| Một thời Quảng Trị_Chương II |
|
|
|
| Written by lichsuvn.info | |
| Friday, 05 December 2008 | |
|
Chương 2
Bắc Quảng Trị trong cuộc tiến công năm 1968 Tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị ra nghị quyết lịch sử: Chuyển cuộc
chiến tranh cách mạng miền Nam của ta sang một thời kỳ mới - thời kỳ
giành thắng lợi quyết định. Bộ Chính trị nhận định: Do những thất bại
có tính chất chiến lược của Mỹ ở miền Nam và do những thắng lợi to lớn
của ta trong năm 1967, địch khó có khả năng mở cuộc phản công lần thứ
ba. Xu thế của tình hình trong cả năm 1968 là chúng sẽ càng chuyển vào
phòng ngư một cách bị động hơn... Về phía ta, Bộ Chính trị cho rằng:
Chúng ta đã thắng địch cả về chiến lược, chiến thuật, lực lượng quân sự
và chính trị của ta ở miền Nam đã lớn mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào, ta
đang nắm quyền chủ động trên khắp các chiến trường. . . Bộ Chính trị
kết luận: Diễn biến cơ bản của tình hình là ta đang ở thế thắng, thế
chủ động và thuận lợi, địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 14 (tháng 1 năm 1968), quán
triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị (tháng 12 năm 1967) và hạ quyết tâm:
Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách trong thời kỳ mới là động viên những nỗ
lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta ở cả hai miền, đưa
cuộc chiến tranh cách mạng lên bước phát triển cao nhất, dung phương
pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định. Bộ Chính trị dự kiến về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy có thể phát triển theo ba khả năng: Khả năng thứ nhất, ta thắng lớn, địch phải chịu thua và kết thúc chiến tranh. Khả năng thứ hai, ta thắng ở nhiều nơi, nhưng địch củng cố được lực lượng và chống cự lại. Khả năng thứ ba, Mỹ sẽ tăng thêm nhiều lực lượng mở rộng chiến tranh ra cả miền Bắc, sang Lào và Cam-pu-chia. Nhưng dù tình hình thế nào, ta cũng kiên quyết liên tiếp tiến công địch cho đến khi chúng bị thất bại hoàn toàn. Tại chiến trường Quảng Trị, ta chủ trương mở chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn ở Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị, xem đó là một trong những mặt trận của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968. Đây là đòn chính của bộ đội chủ lực nhằm thu hút quân cơ động Mỹ, tiêu diệt một bộ phận, vây hãm và giam chân tiêu hao chúng, tạo thế cho các chiến trường khác. Trên tuyến Đường số 9, từ Cửa Việt đến Lao Bảo, quân địch có 45 nghìn tên, trong đó có 28 nghìn quân Mỹ, gồm ba trung đoàn lính thủy đánh bộ tăng cường, chín tiểu đoàn pháo binh, ba tiểu đoàn và một đại đội cơ giới . . . được tổ chức thành một tuyến phòng ngư ngăn chặn quân ta từ miền Bắc tiến công hoặc thâm nhập qua giới tuyến quân sự tạm thời. Lực lượng tác chiến chiến dịch của ta bao gồm lực lượng thuộc Mặt trận Đường số 9 - Bắc Quảng Trị đang hoạt động tại chỗ và lực lượng mới được Bộ điều vào tham gia chiến dịch gồm bốn sư đoàn và một trung đoàn bộ binh, một đoàn và năm đội đặc công, năm trung đoàn pháo binh, ba trung đoàn pháo cao xạ, một trung đoàn và hai tiểu đoàn công binh, bốn đại đội xe tăng, một đại đội súng phun lửa cùng các lực lượng bảo đảm. Mở đầu chiến dịch Đường số 9 - Khe Sánh, đêm 20 tháng 1 năm 1968 (10 ngày trước khi bắt đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân) quân ta nổ súng tiến công quận lỵ Hướng Hóa, tiêu diệt phần lớn quân địch đồn trú. Ngày 24 tháng 1 năm 1968, quân ta tiến công Hước San, 400 quân nguy Lào chạy thoát về Làng Vây. Ngày 31 tháng 1 năm 1968, quân ta tiến công chi khu Cam Lộ. Từ ngày 20 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1968 quân ta tiến công tiêu diệt một số cứ điểm phía tây, mở thông Đường số 9, đưa lực lượng vào vây hãm Tà Cơn và tiêu diệt quân địch ở cứ điểm Làng Vây - một cứ điểm mạnh của địch. Ngày 8 tháng 2 năm 1968, quân ta tổ chức tiến công vây hãm Tà Cơn. Lúc đầu quân ta dùng pháo binh và các loại hỏa lực khống chế các căn cứ, nhưng máy bay lên thẳng địch vẫn hạ cánh và máy bay vận tải địch vẫn thả dù tiếp tế được. Trước tình hình đó, ta chủ trương chuyển sang xây dựng trận địa sát căn cứ, thực hiện chiến thuật vây lấn. Mũi vây lấn phía tây sân bay Tà Cơn đã xuyên vào giữa hàng rào, cách chiến hào địch khoảng 50 mét. Ta đưa lực lượng hỏa lực nhẹ và súng bắn tỉa vào sát căn cứ địch, uy hiếp mạnh tinh thần và tâm lý binh sĩ Mỹ. Lúc này, quân địch đang bị thu hút vào việc giải toả thành phố Huế và các đô thị khác nên viện binh địch vẫn chưa ra Đường số 9. Trước yêu cầu đòi hỏi cấp thiết của chiến trường, theo sự chỉ đạo của Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 quyết định thành lập Trung đoàn 27 gồm ba tiểu đoàn: Tiểu đoàn 9, Tiểu đoàn 43, Tiểu đoàn 44, ba cơ quan trung đoàn và các đơn vị trực thuộc Đồng chí Hà Tiềm giữ chức Trung đoàn trưởng, đồng chí Đoàn Sáu giữ chức Chính ủy, đồng chí Trần Thất giữ chức Trung đoàn phó, đồng chí Ngô Chí Bình giữ chức Phó Chính ủy, đồng chí Lê Sinh giữ chức Tham mưu trưởng và đồng chí Võ Xuân Tần giữ chức Chủ nhiệm chính trị trung đoàn. Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 271 của Quân khu 4 được điều về Trung đoàn 27 lấy phiên hiệu Tiểu đoàn 1. Tiểu đoàn 43 thuộc tỉnh đội Nghệ An thành lập năm 1961, được điều về Trung đoàn 27 lấy phiên hiệu Tiểu đoàn 2. Tiểu đoàn 44, tỉnh đội Hà tính thành lập năm 1964, được điều vẻ rung đoàn 27 lấy phiên hiệu Tiểu đoàn 3. Ba cơ quan trung đoàn và các đơn vị trực thuộc được rút từ cơ quan và đơn vị chủ yếu của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Ngày 8 tháng 2 năm 1968, Đảng ủy Trung đoàn 27 họp phiên đầu tiên tại xã Nam Anh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An dưới sự chủ trì của Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Đoàn Sáu. Tham dự buổi họp đầu tiên của Đảng ủy Trung đoàn có đồng chí Lê Quang Hòa - Chính ủy Quân khu 4 thay mặt Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo hội nghị. Trong không khí hào hứng phấn khởi, các đồng chí trong Đảng ủy sôi nổi thảo luận những chủ trương và biện pháp lãnh đạo xây dựng Trung đoàn 27 thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao: Biết bao nhiêu việc cấp thiết đặt ra, việc nào cũng có ý nghĩa quan trọng riêng của nó nên việc thực hiện khâu then chốt nhất để tập trung xây dựng trung đoàn lúc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thời gian lên đường vào chiến trường Quảng Trị chiến đấu đang thôi thúc từng ngày, do đó Đảng ủy Trung đoàn xác định: Để trung đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu, trước hết phải xây dựng và củng cố vững chắc hệ thống tổ chức Đảng, đặc biệt là các chi bộ ở đại đội, đồng thời giải quyết đúng đắn vấn đề sắp xếp cán bộ, mạnh dạn đề bạt và bổ nhiệm cán bộ trẻ đã qua thử thách chiến đấu Điều chỉnh một số cán bộ giữa các đại đội trong tiểu đoàn và giữa các tiểu đoàn, đơn vị và cơ quan, tạo sự đồng đều giữa các đơn vị. Chủ trương này được các đồng chí trong Đảng ủy Trung đoàn nhất trí cao. Cũng từ đó, ngày 8 tháng 2 trở thành ngày truyền thống của Trung đoàn Đỏ Nghệ An - Trung đoàn 27. Ngay sau khi thành lập được ít ngày, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 nhận lệnh chuyển đến huyện Nam Đàn và Hưng Nguyên (Nghệ An) chờ lệnh vượt sông Lam. Tiểu đoàn 3 cũng được lệnh hành quân gấp lên phía tây Hà Tĩnh trên trục đường 15. Các đơn vị trực thuộc lần lượt tách khỏi đội hình Quân khu về vị trí tập kết chuẩn bị hành quân vào Bắc Quảng Trị. Điểm tập trung của ngày thành lập trung đoàn cũng là điểm chuẩn bị xuất phát hành quân chiến đấu Do điều kiện không cho phép, cả trung đoàn không tập trung làm lễ xuất quân. Tuy vậy, trong lòng mỗi cán bộ, chiến sĩ đều dấy lên niềm vinh dự, tự hào được đứng trong đội hình Trung đoàn Đỏ, ra đi từ quê Bác kính yêu. Bộ Tư lệnh Quân khu 4 đã kịp thời chỉ thị cho các huyện đội tiếp tục bổ sung quân số cho Trung đoàn 27 trên dọc đường hành quân. Các cơ quan trong Quân khu đều cử những cán bộ, chiến sĩ nhiều kinh nghiệm ưu tiên bổ sung cho Trung đoàn 27. Cán bộ về nhận nhiệm vụ ngay trên đường hành quân. Cấp trên gặp gỡ giao nhiệm vụ cho cấp dưới cũng tranh thủ lúc nghỉ giải lao sau mỗi chặng hành quân. Ngày 20 tháng 2 năm 1968, Tiểu đoàn 3 đã có mặt ở xã Vĩnh Chấp thuộc khu vực Vĩnh Linh nằm trên trục quốc lộ số 1 cách sông Bến Hải 15 ki-lô-mét. Tuy bị máy bay và pháo hạm Mỹ đánh phá ác liệt hòng hủy diệt vùng đất giáp ranh này, nhưng nhân dân Vinh Chấp vẫn ngày đêm kiên cường bám trụ xây dựng và bảo vệ quê hương. Vinh Chấp đã trở thành pháo đài bất khả xâm phạm trong những năm dài đánh Mỹ. Vĩnh Chấp là hậu cứ, là vị trí dừng chân cuối cùng để các đơn vị trong trung đoàn làm công tác chuẩn bị trước khi vượt sông Bến Hải vào chiến trường Bắc Quảng Trị chiến đấu theo chỉ thị của Mặt trận B5. Ngày 26 tháng 2 năm 1968, cả Trung đoàn 27 chúng tôi tổ chức vượt sông Bến Hải. Đội hình chiến đấu của trung đoàn kéo dài từ cao điểm 31 đến căn cứ Cồn Tiên. Theo nhiệm vụ trung đoàn giao thì các tiểu đoàn phải độc lập tác chiến trên từng khu vực. Đêm vượt sông Bến Hải vào chiến trường Quảng Trị, đại bộ phận trung đoàn vượt sông ở thượng nguồn. Riêng Tiểu đoàn 3 của tôi vượt sông Bến Hải bằng những chiếc đò của du kích xã Vĩnh Giang và bằng tất cả các phương tiện có thể: mảng chuối, nylon làm phao và bằng cả dây song giăng qua sông. Trời mưa dầm dề, máy bay địch vẫn quần lượn thả pháo sáng, ném bom những khu vực chúng nghi có bến vượt của quân ta. Pháo địch từ căn cứ Dốc Miếu, Quán Ngang, Ái Tử, Đông Hà. . . bắn dọc bờ sông ngăn chặn quân ta vượt sông. Quân Mỹ và lính nguy đã phát hiện ra bến sông này, nhưng chúng vẫn không tài nào ngăn nổi những chuyến đò đưa bộ đội qua sông. Máy bay Mỹ thả bom từ trường, bom nổ chậm, nhưng với những chiếc xuồng cao su của các đơn vị công binh Mặt trận B5, những chiếc thuyền nan và những mảng chuối của bộ đội và dân quân xã Vĩnh Giang, Vĩnh Trường chúng tôi vẫn luồn lách vượt qua sông Bến Hải. Người chiến sĩ hy sinh đầu tiên của Trung đoàn 27 là Dương Văn Dũng - Tiểu đội phó - Tiểu đoàn 2, quê Lục Tây, Kỳ Văn, Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Anh bị bom tọa độ, hy sinh ngày 27 tháng 2 năm 1968. Anh được an táng tại xã Vĩnh Hiền, Vĩnh Linh. Tiểu đoàn 3 sau khi vượt sông Bến Hải đã bí mật luồn sâu vào khu vực Lâm Xuân, Hoàng Hà Thượng, Tây Giáp ở đông nam huyện Gio Linh. Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 bám theo trục đường 76 Gia Bình, Gio An. Qua hai đêm hành quân, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 đều chạm phải thám báo Mỹ. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Nguyễn Xuân Hùng trao đổi với Chính trị viên Trần Văn Châu: - Thời cơ đánh địch đã đến, chúng ta tổ chức cho tiểu đoàn chiến đấu càng sớm càng tốt, vừa đánh địch vừa đưa dần đội hình vào căn cứ Cồn Tiên. Tiểu đoàn trưởng Hùng chỉ vào tấm bản đồ, nói tiếp: Ta đưa bộ đội bí mật dừng chân ở làng Trung Sơn. Cán bộ tiểu đoàn, đại đội cùng đi trinh sát nắm địch. Theo trên cho biết, bọn thám báo Mỹ thường ở làng Xuân Hải đi sục sạo xuống làng Gia Bình và làng Tân Thành. Do vậy, ý định của tôi là chọn làng Gia Bình làm trận địa phục kích. Chính trị viên Trần Văn Châu bổ sung thêm: - Tôi nhất trí ý kiến của Tiểu đoàn trưởng chọn Gia Bình làm trận địa phục kích. Nhưng yêu cầu đặt ra cho đơn vị là phải hết sức giữ bí mật, bất ngờ, giấu kín lực lượng, tuyệt đối không để cho địch biết đơn vị mới vào tham gia chiến đấu. Làng Gia Bình thuộc xã Gio An nằm kề trục đường đất từ Cồn Tiên đi Xuân Hải, phía bắc giáp Trung Sơn, phía nam giáp Linh Hải. Phương án tổ chức trận địa phục kích được nhanh chóng triển khai. Đại đội 1, Tiểu đoàn 2 đảm nhiệm việc tổ chức lực lượng bám sát trục đường từ làng Gia Bình đi Xuân Hải, Trung Sơn. Theo phương án chiến đấu, địch có thể từ Dốc Sỏi sang hoặc từ cao điểm 39 xuống. Nếu đúng, cứ để cho bọn thám báo Mỹ lọt hẳn vào trận địa phục kích của ta lúc đó mới nổ súng chặn đầu, khóa đuôi rồi đồng loạt tiến công tiêu diệt chúng. Đêm 2 tháng 3 năm 1968, các tổ phục kích của ta triển khai xong, bí mật đào công sự chiến đấu Pháo địch ở căn cứ Dốc Sỏi vẫn bắn cầm canh từ làng Gia Bình đến làng Xuân Hải. Trận địa pháo của địch ở Dốc Miếu nã từng loạt ra bờ sông Bến Hải. Chiến sĩ ta vẫn kiên nhẫn hoàn thiện công sự chiến đấu, rồi bí mật nguy trang, lặng lẽ chờ đợi. Trời sáng dần, pháo ở các căn cứ địch bắn ra phía bắc càng dày hơn. Cán bộ chỉ huy tranh thủ đi kiểm tra lại trận địa chiến đấu. Đài quan sát đặt ở cây đa làng Gia Bình liên tục thông báo tình hình bằng các tín hiệu đã được quy định cho chỉ huy tiểu đoàn. Mọi động thái của địch vẫn như thường lệ, chứng tỏ chúng vẫn chưa phát hiện ra lực lượng của ta có mặt ở khu vực này. Đúng như dự kiến của ta, trời vừa sáng bọn thám báo Mỹ bắt, đầu đi lùng sục, khoảng một trung đội. Chúng chia làm ba tốp theo trục đường mòn vào làng Gia Bình. Chiến sĩ ta nhìn rõ từng tên lính Mỹ mặc áo rằn ri trên lưng đeo chiếc ba lô to sụ súng lăm lăm trong tay lặng lẽ hành quân qua trước mặt. Khi quân địch lọt hết vào trận địa phục kích, tổ chặn đầu nổ súng. Bằng những loạt súng AK đanh gọn, ta đã diệt ngay tốp địch đi đầu Bị đòn bất ngờ, lính Mỹ hốt hoảng lùi lại, bắn loạn xạ. Lúc này Đại đội 1 đồng loạt bắn súng AK, trung liên, ném lựu đạn vào đội hình quân Mỹ. Lính Mỹ chui vào các gò đất, gốc cây chống trả. Đại đội trưởng ra lệnh cho bộ đội đánh nhanh, không cho địch tháo chạy và gọi pháo binh bắn vào trận địa. Bọn thám báo Mỹ bị ghìm lại, không ngóc đầu lên được. Bộ đội ta lợi dụng địa hình bám sát, dùng súng AK điểm xạ ngắn tiêu diệt chúng. Một số tên sống sót, liều mạng vứt súng, quẳng ba lô chạy tháo thân, các tổ chiến đấu của ta truy sát tiêu diệt. Chỉ sau 30 phút chiến đấu, trung đội thám báo Mỹ đã bị tiêu diệt. Đơn vị rút vào làng Gia Bình để củng cố, chuẩn bị cho những trận đánh tiếp theo. Về phía ta, trong trận chiến đấu đầu tiên này, có bốn đồng chí đã anh dũng hy sinh, đó là Tiểu đội trưởng Lê Viết Thuật, quê Liên Minh, Diễn Nghĩa, Diễn Châu, Nghệ An; chiến sĩ Hồ Xuân Vinh, quê Quỳnh Yên, Quỳnh Lưu, Nghệ An; chiến sĩ Lê Minh Ngọc, quê Bản Môn, Thạch Giám, Tương Dương, Nghệ An; chiến sĩ Nguyễn Văn Linh, quê Phú Linh, Diễn Tân, Diễn Châu, Nghệ An. Thi hài của các anh được đơn vị chuyển về xã Vĩnh Trường, Vĩnh Linh làm lễ truy điệu và an táng. Ngày 4 tháng 3 năm 1968, tại làng Gia Bình được tin một đại đội lính Mỹ nống ra nhằm bảo vệ vòng ngoài cho căn cứ Cồn Tiên và Dốc Miếu, Tiểu đoàn 2 dùng một đại đội tăng cường chặn đánh đại đội Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên. Trận thắng ngày 4 tháng 3 của Đại đội 1 Tiểu đoàn 2 làm cho cán bộ, chiến sĩ trung đoàn phấn chấn hẳn lên. Ban chỉ huy Tiểu đoàn 2 hạ quyết tâm thừa thắng xông tới, kiên quyết không cho địch đánh chiếm bàn đạp, luôn giữ yếu tố chủ động, bí mật, bất ngờ. Về phía địch, sau khi chạm trán với ta ở Gia Bình, lữ đoàn kỳ binh bay số 1 vừa được tăng cường ra hướng này cay cú dồn quân ra phía đông bắc Cồn Tiên. Nắm được ý định của địch, Ban chỉ huy Trung đoàn 27 chỉ thị ngay cho Tiểu đoàn 2 nhanh chóng triển khai lực lượng đánh quân giải tỏa Cồn Tiên, không cho chúng chiếm con đường từ An Nha đi Võ Xá, cố gắng cắt đứt trục đường từ Cồn Tiên qua Long Sơ sang Dốc Miếu. Kết hợp với đơn vị bạn thực hiện vây ép Cồn Tiên từ ba phía theo kế hoạch của Bộ chỉ huy Mặt trận B5. Địch cho rằng ta đánh xong thường rút ra ngoài để củng cố nên chúng tiếp tục cho quân nống ra làng Gia Bình. Trong khi đó, Tiểu đoàn 2 sau khi diệt trung đội thám báo Mỹ đã được lệnh trụ lại Gia Bình tăng cường lực lượng sẵn sàng đánh địch. Một đại đội lính Mỹ thuộc sư đoàn kỵ binh bay số 1 hành quân đến Gia Bình. Chúng triển khai đào công sự, dựng lều bạt trong vườn cây đã bị bom pháo làm gãy đổ, xơ xác. Tiểu đoàn 2 lệnh cho Đại đội 2 và Đại đội 3 đang ở vị trí tập kết (làng Trung Sơn) xuất kích sang phối hợp với Đại đội 1 chiến đấu Khi trinh sát xác định đúng vị trí của lính Mỹ, Tiểu đoàn trưởng phát lệnh tiến công. Cơn mưa đêm vừa tạnh để lại nhiều vũng nước, quanh miệng hố bom, hố pháo, bùn đất nhão ra dính chặt vào dép cao su làm cho anh em vận động rất vất vả. Phát hiện ra hướng tiến công của ta, lính Mỹ bắn như vãi đạn. Trung đội trưởng Trung đội 1, Đại đội 2, Tiểu đoàn 2 Lê Ngọc Thu, quê Tiên Sơn, Thanh Hưng, Thanh Chương, Nghệ An dẫn đầu trong đội tiến lên. Được khẩu đại liên của đại đội bắn chi viện, trung đội của Thu vừa chi viện cho nhau bằng những loạt AK điểm xạ ngắn, vừa nhằm vào những tên lính Mỹ cao to mà diệt. Bị ta đánh mạnh, chia cắt, chúng co cụm từng tổ nhỏ chống trả. Mải tiến công Lê Ngọc Thu không để ý đến một tên Mỹ bị thương, cách anh cự ly rất gần. Tên Mỹ giơ súng bắn, anh ngã xuống. Các chiến sĩ Trung đội 1 vô cùng thương tiếc người chỉ huy của mình đã xông lên, dồn căm thù vào những đường đạn diệt hết tên Mỹ này đến tên Mỹ khác. Ở một hướng khác, Trung đội trưởng Phan Sỹ Công, quê ở Thái Nguyên, Tràng Sơn, Đô Lương, Nghệ An cũng dẫn đầu trung đội tiến công một cụm lính Mỹ. Sau khi đã diệt được ba tên, Công dẫn trung đội vượt qua khu bãi bom trống. Kể từ lúc xuất kích, Trung đội trưởng Công chưa gặp tổ chiến đấu của Cao Như Thiêm (quê anh ở Tùng Lâm, Diễn Tháp, Diễn Châu, Nghệ An). Công biết tổ của Thiêm không phải bị lạc mà có lẽ đang tiến sâu về phía địch, bởi lúc mới nổ súng anh em còn nhìn thấy Thiêm cho tổ nhanh chóng vượt qua bờ ruộng để diệt tốp địch đang cụm lại bắn tạt sườn sang phía Trung đội 2. Trung đội trưởng- Công vừa chỉ huy chiến đấu vừa quan sát dò tìm tổ chiến đấu của Thiêm. Anh linh cảm tổ của Thiêm đang bị lính Mỹ bao vây. Đúng như vậy, cuộc chiến đấu không cân sức giữa tổ ba người của Cao Như Thiêm với một trung đội Mỹ diễn ra quyết liệt. Hai chiến sĩ là Nguyễn Văn Toại, quê Tiền Phong, Lam Sơn, Đô Lương, Nghệ An và chiến sĩ Nguyễn Văn Đồng, quê Lĩnh Lam, Thanh Lĩnh, Thanh Chương, Nghệ An đã anh dũng hy sinh. Lính Mỹ phát hiện hướng này chỉ còn một tay súng, chúng tụ lại mỗi lúc một đông. Thiêm yên lặng chờ lính Mỹ xông vào thật gần mới nổ súng, diệt ba tên Mỹ. Bọn Mỹ phía sau tức tối dùng sung phóng lựu, đại liên bắn tới tấp vào vị trí của Thiêm làm anh bị thương vào chân. Sau đợt bắn dữ dội, lính Mỹ lại xông lên, Thiêm tiếp tục nổ súng. Đạn trong băng vơi dần, anh bắn dè sẻn từng viên một. Thiêm bị thương lần thứ hai rồi lần thứ ba. Tên Mỹ chỉ huy ra lệnh cho bọn lính bao vây bắt sống. Thiêm đã bắn đến viên đạn cuối cùng. Địch ào tới. Mấy tên lính ngụy cùng đám lính Mỹ thi nhau đấm đá bắt anh khai. Cao Như Thiêm nén đau im lặng. Rồi chúng mua chuộc bằng lời lẽ ngọt ngào. Thiêm giả vờ lịm đi không nghe thấy. Đứa hỏi, đứa đỡ anh dậy. Thiêm vẫn im lặng. Bọn địch nén tức giận, dụ dỗ anh. Trong khi đó, các mũi tiến công của Đại đội 2, Tiểu đoàn 2 vẫn kiên quyết bám sát lính Mỹ, buộc chúng phải co dần lại để gọi pháo binh và máy bay đánh vào Gia Bình. Một số lính Mỹ đã tạt sang chân cao điểm 39. Đội hình chiến đấu của ta kéo dài từ thôn Gia Bình đến chân cao điểm 39. Nghe tiếng súng của bộ binh ta nổ mỗi lúc một gần, bọn địch hoảng sợ, kẻo Thiêm đi. Máu từ các vết thương của Thiêm rỏ ra thẫm đất. Anh ghìm nỗi đau, giữ nét mặt bình thản trước kẻ thù. Biết không thể lung lạc được tinh thần của Thiêm, bọn địch dựng anh lên rồi lùi trở lại. Biết chúng sẽ bắn mình, Cao Như Thiêm ráng sức dựa lưng vào cây đa, đứng thẳng, xoay người về hướng bắc, hô lớn: Việt Nam nhất định thắng! Hồ Chí Minh muôn năm! Trận đánh kết thúc, Tiểu đoàn 2 đã diệt và làm bị thương 150 tên lính Mỹ, thu hàng chục khẩu súng các loại. Sau trận đánh, đồng đội vội vã đi tìm Cao Như Thiêm. Bên gốc đa, người anh đầy vết đạn, máu chảy đầm đìa. Tất cả nghiêng mình trước người chiến sĩ ưu tú của Trung đoàn 27, người con yêu dấu của quê hương Nghệ An đã anh dũng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng miền Nam. Sau này, bà con cô bác ở thị xã Đông Hà nghe bọn lính nguy sống sót chạy về kể lại, cả bọn đều nể phục tấm gương hy sinh cao cả của người chiến sĩ Quân giải phóng. Trong trận chiến đấu ngày 6 tháng 3 năm 1968, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 27, ngoài Trung đội trưởng Lê Ngọc Thu, chiến sĩ Cao Như Thiêm hy sinh, còn có Trung đội trưởng Phạm Sỹ Công, quê Thái Nguyên, Tràng Sơn, Đô Lương, Nghệ An và ba chiến sĩ nữa là Lê Hữu Biền, quê Diễn Trường, Diễn Châu, Nghệ An; Nguyên Văn Biền, quê Xóm Trung, Nghi Kiều, Nghi Lộc, Nghệ An; Trần Ngọc Hà, quê Quỳnh Long, Quỳnh Lưu, Nghệ An hy sinh. Các đồng chí hy sinh trong trận ngày 6 tháng 3 năm 1968 đều được đơn vị đưa về an táng tại xã Vĩnh Trường, khu vực Vĩnh Linh. Trong khi cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 chiến đấu với quân Mỹ ở Gia Bình nhằm giữ vững địa bàn để thực hiện nhiệm vụ vây ép căn cứ Cồn Tiên, thì cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 3 bí mật đưa đơn vị luồn sâu, tiến công địch ở phía đông quốc lộ số 1. Tiểu đoàn vừa chiến đấu vừa giúp địa phương xây dựng lực lượng vũ trang trong từng xã, từng thôn ấp. Thấy lực lượng chủ lực của ta hoạt động quanh quận Gio Linh, chỉ huy vùng 1 chiến thuật điều trung đoàn 2 nguy (vừa co về Đông Hà để bổ sung quân sô) cấp tốc hành quân cùng với quân Mỹ mở những cuộc càn ra vùng bắc và đông bắc huyện Gio Linh. Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 chỉ thị cho chỉ huy Trung đoàn 27 dùng Tiểu đoàn 3 triển khai chống càn. Các đại đội nhận nhiệm vụ chỉ kịp phổ biến sơ bộ cho bộ đội là tổ chức hành quân ngay. Đúng lúc đó du kích huyện Gio Linh đến báo với chỉ huy Tiểu đoàn 3 là địch đã vào làng Phúc Sa thuộc xã Gia Hà. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Thiêng trao đổi với Chính trị viên Nguyễn Viên về sử dụng lực lượng: - Tình hình cấp bách, tôi xuống lệnh cho Đại đội 1 xuất kích trước, anh tổ chức các đại đội còn lại khẩn trương hành quân. Anh động viên anh em mang đồ dùng gọn nhẹ, bám sát đội hình, giữ vững cự ly không để thất lạc. Anh Thiêng nói ngắn gọn rồi cùng mấy trinh sát tiểu đoàn khoác ba lô lao đi. Đêm tháng 3, trời Gio Linh cao thăm thẳm. Trăng sáng, những vì sao nhấp nháy… Một dải mây vắt ngang trời. Gió thổi từng hồi, từng hồi dễ chịu. Những cồn cát trắng thấp thoáng lờ mờ phía trước hàng quân. Làng Phúc Sa trống trải nằm trên một bãi cát dài. Phía đông là những cồn cát, những cây gai, cây xương rồng, cây dứa dại mọc thành từng bụi lớn chạy dài hàng cây số. Mờ sáng, Đại đội 1 đã có mặt giữa mấy cồn cát bao bọc phía đông, phía bắc làng Phúc Sa. Tiểu đoàn trưởng Thiêng cho bộ đội dừng lại đào công sự chiến đấu. Trong lúc bộ đội đào công sự thì Tham mưu trưởng tiểu đoàn Trần Nhật, Đại đội trưởng Vũ Xuân Tân cùng tổ trinh sát của tiểu đoàn do Vũ Đình Mai phụ trách cùng một số cán bộ trung đội luồn sâu vào làng Phúc Sa nắm địch. Trời sáng hẳn, bộ phận trinh sát nhìn rõ những tên lính ngụy, những chiếc xe tăng, xe bọc thép chuẩn bị đi càn. Đại đội trưởng Tân ra lệnh cho mọi người quay về vị trí tập kết. Mọi người nhanh chóng vận động qua các cồn cát trống trải. Ai cũng cố gắng vượt nhanh để về chỉ huy bộ đội chiến đấu. Đại đội trưởng Vũ Xuân Tân, quê Bắc Hải, Kỳ Hải, Kỳ Anh, Hà Tĩnh động viên hai cán bộ trung đội trưởng là Hoàng Xuân Sanh, quê xóm 9, Phúc Lộc, Cam Lộc, Hà Tĩnh và Nguyễn Văn Nỏ, quê Lộc An, An Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình cho bộ đội nhanh chóng triển khai đội hình. Anh vừa giao nhiệm vụ xong cho các trung đội trưởng thì bọn nguy đã tràn vào trận địa. Gần một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 2 nguy chia làm nhiều hướng đánh chiếm các cồn cát phía bắc làng Phúc Sa để làm bàn đạp cho đợt càn quét ra quận ly Gio Linh. Toàn bộ đội hình Đại đội 1, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 27 dường như lọt thỏm vào giữa vòng vây quân địch. Đại đội phó Nguyễn Đình Đồng chỉ huy trận địa cối 60 ly và súng đại liên Đại đội 4 (đại đội trợ chiến của tiểu đoàn) gấp rút xây dựng trận địa. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Thiềng chỉ huy một hướng, Đại đội trưởng Vũ. Xuân Tân chỉ huy một hướng. Tuy không có thời gian để bàn kỹ phương án tác chiến, nhưng các anh đều thầm hứa phải chiến đấu đến cùng, phá tan cuộc càn của địch, chia lửa với đồng đội đang ngày đêm vây ép lính Mỹ ở Khe Sanh và Tà Cơn. Phát hiện được lực lượng của ta, bọn chỉ huy trung đoàn 2 nguy thúc tinh ùa lên. Ỷ vào thế đông, lính nguy ập đến. Vũ Xuân Tân ra lệnh cho khẩu đại liên nổ súng. Tiếng nổ đanh chắc của khẩu đại liên vang lên làm tan đi không khí im lặng và căng thẳng ban đầu. Tiếp sau khẩu đại liên là súng cối AK, lựu đạn, thủ pháo ở các hướng nổ dồn dập... Trong khói súng mịt mù, Đại đội trưởng Vũ Xuân Tân lao như con thoi đến hết tổ chiến đấu này sang tổ chiến đấu khác để đồng viên, chỉ huy bộ đội chiến đấu. Bị đòn bất ngờ, bọn nguy đứa chết, đứa bị thương kêu rên thảm thiết. Xác chúng rải lên các bãi cát của làng Phúc Sa. Mười phút chiến đấu, các chiến sĩ Đại đội 1 đã buộc đại đội lính nguy đi đầu phải chăng lại. Khi nghe tổ trưởng trinh sát báo cáo: "Địch đang co lại" Vũ Xuân Tân ra lệnh: “Các mũi tiến lên chiếm lấy vị trí địch vừa rút ưu tiên công sự cho hỏa lực B40, B41". Pháo địch bắt đầu nã nhử cày phá mặt đất, cát, khói, chớp lửa cuộn lên thành đám cháy khổng lồ. Chiến sĩ Đại đội 1 tranh thủ tiếp tục đào công sự Lúc này anh em ta có thêm nhiều chiếc xẻng thu được của những lính nguy đã chết nằm la liệt ở vị trí chiến đấu của mình. Anh em còn được bổ sung thêm súng, đạn, lựu đạn và cả lương thực, thực phẩm của địch ngay trên trận địa. Pháo địch chưa hết, tám xe tăng và hơn một đại đội bộ binh của chúng đã tràn lên. Pháo trên xe tăng bắn trùm lên trận địa. Ba chiếc xe tăng liều mạng xông lên, Trung đội phó Trần Huy Quang, quê ở Trung Lân, Thạch Quý, Thạch Hà, Hà Tĩnh bình tĩnh diệt cả ba chiếc. Có chiếc chỉ cách trận địa ta 50 mét. Bắn xong, Quang đưa súng B40 cho Chiến lắp đạn. Anh cầm AK chạy sang Tiểu đội 2. Lính nguy đang tiến lên hòng đánh bật Tiểu đội 2 khỏi công sự chiến đấu. Tiểu đội phó Nguyễn Oánh chỉ huy tiểu đội đánh trả quyết liệt. Quang ra hiệu cho Oánh dẫn đội hình ra rồi cùng hai chiến sĩ trườn nhanh sang phía bắc. Ba khẩu AK nổ cùng một lúc, bọn địch bị đòn bất ngờ hốt hoảng tháo chạy. Cả tiểu đội xuất kích đánh chiếm gò đất cao phía trước, không cho xe tăng địch nhào lên yểm hộ cho hướng chính diện phát triển. Tiểu đội phó Oánh vừa dẫn đội hình lao lên để chuẩn bị vị trí có lợi, thì bỗng nhiên ba chiến sĩ trong tiểu đội của anh dừng lại. Oánh quay lại thấy chiến sĩ Bình đang cõng Trung đội phó Trần Huy Quang. Thấy Oánh đến, Bình kêu lên: -Anh Oánh ơi ? Anh Quang…. Oánh lại gần đỡ Quang vào lòng. Đôi môi Quang mấp máy, khuôn mặt dần dần tái nhợt. Quang nói đứt đoạn: - Các cậu đừng vì mình . . . mà ảnh hưởng đến trận đánh . . . cứ để mình nằm đây . . . phải giữ vững quyết tâm chiến đấu . . . Quang còn định nói điều gì đó, nhưng không thể Cả tiểu đội lặng đi … Giọng Oánh trầm trầm rồi rít lên: -Thôi! Chúng tà đành để anh Quang tạm nằm lại Tất cả theo tôi tiến lên. Không ai nói ra, nhưng cả tiểu đội đều thầm hứa: “giữ vững quyết tâm chiến đấu”. Và rồi, tiểu đội Oánh đã chặn đứng cụm xe tăng địch đang cố sức chọc thủng trận địa Đại đội 1 ở phía đông. Qua một ngày chiến đấu liên tục, chiến sĩ Đại đội 1 vẫn bám trụ kiên cường. Mặc dù trận đánh diễn ra bất lợi cho ta bởi lực lượng địch đông gấp bội lại có xe tăng, pháo binh chi viện, nhưng Đại đội 1 đã chặn đứng cuộc càn của địch, thực hiện quyết tâm trên giao. Về phía địch, chúng chưa từ bỏ âm mưu càn ra phía bắc quận ly Gio Linh. Ngay trong đêm, chúng điều thêm xe tăng, bộ binh ra tiếp ứng cho quân đang kẹt ở Phúc Sa để hôm sau mở tiếp các đợt phản kích vào trận địa của ta. Trước tình hình đó, chỉ huy Tiểu đoàn 3 điều Đại đội 2 do Chính trị viên Cù Huy Đường chỉ huy và điều hỏa lực còn lại của Đại đội 4 cùng lực lượng địa phương quyết tâm bẻ gẫy cuộc càn của trung đoàn 2 nguy. Đêm 10 tháng 3 năm 1968, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 3 không ngủ. Tất cả đều dốc sức chuẩn bị cho trận đánh ngày mai. Đất và cát trắng trên trận địa lúc này đã bị phủ lên một màu đen của thuốc bom đạn. Công sự qua một ngày chiến đấu bị sụt lở gần như hoàn toàn. Sau một đêm thức trắng, cả đơn vị đã củng cố hầm dưới những bụi xương rồng dày đặc và làm thêm được thột số hố chiến đấu cá nhân, đồng thời tranh thủ mở rộng bàn đạp cho các phân đội hỏa lực lên phía trước trận địa. Tại vị trí chỉ huy của Đại đội 1, Đại đội trưởng Vũ Xuân Tân nhắc lại phương án: - Cả đại đội vừa đánh vừa đưa đội hình tiến sâu vào làng Phúc Sa để hạn chế thương vong do phi pháo địch. Tổ chức tốt các mũi thọc sâu, vu hồi khi có thời cơ. Các đồng chí chỉ huy các mũi, các hướng phải nắm được hỏa lực, chủ động tiến công, không được dừng lại khi địch bỏ chạy. B40, B41 phải phát huy hiệu suất cao hơn, nhằm mục tiêu là xe tăng địch. Mọi người đều nhất trí phương án của Đại đội trưởng Tân, hăm hở chuẩn bị chiến đấu trước khi trời sáng. Ngày 11 tháng 8 năm 1968. Trời vừa sáng, xe tăng địch đã xuất hiện bắn như vãi đạn về phía trận địa ta. Bộ binh địch tập trung hỏa lực bắn mạnh vào các gò đất nổi lên giữa bãi cát để phá sập công sự của ta. Lính nguy được xe tăng yểm trợ liều lĩnh xông lên đánh chiếm một số chốt phía trước trận địa Đại đội 1. Chốt ta và chốt địch xen kẽ nhau. Có nơi chiến sĩ ta phải giành giật từng công sự, từng gò đất. Ở hướng Trung đội 1, cuộc chiến đấu giằng co, Chính trị viên Đại đội 2, quê ở Sơn Hà, Hương Sơn, Hà Tĩnh cùng Trung đội trưởng Chấp chỉ huy một hướng. Chấp nói anh em đào hầm dưới những bụi xương rồng và dứa dại để tránh pháo, địch xông lên là điểm xạ ngắn vừa tiết kiệm đạn, vừa để địch không phát hiện được. Chiến sĩ Nguyễn Đình Xuân, quê Kim Triều, Sơn Phúc, Hương Sơn, Hà Tĩnh vừa diệt được hai tên thì hy sinh vì đạn phóng lựu của địch. Anh là người lính đầu tiên của Đại đội 2 ngã xuống ở Phúc Sa. Nhìn rõ tên địch vừa bắn súng phóng lựu (M79) làm Xuân hy sinh, Chấp nâng khẩu AK bóp cò, tên địch chới với rồi ngã gục xuống. Trận đánh càng về trưa càng diễn ra quyết liệt. Địch cho máy bay ném bom, bắn rốc-két trùm lên trận địa. Chúng bắn bừa xuống cả những nơi quân ta và lính nguy đang giành nhau từng gò đất, hố bom. Đến lúc này các tổ chiến đấu của Đại đội 1 và Đại đội 2 hầu như không còn công sự, chiến sĩ ta lợi dụng hố bom, hố pháo, bờ đất, gốc cây để chiến đấu. Đạn vơi dần, nhiều tổ chiến đấu phải dùng vũ khí của địch đánh địch. Đạn B40, B41 phải để dành diệt xe tăng và xe cơ giới địch. Chiến sĩ ta đánh giặc không kịp ăn, không kịp ngủ. Quản lý Trần Kim Định, quê xóm 3, Vượng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh y tá Lê Xuân Điền, quê Phúc Thành, Kỳ Thượng, Kỳ Anh, Hà Tĩnh cũng cầm súng chiến đấu. Cán bộ đại đội luôn có mặt ở những vị trí hiểm yếu nhất. Các anh vừa là người chỉ huy vừa là mũi nhọn tiến công trong mỗi lần xuất kích. Trong lúc địch giãn đội hình ra phía sau chờ bom pháo chi viện, Chính trị viên đại đội Lộc tranh thủ đến hội ý với Đại đội trưởng Tân. Thấy chính trị viên đến, chiến sĩ liên lạc Nguyễn Chí Công dừng báo công sự cầm súng cảnh giới. Đại đội trưởng Tân chỉ vào Công nói với Chính trị viên Lộc: - Anh xem, Công khá đấy. Cậu ta rất nhanh ý, truyền lệnh đến các trung đội nhanh như sóc, chính xác lúc địch lên thì đánh rất gần. Công mới đánh trận đầu nhưng tỏ ra rất vững vàng, chững chạc. Chính trị viên Lộc nhìn Công, và nói: - Đúng thật! Cậu này rồi sẽ khá đây! Lộc nói với Tân: - Trong những lúc ngớt tiếng súng, ta tranh thủ động viên anh em, nhất là những chiến sĩ mới. Thật cần kíp mới cho anh nuôi chiến đấu, phải để anh nuôi lo cơm nước cho anh em đủ sức chiến đấu lâu dài. Từ vị trí cảnh giới, Công lao về báo cáo: - Xe tăng địch đang tiến về hướng Trung đội 2, thủ trưởng ạ. Lập tức Vũ Xuân Tân khoác khẩu AK, đeo thêm khẩu phóng lựu lấy được của địch, tay cầm khẩu B40 chạy sang hướng Trung đội 2. Công chạy theo Đại đội trưởng. Chạy được một quãng, Đại đội trưởng Tân nâng khẩu B40 lên, Công nhanh chóng bắn yểm hộ. Bất ngờ Công thấy một đụn khói ùn lên chiếc xe tăng địch. Đây là chiếc xe tăng thứ hai mà Đại đội trưởng Vũ Xuân Tân diệt trong ngày. Cùng lúc, cánh quân nống lấn của địch bị Trung đội 2 đánh vỗ mặt quyết liệt buộc chúng phải lùi ra ngoài. Qua hai ngày đi càn, một tiểu đoàn địch tăng cường có xe tăng, pháo chi viện vẫn không vượt qua được địa phận làng Phúc Sa. Đã hai ngày đêm, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 3 quần nhau với địch và đã chặn đứng cuộc càn ngay từ điểm xuất phát của chúng. Trong làng, cán bộ cơ sở tranh thủ đi tuyên truyền, giác ngộ cách mạng trong nhân dân và cả những tàn binh địch bỏ chạy. Một số thương binh nặng của Tiểu đoàn 3 được bà con đưa về chăm sóc, cứu chữa ngay trong đêm. Biết bộ đội đánh địch liên tục không có thời gian nghỉ ngơi ăn uống, trời tối bà con mang cơm nước, bông băng ra cho bộ đội. Việc làm của bà con cô bác đã tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 3 chiến đấu. Bước sang ngày 13 tháng 3, trận chiến đấu tại làng Phúc Sa ngập chìm trong khói lửa. Biết không thể đẩy lùi được lực lượng ta, quân địch tập trung pháo bắn phá dữ dội vào các khu vực xung quanh làng Phúc Sa, nhằm chặn đường chi viện của ta từ phía bắc. Các cồn cát ở phía bắc, phía đông làng Phúc Sa bị cày xới, bạt đi như thấp dần. Pháo kích ác liệt đã gây tổn thất lớn cho ta. Chính trị viên Cù Huy Đường, quê Sơn Tân, Hương Sơn, Hà Tĩnh và Trung đội trưởng Nguyễn Văn Chấp, quê Hoàng Xá, Quyết Thắng, Thanh Hà, Hải Dương đã anh dũng hy sinh. Tôi được tiểu đoàn giao nhiệm vụ thay anh Chấp chỉ huy trung đội. Đau đớn thay, ở hướng Đại đội 1, Đại đội trưởng Vũ Xuân Tân khi đi kiểm tra các mũi chiến đấu cũng bị hy sinh bởi "pháo bầy" của địch. Hai trung đội trưởng Hoàng Xuân Sánh và Nguyễn Văn Nỏ cũng ngã xuống do đạn pháo. Đại đội phó Nguyễn Đình Đồng, quê Lệ Xá, Lệ Thanh, Mỹ Đức, Hà Tây cũng hy sinh vì bị đạn pháo trong lúc đang chỉ huy chiến đấu. Đại đội phó Đại đội 4 hỏa lực Nguyễn Đình Từ hy sinh do trúng đạn trọng liên của máy bay trực thăng địch . . . Hy sinh nối tiếp hy sinh. Lửa căm thù càng bốc lên rừng rực. Lúc này thông tin liên lạc từ trận địa với tiểu đoàn chưa nối được. Thương binh, tử sĩ vẫn phải nằm lại. trận địa. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng để bảo vệ trận địa, bảo vệ thương binh, liệt sĩ. Khó khăn chồng chất tưởng như không thể vượt qua, nhưng không một ai nao núng! Cán bộ, chiến sĩ các trận địa vẫn chắc tay súng sẵn sàng đánh địch. Ai cũng đeo đầy lựu đạn, xung quanh công sự chiến đấu chất đầy các loại súng AK, B40, ARI5, súng phóng lựu... Mỗi khi thấy cán bộ đến động viên, trên môi từng chiến sĩ vẫn nở nụ cười tươi, câu nói chung của mọi chiến sĩ là: "Anh yên tâm, chúng ta sẽ đánh thắng". Sau hai ngày mở hàng chục đợt phản kích, địch vẫn không sao vượt qua nổi những cồn cát của làng Phúc Sa. Bước sang ngày thứ ba, bọn địch đã huy động hỏa lực tối đa, tập trung đánh chiếm bằng được làng Phúc Sa. Nhưng bộ binh của chúng không tài nào tiến lên được. Quân địch đã bị cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 và Đại đội 2 đánh thiệt hại Những trận đánh từ ngày 10 đến ngày 12 tháng 3 năm 1968 ở làng Phúc Sa, là những trận chống càn đầu tiên của Trung đoàn 27 trên chiến trường Quảng Trị. Bộ đội ta phải chiến đấu liên tục, dài ngày trong điều kiện chưa được chuẩn bị, lại ở địa hình đồng bằng trống trải nên cường độ ác liệt càng tăng gấp bội. Tiểu đoàn 3 đã có 97 cán bộ, chiến sĩ anh dũng hy sinh. Đến bây giờ, mỗi khi nghĩ đến anh em, lòng tôi vẫn đau thắt. Tôi xin ghi lại những cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 mà tôi còn nhớ, hy sinh ngày 11 tháng 3 năm 1968: Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Hiền, quê Mỹ Phong, Kỳ Phong, Kỳ Anh, Hà Tĩnh; chiến sĩ Trần Minh Trường, quê Hội Ninh, Xuân Hội, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; chiến sĩ Hoàng Nguyên, sinh năm 1950, quê Trung Bá, Cẩm Nam, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh; chiến sĩ Hoàng Văn Biện, sinh năm 1949, quê Trường Hoa, Xuân Trường, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; chiến sĩ Nguyễn Huy Trường, sinh năm 1949 quê Bình Bắc, Thạch Bình, Thạch Hà, Hà Tĩnh… Ngày 12 tháng 3 năm 1968, số cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 hy sinh còn cao hơn: Quản lý Trần Kim Định, y tá Lê Xuân Điền, chiến sĩ Nguyễn Trung. Trực, quê Lạc Vinh, Kỳ Lục, Kỳ Anh, Hà Tĩnh; chiến sĩ Phạm Thế Nghĩa, quê Hạ Long, Kỳ Phong, Kỳ Anh, Hà Tĩnh; chiến sĩ Dương Văn Chung, quê Nam Khê, Thạch Khê, Thạch Hà, Hà Tĩnh; chiến sĩ Lê Xuân Bình, quê Bàn Hải, Kỳ Ninh, Kỳ Anh, Hà Tĩnh…. Anh em Đại đội 1 hy sinh đều được an táng tại làng Phúc Sa, xã Gio Hà. Đại đội 4 hỏa lực cúng bị tổn thất nặng. Ngoài anh Nguyễn Đình Từ, Đại đội phó còn có Trung đội phó Lê Đình Mạo, quê Hồng Sơn, Hương Long, Hương Khê, Hà Tĩnh; Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Trọng, quê Long Sơn, Đức Long, Đức Thọ, Hà Tĩnh; chiến sĩ Võ Viết Đan, quê Trung Thịnh, Cẩm Trung, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh; chiến sĩ Lê Văn Nam, quê Trung Tiến, Kỳ Hoa, Kỳ Anh, Hà Tĩnh; chiến sĩ Nguyễn Công Châu, quê Song Giang, Xuân Đan, Nghi Xuân, Hà T nít; chiến sĩ Lê Minh Đức, quê Trường Quý, Xuân Trường, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; chiến sĩ Nguyễn Ngọc Uẩn, sinh năm 1950, quê Tân Đức Kỳ Tân, Kỳ Anh, Hà Tĩnh; chiến sĩ Nguyễn Xuân Lựu, sinh năm 1950, quê Long Sơn Hải, Kỳ Phú, Kỳ Anh, Hà Tĩnh; chiến sĩ Trần Xuân Bình, quê Trần Phú, Kỳ Hưng, Kỳ Anh, Hà Tĩnh; chiến sĩ Lê Văn Dần, sinh năm 1950, quê Hội An, Xuân Hội, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; chiến sĩ Nguyễn Thanh Sơn, quê Đội 6, Xuân Lĩnh, Nghi Xuân, Hà Tĩnh … Tất cả cán bộ, chiến sĩ Đại đội 4 hy sinh cũng đều được an táng tại làng Phúc Sa. Riêng chiến sĩ Nguyễn Xuân Lựu, bị thương nặng, anh em chuyển về phía sau đã hy sinh trên đường nên an táng tại xóm Phương, xã Gio Mỹ. Đại đội 2 bị tổn thất rất nặng vì khi vào tăng cường cho Đại đội 1, đại đội chiến đấu trên hướng đã bị lộ, địa hình lại trong trải, chỉ biết dựa vào những gốc cây xương rồng và dứa dại để làm công sự Ngoài Chính trị viên Cù Huy Đường và Trung đội trưởng Nguyễn Văn Chấp đã kể trên, số anh em hy sinh còn có: Trung đội phó Hoàng Xuân Sơn, quê Nam Hải, Kỳ Hải, Kỳ Anh, Hà Tĩnh; Tiểu đội trưởng Phan Công Dũng, quê Đương Sơn, Hương Giang, Hương Khê, Hà T nít; Tiểu đội trưởng Phan Văn Quyến, quê Liên Trì, Kỳ Văn, Kỳ Anh, Hà Tĩnh; Tiểu đội trưởng Phan Thái Hùng, quê xóm 7, Kỳ Hải, Kỳ Anh, Hà Tĩnh; chiến sĩ Hoàng Công Mẫu, quê Kim Tiến, Kỳ Bắc, Kỳ Anh, Hà Tĩnh; chiến sĩ Nguyễn Duy Nghị, quê Liên An, An Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh; chiến sĩ Hoàng Viết Hùng, quê Trung Phong, Kỳ Phong, Kỳ Anh, Hà Tĩnh; chiến sĩ Thái Đăng Trường, quê Thanh Luyện, Hương Luyện, Hương Khê, Hà Tĩnh; chiến sĩ Võ Hữu Tuấn, quê Quang Trung, Cẩm Hải, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh … số anh em hy sinh của Đại đội 2 tôi chỉ nhớ tên là các đồng chí: ân, Tình, Triển, Vinh, Thi, Lộc... quê đều ở Hà Tĩnh. Các liệt sĩ của Đại đội 2 cũng được an táng tại làng Phúc Sa, xã Gio Hà, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Sau ba ngày đêm chiến đấu Tiểu đoàn 3 đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 500 tên, bắt 60 tên, bắn cháy 5 xe tăng địch. Trong khi Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 chiến đấu ở phía đông và phía tây quốc lộ số 1, thì Tiểu đoàn 1 được lệnh vào tác chiến ở khu vực phía tây Cồn Tiên để bảo vệ kho tàng và tuyến đường vận tải cho chiến dịch tiến công Đường 9 - Khe Sánh. Cả Trung đoàn 27 đã chiến đấu trên một địa bàn rất rộng từ cao điểm 31 ở phía đông đến cao điểm 425 ở phía tây. Các đơn vị trong trung đoàn vừa đánh địch, vừa rút kinh nghiệm kịp thời qua từng trận đánh, để từ đó rút ra những bài học từ thực tế chiến trường. Một vấn đề mà cán bộ, chiến sĩ trung đoàn quan tâm là bài học kinh nghiệm xây dựng đơn vị trong chiến đấu. Trung đoàn 27 luôn luôn phải bám sát chiến trường, tác chiến với nhiều đối tượng địch, trên nhiều địa hình đồng bằng và rừng núi, sử dụng nhiều hình thức chiến thuật, nhất là tác chiến độc lập, dài ngày trên một hướng của chiến dịch. Tổng hợp những trận đánh vừa qua, cả trung đoàn đã đánh hơn chục trận lớn nhỏ, từ trung đội, đại đội đến tiểu đoàn, lúc tập kích, phục kích, chống càn, lúc vận động tiến công kết hợp chết. Những điều bỡ ngỡ ban đầu qua nhanh, cán bộ, chiến sĩ chỉ huy càng dạn dày trong chiến đấu. Tuy trận chống càn ở Phúc Sa, Tiểu đoàn 3 bị tổn thất nặng, nhưng toàn đơn vị vẫn giữ được khí thế, quyết tâm. Cấp trên tin tưởng, đơn vị bạn mến phục, bà con cô bác thương yêu đùm bọc che chở. Đó là phần thưởng quý báu mà trung đoàn đã giành được trong những ngày đầu trên chiến trường Bắc Quảng Trị. Các đơn vị đều giành được thắng lợi giòn giã. Đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ. Những tấm gương đó đã chứng minh ý chí quyết đánh quyết thắng của đơn vị trong những trận thử lửa đầu tiên. Bước sang tháng 4 năm 1968, Trung đoàn 27 vẫn đứng vững trên các khu vực tác chiến do Mặt trận B5 giao cho. Cũng trong tháng 4, trên chiến trường Quảng Trị, tướng Mỹ Oét-mo-len, chỉ huy các lực lượng quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam mở cuộc hành quân nhằm cứu nguy cho lính Mỹ đang sa lầy ở cứ điểm Khe Sanh, Tà Cơn. Các hãng thông tấn phương Tây nói: "Mỹ đang gặp phải một Điện Biên Phủ - Khe Sanh". Để thực hiện cuộc hành quân này Oét-mo-len dùng các đơn vị lính Mỹ và chiến đoàn 3 dù ngụy liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân ra phía Bắc Quảng Trị nhằm "tìm diệt" các lực lượng ta. Toàn bộ sư đoàn A-mê-ri-cơn và hai lữ đoàn thuộc sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ được tăng cường cho vùng .chiến thuật l; chuyển lữ đoàn lính thủy đánh bộ Mở và lính Nam Triều Tiên từ phía nam ra phía bắc để thay thế lính thủy đánh bộ Mỹ ở Đà Nãng, tăng thêm một lữ đoàn thuộc sư đoàn dù 101 và lệnh cho sư đoàn này sẵn sàng tham chiến ở Quảng Trị khi cần thiết. Lập một sở chỉ huy mới ở sân bay Phú Bài do tướng Abram trực tiếp chỉ huy. Với âm mưu và lực lượng trên, Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam hy vọng sẽ chặn đứng cuộc tiến công liên tục của quân ta trên chiến trường Bắc Quảng Trị. Việc làm đầu tiên của Abram là tập trung giải tỏa cứ điểm Khe Sanh bằng hỏa lực tối đa và các lực lượng lính Mỹ vừa được điều ra tham chiến. Vì vậy, khu vực tác chiến của Trung đoàn 27 là "bãi đổ quân" của các đơn vị lính Mỹ, là điểm xuất phát của những cuộc hành quân ngăn chặn và giải tỏa trên chiến trường. Ở đây ta và địch giành giật nhau từng cao điểm, từng đoạn đường và từng khoảnh đất Để giữ vững được cái "bàn đạp khổng lồ" này, quân Mỹ đã đổ xuống đây biết bao bom đạn để yểm trợ cho các cuộc hành quân nống lấn ra phía bắc Đường 9 - con đường huyết mạch từ Đông Hà qua căn cứ Sa Mưu đi Khe Sánh, Làng Vây, Lao Bảo và tuyến đường 76 chạy song song với Đường 9 ở phía bắc, nối đường số 1 với quận ly Cam Lộ. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 lệnh cho Trung đoàn 27 đưa đội hình chiến đấu của trung đoàn lên phía tây quốc lộ số 1, dùng các phân đội nhỏ, luồn sâu đánh địch trên tuyến đường 76 để giữ vững địa bàn, bảo vệ kho tàng và phối hợp với các hướng chiến dịch, tổ chức đánh liên tục nhằm tiêu hao, tiêu diệt và giam chân các lực lượng địch ở hướng này. Sau khi nhận được lệnh của Mặt trận, Ban chỉ huy Trung đoàn 27 khẩn trương triển khai kế hoạch tác chiến, cử các bộ phận trinh sát đi nắm địch. Cán bộ các cấp tiếp tục đi nghiên cứu địa hình trên khu vực hoạt động của mình. Thời gian này Tiểu đoàn 2 đứng chân ở khu vực tứ giác phía đông là Dốc Miếu, Quán Ngang, phía tây là Cồn Tiên, Miếu Bái Sơn. Mặc dù Tiểu đoàn 2 nằm giữa "tọa độ lửa" nhưng cán bộ, chiến sĩ vẫn liên tiếp lập công. ở giữa vùng địch cho là an toàn bởi nằm trong tầm pháo của chúng, thế mà lính Mỹ vẫn lớp lớp bị tiến công, nhiều khi phải ôm đầu máu tháo chạy về Cam Lộ, Đông Hà. Viên tư lệnh sư đoàn nguy đóng ở Ái Tử nghe chỉ huy các trung đoàn báo về, lính hành quân bị diệt ở Gia Bình, Dốc Sỏi càng sửng sốt. Cho đến khi Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 27 chống càn ở Phúc Sa, bắt sống lính trung đoàn 2 nguy chúng mới vỡ lẽ: lực lượng đánh chúng không phải là đơn vị bộ đội địa phương như tin cấp trên chúng đã thông báo. Trong khi viên chỉ huy sư đoàn 3 ngụy bàn tính với chỉ huy lữ đoàn kỵ binh Mỹ để đối phó với ta ở hướng này, thì Đại đội 3 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 27 đã bí mật cắm chốt ở phía đông đường 76. Hình thái lúc này giữa ta và địch là tìm nhau để diệt. Chỉ huy các cấp của Trung đoàn 27 quán triệt cho bộ đội là tích cực chủ động bám nắm địch, nổ súng trước giành quyền chủ động. Chỉ có tiến công địch, tiêu diệt địch thì ta mới không phải chịu phi pháo của chúng. Không nắm quyền chủ động chiến trường, địch phát huy hỏa lực phi pháo, bộ đội thương vong là điều bất lợi. Đánh thắng, bộ đội có khí thế, thêm vững vàng, tin tưởng mà trụ lại chiến đấu. Đêm 28 tháng 4 năm 1968, bộ phận luồn sâu của Đại đội 3, Tiểu đoàn 2 vào đến làng Xuân Hòa nằm sát đường 76, bố trí đội hình xong thì trời vừa sáng. Bộ đội ta đeo cả ba lô, trang bị tranh thủ nghỉ lấy sức sau mấy đêm hành quân. Theo tin trinh sát cho biết, ở Mộc Đức phía nam đường 76, địch đang tập trung quân cả Mỹ và nguy chuẩn bị hành quân lên phía bắc để bảo vệ con đường 76. Đúng như trinh sát thông báo, bộ đội chưa kịp báo hầm thì lính Mỹ có xe tăng yểm trợ đã tiến vào Xuân Hòa. Đạn pháo, đạn súng cối của địch bắn dồn dập dọc theo trục đường 76. Trợ lý Tham mưu tiểu đoàn Nguyễn Thường Kháng, quê Yên Hòa, Thạch Linh, Thạch Hà, Hà Tĩnh bị đạn pháo của địch hy sinh trong lúc đi chuẩn bị chiến trường. Đại đội 3, Tiểu đoàn 2 chia làm hai mũi, mũi thứ nhất do Trung đội trưởng Nguyễn Công Chúc, quê Phúc Lưu, Thạch Trị, Thạch Hà, Hà Tĩnh chỉ huy. Mũi thứ hai do Trung đội trưởng Trần Văn Phúc, quê Nam Điền, Thạch Điền, Thạch Hà, Hà Tĩnh chỉ huy. Đại đội trưởng thống nhất phương án, chọn khu vực tương đối bằng phẳng phía đông làng Xuân Hòa làm điểm quyết chiến của trận đánh. Lúc đầu bí mật đánh phục kích, tiếp theo là liên tục vận động tiến công. Bộ đội mỗi người một cành lá che đầu nhanh chóng vận động đến vị trí quy định. Khi mũi chặn đầu do trung đội trưởng Nguyễn Công Chúc chỉ huy vừa vận động đến vị trí quy định thì đám lính Mỹ đi đầu đã vượt qua đường 76 trung đội phó Nguyễn Bá Canh, quê Yên Mỹ, Cẩm Yên, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh bò lên sát đường quan sát. Canh nằm áp ngực lên mặt đất, mấy tên lính Mỹ chen chúc nhau vượt đường 76. Anh ra hiệu cho trung đội sẵn sàng chiến đấu Mục tiêu của trung đội Chúc và Canh là tiêu diệt tốp lính Mỹ đi đầu. Nhưng lính Mỹ nán lại cho xe tăng lên: . Cả trung đội thấy yên tâm vì lính Mỹ không dám đi sục sạo. Lúc này, Trung đội trưởng Chúc bò lên chỗ Trung đội phó Canh, Canh hỏi nhỏ: - Đánh chưa anh? - Chờ cho xe tăng vào tầm bắn B40 mới nổ súng. Chúc lùi lại phía sau ra lệnh cho Tiểu đội trưởng Phạm Văn Định, quê Trung Thượng, Kỳ Hưng Kỳ Anh, Hà Tĩnh giữ khẩu B40 lên tăng cường cho tổ tiền tiêu. Cán bộ, chiến sĩ nghe rõ tiếng động cơ xe tăng, cả tiếng ken két của xích sắt nghiến lên mặt đường. Chiếc xe tăng chỉ cách chỗ Canh khoảng 50 mét. Anh lệnh cho Định bắn B40. Quả đạn B40 của Định xuyên thủng vỏ, chiếc xe tăng địch bốc cháy. Các loại súng của ta thi nhau nã đạn vào quân Mỹ. Cả trận địa rộ lên tiếng súng AK của quân ta và tiếng súng AR15 của quân Mỹ. Lính Mỹ bị bất ngờ giẫm đạp lên nhau, chúng chưa phát hiện ra bộ đội ta đánh từ đâu tới. Quân Mỹ sống sót chạy tán loạn, nhào cả vào đội hình bổ đội ta. - Bắt tù binh! Tiếng ai đó vang lên giữa trận địa. Các chiến sĩ Đại đội 3 truy kích địch, khẩu đội cối 82 1y cơ động theo sát chiến sĩ bộ binh, bắn ứng dụng, lúc bắn kiềm chế, lúc chi viện cho các mũi tiến công trên các hướng. Phía trước lính Mỹ đang cụm lại, chờ lực lượng chi viện. Thấy có thời cơ, Trung đội trưởng Chúc ra lệnh tiếp xúc tiến công bọn Mỹ đang cụm lại. Khi lính Mỹ đã nằm trong tầm súng AK, Trung đội trưởng Chúc ra lệnh nổ súng. Bọn Mỹ chưa kịp hoàn hồn lại bị đánh tiếp. Nhiều tên chết tại chỗ. Những tên bị thương kêu rống. Lính Mỹ lại co cụm chống trả quyết liệt. Dưới sự chỉ huy của Trung đội trưởng Chúc và Trung đội trưởng Phúc, các chiến sĩ ta đã đánh trả quyết liệt buộc địch phải tháo chạy. Nhiều tên Mỹ quẳng ba lô, súng đạn bơi qua đoạn sông cụt phía nam đường 76, chạy về Trương Sa, Mộc Đức để thoát thân. Quân Mỹ gọi pháo từ Đông Hà, Dốc Miếu, Quán Ngang bắn dữ dội ra tuyến đường 76. Trung đội trưởng Nguyễn Công Chúc đang chạy đi động viên anh em thì trúng một quả pháo. Anh hy sinh trong sự ngỡ ngàng tiếc thương của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 3. Pháo bắn càng mạnh hơn. Trung đội trưởng Trần Văn Phúc và Tiểu đội trưởng Phạm Văn Định cũng đã anh dũng hy sinh. Tiếp đó, pháo địch bắn trúng đội hình tiến công của Đại đội 3... Đau đớn thay, một loạt cán bộ, chiến sĩ tiếp tục hy sinh Đó là các đồng chí: Trung đội phó Trương Huy Hiệu, quê Hồng Phong, Hương Phong, Hương Khê, Hà Tĩnh. Trung đội phó Nguyễn Bá Canh, quê Yên Mỹ, Cẩm Yên, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Chiến sĩ Trần Văn Mét, quê Tráng Việt, Yên Lãng, Vĩnh Phúc; chiến sĩ Lương Kim Tuyến, quê Trung Nam, Hồng Ca, Trấn Yên, Yên Bái; chiến sĩ Phùng Thiết Hàng, quê Phúc Yên, Bằng Giã, Hạ Hòa, Phú Thọ; chiến sĩ Nguyễn'văn Đông, quê Hồng Thái, Nga Quán, Trấn Yên, Yên Bái; chiến sĩ Nguyễn Trọng Hồng, quê Vân Trì, Minh Khai, Từ Liêm, Hà Nội... Một sự tổn thất quá lớn vì pháo địch. Trời về chiều, chỉ huy Đại đội 3 cho bộ đội tạm dừng chiến đấu, giải quyết hậu quả chiến đấu, đưa thương binh về phía sau, còn liệt sĩ thì an táng tại làng Thanh Khê, xã Gio An, huyện Gio Linh. Ngay sau đó, Đại đội 3 lại bắt tay vào xây dựng trận địa phòng ngự phía nam làng Xuân Hòa và bổ sung vũ khí, lương thực cho trận chiến đấu ngày hôm sau. Vào những ngày cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1968, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 27, vẫn hoạt động liên tục trên tuyến đường 76, phối hợp với các đơn vị bạn, bẻ gẫy hoàn toàn cuộc hành quân giải tỏa do Oét-mo-len vạch ra trên chiến trường Bắc Quảng Trị. Ngày 1 tháng 5 năm 1968, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 ra lệnh cho Trung đoàn 27 vây lại căn cứ Cồn Tiên. Ban chỉ huy đại đội sau khi cân nhắc đã quyết định chọn trung đội của tôi thực hiện nhiệm vụ vây ép Cồn Tiên. Anh Tiến - Đại đội trưởng nói: - Ban chỉ huy đại đội đã chọn trung đội của cậu thực hiện nhiệm vụ của Mặt trận B5 giao. Trung đội 25 người gồm cả tổ thông tin vô tuyến điện, thực hành vây ép Cồn Tiên. Sau khi xây dựng công sự, hầm hào chiến đấu thực hành vây ép, trên sẽ tăng cường một tổ bắn tỉa từ Hà Nội vào, ngày nào cũng phải nổ súng. Nhiệm vụ của trung đội là vừa đánh địch, gây tiếng nổ vừa bảo vệ tổ bắn tỉa được bố trí cách căn cứ Cồn Tiên khoảng 1 ki-lô-mét. Trước mắt cho anh em xây dựng công sự, nguy trang, cài thế xong thì báo cáo về tiểu đoàn để đưa lực lượng bắn tỉa vào chiến đấu. Giao nhiệm vụ xong, đại đội trưởng hỏi tôi: - Thế nào, Hiệu thấy có gì khó khăn cứ mạnh dạn nói ra. - Vây Cồn Tiên, trước đó các đơn vị đã vây ở hướng tây và bắc, bây giờ vào vây lại ở các hướng đã lộ là rất khó khăn. Tôi đề nghị cho thay đổi hướng vây. - Theo cậu thì vây ở hướng nào? - Đại đội trưởng cắt ngang. - Tôi sẽ đưa trung đội vào hướng nam và đông nam. Vào hướng này, đường đi lại và công tác bảo đảm rất khó khăn, nhưng là hướng mà quân địch không ngờ tới. -Cậu đã tính toán kỹ chưa? - Dạ! Tôi đã từng đi chuẩn bị địa hình ở hướng này. Hướng nam và đông nam có nhiều làng mạc. Yếu tố bí mật là quan trọng nhất. Sau khi đưa lực lượng vào vị trí tập kết tôi sẽ tổ chức cho anh em đào hầm hàm ếch trong hàng rào địch. Sẽ ngụy trang kỹ ban ngày nằm trong hầm, ban đêm thì đánh mìn, bộc phá phá rào ở các hướng khác. Tôi sẽ cho một tiểu đội bảo vệ tổ bắn tỉa. Ngày cơ động phát hiện những tên Mỹ ra khỏi công sự là bắn, tối về ở suối Lăng Gô cũng đào hầm hàm ếch dưới các bụi tre hóa. - Xem ra Hiệu nắm chắc địa hình nhỉ. Tôi đồng ý đề xuất của cậu. Bây giờ cậu về lo tổ chức, động viên anh em bắt tay ngay vào công tác chuẩn bị và chờ lệnh. Đại đội trưởng tiễn tôi ra cửa lán dã chiến, anh nắm chặt tay tôi: - Mình tin ở cậu! - Em hứa sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ của đại đội và tiểu đoàn giao cho. Cồn Tiên là cao điểm 158 mét so với mặt nước biển. Mặt đồi khá bằng phẳng. Đứng ở Cồn Tiên có thể quan sát một khu vực rộng lớn, thậm chí nhìn ra tận bắc sông Bến Hải. Do vị trí quan trọng của nó nên quân Mỹ đã xây dựng Cồn Tiên thành căn cứ quân sự mạnh, có lô cốt bê tông cốt thép xen lẫn hầm lát bằng những tấm ghi và xếp những bao cát. Trong căn cứ có một tiểu đoàn lính Mỹ và một đại đội pháo 105 ly. Quanh căn cứ chúng bố trí chín lớp hàng rào dây kẽm gai, với nhiều loại mìn giữa các lớp rào. Cồn Tiên đã bị quân ta vây gánh nhiều lần nên địch rất cảnh giác. Tối ngày 8 tháng 5 năm 1968, Trung đội 3 do tôi làm trung đội trưởng được lệnh xuất kích. Trang bị ngoài súng đạn, gạo, lương khô, bông băng cá nhân, chúng tôi còn phải mang mìn định hướng, bộc phá ống, cuốc xẻng. Tháng 5, không khí oi nồng. Hành quân mang vác nặng, mồ hôi chúng tôi vã ra như tắm. Tuy vậy anh em vẫn động viên nhau cố gắng. Gần sáng chúng tôi đến một làng, dân làng này đã bị địch dồn vào ấp chiến lược; làng có nhiều hố bom, hố pháo… Do vị trí cực kỳ quan trọng của khu vực Bắc Quảng Trị đối với vùng chiến thuật 1 nên Mỹ - nguy tập trung đánh phá vùng này rất tàn khốc. Chúng bắt 2.000 gia đình ở hai huyện Cam Lộ và Gio Linh phải bỏ quê hương vào sống tập trung ở Bà Ria, biến vùng Gio Linh, Cam Lộ thành những vành đai trắng. Chúng bắn phá hủy diệt môi trường sống, hòng ngăn chặn từ xa những cuộc tiến công của quân ta. Tôi cho anh em vào nghỉ tạm trong mấy căn nhà hoang chờ đến tối đi tiếp. Người đi sau nguy trang kín đáo. Một ngày nằm chờ sao mà lâu thế. Địch đi càn, nhưng chúng chỉ đi ngoài đường cái, trong làng hoang tàn, chúng cũng chẳng vào làm gì. Tối, chúng tôi lại hành quân, khoảng 21 giờ thì đến Cồn Tiên. Xung quanh căn cứ pháo phát quang dọn sát hang rào. Tôi phân công ba người đào một hầm khoét xuống lòng đất rồi đào hàm ếch vào sâu đủ khoảng rộng để nằm nghỉ trong đó. Riêng tiểu đội bảo vệ tổ bắn tỉa thì ra bờ suối Lăng Gô, cách hàng rào thứ nhất khoảng 1 ki-lô-mét, cũng đào hầm hàm ếch. Cả ngày anh em chúng tôi nằm dưới hầm. Trời tối tôi dẫn hai chiến sĩ dùng mìn định hướng và bộc phá ống vòng lên phía tây căn cứ, dùng bộc phá ống phá rào để địch tưởng ta tiến công thật. Đánh xong, đợi im tiếng pháo anh em lại về hầm. Máy bay trực thăng vũ trang, máy bay trinh sát OVIO, Li9 quần lượn suốt ngày, chỗ nào chúng nghi ngờ có quân ta là phóng rốc-két. Trực thăng địch còn bay thấp thả lựu đạn vào hầm, bắn đạn khói chỉ điểm cho máy bay phản lực đến ném bom, và pháo hạm ngoài biển bắn vào. Sáng ngày 10 tháng 5 năm 1968, tôi điện báo cáo cho tiểu đoàn đưa tổ bắn tỉa vào chiến đấu. Tôi cử hai chiến sĩ hoạt bát ra đón tổ bắn tỉa. Tối hôm sau, năm chiến sĩ bắn tỉa với năm cây súng trường Hung-ga-ri đã vào vị trí ở suối Lăng Gô. Tôi nói với anh em: -Xung quanh căn cứ địch không còn một cây cỏ, các cậu phải lợi dụng những bụi tre hóa đã bị bom cháy rụi đào công sự dưới đó, rồi nguy trang bằng than, tro để địch không phát hiện được. Phải chuẩn bị nhiều điểm bắn. Bắn xong phải di chuyển ngay. Anh em có ý kiến gì không? Mọi người đều nhất trí với ý kiến của tôi. Anh em tiểu đội bảo vệ và các chiến sĩ tổ bắn tỉa đã đào hầm dưới những bụi tre hóa, những chiếc hầm này thật vững chắc. Pháo bắn trúng cũng không thể phá được. Ngày đầu tiên tổ bắn tỉa ra quân đã thu được thắng lợi. Gần chục tên Mỹ đã trúng đạn bắn tỉa. Bọn địch không biết đạn từ đâu bay đến làm gần chục tên lăn ra chết. Chúng rất hoang mang. Thế là chúng tập trung pháo cối bắn như vãi đạn (chúng tôi dạo đó gọi là cối liên thanh). Tổ bắn tỉa hoạt động có hiệu quả. Cứ tên địch nào ngóc đầu lên là anh em tiêu diệt. Các chốt vây ép của ta là chốt cơ động. Nếu ở cố định một chỗ thì trước sau gì địch cũng phát hiện ra. Đến ngày 12 tháng 5 năm 1968, tôi bàn với anh em luồn sâu vào hàng rào thứ 5 căn cứ Cồn Tiên. Chúng tôi gỡ được 31 quả mìn các loại trong khu dự kiến xây dựng công sự hầm hào và tổ chức trận địa chết ở trong đó. Rất may là ở hàng rào có dù pháo sáng do chúng bắn ra, cả dù từ máy bay thả xuống phủ gần như kín những gốc cây, hàng rào, kín cả khu vực. Dù trắng và cả màu đỏ loại 18 chéo. Tôi cho rằng không có nguy trang nào hay như ngụy trang bằng dù của Mỹ. Địch đã "giúp" ta giữ bí mật, quả là "gậy ông đập lưng ông'. Hầm nằm dưới dù vừa mát vừa kín đáo. Khi đào hầm hàm ếch, đất được cho vào ba lô rồi đổ rải ra những hố bom, hố pháo địch vừa bắn gần đó. Chuyến cuối cùng chúng tôi phải đi giật lùi, chỗ đất đỏ thì ngụy trang đất đỏ, chỗ lá khô thì rải lá khô để che mắt địch. Dưới mỗi cái dù là ba người. Chúng tôi lấy hòm gỗ do máy bay địch thả xuống ghép lại thành những căn hầm kiên cố, có thể ngủ nghỉ thoải mái. Hàng ngày địch tung thám báo và xe tăng đi tuần ở ngoài hàng rào. Chúng đâu biết rằng ở trong hàng rào lại có Quân giải phóng. Tối nào chúng tôi cũng đánh mìn, đánh bộc phá, tập kích quân địch, vừa tiêu hao sinh lực, vừa gây tiếng nổ làm cho địch trong căn cứ ăn không ngon, ngủ không yên, luôn trong trạng thái lo nơm nớp. 20 ngày đầu, tổ bắn tỉa diệt được rất nhiều lính Mỹ. Bọn địch rút kinh nghiệm vừa đánh phá ác liệt vừa thực hiện nghi binh, giơ hình nộm đội mũ sắt để lừa ta, từ đó phát hiện các tổ bắn tỉa. Địch dùng máy bay bắn rốc-két, dùng pháo cối bắn tập trung vào một khu vực. Một số anh em trong tổ bắn tỉa hy sinh Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 cho lệnh rút tổ bắn tỉa ra ngoài củng cố. Tiểu đội bảo vệ tổ bắn tỉa trở lại đội hình của trung đội. Mấy ngày sau địch mở cuộc càn ra khu vực tổ bắn tỉa đã từng trú ẩn. Chúng phá các hầm hố, giao thông hào. Xe tăng chạy sát hàng rào hòng làm sạch địa bàn. Tính đến ngày 30 tháng 6 năm 1968, trung đội tôi đã vây ép căn cứ Cồn Tiên 52 ngày đêm, giam chân một lực lượng lớn quân địch trong căn cứ, làm cho chúng căng thẳng, tinh thần bạc nhược. Đây cũng là một hình thức chi viện kịp thời nhất, hiệu quả nhất đối với các đơn vị bạn. Mỹ - ngụy không thể tập trung quân lớn để giải tỏa cho hướng Khe Sanh, Làng Vây. Nắm rõ hoàn cảnh khó khăn của anh em, đã gần hai tháng không tắm rửa, sức khỏe giảm sút, Bộ Tư lệnh Mặt trận quyết định cho chúng tôi rút ra cứ củng cố rồi vào đánh tiếp. Tối hôm chúng tôi rút, địch cho xe M113 và một trung đội Mỹ ra phục hướng tây bắc. Tôi bảo anh em không đánh mìn và bộc phá nữa mà bí mật hành quân rút ra hướng tây bắc về căn cứ cho gần. Theo đường xe tăng đi ra, chúng tôi phát hiện địch trước mặt. Tôi quyết định đánh từ phía sau quân địch để mở đường. Địch hoàn toàn bất ngờ vì chúng tôi từ trong căn cứ địch đi ra. Tôi lấy khẩu B40 của một chiến sĩ và nói với hai chiến sĩ B40 còn lại: -"Khi tôi bắn vào chiếc xe M113 các cậu cũng nhằm vào hai xe còn lại mà bắn nhé!". Nói rồi tôi giương khẩu B40 nhằm chiếc xe bóp cò. Một tiếng nổ lớn kèm theo là chớp lửa trùm lên chiếc M113. Hai chiến sĩ B40 cũng bắn hai quả đạn nữa vào hai chiếc xe M113 còn lại. Cả trung đội tập trung AK, lựu đạn, thủ pháo tiến công quân địch. Sau 15 phút chiến đấu trung đội tôi tiêu diệt hoàn toàn trung đội Mỹ, bắn cháy ba xe M113. Tôi lệnh cho anh em còn bao nhiêu mìn, bộc phá dùng phá rào bằng hết. Trận đánh kết thúc khoảng 12 giờ đêm. Cả trung đội an toàn. Sau trận đánh xuất sắc đó tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và được chỉ định làm đại đội trưởng thay anh Tiến vì anh Tiến bị thương. Bước sang tháng 6 năm 1968, thời tiết ở Quảng Trị vô cùng khắc nghiệt. Mặt đất đang nắng nóng như chảo rang bỗng chốc những cơn mưa rào ập tới, các con suối cạn bỗng đầy nước réo ầm ĩ, cuốn phăng cả những cây gỗ lớn bị bom pháo đào bật gốc. Những trận mưa về đêm gây không ít khó khăn cho bộ đội hành quân. Đơn vị hành quân đến nơi, trang bị, quần áo ướt sũng, hầm hố vừa đào nước tràn vào lênh láng. Có lần, đoạn đường chỉ cần đi ba tiếng đồng hồ, nhưng gặp trận mưa, nước suối dâng cao không vượt được đơn vị phải chờ nước rút trọn cả đêm. Thời tiết khắc nghiệt là vậy, nhưng địch vẫn cho quân nống ra ngày một nhiều hơn để làm giảm sức ép của ta trên phía Khe Sanh - Làng Vây. Thời gian này đơn vị tổ chức đi nhận vũ khí ở xã Vĩnh Trường, Vĩnh Linh (phía bờ bắc sông Bến Hải). Ngày 2 tháng 7 năm 1968, Đại đội 4 bị bom B.52 ném trúng đội hình, hy sinh tám đồng chí, đó là: Tiểu đội trưởng Tạ Quang Dưỡng, quê Nam Xuyến, Phú Xuyên, Hà Tây và bảy chiến sĩ: Phạm Văn Đoàn, quê Tất Viên, Thủ Sỹ, Tiên Lữ, Hưng Yên; Đoàn Huy Tụng, quê Việt Khang, Vân Nam, Phúc Thọ Hà Tây; Đỗ Xuân Mậu, quê Tân Phúc, Phúc Thọ, Hà Tây; Trần Văn Đốm quê Thiện Phiến, Chiến Thắng, Tiên Lữ, Hưng Yên; Bùi Văn Độ, quê Tất Viên, Thủ Sỹ, Tiên Lữ, Hưng Yên; Lương Hữu Thực, quê Tân Hương, Yên Bình, Yên Bái; Vi Văn Lai, quê Minh Tâm, Minh Tiến, Trấn Yên, Yên Bái. Tám liệt sĩ đều được an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Vinh Trường, huyện Vĩnh Linh. Tôi bị sức ép và chấn thương cột sống. Sư đoàn 3 nguy được coi là lính "thổ địa" ở Bắc Quảng Trị. Dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ bọn địch sư đoàn 3 len lỏi khắp nơi để phát hiện lực lượng, kho tàng của ta và cùng với sư đoàn 25 "tia chớp nhiệt đới" Mỹ tràn ra đánh phá. Trung đoàn 27 chủ lực của Mặt trận B5 đã cùng dân quân du kích Bắc Quảng Trị ngày đêm bám trụ địa bàn hoạt động. Ngày 18 tháng 7 năm 1968, tôi được tiểu đoàn thông báo: "Có một trung đội Mỹ đang đổ quân đi về hướng đồi Độc Lập (Cù Đinh), cho đơn vị xuất kích ngay". Nhận lệnh, tôi trao đổi với anh Bảo chính trị viên: "Anh cho bộ đội làm công tác chuẩn bị xuất kích, tôi và một tiểu đội đi trước nắm địch” Tôi dẫn Tiểu đội 1, Trung đội 1 khẩn trương tiếp cận địch. Đến đồi Độc Lập, quân Mỹ đã chiếm thế cao, muốn tiến công ta phải vượt qua bãi cỏ tranh. Vấn đề đặt ra là phải giữ được bí mật trong quá trình vận động tiếp cận nếu không sẽ bị địch dung phi pháo sát thương, không hoàn thành nhiệm vụ. Khi chính trị viên dẫn bộ đội ra, tôi trao đổi: - Địch đang ở trên cao, nó mới đổ xuống chưa kịp làm công sự. Ta bí mật tiếp cận và bất ngờ tiến công, địch sẽ không trở tay kịp. Đại đội chia làm hai mũi: Mũi thứ nhất tôi chỉ huy đánh chính diện, dùng Trung đội 1 và Trung đội 2, một khẩu cối 60 ly, một trung liên. Anh chỉ huy lực lượng còn lại đánh mũi vu hồi. - Tôi nhất trí phương án của anh, tôi đề nghị cho bộ đội nguy trang kín đáo tiếp cận sát địch, dung cối bắn cấp tập vào đội hình địch. - Anh Bảo bổ sung. - Tôi cũng dự kiến như vậy, phải dùng cối bắn mãnh liệt, tập trung vào đội hình đông đặc của địch sau đó cho bộ đội xung phong. Chúng tôi cho bộ đội ngụy trang kín đáo, hành quân thành hàng một tiếp cận quân địch. 12 giờ 30 phút, mũi của tôi đã đến cách địch khoảng 30 mét, nhưng chúng vẫn không hay biết gì. Có lẽ chúng cho là ban ngày ta chưa thể đến sớm như vậy được. Tôi quan sát thấy quân Mỹ rất chủ quan, chúng đang mở đồ hộp ăn trưa. Lợi dụng cỏ tranh tốt, tôi dẫn từng tổ hình thành thế tiến công và chỉ mục tiêu cho từng người. Tôi ra hiệu cho anh em tiến thêm độ 10 mét. Đúng 13 giờ, tôi lệnh cho chiến sĩ Vũ Công Sơ xạ thủ B40 quê Đăng Xá Cương Chính,Tiên Lữ, Hưng Yên, bắn vào cụm quân Mỹ đang quây quần ăn uống. Chiến sĩ Vũ Công Sơ thực hiện ngay, diệt 5 tên. Tiếp sau đó, cối 60 bắn cấp tập, các loại súng B40, AK thi nhau nhằm vào quân Mỹ mà bắn. Lựu đạn cũng được ném tới tấp. Đội hình địch tan hoang, tôi hô xung phong rồi dẫn đầu đội hình xông thẳng vào quân Mỹ đang cụm bên hố bom. Mũi của chính trị viên đi lạc hướng nên chưa đến kịp. Đội hình đang phát triển thì bị hỏa lực của địch từ sườn đồi bên trái bắn cản. Trung đội trưởng Phạm Ngọc Tính, quê Minh Tiến, Hợp Đức, Kiến Thụy, Hải Phòng và Tiểu đội trưởng Trần Đình Ngụ, quê Phú Mỹ, Thạch Mỹ, Thạch Hà, Hà Anh trúng đạn hy sinh. Đội hình phải dừng lại. Tôi lệnh cho chiến sĩ B40 Vũ Công Sơ nhằm khẩu đại lien của địch đang nhả đạn bóp cò. Thật tiếc, đạn không nổ. Sơ đưa súng cho tôi. Tôi bắn quả đạn thứ hai, đạn nổ, khẩu đại liên địch bị diệt. Tôi lệnh cho anh em tiếp tục tiến công. Tôi dùng AK diệt luôn 3 tên Mỹ, chỉ huy đại đội diệt hơn 20 tên. Số địch còn lại cụm ở phía tây ngọn đồi bắn trả quyết liệt. Quân Mỹ gọi trực thăng vũ trang và pháo binh các nơi bắn đến dữ dội. Tôi cho cối 60 ly bắn chế áp rồi chỉ huy xung phong hai lần nhưng đều bị hỏa lực địch cản, không lên được. Đến 1 5 giờ, quân Mỹ đổ tiếp hai trung đội nữa xuống ngọn đồi bên cạnh. Thấy máy bay trực thăng bay thấp tôi lệnh cho anh em tập trung súng bắn hạ. Hai chiếc trực thăng trúng đạn rơi tại chỗ. Sau khi liều mạng đổ thêm quân, bọn địch chia làm hai mũi đánh sang chi viện cho quân của chúng ở đồi Độc Lập. Chiến sĩ B40 Lê Văn Cận, quê Hợp Đồng, Hồng Lĩnh, Hưng Hà, Thái Bình bị thương nhưng vẫn dùng trung liên bắn chặn một mũi của địch, diệt gần chục tên. Tôi dẫn một tiểu đội đánh tạt sườn phía nam quân Mỹ. Đang vận động thì hỏa lực địch bất ngờ xuất hiện, cánh tay trái tôi bị một viên đạn cực nhanh. Khẩu súng AK rời khỏi tay. Tôi gắng gượng dùng tay phải ném hai quả lựu đạn vào đội hình quân địch và chỉ huy anh em đánh bật quân Mỹ xuống chân đồi. 17 giờ, địch bị thiệt hại nặng, bọn còn lại co sang quả đồi bên cạnh. Chúng dùng cối cá nhân, M79 bắn vào đội hình quân ta. Tôi và một vài anh em nữa bị thương lần thứ hai. Sau đó bọn địch cho máy bay đến ném bom na-pan. Trung đội trưởng Lương Bình Toáng, quê Phán Thủy, Long Mai, Kim Động, Hưng Yên; Y tá Đỗ Xuân Lộc, quê thôn 2, Thạch Đà Yên Lãng, Vĩnh Phúc và chiến sĩ B40 Lê Văn Cận đã anh dũng hy sinh. Mặt trời lặn, quân Mỹ không dám tiến công nữa. Tôi lệnh cho anh em đưa thương binh, tử sĩ về phía sau. Qua một ngày chiến đấu quyết hệt, đại đội tôi đã diệt 65 tên Mỹ, bắn rơi 2 máy bay, thu 15 súng, 1 đài 2W, một bản đồ. Sau trận chiến đấu này, đơn vị tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Tôi cũng được anh em bình chọn và đề nghị tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Do bị thương, tôi phải đi điều trị tại Viện Quân y 43. Sau gần một tháng nằm viện, tôi lại trở về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Thời gian này, trên Mặt trận Khe Sanh quân ta bước vào vây hãm cụm cứ điểm Tà Cơn. Bị vây lấn liên tục, địch phản kích điên cuồng. Trên vùng long chảo Khe Sanh chỉ rộng 34 ki-lô-mét vuông, địch xây dựng ba căn cứ: Tà Cơn, Làng Vây và Hướng Hóa, tạo thành hệ thống phòng ngự hình tam giác khống chế cả một vùng dọc Đường 9 đến giáp biên giới Việt - Lào. Trung bình mỗi ngày dịch huy động 300 lần chiếc máy bay các loại giội xuống hang trăm nghìn tấn bom đạn và bắn tới chục nghìn quả pháo từ 105 ly đến 175 ly (vua chiến trường), nhưng vòng vây quân ta càng xiết chặt. Toàn bộ quân đồn trú của Mỹ phải sống chui rúc dưới hầm. Máy bay vận tải C130 đến tiếp tế và chuyển lính Mỹ chết và bị thương có ngày lên tới 140 lần chiếc, nhưng chỉ 40 lần chiếc hạ cánh được. Máy bay Mỹ phải thả dù tiếp tế cho Tà Cơn, nhưng phần lớn dù rơi vào trận địa quân ta. Trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, ngày 1 tháng 4 năm 1968, địch dùng sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ, 1 chiến đoàn dù ngụy, một tiểu đoàn biệt động quân tất cả là 17 tiểu đoàn (có 13 tiểu đoàn Mỹ) mở cuộc hành quân giải tỏa. Vào lúc này tại Khe Sanh có 9 tiểu đoàn chủ lực của ta hiệp đồng với quân dân huyện Hướng Hoá tiếp tục xiết chặt vòng vây Tà Cơn và chuyển hướng sang diệt viện. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, quân và dân trên Mặt trận Khe Sanh đã diệt 6.200 tên địch, bắn rơi 82 máy bay các loại, phá hủy 21 xe tăng. Cuộc hành quân giải tỏa Tà Cơn của địch bị thất bại. Vòng vây Tà Cơn càng bị xiết chặt, quân đồn trú hoang mang, tuyệt vọng. Trước tình thế có thể bị tiêu diệt hoàn toàn, Mỹ buộc phải rút quân khỏi Khe Sanh. Quân ta tổ chức truy kích diệt và làm bị thương hàng nghìn tên địch, bắn rơi 22 máy bay, phá hủy 69 xe quân sự. Ngày 9 tháng 7 năm 1968, quân ta chiếm cứ điểm Tà Cơn thu hàng nghìn súng các loại hàng trăm tấn phương tiện chiến tranh và giải phóng hoàn toàn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa với hơn mười nghìn dân, mở thông hành lang chiến lược Bắc - Nam. Tin chiến thắng Khe Sanh truyền nhanh khắp thế giới, hãng tin Anh Roi-tơ viết: "Việc quân Mỹ rút chạy khỏi Khe Sanh là một thất bại nặng nề về quân sự và chính trị. Thất bại này đánh dấu sự bất lực của Mỹ trong thế phòng ngư chiến lược làm tăng thêm mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền Mỹ và làm phát triển xu hướng chống lại cuộc chiến tranh xâm lược". Khi biết tin quân và dân ta đã chiến thắng oanh liệt hàng vạn quân tinh nhuệ nhất của Mỹ phải rút chạy khỏi Khe Sanh, ngày 13 tháng 7 năm 1968, Bác Hồ đã gửi điện khen. Bức điện của Bác gửi Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và các vị trong ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam nhân dịp chiến thắng Khe Sanh. Bức điện có đoạn: "Cuộc thắng lợi của ta ở Khe Sanh tỏ rõ mưu lược và sức mạnh vô địch của quân, dân và cán bộ ta, nó góp phần xứng đáng vào thắng lợi, to lớn của miền Nam từ đầu xuân đến nay. Cùng với những thắng lợi của ta ở các chiến trường khác, nó mở đường cho những thắng lợi to lớn hơn nữa. ở miền Bắc, vừa lập chiến công bắn rơi 3.000 máy bay giặc Mỹ, thắng lợi vẻ vang của Khe Sanh càng giục giã quân và dân miền Bắc cố gắng hơn nữa, bắn ra nhiều máy bay giặc Mỹ hơn nữa. Giặc Mỹ tuy thua, nhưng vẫn rất ngoan cố. Đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta phải luôn luôn cảnh giác liên tục đánh mạnh, đánh thắng Nam - Bắc một lòng, ra sức đánh giặc. Thắng lên cuối cùng nhất định về ta. Tôi nhờ Chủ tịch và các vị chuyển đến đồng bào, chiến sĩ và cán bộ toàn miền Nam, đặc biệt là đồng bào, chiến sĩ và cán bộ Mặt trận Khe Sanh là khen ngợi nhiệt liệt nhất". Tuy thất bại phải rút khỏi Khe Sanh nhưng quân địch tập trung lực lượng phản kích điên cuồng gây cho ta nhiều khó khăn, quân số thiếu hụt, lương thực vũ khí, đạn dược đều thiếu, quẩn chúng bị địch khủng bố triền miên, phong trào lắng dần xuống. Đến tháng 8 năm 1968, các đơn vị chủ lực bật ra khỏi đồng bằng. Sau khi bộ đội chủ lực rút lên vùng rừng núi củng cố thì Trung đoàn 27 cùng bộ đội địa phương của tỉnh và du kích bám địa bàn tiếp tục chiến đấu để chiến trường lúc nào cũng có tiếng súng. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 vừa đánh địch vừa tranh thủ củng cố, kịp thời rút kinh nghiệm tìm ra cách đánh thích hợp với từng đối tượng địch. Đây là yêu cầu mới bảo đảm cho đơn vị có sức chiến đấu cao, hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao cho. Trước mắt, Trung đoàn khẩn trương bổ sung quân số cho Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 đang chiến đấu phía trước. Tiểu đoàn 3 nhanh chóng ổn định để tiếp tục bước vào chiến đấu. Các đơn vị tổ chức những phân đội nhỏ, luồn sâu, tiêu diệt địch. Chốt chặn những cao điểm trọng yếu, giữ vững địa bàn đứng chân. việc quán triệt phương châm tác chiến mới của trung đoàn được tổ chức phổ biến cho cán bộ, chiến sĩ toàn đơn vị nhất là các chiến sĩ đang ngày đêm giáp mặt với kẻ thù trên các trận địa. Nhiều chiến sĩ đã viết quyết tâm thư gửi lên cấp trên thể hiện quyết tâm chốt giữ vững chắc để đưa đơn vị luồn sâu vào bắc Đường 9, bảo vệ tuyến đường vận tải vào khu vực cao điểm 425. Nhiệm vụ chiến đấu đòi hỏi Trung đoàn 27 (Đoàn Phan Rang) ngày một khẩn trương, đánh theo yêu cầu đánh để buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó khắp nơi, đánh trong mọi địa hình, mọi thời tiết, đó là đặc điểm nổi bật của trung đoàn trong thời gian này. Ngày 19 tháng 8 năm 1968, được tin một đại đội địch đi càn vào thôn Gia Bình, xã Gio An, đơn vị chúng tôi hành quân đến thôn Gia Bình. Chúng tôi vừa phân công các tổ phục kích xong thì một đại đội Mỹ xộc đúng vào trận địa phục kích. Những tên Mỹ da trắng, da đen cao to, đeo ba lô, trang bị cồng kềnh súng lăm lăm, có tên vì nóng phanh áo ngực. Đợi bọn Mỹ đi đầu đến gần, Tiểu đội phó Đặng Ngọc Du, xạ thủ B40, quê Hồng Sơn, Quỳnh Hồng; Quỳnh Lưu, Nghệ An bóp cò. Sau tiếng nổ ba tên Mỹ ngã gục. Tiếp đến, cối 60, các loại súng trung liên, AK, lựu đạn nổ dồn dập về phía địch. Bị đánh bất ngờ quân địch dừng lại bắn trả. Trung đội trưởng Hồ Phi Hùng, quê Quỳnh Văn, Quỳnh Lưu, Nghệ An dẫn trung đội xông thẳng vào đội hình địch, chia cắt chúng để diệt. Cuộc chiến đấu diễn ra giằng co. Một số chiến sĩ của đại đội hy sinh: chiến sĩ Nguyễn Hồng Quế, quê ở Đồng Lâm, Thái Hòa, Nghĩa Đàn, Nghệ An; chiến sĩ Nguyễn Văn Tiên, quê xóm 4, Quỳnh Hải, Quỳnh Lưu, Nghệ An và chiến sĩ Vũ Văn Thực, quê Lam Sơn, Quỳnh Thọ, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Tim tôi thắt lại, lòng tự nhủ "phải trả thù cho những đồng chí vừa ngã xuống". Tôi dẫn trung đội của Nguyễn Văn Cự (quê Cự ở Hồng Phương, Yên Lạc, Vĩnh Phúc) và khẩu cối 60 ly vòng sang cánh trái. Một cụm quân địch đang tập trung đối phó với quân ta ở hướng chính diện. Tôi ra hiệu cho anh em bí mật tiếp cận. Khi quân địch trong tầm bắn của AK và tầm ném của lựu đạn, tôi ra lệnh tấn công. Ngay loạt trận đầu chúng tôi đã diệt ba tên Mỹ. Các loại súng B40, AK và lựu đạn thi nhau nã vào quân thù. Khẩu cối 60 ly (bắn ứng dụng) cũng rót những quả trận chính xác vào đội hình địch. Sau 20 phút chiến đấu, đại đội Mỹ hầu hết bị tiêu diệt, chỉ còn gần chục tên chạy thoát về căn cứ. Địch cho pháo, cối từ Cồn Tiên, Dốc Miếu, Quán Ngang bắn cấp tập về trận địa. Trung đội trưởng Hồ Phi Hùng, trung đội phó Nguyễn Văn Cự cùng sáu chiến sĩ nữa đã ngã xuống, đó là các đồng chí: Nguyễn Ngọc Thố, quê Ngọc Điền, Quỳnh Tam, Quỳnh Lưu, Nghệ An; Trần Văn Đức, quê Tam Đồng, Quỳnh Tam, Quỳnh Lưu, Nghệ An; Hồ Văn Tổng, quê An Ngọc, Quỳnh Lâm, Quỳnh Lưu, Nghệ An; Nguyễn Ngọc Nam, quê Nghi Trung, Nghị Lộc, Nghệ An; Hồ Đình Ngọc, quê Tân Thắng, Quỳnh Lâm, Quỳnh Lưu, Nghệ - An và Phạm Văn Đảng, quê xóm 15, Quỳnh Sơn, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Khi ngớt pháo địch, chúng tôi đau đớn đưa các liệt sĩ về dưới gốc đa cổ thụ của thôn Gia Bình. Chính dưới gốc đa này hồi đầu tháng 3 năm 1968, quân Mỹ đã hèn hạ xả súng bắn chết Cao Như Thiêm. ở đây có một giếng nước cổ, hình tròn, xếp đá, nước trong mát. Chúng tôi đã lấy nước từ giếng nước này tắm rửa cho anh em và làm lễ an táng tại thôn Gia Bình, xã Gio An, huyện Gio Linh. Đến ngày 13 tháng 9 năm 1968, chúng tôi lại có trận chiến đấu ở thôn Gia Bình. Trận này Đại đội 2 diệt hơn một trung đội Mỹ. Đại đội có bảy đồng chí hy sinh, đó là: Tiểu đội trưởng Phạm Trọng Hội, quê Lương Xá, Thanh Ba, Phú Thọ; Tiểu đội trưởng Trịnh Xuân Lữ, quê xóm 4, Yên Quý, Yên Định, Thanh Hóa; Tiểu đội phó Bùi Xuân, quê Sơn Phú, Thượng Lộc, Can Lộc, Hà 'tinh. Và bốn chiến sĩ là: Nguyễn Văn Hồng, quê Phượng Đỗ, Phúc Thọ, Hà Tây; Lê Văn Thịnh, quê Liên Minh, Nghĩa Thuận, Nghĩa Đàn, Nghệ An; Cao Tiến Xinh, quê Tân Phú, Diễn Phú, Diễn Châu, Nghệ An và Nguyễn Văn Hưng, quê Nhật Tân, Mỹ Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh. Những đồng chí này cũng được đưa về dưới góc đa cổ thụ Gia Bình tắm rửa nước giếng và làm lễ an táng tại thôn Gia Bình, xã Gio An, huyện Gio Linh. Ngày 10 tháng 11 năm 1968, Đại đội 17 cối 82 của trung đoàn đánh một trận rất hay. Nhận lệnh chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ đại đội hành quân lien tục 16 tiếng đồng hồ dưới phi pháo của địch. Đến vị trí, đơn vị triển khai chiếm lĩnh trận địa. Ngay loạt trận đầu tập kích vào căn cứ địch ở Cam Lộ, Đại đội 17 đã diệt và làm bị thương 17 tên Mỹ. Đánh xong đại đội rút quân nhanh, không một ai bị thương vong. Từ thực tế chiến trường, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 27 vừa lo tổ chức đơn vị tham gia chiến đấu ở phía trước, vừa chuẩn bị mọi mặt để đánh liên tục lâu dài. Đơn vị đã mở tiếp các tuyến đường vận tải, tìm vị trí đặt các kho trạm, khẩn trương vận chuyển gạo, đạn, hàng hóa vào địa bàn. Trên bản đồ tác chiến, trung đoàn có thêm những ký hiệu mới về vị trí kho tàng do trung đoàn quản lý. Các đơn vị vận tải cũng mở nhiều con đường mới từ kho Mặt trận, đến các nơi cất giữ hàng hóa trong khu vực tác chiến sắp tới của trung đoàn. Vận tải vũ khí, hàng hóa chủ yếu bằng đôi vai chiến sĩ. Đại đội 22 vận tải của trung đoàn mang hàng vào khu vực tác chiến phải luồn lách qua nhiều vị trí địch. Những lúc gặp địch, anh em vừa cất giấu hàng, vừa cầm súng chiến đấu. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 22 đã từng chiến đấu với bộ binh Mỹ trong các chuyến chuyển hàng vào kho Đồi 300 đất Đồi 300 đá. Có lần gặp địch bất ngờ, lực lượng ta và địch không cân sức, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 22 phải mang cả hàng trên vai đánh địch. Tôi còn nhớ mãi một chuyến hàng "khẩn cấp" của Đại đội 22 chuyển vào đơn vị tôi do Đại đội phó Nguyễn Văn Ty chỉ huy. Sau hai ngày đêm luồn lách, anh em đưa hàng gần đến nơi thì gặp địch. Với quyết tâm diệt địch bảo vệ hàng, đưa hàng lên tận trận địa cho chiến sĩ bộ binh, cán bộ chiến sĩ Đại đội 22 đã đánh trả địch quyết liệt. Nguyễn Văn Ty đã chỉ huy đại đội đánh thắng và chính anh đã dũng cảm vật lộn với một tên Mỹ cao to. Được đồng đội tiếp sức anh đã diệt được tên Mỹ. Nguyễn Văn Ty đã nêu một tấm gương sáng về lòng quả cảm, tinh thần phục vụ tận tụy cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ trung đoàn học tập. Chuẩn bị đủ. vật chất để trung đoàn hoạt động liên tục suốt cả mùa mưa ở chiến trường Bắc Quảng Trị quả là gian lao và mọi việc không kém phần khốc liệt. Lúc này, đơn vị chiến đấu của tôi cũng đồng thời là đơn vị vận tải. Đánh xong một trận lại vận chuyển; vận chuyển xong lại đánh. Tất cả mọi việc đều dồn lên đôi vai mang hàng và đôi tay cầm súng của người chiến sĩ Trung đoàn 27. Đánh suốt bốn mùa, điều tưởng như không thể, nhưng cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 đã làm được. Vì thế, trung đoàn đã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 giao cho: Giữ cho chiến trường Bắc Quảng Trị luôn luôn có tiếng súng. Lúc dồn dập, lúc cầm canh rỉ rả. Chúng tôi đã lợi dụng mưa lũ để hành quân, vận tải tránh thương vong, và chúng tôi cũng lợi dụng lúc trời nổi cơn giông để đưa bộ đội tiềm nhập. Những lúc như thế là những lúc bất ngờ nhất. Trong mưa gió, người chiến sĩ chiến đấu tuy có vất vả hơn nhiều, song đó lại là những đòn bất ngờ giáng xuống đầu quân địch, làm cho chúng kinh hoàng. Trận đánh tháng 12 năm 1968 là trận đánh tập kích quân Mỹ vừa đổ xuống. Hôm đó, từ sang sớm tôi được trên thông báo nhiều khả năng địch sẽ đổ quân xuống cao điểm 333. Đại đội tôi đóng gần cao điểm này. Nhận được lệnh, tôi hội ý Ban chỉ huy và cấp ủy. Sau khi trao đổi, thống nhất phương án, hạ quyết tâm chiến đấu, tôi dẫn các trung đội trưởng đi chuẩn bị địa hình. Chính trị viên ở nhà lo tổ chức bộ đội. Khoảng 9 giờ, trên không xuất hiện' chiếc Li9, sau khi lượn mấy vòng nó bắn đạn khói chỉ điểm cho hai chiếc AD6 đến ném bom, bắn phá khoảng 30 phút. Từ hướng đông xuất hiện một bầy trực thăng hơn chục chiếc, bay gần đến cao điểm 333, hạ độ cao và đổ quân. Tôi bảo liên lạc chạy về báo chính trị viên cho bộ đội xuất kích. Tôi tranh thủ thống nhất phương án chiến đấu với Đại đội phó Nguyễn Văn Bốn (quê anh ở Tượng Sơn, Thạch Sơn, Thạch Hà, Hà Tĩnh và Trung đội trưởng Lê Văn Thuyên (quê anh ở Đội 6, Xuân Lĩnh, Nghi Xuân, Hà Tĩnh). Tôi nói: - Tôi sẽ đi với trung đội của Thuyên, đánh từ phía nam lên. Đi với trung đội này có thêm khẩu cối 60 ly. Anh Bốn cùng với chính trị viên đi với trung đội còn lại. Khi mũi phía nam tiếp cận được địch, nổ súng là hiệu lệnh hiệp đồng tiến công. Tôi vừa nói xong thì Chính trị viên Lê Văn Dy, (quê anh ở xóm Bầu, Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội) dẫn đại đội đến. Tôi nói lại cho chính trị viên phương án chiến đấu. Chính trị viên nói thêm: - Về phương án anh vừa nói, tôi hoàn toàn nhất trí Nhưng anh nhắc bộ đội đi thưa, ngụy trang kín đáo không để địch phát hiện dùng phi pháo oanh tạc, gây thương vong. Tôi yêu cầu mọi người về quán triệt đến từng chiến sĩ phương án chiến đấu và tổ chức hành quân. Tôi và Trung đội trưởng Thuyên đi đầu đội hình. Trên trời, máy bay OV10, L19 vẫn vè vè, thi thoảng chúng phóng rốc-két về phía tây cao điểm. Tôi bảo Thuyên: -Ta chọn hướng tiến công này là chính xác rồi, địch tập trung chú ý về phía tây và phía bắc. Hãy động viên bộ đội đi thưa nhưng không để bị lạc. Đội hình hành quân gần một giờ thì cách địch mấy trăm mét. Tôi cho bộ đội dừng lại triển khai đội hình chiến đấu. Tôi bảo Thuyên: - Điều khẩu cối 60 ly, khẩu B40, B41, trung liên lên đầu đội hình. Mấy phút sau, hai chiến sĩ, một vác khẩu cối, một gùi đạn và các chiến sĩ B40, B41, trung liên có mặt. Tôi dặn anh em: - Khi tôi bắn B40 làm hiệu lệnh, các đồng chí đồng loạt bắn cói, bắn B40, B41, trung liên vào đội hình quân địch rồi xung phong. Tôi dẫn hai chiến sĩ B40 và B4 1 vượt lên chỉ mục tiêu cho họ rồi quay lại nhắc chiến sĩ cối và chiến sĩ trung liên: - Giá súng, lấy tầm, hướng, bắn mười quả đạn, sau đó tháo giá vận động và bắn ứng dụng. Trung liên quan sát mục tiêu, thấy quân Mỹ cụm đông là bắn. - Rõ! Quân Mỹ vừa đổ xuống triển khai đào công sự chiến đấu. Những tên Mỹ da đen mồ hôi nhễ nhại. Những tên Mỹ da trắng phanh áo ngục để lộ đầy lông lá. Thời cơ nổ súng đã đến. Tôi lấy khẩu B40 của chiến sĩ Lê Quốc Đạt (quê anh ở Thạch Linh, Thạch Hà, Hà Tĩnh nhằm vào ba tên Mỹ đang chụm đầu đào công sự bóp cò. Tiếng nổ đanh đầu nòng rồi tiếng nổ trầm đục kế tiếp, ba tên Mỹ nẩy lên, ngã vật. Sau tiếng B40 là các loại súng của ta thi nhau nã đạn vào quân Mỹ. Bị đánh bất ngờ, quân Mỹ choáng váng. Sau vài phút chúng bừng tỉnh, bắt đầu bắn trả quân ta. Trung đội trưởng Lê Văn Thuyên dẫn đầu trung đội đánh vào trung tâm. Anh diệt được 3 tên Mỹ. Mải tấn công, Thuyên không chú ý đến tên Mỹ giả vờ chết. Nó dùng ARI5 bắn từ phía sau. Thuyên ngã xuống. Chiến sĩ Bùi Như Đang (quê Kim Động, Tân Xã, Thạch Thất, Hà Tây) thấy vậy liền xả một loạt đạn, kết liễu tên Mỹ, trả thù cho người trung đội trưởng dũng cảm. Mũi Chính trị viên Dy và Đại đội phó Bốn cũng nhanh chóng tiêu diệt những tên địch ở vòng tiền duyên rồi đánh vào trung tâm. Trong lúc tiến công, Đại đội phó Nguyễn Văn Bốn trúng đạn hy sinh. Y tá Nguyễn Quốc Toàn (quê Vân Duối, Vinh Quang, Tiên Lãng, Hải Phòng) đi sát Chính trị viên Dy bị khẩu trọng liên của địch bắn tạt sườn, trúng đạn hy sinh. Cuộc chiến đấu càng về sau càng ác liệt hơn. Tôi chỉ huy tập trung hỏa lực cả đại đội đánh áp đảo quân Mỹ. Trước sức tấn công của ta, quân Mỹ còn lại tháo chạy về phía nam cao điểm, gọi máy bay, pháo binh oanh tạc vào phía sau đội hình, ngăn quân ta tiến công. Chiến sĩ Lê Quốc Đạt và Bùi Như Đang dính đạn pháo hy sinh. Tôi nghĩ, nếu cứ truy đuổi quân Mỹ, bộ đội sẽ bị thương vong thêm, nên quyết định dừng cuộc chiến đấu thu dọn chiến trường, đưa thương binh, liệt sĩ về phía sau. Đại đội phó Nguyễn Văn Bốn, Trung đội trưởng Lê Văn Thuyên, chiến sĩ mê Quốc Đạt, y tá Nguyễn Quốc Toàn và chiến sĩ Bùi Như Đang được đưa về an táng tại chân cao điểm 333. Trận tập kích này, đại đội tôi tiêu diệt hơn 30 tên Mỹ, thu 12 súng, một máy vô tuyến điện PRC25. Đại đội hy sinh năm đồng chí, bảy đồng chí bị thương nhẹ. Đơn vị đang củng cố thì được lệnh hành quân gấp ra cao điểm Động ông Cay nằm ở bờ nam sông Bến Hải, nơi ta đặt trận địa pháo bắn vào Đông Hà, ái Tử, Quán Ngang, Dốc Miếu. Do địch phát hiện được trận địa, biết ta hết đạn, chúng cho trực thăng đổ quân xuống, định cướp pháo của ta nên Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 của tôi được lệnh ra bảo vệ trận địa pháo này. Thời gian này đang vào mùa mưa, những con suối Khe Khỉ, Khe Nhì nước dâng cao chảy xiết, đơn vị phải dùng dây song nối hai bờ suối làm chỗ dựa cho anh em vượt qua. Khi chúng tôi đến địa điểm đã định xây dựng công sự, trận địa vừa xong thì cũng là lúc địch cho máy bay ném bom phát quang làm trụi đỉnh đồi Động ông Cay. Chúng còn cho pháo binh chần nát các khu vực lân cận. Chúng tôi nằm im chờ đợi. Tưởng chừng đã tiêu diệt hết sự sống trên mặt đất, khoảng 9 giờ ngày 11 tháng 12 năm 1968, địch cho từng tốp trực thăng UHIA bay đến hạ thấp độ cao, đổ quân. Lúc này tôi lệnh cho khẩu cối 82 ly và cối 60 ly bắn cấp tập vào đội hình của chúng. Bị đòn bất ngờ, một máy bay trực thăng trúng đạn bốc chảy. Quân Mỹ chết la liệt, nhưng chúng vẫn ngoan cố chưa từ bỏ ý đồ cướp pháo. Chúng tiếp tục đổ quân. Cuộc chiến đấu giữa Đại đội 2 với đại đội quân Mỹ diễn ra quyết liệt Cán bộ, chiến sĩ ta kiên cường dùng B40, B41, súng AK chặn đứng các đợt tiến công của quân Mỹ. Cuộc chiến đấu kéo dài từ 9 giờ đến 16 giờ, bị tổn thất nặng quân Mỹ buộc phải cho trực thăng đến bốc quân và nhặt xác những tên lính Mỹ xấu số Đại đội 2 có ba đồng chí hy sinh, đó là: Tiểu đội trưởng Nguyễn Minh Thái, quê Võng La, Đông Anh, Hà Nội, Tiểu đội phó Lê Văn Đồng, quê Đông Phái, Diễn Hoa, Diễn Châu, Nghệ An và Tiểu đội phó Hoàng Đình Uyển, quê Hoàng Mai, Thanh Trì, Hà Nội. Ngay trong đêm, Bộ tư lệnh Mặt trận B5 lệnh cho đơn vị pháo binh đưa xe vào cao điểm Động ông Cay kẻo pháo về bờ bắc sông Bến Hải. Những ngày cuối năm 1968, tình hình càng trở nên khó khăn do việc tiếp tế từ hậu phương vào bị cản trở do gặp phải nước lũ các sông, suối ở bắc Quảng Trị và bị địch đánh phá. Có kẻ bạc nhược, đầu hàng địch đã khai báo việc ta cho gạo vào bao nylon thả từ đầu nguồn sông Ba Lòng, các đơn vị ở dọc bờ sông cứ thế mà vớt. Thế là bọn địch cho máy bay trực thăng cán gáo bay dọc sông, cứ thấy bao gạo nổi là bắn làm nguồn tiếp tế duy nhất trên song của bộ đội ta bị gián đoạn. Trước tình hình đó, Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 của tôi căng óc nghĩ các phương án làm thế nào để có lương thực, thực phẩm nuôi cả trăm con người, trong đó có gần sáu mươi thương binh. Tôi bàn với ban chỉ huy, cử tổ trinh sát ba người và năm chiến sĩ khỏe, hoạt bát lên can điểm 710, nơi địch vừa đổ quân và hàng hóa xuống để moi nguồn lương thực, thực phẩm. Hôm đầu anh em mò vào kho quân lương của địch lấy được tám gùi hàng, có cả thịt hộp, thuốc lá. Ba đêm sau, cũng phương thức như vậy anh em lấy được 24 gùi nữa. Đêm thứ năm, khi đã cho thịt hộp vào gùi, trên đường ra bất ngờ anh em gặp tên Mỹ đi tuần tra, nó kêu: Vi xít Vi xi! Vi xi! Thế là anh em đeo cả ba lô lăn xuống dốc. Đến lưng chừng anh em vướng vào mấy bụi chuối rừng mắc lại. Không ai việc gì. Địch cho pháo bắn một hồi lâu dọc theo khe suối rồi thôi. Cả đại đội lấy rau môn thục, rau tàu bay, rau đớn, rau sam đá về nấu với thịt hộp. Mỗi nồi anh em còn cho thêm một bánh lương khô. Thế là bằng số thực phẩm lấy được của địch, anh em cũng nuôi nhau được gần một tháng cho đến khi Mặt trận cử chín trinh sát mang theo gạo vào Đại đội 2. Sau đợt này tôi cho anh em lấy thịt hộp chôn giấu ở Kiềng và các điểm dừng chân để đến khi gặp khó khăn bị bao vây phong tỏa, có cái để dùng, để sống và chiến đấu. Vào những ngày cuối tháng 12 năm 1968, một hôm tôi dẫn một trung đội đi trinh sát khu vực núi Hồ Khê và núi Đá Bạc thuộc xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ. Phía tây núi Đá Bạc, là con suốt La La chảy quanh đồi Không Tên. Ở khu vực núi Hồ Khê và núi Đá Bạc, ta và địch đã nhiều lần chạm trán với nhau. Đại đội tôi cũng đã đánh hàng chục trận với quân Mỹ, khi thì tập kích, lúc phục kích, đặt mìn, dùng pháo cối. Khi chúng tôi đến khu vực Đồi Dùi, cách núi Hồ Khê 500 mét, thì phát hiện một trung đội thám báo Mỹ. Lúc này, trời đã về chiều, tôi quan sát thấy lính Mỹ đang đào công sự. Tôi nghĩ, thế nào nó cũng ở lại. Tôi tiếp tục cho anh em bám địch. Khi trời tối hẳn, quân Mỹ bí mật di chuyển cách Đồi Dù vài ba trăm mét, xuống một khe suối, nơi mà anh em chúng tôi cũng dự kiến sẽ nghỉ đêm lại đó: Tôi thầm nghĩ: Thì ra nó sợ quân ta tập kích, nên tránh đòn đây mà. Tôi bàn với hai tiểu đội trưởng, đúng 4 giờ sáng, lúc quân Mỹ ngủ say nhất ta sẽ tập kích. Cả đêm tôi không ngủ, thi thoảng lại nhìn đồng hồ. 4 giờ kém 15, tôi đánh thức anh em dậy chuẩn bị chiến đấu. ánh trăng hạ tuần cũng đủ soi sáng những mái nhà bạt do quân Mỹ dựng vội. Khi đội hình đã sẵn sàng, tôi lệnh cho chiến sĩ Dần xạ thủ B40 nhằm chiếc nhà bạt to nhất bắn một quả đạn làm hiệu lệnh tiến công. Sau tiếng nổ, chiếc nhà bạt bung cháy, năm tên Mỹ bị diệt. Anh em thi nhau bắn B40, súng AK, ném lựu đạn vào các nhà bạt khác. Bị đánh bất ngờ, quân Mỹ không kịp trở tay, một trung đội thám báo Mỹ bị anh em chúng tôi diệt gọn. Trận đánh kết thúc. Tôi cho anh em theo khe suối cạn Hồ Khê rút về an toàn. Đợt ba của cuộc Tổng tiến công năm 1968, Đại đội 2 chỉ còn 15 tay súng, ba quả B40, mỗi người còn hơn băng đạn và vài quả lựu đạn. Tôi báo cáo tình hình đơn vị lên cấp trên, được cấp trên đồng ý cho đơn vị rút ra củng cố lực lượng, rút kinh nghiệm chiến đấu. Chúng tôi tổ chức cho anh em hành quân. Khi đến Hồ Khê, Đá Bạc chúng tôi phát hiện một đại đội lính nguy (sau này chúng tôi được biết đại đội này thuộc trung đoàn Hà Mã). Đại đội nguy chốt ở một làng đã bỏ, chặn con đường rút của ta qua sông Cam Lộ. Chúng tôi bí mật tiếp cận quan sát thì thấy chúng đang giết lợn của dân, đun nấu, khói mù mịt. Tôi bàn với cán bộ chỉ huy đại đội: - Tối nay, thế nào địch cũng sẽ nghỉ lại ở đây. Xem ra chúng chủ quan lắm, đang xúm vào nấu ăn. Ta đánh hay tìm đường tránh? - Đánh thì được. Nhưng nếu xảy ra thương vong thì giải quyết sao? - Chính trị viên đại đội băn khoăn. - Tôi cũng đã nghĩ đến tình huống này rồi. Cố gắng đánh chắc thắng, không để xảy ra thương vong. Còn ba quả B40, ta sẽ bắn vào ba nhà bạt, sau đó dùng AK, lựu đạn diệt những tên sống sót. Đại đội chia thành ba tốp, mỗi tốp năm người, yểm trợ cho nhau. Quyết tâm đánh địch được mọi người nhất trí cao. Mặt trời vừa lặn. Một cơn mưa bất chợt đổ xuống, quân nguy chui cả vào nhà bạt. Thời cơ diệt địch đã đến. Tôi lệnh cho xạ thủ B40 bắn vào chiếc nhà bạt trung tâm, liền sau đó hai chiến sĩ B40, bắn nốt hai quả đạn vào hai nhà bạt còn lại. Quân ngụy bị đánh bất ngờ nên vô cùng hoảng loạn, những tên bị thương la ó. Chúng tôi tập trung súng AK, lựu đạn đánh dồn dập. Những tên ngụy sống sót cắm đầu cắm cổ tháo chạy không dám quay lại chống trả. Trận đánh diễn ra chưa đầy 10 phút, chúng tôi hoàn toàn làm chủ trận địa. Khi anh em qua bếp thấy thịt lợn bọn địch luộc còn dở trong xoong, cậu Thuần nhanh tay cho những miếng thịt lợn luộc vào đầy chiếc ba lô ngụy. Thuần mải quá quên nóng, thịt lợn làm phồng rộp cả lưng. Chúng tôi đi ngược dòng sông Cam Lộ đến chân cao điểm 400 thì trời sáng. Tôi cho anh em dừng lại. Đơn vị chỉ có hai chiến sĩ bị sái chân do ngã, còn lại đều an toàn. Hôm sau, qua tin kỹ thuật ta nắm được địch thú nhận chúng bị thương vong nặng nề, số sống sót chạy được về Cam Lộ vẫn chưa hết kinh hoàng. Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 27 được lệnh ra phía sau củng cố nửa tháng rồi lại trở vào chiến đấu. Từ khi vào Bắc Quảng Trị tham gia chiến đấu, tôi đã chỉ huy trung đội rồi đại đội đánh 36 trận bằng các hình thức chiến thuật: Tập kích, vận động tiến công kết hợp chốt, phục kích, vây ép, đánh giao thông ở Đường 9, Đường 76, đánh vận động. . . trên khắp chiến trường Bắc Quảng Trị từ cao điểm 288, cao điểm 135, cao điểm 137, cao điểm 113, cao điểm 84, cao điểm 333 đến Động ông Cay, bãi Tân Kim … Trong các trận đánh đó, chúng tôi đã diệt và đánh thiệt hại nặng bảy trung đội Mỹ, phá hủy 11 xe quân sự bắn rơi năm máy bay, thu nhiều súng và máy thông tin PRC25. Trong các trận chiến đấu kể trên, bản thân tôi diệt 32 tên Mỹ, ngụy thu năm súng ARI5, một máy vô tuyến PRC25, một bản đồ quân sự. Chiến thắng của quân và dân ta trên chiến trường Bắc Quảng Trị trong năm 1968 có sự đóng góp của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 - Trung đoàn Đỏ Xô-viết - Nghệ Tĩnh. Ngày đêm trung đoàn bám đất, bám dân, bám địch, tạo thế chiến trường, tích cực đánh địch hết mùa khô đến mùa mưa làm cho địch phải căng ra đối phó. Sau một năm chiến đấu trên chiến trường Bắc Quảng Trị nóng bỏng, Trung đoàn 27 đã thực sự trưởng thành, xứng đáng với sự tin cậy của đồng bào và những đơn vị bạn đang chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị anh hùng. Nhớ đến năm 1968 ở Quảng Trị, cùng với những người chiến sĩ xung kích tôi không thể không nói đến các anh, các chị văn nghệ sĩ. Dù thời gian có thể làm nhạt nhòa quá khứ, nhưng có một điều mãi mãi đọng lại trong tâm hồn, mạch sống của mỗi con người đã một thời gắn bó với mảnh đất khốc liệt vào bậc nhất của chiến trường miền Nam đó là những ca khúc viết về Quảng Trị thời gian này. Những giai điệu nhuốm màu lửa khói đã ngân lên giữa đất trời Quảng Trị: "Ai đã tới miền quê em Quảng Trị - Thừa Thiên. Qua Đường Chín, tình Gio Linh lắng trong giọng hò …” (Tiếng hát trên đường quê hương - Huy Thục). Câu hát như bật từ máu lửa bay lên. Một loạt bài hát ra đời trong năm 1968 đã kịp thời khích lệ động viên tinh thần chiến đấu của quân dân Quảng Trị: Chào Đường Chín anh hùng, Con suối La La (Huy Thục); Bài ca Đường chín chiến thắng (Văn Dung); Bài ca Vĩnh Linh (Hoàng Vân); Rừng xanh nàng riêng Ta Lư (Phương Nam)... Bất cứ ở đâu, những người lính đều có chỗ dựa vững chắc, đó là Bà mẹ Việt Nam. Mẹ không chỉ là một biểu tượng đẹp đẽ mà còn là một hiện thực đầy sinh động. Có sống trong những năm tháng giữa bom đạn mù trời ở Quảng Trị mới cảm nhận hết nỗi đau và niềm tự hào về tấm lòng của người mẹ nơi đây: Mảnh đất thân thương hiền lành giản dị. Vẫn thơm tiếng mẹ Quảng Trị quê ta . . . Mẹ đón quân ta về nhà nghỉ lại. Cầm tay mẹ nói giải phóng quân ta . . . " (Quân reo quê mẹ Quảng Trị anh hùng - Trọng Loan). Không ồn ào mà lắng đọng, dạt dào lòng mẹ. Chính sự mộc mạc, chân thành giản dị trong lời ca và giai điệu đã làm cho bài hát sống mãi với thời gian. Anh Huy Thục viết bài "Tiếng đàn Ta Lư" là một bài hát mô tả những người con gái Pa Cô yêu đời ôm đàn đi đánh giặc. Vui là thế, vậy mà ai biết rằng anh đã viết bài hát đó trong một hoàn cảnh đau buồn, chung quanh là bom đạn, lửa khói và máu đổ. Anh Huy Thục tâm sự: - Một buổi sáng mùa xuân 1968, đại đội nữ thanh niên xung phong hy sinh gần hết sau một trận bom dữ dội kéo dài hàng tiếng đồng hồ. Chị em gắng sức giữ cho được cung đường hiểm yếu. Tôi đã khóc, khóc ròng rã một buổi chiều rồi lặng lẽ ngắt một bó hoa rừng đi viếng mộ các chị dưới một cánh rừng thuộc huyện Hướng Hóa. Không thể buồn mãi được, buồn thế này làm sao có thể đàn hát cho chiến sĩ. Nghĩ vậy, tôi liền ôm lấy cây đàn ghi ta lập tức tung lên những nốt nhạc rộn ràng. Bài hát "Tiếng đàn Ta Lư" ra đời như vậy đó. Cho đến tận bây giờ, trong tôi vẫn vang lên những giai điệu, lời ca hoành tráng trong những ngày kháng chiến chống Mỹ - Dấu ấn đậm sâu của một thời Quảng Trị hào hùng. |
| < Prev | Next > |
|---|



