| Một thời Quảng Trị_Chương IV |
|
|
|
| Written by lichsuvn.info | |
| Friday, 05 December 2008 | |
|
Chương bốn
Cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân
ta đã giáng đòn quyết định làm thất bại chiến lược "chiến tranh cục bộ"
của Mỹ, tạo một bước ngoặt lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Chính quyền Mỹ buộc phải từ bỏ chiến lược "chiến tranh cục bộ", xuống
thang chiến tranh, chủ trương "phi Mỹ hóa" cuộc chiến tranh và ngồi vào
bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri.CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 – NAM LÀO ở miền Nam Việt Nam, Mỹ đã đề ra kế hoạch chiến lược gồm ba bước để thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Bước một: Chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên bộ cho quân ngụy, bắt đầu rút một số bộ phận quân chiến đấu Mỹ, tiếp tục làm suy yếu lực lượng ta bằng các kế hoạch mới, về "bình định nông thôn". Đây là bước quan trọng có ý nghĩa quyết định. Bước hai: Chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên không cho quân ngụy, làm cho quân ngụy mạnh lên để đủ sức đương đầu với ta. Bước ba: Hoàn thành "Việt Nam hoá chiến tranh", củng cố các thành quả đạt được, làm cho lực lượng ta bị suy yếu nghiêm trọng và vì thế sẽ "tràn lụi dần". Mỹ dự kiến đến giữa năm 1972 sẽ hoàn thành kế hoạch ba bước trên đây. Mỹ cũng đề ra những biện pháp chiến lược để thực hiện kế hoạch trên là: Thứ nhất, phát triển và hiện đại hóa quân nguy để đủ sức đối phó với ta và trở thành lực lượng nòng cốt cho các loại quân tay sai trên toàn chiến trường Đông Dương. Đến cuối năm 1969, địch đã tăng thêm 160 nghìn quân, đưa tổng số quân nguy từ 717 nghìn quân (năm 1968) lên 877 nghìn quân và năm 1970 lên xấp xỉ hơn một triệu quân. Từ năm 1970 trở đi, các sư đoàn quân nguy không còn bị trói buộc vào nhiệm vụ chiếm đóng mà được sử dụng làm nhiệm vụ cơ động trên toàn miền Nam. Đầu năm 1970, quân ngụy có 12 sư đoàn, tám trung đoàn bộ binh; pháo binh có 55 trung đoàn với 990 khẩu pháo. Xe tăng, thiết giáp có 18 chi đoàn, 44 chi đội (l.310 chiếc). Đặc biệt không quân ngụy đã phát triển với tốc độ cao, số lượng sĩ quan và nhân viên không quân được đào tạo tăng gấp 10 lần với 20 phi đoàn gồm 400 máy bay, trong đó có sáu phi đoàn máy bay chiến đấu (120 chiếc). Hải quân có 632 tàu. Lực lượng phòng vệ dân sự lên 1,5 triệu quân trong đó có 400 nghìn quân được vũ trang. Đi đôi với việc tăng cường quân ngụy, từ tháng 6 năm 1969, Mỹ thực hiện việc rút dần quân Mỹ về nước. Cho đến đầu năm 1970, chúng đã rút được ba đợt với 110 nghìn quân. Thứ hai, đẩy mạnh bình định nông thôn, tiêu hao và đẩy lùi bộ đội chủ lực ta ra khỏi các vùng đông dân, nhiều của, xây dựng cơ sở xã hội cho bọn tay sai. Từ cuối năm 1969 trở về sau, địch tập trung cố gắng lớn vào chương trình bình định. Chúng sử dụng toàn bộ quân địa phương, một nửa đến hai phần ba quân chủ lực ngụy cùng bộ máy cảnh sát (trên 100 nghìn quân) với hàng chục nghìn cán bộ bình định, liên tiếp tổ chức các chiến dịch bình định, từ "bình định cấp tốc", "bình định đặc biệt" đến "bình định bổ sung", đánh phá ác liệt các vùng nông thôn đồng bằng đông dân ở cả Nam Bộ, Khu 5 và Trị Thiên. Thứ ba, bao vây kinh tế, đánh phá đường hành lang vận chuyển chiến lược, hòng cắt đứt sự chi viện của miền Bắc vào miền Nam. Chúng mở các cuộc phản kích lớn đánh ra vòng ngoài nhằm đánh phá hậu phương, đánh phá vùng giải phóng, đánh phá căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến, đánh phá hệ thống tiếp tế hậu cần chiến lược của ta để cô lập và làm suy yếu cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam và nhân dân các nước Đông Dương. Thứ tư về ngoại giao, bằng thủ đoạn dùng sức mạnh của Mỹ kết hợp với tìm mọi cách thỏa hiệp và dàn xếp với các nước lớn đồng minh của ta hòng gây sức ép buộc ta phải chấp nhận điều kiện của Mỹ trong cuộc thương lượng tại Hội nghị Pa-ri. Như vậy, về mặt quân sự, cái mới của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" là từ quân đội Mỹ làm nòng cất chủ yếu chuyển dần sang cho quân đội nguy; từ "tìm diệt" lực lượng quân sự sang đánh phá nguồn tiếp tế hậu cần; từ phạm vi 'miền Nam, mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia đẩy mạnh chiến tranh ở Lào và các cửa biển miền Bắc, cô lập ta với đồng minh, dựa vào sự bất đồng của hai nước lớn trong phe xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ để làm suy yếu cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Tính chất cuộc chiến tranh ngày càng quyết liệt, phức tạp và gay gắt, cường độ chiến tranh vẫn phát triển cao, phạm vi chiến tranh mở rộng. Sau này ở cương vị mới, có:điều kiện nghiên cứu, tôi thấy những đợt tiến công liên tiếp của ta ở miền Nam trong năm 1968 và đầu năm 1969, cho thấy rõ xu thế của địch phải tiếp tục xuống thang chiến tranh do bị thất bại nặng nề là điều không cưỡng lại được Song, ta cũng chưa đánh giá đầy đủ chiến lược mới của chính quyền Ních-xơn, nhất là những nỗ lực lớn, những hành động phản kích rất quyết liệt của Mỹ trong các kế hoạch bình định nông thôn mà chúng gọi là "cuộc chiến tranh giành dân", nhằm "đuổi Việt cộng ra khỏi thôn ấp". Do đó, ta đã không kịp thời đề ra những biện pháp tiến công thích hợp nhằm đẩy lùi và đánh bại những âm mưu và thủ đoạn mới của địch trong chiến lược "quét và giữ" mà vẫn chủ trương tiếp tục hướng tiến công chủ yếu vào các đô thị khi không còn điều kiện. Điều đó đã dẫn đến những khó khăn, tổn thất cho cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam từ giữa năm 1968 đến giữa năm 1969. Sau đợt hoạt động hè 1969, để giữ thế tiến công và do việc tiếp tế bổ sung ngày càng khó khăn, lại bị quân địch phản kích quyết liệt, một bộ phận chủ lực ta phải lui về căn cứ để củng cố. Lực lượng vũ trang địa phương cũng bị tiêu hao nặng, sức chiến đấu giảm sút. Mùa mưa, quân địch đánh ra kết hợp với đẩy mạnh chương trình bình định nông thôn và đánh phá căn cứ ta ở miền núi, đánh phá hành lang vận chuyển, gây thêm nhiều khó khăn mới cho ta. Vùng giải phóng bị thu hẹp, tiếp tế hậu cần cho bộ đội gặp nhiều trở ngại. Tuy ta có mở một số đợt tiến công, gây cho địch một số thiệt hại, nhưng không tạo được chuyển biến gì đáng kể. Tháng 1 năm 1970, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã họp hội nghị lần thứ 18. Hội nghị Trung ương đặt vấn đề phải khắc phục là cần đẩy mạnh tiến công toàn diện, tiến công cả về quân sự, chính trị và ngoại giao, vận dụng sáng tạo phương châm tiến công trên cả ba vùng chiến lược nhưng chuyển hẳn hướng tiến công, lấy nông thôn là hướng tiến công chính. Ban Chấp hành Trung ương dự kiến tình hình có thể diễn biến phức tạp ở Cam-pu-chia - đường hành lang vận chuyển cho Nam Bộ và một phần cho Tây Nguyên có thể bị cắt đứt. Trung ương còn đề ra chủ trương ra sức làm nhiệm vụ quốc tế, chi viện cho cách mạng Lào, chuẩn bị kế hoạch phối hợp với quân Lào để chủ động đối phó với khả năng xấu nhất khi địch đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Lào và mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia. Tình thế chính trị, quân sự trên toàn Đông Dương cho đến hết năm 1970 đặt ra yêu cầu đối với quân dân ta khi bước vào mùa Xuân 1971 là phải tăng cường liên minh chiến đấu với quân và dân Lào và Cam-pu-chia anh em, chuyển mạnh sang tiến công và phản công để giáng một đòn có ý nghĩa chiến lược vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và "Học thuyết Ních-xơn" ở Đông Dương, tạo thế và lực mới để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương tiến lên giành thắng lợi to lớn hơn nữa. Về phía địch, theo bước đi chiến lược của Mỹ trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" trong năm 1971 chúng tiến hành các cuộc tiến công lớn đánh ra vòng ngoài, phá hành lang vận chuyển chiến lược và hậu phương chiến lược trực tiếp của ta ở chiến trường Lào và Cam-pu-chia để thực hiện "chiến tranh bóp nghẹt". Đó là bối cảnh chiến lược, hình thái chiến trường, bước đi chiến lược của hai bên, có quan hệ trực tiếp tới quá trình chuẩn bị và hình thành các chiến dịch cùng với bước phát triển mới của ta trong năm 1971. Ta còn dự đoán chính xác phương hướng tiến công của địch trong mùa khô năm 1970 - 1971 sẽ là hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở Trung Hạ Lào và đông bắc Cam-pu-chia nhằm cô lập chiến trường miền Nam. Đầu năm 1971, kế hoạch chiến lược mở các cuộc tiến công ra vòng ngoài đã được Nhà Trắng và Lầu Năm Góc phê chuẩn. Địch huy động 88 tiểu đoàn bộ binh, 1 5 thiết đoàn để mở ba cuộc tiến công quy mô lớn, tiến hành đồng thời và liên tiếp trên ba hướng đánh vào tuyến vận tải chiến lược của ta. Hướng thứ nhất, cuộc tiến công mang tên "Lam Sơn 719", đánh vào khu vực Đường 9 - Nam Lào. Thời gian đầu sử dụng 42 nghìn quân, với 34 tiểu đoàn, sau đó tăng lên 55 nghìn quân. Hướng thứ hai, cuộc tiến công mang tên "Toàn thắng l-71NB", với quy mô lực lượng trên 30 tiểu đoàn đánh vào Tây Ninh, Lộc Ninh rồi đánh lên vùng Kông Pông Chàm, Cra Chiê (đông bắc Cam-pu-chia). Hướng thứ ba, cuộc tiến công từ bắc Kom Tum đánh ra ngã ba biên giới vùng Tà Xẻng, Pa Kha, Sê Sụ thuộc A Tô Pơ (Nam Lào) với lực lượng khoảng 1 sư đoàn. Trong ba cuộc tiến công nói trên, cuộc Hành quân Lam Sơn 719, đánh ra Đường 9 - Nam Lào là lớn nhất. Mục đích của "Hành quân Lam Sơn 719" là đánh phá, cắt đứt tuyến vận tải chiến lược của ta từ gốc, tập trung hủy diệt cơ sở hậu cần chiến lược, làm cho quân chủ lực ta ở miền Nam không thể đánh lớn trong mùa khô 1971 - 1972 và cả năm 1972, buộc ta phải quay về hoạt động chiến tranh du kích, để quân Mỹ rút dần theo kế hoạch mà quân ngụy vẫn mạnh lên. Đưa quân ngụy miền Nam thực nghiệm vai trò thay quân Mỹ trong một kế hoạch tác chiến cao nhất của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Mỹ muốn rèn luyện quân ngụy Sài Gòn thành lực lượng nòng cốt cho các quân đội tay sai ở Đông Dương. Lực lượng tham gia cuộc Hành quân Lam Sơn 719 gồm tất cả các lực lượng dự bị chiến lược cùng lực lượng cơ động của vùng 1 chiến thuật ngụy. Các lực lượng tiếp vận trung ương của quân ngụy được sự chi viện hỏa lực của không quân Mỹ, một bộ phận lực lượng bộ binh và thiết giáp Mỹ phối hợp tác chiến yểm hộ phía sau. Quân ngụy Lào phối hợp hoạt động ở phía tây Đường 9 với 5 tiểu đoàn, từ đó tiến đánh ra khu vực Mường Pha Lan. Có thể nói đây là một cuộc hành quân lớn nhất và điển hình theo công thức "Việt Nam hóa" cuộc chiến tranh của Mỹ. Về phía ta, từ mùa Hè năm 1970, Bộ Tổng tham mưu bắt đầu vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng chỉ đạo việc chuẩn bị chiến trường tác chiến ở khu vực Đường 9 - Nam Lào. Tháng 10 năm 1970, ta thành lập Binh đoàn 70, binh đoàn chiến lược đầu tiên của quân đội ta gồm 3 sư đoàn bộ binh: Sư đoàn 304, Sư đoàn 308 và Sư đoàn 320 và một số trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng. ở khu vực Đường 9, có lực lượng của Mặt trận B5, Quân khu Trị Thiên và Đoàn 559. Ta gấp rút điều chỉnh lực lượng, tổ chức thế trận, thiết bị chiến trường, các đơn vị trên địa bàn sẵn sàng phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực cơ động. Khu vực Đường 9 - Nam Lào là địa bàn rừng núi, thuộc hai tỉnh Quảng Trị và Xa-van-na-khẹt. Đường số 9 nằm vắt ngang vĩ tuyến 1 7 dài khoảng 300 ki-lô-mét nối Đông Hà với Xa-van-na-khẹt. Nó đi qua Lao Bảo, Bản Đông, Sê Pôn, Mường Phìn, Pha Lan - những giao điểm của các con đường 16, 18, 23, 128 và các con sông Sê Băng Hiêng, Sê Pôn hết sức trọng yếu của tuyến giao liên đường bộ, đường thủy. Dọc Đường số 9 từ biên giới Việt - Lào ra biển là khu vực phòng thủ kiên cố gồm nhiều cụm cứ điểm vững chắc của Mỹ - nguy. Phía tây ta có đường vận tải và hệ thống bảo đảm hậu cần chiến lược thuộc Đoàn 559. Đoàn 559 không chỉ là lực lượng vận tải mà là một đơn vị binh chủng hợp thành, có cả bộ binh, công binh, phòng không... đặc biệt có hệ thống lực lượng kho trạm được bố trí trên nhiều điểm, lại có nhiều súng phòng không đang niêm cất hoặc vận chuyển vào phía Nam. Ta đã kịp thời tổ chức lực lượng này thành lực lượng phòng không dày đặc súng 12,7 ly để đánh địch, nhất là bắn máy bay lên thẳng. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch phản công tiêu diệt lớn quân địch ở khu vực Đường. 9 - Nam Lào. Lực lượng tham gia chiến dịch lấy Binh đoàn 70 làm nòng cốt. Bộ Tư lệnh và Đảng ủy Mặt trận Đường 9 - Nam Lào được thành lập. Tư lệnh chiến dịch là Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng. Chính ủy là Thiếu tướng Lê Quang Đạo - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng là đại diện Thường vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng bên cạnh Bộ Tư lệnh chiến dịch. Đây là cơ quan có đủ khả năng, quyền hạn chỉ huy tất cả các lực lượng tham gia chiến dịch và tổ chức hiệp đồng với các chiến trường có liên quan như Quân khu Trị Thiên, Mặt trận Đường 9 (B5), Đoàn 559 và Liên quân Việt - Lào ở Nam Lào. Ngày 30 tháng 1 năm 1971, một sư đoàn Mỹ mở màn cuộc hành quân bằng trận càn dọc Đường 9 phía nam khu phi quân sự, chiếm lại khu vực Khe Sanh để làm bàn đạp cho cuộc tiến công sang Nam Lào của quân ngụy và làm nghi binh cho quân ngụy cơ động triển khai lực lượng. Từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1971, bằng đường không và đường bộ, quân ngụy đã chuyển 22 tiểu đoàn bộ binh và pháo ra khu vực Đông Hà - ái Tử - Khe Sanh. Chúng cho lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ tập vượt sông phía tây cầu Đông Hà và đưa lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ từ La Vang ra cửa Thuận An xuống tàu thủy đi lên hướng bắc, làm như đang cùng quân Mỹ chuẩn bị tiến công ra bắc khu phi quân sự. Một số tàu của hạm đội 7 Mỹ từ biển Đông tiến vào uy hiếp vùng biển nam Quảng Bình. Căn cứ vào âm mưu và việc triển khai lực lượng của địch ta đã sẵn sàng ứng phó với cả hai tình huống: Địch hành quân ra Đường 9 - Nam Lào và cũng có thể tiến công ra nam Khu 4. Do đó, nhiều đơn vị chủ lực của ta bố trí ngay sau địa bàn nam Khu 4 để chủ động đối phó với cả hai tình huống. Về sau, ta phát hiện ngày càng rõ, nam Khu 4 chỉ là hướng địch nghi binh, nên kịp thời chuyển trọng tâm chuẩn bị vào hướng Đường 9 - Nam Lào. Ngày 7 tháng 2 năm 1971, địch triển khai lực lượng chiếm lĩnh xong khu vực tập kết tiến công hướng Đường 9 - Nam Lào. Phía trước là đội hình các đơn vị quân ngụy, phía sau từ Hướng Hóa về thị xã Quảng Trị là quân Mỹ và lực lượng dự bị chiến dịch của quân ngụy. Phía tây Đường 9, quân nguy Lào nống ra Mường Pha Lan và Pha Đô Tuya đế phối hợp với cuộc hành quân. Địch tăng cường hoạt động biệt kích thám báo, trinh sát, ném bom bắn phá các trọng điểm trên trục đường vận chuyển chiến lược của ta. Ngày 2 tháng 2 năm 1971, sở chỉ huy hỗn hợp tại Đông Hà diễn ra cuộc họp giữa quân đội Mỹ và quân nguy Sài Gòn. Đây là cuộc họp quan trọng để xác định kế hoạch hành quân gồm đủ mặt các tướng tá trọng yếu chỉ huy cuộc hành quân: Su-dớc- len - Tổng chỉ huy các lực lượng tham chiến của quân đội Mỹ, Hoàng Xuân Lãm - Chỉ huy các lực lượng quân nguy Sài Gòn, Dư Quốc Đống - Tư lệnh sư đoàn dù ngụy; Phạm Văn Phú - Sư trưởng sư đoàn 1 ngụy, Nguyễn Trọng Luật - Chỉ huy thiết giáp và toàn thể bộ tham mưu liên quân. Su-dớc-len, nói: "Một tháng oanh kích không lực Hoa Kỳ đã "tấn diệt" các lực lượng cộng quân ở những vùng quân lực Sài Gòn sắp đi tới và quân đội phái hữu Lào vừa chiến thắng lớn ở Mường Phiên đang chờ đón chúng ta". Tướng Lãm đứng dậy trịnh trọng: - Đây là một cuộc hành quân quy mô lớn chưa từng có của quân lực Việt Nam cộng hòa dưới sự yểm trợ của pháo binh và không lực Hoa Kỳ. Một cuộc hành quân có ý nghĩa trọng đại để chứng minh cho học thuyết Ních-xơn và chương trình "Việt Nam hóa" thành công. Một cuộc hành quân có tầm chiến lược sẽ làm thay đổi cục diện chiến tranh ở Đông Dương, dồn Việt cộng đến chỗ bế tắc. Dừng một lát, Lãm nói tiếp: - Mục tiêu của cuộc hành quân trước hết là tiến đánh vùng Nam Lào, cắt đứt mọi đường tiếp tế của đối phương, lục soát, phá hủy mọi kho tàng của đối phương, thiết lập các căn cứ hỏa lực. Khi thắng lợi sẽ phát triển xuống Hạ Lào, vùng Bô-lô-ven, chiếm hoàn toàn vùng này, nối liền với Nam Lào thành một vùng hoàn chỉnh. Sau đó chúng bàn kế hoạch hành quân. Chúng chia khu vực Đường số 9 - Nam Lào thành ba khu vực: Khu A: La Tương - Cha Ky - cao điểm 500. Khu B: Khu trung tâm, trục chính là Đường số 9, mở rộng sang hai bên bắc và nam mỗi chiều trên dưới 10 ki-lô-mét. Khu C: gồm các điểm cao ven Đường số 9: 66ọ, 462, Phu ốc Tom, Khe Tan. Các lực lượng tham chiến của quân ngụy Sài Gòn gồm: Sư đoàn dù, sư đoàn lính thủy đánh bộ, sư đoàn 1, liên đoàn 1 biệt động quân, các lực lượng thiết giáp (460 xe tăng, xe thiết giáp), pháo binh (280 khẩu pháo các loại) của lực lượng trù bị chiến lược quốc gia và vùng chiến thuật. Lực lượng yểm trợ của Mỹ có sư đoàn 101, hai lữ đoàn của sư đoàn A-mê-ri-cơn, không quân có 600 máy bay trong đó có 300 máy bay lên thẳng. Liên đoàn 1 biệt động quân và lữ đoàn dù 3 đảm nhiệm khu vực A. Bộ phận sư đoàn dù thiếu và thiết giáp phụ trách trung tâm cuộc hành quân Đường số 9. Sư đoàn 1 bộ binh và các lực lượng phối thuộc phụ trách khu C. Chúng quy định ngày tiến quân: N+9 (tức là ngày 8 tháng 2 năm 1971). Ngày tiến công đánh chiếm Bản Đông: N+10 (tức là ngày 9 tháng 2 năm 1971), ngày đánh chiếm Sẽ Pôn: N+12 (tức là ngày 11 tháng 2 năm 1971). Cuộc tiến công Đường số 9 - Nam Lào của địch bắt đầu. Vào thời gian này, Trung đoàn 27 sau khi chuẩn bị xong phương án đánh địch ở phía đông và phía tây Đường 76, hỗ trợ cho phong trào chống xúc dân của địch ở hai huyện Gio Linh và Cam Lộ trước Tết Nguyên đán thì nhận được lệnh của Bộ Tư lệnh B5: "Trung đoàn 27 khẩn trương làm công tác chuẩn bị, phối hợp với các đơn vị bạn đánh địch ở khu vực Tân Lâm đi úc Nghi, Rào Quán (cánh đông của chiến dịch Đường số 9 - Nam Lào)". Tết đến. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 chúng tôi đã đón ba mùa xuân trên mảnh đất Quảng Trị. Đón Tết này khẩn trương hơn. Mọi người ai vào việc nấy, cả đơn vị như một guồng máy chạy đều. Bộ phận đi chuẩn bị chiến trường ăn Tết trước, bộ phận ở nhà vừa chuẩn bị gói bánh chưng, làm bàn thờ Tổ quốc vừa chuẩn bị chiến đấu... Đặc biệt, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 còn được các đoàn văn công của hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh vượt qua bom đạn của địch vào phục vụ, tiếp thêm sức mạnh cho trung đoàn bước vào mùa chiến dịch mới. Nhiệm vụ khẩn trương, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 không kể ngày đêm lao vào công việc chuẩn bị. Trung đoàn chuyển toàn bộ đội hình và kế hoạch bảo đảm lên phía tây. Trong khi đó địch đã giăng chốt ở Ba Lào, Khe Sóc và các trục đường tiếp cận của ta. Các đơn vị trong trung đoàn vừa vận tải gạo, đạn, xây dựng tuyến chiến đấu, vừa hành quân cài thế, tranh chấp với thời gian, với địch từng phút, từng giờ. Cán bộ chỉ huy chúng tôi đi thực địa tìm vị trí giấu hàng, giấu quân. Từ Động Nóc vào đến Đường số 9, đi đến đâu chúng tôi đều phải đánh dấu đường hành quân đến đó. Chúng tôi phải vượt điểm cao 1001, động La Rường rất vất vả, gian nan. Những đường cũ địch đã đổ quân chất chặn, chúng tôi phải mở đường mới để đánh địch, đưa đơn vị vào Đường 9 an toàn. Địch đổ quân chốt các khu vực bên ngoài để ngăn chặn không cho ta thọc sâu vào tuyến phòng thủ Đường 9. Vì vậy, chúng tôi phải vòng tránh rất xa, lấy quy định thời gian nổ súng của Mặt trận làm mệnh lệnh cho mọi hành động của đơn vị. Sáng sớm ngày 8 tháng 2 năm 1971, lữ dù 3 ngụy được lệnh nhổ lán trại, sẵn sàng lên đường. Tuy nhiên lữ đoàn trưởng Nguyễn Văn Thọ vẫn phải thám sát lại tình hình khu vực chuẩn bị tiến công lần cuối. Thọ cùng hai tiểu đoàn trưởng lên chiếc trực thăng Hu.1D nhằm hướng tây lao tới. Đường số 9 như một sợi chỉ màu xám mốc bò ngoằn ngoèo giữa những dải núi non trùng điệp xanh rì. Xem xét xong mục tiêu điểm cao 655 (căn cứ 30), Thọ cho máy bay tiến sâu về phía điểm cao 456 (căn cứ 31). Đây là một ngọn đồi trọc chạy dài, đầu phía bắc nhô cao hẳn lên, giữa là một yên ngựa khá rộng. Thọ cho rằng, muốn đứng vững ở điểm cao 456 (căn cứ 31), phải chiếm bằng được ngọn đồi Không Tên ở tây bắc căn cứ 4 ki-lô-mét. Đây là bức bình phong án ngữ đường tiến quân của Việt cộng vào căn cứ. Chiếc trực thăng HU.1D hối hả bay trở lại Khe Sanh. Địch mở cuộc oanh tạc dữ dội dọn bãi cho tiểu đoàn 2 lữ dù 3 đổ quân xuống điểm cao 655. Tất cả những trận địa pháo Mỹ bố trí sẵn ở suốt dọc đường biên giới Việt - Lào trên một chính diện hơn 30 ki-lô-mét cùng gầm lên. Chớp lửa đỏ rực một vùng rộng trên biên giới Việt - Lào. Thọ ra lệnh cho tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 lữ dù 3 đổ quân xuống điểm cao 655. Bốn mươi chiếc HU.1D và hai trực thăng HUC (trực thăng cỡ lớn cẩu pháo) đổ gọn xuống căn cứ 30 mà không có một phản ứng nhỏ từ mặt đất. Đến lượt tiểu đoàn 3, lữ đoàn bộ lừ đoàn 3 và pháo đội 105 lên máy bay. Tại căn cứ 30, hai pháo đội trực thuộc tiểu đoàn 2 sau 2 giờ đặt chân xuống đã bắt đầu bắn phá khu vực căn cứ 31. Rồi máy bay phản lực, trực thăng vũ trang thi nhau bắn phá điểm cao 456. Cả ngọn đồi bị khói trùm kín. Nhưng tiểu đoàn 3 không may mắn như tiểu đoàn 2. Khi đoàn trực thăng ầm ầm bay tới gần Bản Đông thì bỗng nhiên những dòng đạn lửa từ dưới đất bay vọt lên chi chít. Hai chiếc trực thăng bốc cháy như hai bó đuốc vùn vụt lao xuống đất. Trong khoảnh khắc bầy trực thăng bị đánh tán loạn. Mấy phút sau, chúng mới tập trung lại được, vòng xuống phía nam Đường 9 rồi tiếp tục vượt lên điểm cao 456. Thọ ra lệnh cho tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3: "Cho đổ nhanh xuống bằng bất cứ giá nào". Lữ đoàn trưởng Nguyễn Văn Thọ vẫn ngồi trực thăng bay lượn trên không, hết sức lo lắng. Đến khi tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 báo cáo đã đổ quân xong, Thọ mới tạm yên lòng. Trong lúc này lực lượng chủ yếu của ta ở cánh bắc có Sư đoàn 308, Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304) và Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) được pháo binh và xe tăng chiến địch chi viện, mở cuộc phản công địch trên một địa bàn kéo dài từ Tà Púc, Pha A Rinh qua làng Sen, điểm cao 500 đến căn cứ 31 dài khoảng 20 ki-lô-mét. Sư đoàn 308 tiến công điểm cao 500 - một tiền đồn quan trọng bậc nhất của địch ở cánh bắc do tiểu đoàn 39 biệt động quân chiếm giữ, tạo điều kiện thuận lợi để ta phá tung cánh cung phía bắc. Sau khi phân tích căn cứ 30 và căn cứ 31, căn cứ nào là trọng yếu của địch ở phía bắc Đường 9, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định: căn cứ 31 (nơi đặt sở chỉ huy lữ đoàn 3 do tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp chiếm giữ). Đây cũng là lực lượng thiện chiến bậc nhất của quân ngụy Sài Gòn. Chiếm giữ điểm cao này, quân địch sẽ kiểm soát được hoàn toàn đường 16A, ngăn chặn các lực lượng ta phát triển xuống Bản Đông. Nhiệm vụ tiêu diệt căn cứ 81 được giao cho Trung đoàn 64. Ngay sau khi đặt chân xuống căn cứ 31, đại tá Nguyễn Văn Thọ đã nhận thấy ngay vị trí chiến thuật của ngọn đồi Không Tên. Nó là bức bình phong của căn cứ 31. Nếu quân ta muốn vào căn cứ 31 nhất thiết phải vượt qua đó. Về phía ta, muốn tiến công điểm cao 456 thì phải chiếm bằng được đồi Không Tên. Ngày 13 tháng 2 năm 1971, 10 giờ địch đổ 16 lần chiếc trực thăng xuống đồi Không Tên. 10 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64 được lệnh bí mật xuất kích. Tiểu đoàn 9 chiến đấu liên tục, quyết liệt, đến sẩm tối ngày 13 tháng 2 năm 1971, tiểu đoàn 6 dù của địch đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Bức bình phong của căn cứ 31 bị sụp đổ. Đường số 9 trong những ngày này trở thành con đường huyết mạch của cuộc hành quân Lam Sơn 719. Các trận đánh giữa ta và địch đã diễn ra quyết liệt ở điểm cao 456, 500, cầu Cha Ki... Các sư. đoàn chủ lực 308, 320A, 324... hiệp đồng với các đơn vị xe tăng, pháo binh dồn dập tiến công quân địch cả trên cánh bắc và cánh nam của chiến dịch. Quân chủ lực ngụy có nguy cơ bị tiêu diệt lớn ở Nam Lào. Để chống đỡ những đòn phủ đầu đó, Mỹ - ngụy dồn thêm quân về tăng cường cho cuộc hành quân. Sư đoàn A-mê-ri-cơn được Mỹ đổ ra Đường số 9 để ngăn chặn ta thọc sâu cắt đường vận chuyển, tiếp tế của lính ngụy ở Nam Lào. Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 27 do anh Bùi Xuân Các chỉ huy được giao nhiệm vụ đưa đơn vị tiến sâu vào Đường số 9, đánh phối hợp chia cắt. Tiểu đoàn 2 phải vượt qua bốn tuyến ngăn chặn của địch trên dọc đường hành quân. Ngày 7 tháng 2 năm 1971, Tiểu đoàn 2 đã đánh một trận phục kích trên Đường số 9, bắn cháy chín xe vận tải quân sự, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 90 tên địch. Cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 2 tiếp tục bám sát Đường số 9 để phục kích các đoàn xe địch. Đội hình chiến đấu của Tiểu đoàn 2 lúc này nằm xen kẽ giữa các tuyến chốt của địch vừa dựng nên việc giấu quân, cơ động vô cùng khó khăn. Nhiều khi suốt ngày chiến sĩ ta phải nằm giữa những bụi cây, bờ cỏ chờ đêm xuống. Cán bộ bí mật ra sát Đường số 9 theo dõi các đoàn xe địch qua lại để tổ chức đơn vị nổ súng kịp thời. Tiểu đoàn trưởng Bùi Xuân Các ngày đêm bám sát từng trận địa phục kích của các đại đội để tổ chức chiến đấu. Cứ mỗi lần có đoàn xe sắp đi qua, chúng lại bắn pháo cày xới hai bên Đường số 9. Trận địa chiến đấu của Tiểu đoàn 2 nằm trong tầm hỏa lực dày đặc của địch, nhưng cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn quyết không rời trận địa. Khi trận địa phục kích của tiểu đoàn chỉ cách mặt đường năm, bảy chục mét thì hiệu quả chiến đấu sẽ rất cao. Qua nhiều trận đánh, Tiểu đoàn 2 đã gây cho địch nhiều tổn thất và làm cho địch lo nơm nớp. Trong khi Tiểu đoàn 2 chiến đấu đánh giao thông địch trên Đường số 9, thì Tiểu đoàn 3 của tôi làm công tác vận chuyển gạo, đạn cho trung đoàn đến nơi tập kết an toàn. Sau bảy ngày làm công việc vận chuyển, ngày 7 tháng 2, tôi nhận được lệnh của Trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâm đưa tiểu đoàn vào chặn đánh sư đoàn A-mê-ri-cơn ở Động Na vừa được điều ra làm nhiệm vụ bảo vệ cuộc hành quân của quân ngụy Sài Gòn ở phía bắc Đường số 9. Tôi trao đổi với Chính trị viên Trần Xuân Gừng, dùng Đại đội 2 tiến công quân Mỹ ở Động Na. Tối ngày 9 tháng 2 năm 1971, Đại đội 2 xuất kích, đánh Động Na. Sau khi Đại đội 2 đã triển khai xong đội hình chiến đấu, tôi ra lệnh cho Đại đội 4 hỏa lực bắn 20 quả đạn cối và ĐKZ75 vào những nhà bạt, công sự dã chiến của quân Mỹ. Tiếp đó, Đại đội 2 tiến công. Các loại súng B40, B41, cối 60 ly bắn phá mãnh liệt vào các cụm quân địch. Sau 20 phút, Đại đội 2 phát triển thuận lợi, đánh chiếm được một số ụ súng, nhà bạt, diệt được hơn chục tên Mỹ. Nhưng càng tiến vào sâu, quân Mỹ càng chống trả quyết liệt. Máy bay C130 thả pháo sáng, pháo từ các nơi bắn về. Cả ngọn núi Động Na mịt mù khói đạn. Xét thấy cứ tiến công tiếp thì đơn vị gặp khó khăn, bộ đội sẽ thương vong, tôi trao đổi với chính trị viên cho lui quân. Trận đánh này, Đại đội 2 có ba cán bộ, chiến sĩ hy sinh, đó là: Trung đội phó Nguyễn Duy Nam, quê Thanh Phong, Thanh Chương, Nghệ An và hai chiến sĩ là Nguyễn Công Tín, quê xóm 9, Thanh Hòa, Thạch Hà, Hà Tĩnh; Trần Định, quê Nam Xuân, Thanh Xuân, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Ba đồng chí hy sinh được an táng tại đông nam núi Ba Lào. Ngày 22 tháng 2 năm 1971, chúng tôi sử dụng Đại đội 3 đón đánh quân Mỹ ở động Khe Sóc. Trong những ngày này Đại đội 3 lập chiến công xuất sắc, bắn rơi 5 máy bay lên thẳng của Mỹ làm cho việc đổ quân chốt giữ hướng đông chiến dịch Đường 9 - Nam Lào của địch bị gián đoạn, khó khăn. Lúc này, hướng Nam Lào, quân ngụy Sài Gòn đang bị Sư đoàn 320 vây đánh quyết hệt ở căn cứ 31. Căn cứ này gồm bốn mỏm liên tiếp: Mỏm một và mỏm hai là khu trung tâm có bộ chỉ huy lữ đoàn đóng; mỏm ba và bốn phía tây bắc do tiểu đoàn 3 quân dù chất giữ. Trận địa pháo, sân bay trực thăng dã chiến nằm xen kẽ ở giữa các mỏm đồi. Toàn bộ căn cứ 31 nằm trên một ngọn đồi toàn cỏ gianh, thi thoảng mới có một vài bụi le bị bom cháy đốt trụi. Dưới sườn đồi là những rừng cây rậm rạp. Sư đoàn 320 sử dụng Trung đoàn 64 tiến công căn cứ 3 1 bằng chiến thuật vây lấn. 6 giờ ngày 20 tháng 2 năm 1971, theo kế hoạch hiệp đồng tất cả các trận địa hỏa lực của ta được lệnh nổ súng, tạo thời cơ cho bộ binh tập trung vào nhiệm vụ xây dựng chiến hào vây lấn. Địch cho nhiều tốp máy bay AD.6 ném bom bắn phá trận địa vây lấn của ta. Suốt ngày 21 và cả ngày 22, căn cứ 31 vẫn bị pháo binh và bộ binh ta bắn phá. Ngày 23 tháng 2, Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ thị cho Trung đoàn 64 hoãn tiến công căn cứ 31, vì qua ba ngày vây lấn trung đoàn vẫn chưa tạo được thế để chuyển sang giai đoạn tiến công dứt điểm trong khi đó lại hao tổn sinh lực và phương tiện đáng kể. Việc giải quyết căn cứ 31 là một vấn đề lớn, nó liên quan đến toàn bộ tình thế của chiến dịch. Có diệt được căn cứ 3 1 thì ta mới mở nhanh cánh cửa để đưa lực lượng tiến đánh Bản Đông. Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ đạo Sư đoàn 320 và trực tiếp cho Trung đoàn 64, thay đổi hướng tiến công chủ yếu về phía đông nam căn cứ 31 để tạo thế bất ngờ và có thể tiến công dứt điểm bằng chiến đấu hiệp đồng binh chủng. Hướng tây bắc chuyển thành hướng thứ yếu. Ngày 25 tháng 2 năm 1971, được chọn là ngày tiến công căn cứ 31. Đúng 12 giờ 30, từ nhiều phía, pháo binh ta bắn phá các cứ điểm của địch. Căn cứ 31 chìm ngập trong khói đạn. Cuộc tiến công quyết định bắt đầu. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, đến 16 giờ 30 phút Trung đoàn 64 làm chủ căn cứ 31. Quân ta thu được nhiều súng đạn có cả pháo 105 và pháo 155 ly, bắt hàng trăm tù binh, trong đó có viên đại tá Nguyễn Văn Thọ, lữ trưởng lữ dù 3 quân ngụy Sài Gòn. Sau khi ta đánh chiếm căn cứ 31, cục diện chiến trường Nam Lào đã thay đổi có lợi cho ta. Quân địch chưa thực hiện được mục tiêu đánh chiếm Sê Pôn mà những biểu hiện sa lầy, đổ vỡ cuộc hành quân đã rõ rệt. ở hướng tây, quân ngụy Lào suy yếu nghiêm trọng, không thực hiện được ý đồ chiến dịch lại còn để mất thêm những địa bàn trọng yếu. Cánh bắc, cơ bản bị đập tan. Cánh nam, bị Sư đoàn 324 (Quân khu 4) và Sư đoàn 2 (Quân khu 5) và lực lượng các binh trạm đánh thiệt hại nặng. Trung đoàn 3, sư đoàn 1 nguy đã phải tháo chạy khỏi những vị trí then chất ở cánh nam. Cánh trung tâm cũng bị thiệt hại vì pháo binh và các chốt ta chặn đánh. Do đó, chúng vẫn bị chôn chân ở Bản Đông không tới Sê Pôn được. Tuy vậy, chúng vẫn vơ vét các lực lượng đã bị chiến lược ném vào cuộc chiến hòng làm xoay chuyển tình thế Bộ chỉ. huy liên quân Mỹ - nguy đã tung toàn bộ sư đoàn lính thủy đánh bộ, trung đoàn 2 (sư đoàn l) cùng thiết đoàn 7 vào canh bạc cuối cùng này. Ngày 1 tháng 3 năm 1971, chúng buộc phải điều chỉnh mục tiêu đánh chiếm Sê Pôn. Đến thời điểm đó chúng coi Sê Pôn như một "mục tiêu để tuyên truyền" chứ không phải một mục tiêu quân sự nữa. Sáng 7 tháng 3, Bộ chỉ huy liên quân Mỹ - ngụy dốc sức ném trung đoàn 2 bộ binh xuống phía tây nhà thờ Sê Pôn. Nhưng cả quan lẫn lính của trung đoàn này đã bị pháo binh và bộ binh ta tiến công quyết liệt, phải ôm đầu máu chạy về Bản Đông. Như vậy, mục tiêu đánh chiếm khu vực sông Sê Pôn của địch, cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh - con đường vận tải chiến lược không thực hiện được. Nhiều đơn vị lính ngụy đã tự động rút vào rừng phía nam Đường số 9 để tháo chạy. Xe pháo bị hư hỏng ở Nam Lào được máy trực thăng cỡ lớn của Mỹ cẩu về Đông Hà, ái Tử. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương tập trung lực lượng bao vây cụm cứ điểm Bản Đông. Ngày 17 tháng 3 năm 1971, pháo binh ta được lệnh bắn phá tiêm diệt sinh lực địch và các lực lượng tham chiến thực hiện bao vây Bản Đông. Ngày 18 tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch thông báo địch chuẩn bị rút chạy khỏi Bản Đông và lệnh cho tất cả các đơn vị trên tuyến vây ép tiến công những mục tiêu trọng yếu nhất. Sáng ngày 18 tháng 3 năm 1971, các lực lượng bao vây của ta trên toàn tuyến tiếp tục đột phá vào những mục tiêu cuối cùng. Ba trung đoàn bộ binh của ta: Trung đoàn 64, Trung đoàn 36 và Trung đoàn 66 được các đơn vị xe tăng, pháo mặt đất, pháo cao xạ phối hợp bao ' vây tiến công tập đoàn phòng ngư địch ở Bản Đông do lữ đoàn 1, lữ đoàn 2 dù và hai trung đoàn thiết giáp ngụy chiếm giữ. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, đêm 18 tháng 3 năm 1971, quân địch tháo chạy khỏi Bản Đông, bỏ lại xe, pháo, luồn theo đường rừng chạy về hướng đông. Bộ đội ta chặn đánh ở các đường rút của địch và chuyển sang truy kích, diệt một số địch, phá hủy và thu nhiều binh khí kỹ thuật ở Bản Đông. Tuy nhiên do nắm tình hình không đầy đủ, tổ chức bao vây không chặt, đánh địch rút chạy chưa tốt, nên bộ phận lớn quân địch ở Bản Đông đã luồn rừng chạy thoát. Mỹ - ngụy bắt đầu triển khai kế hoạch rút quân khỏi Đường số 9 - Nam Lào bằng đường bộ và đường không. Nắm được ý đồ của địch, Bộ Chỉ huy chiến dịch ra lệnh các đơn vị ở cánh Đông chiến dịch tiếp tục áp sát Đường số 9 để chặn đánh quân địch tháo chạy. Trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâm lệnh cho tôi: "Tiểu đoàn 3 sử dụng một số lực lượng chết giữ và đánh địch ở Khe Sóc, còn lại vào Đường số 9 để phục kích các đoàn xe địch rút chạy". Lúc này Tiểu đoàn 3 của tôi đứng chân ở Động Na. Nhận được lệnh, tôi hội ý ban chỉ huy tiểu đoàn. Từ hôm vào chiến dịch đến nay ban chỉ huy tiểu đoàn mới có mặt đầy đủ: Tôi (Nguyễn Huy Hiệu) - Tiểu đoàn trưởng, anh Trần Xuân Gừng - Chính trị viên, anh Bùi Như Lạc - Tiểu đoàn phó, anh Nguyễn Văn Thông - Chính trị viên phó tiểu đoàn. Tôi nói: - Lúc này hướng Nam Lào, quân ngụy Sài Gòn đang thất bại thảm hại, ta đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ ban chỉ huy lữ đoàn dù 3, trong đó có đại tá Nguyễn Văn Thọ - Lữ đoàn trưởng. Quân ngụy ở Nam Lào đang tháo chạy bằng đường bộ và đường không. Thời cơ diệt địch đã đến, chúng ta đều biết tiểu đoàn chiến đấu đã gần hai tháng liên tục nên gặp nhiều khó khăn, nhất là về quân số và sức khỏe. Nhưng chúng ta không vì thế mà để lỡ thời cơ diệt địch. Tôi đề nghị, các đồng chí động viên bộ đội vượt mọi khó khăn, cùng gắng lên để chiến đấu, buộc kẻ thù không thể gượng dậy được và góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch. Về phương án và kế hoạch tác chiến, tôi dự kiến như sau: Khẩn trương tổ chức cho Đại đội 1 rời khỏi khu vực Ba Lào, vào Đường số 9 càng nhanh càng tốt Khu vực vượt Đường 9 là Làng Độn. Sau đây, anh Gừng xuống ngay Đại đội 1 động viên anh em, tổ chức cho bộ đội hành quân. Các đại đội còn lại, tiếp tục làm nhiệm vụ chất giữ bảo vệ bàn đạp và anh Thông xuống Đại đội 2 và Đại đội 3 động viên bộ đội sẵn sàng xuất kích khi có lệnh. Sau đây tôi sẽ cùng các đại đội trưởng và trinh sát đi nghiên cứu địa hình chuẩn bị cho trận đánh. Các anh có ý kiến gì khác không? Thấy mọi người im lặng, tôi nói tiếp: - Sau đây, mọi người bắt tay vào công việc. Các anh nên nhớ ta và địch đang chạy đua với nhau trong khoảng thời gian cuối cùng này. Bộ phận đi trinh sát địa hình do tôi chỉ huy phải luồn lách, vượt qua các tuyến ngăn chặn từ xa của địch, vừa đi, vừa đánh dấu để bộ đội bám theo. Hai lần gặp thám báo Mỹ, chúng tôi chủ động tránh chúng. Sau một ngày hành quân đến chiều ngày 15 tháng 3 năm 1971, chúng tôi đã cách Sa Mưu không đầy một cây số. Khu vực chúng tôi dự kiến giấu quân không còn một cây xanh, hai bên đường rộng gần cây số, chỉ một màu xám của tro với những gốc cây và thân cây cháy dở. Sau một ngày quan sát chúng tôi phát hiện một đoàn xe khoảng 50 chiếc có xe tăng dẫn đường, trên không máy bay trực thăng vũ trang hộ tống, pháo địch bắn dọc hai bên đường, nhưng chủ yếu bắn về phía bắc Đường số 9. Càng về trưa bọn địch càng chủ quan. Tôi nảy ra ý định, phải đưa lực lượng Đại đội 1 vượt qua Đường số 9 về phía nam, tổ chức trận địa phục kích từ căn cứ Sa Mưu đến cầu Đầu Mầu. Tối hôm đó, tôi tổ chức cho bộ phận trinh sát vượt sang phía nam Đường 9. Tôi nói với đồng chí đi sau cùng dùng cành lá khỏa lấp lớp tro có dấu vết vừa đi và rải vải dù trên mặt đường khi ta đi qua, không để địch phát hiện. Chúng tôi đã đến bình độ của điểm cao 468 là điểm giấu quân của Đại đội 1. Đoạn này địch sơ hở, xe địch lên xuống thường dừng lại ở đây. Đại đội 1 hành quân do Tiểu đoàn phó Bùi Như Lạc, quê Cổ Tế, Thạch Long, Thạch Thành, Thanh Hóa và Chính trị viên đai đội Đặng Quang Hồng, quê Minh Thành, Gia Khánh, Ninh Bình chỉ huy bám theo trục đường mà bộ phận trinh sát đi trước đã đánh dấu. Cả đơn vị vừa đến Làng Độn thì gặp một đại đội thám báo Mỹ. Chính trị viên Hồng cho bộ đội nhanh chóng triển khai chiến đấu, anh dẫn một mũi thọc vào đội hình địch, nổ súng áp đảo chúng ngay từ đầu. Anh Đặng Quang Hồng và chiến sĩ Phù Văn Việt, quê Bản Kón, Yên Trạch, Cao Lộc, Lạng Sơn đã anh dũng hy sinh trong lúc trận đánh đang diễn ra ác liệt. Được tin Chính trị viên Đặng Quang Hồng và chiến sĩ Phù Văn Việt hy sinh. Tôi đứng lặng hồi lâu rồi nói với anh em: - Mỗi anh em chúng ta phải đánh thêm cho đồng chí Hồng và đồng chí Việt mấy chiếc xe nữa đấy! Mọi người đứng lặng, nét mặt đau buồn. Tôi nói: - Mỗi người biến thương đau bằng hành động cụ thể, việc quan trọng nhất lúc này là phải chuẩn bị thật chu đáo những vị trí chiến đấu. Sau đây tôi cùng anh Tình Đại đội trưởng Đại đội 1 trở lại bộ phận khóa đuôi. Mai Xuân Tình, quê An Thạch, Diễn Yên, Diễn Châu, Nghệ An là một học viên Trường Sĩ quan Lục quân đi thực tế ở chiến trường. Tình được giao nhiệm vụ làm đại đội trưởng và đã chỉ huy chiến đấu một vài trận. Qua thực tế chiến đấu anh đã tỏ ra là một cán bộ có năng lực, trình độ tổ chức chỉ huy rất bài bản, nhưng không máy móc sách vở. Tình làm công tác tư tưởng rất tất, anh phát động đơn vị trả thù cho Chính trị viên Hồng. Anh đề nghị từng tổ, từng người đăng ký lập công. Tối hôm đó, chúng tôi trực tiếp chỉ huy Đại đội 1 hành quân vượt Đường số 9. Chúng tôi tổ chức hai tổ cảnh giới hai bên đường, rồi cho trinh sát quay ra đón đơn vị. Lúc bộ đội vượt đường, trời đổ mưa rào. Tôi thầm cảm ơn ông trời. Tuy bộ đội hành quân có vất vả nhưng bọn địch lại không chú ý. 12 giờ đêm toàn bộ đội hình đã vượt qua Đường số 9 an toàn. Theo phương án, các mũi, các tổ khẩn trương chiếm lĩnh trận địa. Tôi và Đại đội trưởng Tình đi đến từng tổ kiểm tra, động viên anh em. Tôi đến bộ phận khóa đuôi thấy anh em đã ngụy trang xong và trong tư thế sẵn sàng. Cả đội hình Đại đội 1 bố trí cách mặt đường từ 20 đến 30 mét, anh em lấy tro bôi lên mặt và quần áo, lẫn vào các gốc cây cháy dở. Nếu không tinh thì khó mà phát hiện được. 7 giờ sáng ngày 19 tháng 3 năm 1971, địch cho 13 chiếc xe bọc thép M113 có máy bay trực thăng hộ tống từ Cam Lộ rầm rầm tiến về hướng Khe Sanh. Súng trên xe tăng bắn vọt qua đầu bộ đội ta, nhằm bìa rừng xanh mà trút đạn. Đèn xe nhấp nháy liên hồi; máy bay trực thăng vũ trang sà thấp cũng bắn vào bìa rừng. Tôi nói anh em để đoàn xe thứ nhất đi qua. Một giờ sau, thấy đoàn xe thứ nhất đi qua an toàn, đoàn xe thứ hai bắt đầu hành quân. Đoàn xe này tỏ ra chủ quan hơn. Cùng lúc, một đoàn xe chở tàn binh từ Nam Lào chạy về, chúng gặp nhau đúng trận địa phục kích của tiểu đoàn. Đợi cho hai đoàn xe lọt hẳn vào trận địa. Chúng tránh nhau ở phía đầu trận địa, chỉ cách khẩu B41 của On mươi mét. Thấy chắc ăn, tôi ra lệnh cho On bắn. Quả đạn B41 của On cắm phập vào chiếc M113 đi đầu lửa trùm kín xe. Chiếc xe chở lính từ hướng Nam Lào chạy về không làm chủ được tốc độ lao vào chiếc M113 đang bốc cháy. Bị đòn bất ngờ, quân địch hoảng loạn, chiếc nọ chồm lên chiếc kia. Cùng lúc, bộ phận khóa đuôi cũng nổ súng. Ngay từ những loạt đạn đầu hơn chục xe bốc cháy. Tôi hô xung phong. Các tổ chiến đấu bật lên, xông ra mặt đường chiến đấu. Chiến sĩ B40, B41 dùng súng diệt xe tăng, xe vận tải quân sự. Chiến sĩ xung kích dùng AK diệt bộ binh địch. Đại đội trưởng Tình xông xáo, anh giằng lấy khẩu B40 của một chiến sĩ bắn liên tiếp hai quả đạn giết hai chiếc xe M113. Cả một đoạn đường gần 3 ki-lô-mét lửa khói mịt mù, tiếng nổ râm ran, khét lẹt. Trong lúc mải tiến công, Đại đội trưởng Tình bị một tên ngụy bắn lén. Anh hy sinh khi trận đánh gần kết thúc. Tôi nói: - Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, xông lên diệt hết đoàn xe địch trả thù cho Đại đội trưởng Tình. Mọi người như được tiếp thêm lửa xông lên. Từ các mũi những quả B40, B41 đan chéo mặt đường, diệt hết xe này đến xe khác, hết tốp địch này đến tốp địch khác. Mấy chiếc chạy phía sau thấy quân ta đánh quyết liệt vội vã quay đầu. Một giờ sau, địch điều cụm xe tăng chốt ở điểm cao 610 xuống chi viện. Sáu chiếc trực thăng vũ trang thay nhau quần lượn, bắn đạn 20 ly xuống phía bắc Đường 9. Tôi lệnh cho đơn vị khẩn trương rời trận địa đi về phía nam Đường số 9. Tổ rút sau cùng có On, xạ thủ B41 và Tý, xạ thủ trung liên. Vừa vượt qua hố bom bên đường thì một chiếc trực thăng sà xuống thấp, nó phát hiện được hai người, dùng súng 20 ly bắn. On nằm ngửa, cầm chân súng trung liên làm điểm tỳ cho Tý bắn. Tý bình tĩnh bóp cò chiếc trực thăng rơi tại chỗ. 30 phút sau cả đơn vị đã tới chân điểm cao 710. Pháo địch bắn tập trung phía bắc Đường số 9 để ngăn chặn đường rút quân của ta. Gần 3 ki-lô-mét Đường số 9, đoạn Sa Mưu cầu Đầu Mầu bị tắc nghẽn vì 28 xác xe bị thiêu cháy, có 5 xe bọc thép và 120 xác cả Mỹ lẫn ngụy. Ba ngày sau chúng mới khai thông được đoạn đường này. Về phía Tiểu đoàn 3, ngoài Đại đội trưởng Mai Xuân Tình hy sinh còn có Tiểu đội trưởng Lê Văn Thụ, quê Anh Dũng, Quỳnh Châu, Quỳnh Lưu, Nghệ An và chiến sĩ Nguyễn Quang Ngọc, quê Yên Sơn, Thái Sơn, Đô Lương, Nghệ An. Các anh được an táng tại Sa Mưu, huyện Cam Lộ. Tôi cho đơn vị dừng lại dưới chân điểm cao 710, trên đỉnh là một căn cứ Mỹ, chúng đã đóng quân ở đây từ lâu Tôi suy nghĩ: Nếu đơn vị hành quân vượt Đường 9 về phía bắc lúc này thì sẽ gặp địch vì chúng phong tỏa mọi đường rút của quân ta. Nhưng ở lại thì lương thực đã hết, mỗi người chỉ còn một vài bánh lương khô. Các phân đội đã phải nấu cháo lương khô chia đều cho anh em, nhưng mọi người lại nhường phần của mình cho những chiến sĩ bị thương. Phải làm gì bây giờ? Đầu tôi đang rối bời, chưa tìm cách nào để có lương thực cho đơn vị ăn tạm, thì Mạnh, chiến sĩ trinh sát đến gặp tôi, giọng thủ thỉ: - Thủ trưởng ơi! Tối nay cho chúng em đột nhập vào căn cứ Mỹ trên đỉnh núi này để lấy lương ăn. Tôi bất ngờ trước đề xuất của Mạnh. Tôi bảo: - Tất lắm! Cậu cứ về để tôi trao đổi với anh em cán bộ. Tôi triệu tập cán bộ hội ý, tôi nói: - Trong lúc khó khăn quần chúng là người sáng tạo Anh em trinh sát đề xuất đột nhập căn cứ địch để lấy lương ăn. Đây là việc làm táo bạo, nhưng hiệu quả, phải tổ chức chặt chẽ để đêm nay thực hiện. Mặt khác cần tổ chức một tổ trinh sát tìm đường để đưa đơn vị vượt Đường số 9 về hậu cứ. Một tổ kiểm tra trận địa, rải truyền đơn kêu gọi binh lính địch. Và, một việc rất quan trọng lúc này là phải nghi binh địch. Qua máy bộ đàm, ta phát đi một bức điện: "Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho đơn vị khẩn trương cho bộ đội về tập kết ở chân điểm cao 300 đất... ". Một vài tiếng lại phát bức điện để đánh lừa địch. Đêm hôm đó, tổ trinh sát do Mạnh chỉ huy đột nhập vào khu kho dã chiến của lính Mỹ lấy được ba gùi thịt hộp và những túi khẩu phần ăn của lính Mỹ. Trong lúc khó khăn, số lương thực thực phẩm này quả là có ý nghĩa. Anh em kiếm thêm rau dớn, rau môn thục để nấu cùng thịt hộp chia cho mọi người ăn lấy sức. Ngày thứ 5, cả đội hình vẫn ở lại chân điểm cao 710. Tổ trinh sát đi tìm đường đã mấy đêm liền đều gặp địch. Liên lạc qua máy 2 oát, sở chỉ huy trung đoàn biết được đơn vị tôi đang gặp khó khăn, đã mấy đêm liền tổ chức cho trinh sát, vận tải chuyển lương thực vào nhưng chưa được. Bước sang ngày thứ 6, một phân đội trinh sát của trung đoàn mới tìm đến đơn vị, mang theo một ít lương khô tiếp tế cho chúng tôi. Tối hôm sau, đơn vị rời chân điểm cao 710. Dưới ánh sáng lờ mờ của đèn dù pháo sáng, đoàn quân lặng lẽ bám theo nhau, vượt qua những tọa độ pháo, đi qua tuyến ngăn chặn của địch về hậu cứ dưới chân động La Rường. Trong những ngày này, các đơn vị ở cánh Đông của chiến dịch Đường 9 - Nam Lào như Đoàn 75, Trung đoàn 84, Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 bộ đội tỉnh Quảng Trị đã cùng sát cánh với Trung đoàn 27 liên.tục bám sát Đường 9 phục kích các đoàn xe địch tháo chạy từ Nam Lào về. Sau khi tổ chức đánh địch rút chạy đã có ý kiến đề xuất nên tiếp tục phát triển thắng lợi về hướng Đông. Cân nhắc tình hình mọi mặt, Bộ chỉ huy chiến dịch chủ động kết thúc chiến dịch. Từ ngày bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, đây là lần đầu tiên quân đội ta tiến hành thắng lợi một chiến dịch phản công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Chiến thắng lịch sử này có ý nghĩa chiến lược to lớn. ảnh hưởng của chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào vượt xa phạm vi của bản thân nó cả về không gian và thời gian. Nó tác động mạnh mẽ đến cục diện chung của cuộc kháng chiến không chỉ của nhân dân Việt Nam mà cả nhân dân ba nước Đông Dương. Lực lượng chủ lực và dự bị chiến lược của quân ngụy Sài Gòn, xương sống của "Việt Nam hóa chiến tranh" đã bị một đòn rất đau, bị tiêu diệt một bộ phận quan trọng ở Đường 9 - Nam Lào, làm chấn động toàn bộ quân nguy trên các chiến trường. Ta đã đánh bại các biện pháp tác chiến và chiến thuật đánh ra vòng ngoài làm chỗ dựa cho chiến lược của địch, làm phá sản công thức: Lục quân ngụy cộng không quân và hậu cần Mỹ của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ. Năm tháng sẽ trôi đi, nhưng thắng lợi trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào của quân dân ta mãi mãi tô thắm thêm trang sử hào hùng trong' cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Trong lúc này, do những thất bại thảm hại ở hướng Nam Lào, bọn tàn quân ngụy sống sót theo trục Đường số 9 chạy về Đông Hà liên tiếp bị Trung đoàn 27 và các đơn vị ở cánh Đông đánh tả tơi. Mặc dù đã cho quân nống ra phía bắc Đường 9 để ngăn chặn lực lượng ta nhưng số xe bị bắn cháy trên các đoạn Đường số 9 ngày một nhiều hơn. Mỹ tiếp tục đổ quân để yểm trợ cho cuộc tháo chạy của quân ngụy. Cuối tháng 4 năm 1971, Tiểu đoàn 1 được chỉ huy Trung đoàn 27 giao nhiệm vụ đưa đơn vị vào đánh địch ở úc Nghi, Rào Quán. Tiểu đoàn 1 từ đầu chiến dịch đến lúc đó làm nhiệm vụ vận chuyển cho Mặt trận ở tuyến động Sa Rường. Tuy sức khỏe của bộ đội có giảm, một số bị thương vong. (Tôi được biết, ngày 4 tháng 4 năm 1971, ba cán bộ, chiến sĩ của Đại đội 4 bị vướng mìn hy sinh là: Tiểu đội trưởng Nguyễn Đình Bạ, quê An Thạch, Thạch Thành, Thanh Hóa; chiến sĩ Hồ Hữu Lý, quê xóm 4, Quỳnh Yên, Quỳnh Lưu, Nghệ An; chiến sĩ Võ Nhật Lệ, quê Kỳ Long, Kỳ Anh, Hà Tĩnh). Song khi đượữ lệnh chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ đều hăng hái hành quân. Anh Nguyễn Văn Ty, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 nắm Đại đội 3 luồn vào đánh địch trên Đường 9. Chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Văn Truy vừa được điều về thay thế anh Nguyễn Văn Chúc cùng Đại đội 1 bố trí lực lượng chốt giữ khu vực điểm cao 525. Dãy 'đồi có điểm cao 525 chạy dọc theo Đường 9. Trên đoạn úc Nghi đến Rào Quán, địch đã phát hiện được lực lượng ta ở khu vực này. Chúng liền đổ một tiểu đoàn lính Mỹ ra chốt chặn. Đại đội 1 do Đại đội trưởng Nguyễn Viết Giáp và Chính trị viên Nguyễn Đình Thi chỉ huy, tổ chức lực lượng lên chiếm ngay điểm cao 525 để tạo thế thuận lợi cho các đơn vị trong tiểu đoàn có bàn đạp triển khai đánh chặn quân ngụy từ Nam Lào chạy về trên Đường 9. Mờ sáng ngày 23 tháng 4 năm 1971, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 bí mật vận chuyển vật liệu, xây dựng trận địa chiến đấu. Tổ chốt ở đồi Yên Ngựa phía đông nam điểm cao 525 cách Đường 9 khoảng 2 ki-lô-mét đường chim bay. Các chiến sĩ ta phải ẩn mình trong những bụi cỏ, quan sát các hoạt động của địch ở phía trước, báo cáo kịp thời cho trận địa chính ở phía đỉnh đồi. Trời vừa sáng rõ, những đoàn xe địch đã kéo nhau chạy từ phía Nam Lào về. Trên trời, từng đàn trực thăng cẩu xe, cẩu pháo nối nhau bay về hướng đông. Hàng nghìn xe tăng, máy bay, pháo cối của Mỹ - ngụy bị hư hỏng đưa về bỏ la liệt ở Đông Hà, thị xã Quảng Trị, thành phố Huế. Trong số lính chết, bị thương có một số tên quê ở Quảng Trị, nên đã làm cho hàng nghìn gia đình có chồng, con, em đi lính cho Mỹ - ngụy vô cùng lo sợ. Bà con rủ nhau kéo đến căn cứ địch, quận ly, tỉnh ly ngụy quyền Sài Gòn đấu tranh đòi xác người thân. Thực hiện chủ trương của Ban dân vận tỉnh, cơ sở chính trị, binh vận của ta ở vùng địch tạm chiếm, chủ yếu là các mẹ, các chị đã hòa theo dòng người đi tìm xác chồng, con tuyên truyền chính sách của Mặt trận và chủ trương của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đối với binh sĩ. Các gia đình binh sĩ vào căn cứ đồn bất vận động lính không tham gia càn quét, chống phá cuộc sống của nhân dân. Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào tuy đã kết thúc, nhưng cuộc tháo chạy của địch vẫn còn diễn ra. Sư đoàn 5 Mỹ được đổ ra phía bắc Đường 9 để yểm trợ cho cuộc tháo chạy cuối cùng của quân nguy. Điểm cao 525 như rung lên bởi những đợt pháo bắn mở đường cho lính Mỹ tiến lên chiếm điểm cao. Các chiến sĩ Đại đội 2 gài mìn định hướng chờ chúng. Quân Mỹ đua nhau ào lên. Tiểu đội trưởng Nguyễn Hoài Nam bình tĩnh chờ chúng vào tầm hiệu quả nhất chập điện. Mìn nổ, những tốp lính Mỹ đi đầu đứa chết, đứa bị thương la lối om sòm, tháo chạy tán loạn. Mươi phút sau, quân Mỹ tổ chức thành hai mũi tiến lên. Chúng dò dẫm từng bước, sợ lại vướng mìn như lần trước. Chờ quân Mỹ đến gần, Nam ra lệnh cho anh em trong tiểu đội ném lựu đạn tới tấp vào đội hình chúng, rồi dùng súng AK, trung liên bắn quét quân địch. Lính Mỹ lăn xuống chân đồi như những súc gỗ. Bị đánh bất ngờ, cả đại đội quân Mỹ phải quay lại, chưa một tên Mỹ nào đặt chân lên được đồi Yên Ngựa. Chỉ huy quân Mỹ ở phía sau phát hiện được lực lượng ta, chúng dồn quân tràn lên đồi Yên Ngựa. Các chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 vẫn bám chặt sườn đồi phía tây, đánh chặn quyết liệt, quân Mỹ không sao lên được. Trận đánh đang diễn ra căng thẳng thì bất ngờ từ phía nam một tốp lính Mỹ mò lên phía đồi Yên Ngựa. Các chiến sĩ ta phát hiện được liền quay nòng khẩu trung liên diệt những tên Mỹ đang cố bám lấy khu đồi. Trong lúc đó, Đại đội trưởng Giáp đã tổ chức xong trận địa cối 60 ly bắn chi viện cho tổ chốt ở đồi Yên Ngựa và lệnh cho một tiểu đội xuất kích chi viện cho tổ chốt của Nam. Tiểu đội trưởng Lê Văn Chiến dẫn tiểu đội bám theo con suối cạn ở phía tây điểm cao 525 đánh lên. Tiếng súng diệt địch lại nổ vang ở đồi Yên Ngựa. Khẩu cối 60 ly do Nguyễn Văn Bảy chỉ huy đánh trúng đội hình quân Mỹ. Đợt tiến công thứ ba của địch bị bẻ gẫy hoàn toàn. Quân Mỹ cụm lại dưới chân đồi. Thấy lực lượng của ta xuất hiện ở phía tây chúng sợ quân ta chặn đường rút, liền tập trung đối phó quyết liệt. Chỉ huy quân đội Mỹ cay cú, tăng thêm lực lượng và dùng hỏa lực đánh phá dữ dội vào đồi Yên Ngựa và đỉnh 525. Đạn pháo các loại của địch làm cho trận địa chốt của Đại đội 1 trống hoác. Nhiều chỗ cỏ tranh khô bén lửa bốc cháy. Trong khói đạn mịt mù, Đại đội trưởng Nguyễn Viết Giáp vẫn bám sát trận địa, chỉ huy đơn vị giữ bằng được khu vực điểm cao 525. Trong khi đang tổ chức trận địa chết ở điểm cao 525, cách đồi Yên Ngựa 400 mét, thì Giáp được tin báo, địch đã chiếm được đồi Yên Ngựa. Đại đội trưởng Giáp cắp khẩu AK dẫn một tổ tiến xuống phía đồi Yên Ngựa. Địch đang cụm lại ở đó rất đông. Anh quyết định điều lực lượng chốt ở điểm cao 525 đánh xuống. Pháo địch nhằm vào các trục đường mòn giữa những bãi cỏ tranh bắn phá. Một số chiến sĩ bị thương ngay tại trận địa hoặc trên đường xuất kích. Đại đội trưởng Giáp bị thương vì pháo địch. Chính trị viên Nguyễn Đình Thi và Đại đội phó Nguyễn Như ý từ vị trí chỉ huy của đại đội tức tốc lao lên trận địa, thay vị trí đại đội trưởng chỉ huy chiến đấu. Trời đã về chiều, lính Mỹ bắt đầu co cụm, không dám tiến công nữa. Cối 82 của tiểu đoàn cùng cối 60 ly của Đại đội 1 bắn vào các vị trí địch đang co lại Chúng buộc phải tháo chạy khỏi khu chiến trước khi trời tối. Tranh thủ đêm xuống, Đại đội 1 đưa những anh em bị thương nặng về tuyến sau. Chính trị viên Thi, Đại đội phó ý cùng ba cán bộ trung đội hội ý và thống nhất: "Cả ngày hôm nay ta đã đánh thiệt hại nặng 2 đại đội Mỹ, nhưng chúng chưa từ bỏ mục tiêu đánh điểm cao 525. Vì vậy, ngay trong đêm phải động viên bộ đội đào công sự, giao thông hào, nhanh chóng cấu trúc trận địa để ngày mai tiếp tục chiến đấu". Cả đêm, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 không nghỉ. Dưới ánh sáng của đèn dù, pháo sáng họ hối hả đào công sự, gài thêm mìn, lựu đạn chuẩn bị cho trận chiến đấu ngày mai. Trung đội trưởng Mai Thành Đang cùng một tiểu đội chết giữ đồi Yên Ngựa. Đại đội phó ý vẫn hối hả cùng mấy chiến sĩ đào nốt đoạn hào nối từ đỉnh 525 xuống đồi Yên Ngựa. Trận địa Đại đội 1 đã hình thành một tuyến chốt liên hoàn, họ tin tưởng sẽ đứng vững ở đây, bảo vệ điểm cao 525. Trời vừa sáng, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 chốt trên điểm cao 525 đã nghe thấy tiếng động cơ máy bay trực thăng từ hướng sông Ba Lòng mỗi lúc một gần. Tất cả đại đội đã ở vị trí sẵn sàng. Sau một hồi quẩn lượn, máy bay trực thăng hạ độ cao rồi đổ một đại đội lính Mỹ xuống phía nam điểm cao 525, tăng thêm lực lượng cho đơn vị đã bị ta đánh thiệt nặng hôm qua. Pháo binh địch bắn trùm lên điểm cao 525 và đồi Yên Ngựa. Một tốp máy bay phản lực lao từ biển vào, giội bom xuống những khu vực mà chúng nghi là ta giấu quân. Sau hơn 1 giờ đồng hồ dùng bom pháo dọn đường, dọn bãi, lính Mỹ lại nhằm điểm cao 525 tràn lên. Nhưng chúng đã bị cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 đánh trả. Ngay những phút đầu tiên, hơn chục tên Mỹ đã phơi xác trên đồi Yên Ngựa. Các chốt phụ bố trí theo phương án chiến đấu của chỉ huy đại đội vẫn giữ vững. Chốt chính trên đỉnh 525 vẫn chưa một tên Mỹ nào đặt chân lên được. Liên tục trong những ngày từ 25 đến 30 tháng 4 năm 1971, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 vẫn đứng vững ở khu vực 525. Các đơn vị làm nhiệm vụ thọc sâu chặn đánh các đoàn xe địch rút chạy trên Đường 9, nhờ những chốt kiên cường của Đại đội 1 nên đã an toàn vượt qua tuyến ngăn chặn của lính Mỹ. Đến ngày 30 tháng 4 năm 1971, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 đã chiến đấu liên tục 72 ngày đêm, góp phần cùng các đơn vị trên toàn chiến dịch đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của Mỹ - ngụy. Những tên lính ngụy cuối cùng tưởng như thoát chết ở Nam Lào, khi chạy về đây lại bị quân ta đánh tiếp. Mặc dù, Mỹ tung cả sư đoàn 5 ra phía bắc Đường 9 để chống đỡ cho lính ngụy, song bọn địch vẫn phải nhận lấy những ngày bi thảm nhất của cuộc hành quân. Giữa tháng 5 năm 1971, đơn vị cuối cùng của Trung đoàn 27 được lệnh rút ra củng cố. Đầu tháng 6 trung đoàn lại được trên giao nhiệm vụ tham gia chiến dịch A2 nhằm phát huy kết quả vừa giành được tiếp tục đẩy quân địch lún sâu thêm vào thế bị động. Tôi được biết khi giao nhiệm vụ này cho Trung đoàn 27, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 rất đắn đo vì trung đoàn chưa được nghỉ ngơi sau một chiến dịch kéo dài. Ngày 30 tháng 5 năm 1971, Tướng Lê Trọng Tấn, Tư lệnh Mặt trận B5 giao nhiệm vụ cho Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27 Phạm Minh Tâm và Chính uỷ Nguyễn Võ Hiển. ông nói: Trung đoàn 27 đã liên tục chiến đấu hơn 2 tháng. Nhưng là đơn vị chủ lực của Mặt trận thì không thể không tham gia chiến dịch này. Trung đoàn là lực lượng chủ yếu trên hướng phối hợp quan trọng của chiến dịch A2. Trung đoàn được tăng cường các phân đội bộ binh, công binh, đặc công, pháo binh, cao xạ có nhiệm vụ diệt địch ở khu vực đông và tây điểm cao 544. Chiếm lĩnh, vây lấn, tiến tới diệt căn cứ này. Chiếm giữ địa hình có lợi, tiếp tục đánh địch giải tỏa. Ngày 15 tháng 6, phải hoàn thành công tác chuẩn bị để có thể nổ súng được. Tướng Lê Trọng Tấn quay sang hỏi: Anh Tâm, anh Hiển có ý kiến gì về nhiệm vụ không? - Nhiệm vụ Bộ Tư lệnh giao chúng tôi sẽ họp thường vụ ra nghị quyết lãnh đạo. Cái khó là đơn vị vừa chiến đấu xong, quân số, lương thực, thực phẩm, trang bị chưa kịp bổ sung. Nhất là phải lo chạy gạo. Quần áo bộ đội đa phần còn một bộ. - Anh Tâm nói. Tướng Lê Trọng Tấn động viên: - Tôi sẽ giao cho cơ quan hậu cần chiến dịch lo vấn đề hậu cần cho các anh. Nhưng các anh cũng phải năng động, sáng tạo cùng với chúng tôi giải quyết Trên đường đi nhận nhiệm vụ ở Mặt trận về, Trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâm và Chính ủy Nguyễn Võ Hiển tranh thủ bàn bạc sơ bộ tình hình và lên kế hoạch tác chiến. Ngay sau khi về đơn vị, Đảng ủy trung đoàn họp ra nghị quyết lãnh đạo đợt chiến đấu. Trung đoàn trưởng họp cán bộ, chỉ huy, trợ lý cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần triển khai nhiệm vụ. Cả trung đoàn như một guồng máy vận hành hết tốc lực: vững chắc, có lực lượng phía trong và "quân cù" bên ngoài, với sự chi viện chặt chẽ và kịp thời của hỏa lực. Trước tháng 5 năm 1970, Phu-lơ do quân Mỹ chiếm đóng. Sau đó chúng giao lại cho quân ngụy. Căn cứ này đã bị đặc công ta đánh nhiều lần, hai lần bị ta vây ép và thường xuyên bị cối 1201y của ta bắn phá. Do đó, địch đã củng cố thành một trong những căn cứ vững chắc ở Đường 9. Tiểu đoàn 2 do anh Bùi Xuân Các chỉ huy, đây là đơn vị có kinh nghiệm trong nhiệm vụ vây lấn. Đợt chiến đấu này, chỉ huy trung đoàn quyết định tăng cường cho Tiểu đoàn 2 hai đại đội đặc công vào nhiệm vụ vây ép tiến tới diệt điểm căn cứ Phu-lơ. Trời tháng 6, vùng đất Quảng Trị nắng nóng hầm hập. Trên các mỏm đồi phía tây căn cứ Phu-lơ, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 đang chiếm lĩnh không còn một bóng cây. Chiến sĩ ta phải phơi mình dưới trời nắng như đổ lửa để xây dựng công sự chiến đấu. Là những người đã từng tham gia vây ép căn cứ địch, cán bộ, chiến sĩ ta rất hiểu giá trị của mỗi đoạn chiến hào trong lúc nổ súng đánh địch. Đêm 17 tháng 6 năm 1971, Đại đội 3 và một trung đội của Đại đội 2 Tiểu đoàn 2 ở cụm B (Khu vực tây và tây bắc căn cứ Phu-lơ) chiếm lĩnh dãy đồi "Thám Báo". Ngay trong đêm cán bộ, chiến sĩ ta đã xây dựng xong hầm chữ A đủ cho bộ đội ẩn nấp và làm thêm công sự chiến đấu. Trong lúc đó, lực lượng ở cụm D (Khu vực đông bắc căn cứ Phu-lơ) do Tiểu đoàn trưởng Bùi Xuân Các chỉ huy đang gặp khó khăn, gạo đạn phía sau chưa chuyển lên được. Mặc dù Tiểu đoàn 1 đã cố gắng tranh thủ thời gian để vận chuyển cho hướng này, nhưng do đường xa, vượt qua nhiều khe suối và bom tọa độ, pháo địch bắn chặn, nên đã mất nhiều thời gian. Lúc này, tại Sở Chỉ huy trung đoàn đặt ở điểm cao 402, Trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâm sau khi nghe báo cáo diễn biến cụ thể ở các cụm, anh trao đổi với Chính ủy Nguyễn Võ Hiển vẫn quyết tâm đề nghị Mặt trận cho chiếm lĩnh ngay đêm 18 tháng 6. Đồng chí Lê Trọng Tấn đồng ý với quyết tâm của trung đoàn và nhắc: Phải hết sức giữ bí mật, khi bộ đội chiếm lĩnh, dùng cối 120 ly chi viện cho bộ binh. Bất đắc dĩ mới nổ súng đánh địch lúc này. Đôn đốc Tiểu đoàn 1 nhanh chóng đưa gạo đạn vào cho bộ đội. Ngày 18 tháng 6, tình hình ở căn cứ 544 và các khu vực xung quanh vẫn trong trạng thái yên tĩnh. Trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâm điện cho tôi đưa một đại đội vào chốt giữ điểm cao 402 để bảo vệ bàn đạp cho các cụm chiến đấu của Tiểu đoàn 2. Nhận được lệnh, tôi điều Đại đội 3 và một trung đội của Đại đội 4 hỏa lực vào chốt ở D4, tây bắc căn cứ Phu-lơ. Các đơn vị nhận được lệnh đã khẩn trương lên đường vào xây dựng công sự, hầm hào trong đêm 18 tháng 6. Ngày 20 tháng 6 năm 1971, trận địa cối 1201y đặt ở đồi Anh Hùng (bắc căn cứ Phu-lơ) được lệnh nổ súng mở đầu cuộc vây ép. Hai đại đội đặc công của Tiểu đoàn 19 cũng được lệnh xuất phát. Trong những ngày này, trên toàn Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị ta đã đẩy mạnh hoạt động. Địch rất lúng túng, thiếu lực lượng cơ động, chúng chỉ dùng hỏa lực phi pháo đối phó. ở phía tây Trung đoàn 66 (Sư đoàn 304) liên tục tiến công, đánh thiệt hại lữ đoàn 147 quân ngụy, buộc chúng phải rút về Mai Lộc. Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304) tập kích một bộ phận thuộc lữ đoàn 369 ở Ba Hồ. ở phía đông, bộ đội địa phương kết hợp với đặc công, pháo binh tập kích vào Đông Hà, ái Tử và tiến công tàu chiến địch trên sông Cửa Việt làm cho địch càng hoang mang. Trên hướng chiến đấu của Trung đoàn 27 tại căn cứ Phu-lơ trong ngày 20 tháng 6, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 ở cụm B và cụm D đã nổ súng. Trung đoàn lệnh cho các đơn vị dùng hỏa lực bắn thẳng vào tuyến công sự vành khăn của địch. Bị ta đánh mạnh, địch trong căn cứ Phu-lơ hốt hoảng bỏ chạy về mỏm cao phía đông. Qua máy bộ đàm của địch, ta biết được trung đoàn trưởng trung đoàn 2 ngụy ra lệnh cho lính ở căn cứ Phu-lơ không được chạy, ai chạy sẽ bắn bỏ, phải trở về vị trí phòng thủ. Trong ngày đầu chiến đấu, chiến sĩ của Trung đoàn 27 loại khỏi vòng chiến đấu 80 tên địch bên ngoài căn cứ, bắn rơi 4 máy bay, phá hủy 4 ụ súng, 1 khẩu ĐKZ và 2 khẩu đại liên, bắn cháy 2 kho đạn trong căn cứ. Cuộc chiến đấu của Trung đoàn 27 phát triển thuận lợi. Địch đối phó bị động lúng túng. Trung đoàn quyết định ngày 21 tháng 6 cho hỏa lực đánh mạnh, tiến tới phá hàng rào căn cứ Phu-lơ. Thực hiện nhiệm vụ trên, chỉ huy trung đoàn cho Tiểu đoàn 3 bộ đội tỉnh Quảng Trị (đơn vị phối thuộc) tích cực đánh địch ở các khu vực xung quanh tạo thời cơ dứt điểm Đồi Tròn. Đêm 21 tháng 6 năm 1971, địch trong căn cứ Phu-lơ bắn pháo sáng và máy bay C.130 thả đèn dù suốt đêm. Các loại hỏa lực của địch trong căn cứ bắn chặn mãnh liệt. Mặccho địch tăng cường hoạt động các chiến sĩ đặc công cùng với công binh vẫn bình tĩnh mở hàng rào. Suốt đêm 21 tháng 6, Ban chỉ huy Trung đoàn 27 và các sĩ quan tham mưu ở Sở chỉ huy không rời máy thông tin. Cứ mỗi lần nghe tiếng súng từ căn cứ Phu-lơ vọng lại, mọi người lại nín thở để phân biệt tiếng súng của ta hay tiếng súng của địch. Ai cũng hiểu rằng mũi nào nổ súng trong quá trình tiềm nhập mà chưa đến giờ hiệp đồng là không thuận lợi. 12 giờ đêm, một chiến sĩ canh máy thông tin báo cáo: Cửa mở hướng đông bắc đã cắt được ba hàng rào ngoài cùng, hàng rào thứ tư đã bị pháo ta phá hủy. Cửa hướng đông bộ đội vào muộn, chưa đánh được bộc phá, chỉ huy hướng này đề nghị cho lùi ra ngoài cách sáu, bảy mươi mét lợi dụng công sự ở lại trong ngày 22 tháng 6 để đêm sau mở tiếp. Hướng bắc, địch bắn mạnh chưa thể tiếp cận được... Trước tình hình đó, Trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâm trao đổi với Chính ủy Nguyễn Võ Hiển và quyết định: các đơn vị giữ nguyên vị trí, trung đoàn sẽ tăng cường chi viện hỏa lực cho các hướng tạo điều kiện cho chiến sĩ đặc công và bộ binh đột phá. Trên các trận địa hỏa lực của trung đoàn, bất chấp bom, pháo địch, các chiến sĩ ta bám trận địa kịp thời tiêu diệt những hỏa điểm, lô cốt địch trong căn cứ Phu-lơ. Tại trận địa ĐKZ75 bố trí ở phía đông chi viện cho hướng tiến công chính diện vào trung tâm căn cứ các pháo thủ lo lắng cho bộ phận mở cửa vẫn nằm ngoài hàng rào địch. Khẩu đội trưởng Trần Văn Quyền nói với pháo thủ Phạm Văn Ba: "Quan sát các mục tiêu, khi có lệnh là diệt ngay, tạo thuận lợi cho bộ phận mở cửa". Phạm Văn Ba lặng lẽ lấy phần tử từng mục tiêu, vừa được lệnh nổ súng, Ba bắn liền năm quả đạn diệt ngay năm hỏa điểm ở tuyến công sự vành khăn. Sau những quả đạn chính xác của Ba, bộ phận mở cửa phát triển thuận lợi. Khẩu đội ĐKZ75 của Trần Văn Quyền được lệnh cơ động sang vị trí khác để chi viện cho bộ binh. Nòng súng ĐKZ đang bốc khói. Ba đưa tay chạm vào liền rụt lại: "Nóng quá anh ạ" - Ba nói với Khẩu đội trưởng Quyền. Khẩu đội trưởng Quyền lệnh: "Lấy khăn ướt bọc lại". Ba làm theo, nhưng chỉ vài giây sau, chiếc khăn bốc khói, tỏa mùi khét lẹt... Súng địch bắn ra mỗi lúc một dồn dập. Trận địa vây lấn của ta đang gặp khó khăn. Ba mím môi ôm chặt bầu nòng xoay ra khỏi chân súng, rồi vác lên vai, dẫn đầu đội hình băng về phía trận địa mới. Lúc hạ nòng pháo xuống thì vai áo Ba đã cháy sém và lớp da ở vai đỏ au. Anh vẫn bình tĩnh lắp đạn, lần lượt diệt những hỏa điểm của địch ở phía trong hàng rào, tạo điều kiện cho bộ binh lấn sâu vào căn cứ địch. Lúc này, Tiểu đoàn 2 đã mở được hai cửa mở ở đông bắc. Các hướng khác vẫn đang gặp khó khăn. Ngoài hỏa lực từ trong căn cứ bắn ra, pháo địch từ Đầu Mầu, Tân Lâm, điểm cao 241 bắn về, chúng còn cho máy bay B.52 rải bom xuống phía bắc điểm cao 544 vào trúng đội hình Đại đội 1, Tiểu đoàn 3 của tôi, làm hai chiến sĩ hy sinh là: Võ Tá Tử, quê Hợp tác xã Tiên Tiến, Thạch Quý, Thạch Hà, Hà Tĩnh và Lư Quang Hắt, quê Nai Đồng, Tân Kỳ, Kim Thành, Hải Dương. Trước đó ngày 21 tháng 6, Đại đội 4 hỏa lực, Tiểu đoàn 3 của tôi trong khi chiến đấu ở chốt D4 (tây bắc căn cứ Phu-lơ) đã bị một quả bom đánh trúng trận địa làm Tiểu đội trưởng là Nguyễn Đình Phú, quê Hiền Lương, Vĩnh Thành, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa; y tá Nguyễn Xuân Lộc, quê Xuân Chi, Lâm Thao, Phú Thọ và hai chiến sĩ là Nguyễn Thế Đề quê Nước Mát, âu Lâu, Trấn Yên, Yên Bái; Nguyễn Quốc Long, quê Chuế Lưu, Hạ Hòa, Phú Thọ hy sinh. Ngày 22 tháng 6 năm 1971, trên các hướng vây ép cứ điểm Phu-lơ, lực lượng ta vẫn nằm ngoài hàng rào của địch. Tiểu đoàn 1 nằm trong vòng vây đã tổ chức phòng thủ chặt chẽ hơn. Ngoài khó khăn ở các hướng vây ép trong giai đoạn mở cửa, các lực lượng đánh vòng ngoài của ta cũng không phát triển thuận lợi. Cho đến lúc này, khu vực Đồi Tròn (phía tây căn cứ Phu-lơ) ta vẫn chưa làm chủ. Vì thế quân địch ở căn cứ Phu-lơ và Đồi Tròn vẫn chi viện cho nhau. Trước tình hình đó, Trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâm quyết định tăng cường thêm lực lượng cho Tiểu đoàn 2 mở cửa và quyết tâm đêm 23 tháng 6 sẽ dứt điểm căn cứ Phu-lơ. Kế hoạch của đặc công không thay đổi, hai phân đội ở hai cụm vây ép sẵn sàng vào tiếp sức nếu mũi. ở phía tây không vào được. Tiểu đoàn 3 đưa một đại đội lên đồi Thám Báo chi viện cho phía trước và sẵn sàng cường tập nếu lực lượng phía trong gặp khó khăn. Hỏa lực của ta vẫn đánh mạnh vào căn cứ Phu-lơ, làm rối loạn đội hình phòng ngự trên các hướng của địch. Đã ba ngày đêm, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 cùng đặc công và công binh vây ép căn cứ Phu-lơ, mở hàng rào, đánh phá công sự vành khăn trong tầm hỏa lực của địch, thường xuyên đối phó với những tình huống phức tạp diễn ra ngay trên trận địa của mình, nhưng không một ai nao núng. Có bộ phận giành giật với địch từng lớp hàng rào, lô cốt. Chiến sĩ đặc công và công binh bí mật luồn cắt hàng rào mở cửa, sẵn sàng đánh vào trung tâm. 19 giờ 15 phút ngày 23 tháng 6 năm 1971, pháo cối của ta bắn trúng vào khu chỉ huy làm tê liệt hoàn toàn hệ thống thông tin liên lạc của chúng. Chỉ huy tiểu đoàn 1 quân ngụy trong căn cứ Phu-lơ không liên lạc được với cấp trên. 20 giờ, ở hướng tây, đặc công luồn sâu vào hàng rào đánh chiếm mục tiêu đầu cầu, lính ngụy chống trả yếu ớt. Tiểu đoàn trưởng Bùi Xuân Các có mặt tại lô cốt đầu cầu cho rằng: "Địch đã chạy xuống phía nam căn cứ". Đúng như nhận định của Tiểu đoàn trưởng Các, trong lúc mất liên lạc với chỉ huy cấp trên, lính ngụy đã tháo chạy xuống phía nam. 22 giờ, mũi tiến công phía tây đã hoàn toàn làm chủ căn cứ Phu-lơ. Chỉ huy trung đoàn ra lệnh cho Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2: các mũi tham gia vây ép căn cứ Phu-lơ không bắn tín hiệu, nhanh chóng chốt giữ, bao vây phía nam căn cứ không cho địch tháo chạy, tổ chức lùng sục, tảo trừ quân địch trong căn cứ. Tiểu- đoàn 2 chỉ để một trung đội chốt giữ căn cứ Phu-lơ còn tất cả tiến xuống phía nam để đánh địch. Mục tiêu quan trọng lúc này là khu vực Đồi Tròn. Mất căn cứ Phu-lơ, căn cứ Đầu Mầu và điểm cao 241 bị uy hiếp nghiêm trọng, chỉ huy quân nguy ở Mặt trận Quảng Trị thúc ép trung đoàn 2 phải cho quân nống ra để đẩy lùi lực lượng ta. Trung đoàn 2 dùng tiểu đoàn 5 và lực lượng còn lại của tiểu đoàn 4 lên giải tỏa cho căn cứ Phu-lơ. Trung đoàn 1 ngụy mở cuộc hành quân ngăn chặn ở khu vực Động Tre, Động Toàn, điểm cao 365. Ngày 26 tháng 6 năm 1971, địch cho máy bay B.52 đánh vào vị trí trú quân của Đại đội 15 công binh ở chân căn cứ Phu-lơ làm ba cán bộ, chiến sĩ hy sinh: Đại đội phó Nguyễn Thanh Truyền, quê Thọ An, Quỳnh Thọ, Quỳnh Lưu, Nghệ An; y tá Nguyễn Hữu Quang, quê An Trung, An Sơn, Hương Sơn, Hà Tĩnh; chiến sĩ Đặng Duy Nguyễn, quê Xuân Thắng, Xuân Lâm, Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Các anh được an táng tại chân điểm cao 544 (Phu-lơ). Trong thời gian này ở khu vực đồi Thám Báo, phía tây căn cứ Phu-lơ không lúc nào ngớt tiếng súng. Hết lính ngụy nống lấn lại đến pháo địch từ căn cứ Đầu Mầu, điểm cao 241 bắn về. Trung đội của Lê Bá Dương chất ở đây với hơn 20 tay súng, nhưng có lúc đã đánh trả cả đại đội lính ngụy. Sau những đợt pháo dập xuống chất là lính nguy lại tràn lên. Đồi cây cao quá đầu người nay chỉ còn trơ gốc. Công sự chiến đấu nhiều chỗ trống. Dương tranh thủ cùng anh em sửa sang công sự lấy cỏ khô lá khô ngụy trang sau từng đợt pháo địch bắn phá. Tổ của Nguyễn Văn Hải bố trí ở một gốc cây to, tuy lính ngụy đổ đạn vào đó nhiều, nhưng anh em không ai việc gì. Lê Bá Dương cho một khẩu súng bắn tỉa ở đó, anh nói với chiến sĩ: "Cứ nhằm vào chỉ huy cầm súng ngắn và lính đeo máy thông tin mà bắn. Diệt chỉ huy và thông tin là nó không gọi phi pháo được". Địch ỷ vào thế quân đông, cùng lúc chia thành nhiều mũi đánh lên đồi Thám Báo. Chúng còn đặt cối 81 ly ở phía sau bắn yểm hộ cho bộ binh tiến lên. Sau khi đẩy lùi ba đợt tiến công của địch, về phía ta một số chiến sĩ bị thương, tay súng chiến đấu trên trận địa chốt Thám Báo vợi dần. Hầm chữ A trúng đạn pháo địch sập gần hết. Hào giao thông nhiều chỗ cũng bị đất đá lấp đầy. Cứ sau mỗi đợt bắn phá và vừa dứt tiếng súng bộ binh, mỗi tiểu đội chỉ để một tổ cảnh giới sẵn sàng đánh địch còn lại lao đi đào bới và băng bó đồng đội bị thương, tiếp tục sửa lại công sự hầm hào bị sập, làm thêm hầm cho thương binh vì chưa thể đưa anh em ra khỏi trận địa lúc này. Trung đội trưởng Lê Bá Dương tay trái quấn đầy băng, khoác khẩu AK chạy đến các chiến sĩ bị thương nhẹ động viên họ tiếp tục chiến đấu, quyết tâm giữ vững trận địa. Ngày 24 tháng 6 năm 1971, Trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâm điện cho tôi: bắt liên lạc và hợp đồng chiến đấu với Tiểu đoàn 3 độc lập của Tỉnh đội Quảng Trị ở khu vực Đồi Tròn. Tiểu đoàn của tôi sẽ tiến công địch từ hướng bắc và Tiểu đoàn 3 (độc lập) sẽ đánh từ hướng tây nam. 16 giờ cùng ngày, địch cho một đại đội từ Đồi Tròn hành quân lên mỏm đồi phía đông bắc. Một đại đội khác từ Đầu Mầu lên phía nam Đồi Tròn và dừng lại làm công sự. Tôi trao đổi trong ban chỉ huy dùng Đại đội 2 đánh Đồi Tròn từ hướng bắc. Đại đội 3 cùng với hỏa lực của Đại đội 4 tập kích diệt đại đội địch ở phía nam Đồi Tròn... Tiểu đoàn 3 (độc lập) sử dụng Đại đội 11 và một trung đội của Đại đội 9 tiến công địch từ phía đông bắc Đồi. Tròn. Kế hoạch chiến đấu được ban chỉ huy tiểu đoàn nhất trí và tôi làm công tác hợp đồng với Tiểu đoàn 3 (độc lập). Đúng 17 giờ, ngày 25 tháng 6, tôi ra lệnh tiến công quân địch ở phía nam Đồi Tròn. Cối 82 ly, cối 60 ly, súng 12 ly 7 được lệnh bắn mạnh vào đội hình địch. Sau đòn hỏa lực, Đại đội 3 xung phong đánh chiếm các công sự, hầm hào của chúng. Cuộc chiến đấu diễn ra 30 phút, Đại đội 3 hoàn toàn làm chủ trận địa, loại khỏi vòng chiến đấu gần một trăm tên địch, bắt sáu tù binh, thu 19 súng, ba máy thông tin 2W PRC25. Trong trận này, Đại đội 3 có hai chiến sĩ hy sinh đó là: Trần Quốc Trị, quê Bình Lý, Thạch Bình, Thạch Hà, Hà Tĩnh và Nguyễn Đức Khanh, quê An Lại, An Dương, Thanh Hà, Hải Dương. Các anh được an táng ở nghĩa trang Bản Hiệu. Để tiếp tục đánh địch ở khu -vực phía nam căn cứ Phu-lơ, chỉ huy Trung đoàn 27 đề nghị Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 cho Tiểu đoàn 1 vào chiến đấu. Tiểu đoàn 1, sau một thời gian tham gia vận chuyển gạo, đạn, thuốc men phục vụ cho các hướng của chiến dịch, nhận được lệnh chiến đấu đã tổ chức hành quân vào chiếm lĩnh khu vực phía nam căn cứ Phu-lơ. Có thể nói, ngay từ những ngày đầu chiến dịch A2, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 tuy không trực tiếp đánh địch, nhưng anh em đều có mặt trên khắp các hướng chiến đấu của trung đoàn. Từ kho R (phía bắc sông Bến Hải) đến điểm cao 402, 425, đồi Không Tên, suối La La... không một lúc nào vắng bóng cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1. Nhận hàng xong là cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 hành quân, hành quân suốt ngày đêm để đến kịp các trận địa đang nổ súng đánh địch. Rồi các anh lại vận chuyển thương binh ra phía sau. Cùng với các đơn vị bạn, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 đã tham gia vận chuyển vào chiến trường 350 tấn gạo, đạn, hàng hóa phục vụ cho chiến dịch của trung đoàn. Chỉ bằng đôi vai của người chiến sĩ, con số đó thật vô cùng có ý nghĩa. Chiến công của Trung đoàn 27 vừa giành được ở khu vực căn cứ Phu-lơ, có sự đóng góp lớn của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 trong nhiệm vụ thầm lặng nhưng không kém.phần vất vả, ác liệt gian nan. Sau khi mất căn cứ Phu-lơ (điểm cao 544), Mỹ - nguy điên cuồng cho máy bay đánh phá trên các trục đường từ điểm cao 300 (Đồi Đất) và điểm cao 300 (Đồi Đá) (ta thường gọi là 300 Đất, 300 Đá) vào căn cứ Phu-lơ. Các loại mìn vướng nổ, mìn lá chúng rải dày đặc trên các lối mòn để ngăn chặn lực lượng ta. Nhờ quen thuộc địa hình và có kinh nghiệm hành quân trong thời gian vận chuyển nên Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 27 đã có mặt ở Đồi Tròn đúng thời gian quy định. 18 giờ ngày 25 tháng 6 năm 1971, địch dùng máy bay, pháo binh đánh phá liên tục vào cứ điểm và cho trực thăng đổ quân xuống Đồi Tròn, Đồi Xanh và Đồi Kho. Sáng ngày 27 tháng 6, Tiểu đoàn 2 do Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Đông cùng cán bộ đại đội tổ chức đi bám địch đồng thời đưa đội hình chiến đấu của Đại đội 1 và Đại đội 2 vào vị trí tập kết. Đại đội 4 hỏa lực bố trí ở phía tây bắc cách những ngọn đồi trên khoảng một ki-lô-mét. 13 giờ ngày 27, các mũi chiến đấu của Đại đội 1, do Đại đội trưởng Nguyễn Văn Đài và Chính trị viên Nguyễn Đình Thi chỉ huy đã đưa đội hình vào vị trí xuất phát tiến công. Đại đội 2 do Đại đội trưởng Phạm Minh Chính và Chính trị viên Nguyễn Văn Huân chỉ huy đưa đơn vị luồn sâu xuống phía nam, chia làm hai mũi đánh lên Đồi Tròn từ hướng Đầu Mầu. 15 giờ các hướng báo cáo đã vào vị trí. 30 phút sau, Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Đông ra lệnh cho cối 82 ly và 60 ly bắn cấp tập vào Đồi Tròn, Đồi Xanh và Đồi Kho. Sau 30 phút bắn phá, hỏa lực chuyển làn, ba phát pháo hiệu từ sở chỉ huy tiểu đoàn bay lên làm hiệu lệnh hợp đồng tiến công. Đại đội 1 nhanh chóng xuất kích. Mũi đánh Đồi Xanh của Trung đội 1 do Bằng Ngọc Tánh chỉ huy đã chiếm được địa hình có lợi, nổ súng giòn giã, buộc địch phải dạt xuống phía nam để lại trên đỉnh đồi 20 xác chết. Tiểu đội trưởng Hoàng Ký Nhật chỉ huy tiểu đội chiếm xong đỉnh đồi, tổ chức lùng sục, bắt được một tù binh lẩn trốn. Mũi đánh vào Đồi Kho của Trung đội 3 do Nguyễn Văn Giá chỉ huy, cũng nhanh chóng đánh và làm chủ khu vực được giao. Lính ngụy sống sót từ Đồi Xanh và Đồi Kho chạy cụm về Đồi Tròn. Trung đội của Đoàn Khương đã hai lần tổ chức đánh lên, nhưng vẫn chưa chiếm được Địch đông, chúng phát hiện ra hướng tiến công của ta nên tập trung lực lượng chống trả quyết liệt. ở phía nam Đồi Tròn, Đại đội 2 cũng gặp khó khăn bởi sườn đồi dốc, địa hình trống trải, đội hình chiến đấu của Đại đội 2 bị lộ ngay từ vị trí xuất kích đầu tiên. Trên hướng Đại đội 1, đến lần thứ tư anh em mới bám được Đồi Tròn. Một khẩu đại liên địch từ phía bên phải bắn chéo cánh sẻ vào đội hình chiến đấu của ta. Đạn đại liên của địch quét cầy đất đá, lá cây bay lên tung toé. Các mũi được lệnh tạm dừng tiến công, xốc lại lực lượng ngay tại chỗ. Tiếng súng trên trận địa im lặng. Trong lúc đó, quân ta ở Đồi Kho và Đồi Xanh được lệnh tiến sang Đồi Tròn. Lính ngụy trên Đồi Tròn hốt hoảng với hướng tiến công mới, chúng giẫm đạp lên nhau chạy về phía nam nhưng bị Đại đội 2 chặn đánh. Trước tình thế đó, bọn địch ở Đồi Tròn liều mạng chống trả. Ta và địch phải giằng co nhau từng gốc cây, từng đoạn hào. Địch cụm lại phía bắc Đồi Tròn mỗi lúc một đông. Quân ta từ ba phía đánh ép vào, làm cho chúng thêm hốt hoảng. Đại đội 1 và Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 tranh thủ thời cơ tiến công dồn dập làm chủ Đồi Tròn. Trời tối hẳn, các hướng chiến đấu của Tiểu đoàn 1 được lệnh rời khỏi vị trí chiến đấu của mình để ngày mai tiến xuống phía nam chặn đánh quân địch ra ứng cứu. Trong những ngày tiếp đó, Trung đoàn 27 lại liên tục quần nhau với lính trung đoàn 2 và trung đoàn 56 quân ngụy Sài Gòn. Đây là những trận đánh cuối cùng của Trung đoàn 2 7 trong chiến dịch A2 năm 1971. Trong chiến dịch này, Trung đoàn 27 đã mở rộng được địa bàn ở khu vực miền Tây Quảng Trị, các căn cứ quan trọng của địch nằm ở phía bắc Đường 9 đều bị ta tiến công. Qua nhiệm vụ Trung đoàn 27 vây ép tiến tới dứt điểm căn cứ Phu-lơ đã mở ra một khả năng mới trong chiến đấu hiệp đồng tiêu diệt những căn cứ lớn của địch. Tướng Lê Trọng Tấn - Tư lệnh Mặt trận B5 kết luận: "Với trình độ bộ đội, khả năng hỏa lực của ta hiện nay, nếu có sự chuẩn bị tốt, chỉ huy kiên quyết có tổ chức chặt chẽ, chúng ta có thể tiêu diệt được quân địch phòng thủ trong vị trí có công sự vững chắc, trong hệ thống phòng ngự có hỏa lực chi viện bằng lối đánh vây lấn, tiến tới dứt điểm trong thời gian hai, ba ngày... ". Lá cờ giải phóng được chiến sĩ Trung đoàn 27 cắm trên căn cứ Phu-lơ trong những ngày này, càng thêm khích lệ mạnh mẽ các đơn vị trong toàn Mặt trận lập công. Bà con cô bác Quảng Trị nhìn lá cờ cách mạng ngày đêm tung bay trên căn cứ chiếm được của địch càng thêm phấn khởi, tin tưởng tự hào. Phong trào cách mạng ở Quảng Trị phát triển cao sau khi được Trung ương ra quyết định thành lập lại Tỉnh ủy Quảng Trị (tháng 6 năm 1971). Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 16 ủy viên, do đồng chí Hồ Sỹ Thành (Hồ Sỹ Thản) làm Bí thư. Trong số hai ủy viên dự khuyết có anh Nguyễn Minh Kỳ - Trưởng ban an ninh huyện Cam Lộ. Ngày 6 tháng 7 năm 1971, Tỉnh ủy Quảng Trị họp kiểm điểm tình hình và đề ra nhiệm vụ hoạt động của 6 tháng cuối năm. Hội nghị đề ra nhiệm vụ: Phải tích cực làm thay đổi tương quan lực lượng ở đồng bằng, nhất là thôn, xã, tạo cho được địa bàn ở nông thôn, củng cố hậu phương tỉnh huyện, tổ chức chiến trường miền núi, tích cực sản xuất tự túc lương thực, chuẩn bị khả năng ba vùng cho Xuân - Hè năm 1972. Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy, trong những tháng cuối năm 1971, K8 (bộ đội địa phương tỉnh), tiến về nam huyện Hải Lăng, phối hợp với du kích hai xã Hải Tân và Hải Hòa đánh địch, bám trụ đồng bằng hoạt động. K14 (bộ đội địa phương tỉnh) tiến về phía bắc huyện Hải Lăng, đánh địch ở xã Hải Xuân và Hải Vinh. Du kích xã Hải Phú do chị Văn Thị Xuân là Xã đội phó chỉ huy, đánh hàng chục trận diệt làm bị thương hàng trăm tên địch, phá hủy bốn xe quân sự. Đặc biệt chị đã chỉ huy tổ du kích xông vào tận hang ổ của bọn bình định diệt tên đoàn trưởng bảo an tại xóm Hồ xã Hải Phúc. Du kích xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong do chị Lê Thị Tám chỉ huy hoạt động ở một địa bàn nằm sâu trong vùng địch đã kiên trì bám dân, bám đất, xây dựng hàng chục cơ sở. ở nông thôn và năm cơ sở ở thị xã Quảng Trị, có lúc địch đánh phá ác liệt việc liên lạc với cấp trên bị gián đoạn, chị Tám ban ngày phải nằm hầm bí mật, ban đêm lại đến các cơ sở tìm cách bắt liên lạc. Chị Lê Thị Tám đã vận động được một trung đội phòng vệ dân sự nổi dậy phá bốt trở về với nhân dân. ở huyện Gio Linh, bộ đội địa phương huyện cùng du kích các xã tổ chức đánh địch liên tục, đều khắp, diệt nhiều sính lực địch tại khu tập trung Quán Ngang, Dốc Miếu, điểm cao 31... Tôi được biết, lực lượng du kích xã Gio Hải do anh Trương Quang Thọ làm xã đội trưởng đã chiến đấu dũng cảm chỉ huy du kích xã đánh hàng chục trận, diệt và làm bị thương hàng trăm tên, phá hủy nhiều xe quân sự địch. Riêng anh Thọ diệt 65 tên, bắt một trung úy tình báo, bắn cháy 14 xe tăng, xe bọc thép, đánh chìm, đánh hỏng bảy tàu. Tháng 12 năm 1971, Trương Quang Thọ dẫn một tổ du kích, cải trang là lính địch, vào tận nơi ngủ của một nhân viên tình báo ác ôn, có nhiều nợ máu với nhân dân trong xã và giết tên này. Khi trở ra Thọ còn cho anh em tiến công lính canh gác, làm chúng chạy tán loạn. Tên tình báo.ác ôn bị diệt, nhân dân trong xã rất phấn khởi. Đi đôi với hoạt động vũ trang, phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của quần chúng ở Triệu Phong, Hải Lăng cũng như ở Gio Linh, Cam Lộ có tiến bộ so với trước. Sau chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, việc đòi xác chồng, con, em, đòi trả người thân bị bắt đi lính đã nhanh chóng biến thành phong trào của quần chúng cả ở nông thôn và thành thị, làm cho nguy quyền, nguy quân thêm rối ren, lúng túng. Phong trào sản xuất, đóng góp lương thực được khôi phục và phát triển, nhất là ở miền núi huyện Hướng Hóa. Năm 1971, sản xuất ở đây được phục hồi ngang mức năm 1965. Đời sống của nhân dân các dân tộc được cải. thiện. Không những tự túc được lương thực, nhân dân huyện Hướng Hóa còn huy động được một khối lượng lớn gạo, sắn và các nguồn thực phẩm phục vụ các cơ quan, đơn vị đứng chân trên địa bàn. Qua các phong trào chiến đấu, sản xuất lực lượng vũ trang ở huyện Hướng Hóa cũng phát triển mạnh. Theo con số tôi nắm được, cả huyện có khoảng gần 1.600 du kích trên tổng số dân 15 nghìn dân. Như vậy cứ gần mười người dân thì có một du kích. Về trang bị cũng được khá hơn, trước đây, du kích chỉ được trang bị súng AK, CKC thì đến cuối năm 1971, lực lượng du kích được trang bị cả súng trung liên, đại liên, súng máy 12 1y 7 và cối 60 ly. Những trận chiến đấu liên tục trong năm 1971 của lực lượng vũ trang tỉnh phối hợp với chủ lực Mặt trận B5 chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị là sự phối hợp, hiệp đồng giữa bộ đội địa phương với bộ đội chủ lực, giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, giữa nổi dậy với tiến công; giữa xây dựng với chiến đấu, giữa binh vận với chiến đấu làm cho thế và lực của ta ở đồng bằng Quảng Trị dần dần được khôi phục và phát triển nhanh chóng, đẩy địch vào thế bị động, suy giảm về lực lượng, sa sút về ý chí, làm chuyển biến tương quan lực lượng có lợi cho ta. Thắng lợi của quân và dân ta ở chiến trường Quảng Trị trong năm 1971 còn là sự phối hợp chiến đấu giữa Trung đoàn 27 với các đơn vị chủ lực cơ động của Bộ. Đặc biệt là sự phối hợp chiến đấu của trung đoàn với Tiểu đoàn 33 đặc công do anh Hoàng Huy Bông - Tiểu đoàn trưởng và anh Phạm Hồng Thanh (1) - Chính trị viên phó tiểu đoàn chỉ huy đã gây cho địch nhiều tổn thất từ Dốc Miếu, Cồn Tiên, La Vang, ái Tử đến Đầu Mầu, Tà Cơn, Khe Sanh Đội 1 đoàn Đặc công 126 Hải quân do anh Mai Năng (2) và anh Nguyễn Văn Tình (3) chỉ huy đã chiến đấu liên tục từ năm 1968 đến năm 1971 ở một nơi địch đề phòng cẩn thận là cảng Cửa Việt, khiến chúng không tránh khỏi đòn trừng trị của các chiến sĩ đặc công nước tài giỏi của ta. Thời gian này, Trung đoàn 27 còn được các đơn vị pháo binh của anh Doãn Tuế - Chủ nhiệm Pháo binh Mặt trận B5 chi viện. Thắng lợi của chiến dịch lịch sử Đường 9 - Nam Lào đánh dấu một bước trưởng thành của bộ đội chủ lực ta về trình độ tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng để chuyển mạnh sang thời kỳ tổ chức các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược mở ra những khả năng có thể tiêu diệt lớn quân chủ lực địch, giải phóng từng vùng đất đai rộng lớn quan trọng, làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho ta, tiến tới kết thúc chiến tranh, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. --------------------------- 1. Anh Phạm Hồng Thanh sau này là Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. 2. Anh Mai Năng sau này là Thiếu tướng, Tư lệnh Binh chủng Đặc công. 3. Anh Nguyễn Văn Tình sau này là Trung tướng, Chính ủy Binh chủng Hải quân, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. ----------------------- |
| < Prev | Next > |
|---|


