Một thời Quảng Trị_Chương III PDF Print E-mail
Written by lichsuvn.info   
Friday, 05 December 2008
Chương 3
Chiến đấu trên tuyến hàng rào điện tử Mac-na-ma-ra
Bị thất bại nặng nề trong cuộc "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam và cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc nước ta, ý chí xâm lược của Mỹ đã lung lay. Cuối năm 1968, đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, đơn phương tuyên bố ngừng ném bom bắn phá không điều kiện đối với miền Bắc nước ta. Tổng thống Mỹ Giôn-xơn không ra tranh cử nhiệm kỳ 1968 - 1972. Ních-xơn trở thành tổng thống nước Mỹ. Ông ta đề ra "Học thuyết Ních-xơn", thay đổi chiến lược quân sự của Mỹ từ "phản ứng linh hoạt" sang "ngăn đe thực tế!".
Đối với miền Nam nước ta, Nỉch-xơn thay chủ trương "Phi Mỹ hóa chiến tranh" của Giôn-xơn bằng chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh" mà mục tiêu cơ bản vẫn là bám giữ Việt Nam, ngăn chặn phong trào cách mạng ở Đông Dương và Đông Nam Á, đồng thời giảm bớt sự can thiệp trên bộ của bộ binh và tránh một thất bại nhục nhã cho Mỹ. Thực chất chủ trương này vẫn là dùng người Việt đánh người Việt, dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương với bom đạn và sự chỉ huy của Mỹ, nó gắn liền với một chiến lược toàn cầu đầy tham vọng của Nhà Trắng.
Học thuyết Ních-xơn được đem thí nghiệm đầu tiên ở Việt Nam. Với những cố gắng rất lớn, địch tập trung lực lượng tiến hành một cách tàn bạo và xảo quyệt ba hình thức mà chúng gọi là: chiến tranh giành dân, chiến tranh bóp nghẹt và chiến tranh hủy diệt. Chúng kết hợp các thủ đoạn chính trị, kinh tế, văn hóa với chiến tranh gián điệp, chiến tranh tâm lý để xóa bỏ hạ tầng cơ sở của ta, xây dựng hạ tầng cơ sở của chủ nghĩa thực dân mới.
Trên chiến trường Bắc Quảng Trị, bước sang năm 1969, đế quốc Mỹ bắt đầu thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", chúng cố gắng đưa dần quân ngụy ra vòng ngoài, quân Mỹ sẵn sàng ứng cứu khi cần thiết, đồng thời chi viện hỏa lực tối đa để giữ và củng cố tuyến phòng thủ của chúng. Trong phòng tuyến Đường 9, tướng Mỹ Abram chủ trương đưa bộ binh cơ giới Mỹ ra để thực hiện âm mưu này. Thực hiện kế hoạch do Abram vạch ra, địch khai thông và mở rộng nhiều tuyến đường phục vụ cho việc cơ động nhanh chóng lực lượng bộ binh cơ giới. Những chiếc máy húc khổng lồ cùng binh lính Mỹ được tức tốc điều ra Quảng Trị làm đường cho xe tăng đi từ Cửa Việt, Đông Hà, Dốc Sỏi, Cam Lộ đến Phu-lơ (cao điểm 544). Nhiều con đường quân sự làm gấp đến các cao điểm quan trọng ở phía bắc Đường 9 được hình thành. Nhà cửa, vườn ruộng của nhân dân đều bị nghiền nát dưới xích xe tăng Mỹ. Đồi núi phía bắc Đường 9 lúc này ngày đêm rung chuyển bởi tiếng nổ của các loại động cơ. Từ cuối năm 1968, lợi dụng lúc lực lượng ta trên chiến trường gặp khó khăn tạm thời, Mỹ - ngụy tập trung lực lượng lớn phản kích đẩy lùi chủ lực ta ra khỏi các địa bàn quan trọng. Chúng còn đánh sâu vào vùng rừng núi phía tây hòng làm cho quân ta hết khả năng tiến công lớn xuống đồng bằng, đô thị. Tại chiến trường Bắc Quảng Trị, cuối năm 1968, các đơn vị chủ lực của Bộ đều rút lên núi và ra phía bắc giới tuyến, chỉ còn Trung đoàn 27 và các lực lượng bộ đội tỉnh cùng du kích bám trụ hoạt động. Trung đoàn 27 được giao nhiệm vụ là đơn vị chủ lực cơ động của Mặt trận B5.
Trước những chủ trương quân sự mới của tướng Abram, Bộ tư lệnh Mặt trận B5 giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 27: Xây dựng đơn vị thành lá cờ đầu về tiêu diệt xe cơ giới Mỹ đánh bại chiến thuật "Trâu rừng" ("Trâu rừng" là cách gọi của các nhà quân sự
Mỹ ở Sài Gòn). chiến thuật "Trâu rừng" mà quân Mỹ áp dụng, là: Ban ngày chúng cho xe tăng và xe bọc thép tổ chức thành nhiều mũi, đi càn khắp nơi, tối đến chúng bí mật cho xe cụm lại xung quanh các vị trí quan trọng của từng khu vực. Cứ mỗi lớp xe lại có một lớp lính nằm quây lại với nhau. Nếu bị đối phương tiến công, xe tăng vừa là hỏa lực chi viện, vừa là công sự cho lính bộ binh chống trả. Cái "bẫy" làm bằng vỏ thép ấy được lính Mỹ giăng ra khắp nơi, nhằm bảo vệ tuyến "hàng rào điện tử Mác Na- ma-ra" ở phía bắc Đường 9, ngăn chặn quân ta tiến công khi mùa khô đến.
Tôi xin dành ít dòng để nói về hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra này. "Hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra" được ra đời từ ý tưởng của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Mác Na-ma-ra, với ý đồ phải "chặn đứng mọi nguồn tiếp tế từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam". Từ tháng 3 năm 1966, chính phủ Mỹ tổ chức một nhóm nghiên cứu gồm 47 nhà khoa học kỹ thuật quân sự hiên đại để tìm biện pháp mới. Mác Na-ma-ra được giao nhiệm vụ trực tiếp theo dõi, chỉ đạo nội dung nghiên cứu.
Sau ba tháng làm việc khẩn trương, một đề án xây dựng phòng tuyến dọc theo khu phi quân sự bằng những phương tiện vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại nhất thời đó của quân đội Mỹ đã ra đời. Cuối tháng 6 năm 1966, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ công bố quyết định xây dựng phòng tuyến. "Hàng rào điện tử" được báo chí Mỹ đặt cho đủ thứ tên "Phòng tuyến Mác Na-ma-ra", "Tuyến Ma-di-nô phương Đông". Dự chi cho công trình đồ sộ này khoảng 2 tỷ đô la.
Với mục đích ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc vào miền Nam, hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra kết hợp với không quân có nhiệm vụ nhịp thời phát hiện và ném bom hủy diệt ngay lập tức từng tốp người, từng chiếc xe, từng khẩu pháo, từng kiện hàng từ miền Bắc đưa vào miền Nam bằng đường Hồ Chí Minh dù bạn chuyển theo trục đường phía đông hay phía tây Trường Sơn". Mỹ cho rằng "hàng rào điện tử" hiện đại này sẽ loại trừ được khả năng đột nhập của quân đội Bắc Việt Nạm vào Nam Việt Nam.
Phòng tuyến Mác Na-ma-ra với hệ thống vật cản dày đặc, các thiết bị trinh sát điện tử mặt đất và trên không hiện đại cùng một hệ thống phòng ngư gồm 17 căn cứ bố trí liên hoàn trong khu vực có chiều dài khoảng 100 ki-lô-mét, rộng từ 10-20 ki-lô-mét từ cảng Cửa Việt lên Đường 9 đến biên giới Việt – Lào được Mỹ cho là "bất khả xâm phạm".
Địch duy trì ở đây một lực lượng phòng ngư khá mạnh để kiểm soát phòng tuyến suốt ngày đêm. Lực lượng địch sử dụng gồm hai sư đoàn, trong đó có một sư đoàn quân Mỹ và ba trung đoàn quân nguy, chưa kể lực lượng bảo an dân vệ. Ngoài lực lượng bộ binh còn có lực lượng pháo binh và xe tăng thiết giáp mạnh. Máy bay tiêm kích, cường kích liên tục bay lượn sẵn sàng tiêu diệt mọi mục tiêu vượt qua phòng tuyến. Máy bay ném bom chiến lược B.52 cũng sẵn sàng hoạt động đánh phá.
Về hệ thống vật cản của phòng tuyến, Mỹ xây dựng khoảng 12 ki-lô-mét hàng rào kẽm gai từ cứ điểm Cồn Tiên xuống bờ biển Đông. Chiều rộng khoảng 10-20 ki-lô-mét trong đó bố trí các bãi mìn chống bộ binh, chống tăng. Từ phía tây Cồn Tiên 1 ki-lô-mét lên biên giới Việt - Lào, địch phát quang cây coi bằng chất độc hóa học; gài, rải các bãi mìn chống bộ binh, chống xe cơ giới và gài các sen-sơ để phát hiện mục tiêu.
Máy trinh sát vô tuyến được trang bị cho "hàng rào điện tử" để phát hiện mục tiêu có nhiều loại, có loại thả từ máy bay xuống như ACOUBOUY, ADSID-I, HELOSID-18, SPIKSTD-I. Đây là những máy cảm ứng âm thanh, cảm ứng địa chấn được thả từ máy bay trực thăng hoặc máy bay F4, đùng để phát hiện người, tiếng động trong cự ly từ 300 mét đến 400 mét. Có loại máy trinh sát được đặt bằng tay hoặc đặt bằng máy móc như: ARERUOY-IINBB, GSID, MINISID. Các loại máy này rất tinh vi, có khả năng phát hiện các tiếng động dù là nhỏ nhất của người hoặc xe cộ ở cự ly từ 100 mét đến 300 mét. Có loại máy trinh sát được phóng từ súng cối 81 ly như MODS, có thể phát hiện tiếng động của người từ 30 mét đến 50 mét, xe cộ từ 200 mét đến 400 mét. Khoảng 300 máy loại này đã được Mỹ trang bị cho "phòng tuyến Mác Na-ma –ra”
Ngoài ra, Mỹ còn sử dụng loại máy trinh sát hữu tuyến RPS, máy báo hiệu kiểu P dùng cho các bốt gác lô cốt và chôn xuống đất dọc theo phòng tuyến, cứ 500 mét đến 700 mét chúng bố trí một máy, tất cả có khoảng 700 máy. Các máy điện tử trong hệ thống trinh sát tại phòng tuyến có nhiệm vụ phân tích tiếng động để phân biệt người hay xe cộ xác định chính xác tọa độ, thời gian từ nguồn phát ra tiếng động ấy, sau đó truyền đến Trung tâm kiểm soát chiến trường để điều lực lượng đến tiêu diệt.
Ngay từ khi địch mới lập hàng rào điện tử, bộ đội địa phương và dân quân du kích huyện Gio Linh, Tiểu đoàn 47, Tiểu đoàn 4 (Tỉnh đội Vĩnh Linh), tiêu biểu là đội du kích do xã đội trưởng Trương Quang Thọ (Gio Linh) chỉ huy đã liên tục đánh phá, tiêu diệt một số lính công binh Mỹ làm cho tiến độ thi công chậm lại. Tuy nhiên Mỹ vẫn thiết lập được "hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra". Nhưng qua thực tế sử dụng nó đã tỏ ra không có hiệu quả nếu không nói là bất lực trong việc thực hiện ý đồ chiến lược của chính phủ Mỹ là ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc vào miền Nam Việt Nam.
Trên thực tế, các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại bậc nhất của Mỹ lúc đó mới chỉ làm bị thương và tiêu hao một số xe cộ vận chuyển hàng hóa của ta, gây cho ta một số khó khăn, tổn thất nhất định, nhưng chưa bao giờ "chặn đứng mọi nguồn tiếp tế từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam" như chỉ thị của tổng thống Mỹ Ních-xơn cho bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Mác Na-ma-ra và chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân, tướng Uy-lơ.
Trở lại nhiệm vụ chiến đấu của Trung đoàn 27. Trong lúc đơn vị tranh thủ huấn luyện, các đoàn cán bộ, trinh sát vẫn len lỏi bám sát và nghiên cứu địa hình ở khu vực hoạt động của trung đoàn từ tuyến đường 76 đến phía 'tây cao điểm 544 và vào sát Đường 9.
Theo chỉ thị của Bộ tư lệnh Mặt trận B5, đầu năm 1969 cả Trung đoàn 27 bước vào chiến đấu. Trung đoàn phân công từng khu vực tác chiến cho các tiểu đoàn. Yêu cầu của Bộ tư lệnh Mặt trận B5 là: Các đơn vị nổ súng càng sớm càng tốt.

Để đối phó với thủ đoạn chiến thuật mới của Mỹ, tìm ra cách đánh mới cán bộ, chiến sĩ đơn vị phải bám sát từng cụm xe của địch suốt ngày đêm với phong lương khô, nắm gạo rang và bi đông nước. Mọi người phải luồn lách, chống chọi với bom pháo và thám báo địch, giữ bí mật an toàn, nghiên cứu tìm ra cách đánh cụm xe cơ giới Mỹ. Trung đoàn xuất kích đúng vào dịp Tết Nguyên đán. Đêm 30 Tết, mấy anh em chúng tôi nằm trong căn hầm dã chiến mở chiếc ra-đi-ô Sony (thu được của địch) nghe Bác Hồ chúc Tết. Tiếng Người trầm ấm vang lên:
Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào
Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn!
1.1.1969

Cho đến tận ngày hôm nay, trong tôi vẫn còn vang vọng lời bài thơ chúc Tết thiêng liêng ấy của Bác Hồ. Trong tâm khảm của mình, tôi ý thức được rằng Bác đã chỉ ra cho quân dân ta mục tiêu và phương châm chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ: "Đánh cho Mỹ cút" rồi "đánh cho ngụy nhào". Từ đó tôi luôn luôn suy nghĩ và hành động theo tư tưởng chỉ đạo của Người. Phải đánh cho Mỹ thật đau, buộc chúng phải cút khỏi miền Nam nước ta. Mỹ cút rồi thì ngụy chắc chắn phải nhào thôi.
Đầu tháng 2, Trung đoàn 27 lần lượt tổ chức cho các đơn vị hành quân vào đứng chân ở các khu vực được phân công. Trước khi đưa bộ đội vào chiến đấu các đơn vị đều cử cán bộ cùng trinh sát nắm địch và chuẩn bị phương án tác chiến. Tuy địa bàn hoạt động rộng nhưng các tiểu đoàn đều có phương án chủ động đánh địch khi có thời cơ. Việc bám địch để đưa đơn vị vào nổ súng trong buổi đầu thật vô cùng khó khăn. Một vài đơn vị đã đánh hụt vì chưa nắm chức thủ đoạn đối phó của địch. Xe tăng và bộ binh Mỹ ban ngày thường nống ra, tối đến chúng bí mật co cụm, lẩn tránh. Đã một tuần qua đi kể từ khi trung đoàn bước vào chiến đấu, một số phân đội nhỏ đã tổ chức đánh địch, nhưng hiệu suất chưa cao. Cán bộ đại đội, tiểu đoàn mặt mày hốc hác vì suốt ngày đêm bám địch để tìm ra quy luật hoạt động của chúng. Cả Tiểu đoàn 1 đã vào sâu nhưng vẫn chưa đánh được trận nào thật sự có hiệu quả.
Ban chỉ huy Tiểu đoàn 1 quyết định toàn đơn vị sẵn sàng nổ súng bất kể ngày đêm. Quyết định đó của tiểu đoàn được toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong tiểu đoàn nhất trí cao. Chính các chiến sĩ cũng đang nóng lòng sau những ngày lặn lội tìm địch hết cao điểm này, đến cao điểm khác. Cán bộ, chiến sĩ ở các đại đội dường như quên ăn, quên ngủ vì lo bám nắm địch để được đánh. Đi trinh sát, anh em gặp địch thường xuyên, nhưng để tổ chức đánh một trận tập kích diệt gọn thật là phức tạp. Vừa chập tối bọn địch đã lẩn như chạch, lúc ở đồi này, lúc sang đồi khác.
Mờ sáng ngày 28 tháng 2 năm 1969, đài quan sát báo về chỉ huy tiểu đoàn: Xe tăng và bộ binh địch từ phía núi Đá Bạc đang nống ra phía bắc núi Hồ Khê, cách nơi trú quân của Đại đội 2 khoảng 500 mét đường chim bay.
Ngay phiên liên lạc vô tuyến đầu tiên của buổi sáng ngày 28 tháng 2, chỉ huy Đại đội 2 và Đại đội 3 chúng tôi đã nhận được lệnh của tiểu đoàn: cho bộ đội sẵn sàng xuất kích về phía Hồ Khê. Cùng lúc, tiểu đoàn cũng lệnh cho đại đội hỏa lực trợ chiến bố trí ngay trận địa, sẵn sàng chi viện cho bộ binh. Sau khi hội ý chớp nhoáng, ban chỉ huy tiểu
đoàn thống nhất dùng cao điểm 68 làm trận địa xuất phát tấn công, đánh xong trận đầu, trụ lại để tiếp tục diệt địch.
Cán bộ Đại đội 2 và Đại đội 3 chúng tôi đã có mặt nhận nhiệm vụ cụ thể của ban chỉ huy tiểu đoàn. Bộ đội cũng đã hành quân cấp tốc triển khai theo hướng tiến công vào cao điểm 68. Cán bộ từ trung đội trở lên được lệnh đi bám địch. Chiến sĩ truyền đạt tỏa xuống các hướng để truyền đạt mệnh lệnh. Máy vô tuyến điện tạm thời ngừng hoạt động, chỉ dùng tín hiệu để giữ bí mật. Tất cả đều khẩn trương, lặng lẽ triển khai thực hiện nhiệm vụ.
Lúc này, ta và địch chỉ cách nhau vài trăm mét. Xe tăng và lính Mỹ hành quân theo đúng bài bản của quân đội Mỹ. Qua máy thông tin, tiểu đoàn nhận được tín hiệu xin nổ súng của các đại đội. Ngay lập tức lệnh nổ súng được truyền tới. Cối 82 ly của ta bắn dồn dập. Lính Mỹ đang nháo nhác thì bất thần các chiến sĩ bộ binh xông lên, dùng B40, B41 bắn vào những chiếc xe tăng. Xe tăng địch bị cháy, khói đen cuộn lên như những chiếc nấm khổng lồ. Các chiến sĩ ta gặp xe đánh xe, gặp bộ binh Mỹ đánh bộ binh Mỹ. Cối 82 ly và cối 60 ly của ta bắn khóa đuôi. Tôi lệnh cho Trung đội trưởng Phan Hữu Mỹ (anh là con ông Phan Hữu Dần, quê xóm 1, khu phố 3, thành phố Vinh, Nghệ An) dẫn trung đội luồn xuống phía nam để đánh từ sau lên, tạo thành một gọng kìm khóa địch lại.
Tiếng súng dịch lan dần xuống phía nam núi Hồ Khê Lúc này địch đã điều tiếp quân ra ứng cứu. Tiểu đoàn lệnh cho dừng lại, một bộ phận giải quyết hậu quả chiến đấu, nhanh chóng đưa thương binh nặng và tử sĩ ra phía sau, đại bộ phận chất còn lại giữ khu vực Hồ Khê. Bộ đội ta hối hả đào công sự, cán bộ tranh thủ thống nhất phương án đánh địch trên từng cánh, từng hướng.

Địch lại đến!
Ở trận địa chốt của Đại đội 2, tôi nghe rõ tiếng động cơ đang sôi réo ở phía trước. Pháo địch từ Miếu Bái Sơn bắn xuống, từ Cam Lộ bắn ra, chi viện cho bộ binh và xe tăng Mỹ phản kích. Núi Hồ Khê bỗng chốc trở thành tọa độ lửa.
Được xe tăng dẫn đường lính Mỹ tiến công vào hướng của Đại đội 2. Cán bộ, chiến sĩ ta gan góc điểm xạ ngắn. Đội hình tiến công của địch oằn lại, lính Mỹ bị đánh bật về phía sau. Địch cho máy bay đến ném bom, bắn phá xuống quanh núi Hồ Khê.
Ba mươi phút chiến đấu trôi qua, quân Mỹ chưa chọc thủng được trận địa chốt của quân ta nhưng chúng đã lấn được một phần trận địa Đại đội 2. Tổ chốt do Tiểu đội trưởng Trần Văn Trinh (quê Trinh ở Cẩm Lai, Cẩm Yên, Thạch Thất, Hà Tây) chỉ cách chiếc xe tăng địch bị cháy 50 mét. Chiến sĩ ta nhìn rõ những tên Mỹ cởi trần, mồ hôi nhễ nhại đầy bụi đất bám sau xe, miệng la lối om sòm. ở một tổ chốt khác, Tiểu đội trưởng Nguyễn Hữu Hệ (quê Hệ ở Vinh Quang, Diễn Thọ, Diễn Châu, Nghệ An) với khẩu trung liên PRC trong tay chốc chốc lại rung lên, anh điểm xạ từng loạt ngắn, găm địch xuống cho Tiểu đội phó Nguyễn Công Việt (quê Việt ở Đầm Trầu, Bằng Doãn, Đoàn Hùng, Phú Thọ) lắp quả đạn B40 để bắn chiếc xe tăng. Trung đội trưởng Phan Hữu Mỹ chạy đi chạy lại từng tổ chốt chỉ huy anh em chiến đấu. Trận địa của Trung đội trưởng Mỹ nằm trên một đoạn yên ngựa nối hai mỏm đồi phía tây của đại đội. Bọn địch lại tiếp tục tấn công. Xe tăng địch đứng từ xa bắn yểm hộ cho bộ binh chúng tiến lên. Lần này chúng đánh ồ ạt, dữ dội hơn.
Sau những đợt tiến công thất bại, quân Mỹ lại gọi pháo vào máy bay bắn phá ác liệt, gây thương vong cho bộ đội ta. Trước tình hình đó, tiểu đoàn quyết định rút lực lượng lên phía bắc để đón địch trên đoạn đường chạy qua cao điểm 137. Trung đội của Phan Hữu Mỹ bị thương vong lớn, lính Mỹ tràn vào trận địa của ta…
Đau đớn và căm thù thay! Hôm sau, địch cho xe ủi đất san bằng trận địa, nơi còn thi hài mười cán bộ, chiến sĩ Đại đội 2 và Đại đội 4 để cho xe tăng, xe thiết giáp của Mỹ đi càn về tập kết.
Mười cán bộ, chiến sĩ Đại đội 2 và ba chiến sĩ Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 27 đã anh dũng hy sinh trong trận chiến đấu ngày 28 tháng 2 năm 1969 tại núi Hồ Khê.
Đồng chí Phan Hữu Mỹ, Trung đội trưởng, B. 4 F42 1 , Khối 5 , phường Quang Trung, thành phố Vinh, Nghệ An. Đồng chí Phùng Văn Thiết, Tiểu đội phó, quê Vực Giang, Hạ Bằng, Thạch Thất, Hà Tây. Đồng chí Hà Văn Đảm, Tiểu đội trưởng, quê Đoàn Thượng, Hạ Hòa, Phú Thọ. Đồng chí Ngô Đức Hạt, Tiểu đội trưởng, thôn Vũ Lương Nha, Thanh Sơn, Phú Thọ. Đồng chí Cao Đăng Bơ, chiến sĩ, quê Tùng Lâm, Diễn Thọ, Diễn Châu, Nghệ An. Đồng chí Phạm Văn Long, Tiểu đội trưởng, quê Mỹ Hòa, Nghi Mỹ, Nghi Lộc, Nghệ An. Đồng chí Phạm Văn Kênh, chiến sĩ, quê Tân Hưng, Diễn Kỷ, Diễn Châu, Nghệ An. Đồng chí Lê Văn Thấy, chiến sĩ, quê Đại Thành, Diễn Kim, Diễn Châu, Nghệ An. Đồng chí Phạm Văn Hùng, chiến sĩ, quê Hùng Phú, Diễn Hùng, Diễn Châu, Nghệ An. Đồng chí Trần Minh Đức, Tiểu đội phó, quê Cao Kim, Diễn Kim, Diễn Châu, Nghệ An.
Ba đồng chí đã hy sinh của Đại đội 4 là:
Đồng chí Nguyễn Ngọc Cảnh, Tiểu đội trưởng, quê thôn 3, Vũ Quý, Vũ Thư, Thái Bình. Đồng chí Nguyễn Ngọc Nghi, chiến sĩ, Hội Thịnh, Hợp Thịnh, Tam Dương, Phú Thọ. Đồng chí Lê Văn Ngọ, chiến sĩ, quê Thống Nhất, Hưng Thông, Hưng Nguyên, Nghệ An.
Anh Nguyễn Minh Kỳ là huyện đội trưởng huyện Cam Lộ, nhiều lần cử người dẫn đường cho đơn vị tôi đánh địch. Và cũng nhiều lần lực lượng vũ trang địa phương do anh chỉ huy phối hợp chiến đấu với đơn vị tôi. Tôi còn nhớ, có lần sau trận đánh thắng lợi đơn vị rút về nơi an toàn, tôi và anh chia nhau thanh lương khô 701 của Trung Quốc. Đến bữa cơm, mỗi anh em cũng chỉ được hai lưng bát, ăn với ma-ri cô. Anh Kỳ đã chứng kiến cuộc chiến đấu của Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 27 ngày 28 tháng 2 năm 1969. Cách đây vài năm, khi anh cho máy ủi san đồi để trồng cao su thì phát hiện được hài cốt của cán bộ, chiến sĩ ta hy sinh ngày đó cùng những đôi dép râu, bi đông Trung Quốc, bật lửa, dây lưng. . . Thế là anh cho dựng nhà bia tưởng niệm ngay tại nơi này. Nhà bia tưởng niệm được hoàn thành vào ngày 22 tháng 12 năm 2005.
Bia tưởng niệm ghi: Các chiến sĩ Trung đoàn 27 (Trung đoàn Triệu Hải anh hùng) đã chiến đấu và hy sinh anh dũng tại núi Hồ Khê xã Cam Tuyền huyện Cam Lộ tỉnh Quảng Trị năm 1969. Đồng gia đình và đồng chí Nguyễn Minh Kỳ, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị cùng đồng đội dưng lập.
Ngày 22. 12.2005

Thế là từ đó, anh Nguyễn Minh Kỳ và đồng đội đã có nơi đi về hương khói cho đồng đội, tưởng niệm những chiến sĩ Trung đoàn 27 anh hùng đã ngã xuống trên mảnh đất Cam Tuyền, Cam Lộ - mảnh đất từng là chiến trường nóng bỏng, nơi diễn ra những trận chiến đấu ác liệt giữa cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 với lính Mỹ trong hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra.
Bị thua đau trên chiến trường Bắc Quảng Trị - trong hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra, chỉ huy quân đội Mỹ đã sử dụng con bài cuối cùng là dùng B.52 ném bom rải thảm xuống một vùng rộng lớn từ Vĩnh Sơn ra Vĩnh Lâm, Vĩnh Thủy (Vịnh Linh). Trong vòng một giờ đồng hồ, 37 chiếc B.52 đã ném xuống Vịnh Thủy 700 tấn bom. Khói bụi bốc lên lan dần sang khu đông, chỉ một lúc sau che kín cả 12 xã vùng đất đỏ.
Kết hợp với B.52, địch còn dùng pháo cỡ lớn (loại 400 ly) từ ngoài biển, pháo chôm (nổ trên không), pháo lùi (nổ dưới lòng đất) để phá địa đạo, pháo lân tinh (gây bỏng, cháy), pháo bi sát thương người và vật trên mặt đất . . . Đây là những tội ác mới cực kỳ man rợ mà quân Mỹ gây ra trên chiến trường Quảng Trị.
Để bám trụ trên một địa bàn ác liệt như vùng Bắc Quảng Trị và khu vực Vĩnh Linh, công tác phòng tránh được bộ đội đặt thành một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Chủ trương "quân sự hóa toàn dân, công sự hóa toàn khu vực Vĩnh Linh” của Mặt trận B5 được tất cả các đơn vị vũ trang và nhân dân hưởng ứng. Thực hiện khẩu hiệu 'Nhà che nắng che sương, hầm che xương che thịt', nhân dân và lực lượng vũ trang Vĩnh Linh chỉ bằng đôi bàn tay và những công cụ thô sơ đã kiên trì từ tháng này qua năm khác kiến tạo nên một hệ thống hầm hào ngang dọc chằng chịt khắp nơi. Đến đầu năm 1969, Vĩnh Linh đã đào được 2.090 ki-lô-mét hào giao thông thay cho mọi nẻo đường trên mặt đất, thôn nối thôn, xã nối xã, nhà nối nhà, hầm nối hầm. Cùng với việc đào hào giao thông nối liền mọi ngả đường trên toàn khu vực là hệ thống hầm hố phòng tránh cũng được xây dựng với 65 nghìn hầm chữ A, 31 nghìn hầm vuông, 84 nghìn hầm cá nhân , hơn 96 nghìn hầm tập thể, hàng chục nghìn hầm dành cho gia súc. Đặc biệt là hơn 30 nghìn mét địa đạo. Song, hệ thống hầm hào dù vững chắc đến đâu cũng chỉ chống được các loại bom pháo sát thương cỡ nhỏ, nó không chịu nổi sức công phá của bom đào, pháo lùi. Không ít trường hợp bom địch ném trúng hầm chữ A giết chết cả gia đình. Do đó việc nghiên cứu tìm ra một kiểu hầm mới có độ an toàn cao hơn càng trở nên cấp thiết.
Tôi được biết, Tỉnh đội Quảng Trị được giao nhiệm vụ nghiên cứu và hướng dẫn xã Vĩnh Giang tiến hành đào địa đạo thí điểm. Sau hai tháng, một địa đạo dài 80 mét, sâu bảy mét được hoàn thành. Tuy nhiên đây mới chỉ là loại hầm tiểu đạo, trung đạo khoét sâu dưới lòng đất, có tác dụng tránh được bom pháo nhất thời, chứ chưa thể dùng để ăn ở sinh hoạt trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, dai dẳng. Do vậy, chỉ vài tháng sau loại địa đạo khởi thủy ấy trở nên lạc hậu so với địa đạo dài hang trăm mét, sâu vài chục mét, mà kỳ vĩ nhất là địa đạo thôn Vịnh Mốc xã Vĩnh Thạch.
Học tập kinh nghiệm của Vĩnh Giang, lực lượng dân quân, nhân dân và lực lượng vũ trang đóng quân ở Vịnh Mốc chọn quả đồi đất đỏ ba zan cuối thôn, sát mép biển để xây dựng làng địa đạo. Sau ba tháng lao động kiên trì làng địa đạo Vịnh Mốc đã hoàn thành với hệ thống đường hầm gồm bốn nhánh có tổng chiều dài 2.008 mét. Địa đạo cấu
trúc thành ba tầng, tầng cuối cùng sâu 18 mét so với mặt đất, có hai lối thông ra hai của chính hướng ra biển và tám lỗ thông hơi, thông khói. Trong địa đạo có ba giếng nước để ăn uống, tắm giặt, có hầm bệnh xá, hầm hộ sinh, kho lương thực, vũ khí, bếp nấu, nhà tắm cho từng hộ... Trong những năm ấy đã có 17 cháu bé ra đời trong lòng địa đạo, tất cả
đều khỏe mạnh và trưởng thành. Với cách tổ chức và thiết kế ấy, làng địa đạo Vịnh Mốc giống như thôn Vịnh Mốc được thu nhỏ dưới lòng đất.

Với hệ thống hầm hào, địa đạo chằng chịt ở khắp nơi như vậy nên trong chiến tranh, mặc dù bình quân đầu người phải chịu bảy tấn bom đạn các loại nhưng nhân dân và lực lượng vũ trang Vĩnh Linh vẫn bám trụ vững vàng, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về người và của. Do Quảng Trị có vị trí chiến lược quan trọng. nên địch chọn nơi đây thí điểm chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Chúng điều đến đây một lực lượng quân lớn, lúc cao nhất lên đến 62 tiểu đoàn chủ lực. Cụ thể là: hai sư đoàn thủy quân lục chiến
Mỹ, một lữ đoàn bộ binh cơ giới, hai lữ đoàn kỳ binh bay, một sư đoàn nguy, mười tiểu đoàn pháo binh, ba thiết đoàn xe tăng, xe bọc thép, hàng chục đại đội bảo an, hàng trăm trung đội dân vệ. Ngoài lực lượng trên chúng còn sử dụng không quân, hải quân sẵn sàng chi viện tối đa bất cứ lúc nào.
Với ưu thế về quân số, vũ khí, địch điên cuồng mở các cuộc hành quân càn quét trên cả ba vùng rừng núi, đồng bằng và đô thị, nhằm củng cố nguy quân, nguy quyền, giữ vững đô thị, hậu cứ và các trục đường giao thông chiến lược. Chúng còn đánh phá ác liệt căn cứ địa, hậu phương của ta để ngăn chặn từ xa. Chúng dùng mọi thủ đoạn đánh phá dã
man mang tính phục thù khốc liệt. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch lúc này diễn ra vô cùng ác liệt.
Ở vùng đồng bằng, địch triển khai kế hoạch Bình định cấp tốc". Lực lượng tham gia bình định có lúc lên đến 30 tiểu đoàn. Các tiểu đoàn nguy tập trung cày ủi mồ mả, làng mạc, ruộng vườn, xăm bới, lục soát, xúc hốt nhân dân vào các khu tập trung. Chúng mở các đợt thanh lọc, mua chuộc, dụ dỗ quần chúng, đẩy mạnh chiêu hồi, chiêu hàng, vơ vét người, của, lập phòng vệ dân sự, tăng cường đôn quân bắt anh. Chúng tập trung phá vỡ cơ sở cách mạng, làm cho phong trào chiến tranh du kích bị sa sút du kích và bộ đội chịu tổn thất nặng nề. Nhiều nơi trở thành vùng trắng. Thôn Thượng Xa xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng là một thôn nhỏ nhưng địch đã dùng một đại đội Mỹ, hai đại đội nguy và
một đại đội cảnh sát càn quét 28 ngày liền. Hàng trăm người bị giết, bị bắt tra tấn dã man, trong đó có 11 người bị tra tấn đến chết.
Tại vùng giáp ranh, địch đánh chiếm lập tuyến ngăn chặn, tăng cường càn quét, phục kích, tập kích, rải quân chốt các điểm cao, ra sức xây dựng, củng cố tuyến phòng thủ Mác Na-ma-ra, hình thành tuyến phòng thủ kiên cố từ Cửa Việt – Đông Hà - Đường 9.
Ở vùng núi, chúng tổ chức nhiều cuộc hành quân quy mô lớn và vừa, kết hợp rải chất độc hóa học và dùng B.52 rải thảm, phi pháo đánh phá ác liệt các tuyến đường, hậu cứ, cơ quan, kho tàng của ta. Tháng 2 năm 1969, chúng tập trung bảy nghìn quân càn quét liên tục biên giới Việt - Lào, vùng A Xóc Tam Thanh, A Dơi, CÔ Ca Va.
Trong thời gian này, trên toàn tỉnh Quảng Trị lực lượng vũ trang ta gặp khó khăn nghiêm trọng, bị tổn thất nặng nề, cơ sở vật chất, vũ khí đạn dược đặc biệt lương thực rất thiếu thốn. Do những khó khăn gay gắt, có nơi, có lúc bộ đội ta một ngày chỉ được ăn nửa lon gạo với rau rừng tự kiếm. Nhạt muối kéo dài hàng tháng trời làm bộ đội đau ốm
nhiều, thuốc men lại thiếu. Đây Ôn xuất hiện tư tưởng ngại gian khổ. . .
Trong những năm từ 1969 đến 1970, Mỹ - ngụy điên cuồng phản kích đánh phá phong trào cách mạng. Chúng san ủi lập vành đai trắng ở bờ nam sông Bến Hải và hai bên trục Đường số 9, từ Cửa Việt đến Hướng Hóa nhằm cắt đứt giao thông nối liền miền Bắc với miền Nam, miền Đông với miền Tây của ta. Chúng đã đưa về Gio Linh và Cam Lộ các liên đoàn bình định ác ôn để càn quét, kìm kẹp, cách ly, chia rẽ Đảng với nhân dân, cán bộ với quần chúng. Hàng ngày chúng liên tục kẻo quân đi đất phá, bắn giết hết vùng này đến vùng khác, rồi tiến hành thanh lọc, bắt bớ, tra tấn, nhằm buộc quần chúng ly khai, quay lưng lại cách mạng. Mặt khác, chúng bình định nông thôn, đưa lính mũ nồi xanh Mỹ về nằm ở từng xã, từng vùng. Khẩu hiệu của chúng là: "Vãi lúa tráng men, bôi đen quần chúng”, với âm mưu thâm độc là làm tốt xấu, trắng đen lẫn lộn, gây chia rẽ, nghi ngờ lẫn nhau trong nội bộ quần chúng nhân dân. Chúng ghi tên người dân vào các đảng phái, cộng tác viên của chúng. Thực chất chúng đã phân thành ba loại rõ ràng là loại "thân cộng", loại "thân quốc gia", loại "trung gian". Đồng thời, Mỹ - nguy tập trung không quân, hải quân, lục quân với các loại vũ khí hiện đại liên tục đánh phá, khiến cho lực lượng cách mạng bị tốn thất lớn, phong trào cách mạng gặp nhiều khó khăn. Cam Lộ là một trong những trọng điểm đánh phá của chúng, nơi đây chúng lập ba chi khu, quận ly để kìm kẹp nhân dân. Bình quân cứ một người dân có đến ba tên lính.
Thời gian này anh Nguyễn Minh Kỳ là Phó Bí thư huyện ủy Cam Lộ kiêm Trưởng ban An ninh. Anh Kỳ đã cùng với anh Quyết, anh Dương Tú Anh nhiều đêm thức trắng để suy nghĩ tìm cách đưa phong trào cách mạng đi tên. Anh Kỳ cho rằng nhiệm vụ hàng đầu là tập trung lực lượng vũ trang đối phó có hiệu quả với bọn tề nguy đồng thời thọc sâu vào vùng địch để tiêu diệt những tên ác ôn khét tiếng. Với khẩu hiệu: ”Đập trúng đầu rắn, bắn trúng kẻ thù”, lực lượng an ninh do anh Kỳ phụ trách đã đánh hàng trăm trận, tiêu diệt trên một trăm tên ác ôn. Đặc biệt là trận diệt gọn ban chỉ huy liên đoàn bình định gồm năm sĩ quan (trong đó có tên đại úy liên đoàn trưởng vùng Cam Lộ) làm cho chúng hoang mang lo sợ. Anh còn chủ trương đánh những trận táo bạo, luồn sâu vào lòng địch mà đánh và đã mang lại những kết quả tốt, góp phần làm cho phong trào đấu tranh chính trị của huyện Cam Lộ có bước phát triển, bắt Mỹ - ngụy phải nhượng bộ từng bước. Anh Dương Tú Anh là người trực tiếp chỉ huy trận đánh nổi tiếng ngày 28 tháng 2 năm 1968 trên sông Hiếu. Sau này trận đánh được ví như Bạch Đằng Giang trên sông Hiếu.
Trong những năm chiến đấu gian khổ, đơn vị chúng tôi còn được những nữ du kích, nữ y tá dẫn đường như chị Tân, chị Sáng, chị út . . . hoặc khi anh em bị thương, các chị tận tình cứu chữa sau đó mới chuyển về hậu cứ. Tôi và đồng đội tôi mãi mãi nhớ ơn các chị.
Cũng trong những năm 1969, 1970, nhân dân các dân tộc Vân Kiều, Pa Cô phải trải qua nạn đói khủng khiếp kéo dài do chất độc hóa học của Mỹ. Thế nhưng khi được tuyên truyền, phổ biến về tình hình và nhiệm vụ mới, đông đảo đồng bào dân tộc đã đăng ký đi dân công phục vụ ở tuyến hành lang và các mặt trận. Trong đợt đầu, huyện Hướng Hóa đã huy động được trên 3 nghìn dân công, vượt chỉ tiêu của trên giao. Ngoài lực lượng dân công phục vụ các tuyến vận chuyển hàng hóa, Hướng Hóa còn huy động hai nghìn thanh niên cùng một đại đội công binh mở đường phục vụ Mặt trận Huế.
Về lương thực, thực phẩm, ngoài việc nhận sự chi viện tiếp tế của miền Bắc, nhân dân các huyện đồng bằng cũng như miền núi Quảng Trị đều hăng hái "đóng góp nuôi quân". Lương thực, thực phẩm từ vùng biển, vùng lúa Triệu Phong và Hải Lăng được huy động đạt mức cao nhất (kể từ trước đến lúc bấy giờ) và được đưa vào tập kết tại các xã nằm trên đường hành lang của tỉnh như Hải Vĩnh, Hải Xuân Hải Thượng, Hải Phong. Lúc cao điểm, trung bình mỗi đêm có khoảng từ 500 đến 700 người, lúc thấp nhất cũng khoảng 200 đến 300 người gồm dân công, thanh niên xung phong, cán bộ, bộ đội ở chiến khu về tiếp nhận lương thực đưa lên dự trữ tại các khu căn cứ. Lương thực dự trữ lúc cao điểm huy động từ các huyện Hải Lăng, Triệu Phong lên tới 1.242 tấn gạo. Ở nam Hướng Hóa huy động được hai nghìn tấn gạo và hàng chục triệu bịch sắn. (Mỗi gốc sắn ở đây thu hoạch được từ 1,5 đến 2 ki-lô-gaml củ).
Đầu tháng 3 năm 1969, Tiểu đoàn 1 tổ chức nhiều trận đánh nhỏ lẻ, liên tục theo trục đường 76 và trên Đường số 9 làm cho địch hoang mang. Tính từ ngày 1 tháng 3 đến ngày 1 tháng 4 năm 1969, Tiểu đoàn 1 đã bắn cháy 30 xe tăng, xe bọc thép và cả xe lửa chở quân của địch. Tiểu đoàn được Mặt trận B5 nêu gương là ngọn cờ đầu của phong trào diệt cơ giới Mỹ.
Trong đợt hoạt động này, đồng chí Lê Nhật Tụng - chiến sĩ Đại đội 4 Tiểu đoàn 2, quê ở thôn Vinh Xuân, phường Đông Vĩnh, thành phố Vinh, Nghệ An đã dùng B41 tiêu diệt sáu xe tăng địch. Anh trở thành Dũng sĩ diệt cơ giới nổi tiếng của Mặt trận B5. Tháng 5 năm 1969, đồng chí Lê Nhật Tụng vinh dự được cùng đoàn đại biểu Dũng sĩ Quân giải phóng miền Nam ra Hà Nội chúc thọ Bác Hồ. Tấm ảnh Lê Nhật Tụng đang cùng các dũng sĩ miền Nam quây quần bên Bác đã trở thành niềm tự hào của những chiến sĩ Trung đoàn 27, Mặt trận B5.
Trong đợt chiến đấu này, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 đã dũng cảm, mưu trí, táo bạo đưa đội hình vào sâu trong lòng địch để tiêu diệt địch, ngăn chặn có hiệu quả cuộc nống lấn ồ ạt của chúng. Qua các cuộc chiến đấu của Tiểu đoàn 1, Ban chỉ huy Trung đoàn 27 đã rút ra được nhiều kinh nghiệm khi tác chiến với quân Mỹ và quân nguy. Đó là, mạnh dạn, bí mật đưa lực lượng thọc sâu, đánh rồi trụ lại để kẻo địch ra; tạo ra thời cơ, chủ động tiêu diệt địch. Với cách đánh này mặc dù ta sử dụng từng đơn vị nhỏ nhưng hiệu quả lại cao.

Trong đợt hoạt động này, chiến sĩ Vi Văn Bê, (dân tộc Thái) với một keo vật đã hạ gục một tên biệt kích Mỹ.
Tháng 3 năm 1969, Đại đội 17 nhận nhiệm vụ chi viện cho bộ binh vây ép và đánh địch giải tỏa điểm cao 544. Cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã diệt nhiều tên địch. Khi máy bay lên thẳng hạ xuống thả hàng, đơn vị đã bắn nổ tung một chiếc. Qua 11 ngày chiến đấu, Đại đội 17 đã phá hỏng bốn khẩu phán 105 ly và cối 106,7 ly, bắn cháy bảy xe quân sự, một máy bay trực thăngặ diệt và làm bị thương hang chục tên địch.
Ngày 20 tháng 5 năm 1969, phát hiện một đại đội quân nguy nàng ra đồi Không Tên, tiểu đoàn thông báo cho Đại đội 2 đứng chân gần đó. Nhận được lệnh, tôi hội ý ban chỉ huy, thống nhất phương án tác chiến và dẫn các trung đội trưởng đi bám địch. Chính trị viên tổ chức bộ đội, động viên anh em nhanh chóng xuất kích.
Trung đội trưởng Nguyễn Đình Cư đi đầu đội hình. Tôi cầm bản đồ, địa bàn cắt đường về hướng đồi Không Tên. Khi đến gần chân đồi chúng tôi phát hiện dấu vết địch vừa đi qua. Chúng mới vứt vỏ bao thuốc lá Rôby dọc đường. Tôi cho anh em cắt đường chặn địch. Khi đến phía đông đồi, chúng tôi phát hiện bọn địch đang nghỉ ăn trưa. Tôi nói với trung đội trưởng Cư: "Cho trung đội vòng lên chặn đầu còn Trung đội 3 khóa đuôi. Trung đội 1 đánh chính diện".
Sau hai mươi phút chúng tôi triển khai đội hình thì quân địch cũng ăn trưa xong, đứa ngửa cổ uống nước, đứa hút thuốc . . . Tất cả đều chủ quan. Đúng lúc đó, tôi ra lệnh nổ súng. Bị đòn bất ngờ, quân địch xéo đạp lên nhau vừa bắn, vừa chạy tháo thân. Tôi cho cối 60 ly bắn cấp tập vào đội hình đang nhốn nháo của địch. Trận đánh diễn ra nhanh
gọn. Đại đội 2 cơ bản đã loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội của trung đoàn 2 quân ngụy ở đồi Không Tên. Nhưng, cũng thật đau buồn, đại đội cũng bị tổn thất: Sáu cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Đó là các đồng chí: Trung đội trưởng Nguyễn Đình Cư, quê xóm 2, Nhân Phú, Lý Nhân, Hà Nam; Trung đội phó Nguyễn Văn Vĩnh, quê Tân Sơn, Văn Long, Hạ Hòa, Phú Thọ; Tiểu đội trưởng Trần Hoàn, quê Đỗ Nội, Tiền Hải, Duy Tiên, Hà Nam; Tiểu đội trưởng Nguyễn Đình Long, quê Đại Hà, Sơn Hà, Hương Sơn, Hà T nít; chiến sĩ Đinh Sỹ Huấn, quê xóm 8, Đức Thanh, Đức Thọ, Hà Tĩnh; chiến sĩ Phùng Anh Xuân, quê Đông Quyền, Nghi Thu, Nghi Lộc, Nghệ An.
Số anh em hy sinh trên được đơn vị đưa về an táng tại chân cao điểm 122 thuộc xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ.

Trước đòi hỏi của chiến trường ngày càng phải đánh lớn, nên các đơn vị từ đại đội đến tiểu đoàn, trung đoàn đều dồn sức xây dựng đơn vị về mọi mặt. Trước hết về chính trị, tư tưởng phải xây dựng ý chí chiến đấu, quyết tâm đánh Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng thời tranh thủ huấn luyện quân sự bổ sung cho các đơn vị sau mỗi đợt chiến đấu. Vì
vậy từng đại đội đã có bước trưởng thành rõ rệt, hiệu quả chiến đấu được nâng lên.
Thời gian này, mặc dù mùa mưa đã đến, nhưng Mỹ - nguy vẫn thường xuyên tổ chức những cuộc hành quân nống lấn ra phía bắc Đường số 9. âm mưu của chúng là chiếm giữ bằng được các cao điểm trọng yếu nằm giữa khu vực Cồn Tiên và cao điểm 544 (Phu-lơ), nhằm ngăn chặn các cuộc tiến công của ta vào Đường số 9 khi mùa khô đến.
Thám báo Mỹ đã ra tới bờ nam sông Bến Hải. Khi phát hiện được các trục đường hành quân của ta, chúng lập tức đổ quân chiếm giữ các cao điểm để khống chế. Quân Mỹ còn tập trung bom đạn đánh phá các khu kho hậu cần của ta ở khu vực Khe Cau, cao điểm 33, cao điểm 402, gây cho ta không ít khó khăn.
Trong những cơn mưa tầm tã triền miên giữa núi rừng Bắc Quảng Trị, trong hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra vẫn vang lên tiếng súng tiến công địch của Đoàn đặc công 33; Đại đội 3, Đoàn 75 vào phối hợp chiến đấu với Trung đoàn 27 và các đơn vị địa phương tỉnh Quảng Trị. Các cụm chốt của địch vừa chiếm giữ ở các cao điểm 161, 322 lần lượt bị ta đánh bật. Để bảo vệ hàng rào điện tử phía tây căn cứ Cồn Tiên, Miếu Bái Sơn và phía bắc quận lỵ Cam Lộ, địch bất chấp mưa lũ vẫn tung quân hoạt động mạnh ở khu vực này. Các chiến sĩ Trung đoàn 27 cùng các đơn vị bạn kiên cường bám trụ, vượt mọi khó khăn, ác liệt, giành giật với quân Mỹ - ngụy từng cao điểm để giữ vững thế trận.
Giữa lúc cuộc chiến đấu đang diễn ra liên tục và quyết liệt qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 vô cùng bàng hoàng đau đớn khi nhận được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Không ai cầm nước nước mắt. Nhiều tiếng nức nở bật lên. Theo thông báo của trên, sáng ngày 9 tháng 9 năm 1969 tại Quảng trường Ba Đình diễn ra lễ truy điệu Người trọng thể. Đại đội tôi cũng tổ chức lễ truy điệu Người đúng giờ với Thủ đô Hà Nội. Bàn thờ có bức ảnh Bác cắt ra từ báo, có cả hoa rừng. Cả đại đội tập trung nghẹn ngào làm lễ truy điệu Bác. Thay mặt cán bộ, chiến sĩ Đại đội 2, tôi đọc quyết tâm thư gửi lên Bộ tư lệnh Mặt trận B5. Tôi còn nhớ đoạn cuối cùng quyết tâm thư: "Từ Một trận Quảng Trị nóng bỏng, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 27 xin hứa với Bộ tư lệnh Mặt trận, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quyết biến đau thương thành hành động cách mạng, chiến đấu đến khi quân Mỹ phải cút sạch, quân ngụy sụp đổ hết, thống nhất nước nhà để thỏa lòng Bác Hồ hằng mong”.
Sau đó toàn mặt trận phát động phong trào học tập và làm theo Di chúc của Bác. Những trận đánh “lập công đền ơn Bác" liên tục diễn ra, gây cho địch tổn thất lớn.
Mở đầu là trận tập kích diệt gọn một cụm xe tăng 11 chiếc và 60 tên Mỹ của Đại đội 1 , Tiểu đoàn 1 ở khu vực Khe Nước (đông nam Cồn Tiên) vào đêm 1 tháng 10 năm 1969.
Sau chiến thắng Khe Nước, anh Ngô Minh Hớn, cán bộ tuyên huấn trung đoàn đã sáng tác bài hát "Chiến công đền ơn Người". Lời ca có đoạn:
Hôm nay mồng Một tháng Mười, con vào trận đánh trả ơn Người đầu tiên. Lấy máu đỏ viết quyết tâm thư. Đánh trận đầu ta tiêu diệt gọn. Trăm chiến binh là trăm mũi nhọn. Quyết thọc sâu vào sào huyệt quân thù . . .
Tại Hội diễn văn nghệ toàn Mặt trận B5 năm 1969, bài hát "Chiến công đền ơn Người" của Đội văn nghệ Trung đoàn 27 đoạt giải nhất. Sau chiến thắng của Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 ở khu vực Khe Nước, các đơn vị trong Trung đoàn 27 tiếp tục tổ chức nhiều trận đánh để bảo vệ địa bàn. Các đơn vị đều chủ động tiến công tiêu diệt địch, vận dụng nhiều cách đánh sáng tạo với mọi đối tượng địch trên chiến trường. Trong quá trình chiến đấu liên tục, cán bộ, chiến sĩ ta gặp nhiều khó khăn về công tác bảo đảm hậu cần nên bộ đội thiếu đói, bệnh tật phát triển, tỷ lệ bị bệnh ngoài da tăng nhanh. Tuy vậy, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 vẫn tìm mọi biện pháp để khắc phục, vượt qua.
Về phía địch, ở khu vực tác chiến của Trung đoàn 27 chúng vẫn tập trung một lực lượng lớn nống lấn thường xuyên. Âm mưu của chúng là cố chiếm giữ một số khu vực quan trọng, nhằm ngăn chặn ta tiến công trong mùa khô tới. Nhiều nơi lính Mỹ và lính sư đoàn 3 nguy cùng phối hợp mở rộng hành quân giải tỏa.
Trong giai đoạn này, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 vẫn thường xuyên có mặt ở chiến trường. Tiểu đoàn 3 làm dự bị cho trung đoàn. Tiểu đoàn 2 đánh địch tây nam căn cứ Cồn Tiên. Tiểu đoàn 1 của tôi tiếp tục luồn sâu vào đánh địch ở khu vực núi Hồ Khê và núi Đá Bạc, ngăn chặn không cho chúng đánh chiếm khu vực Cù Đinh, cao điểm 333 là đường hành lang của quân ta đi về trong mỗi mùa chiến dịch. Đây là một địa bàn trọng yếu của chiến trường Quảng Trị suốt trong những năm đánh Mỹ, đồng thời cũng là mảnh đất gắn bó với cuộc đời chiến đấu liên tục của cán bộ, chiến sĩ Trung .đoàn 27.
Sáng ngày 23 tháng 10 năm 1969, tôi và Đại đội phó Nguyễn Minh Châu, Trung đội trưởng Nguyễn Văn Bót và tổ trinh sát của tiểu đoàn tăng cường đi bám địch ở nam cao điểm 161. Đến trưa chúng tôi phát hiện được một đại đội thuộc trung đoàn 56, sư đoàn 3 quân nguy đang dừng ăn trưa. Tôi nói với Đại đội phó Châu và Trung đội trưởng Bót:
- Đại đội địch này vừa dừng ăn trưa, xem ra chúng rất chủ quan. Ta đánh sẽ ngon đây. Bây giờ anh Châu và anh Bót khẩn trương về cho bộ đội xuất kích. Tôi và trinh sát tiếp tục nắm địch.
Anh Châu phân vân:
- Từ đây về đại đội đi nhanh phải 30 phút, tổ chức bộ đội hành quân cũng mất gần một tiếng nữa. Khi đưa bộ đội ra liệu quân địch có còn không hay đã di chuyển?
Tôi phân tích thêm:
- Anh cứ về tổ chức cho bộ đội cùng chính trị viên động viên bộ đội khẩn trương. Tôi tin rằng ăn xong chúng còn nghỉ. Hơn nữa lính ngụy cũng ngán lùng sục, cấp trên thúc ép chúng phải đi thôi.
Đại đội phó Châu và Trung đội trưởng Bót quay về đơn đơn vị. Tôi và tổ trinh sát không rời đại đội nguy. Đúng như tôi dự đoán, lính nguy ăn xong đứa lấy thuốc hút, đứa bắt đầu lăn ra ngủ. Tôi nóng lòng chờ đơn vị. Chốc chốc lại xem đồng hồ.
Sau 1 giờ 40 phút, Đại đội phó Châu dẫn đầu đội hình đến. Chính trị viên cũng vượt lên. Tôi trao đổi ngắn:
- Anh Bót cho trung đội vòng lên chặn đầu, còn tất cả triển khai tấn công. Cối 60 ly giá súng lấy phần tử đợi lệnh. Tất cả khẩn trương!
Hai mươi phút trôi qua, đoán chừng trung đội của Bót đã đến khu vực chặn đầu địch. Tôi lệnh cho xạ thủ B40 Nguyễn Văn Nhung bắn vào cụm quân địch làm hiệu lệnh hiệp đồng. Sau quả đạn B40 của Nhung, cối 60 ly bắt đầu bắn. Quả đạn đầu hơi xa, anh em pháo thủ lấy lại tầm, hướng. Khi quả trận thứ hai rơi trúng đội hình địch, tôi ra lệnh cấp tập 10 quả đạn cối. Bộ binh xung phong. Đại đội phó Châu xông xáo dẫn một tiểu đội đánh tạt sườn địch. Anh diệt được hai tên. Mải tiến công anh không chú ý, khẩu trung liên của địch bắn một loạt dài. Anh Châu trúng đạn hy sinh. Tôi nâng khẩu AK nhằm tên địch vừa bắn anh, siết cò, kết liễu đời nó. Quân địch bị đánh chặn đầu từ phía bắc lại bị chúng tôi đánh chính diện phía đông nam nên buộc phải chạy tán loạn về phía tây. Trận đánh kéo dài 30 phút, tôi cho lệnh rút quân để tránh pháo địch. Đại đội 2 chúng tôi diệt hơn 30 tên tại trận.

Về phía Đại đội 2 cũng bị tổn thất, năm người hy sinh. Đó là: Đại đội phó Nguyễn Minh Châu, quê Quy Xá, Thiệu Vận, Thiệu Hóa, Thanh Hóa; Trung đội trưởng Nguyễn Văn Bót, quê Thôn Đoài, Mê Linh, Tiền Hải, Thái Bình; chiến sĩ Hà Văn Liêng, quê Tân Hòa, Nghĩa Long, Nghĩa Đàn, Nghệ An; chiến sĩ Nguyễn Văn Nhung, quê Ba Đình, Nam
Long, Nam Đàn, Nghệ An và Tiểu đội trưởng Nguyễn Đình Ngư, quê Lại Xá, Thanh Tuyền, Thanh Liêm, Hà Nam.
Năm cán bộ, chiến sĩ của Đại đội 2 được đơn vị đưa về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Vĩnh Trường, Vĩnh Linh - phía bắc sông Bến Hải.
Những ngày cuối năm, không riêng gì các đơn vị bộ binh, mà các đơn vị công binh, trinh sát, pháo binh cũng thường xuyên tham gia đánh địch lien tục trên vùng đất này. Ngoài nhiệm vụ chủ yếu phục vụ cho đơn vị bộ binh đánh thắng, các đơn vị còn chủ động tiến công tiêu diệt địch. Trong đó có Đại đội 17 phối thuộc với đại đội tôi vào hoạt động ở khu vực Tân Kim, Sáp Đá Mài. Anh em Đại đội 17 lúc nào cũng. đi bám địch để đặt đài quan sát hiệu chỉnh pháo. Anh em bảo: "Đặt trận địa càng gần, hiệu suất chiến đấu càng cao".
Tôi được biết, sáng sớm ngày 10 tháng 11 năm 1969, Đại đội 17 hành quân vượt bãi Tân Kim, khi nghe pháo địch từ Cam Lộ bắn ra, chỉ huy đơn vị đã nảy ra ý định: Đem pháo vào gần đánh những trận địa pháo và đánh các cụm lính bộ binh địch. Ý kiến đó được mang ra trao đổi dân chủ trong đại đội. Có người nói: "Bộ binh luồn vào được đã khó, huống hồ lính cối, mang vác nặng nề cồng kềnh, địch ở đó đông như kiến, không cẩn thận thì bỏ pháo chạy lấy người". Nhưng có người lại cho rằng: "Địch nhiều dễ đánh, miễn là bám thật chắc để không đánh vào dân và đánh hụt". Bàn đi tính lại mãi, cuối cùng tất cả đơn vị đi đến thống nhất: phải khắc phục khó khăn, đánh một trận thật tốt để người dân Cam Lộ nghe tiếng pháo của Quân giải phóng thêm vui mừng, tin tưởng.
Bộ phận trinh sát đi đặt đài và bám địch. ở quận lỵ Cam Lộ có đủ sắc lính Mỹ và nguy. Tuy chưa bám được địch, nhưng các chiến sĩ Đại đội 17 vẫn tranh thủ chuyển súng cối 82 ly vào cài thế để khi có thời cơ là đánh được ngay. Phương án chuyển pháo và bảo vệ pháo cũng khó khăn không kém gì phương án đánh địch.
Tổ trinh sát của đại đội tiếp cận gần đến làng Quất Xá thì trời đã về chiều. Anh em bàn nhau, tranh thủ lúc trời còn sáng bám địch. Vừa lúc đó anh em phát hiện lính Mỹ kẻo vào làng Quất Xá mỗi lúc một đông. Anh em chưa biết địch ở lại hay đi Bỗng ở làng Quất Xá xuất hiện nhiều đám khói. Chúng đang đun nấu ở đó. Thế là mọi người yên tâm địch đã nghỉ lại. Chỉ huy đại đội hội ý chớp nhoáng và nhanh chóng cho các khẩu đội tranh thủ trời sáng chỉnh tầm, chỉnh hướng. Pháo thủ chuẩn bị đạn sẵn sàng. Một khẩu đội lấy thêm phần tử mục tiêu là trận địa pháo cối của địch ở phía nam quận ly Cam Lộ, để bắn kiềm chế pháo địch lúc ta nô súng.
Theo thông lệ, vào chập tối và sáng sớm, pháo địch bắn ra hướng Tân Kim vài loạt, còn suốt đêm chúng chỉ cho pháo bắn cầm canh. Hôm đó Đại đội trưởng Đại đội 17 Trần Đức Hệ, quê Nhân Thịnh, Lý Nhân, Hà Nam và Chính trị viên Huỳnh Ngọc Đào quê phường Phủ Hà, thành phốphan Rang - Tháp Chàm, Ninh Thuận trao đổi và quyết định sẽ nổ súng vào lúc pháo địch bắn ra ngay từ loạt đạn đầu tiên. Pháo địch vừa bắn, lập tức đại đội trưởng cũng lệnh: Bắn!
Các khẩu đội trưởng Lê Xuân Cam, quê Quỳnh Đô Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội; Lê Văn Võ, quê Võng Ngoại, Võng Xuyên, Phúc Thọ, Hà Tây; Nguyễn Văn Sử, quê thôn Nam, Phụng Thượng, Phúc Thọ, Hà Tây lập tức cho thả đạn. Nòng còi 82 ly được chiến sĩ ta lấy dây cao su quấn lại nên tiếng nổ đầu nòng nghe rất nhỏ. Sau loạt đạn đầu tiên, đạn cối của ta rơi trúng vị trí địch đang cụm lại. Lính Mỹ la ó giẫm đạp lên nhau.
Đại đội trưởng Hệ hô: Cấp tập!
Đạn cối 82 ly nối đuôi nhau vun vút lao đi.
Đài quan sát báo về: Đạn rơi trúng mục tiêu!
Lệnh: Bắn bao bọc thêm. Sau mấy chục giây hiệu chỉnh, các khẩu cối của ta lại nhả đạn vào cụm lính Mỹ.
Chớp lửa loé lên từ vị trí địch mỗi lúc một dày thêm . . . Bà con xung quanh quận ly Cam Lộ chạy ra xem pháo của Quân giải phóng bắn vào lính Mỹ.
Trận tập kích hỏa lực bất ngờ làm cho địch ở quận lỵ Cam Lộ không kịp trở tay. Hai đại đội lính Mỹ vừa hành quân ra bổ sung cho các đơn vị lính Mỹ đang chốt giữ trong hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra đã bị loại khỏi vòng chiến đấu 120 tên.
Một số xe tăng, xe bọc thép địch nằm ở làng Tân Mỹ (nam Quất Xá) nổ máy tháo chạy, chúng sợ quân ta tiếp tục tiến công.
Pháo địch ở Cam Lộ, Tân Định bắt đầu bắn về hướng trận địa Đại đội 17, nhưng đều bắn vọt tầm. Các chiến sĩ pháo binh Đại đội 17 vẫn bình tĩnh bắn quét để diệt thêm bọn địch còn sống sót.
Trận đánh kết thúc, Đại đội 1 7 lặng lẽ tháo pháo rồi bám theo bờ sông Cam Lộ trở về cao điểm 85, tiếp tục phối hợp với Tiểu đoàn 1 của tôi chiến đấu ở khu vực núi Hồ Khê và núi Đá Bạc. Nhân dân quận ly Cam Lộ tận mắt chứng kiến trận tập kích hỏa lực của Đại đội 17 đã hết lòng ca ngợi tài đánh giỏi, bắn trúng của cán bộ, chiến sĩ pháo binh ta.
Những ngày cuối tháng 11 năm 1969 , mùa mưa ở Quảng Trị vẫn còn tiếp diễn. Những cơn mưa dồn dập đổ xuống, sông suối ở Cồn Tiên, cao điểm 544 nước tràn lênh láng làm tắc nghẽn đường sá đi lại ở vùng này. Bộ đội cơ động trong mùa mưa lũ vô cùng
vất vả nhất là các đơn vị luồn sâu. Các kho hậu cần trong mùa mưa cũng gặp rất nhiều khó khăn. Bom đạn địch đánh phá suốt ngày đêm, nhất là các trục đường đi lại của ta và các vùng mà chúng nghi là ta sẽ đặt kho hàng, bến bãi.
Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 luồn sâu đánh địch phải tự bảo đảm về hậu cần trong suốt đợt chiến đấu của mình. Mùa khô, những nắm cơm vắt buổi sáng còn mềm dẻo, đến trưa lớp ngoài đã khô như rang. Mặc dù lực lượng ở phía sau đã cố gắng khắc phục mọi khó khăn đẩy hàng lên cho các đơn vị phía trước, nhưng không làm sao đáp ứng được. Nhiều lần đại đội chúng tôi luồn sâu, thiếu gạo phải ăn rau tàu bay, môn thục, rau đớn, cây chuối rừng. . . thay cơm hàng tuần liền. Cái đói đã đe dọa đến tính mạng người chiến sĩ. Thêm vào đó là mùa mưa, hầm hào trú quân thường xuyên bị sụt lở. Anh em phải thay nhau thức trắng đêm tát nước, quần áo lúc nào cũng sũng nước. Chiến đấu trong mùa mưa, sức khỏe bộ đội giảm sút rất nhanh, nhưng anh em chúng tôi vẫn động viên nhau cố gắng, âm thầm chịu đựng, bám lấy chiến trường để đánh địch, giữ cho chiến trường luôn có tiếng súng.
Ngày 13 tháng 11 năm 1969, Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 trên đường thọc sâu vào phía nam, khi đến gần cao điểm 84 thì bất ngờ gặp địch. Bộ binh cơ giới Mỹ cũng vừa nống ra để chốt chặn cao điểm này. Đại đội triển khai chiến đấu. Sau 15 phút nổ súng, Đại đội 3 đã bắn cháy 13 chiếc xe tăng và xe bọc thép, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 80 tên Mỹ.
Trận đánh diễn ra nhanh làm cho lính Mỹ khiếp đảm. Nghe tiếng súng nổ rền ở chân cao điểm 84, lính Mỹ phía sau thấy khói xe tăng bốc cháy, hốt hoảng tháo lui, không dám lên chi viện cho bọn bị đánh ở phía trước.
Đánh xong đợt thứ nhất, Đại đội 3 tranh thủ tổ chức trận địa trụ lại để diệt thêm lính Mỹ nếu chúng tiếp tục ra phản kích. Các trận đánh ở đây là thế. Đánh xong trụ lại đánh tiếp, đánh để giữ vững địa bàn. Thế là, từ những trận đánh đầu tiên với bộ binh cơ giới Mỹ, các chiến sĩ Trung đoàn 27 đã tìm ra cách đánh thông minh khi tác chiến với loại lính này.
Có một chuyện đánh máy bay trực thăng Mỹ rất lạ đó là cách đánh sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ công binh Trung đoàn 27. Bị ta bắn rơi nhiều máy bay nên trực thăng Mỹ bay rất thấp theo khe núi. Theo dõi quy luật hoạt động của chúng, anh Trần Hữu Mỹ, Chủ nhiệm công binh trung đoàn, quê ở 8614 phường Trung Sơn, thị xã Tam Điệp, Thanh Hóa đã chỉ đạo cho đại đội công binh dùng mìn ĐH 10 đặt ở khe núi hướng lên trời (theo tính toán đường bay trực thăng Mỹ) rồi mai phục. Đầu năm 1970, hai trực thăng nối đuôi nhau bay về điểm cao 544. Đợi chúng bay vào cự ly hiệu quả nhất, anh em chập điện. Mìn nổ. Các mảnh của mấy quả mìn và luồng hơi mạnh làm nổ tung một chiếc trực thăng. Từ đó chúng không dám bay theo khe núi nữa.
Năm 1970 là năm thứ hai đế quốc Mỹ thực hiện âm mưu chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Trên chiến trường Bắc Quảng Trị - trong hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra, chúng tập trung củng cố từ Động Toàn, cao điểm 544 (Phu-lơ) đến Cồn Tiên nối liền với khu phía đông. Chúng đẩy quân ngụy ra phía trước, quân Mỹ đóng trong một số cứ điểm, chủ yếu dùng bộ binh cơ giới chi viện cho lính nguy khi cần thiết.

Trước tình hình quân địch phải co lại để củng cố Bộ tư lệnh Mặt trận B5 chủ trương một mặt tiếp tục đánh nhỏ lẻ để giờ địa bàn, mặt khác chuẩn bị lực lượng đánh tập trung, đánh điểm, phá tan những âm mưu mới của chúng.
Khu vực hoạt động của Trung đoàn 27 những tháng đầu năm 1970 là từ cao điểm 182 xuống cao điểm 322, từ cao điểm 288 lên cao điểm 544, những địa danh không xa lạ gì đối với cán bộ, chiến sĩ trung đoàn.
So với các đợt hoạt động trước, lần này Trung đoàn 27 vào hoạt động sâu hơn, sử dụng lực lượng nhiều hơn. Càng thọc sâu, trung đoàn càng gặp nhiều khó khăn, từ công tác bảo đảm đến tổ chức hành quân, trú quân, đòi hỏi mọi cán bộ, chiến sĩ phải nỗ lực vượt bậc mới giành được thắng lợi.
Cứ vào dịp Tết âm lịch, lợi dụng ngừng bắn, chúng tôi. lại tổ chức đi trinh sát chuẩn bị chiến trường. Tết năm 1969 sang năm 1970, đại đội tội hành quân cả ngày và đêm vào chuẩn bị cho chiến dịch. Để động viên anh em, tôi làm bài thơ “Tết xa quê mẹ":
Tết này con gần việc quân
Đường xuân quê mẹ vắng chân con về
Bước đường trăm núi ngàn khe
Vẫn nghe quấn quýt, xuân quê bên mình
Ngụy trang gió cuốn rung rình
Ngỡ đâu cánh bướm nặng tình quê hương .
Cả đại đội ngâm thơ vui như Tết . . .

Trong những ngày này, địch bắt đầu tổ chức hành quân phối hợp giữa lính trung đoàn 2 và lữ đoàn 1, sư đoàn 5 bộ binh cơ giới Mỹ để ngăn chặn ta tiến công. Trên một hướng chiến đấu của trung đoàn, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 đã phát hiện địch đang hành quân giải tỏa khu vực cao điểm 182. Thật đau thương! Ban chỉ huy Tiểu đoàn 1 không may bị pháo địch bắn trúng, thương vong cả. Lúc này tôi là Đại đội trưởng Đại đội 2 chủ công của tiểu đoàn nên nắm được kế hoạch tác chiến. Tôi suy nghĩ, bây giờ mà nói ban chỉ huy tiểu đoàn thương vong sẽ gây tâm lý hoang mang cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Bởi vậy, tôi cầm máy điện thoại nói các đại đội vẫn thực hiện kế hoạch tác chiến. Được pháo binh chi viện, Tiểu đoàn 1 đã kịp thời nổ sung chặn đánh địch quyết liệt từ ngày 1 tháng 4 đến ngày 4 tháng 4 năm 1970.
Bằng những trận vận động tiến công kết hợp chất, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 đã bẻ gẫy nhiều đợt phản kích điên cuồng của lính Mỹ và lính nguy. Xác xe và xác lính địch nằm ngổn ngang quanh khu. vực cao điểm 182. Trận đánh kết thúc thắng lợi. Trong anh em có người nói lúc đó tôi làm liên lạc là không đúng.
Giữ được cao điểm 182, ta nối liền được địa bàn hoạt động, bảo vệ vững chắc tuyến đường hành quân luồn sâu của trung đoàn sau này. Trong lúc Tiểu đoàn 1 hoạt động ở khu vực cao điểm 182 thì tiểu đoàn tôi được lệnh luồn sâu vào khu vực từ cao điểm 322 đến cao điểm 288. Do tổ chức hành quân không tốt, tiểu đoàn bị địch phát hiện, chúng dung hỏa lực phi pháo đánh vào đội hình gây tổn thất lớn cho đơn vị. Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 có 24 đồng chí hy sinh Đó là các đồng chí: Chính trị viên Hoàng Tê, quê Nai Đồng, Tam Kỳ, Kim Thành, Hải Dương; Trung đội phó Hoàng Kim Thành, quê Phúc Trung, Cẩm Phúc, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh; Trung đội phó Nguyễn Minh Hải, quê Kim Thành, Thạch Kim, Thạch Hà, Hà Tĩnh; Tiểu đội trưởng Phạm Văn Sử, quê Đại Thắng, Hợp Thắng, Triệu Sơn, Thanh Hóa; Tiểu đội trưởng Trần Khánh Thức, quê Trung Hòa, Thạch Tân, Thạch Hà, Hà Tĩnh; Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Hưởng, quê Ngọn Đồng, Hưng Khánh, Trấn Yên, Yên Bái; Tiểu đội trưởng Nguyễn Quốc Diễn, quê Sông Linh, Hương Hà, Hương Khê, Hà Tĩnh. Tiểu đội trưởng Phạm Xuân Vinh, quê Miếu Lương, Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Tây; Tiểu đội phó Nguyễn Viết Ngọ, quê Hợp Một, Nghi Liên, Nghi Lộc, Nghệ An; Tiểu đội phó Lê Trung Hộ, quê Xuân Sơn, Diễn Lợi, Diễn Châu, Nghệ An; y tá Phạm Hồng Quảng, quê Công á, Bảo Nguyên, Lâm Thao, Phú Thọ. Và các chiến sĩ: Hoàng Văn Ngân, quê Long Sơn, Thanh Long, Thanh Chương, Nghệ An; Nguyễn Văn Kiên, quê Mỹ Hòa, Nghi Mỹ, Nghi Lộc, Nghệ An; Trần Thanh Bình, quê Minh Thành, Quỳnh Long, Quỳnh Lưu, Nghệ An; Trần Xuân Mỹ, quê Dương Phong, Nam Phong, Nam Đàn, Nghệ An; Trần Xuân Như, quê Liên An, Can Lộc, Hà Tĩnh; Lê Trọng Bình, quê Hương Trà, Sơn Trà, Hương Sơn, Hà Tĩnh; Đoàn Hồng Khanh, quê Mỹ Sơn, Nghi Lâm, Nghi Lộc, Nghệ An; Nguyễn Tất Hiền, quê Tân Trường, Hội Sơn, Anh Sơn, Nghệ An; Hà Thanh Reo, quê xóm Đoàn, Lai Đồng, Thanh Sơn, Phú Thọ; Nguyễn Thanh Trung, quê ái Quốc, Quỳnh Hậu, Quỳnh Lưu, Nghệ An; Nguyễn Thanh Chung, quê Quỳnh Thắng, Quỳnh Lưu, Nghệ An; Đặng Khắc Hồng, quê Kim Hà, Nghi Thiện, Nghi Lộc, Nghệ An; Bùi Văn Vánh, quê ái Quốc, Quỳnh Thuận, Quỳnh Lưu, Nghệ An.
Tất cả 24 liệt sĩ của Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 được an táng ở khu vực chân cao điểm 544.
Do tổn thất lớn, một bầu không khí nặng nề buồn đau trùm lên đơn vị. Chỉ huy tiểu đoàn quyết định tổ chức đánh một trận thật tốt để lấy lại khí thế cho đơn vị.
Sau khi cân nhắc, chỉ huy tiểu đoàn cho gọi tôi và Chính trị viên Dy lên giao nhiệm vụ. Tiểu đoàn trưởng nói:
- Tình hình tiểu đoàn các đồng chí đã biết. Anh em tư tưởng có chùng xuống trước tổn thất của đơn vị vì vậy, ta phải tổ chức đánh một trận thắng giòn giã mở màn cho tiểu đoàn, lấy lại khí thế cho đơn vị Đại đội 2 còn nguyên vẹn, đồng chí Hiệu là Đại đội trưởng có kinh nghiệm nên tiểu đoàn quyết định giao nhiệm vụ này cho Đại đội 2. Mục tiêu của các đồng chí là đánh vào lữ đoàn 1 sư đoàn 5 bộ binh cơ giới Mỹ. Phải diệt gọn một cụm cỡ đại đội, các đồng chí thấy thế nào?
Suy nghĩ một !át, tôi nói:
- Qua những lần đi chuẩn bị chiến trường, tôi thấy lữ đoàn 1, sư đoàn 5 bộ binh cơ giới Mỹ vẫn thực hiện chiến thuật "trâu rừng" cửa tướng Abram. Ban ngày chúng dùng phi pháo kết hợp với bộ binh cơ giới nống ra lùng sục. Tối co lại gần cứ điểm thành từng cụm, chúng dùng máy ủi ủi đất thành bờ, dùng lưới chống B40 rào xung quanh, xe tăng ẩn trong đó và dùng phi pháo ngăn chặn ta từ xa và tung thám báo ra bảo vệ vòng ngoài. Phát hiện thấy ta chúng dùng phi pháo sát thương. Trên đây là việc làm khó.
-Thế theo đồng chí ta phải làm thế nào? - Tiểu đoàn trưởng chăm chú nhìn tôi, hỏi.
-Tôi đề nghị ta không tổ chức cách đánh thong thường chia đại đội thành hai bộ phận. Bộ phận đi bám địch, bộ phận ở nhà chuẩn bị sẵn sàng xuất kích. Cách tổ chức như vậy thì khó đánh được chúng lúc này. Đại đội sẽ tổ chức chọn người chia làm ba tổ. Tốt nhất là chọn đảng viên và cảm tình Đảng cùng đi bám địch, phát hiện được địch là triển khai đánh luôn.. Chúng ta phải quán triệt phương châm chỉ đạo tác chiến của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là "bám thắt lưng Mỹ mà đánh".
- Tôi nhất trí ý kiến của Đại đội trưởng Hiệu, các đồng chí về tổ chức cho đơn vị chiến đấu, phải bảo đảm tuyệt đối an toàn trước khi nổ súng, nếu không phi pháo địch sẽ oanh tạc trong quá trình bám nắm địch. Các đồng chí tổ chức đánh càng sớm càng tốt. Chúng tôi chờ tin thắng trận.
- Chúng tôi hứa sẽ thực hiện tốt nhiệm vụ
Trên đường về tôi và Chính trị viên Dy vừa mừng vừa lo. Mừng là được tiểu đoàn tin tưởng giao nhiệm vụ trong lúc đơn vị gặp khó khăn, lo là lúc này dịch đang co lại trong khu vực tiểu đoàn hoạt động. Tôi trao đổi với Chính trị viên Dy:
- Anh cho hội ý chi ủy và họp chi bộ ra nghị quyết lãnh đạo bộ đội, củng cố và giữ vững quyết tâm cho đơn vị. Còn phương án chiến đấu, ta sẽ chọn 21 người, chia làm ba mũi. Tôi và anh sẽ đi một mũi, Chính trị viên phó Lê Đăng Nhiệm (anh Nhiệm quê ở xóm Đông, Quỳnh Vinh, Quỳnh Lưu, Nghệ An) phụ trách một mũi, đại đội phó phụ trách
một mũi. Điều quan trọng là phải nắm chắc quy luật của địch, xem địch bố trí thế nào, đi càn thế nào và tối về chúng cụm thế nào?
Chính trị viên Dy nói thêm:
- Cái khó là đưa quân phải bảo đảm được yếu tố bí mật. Không may có thương vong thì rất khó giải quyết. Không thể đưa thương binh, tử sĩ ra trước sáng được? Như vậy phải tính đến điểm giấu quân trong đó để đêm sau mới đưa anh em ra được. Vì thế trang bị phải rất gọn nhẹ.
Tôi bổ sung:
Để bảo đảm bí mật, tôi đã nghĩ là phải đưa bộ đội hành quân đi theo sông Cam Lộ. Khi qua đường, trải vải dù, người đi sau cùng phải đi giật lùi dùng cành lá xóa hết dấu vết.
Vừa đi vừa trao đổi, tôi và Chính trị viên Dy về đến đơn vị lúc nào không hay. Chúng tôi bắt tay ngay vào công tác chuẩn bị, tổ chức bộ đội. Anh Dy hội ý cấp ủy và quán triệt nhiệm vụ cho chi bộ và đơn vị. Tôi hội ý cán bộ trung đội lựa chọn người. Số cán bộ, chiến sĩ được lựa chọn là 21 người. Đại đội có tất cả sáu khẩu B40, và ba khẩu B41 sẽ mang đi hết. Mỗi khẩu B40, B41 mang theo sáu quả đạn, ngoài súng AK báng gấp, mỗi người mang bốn quả lựu đạn cùng lương khô, bông băng. Nhìn nét mặt ai cũng háo hức, quyết tâm cao trong tôi trào dâng niềm xúc động.

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi hành quân theo phương án đã định. Từ ngày 1 tháng 4 năm 1970, do bị đơn vị bạn đánh ở cao điểm 182 nên địch luôn luôn cơ động và dùng hỏa lực ngăn chặn. Chúng tôi động viên anh em kiên trì tìm địch đánh cho kỳ được.
Ngày 4 tháng 4, khi chúng tôi vừa ra tới bãi Tân Kim thì chạm trán thám báo Mỹ. Bọn thám báo liền gọi máy bay và pháo binh đánh vào đội hình ta. Tôi và hai đồng chí bị thương. Một mảnh pháo găm vào cánh tay trái tôi, máu chảy đầm đìa. Đồng chí y tá kịp thời băng lại. Trước tình huống bất ngờ, tôi thoáng nghĩ, mình bây giờ mà đi viện thì sẽ ảnh hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của đơn vị, phải kiên quyết ở lại chỉ huy chiến đấu. Tôi cho người đưa hai đồng chí bị thương xuống một khe suối cạn và dặn ở lại đó, đơn vị đánh xong sẽ đưa đi viện sau.
Đại đội tiếp tục hành quân bám địch nhưng vẫn chưa bám được cụm xe cơ giới nào.
Trong đơn vị bắt đầu xuất hiện tư tưởng lo ngại, bởi đã ba, bốn ngày đêm liền không ngủ, ăn lương khô, uống nước lã mà vẫn không bám được địch. Có người cho rằng nếu kéo dài tình trạng này thì kiệt sức mất thôi.

Trước tình hình đó, tôi và Chính trị viên Dy hội ý cấp ủy củng cố quyết tâm cho bộ đội. Chúng tôi cho rằng lúc này chỉ có đánh được địch thì mới lấy lại lòng tin cho chiến sĩ. Chi ủy hạ quyết tâm: Tối ngày 4 rạng ngày 5 tháng 4, phải kiên quyết tìm địch và đánh cho bằng được. Chúng tôi phân công nhau xuống gặp từng người, phân tích tình hình, động viên anh em kiên nhẫn và quyết tâm trong đêm phải tìm bằng được cụm bộ binh cơ giới Mỹ.
Tôi tổ chức cán bộ, trinh sát đi đầu bám địch. Chính trị viên và đại đội phó tổ chức hành quân sau. 18 giờ, chúng tôi đến bãi Tân Kim. Trinh sát vẫn không phát hiện được địch. Tôi nghĩ, nếu cứ bám địch theo kiểu cũ sẽ không được, phải táo bạo tiến sâu về phía nam, lùng sục để tìm chúng. Tôi nói: "ở đâu có tiếng cối cá nhân của địch bắn ra là ở đó có bộ binh cơ giới Mỹ. Vì vậy, ta phải lấy tiếng súng của địch để tìm địch”.
Chúng tôi xác định chính xác hướng có tiếng súng cối địch mà tiến. Đến 22 giờ, qua ánh sáng của đèn dù, pháo sáng, chúng tôi nhìn thấy ba cụm cơ giới Mỹ. Tôi mừng quá. Tranh thủ hội ý cán bộ, tôi nói:
- Theo cách bố trí của địch, khả năng bọn chỉ huy cụm bộ binh cơ giới Mỹ ở Sáp Đá Mài. Cụm này nằm phía trong, có thể chúng chủ quan, sơ hở nên chúng ta bỏ hai cụm phía bắc mà tập trung tiêu diệt cụm Sáp Đá Mài.
Mọi người thống nhất phương án của tôi nêu ra. Khi đội hình chúng tôi cách cụm cơ giới Mỹ khoảng 200 mét, tôi cho anh em dừng lại triển khai đội hình, chờ lệnh.
Tôi dẫn Trung đội trưởng Thuần, Trung đội trưởng Hợp và bốn trinh sát bò qua hố bom, vượt một con suối cạn, tiên vào cách địch 30 mét. Lợi dụng đèn dù, chúng tôi đếm được 16 chiếc xe tăng bố trí thành hình vòng cung. Cụm xe tăng này có nhiều nhà bạt và cần ăng ten. Anh em xác định đây là cụm xe chỉ huy.
Tôi chỉ từng mục tiêu, phân chia từng khu vực cho các trung đội trưởng. Sau đó tôi và Thuần bò vào để tìm và xác định một lần nữa vị trí chỉ huy của dịch.
Bọn lính gác đi đi lại lại, chốc chốc chúng bắn vài quả đạn cối ra xung quanh để trấn an tinh thần binh lính. Lợi dụng đám cỏ tranh, tôi và Thuần nhẹ nhàng vượt về phía nam và gặp một xe tăng địch nằm giấu trong bụi cây. Thuần vỗ vào thành xe nói nhỏ: "Vỏ thép lạnh quá!". Chúng tôi quan sát thấy lính Mỹ đã ngủ trong nhà bạt. ở một nhà bạt khác chúng đang mở máy thông tin nói xì xà xì xồ Chắc là chúng thông báo cho cấp trên:
Tình hình vẫn ổn!
Sau khi trinh sát xong, tôi quay về mũi chính diện, ban chỉ huy đại đội và các trung đội trưởng đã có mặt, tôi nói:
- Căn cứ vào hình thái đóng quân của xe tăng địch, ta phải đánh từ ba hướng mới diệt gọn được chúng. Các xạ thủ B40, B41 phải vào cách xe tăng địch từ năm đến bảy mét chọn vị trí bắn. Tôi và Chính trị viên Dy sẽ đi hướng chính diện với trung đội Thuần. Hướng này sẽ tập trung hai khẩu B41 và hai khẩu B40. Khi hướng chính nổ súng, thì tất cả bắn vào những chiếc xe tăng mà các xạ thủ đã chọn. Mỗi chiếc xe bắn hai quả đạn B40 hoặc B41. Ai có ý kiến gì không?
Mọi người đều nhất trí, tôi yêu cầu tất cả khẩn trương vào vị trí chiến đấu.
Tôi xem đồng hồ, lúc đó là 12 giờ đêm. Bộ đội đã vào vị trí xuất phát tiến công. Tôi đi kiểm tra và bắt tay các xạ thủ B40, B41 động viên anh em bình tĩnh lập công.
3 giờ 15 phút các mũi đã áp sát mục tiêu từ 20 đến 30 mét, tôi kiểm tra lần cuối cùng rồi quay về hướng chính diện dẫn tổ luồn sâu vào vị trí.
3 giờ 40, tôi hướng dẫn cho tổ luồn sâu của đồng chí Xứng tiếp cận sở chỉ huy địch. Cách bảy mét, xứng vấp phải quả mìn sáng. Chớp thời cơ tôi lệnh cho Xứng và chiến sĩ B4 1 Phùng Văn Khoét bắn liên tiếp hai quả vào chiếc xe chỉ huy để phát lệnh tiến công. Hai tiếng nổ gần như liên tiếp vang lên. Một quầng lửa màu da cam hắt ra. Nhân lúc những tia sáng lóe lên, Khoét nhìn rõ hình thù một chiếc xe tăng địch. Anh siết cò. Khẩu B41 trên vai Khoét nhẹ tâng, quả đạn lao đi. Chiếc xe thứ hai bốc cháy.
Tiếp đó là những tiếng nổ vang dậy. Với quả đạn đầu tiên, tất cả chiến sĩ B40 và B41 đều bắn cháy xe tăng địch. Tám chiếc xe tăng bị diệt ngay từ những loạt đạn đầu. Tôi hô toàn đơn vị xung phong. Vượt qua chiếc xe chỉ huy, bộ đội từ các hướng đánh thẳng vào đội hình địch. Các chiến sĩ B40 và B41 bắn xe tăng, các chiến sĩ xung kích dùng AK bắn quét diệt bộ binh địch.
Lúc này Phùng Văn Khoét thấy phía trước mũi chiến đấu của anh một chiếc xe tăng đang chống trả điên cuồng. Lính Mỹ bắn như đan lửa về phía ta. Khoét lắp tiếp quả đạn thứ ba rồi vọt lên. Đạn
AR15 của địch bay chiu chíu trên đầu, nhưng anh vẫn bình tĩnh nhằm vào chiếc xe tăng siết cò. Đạn không nổ. Khoét lên cò siết lần thứ hai. Vẫn không nổ. Khoét đến bên cạnh tôi, nói trong hơi thở:
- Tiếc quá đại đội trưởng ạ. Đạn hỏng!

Tôi nói chiến sĩ B41 Nguyễn Hải Hà đưa cho Khoét quả đạn. Nhận quả đạn từ tay Hà lắp vào súng, Khoét tiếp tục đuổi theo chiếc xe. Một tiếng nổ chát chúa kéo theo một quầng lửa trùm kín chiếc xe tăng.
Cuộc chiến đấu cùng về sau càng diễn ra quyết liệt Địch ngoan cố cụm vào ba chiếc tăng còn lại ở phía nam bắn trả điên cuồng vào đội hình tiến công của ta. Tôi lệnh cho khẩu B41 dự phòng và điều hai khẩu B40 vòng sang bên sườn tiêu diệt ba chiếc tăng này.
Tôi ra lệnh mỗi khẩu B40, B41 bắn liên tiếp hai quả đạn vào cụm xe tăng địch. Sau một loạt tiếng nổ B40, B41, lửa từ những chiếc xe tăng bốc cháy ngùn ngụt.
Bỗng từ phía nam, chiếc xe tăng ở vòng ngoài bất ngờ nổ máy bắn vào đội hình quân ta. Tôi lệnh cho hai chiến sĩ B41 nhằm vào chiếc xe tăng đang hung hăng nổ súng. Hai quả đạn B4 1 đã xuyên thủng lớp vỏ thép của chiếc xe làm cho nó khựng lại bốc cháy.
Trời đã gần sáng, tôi trao đổi với Chính trị viên Dy cho bộ đội lui quân. Chiến sĩ truyền nhau lệnh của tôi: "Nhanh chóng rời trận địa". Các mũi lần lượt thu quân, để lại 16 xác xe tăng và 95 xác lính Mỹ trong những đám cháy rừng rực.

Cả đại đội vận động đến khu vực an toàn, tôi cho dừng lại. Lúc này, pháo địch bắn như bao bọc lấy đám cháy. Máy bay Li9, OVIO bay lên thả pháo sáng, máy bay Ci30 bắn đạn 20 ly. Tôi đành lòng bảo anh em đưa liệt sĩ ra sông Cam Lộ, buộc đá vào từng thi thể thả xuống sông để đêm hôm sau lấy đưa anh em về.
Bốn đồng chí hy sinh trong trận tập kích cụm cơ giới Mỹ đêm mồng 4 rạng mồng 5 tháng 4 năm 1970 là: Tiểu đội trưởng Ninh Văn Danh, quê Đại Từ, Tam Kỳ, Yên Lạc, Vĩnh Phúc; Tiểu đội trưởng Cao Chí Ngân, quê Sơn Phúc, Hương Sơn, Hà Tĩnh; chiến sĩ Bùi Duy Cầu, quê Quỳnh Lương, Quỳnh Lưu, Nghệ An; chiến sĩ Trần Xuân Trạch, quê xóm 5, Hưng Đạo, Hưng Nguyên, Nghệ An. Bốn liệt sĩ này được đưa về an táng tại khu vực Tân Kim.
Tôi cũng cho anh em ném vũ khí chiến lợi phẩm xuống sông Cam Lộ, chỉ giữ lại súng B40, B41, AK, lựu đạn.
Lúc này, Trung đội trưởng Thuần báo cáo với tôi là trung đội anh còn thiếu hai người, trong đó có Phùng Văn Khoét, dũng sĩ đã diệt ba xe tăng. Tôi nói với Chính trị viên Dy cho bộ đội hành quân về vị trí tập kết, còn tôi và một chiến sĩ quay lại trận địa. Đi được gần một cây số, tôi nhìn thấy hai chiến sĩ đang dìu nhau. Tôi nhận ra Khoét dáng cao to, băng kín đầu đang dựa vào một chiến sĩ nhỏ hơn. Trời sắp sáng, tôi bảo mọi người đưa Khoét về sườn tây nam, ẩn mình trong những lùm cây lúp xúp, để tối sẽ về đơn vị.
9 giờ sáng, địch cho 24 làn chiếc trực thăng UHIA và cả trực thăng cần cẩu lên cẩu xác những chiếc xe tăng bị cháy về Miếu Bái Sơn. Sau đó, chúng điều xe ủi san phẳng ngọn đồi. Đến 17 giờ cùng ngày chúng rút khỏi Sáp Đá Mài.
Mấy ngày sau, tôi buồn rầu được tin đồng chí Phùng Văn Khoét và đồng chí Vi Công Đoàn đã hy sinh tại trạm phẫu D ở đông nam cao điểm 402. Đồng chí Khoét quê ở Tân Quyên, Kim Thượng, Thanh Sơn, Phú Thọ, anh là người dân tộc Mường và đồng chí Đoàn quê ở Bản Mã, Kim Tiến, Tương Dương, Nghệ An. Tôi vô cùng thương tiếc Khoét,
một người chiến sĩ dũng cảm, một dũng sĩ diệt xe cơ giới Mỹ và Đoàn, một chiến sĩ dũng cảm.
Sau trận đánh của Đại đội 2, lính Mỹ ở khu vực Sáp Đá Mài vô cùng hoảng sợ, chúng không dám giăng xe và lính ra để chiếm giữ khu vực này. Trận đánh đã góp phần đẩy chiến thuật "trâu rừng" của Abram hoàn toàn phá sản.
Chiến thắng của Đại đội 2 đã tạo khí thế chung cho toàn đơn vị. Tiểu đoàn 3 đang gặp khó khăn nhưng vẫn đứng vững trên địa bàn hoạt động của mình cùng với các đơn vị trong trung đoàn giữ thế tiến công tiêu diệt địch. Đại đội 2 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì. Tôi cũng được trên tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì, và được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng. Chính trị viên tiểu đoàn là đồng chí Trần Xuân Gắng.
Thời gian này một số phóng viên của Báo Quân đội nhân dân như đồng chí Đoàn Công Tính, đồng chí Cao Tiến Lê, Ngọc Đàn. . . đã đi sát đơn vị tôi để chụp ảnh, viết bài, đưa tin tuyên truyền kịp thời chiến thắng của quân dân ta.
Hôm lên trung đoàn nhận nhiệm vụ, Trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâng bắt tay tôi, ông khen:
- Cậu khá lắm! Quyết đoán, đánh giỏi hôm Đại đội 2 đánh cụm xe tăng Mỹ ở Sáp Đá Mài, đài quan sát báo cáo cả ngọn đồi cháy rực, mình thấy vui quá
Chính ủy Nguyễn Võ Hiển, với giọng Hà anh năng nặng bảo tôi:
- Sau khi thấy cậu chỉ huy đánh thắng, tớ nói với anh Tâm, phải đưa Hiệu lên Tiểu đoàn trưởng. Hôm nay có quyết định rồi, cương vị mới phải cố
gắng hơn. Tớ tin cậu sẽ làm tốt.

Tôi thưa:
- Được Trung đoàn trưởng, Chính ủy tin cậy, tôi sẽ cố gắng hết sức mình chỉ huy tiểu đoàn, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trung đoàn giao.
Tiểu đoàn trưởng Tâm vui vẻ:
- Thế thì tốt! Tụi mình tin cậu.
Trở lại tình hình Tiểu đoàn 3, ngày 18 tháng 4 năm 1970, Đại đội phó Ngô Thanh Cư, quê Diễn Kim, Diễn Châu, Nghệ An bị bom tọa độ hy sinh. Đồng chí Cư là người đã gắn bó với tôi trong nhiều trận đánh. Anh được an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Vĩnh Thượng. Đến ngày 23 tháng 4 năm 1970, Chính trị viên Nguyễn Văn Bảo trên đường đi nghiên cứu địa hình ở cao điểm 182, anh gặp thám báo địch, chiến đấu. Chúng gọi pháo bắn, anh trúng đạn hy sinh. Anh Bảo được an táng tại nghĩa trang Liệt sĩ xã Vĩnh Thượng, bờ bắc sông Bến Hải, khu Vĩnh Linh.
Thế là trong vòng 5 ngày, Tiểu đoàn 3 đã mất hai cán bộ ưu tú.
Giữa tháng 5 năm 1970, sau khi nghe Trung đoàn 27 báo cáo kết quả chiến đấu của một số đơn vị, trong đó có thành tích Đại đội 2, Tiểu đoàn 3, Bộ tư lệnh Mặt trận B5 đã biểu dương thành tích chiến đấu xuất sắc của trung đoàn trong đợt vừa qua, đồng thời chỉ thị tiếp cho trung đoàn: "Tranh thủ thời cơ củng cố đơn vị để đưa bộ đội vào sâu hơn. Kiên quyết giữ vững địa bàn xung quanh các cao điểm 322, 288 để khống chế cao điểm 544 từ phía đông nam".
Nhận được chỉ thị của trên, Trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâm giao nhiệm vụ:
Tiểu đoàn 3 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu chỉ huy, tiến sâu vào phía nam khu vực cao điểm 322, cao điểm 288. Tiểu đoàn 2 do Tiểu đoàn trưởng Bùi Xuân Các chỉ huy đánh địch nống ra ở Đồi Tròn (nam cao điểm 544). Tiểu đoàn 1 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Tỵ chỉ huy, mở rộng địa bàn, chốt giữ ở phía đông và phía bắc căn cứ 544.
Các đơn vị pháo binh, súng máy 12,7 ly chi viện đắc lực cho bộ binh và chủ động đánh địch, nhất là đại đội súng máy 12,7 ly.
Nhận xong nhiệm vụ chúng tôi khẩn trương chuẩn bị cho đơn vị bước vào chiến đấu.
Thời gian này, trung đoàn 2, sư đoàn 3 nguy và một số đơn vị thuộc lữ đoàn 1, sư đoàn 5 Mỹ phải đem hết lực lượng ra để đối phó trên hướng chiến đấu của Trung đoàn 27. Lính ở cứ điểm 544 hoảng sợ trước sự vây ép liên tục của Tiểu đoàn 2. Trận địa pháo cối của địch ở trên cao điểm 544 bị không chế liên tục, không chi viện được cho bọn lính hoạt động xung quanh khu vực 544.

Mặc dù bị thua đau, nhưng bọn địch vẫn cố sống cố chết bám lấy cứ điểm 544. Qua đài kỹ thuật ta nắm được trong thời kỳ này, địch phải tăng cường pháo binh cho cứ điểm Đầu Mầu ở phía nam Đường 9 để chi viện cho cứ điểm 544. Các lực lượng còn lại của vùng 1 chiến thuật quân nguy Sài Gòn phải túc trực thường xuyên để nống ra khu vực 544 nhằm bảo vệ vòng ngoài.
Để bám chắc địch, đánh tiêu diệt chúng lớn hơn, Trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâm quyết định tăng cường các đài quan sát để nắm địch kịp thời, tạo điều kiện cho các đơn vị bộ binh đánh thắng.
Chiến sĩ Đại đội 1 5 trinh sát hầu như có mặt khắp địa bàn hoạt động của trung đoàn. Đài quan sát đặt xung quanh cứ điểm 544, đồng thời là những trận địa chốt sẵn sàng đánh địch của các chiến sĩ trinh sát.
Trên hướng của Tiểu đoàn 3, thủ đoạn hoạt động của địch cũng thay đổi, hàng ngày chúng cho trung đội thám báo đi dò mìn và thông đường trước, sau đó chúng cho xe chở quân đi. Nắm được quy luật của địch, tôi cho các đại đội chọn những cán bộ, chiến sĩ thông thạo địa hình, linh hoạt tổ chức những trận phục kích đánh giao thông. Những trận đầu, tôi dẫn anh em đi chọn đoạn đường khúc khuỷu làm nơi phục kích địch (cách Miếu Bái Sơn 500 mét) trên Đường 76. Vì đoạn đường này có nhiều đường cua nên xe của chúng phải đi chậm, anh em đặt mìn định hướng Clâymo thu được của Mỹ (loại mìn gây sát thương ghê lắm vì có hàng trăm viên bi). Chúng tôi để trung đội thám báo đi qua, rồi chờ chúng quay lại dẫn đoàn xe vận tải quân sự chở quân. Những tên lính Mỹ ngồi trên xe chủ quan, tin rằng trung đội thám báo đã dò xét kỹ. Khi đoàn xe lọt vào đúng tâm trận địa phục kích, tôi lệnh cho chiến sĩ bắn B41, nhằm chiếc đi đầu, bắn. Chiếc xe trúng. đạn bốc cháy. Những chiếc xe chạy sau theo quán tính lao vào xe trước. Có những chiếc xe do tránh xe bị cháy đã lao xuống vệ đường đổ kềnh. Lúc này B40, B41, lựu đạn AK của ta bắn vào những chiếc xe đang hỗn loạn. Trận đầu ta diệt 7 xe. Những trận tương tự ta diệt năm xe. Gặp đoàn xe đông, anh em chặn đánh năm xe đi sau.
Lại có trận, trời mưa lính ngụy mặc áo mưa trùm kín đầu đi tuần. Anh em phục diệt chúng, rồi lấy áo mưa, súng AR15 đóng giả lính nguy đi nghênh ngang trên đường, thấy đoàn xe quân sự chở quân anh em ra hiệu dừng lại. Khi những tên lính nguy còn chưa hay biết chuyện gì sẽ xảy ra, thì lập tức tổ phục kích bắn B40, B41 vào những chiếc
xe chở đầy lính. Địch không kịp trở tay, anh em rút lui an toàn.
Cách đánh phục kích mang lại hiệu quả cao, ta hạn chế được thương vong. Đánh xong anh em chia từng tốp ba người rút về phía nam. Tối hợp điểm ở nơi đã định rồi về vị trí tập kết.
Vào những tháng giữa năm 1970, lúc chúng tôi tổ chức đánh ở Đường 76, lúc lại đánh trên Đường 9. Nhưng mỗi vị trí cũng chỉ đánh được vài trận. Vì sau đó bọn địch rút kinh nghiệm, đi thưa và có máy bay trực thăng hộ tống.
Cuộc chiến đấu của Trung đoàn 27 những tháng giữa năm 1970 trong hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra diễn ra giằng co quyết liệt. Địch bị đánh khắp nơi, từ căn cứ Cồn Tiên đến Sa Mưu, Phu-lơ, Đầu Mầu, 300 Đất, 300 Đá, cầu Thiện Xuân. . . Mỹ - nguy cay
cú tiếp tục xua quân ra nống lấn, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 27 lại có thời cơ diệt địch. Thực hiện ý định của cấp trên: Địch co lại, ta kẻo chúng ra để diệt, đánh điểm kết hợp với đánh lực lượng "quần cù "
Ngày 29 tháng 7 năm 1970, trinh sát báo cáo một đại đội nguy hành quân ra cao điểm 182, gần vị trí đóng quân của Đại đội 1. Tôi lệnh cho đại đội này khấn trương chặn đánh. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 nhanh chóng xuất kích, hình thành thế trận chặn đầu, khóa đuôi rồi nổ súng tiến công. Sau gần 30 phút chiến đấu, quân ta đã đánh thiệt hại nặng đại đội thuộc trung đoàn 3, sư đoàn 3 nguy. Đại đội 1 có ba cán bộ, chiến sĩ hy sinh, đó là Trung đội trưởng Nguyễn Văn Long, quê Hợp tác xã Thống Nhất, Nam Mỹ, Nam Đàn, Nghệ An; Trung đội phó Lương Xim Do áng, quê Thôn Chiếng, Vỏ Lao, Văn Bàn, Yên Bái; chiến sĩ Phan Huy Đạt, quê Bản Thục, Khuất Xá, Lộc Bình, Lạng Sơn. Các anh được an táng ở chân điểm cao 468.
Ngày 2 tháng 8 năm 1970, Tiểu đoàn tôi bị máy bay B52 đánh trúng đội hình, gây tổn thất lớn. Nhiều đồng chí hy sinh. Đại đội 3 có Đại đội trưởng Nguyễn Văn Cương, quê Phúc Thịnh, Yên Phúc, Yên Định, Thanh Hóa và y tá Tạ Đăng Khai, quê An Lạc, Đồng Tiến, Khoái Châu, Hưng Yên. Đại đội 4 có ba chiến sĩ là: Hồ Thức Minh, quê Thọ Mỹ, Diễn Trường, Diễn Châu, Nghệ An; Nông Văn Cần, quê Đà Tiên, Lăng Hiếu, Trùng Khánh, Cao Bằng; Nông Văn Quang, quê Nà Phải, Chí Viễn, Trùng Khánh, Cao Bằng. Tiểu đoàn bộ có Tiểu đội trưởng Đinh Văn Sâm, quê Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên, Nghệ An. Các liệt sĩ của tiểu đoàn được an táng tại chân cao điểm 230.
Những tháng cuối năm 1970, Tiểu đoàn 8 của tôi liên tục tổ chức những trận vận động tiến công ở cao điểm 182, Đồi Đá, Đ1, Đ2, Đ3, Đ4... và xung quanh căn cứ Phu-lơ gây cho địch nhiều tổn thất.
Năm 1970 qua đi, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 nói chung và Tiểu đoàn 3 nói riêng đều thấy tự hào vì có bước trưởng thành về mọi mặt, đặc biệt hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu trong hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra. Những trận đánh của đơn vị trong năm 1970 có quy mô lớn hơn so với hai năm trước. Sở trường tác chiến của các đơn vị trong trung đoàn đã được hình thành: Tiểu đoàn 1 chốt giữ; Tiểu đoàn 2 vây lấn; Tiểu đoàn 3 của tôi vận động tiến công.
Qua chiến đấu với quân ngụy, chúng ỷ vào hỏa lực mạnh của pháo bầy, trong đó chúng dùng pháo chôm, pháo đinh và các loại bom như bom bi, bom napan, bom phát quang, bom đào, bom B.52, bom tọa độ. . . đánh phá vào trận địa ta. Để hạn chế thương vong, chúng tôi phải đào hầm hàm ếch để tránh pháo chôm, pháo đinh, bom phát quang, bom bi . . . Kinh nghiệm tránh máy bay B.52 là giữa hai trận đánh trời bỗng trở nên yên ắng là chỉ sau vài chục phút, khu vực ấy hứng chịu bom rải thảm của B.52. Khi B.52 đánh trúng đội hình, anh em chúng tôi nằm sấp tay để dưới ngực chống sức ép của bom. Khi Mỹ dùng chất độc, hơi cay đánh vào những điểm chốt của chúng ta, chúng tôi cho bộ đội dùng khăn mặt thấm nước để lên miệng, lên mũi. Khi không có nước, anh em phải dùng nước giải thấm vào khăn rồi bịt mồm, bịt mũi mà thở. Cách này cũng rất hiệu quả và được anh em chúng tôi dùng trong nhiều năm với những thành tích đã đạt được, Trung đoàn 27
Vinh dự được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công. Đây là tấm Huân chương Quân công đầu tiên mà trung đoàn được nhận, đánh dấu bước trưởng thành vững chắc của trung đoàn. Phần thưởng cao quý này là kết quả của cả một quá trình phấn đấu không mệt mỏi, không ngại hy sinh, gian khổ của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trung đoàn, xứng đáng với niềm tin của Đảng, của nhân dân và các đơn vị bạn.
 
< Prev   Next >
Trang chủ Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam