh dân tộc, sức mạnh
quân sự, của trí tuệ và ý chí con người Việt Nam. Có thể chỉ ra những
yếu tố đang trở thành truyền thống hay bước đầu đã định hình thành
truyền thống tạo thành sức mạnh quân sự, sức mạnh giữ nước của người
Việt thời kỳ Hùng Vương - An Dương Vương. Đó là:
Truyền thống thượng võ. Cư dân Văn Lang - Âu Lạc đã thường xuyên chú ý
rèn luyện thể lực, ý chí và trí tuệ qua các môn đấu cổ truyền như: vật
cổ truyền, đua thuyền, bắn súng, nỏ, đâm trâu... được lưu ảnh lại qua
những bộ lẫy nỏ bằng đồng, kho mũi tên đồng hàng vạn chiếc, qua hình
khắc thuyền đua lướt nhẹ, người chèo khẩn trương sôi nổi trên các trống
đồng Đồi Ro, Làng Vạc. . . Cảnh người đang vung rìu xéo đồng chém vào
đầu con trâu bị buộc vào một cột được khắc hoạ trên thân trống đồng
Đông Sơn dòng núi tìm thấy ở A Chương Trại (huyện Quảng Nam, Vân Nam),
tục này còn tồn tại ở đồng bào Tây Nguyên và còn bảo lưu trong tục cướp
búa đánh đầu trâu của người dân xã Chí Tiên (huyện Thanh Ba - Phú Thọ).
Những lễ hội vũ trang mừng chiến thắng của người Đông Sơn được khắc hoạ
trên nhiều trống đồng. Rồi chuyện về nồi Hầu, một đô vật nổi tiếng, một
tướng giỏi của Vua Thục, đã giật giải nhất về thi võ. Và đẹp đẽ xiết
bao hình ảnh người dũng sĩ làng Gióng có sức khoẻ vô biên nhổ phăng
từng đám tre ngà quất xuống đầu giặc Ân... Kiếm sống và bảo vệ cuộc
sống, săn bắt thú rừng và đánh giặc trong điều kiện núi non hiểm trở,
khe vực cheo leo, cư động khó khăn... Tận dụng hoàn cảnh đó, người dân
sống ở vùng cao đã phát huy sở trường mai phục, dùng cung nỏ tấn công
bất ngờ kẻ địch.
Cuộc đụng độ và thử thách sống còn đầu tiên của người Việt với quân xâm
lược nhà Tần được thư tịch của chính người Trung Hoa ghi lại cho thấy ý
chí chiến đấu kiên cường và tài thao lược của người Việt, họ đã bỏ vào
rừng, họp nhau chọn bầu người tuấn kiệt làm thủ lĩnh, đêm đêm xuất quân
tấn công bất ngờ vào đồn giặc, thể hiện nghệ thuật lấy nhỏ thắng lớn,
tập trung sức mạnh tối đa và lợi dụng yếu tố bất ngờ để giành thắng lợi
trong một trận đánh cụ thể.
Truyền thống toàn dân đánh giặc, trẻ già, trai gái đều vũ trang, biến
công cụ ngày thường thành vũ khí chiến đấu. Truyền thống này được khắc
hoạ rõ nét, như một hiện tượng phổ biến qua tục mai táng của người Đông
Sơn: người chết không kể là người giàu sang hay nghèo khổ, già hay trẻ,
nam hay nữ đều thường được chôn theo các vũ khí tuỳ thân. Hình ảnh toàn
dân tham gia đánh giặc hay nói bằng ngôn ngữ hiện đại “chiến tranh nhân
dân” được minh hoạ bằng thành phần đội quân của Gióng từ người nông dân
cầm vồ, người kiếm cá vác cần câu, trẻ mục đồng cưỡi trâu cầm khăng. .
. Truyền thống thạo thuỷ chiến, giỏi dùng thuyền, tài bơi lội của người
Việt cũng được hun đúc từ thời Hùng Vương. Có thể nhận biết qua hình
ảnh các thuyền chiến, chở các chiến binh vũ trang, từng đoàn lướt trên
sông nước, có cội rễ từ tập quán sống của người Việt vốn là “dân quen ở
nước”, đóng khố không mặc quần, để tiện bơi lội, tay áo ngắn mà xắn lên
để tiện việc chèo thuyền. “Người Việt còn dùng thuyền trong việc săn
bắt thú rừng qua hình ảnh con chó chạy đón đầu đàn hưu và đoàn người
đứng trên thuyền giơ cao tay hò reo xua đuổi được khắc trên nhiều chiếc
rìu đồng Đông Sơn. Hoài Nam Vương Lưu An (thế kỷ II Tr.CN) còn ca ngợi
“Người Việt thạo thuỷ chiến, giỏi dùng thuyền”. Phương tiện chiến đấu
như thuyền bọc đồng, thuyền đồng của Lạc Vương và bộ vũ khí chiến đẩu
gồm nỏ tên, lao đồng với số lượng lớn và vượt trội các loại hình vũ khí
khác như giáo mác, dao, kiếm... cũng mách chỉ về sở trường đánh thuỷ
của người Việt thời Hùng.
Đó là những yếu tố nổi bật, nói lên nghệ thuật chiến đấu của người Việt cổ.
1. Đình Quang: Văn học nghệ thuật và việc xây dựng con người mới, in trong Văn hoá phát triển và bản sắc, Hà Nội, 1995.
2. Cao Xuân Phổ: Văn hoá trong phát triển. Vân đề phẩm chất cuộc sông,
in trong Phương pháp luận về vai trò của văn hoá trong phát triển, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993. Sức mạnh giữ nước của người Việt cổ còn thể hiện ở tài kết hợp giữa làm
ăn và đánh giặc và đã trở thành truyền thống, thành quy luật đấu tranh
trong dựng nước và giữ nước của dân tộc. Bộ vũ khí Đông Sơn đồ sộ, cực
kỳ phong phú và đa dạng phản ảnh cuộc sống binh đao, gian truân nhưng
hào hùng của dân tộc ở thuở xây nền văn hiến đầu tiên. Truyền thống đó
được hun đúc từ thực tiễn lịch sử, đất nước ta đã trải qua quá nhiều
binh lửa chiến tranh, thời gian chống giặc ngoại xâm và chống đô hộ
nước ngoài lên đến trên 12 thế kỷ, chiếm quá nửa thời gian lịch sử 1.
Chống xâm lược bằng đấu tranh vũ trang như vậy là quá đỗi trường kỳ và
gian lao. Song đấu tranh chống đồng hoá về văn hoá cũng không kém gian
truân, đòi hỏi nhiều tâm lực và trí tuệ, khôn khéo và mềm dẻo. Trước
khi có cuộc tiếp xúc trực tiếp và cưỡng bức với văn hoá Hán, cư dân
Đông Sơn đã có mối giao lưu rộng rãi với các tộc láng giềng gần xa. ảnh
hưởng của văn hoá Điền và thế giới đồng cỏ vào qua con đường sông Hồng,
từ thế giới Bách Việt vùng Giang Nam vào qua đường biển... Nhiều yếu tố
văn hoá ngoại, nổi lên là vũ khí kỹ thuật quân sự tiên tiến đã được
tiếp thu hay đã được Đông Sơn hoá khiến văn hoá này càng thêm phong
phú, đa dạng. Bên cạnh kiếm ngắn chuôi tượng kiểu núi Nưa, có kiếm ngắn
kiểu Thạch Trại Sơn, tìm thấy ở Thái Nguyên, ở Hà Giang và kiếm hai
lưỡi, chuôi ghép, đốc hình chỏm cầu lõm tìm thấy nhiều trên địa bàn
người Tây Âu ở Quảng Tây... cũng thấy ở Núi Đèo (Hải Phòng) với các hoa
văn trang trí độc đáo được làm bằng đồng, hay những lưỡi kiếm sắt cùng
loại Những mũi tên đồng Cổ Loa ba cạnh có trụ là sự phát triển của loại
tên đá ba cạnh đã có mặt trong các địa điểm văn hoá Phùng Nguyên và
Đồng Đậu, kết hợp với lối xẻ cánh của tên đồng của thế giới đồng cỏ Â -
Âu.
Do hạn chế của điều kiện lịch sử, nước vừa dựng, mới củng cố đã phải
đương đầu với hiểm họa ngoại xâm, nên người Việt thời Đông Sơn chưa có
dịp đẩy mạnh công cuộc hướng ngoại của mình, mà chỉ có nhiều dịp hơn để
nhanh chóng cải tiến những cái từ ngoài nhập vào. Dù sao ở đây cũng loé
lên tinh thần ham hiểu biết, có trí tiếp thu sàng lọc để bảo vệ và phát
triển văn hoá, nói lên “sức mạnh của văn hoá mở” luôn đổi mới của họ.
Đó là những yếu tố nói lên trí tuệ Việt trong đấu tranh giữ nước. Còn
nhiều yếu tố tinh thần khác góp phần tạo thành sức mạnh quân sự của
người Việt thời lập quốc Văn Lang - Âu Lạc.
Những dực tính quý báu như kiên cường, bất khuất, bền bỉ, dẻo dai đã
giúp cho người Việt có thể đánh thắng kẻ thù nham hiểm, hung ác và mạnh
hơn mình gấp nhiều lần. ý thức uống nước nhớ nguồn, sùng kính những
người anh hùng có công với nước, với dân, làm tăng thêm trách nhiệm bảo
vệ và tiếp nối sự nghiệp của các thế hệ đi trước.
Lòng khoan dung, chỉ muốn tự tồn trong thái bình, chấp nhận hy sinh để
tự tồn, có sức mạnh, biết dùng sức mạnh nhưng không say sức mạnh, không
cuồng tín sức mạnh và nhất là biết tha thứ không hiếu sát khi kẻ địch
đã quy thiện. Điều đó chỉ làm tăng thêm cái đại nghĩa của cuộc chiến
đấu mà người Việt cổ buộc phải chấp nhận vì sự tồn vong của mình.
Một trong những sức mạnh tinh thần quyết định mọi thắng lợi của công
cuộc dựng nước và giữ nước của người Việt là truyền thống đoàn kết,
thống nhất ý chí và hành động để vượt lên mọi thách đố của hoàn cảnh.
Tinh thần đoàn kết cộng đồng biểu hiện tập trung và cao nhất ở sự hoà
hợp, hợp nhất giữa các nhóm tộc Âu Việt là Lạc Việt, giữa hai bộ tộc
Tây Âu và Lạc Việt thành quốc gia Âu Lạc trong cuộc kháng chiến chống
Tần. Cột đá thề mà vua Thục dựng trên núi Nghĩa là biểu tượng cho sự
đoàn kết nhất trí, cho sự tiếp nối sự nghiệp nhà Hùng.
Tính mở, tính dung hoà của văn hoá Đông Sơn được hình thành và phát
triển trong cuộc đấu tranh gian khổ lâu dài, luôn có những thách đố đã
sản sinh ra những con người Đông Sơn tình cảm đùm bọc, hợp quần sống
chết có nhau, sướng khổ cùng nhau. Tính dung hoà này được vật chất hoá
và để lại dấu ấn trong nhiều hiện vật mà sắc tộc của chúng có thể dễ
dàng nhận ra như đã thấy ở trên . . .
Từ phổ sắc văn hoá đa dạng và độc đáo đã nổi lên những nét đậm tạo
thành những truyền thống quý báu là nền tảng sức mạnh trong suốt tiến
trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc Việt
Nam.
Hệ giá trị văn hoá này, những truyền thống văn hóa tốt đẹp này được nảy
sinh và phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ nhờ ý thức cộng đồng, tinh thần
dân tộc sớm nảy nở thấm sâu chi phối và tác động mạnh mẽ vào mọi hoạt
động của đời sống cộng đồng. Nắm vững tiến trình và những đặc điểm hình
thành ý thức dân tộc sẽ nhận chân được quá khứ dân tộc, sức mạnh dân
tộc, động viên được quá khứ tham gia vào công cuộc đổi mới hôm nay.
1. Phan Huy Lê: Về quá trình dân tộc của lịch sử Việt Nam, Hà Nội, 1990, Tr.23.
2. Quá trình hình thành ý thức dân tộc:
Ý thức dân tộc là phản ánh của tồn tại dân tộc mà tồn tại dân tộc là
một thực thể xã hội khách quan, ở đó cộng đồng tộc người có ý thức về
cùng chung một nguồn gốc, cùng chung một số phận, một vận mệnh sinh
tồn, tự nguyện cố kết lại với nhau cùng tạo ra một lãnh thổ sống chung,
sử dụng một ngôn ngữ giao tiếp chung, xây dựng một bộ máy quản lý xã
hội nhà nước chung để trước hết thực hiện chức năng điều phối những lợi
ích kinh tế chung, bảo vệ sự sống, sự bình an chung của mọi người trong
cộng đồng cũng như nhu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần chung, thể
hiện trong một nền văn hoá chung, phản ảnh tâm lý và ý thức chung của
cộng đồng.
Đó là những mặt mạnh cư bản tạo ra diện mạo dân tộc của một cộng đồng
người trong lịch sử và ý thức dân tộc cũng được hình thành, nảy nở hoàn
thiện và ảnh hưởng đến từng mặt cư bản đó của dân tộc... ý thức dân tộc
thể hiện trước hết ở ý niệm về cùng chung một nguồn gốc, có cùng dòng
máu, giống nòi, tổ tiên mà ý niệm về dòng giống được hình thành trên cư
sở ý niệm về Đực - Cái, về sự giao hoà giữa cặp đôi sinh ra con người
được nhân lên, được tiếp nối nhau sinh hoá mãi mãi.
Cư dân Đông Sơn là kết quả của sự hoà huyết giữa hai nhóm loại hình
nhân chủng Inđônêdiêng và Nam Á với xu thế vàng hoá ngày càng tăng thể
hiện ra ở các nhóm tộc khác nhau mà sử sách và truyền thống dân gian
gọi là các (15) bộ lạc thời Hùng Vương sau này, cùng một số thành phần
tộc người khác tập hợp thành hai nhóm cộng đồng cư dân chính là Âu Việt
và Lạc Việt để đến thời vua Thục được hợp nhất lại thành cư dân Âu Lạc.
Trong kho tàng văn học dân gian phong phú của nhiều dân tộc nước ta có
nhiều truyền thuyết nói về nguồn gốc các dân tộc. Truyện Quả bầu mẹ của
người Xá, truyện Đẻ đất, đẻ nước của người Mường... đều nói về nguồn
gốc chung của mình và đều coi nhau là anh em một nhà, mặc dù sự thế
xoay vần, vạn vật đổi thay, hoàn cảnh sống cụ thể khác dần đi. Cơ sở
nảy sinh ý niệm chung về nòi giống đó là do các dân tộc nước ta đã cùng
chung sống lâu đời trong một môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn
giống nhau, gặp cùng một cảnh ngộ, có chung một số phận... Những cái đó
đã làm tăng tính cộng đồng, tình thân ái, và nghĩa đồng bào được coi là
chuẩn mực cao nhất trong quan hệ ứng xử của họ. ở đây, một lần nữa gặp
lại lối ứng xử rất Việt, rất phương Đông khi mà quan hệ xã hội được xem
là sự mở rộng của quan hệ gia đình.
Và đẹp biết bao tình nghĩa đó được khái quát qua hình ảnh được thể hiện thành dân ca:
“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Dẫu rằng khác giông nhưng chung một giàn”.
rồi:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước thì thương nhau cùng”...
Đó là cơ sở sớm nở tình yêu nước nồng nàn của nhân dân ta.
Ý niệm dân tộc được thể hiện ở ý niệm về một lãnh thổ chung được nảy
sinh trên cư sở ý niệm về địa vực cư trú vùng kiếm sống chung (ý niệm
về vùng kiếm ăn riêng này là ý niệm bản năng tự nhiên đã có ở nhiều
loài động vật) được nhận thức nâng cao. Bởi lẽ, ý thức về lãnh thổ
không đơn thuần là ý niệm về không gian cư trú và kiếm sống thô phác mà
lãnh thổ ở đây được hiểu là vùng đất đã có sự đổ công sức mồ hôi và cả
xương máu để tạo ra, cải biến và làm phong phú nó, biến nó thành trường
sinh thái tự nhiên - xã hội, thành không gian văn hoá.
Cuộc chinh phục các đồng bằng sông Hồng, sông Mã, sông Cả của các nhóm
cư dân thời Phùng Nguyên - Đông Sơn đầy gian lao vất vả, hiểm nguy, kéo
dài nhiều thế kỷ đã hun đúc ở họ ý thức về lãnh thổ, về miền đất
thiêng, ở đó con người sống, lao động xây dựng mềm vui và hạnh phúc. Ý
thức về lãnh thổ và bảo vệ lãnh thổ cũng là mặt quan trọng thể hiện
lòng yêu nước sớm nở của nhân dân ta. Ngôn ngữ là một đặc điểm quan
trọng của tộc người. Tuy nhiên, ngôn ngữ dân tộc hay ngôn ngữ quốc gia
lại được hình thành trong quá trình hình thành quốc gia; mà quốc gia
lại thường mang tính đa tộc. Quốc gia Văn Lang, Âu Lạc được xác định là
quốc gia đa tộc, hiện chưa rõ cư dân Âu Lạc nói ngôn ngữ cụ thê nào? Họ
có tiếng nói dùng để giao tiếp chung hay không? Ngôn ngữ học mới chỉ
cho biết, người Việt cổ hay cư dân Đông Sơn, tức khối cư dân cư bản của
nước Âu Lạc, nói một ngôn ngữ gọi là ngôn ngữ Việt-Mường, ngữ hệ
Môn-Khơme (Nam Á) và Tày-thái, có sự dung hợp nhiều yếu tố ngôn ngữ
khác.
Như trên đã cho thấy, ý thức cộng đồng và ý thức bảo vệ cộng đồng đã
nảy nở sớm trong những hoàn cảnh đặc thù của đấu tranh khắc phục tự
nhiên và đấu tranh xã hội, là nhân tố quan trọng thúc đẩy hình thành
sớm quốc gia, dân tộc. Và Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc đã ra đời thể hiện
ý thức dân tộc đã phát triển ở mức độ cao, đồng thời ý thức bảo vệ độc
lập dân tộc và chủ quyền quốc gia được xem như là ý thức thường trực và
nghĩa vụ thiêng liêng của mọi người. Điều này có thể tìm thấy trong Đại
Việt sử lược - tác phẩm sử học xưa nhất của nước ta - đoạn nói về quan
hệ của Văn Lang với nước Việt của Câu Tiễn (505-465 Tr.CN) cho biết
chính Câu Tiễn đã có lần sai sứ giả xuống dụ vua Hùng thần phục, nhưng
bị vua Hùng cự tuyệt. Thái độ kiên quyết chối bỏ ách thống trị ràng
buộc của ngoại bang, không chấp nhận bộ máy cai trị áp đặt từ ngoài,
không cam chịu để lãnh thổ bị sáp nhập . . . được thể hiện trong cuộc
kháng chiến chống Tần của người Tây Âu, Lạc Việt, rồi chống Triệu của
nhân dân âu Lạc và được tiếp nối ở những thế hệ người Việt tiếp theo mà
cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng với lời tuyên thệ long trọng và đanh thép :
Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng. . .
Nói lên ý thức dân tộc đã hình thành vững chắc từ rất sớm, coi độc lập, tự chủ là phẩm giá cao quý nhất của người Việt Nam.
Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc ra đời đáp ứng những nhu cầu của xã hội
trong việc tổ chức xây dựng những công trình công cộng như đắp đê, đào
kênh, vì những lợi ích kinh tế.
Lúc này quan hệ trao đổi kinh tế, buôn bán đã được triển khai trong
phạm vi cả nước. Những lò thủ công chuyên đã cung cấp sản phẩm rộng rãi
cho nhiều miền và cùng nhập nguyên liệu từ nhiều nơi trong nước về. Một
bằng chứng hiển nhiên nói lên quan hệ thị trường đã mở rộng ra phạm vi
cả nước là sự có mặt của những lưỡi dao găm, những mũi giáo đồng gãy
hỏng thuộc loại hình văn hoá Đông Sơn vùng sông Mã, mảnh trống đồng
thuộc dòng trống Đông Sơn vùng cao bên cạnh hàng trăm đồ đồng hỏng nát
do sử dụng hay đúc lỗi và nhiều đồ đồng nguyên mới đúc chưa sử dụng hay
đã sử dụng, cùng nhiều mảnh đồng, thỏi đồng được chứa trong chiếc trống
đồng Đông Sơn đẹp (trống Cổ Loa) phát hiện ở địa điểm Mả Tre trong khu
vực thành Cổ Loa được chôn dấu trong lòng đất có lẽ do một biến động xã
hội to lớn nào đó.
Đó là sản phẩm, nguyên vật liệu của một lò thủ công đúc đồng thuộc
trung tâm đúc đồng lớn của kinh đô Âu Lạc. Việc thu gom những đồ đồng
hỏng nát để đúc lại, một mặt nói lên truyền thống tiết kiệm của người
Đông Sơn, mặt khác chứng tỏ quan hệ thương mại đã có phạm vi hoạt động
tầm quốc gia.
Quan hệ trao đổi rộng rãi còn thể hiện ở sự thống nhất những đơn vị đo
lường chung qua bằng chứng về sự phát hiện ở nhiều nơi: Đào Thịnh (Yên
Bái), Làng Cả (Phú Thọ), Đông Sơn (Thanh Hoá) những quả cân bằng đồng
có hình dáng kích cỡ giống nhau có niên đại thời Đông Sơn.
Những quan hệ kinh tế vừa nêu trên càng củng cố thêm ý thức về cộng
động dân tộc đã nảy nở trước đó. Ý thức dân tộc đang hình thành có xu
hướng đi vào định hình, ổn định được thể hiện tập trung trong bản sắc
dân tộc của văn hoá.
Chỉ xét riêng trên bình diện phong tục ở khía cạnh hình thức bên ngoài
của con người là linh vực mà tổ tiên ta thời dựng nước đầu tiên chú
trọng để phân biệt mình với người. Cái răng, cái tóc là góc con người.
Răng đen, tóc dài là Ta, người Việt cổ, để khác với răng trắng, răng
bịt vàng, tóc tết đuôi sam là người khác tộc, khác ta. Răng đen thì đã
thấy trong nhiều ngôi mộ Đông Sơn như ở Châu Can, Thiệu Dương...
(Nguyễn Lân Cường, 1996), tóc dài xoã sau lưng thấy trên các bức tượng
của thạp Đào Thịnh, nhiều nhất là ở hình người nhảy múa khắc trên các
trống đồng Đông Sơn, tóc dài cuốn sau gáy như ở tượng người cõng nhau
thổi khèn tìm được ở khu mộ Đông Sơn. . .
Tinh hoa dân tộc, ý thức dân tộc mạnh mẽ nhất được vật thể hoá qua hình
tượng trống đồng, trên đó những mặt cư bản của đời sống người Việt cổ
được thể hiện: lao động, chiến đấu, yêu đương, giải trí, đua tài, lễ
hội, vui chơi. . . và bao trùm lên tất cả của ngôn ngữ trống đồng là
khát vọng một cuộc sống tự do, thanh bình. Đó là biểu hiện lòng tự tôn
của một cộng đồng người đã tự ý thức về mình, về sức mạnh và khả năng
vươn lên làm chủ cuộc đời mình. Kẻ địch đã nhận ra vật cản đáng ngại
trên bước đường bành trướng bá chủ thiên hạ của chúng và rắp tâm tiêu
diệt bằng cách ra sức thu vét trống đồng của người Việt đem phá bỏ đúc
thành tượng ngựa như Mã Viện đã làm sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa của
nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng.
Với ý nghĩa là biểu trưng của tâm hồn và ý chí người Việt, trống đồng
được cất dấu, được bảo vệ, được lưu truyền ngàn đời qua nhiều thế hệ
mãi mãi về sau và để tỏ thái độ phản kháng, người Việt đã nấu chảy tiền
của kẻ thống trị để đúc trống mới, to đẹp hơn. Nền văn hoá trống đồng
nổi lên đặc sắc như một nền văn hoá của một dân tộc mạnh, có sức sống
mãnh liệt được nuôi dưỡng bằng lòng yêu nước thiết tha và ý thức tự hào
dân tộc sâu sắc.
Chúng ta đã dõi theo những hoạt động, những thành tựu, những chiến công
của nhân dân ta trong thời kỳ Hùng Vương - An Dương Vương, thời kỳ dựng
nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc. Những dấu vết lịch sử còn để lại
trong lòng đất đọng lại trong tâm khảm người dân, lưu giữ lại trong các
sinh hoạt văn hoá truyền thống, ghi chép lại trong sách sử cho thấy,
đây là một thời kỳ hết sức quan trọng trong lịch sử đất nước và dân
tộc, thời kỳ mà cộng đồng người chuyển mình thành quốc gia, dân tộc,
định hình những tính cách, những phẩm chất cư bản nhất của dân tộc.
Những phẩm chất, những tính cách đó được hình thành từ những giá trị,
những đặc điểm của nền văn minh sông Hồng, nền văn minh được chuẩn bị
và được tạo tiền đề ra đời qua những thành tựu lao động và đấu tranh
đầy gian khổ và sáng tạo của tổ tiên chúng ta sinh sống ở đây, tại chỗ,
ngay trên mảnh đất này từ hàng chục vạn năm về trước, từ khi những lớp
người nguyên thuỷ đầu tiên kiếm sống và bảo vệ cuộc sống mới chỉ bằng
những chiếc rìu tay bằng đá, những cây gậy vót nhọn đầu thô sơ cho đến
khi những thế hệ tiếp theo biết mài đá làm cho công cụ và vũ khí sắc
bén hơn, biết trồng trọt chăn nuôi để tự làm ra sản phẩm nuôi sống mình.
Đến thời điểm cách ngày nay khoảng 4000 năm, lúc con người mở mang nông
nghiệp ở vùng đồng bằng và biết đúc đồng, cải tiến công cụ và vũ khí
thì bước chuẩn bị đã được hoàn thành, đưa đất nước và dân tộc tiến vào
văn minh, xây dựng văn hiến, trên cư sở nền kinh tế nông nghiệp trồng
lúa nước, với kết cấu xã hội nhà - làng - nước. Ở đó, bộ máy quản lý và
điều hành xã hội - tức nhà nước - đảm đương những chức năng chủ yếu là
tổ chức các công trình công cộng trị thuỷ để phát triển sản xuất và đấu
tranh chống ngoại xâm, bảo vệ và phát triển đất nước.
Công cuộc lao động và đấu tranh đầy gian lao và sáng tạo đó đã hun đúc
nên những tính cách và phẩm giá cao quý của người Việt Nam: cần cù, bền
bỉ, dũng cảm, kiên quyết, bao dung, tình nghĩa, vị tha, khoan hoà,
thông minh, hiếu học... là cơ sở sức mạnh tinh thần cùng với những
thành tựu trong lao động, xây dựng cuộc sống và đấu tranh bảo vệ cộng
đồng và quốc gia tạo thành một nền tảng, một giá đỡ và bệ phóng vững
chắc cho sự cất cánh của dân tộc mà ở đó nảy nở những tài hoa, những
trí tuệ, tài ứng xử trong dựng nước và giữ nước.
|