| Một thời Quảng Trị_Chương VI |
|
|
|
| Written by lichsuvn.info | |
| Friday, 05 December 2008 | |
|
Chương sáu
Tuy phải ký Hiệp định Pa-ri và rút đội quân viễn chinh và lính chư hầu
về nước, nhưng Mỹ vẫn chưa từ bỏ âm mưu chiến lược "Việt Nam hóa chiến
tranh". Ngụy quyền Sài Gòn vẫn tồn tại, bộ máy kìm kẹp của địch còn khá
lớn với 140 nghìn nhân viên bình định, lại được tăng cường 24 nghìn sĩ
quan xuống tận cơ sở. Lực lượng quân sự của chúng còn đông, bao gồm
trên 1 triệu quân (với 60 vạn chủ lực gần 30 vạn bảo an và 20 vạn dân
vệ). Chúng còn tổ chức hơn 1 triệu phòng vệ dân sự với trên 20 vạn tên
có vũ trang.ĐẬP TAN TUYẾN TỬ THỦ PHÍA BẮC SÀI GÒN Chủ trương nhất quán của Mỹ - ngụy là ra sức phá hoại Hiệp định Pa-ri, tiến hành một kiểu chiến tranh chống phá cách mạng bằng biện pháp chiến lược "lấn chiếm và bình định", còn được gọi là "tràn ngập lãnh thổ". Để thực hiện âm mưu và chủ trương trên, Mỹ tiến hành một loạt biện pháp lớn như viện trợ ồ ạt cho quân ngụy. Ngoài những cơ sở vật chất, vũ khí, phương tiện chiến tranh đã từng phục vụ cho đội quân xâm lược đông tới 60 vạn tên được bàn giao lại cho quân ngụy Sài Gòn, trong quá trình rút quân. Trước khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, Mỹ đã gấp rút đưa thêm vào miền Nam 625 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép và nhiều tàu chiến... Được chính quyền Mỹ hà hơi tiếp sức, ngụy quyền Sài Gòn ra sức đôn quân, bắt lính, đưa số quân nguy từ 60 vạn (năm 1972) lên 72 vạn tên (năm 1973). Các binh chủng pháo binh, thiết giáp, không quân phát triển nhanh. Thế chiến lược cũng được chúng tính toán điều chỉnh theo kế hoạch quân sự 3 năm (1973-1975) nhằm đẩy lùi bộ đội chủ lực của ta ra sát biên giới và xóa bỏ trạng thái xen kẽ địch - ta (vùng da báo). Ngụy quyền Sài Gòn đã huy động hai phần ba số quân chủ lực và toàn bộ lực lượng bảo an, dân vệ vào các cuộc hành quân tràn ngập lãnh thổ, lấn chiếm vùng giải phóng. Những tháng đầu năm 1973, tuy tình thế đã thay đổi có lợi cho ta, nhưng lợi dụng tình hình có biểu hiện ảo tưởng hòa bình, chờ đợi của một số địa phương, địch đã lấn và chiếm lại nhiều vùng ta mới giải phóng trong năm 1972, như ở nam bắc Đường số 4 (Khu , bắc Tam Kỳ (Quảng Nam), Hoài Nhơn, Phú Mỹ (Bình Định)... Đến giữa năm 1973, địch còn lấn chiếm thêm một số vùng giải phóng gồm hàng trăm xã với hàng chục vạn dân ở Khu 5, Khu 6, Khu 7, Khu 8... Trước tình hình đó, ngày 25 tháng 6 năm 1973, Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết về: "Tình hình và nhiệm vụ quan trọng mới", phân tích tình hình diễn ra từ khi có Hiệp định Pa-ri, dự kiến khả năng phát triển của tình hình, đề ra phương hướng nhiệm vụ quân sự và những chủ trương công tác lớn đối với miền Bắc và miền Nam. Về tình hình miền Nam, Quân ủy Trung ương nhận định: "Địch thực hiện được một phần âm mưu không phải do chúng mạnh mà do ta khuyết điểm". Do vậy, Quân ủy Trung ương chỉ thị: "Các lực lượng vũ trang ở miền Nam cần nắm vững chiến lược tiến công, đánh bại mọi hành động lấn chiếm của địch, giành và giữ dân, giữ vững vùng giải phóng và chính quyền cách mạng. Đồng thời phải chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt, nếu địch mở rộng chiến tranh, gây lại chiến tranh quy mô lớn thì kiên quyết tiêu diệt" Cũng trong tháng 6 năm 1973, Bộ Chính trị họp với các đồng chí bí thư các đảng bộ và các đồng chí chủ trì các chiến trường để thảo luận chuẩn bị bản báo cáo của Bộ Chính trị trước Hội nghị Trung ương. Tháng 10 năm 1973, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21 ra Nghị quyết: "Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới". Ban Chấp hành Trung ương đã nghe báo cáo của Bộ Chính trị và đã tổng kết 18 năm thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, rút ra những quy luật thắng lợi mà nhân tố quyết định là luôn luôn giữ vững, củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, là tư tưởng chiến lược tiến công, đồng thời biết giành thắng lợi từng bước cho đúng, đẩy lùi và đánh bại địch từng bước, củng cố trận địa của cách mạng để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Phương pháp bạo lực cách mạng, dựa trên lực lượng chính trị và lực lượng quân sự, thực hiện bằng hình thức đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, kết hợp một cách hết sức chủ động linh hoạt, kết hợp khởi nghĩa quần chúng và chiến tranh cách mạng, nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy. Đánh địch trên cả ba vùng chiến lược, bằng ba mũi giáp công, kết hợp ba thứ quân, kết hợp đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ thực hiện làm chủ để tiêu diệt. địch, tiêu diệt địch để làm chủ. Đánh lâu dài, càng đánh càng mạnh, vừa đánh vừa xây dựng và phát triển lực lượng ta. Tiến công từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao... Sau này có điều kiện nghiên cứu, tôi thấy tất cả những hình thức, biện pháp nói trên là một thể thống nhất, có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tạo nên chiến lược tổng hợp và nghệ thuật quân sự của chiến tranh cách mạng Việt Nam. Đó cũng là những quy luật để giành thắng lợi được thể hiện rất rõ trong đường lối cách mạng và chiến tranh cách mạng của Đảng ta. Ban Chấp hành Trung ương đã nhất trí với nhận định của Quân ủy Trung ương tháng 6 năm 1973, đã được Bộ Chính trị thông qua về hai khả năng: - Hoặc do đấu tranh tích cực của ta trên ba mặt chính trị, quân sự, ngoại giao mà ta có thể từng bước buộc địch phải thi hành Hiệp định Pa ri về Việt Nam, hòa bình được lập lại. - Hoặc ta phải tiến hành chiến tranh cách mạng gay go, quyết liệt để đánh bại địch, giành thắng lợi hoàn toàn. Ban Chấp hành Trung ương khẳng định: Con đường cách mạng của miền Nam là con đương bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 1 của Ban Chấp hành Trung ương (Khóa III) có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cách mạng miền Nam, kịp thời khắc phục những ảo tưởng hòa bình, thụ động chờ đợi khẳng định con đường tất thắng của sự nghiệp giải phóng miền Nam là con đường cách mạng bạo lực, tiếp tục đẩy mạnh chiến lược tiến công. Thực hiện Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng và Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Quân ủy Miền và Đảng ủy - Bộ Tư lệnh các quân khu trên chiến trường miền Nam đã tiến hành tổng kết, đánh giá tình hình 6 tháng đầu năm 1973, kịp thời đề ra những chủ trương mới nhằm củng cố, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang đặc biệt là bộ đội chủ lực. Đồng thời chỉ đạo các đơn vị các địa phương kiên quyết phản công và chủ động tiến công địch, đánh bại kế hoạch lấn chiếm vùng giải phóng của chúng. Do vậy, từ giữa năm 1973 trở đi, tình hình ở miền Nan bắt đầu chuyển biến tích cực. Hình thái chiến trường không những cơ bản được khôi phục lại như cuối năm 1972 mà còn phát triển rất có lợi cho ta. Thời gian này, các lực lượng vũ trang trên chiến trường miền Nam đã tranh thủ những điều kiện thuận lợi do Hiệp định Pa-ri tạo ra để củng cố lực lượng, bổ sung quân số, trang bị và huấn luyện để nâng cao trình độ chiến đấu. ở miền Bắc, Trung ương và Chính phủ đã chỉ đạo các ngành, các địa phương huy động sức người, sức của chi viện cho chiến trường. Tôi được biết, trong vòng 9 tháng (từ tháng 1 đến tháng 9 năm 1973) đã có 14 vạn tấn hàng quân sự, trên 10 vạn cán bộ, chiến sĩ gồm hai sư đoàn bộ binh, hai trung đoàn pháo binh, một sư đoàn pháo cao xạ, một trung đoàn thiết giáp, một trung đoàn công binh và các đơn vị quân bổ sung đã đến các hướng trên chiến trường miền Nam. Với sự chi viện trên, lực lượng vũ trang ta ở miền Nam đã có sự phát triển mới về số lượng trang bị và trình độ chiến đấu. Riêng bộ đội chủ lực có 31 vạn, biên chế thành 10 sư đoạn, 24 trung đoàn, 102 tiểu đoàn bộ binh và binh chủng. Để có những quả đấm tập trung giáng những đòn quyết định tiêu diệt từng sư đoàn địch, giải phóng những vùng đất đai rộng lớn làm thay đổi cục diện chiến tranh, ngày 24 tháng 10 năm 1973, Bộ Tổng tư lệnh ra quyết định thành lập Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết thắng. Biên chế gồm 3 sư đoàn bộ binh (308, 312, 320B), Sư đoàn phòng không 367, Lữ đoàn xe tăng 202, Lữ đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn công binh 299, Trung đoàn thông tin 140, các đơn vị binh chủng, phục vụ và các cơ quan quân đoàn. Tư lệnh là Tướng Lê Trọng Tấn (Phó Tổng tham mưu trưởng kiêm chức), Chính ủy là Tướng Lê Quang Hòa (Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị kiêm chức). Quân đoàn 1 - Quân đoàn cơ động dự bị chiến lược đầu tiên của quân đội ta được thành lập là để chuẩn bị cho quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, đồng thời đánh dấu bước phát triển tất yếu của giai đoạn cuối cuộc chiến tranh giải phóng. Quân đoàn có nhiệm vụ: "Xây dựng quân đoàn cách mạng, chính quy, hiện đại, có sức chiến đấu cao, sức cơ động lớn, sức đột kích mạnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao". Lúc này, Trung đoàn 27 thuộc Mặt trận B5 ở Quảng Trị được Tướng Lê Trọng Tấn điều về đứng trong đội hình Sư đoàn 320B. Tướng Lê Trọng Tấn hiểu rất rõ sở trường của Trung đoàn 27. Tướng Lê Trọng Tấn, người đã biết tôi từ khi tôi còn là đại đội trưởng đã đánh trận diệt gọn cụm xe cơ giới Mỹ 16 chiếc ở Tân Kim, xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ... nhiều lần gặp tôi, ông bảo: - Cậu phải nói hết thủ đoạn của địch, cách giấu quân của ta, khó khăn, thuận lợi là gì? Tôi đã trình bày rất kỹ để ông nghe. Nghe xong ông ân cần chỉ bảo cho tôi cái gì được, cái gì phải rút kinh nghiệm, nhất là sau trận đánh phải báo cáo kết quả, không được để cấp trên mong tin. Tôi được ông coi như là con... Vì thế, khi điều Trung đoàn 27 về đứng trong đội hình Sư đoàn 320B, Tướng Lê Trọng Tấn cũng quyết định điều tôi từ Học viện Quân sự về làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27 thay anh Huỳnh Ngọc Giao. Cũng thời gian này trên quyết định anh Trịnh Văn Thư - Phó chính ủy lên thay anh Hoàng Nghĩa Yêm làm Chính ủy trung đoàn. Sau hơn một năm được trên cử đi đào tạo ở Học viện Quân sự, tôi tốt nghiệp loại giỏi, được nhà trường giữ lại làm giáo viên. Đang ở đơn vị chiến đấu về nhà trường thật là bức bách. Lúc nào tôi cũng hướng ra chiến trường và mong được về đơn vị chiến đấu. Việc Tướng Lê Trọng Tấn quyết định đưa tôi về Trung đoàn 27 đã đáp ứng mong mỏi của tôi, tôi phấn khởi khoác ba lô lên đường. Đi nhanh như sợ trên lại thay đổi ý kiến. Về đơn vi chiến đấu là nguyện vọng của nhiều người lúc đó. Trên Mặt trận cánh Đông Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 kiên cường bám trụ, chiến đấu giữ vững vùng giải phóng cho đến ngày 28 tháng 1 năm 1973, ngày Hiệp định Pa-ri có hiệu lực. Nhưng vào thời điểm Hiệp định có hiệu lực, trên Mặt trận cánh Đông, Mỹ - ngụy tiếp tục mở cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng Quảng Trị. Trước thái độ ngoan cố của địch, các chiến sĩ Trung đoàn 2 7 đã kịp thời đánh trả, đẩy chúng ra khỏi khu vực, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong những ngày tiếp theo, Trung đoàn 27 có mặt trên tuyến giáp ranh từ Chợ Sải, Nại Cửu, Bích La, An Đông cùng các đơn vị bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Quảng Trị. Từ Quảng Trị, mảnh đất nóng bỏng lửa đạn, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 về đứng trong đội hình chiến đấu của Sư đoàn 320B (Sư đoàn 390 ngày nay). Từ trung đoàn chủ lực tại chỗ nay đứng trong đội hình một sư đoàn chủ lực trong quân đoàn cơ động chiến lược chiến đấu hiệp đồng binh chủng quy mô lớn với những phương thức tác chiến ngày càng đổi mới cả về chiến dịch, chiến thuật là đòi hỏi rất cao đối với cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 anh hùng. Nhưng cũng rất may cho tôi, những kiến thức học trong nhà trường lại qua nửa năm làm giáo viên của Học viện Quân sự đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi vận dụng lý luận vào thực tiễn huấn luyện, chiến đấu cho bộ đội. Khi tôi về đến trung đoàn thì trung đoàn đang đứng chân ở huyện Như Xuân, Thanh Hóa. Công việc đầu tiên của tôi sau hơn một năm xa trung đoàn là đi thăm lại các đơn vị. Số cán bộ cũ đã trưởng thành lên cương vị mới. Nhiều người lúc tôi đi học mới là cán bộ tiểu đội, trung đội, cá biệt có người là chiến sĩ thì nay đã trở thành cán bộ đại đội trung đội. Không ít người đã không về, trong đó có Trung đoàn trưởng Cao Uy, người mà tôi luôn kính trọng, anh đã hy sinh cuối năm 1972 trong một trận chiến đấu chống lấn chiếm của địch. Tôi đi một lượt thăm các đơn vị trong trung đoàn, tự điểm lại thấy số anh em đã từng chiến đấu với tôi thiếu vắng khá nhiều, người thì hy sinh, người thì bị thương phải ra quân, trong đó có nhiều người là sinh viên bổ sung giữa năm 1972. Tôi hỏi một số anh em từng là sinh viên (phần đông đã chững chạc) thì được biết cuối năm 1973, một số chiến sĩ từng là sinh viên đã hy sinh và bị thương, số còn lại, có người trưởng thành cán bộ trung đội, một số ít là cán bộ tiểu đội, một số được trên cử đi học tạo nguồn. Giữa năm 1974, Trung đoàn 27 được bổ sung lớp tân binh quê Tiền Hải, Kiến Xương (Thái Bình) và sau đó là lớp tân binh quê Tiên Lữ (Hưng Yên). Những chiến sĩ này có trình độ khác nhau, phải nhờ vào "bản lĩnh" của mấy chục cán bộ trung đội, tiểu đội là sinh viên "gò" các lính trẻ này vào khuôn. Tôi và Chính ủy Trịnh Văn Thư trao đổi nhiệm vụ xây dựng trung đoàn trở thành đơn vị chủ lực cơ động mạnh, có sức chiến đấu cao, chiến đấu ở mọi chiến trường, đánh thắng địch trong mọi tình huống và đưa nhiệm vụ này ra để Đảng ủy trung đoàn thảo luận. Sau khi đã có Nghị quyết của Đảng ủy trung đoàn về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ xây dựng đơn vị cụ thể, toàn trung đoàn ra quân huấn luyện với khí thế sôi nổi. Từ doanh trại đến bãi tập ở đâu cũng nổi lên những khẩu hiệu hành động "Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu", "Huấn luyện giỏi để chiến đấu giải phóng miền Nam". Ban chỉ huy trung đoàn chúng tôi chọn Tiểu đoàn 61 chủ công làm đơn vị đột phá huấn luyện đi trước một bước. Thông qua các hình thức tham quan, tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm, dân chủ bàn bạc, tìm sáng kiến hay, đặc biệt, việc vận dụng kinh nghiệm thực tiễn chiến đấu vào huấn luyện, ai cũng thấy cần phải huấn luyện cơ bản, có hệ thống, toàn diện, đi từ thấp đến cao, tạo ra những tình huống phức tạp để rèn luyện cho bộ đội nhanh chóng có trình độ và bản lĩnh chiến đấu. Để khắc phục tình trạng hạn chế về năng lực của đội ngũ cán bộ phần lớn trưởng thành trong chiến đấu, chưa qua các trường lớp chính quy, chúng tôi rất chú trọng khâu bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ bằng nhiều biện pháp thiết thực: cho cán bộ thay ---------------------------- 1. Từ khi Trung đoàn 27 về đứng trong đội hình Sư đoàn 320B thì các tiểu đoàn có sự thay đổi. Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 3 được đổi thành: Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 5, Tiểu đoàn 6. ---------------------------------- thế nhau đi dự các lớp tập huấn bồi dưỡng của sư đoàn, quân đoàn. Chúng tôi cũng tự tổ chức các lớp bồi dưỡng đối tượng chủ yếu là đại đội, trung đội. Những kiến thức tôi có được ở trường đến giờ lại có tác dụng trong bồi dưỡng cho anh em. Tôi còn nhớ, vào một chiều cuối năm 1974, đại đội 12 1y 7 của trung đoàn bắn đạn thật. Trường bắn được xây dựng bên sườn ngọn núi Nưa thuộc huyện Như Xuân, giáp huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Để cho buổi bắn đạn thật đạt kết quả tốt nhất, công tác chuẩn bị thao trường phải được chuẩn bị chu đáo. Khi tôi đến thì đơn vị đã đắp xong công sự trận địa ở chân núi, nhưng thấy cán bộ đại đội vẫn còn lúng túng chọn địa điểm để đặt mô hình máy bay trên sườn núi. Tôi đứng lên một mô đất cao quan sát, thì thấy một cụm cây trên sườn núi. Tôi chỉ tay về phía cụm cây và bảo: "Các anh cho đặt mô hình ở đó thì tạo được nhiều tình huống bắn tập sát thực tế chiến đấu hơn". Tôi yêu cầu một vài cán bộ, chiến sĩ cùng leo lên cụm cây cao trên sườn núi để treo mô hình máy bay. Khi anh em treo mô hình tôi nhìn vẫn chưa được, thế là tôi cùng anh em chỉnh sửa. Sửa, ngắm chưa được lại sửa. Khi làm xong thì trời xế chiều. Tất cả đều mệt, song mọi người đều hài lòng vì đã làm một trận địa bắn tập ưng ý, đúng tiêu chuẩn. Chiều cuối đông, trời tối rất nhanh. Mọi người giật mình tìm lối xuống. Lúc leo lên mải nói chuyện vui vẻ với đám lính trẻ nên tôi không bảo anh em đánh dấu đường. Lúc này xung quanh là cây lút đầu không xác định được hướng để đi xuống. Một số anh em tỏ ra hoang mang. Tôi nói: - Những lúc như thế này cần phải bình tĩnh mới có thể giải quyết được mọi tình huống. Theo kinh nghiệm của mình, tôi trèo lên một cây khá cao và xác định hướng xuống. Tôi bảo đại đội trưởng đưa cho con dao để tôi vừa đi vừa mở lối. Xuống dưới chân núi ai cũng bảo: "Trung đoàn trưởng mở đường xuống còn ngắn hơn lúc lên"... Sau khi hoàn thành huấn luyện, trên điều Sư đoàn 320B đi đắp đê ở Yên Mô (Ninh Bình). Cả sư đoàn trải đài trên con đê hơn hai chục cây số. Trên mặt đê, suốt dọc huyện Yên Mô như một công trường thủ công khổng lồ. Từ sáng đến chiều con đê rợp bóng áo xanh của những người lính rung đoàn 27 anh hùng. Chúng tôi đến, thôn xóm rộn lên tiếng cười đùa của đám lính trẻ cùng các cô thôn nữ. Người dân Yên Mô rất tốt. Cái gì quý cũng nhường cho bộ đội, từ miếng ăn, chỗ ngủ. Quần áo của bộ đội các cô gái cũng giằng lấy để được giặt. Ngược lại bộ đội Trung đoàn 27 cũng để lại những ấn tượng tết đẹp cho người dân Yên Mô. Trừ lúc lao động trên công trường, thời gian còn lại anh em tham gia lao động vệ sinh đường làng ngõ xóm. Nhà có bộ đội ở bao giờ cũng sạch sẽ gọn gàng. Những đêm liên hoan văn nghệ giữa bộ đội và thanh niên địa phương được tổ chức thường xuyên, mang lại đời sống tinh thần cho một vùng quê đồng chiêm trũng... Ngày 17 tháng 5 năm 1974, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang), đến ngày 20 tháng 7 năm 1974, Bộ Quốc phòng lại ra quyết định thành lập Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long). Hội nghị Bộ Chính trị họp tháng 10 năm 1974 và Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng tháng 1 năm 1975 đã phân tích thời cơ chiến lược và hạ quyết tâm lịch sử giải phóng miền Nam. Bộ Chính trị nhận định: Từ đầu năm 1974, bằng những cố gắng nhiều mặt ta đã thu được những kết quả to lớn trong công tác chuẩn bị chiến lược. Ta đã giữ vững và phát triển mạnh mẽ thế chủ động chiến lược, đẩy địch vào thế bị động trên toàn chiến trường. Ta đã tăng thêm sức mạnh của lực lượng vũ trang, đặc biệt là khối chủ lực. Làm căng mỏng và suy yếu một bước quan trọng quân ngụy, nhất là quân chủ lực cơ động của chúng. Làm cho chủ lực ta hơn hẳn chủ lực ngụy. Ta đã củng cố và mở rộng các bàn đạp tiến công trên các hướng chiến lược trọng yếu, chuẩn bị tất các mặt dự trữ vật chất, đường cơ động chiến lược và chiến dịch. Mỹ ngày càng gặp khó khăn trong nước và trên thế giới. Do đó, Mỹ chẳng những phải giảm bớt chi viện cho ngụy mà còn khó có khả năng nhảy vào lại miền Nam, và dù chúng có can thiệp thế nào đi nữa cũng không cứu vãn được ngụy quyền Sài Gòn khỏi sụp đổ không thể ngăn cản bước tiến lên của cách mạng đang vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh... Từ những nhận định trên, Bộ Chính trị đã nhất trí thông qua phương án thực hiện giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976, và chọn chiến trường Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu. ở Tây Nguyên, địch tương đối yếu và ta có nhiều thế lợi để có thể phát triển lực lượng về phía Nam, chia cắt miền Trung. Hơn nữa ở Tây Nguyên lại tiện cho ta phát huy hết sức mạnh của các binh chủng kỹ thuật. Bộ Chính trị kết luận: Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn, chưa bao giờ ta có điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay, có thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước. Bộ Chính trị quyết tâm: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975-1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại.giao, làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành khẩn trương và hoàn thành công tác chuẩn bị mọi mặt, tạo điều kiện chín muồi, tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ Trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân. Bộ Chính trị nhấn mạnh: Trong quá trình thực hiện quyết tâm chiến lược đó, cần nắm vững quy luật cơ bản của chiến tranh cách mạng nước ta là kết hợp quân sự và chính trị, tiến công và nổi dậy, chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa vũ trang, phát triển đến đỉnh cao là Tổng công kích, tổng khởi nghĩa, phát huy sức mạnh tổng hợp của tiến công quân sự, tiến công chính trị, tiến công binh vận kết hợp với tiến công ngoại giao. Bộ Chính trị quan tâm rất nhiều đến vấn đề thời cơ chiến lược. Cả năm 1975 là thời cơ, đòn tiến công quân sự mạnh tạo nên thời cơ, tình hình thế giới và nội tại nước Mỹ là thời cơ. Từ bình thường đến vừa, đến cao, đến đột biến với tốc độ "l ngày bằng 20 năm", do đó cần khẩn trương, phải đánh nhanh hơn nếu đã có thời cơ mà không kịp thời phát hiện, bỏ lỡ thì có tội lớn đối với dân tộc. Ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản hai năm 1975- 1976, cần phải có kế hoạch lợi dụng thời cơ, chuẩn bị phương án hành động cực kỳ quan trọng là: Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị Quân ủy Trung ương quyết định dùng lực lượng chủ lực mạnh mở chiến dịch quy mô lớn ở Tây Nguyên, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột, giải phóng tỉnh Đắc Lắc, sau đó giải phóng toàn bộ Tây Nguyên và phát triển xuống Phú Yên, Khánh Hòa thực hiện chia cắt chiến lược. Để bảo đảm cho trận then chốt mở đầu thắng lợi Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định cử Đại tướng Văn Tiến Dũng, ủy viên Bộ Chính trị, Tổng tham _mưu trưởng trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy chiến dịch. Đồng thời, ở Tây Nguyên phải tập trung lực lượng hơn địch, tích cực nghi binh, tích cực đánh lạc hướng, hình thành chia cắt bao vây, cô lập địch, hành động thật bất ngờ, thật mãnh liệt, làm cho địch không kịp đối phó và khi mất thì không kịp phản kích lấy lại. Theo tinh thần đó, ngày 4 tháng 3 năm 1975, ta tiến công cắt đứt đường 19, đường 21 từ Tây Nguyên nối với đông bắc Khu 5, tiến công nghi binh quy mô vừa và nhỏ ở Kon Tum, Plây Cu. Ngày 8 tháng 3, ta đánh chiếm Thuần Mẫn, cắt đứt đường 14 giữa Plây Cu và Buôn Ma Thuột. Ngày 9 tháng 3, ta đánh chiếm Đức Lập, Núi Lửa, cô lập hoàn toàn Buôn Ma Thuột. Ngày 10 tháng 3 năm 1975, ta tập trung lực lượng gồm một sư đoàn và hai trung đoàn bộ binh, một trung đoàn đặc công, một đại đội xe tăng, hai trung đoàn pháo binh, ba trung đoàn pháo cao xạ tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch ở đây, gồm sư đoàn bộ binh 23, trung đoàn 53 (thiếu), một chi đội thiết giáp, một tiểu đoàn và bốn đại đội bảo an, 57 trung đội dân vệ. Sau hai ngày chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột, đập vỡ một mảng lớn hệ thống phòng thủ của địch trên chiến trường Tây Nguyên. Ngày 11 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị họp, nhận định: Thắng lợi ở Buôn Ma Thuột, Đức Lập, trên đường 19 và các hướng khác chứng tỏ ta có khả năng giành thắng lợi to lớn với nhịp độ nhanh hơn dự kiến. Bộ Chính trị khẳng định một lần nữa khả năng can thiệp của Mỹ là rất ít và chỉ thị cho Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị khẩn trương kế hoạch giải phóng tiếp Tây Nguyên, giải phóng Huế - Đà Nẵng và dự kiến những thời cơ lớn hơn. Ngày 16 tháng 3, quân địch ở Tây Nguyên rút chạy, bộ đội ta nhanh chóng tổ chức chặn đánh và truy kích. Đến ngày 24 tháng 3, toàn bộ quân địch rút chạy khỏi Tây Nguyên đã bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng. Ta đã giải phóng toàn bộ vùng cao nguyên chiến lược rộng lớn rất quan trọng trên chiến trường miền Nam. Ngày 18 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị họp, hạ quyết tâm hoàn thành kế hoạch hai năm trong năm 1975. Bộ Chính trị xác định phương hướng tiến công chiến lược chủ yếu là Sài Gòn, nhưng trước mắt cần phải tiêu diệt ngay quân đoàn 1 ngụy. Đến ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị lại họp và nhận định: Thời cơ chiến lược lớn đã tới. Trong suốt 20 năm chống Mỹ, cứu nước, chưa bao giờ thuận lợi bằng lúc này, do đó cần: Nắm vững thời cơ chiến lược mới, tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu, hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không dự kiến kịp và không kịp trở tay, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam càng sớm càng tốt... Và, Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn Sài Gòn và miền Nam trước mùa mưa (tháng 5 năm 1975). Cả nước tập trung sức người sức của cho chiến dịch cuối cùng kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. ở miền Bắc, thanh niên nam nữ trong các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy, công trường, trường học hăng hái lên đường nhập ngũ. Mọi phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường biển, đường không đều được huy động tối đa để chi viện cho mặt trận. Trên quốc lộ số 1 và các trục đường chiến lược, từng đoàn xe chở bộ đội, xe chở hàng hóa, xe kéo pháo nối nhau ngày đêm chạy về phía nam. Các quân đoàn, binh đoàn chủ lực của ta từ khắp nơi cũng được lệnh hội quân về Mặt trận Sài Gòn. Ngày 26 tháng 3 năm 1975, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) trên cơ sở tổ chức khối chủ lực của Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên thành một lực lượng cơ động chiến lược của Bộ, phát triển xuống phía Nam tham gia giải phóng Sài Gòn. Trung đoàn 27 của tôi đang lao động trên công trường đắp đê sông Đáy, phân lũ sông Hồng thuộc huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình, thì sáng ngày 16 tháng 3 năm 1975 nhận được lệnh của sư đoàn: "Trung đoàn tổ chức hành quân cơ động gấp từ vị trí đắp đê để đi nhận nhiệm vụ chiến đấu". Tin trung đoàn ngừng lao động, lên đường đi chiến đấu được truyền nhanh khắp công trường. Bây giờ không ai còn băn khoăn với câu hỏi bao giờ ra trận nữa. Việc Quân đoàn 1 đến lúc này vẫn chưa được trên giao nhiệm vụ chiến đấu là nằm trong kế hoạch nghi binh chiến lược của Bộ Tổng tư lệnh. Vì địch luôn theo dõi Quân đoàn 1 - đơn vị dự bị chiến lược của Bộ. Khi thấy Quân đoàn 1 vẫn "chưa động binh", chúng đoán rằng ta chưa thể đánh lớn. Hơn nữa, địch càng chưa thể dự đoán ta có ý đồ tổ chức một trận quyết chiến chiến lược đánh vào Sài Gòn để giải quyết chiến tranh. Thấy bộ đội chuẩn bị hành quân, nhân dân mỗi người một tay giúp các chiến sĩ của trung đoàn. Các cụ phụ lão chọn những cây tre già, dày đốt làm cho anh em những chiếc đòn khiêng pháo. Có đơn vị anh nuôi còn nhận được cả những chiếc sọt tre đan vội nan không kịp vót. Thôn xóm có bộ đội ở nhộn nhịp như ngày hội. Bà con coi việc giúp bộ đội lên đường ra trận là trực tiếp góp công, góp sức của mình cho tiền tuyến. Hôm tiễn cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 lên đường ra trận là hôm để lại trong cán bộ, chiến sĩ niềm xúc động khó quên. Các bà, các mẹ, các cô thôn nữ không cầm nổi nước mắt. Tiếng cười hòa với nước mắt chan hòa trên khuôn mặt mọi người. Tôi có cảm tưởng, nếu không kiên quyết ra lệnh cho chỉ huy các đơn vị thổi còi và ôtô không nổ máy giục giã thì thật khó mà dứt đi được. Khi đoàn xe đã đi xa, người dân vẫn đứng giơ tay vẫy chào lưu luyến. Trung đoàn 27 là đơn vị đi đầu đội hình sư đoàn và đội hình quân đoàn. Theo tôi, ý định của cấp trên là tăng cường trung đoàn cho Mặt trận Huế nếu ở đây gặp khó khăn. Trung đoàn chia thành hai khối. Khối một, xuất phát lúc 12 giờ ngày 18 tháng 3 tại ga Cầu Yên. Khối hai, xuất phát lúc 16 giờ ngày 19 tháng 3 cũng tại ga Cầu Yên. Tàu hỏa, tiếp đó là các đoàn xe vận tải xanh lá ngụy trang của Binh trạm 1, Đoàn 559 đưa trung đoàn đến vị trí tập kết ở xã Vĩnh Chấp và Vĩnh Thành (khu vực Vĩnh Linh) vào ngày 23 tháng 3. Tiểu đoàn tân binh gần 700 đồng chí bổ sung cho trung đoàn cũng có mặt ở vị trí tập kết. Từ ngày 23 tháng 3 đến 24 tháng 3, Ban chỉ huy trung đoàn khẩn trương bàn công tác chuẩn bị: kiện toàn tổ chức biên chế chiến sĩ mới, bổ sung trang bị, vũ khí, đạn dược. Hai giờ chiều ngày 23 tháng 3 năm 1975, tôi và anh Trịnh Văn Thư có mặt ở sở chỉ huy sư đoàn. Tôi và anh Thư vừa ngồi xuống, anh Lưu Bá Xảo - Sư đoàn trưởng, nói luôn: - Tình hình trên chiến trường đang diễn biến rất khẩn trương. Địch đang trên đà tan rã lớn về tổ chức, suy sụp về tinh thần. Theo lệnh của Bộ, sư đoàn chỉ dùng Trung đoàn 27 của các đồng chí cùng với Tiểu đoàn 66 xe tăng Lữ đoàn 202 nhanh chóng đánh chiếm đèo Hải Vân. Sau đó phát triển phối hợp với các đơn vị đánh chiếm sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn, bán đảo Sơn Trà. Anh Đỗ Mạnh Đạo - Chính ủy sư đoàn bổ sung: - Trước mắt, cần động viên quyết tâm chiến đấu thật cao của cán bộ, chiến sĩ. Thực hiện tốt năm yêu cầu của Quân ủy Trung ương để quyết đánh thắng: Kịp thời nhất; nhanh chóng nhất; táo bạo nhất; bất ngờ nhất; chắc thắng. Anh Lưu Bá Xảo nhấn mạnh: - Tình thế rất khẩn trương, ngay chiều nay sở chỉ huy nhẹ của sư đoàn và các đơn vị tăng cường cho trung đoàn sẽ hành quân gấp. Anh Hiệu có ý kiến gì không? - Tôi sẽ về tổ chức cho bộ đội thực hiện. Các anh về khẩn trương chuẩn bị bước vào chiến đấu. 16 giờ ngày 25 tháng 3, tiểu đoàn xe ôtô vận tải của Trung đoàn 13, Đoàn 559 do anh Thi làm Trung đoàn trưởng đã có mặt tại trung đoàn. Chúng tôi tổ chức ba xe chở cán bộ và trinh sát đi đầu làm nhiệm vụ xem xét địa hình, nắm địch và giữ vững liên lạc với đại quân phía sau. Đoàn xe chuẩn bị xuất phát thì đồng chí Nguyễn Hòa - Tư lệnh và đồng chí Hoàng Minh Thi - Chính ủy quân đoàn đến động viên. Đồng chí Chính ủy căn dặn: "Các đồng chí phải cắm bằng được lá cờ quyết thắng lên bán đảo Sơn Trà - Đà Nẵng". 12 giờ đêm ngày 26 tháng 3, Trung đoàn 27 đã vào tới Huế. Huế vừa được giải phóng. Trên các đường phố, các công sở, dọc hai bờ sông Hương rợp cờ đỏ sao vàng, cờ nửa đỏ nửa xanh của Mặt trận dân tộc giải phóng. Đây đó còn những xác xe tăng, xe GMC của địch bị ta bắn cháy nằm ngổn ngang hai bên đường, có nhiều chiếc xe do quân địch hoảng loạn bỏ lại còn nguyên vẹn. Từng tốp bộ đội và du kích tay đeo băng đỏ, trang phục gọn gàng mang súng đứng gác. Sau cơn mưa, phố xá như vừa được rửa sạch, không khí nhẹ hẳn. Vượt cầu Tràng Tiền, đoàn xe nhằm đèo Hải Vân lao tới. Ba xe trinh sát do tôi chỉ huy vượt lên đỉnh đèo Chúng tôi vừa vui mừng vừa ngỡ ngàng thấy lá cờ giải phóng đã được cắm ngay trên đỉnh đèo đang tung bay. Biết mục tiêu đèo Hải Vân đã được đơn vị bạn giải quyết tôi nói các anh em lái xe: - Vượt đèo đuổi theo! Mục tiêu của chúng ta là bán đảo Sơn Trà. sáng ngày 29 tháng 3, ba chiếc xe vận tải nối tiếp nhau chạy về phía Đà Nẵng. Đà Nẵng đã rợp bóng cờ và sắc áo Quân giải phóng. Được tin Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đang ở sân bay Đà Nẵng, tôi cho xe tìm đến. Vừa bước vào Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 2, tôi gặp đồng chí Nguyễn Hữu An - Tư lệnh quân đoàn. Tôi báo cáo: - Theo hiệp đồng, chúng tôi đã đến đúng thời gian, nhưng địch thua nhanh quá. Đồng chí Nguyễn Hữu An cười vui, nói: - Theo kế hoạch, Trung đoàn 27 cùng với một đơn vị của Quân đoàn 2 tổ chức thành một cánh quân theo trục đường 1 đánh vào thành phố. Nhưng ta mới đánh đến đèo Hải Vân thì lực lượng của Quân khu 5 đã đánh vào, giải phóng thành phố Đà Nẵng rồi. Theo lệnh của Bộ, Trung đoàn 27 đã có nhiệm vụ mới, đó là trở lại đội hình của Quân đoàn 1 để tham gia chiến dịch sắp tới. Lúc này, anh em tổ đài 15W Bộ Tổng tham mưu tăng cường cho trung đoàn đưa điện của Bộ Tổng tham mưu, lệnh cho trung đoàn quay ra Đông Hà nhận trang bị bổ sung rồi theo đường Hồ Chí Minh vào tập kết ở Đồng Xoài. Nhận được lệnh, tôi hội ý Ban chỉ huy trung đoàn. Tôi nói: - Thời cơ đánh vào hang ổ của kẻ thù đã đến rồi, Trung đoàn 27 sẽ "Hành quân thần tốc Quyết thắng" tham gia chiến dịch. Chào tạm biệt đồng chí Tư lệnh Quân đoàn 2 Nguyễn Hữu An, tôi cho đoàn xe quay trở lại Đông Hà. Tôi được biết, ngay từ ngày 18 tháng 8 năm 1975, Bộ Chính trị - Quân ủy Trung ương đã đề ra chủ trương lớn về trận quyết chiến đánh vào Sài Gòn - Gia Định. Ngày 25 tháng 3, Bộ Chính trị có Nghị quyết và tiếp đó Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh đã chỉ đạo cụ thể. Nghị quyết Bộ Chính trị chỉ rõ: Nắm thời cơ, tập trung nhanh nhất lực lượng (từ 12 sư đoàn trở lên), tập trung binh khí, kỹ thuật và vật chất giải quyết xong Sài Gòn - Gia Định trước mùa mưa. Về cách đánh Sài Gòn, Quân ủy Trung ương - Bộ Tổng tư lệnh xác định: Đánh thẳng vào trung tâm Sài Gòn bằng lực lượng đột kích mạnh, có binh chủng hợp thành. Tiến công thật mạnh và dồn dập đến toàn thắng; vừa phát động tiến công ở ngoại vi, vừa có lực lượng sẵn sàng nắm thời cơ thọc sâu vào trung tâm từ nhiều hướng, thực hiện trong đánh ra, ngoài đánh vào, tạo điều kiện cho đồng bào nổi dậy. Lúc này, về phía địch, lực lượng quân đoàn 3 cùng tàn quân quân đoàn 1, quân đoàn 2 và tổng dự bị rút về, đã tổ chức phòng thủ quân khu 3 và Sài Gòn - Gia Định. ý định của chúng là: Tăng cường phòng thủ tuyến ngoài mạnh như Tân An, Hậu Nghĩa, Củ Chi, Đồng Dù, Bến Cát, Phú Lợi, Hố Nai, Long Bình; nội đô tổ chức thành từng khu vực phòng thủ. Hướng bắc và tây bắc Sài Gòn địch chú ý tăng cường lực lượng. Hướng tây và tây nam địch sơ hở hơn. Hướng đông địch dựa vào hai con sông lớn và có tăng cường lực lượng phòng ngự khá vững chắc. Địch tổ chức phòng thủ, bố trí lực lượng xung quanh Sài Gòn - Gia Định như sau: Tuyến ngoại vi có năm sư đoàn và hai lữ đoàn. Sư đoàn 22 ở Long An, Bến Lức. Sư đoàn 25 ở Tây Ninh, Trảng Bàng, Củ Chi, Đồng Dù, Hậu Nghĩa. Sư đoàn 18 ở Bầu Cá, Trảng Bom, Suối Đìa. Sư đoàn lính thủy đánh bộ ở Long Bình. Lữ đoàn 3 kỵ binh ở Biên Hòa, Long Bình. Lữ dù giữ Bà Rịa. Sư đoàn biệt động quân (ba liên đoàn) mới thành lập, tổ chức ba khu: Khu bắc gồm Hóc Môn, Cầu Bông trở vào Tân Sơn Nhất, khu tây gồm Vĩnh Lộc, Châu Hiệp, Bà Hoàn, Bình Chánh. Khu nam gồm Nhà Bè, Nhơn Trạch... Tuyến nội đô, chúng tổ chức thành năm liên khu, mỗi liên khu gồm hai quận, do lực lượng cảnh sát phòng vệ dân sự phụ trách. Qua hình thái bố trí của địch ta thấy, vòng ngoài có lực lượng mạnh, bên trong sơ hở, không có lực lượng tăng viện. Chúng chú trọng tăng cường một số điểm then chốt, tăng cường chướng ngại trên các ngả đường nhưng còn giản đơn, với ý định nếu bị đánh, cố giữ bên ngoài rồi co dần về bảo vệ bên trong. Về phía ta, khí thế và quyết tâm rất cao, lại có khả năng tập trung lực lượng ưu thế hơn hẳn địch cả về số lượng (ta 15 sư đoàn, địch sáu sư đoàn) và chất lượng. Chủ lực ta gồm có Quân đoàn 1, Quân đoàn 2, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 và Đoàn 232 (tương đương quân đoàn mạnh). Binh chủng kỹ thuật ta có: 20 lữ đoàn, trung đoàn và tám tiểu đoàn pháo binh; ba lữ đoàn, trung đoàn và sáu tiểu đoàn xe tăng thiết giáp; tám lữ đoàn, trung đoàn và hai tiểu đoàn đặc công; bốn trung đoàn và mười tiểu đoàn thông tin; hai sư đoàn ôtô vận tải; ngoài ra còn có lực lượng không quân và hải quân... Trong cuộc họp ngày 1 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị quyết định tăng cường sự lãnh đạo tại chỗ đối với chiến dịch ba đồng chí ủy viên Bộ Chính trị: Lê Đức Thọ, Phạm Hùng và Văn Tiến Dũng. Ngày 8 tháng 4 quyết định thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch gồm: Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tư lệnh, đồng chí Phạm Hùng - Chính ủy. Các đồng chí Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Đinh Đức Thiện, Trung tướng Lê Trọng Tấn, Trung tướng Lê Đức Anh - Phó tư lệnh, Trung tướng Lê Quang Hòa - Phó Chính ủy. Ngày 2 tháng 4 năm 1975, một cán bộ tham mưu Đoàn 559 mang đến cho tôi mệnh lệnh của Thiếu tướng Phùng Thế Tài - Phó Tổng tham mưu trưởng. Mệnh lệnh viết: "Gửi Trung đoàn 27. Nhận được điện này, các đồng chí tổ chức cho đơn vị hành quân ngay ra Đông Hà cùng đội hình Sư đoàn đi làm nhiệm vụ mới. Đúng 1 giờ ngày 3 tháng 4 phải có mặt". Đồng chí cán bộ tham mưu còn cho biết thêm tiểu đoàn xe vận tải của Trung đoàn 990 đã quay lại đưa trung đoàn về Đông Hà. Tôi hội ý Ban chỉ huy trung đoàn thống nhất đội hình và phương án hành quân. Mệnh lệnh hành quân được truyền đi khắp trung đoàn. Nhận được lệnh ai nấy đều phấn chấn, chỉ sau 30 phút, các đơn vị đã có mặt đầy đủ bên đường quốc lộ số 1. Nửa đêm ngày 3 tháng 4 cả đội hình trung đoàn đã về đến vị trí quy định là hậu cứ của một đơn vị thuộc sư đoàn vận tải Đoàn 559 đóng tại Đông Hà. Sáng ngày 4 tháng 4, trung đoàn đã tiến hành cấp phát trang bị cho bộ đội. Những thứ chưa kịp cấp phát thì bỏ lên xe, hành quân đến chỗ tạm dừng thì cấp phát tiếp. 14 giờ cùng ngày, đoàn xe chở Trung đoàn 27 được lệnh xuất phát từ Đông Hà qua Khe Sanh theo đường Hồ Chí Minh tây Trường Sơn nhằm hướng nam thẳng tiến. Thời gian trôi đi vùn vụt. Tình hình chiến trường hết sức khẩn trương. Cách mạng nước ta đang ở giai đoạn một ngày bằng hai mươi năm. Lúc này cán bộ, chiến sĩ trung đoàn đều hiểu sâu sắc hơn về thời cơ và thời gian còn lại. Thời cơ bao nhiêu năm mới có một lần. Thời cơ là sức mạnh! Thời gian là lực lượng, là chiến thắng! Chậm một giờ một phút là có tội với dân tộc với lịch sử. Do vậy những công việc chuẩn bị phức tạp trước đây phải giải quyết hàng tuần hàng tháng, thì nay được hoàn thành trong một ngày, một buổi. Trung đoàn đi sau đội hình sư đoàn một ngày nhưng nhờ hiệp đồng chặt chẽ với tiểu đoàn xe vận tải Đoàn 559 nên đã thực hiện thường xuyên đi gọn đến đủ và an toàn từng cung, từng trạm. Đường Hồ Chí Minh vào thời điểm này trở nên quá tải. Xe chở bộ đội, chở hàng hóa, xe kéo pháo, xe tăng, xe thiết giáp nối nhau chạy về phía Nam. Cả Trường Sơn rùng rùng chuyển động. Đội hình hành quân của Trung đoàn 27 nối liền với đội hình của sư đoàn và các đơn vị bạn trải dài theo con đường mang tên Bác. Các đơn vị được lệnh đi cả ngày lẫn đêm, chỉ dừng lại ở những chỗ có nước cho bộ đội thổi cơm. Thời gian thổi cơm được quy định sít sao. Xe nào thổi cơm không kịp phải mang cả nồi lên xe thổi tiếp. Ngày đầu trung đoàn đi được khoảng 100 ki-lô-mét, rồi dần dần tăng lên 150-200 ki-lô-mét. Có ngày đạt kỷ lục 300 ki-lô-mét. Xe chạy suốt ngày đêm bụi cuốn mịt mù, những cánh rừng đại ngàn rung chuyển, ầm ào trong tiếng máy nổ của các loại xe. Có đi trên đường mang tên Bác những ngày này mới thấy hết được tầm vóc vĩ đại, trí thông minh và tài sáng tạo của quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, mới thấy hết được thế vững chắc của tuyến vận tải chiến lược mà kẻ địch không thể làm gì nổi. Giờ đây, đi qua các trọng điểm, xe không phải tạm lánh chờ đêm xuống để đi như trước mà đàng hoàng vượt trọng điểm ngay giữa ban ngày. Đã vào những tháng cuối của mùa khô. Trời vẫn nắng nóng hầm hập. Mặt đất như bị nung lên, bị đốt cháy dưới nắng lửa. Nóng và bụi. Chưa bao giờ cán bộ, chiến sĩ ta gặp một cảnh bụi khủng khiếp đến như vậy. Có những đoạn, xe sau cách xe trước chỉ năm, bảy mét cũng không nhìn thấy nhau. Những cánh rừng xanh giờ được khoác trên mình tấm áo choàng đỏ màu đất bazan kéo dài hàng chục ki-lô-mét. Bộ đội mỗi người một khẩu trang che kín miệng. Đầu tóc, quần áo, bụi nhuộm đỏ quạch. Bụi chui vào lỗ tai, vào mũi. Không khí như đặc quánh lại ngột ngạt. Thế nhưng, xe vẫn nối nhau lầm lũi lao đi trong cơn bão bụi kinh khủng ấy. Nóng và bụi đi liền với khát. Đi trên đường Trường Sơn trong những ngày này, bi đông chỉ là chai nước rất nhỏ trong cơn khát đường dài. Xe chạy cả ngày, đường chỉ một cảnh cát bụi và nắng nóng. Những đoạn ngầm, những con suối hung dữ trước kia nay đã trơ những đá cùng sỏi. May mắn lắm mới gặp được một khe suối nhỏ còn đọng lại một vài vũng nước. Thế là, các đơn vị lao xuống chắt lấy từng bát chia cho bộ đội. Đến bắc Tây Nguyên, qua đèo ăm Pun rồi đèo Dốc Nứa, hàng trăm xe ùn lại vì một chiếc xe bị sa lầy. Giữa lúc ấy, một cán bộ của Đoàn 559 chuyển mệnh lệnh của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp: 1. Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và quyết thắng, 2. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ. Văn 7-4-75 Mệnh lệnh "thần tốc" của Đại tướng được nhanh chóng phổ biến tới từng người. Khẩu hiệu "Thần tốc táo bạo" được các chiến sĩ viết vội dán ở đầu xe, ở trên mũ... Nhưng, chiếc xe bị sa lầy vẫn chưa được khắc phục, xe phía sau dồn lại kéo dài gần chục ki-lô-mét. Mọi người đều sốt ruột chưa biết làm cách nào để thông đường. Một vài đồng chí lái xe của trung đoàn 13 Đoàn 559, tuổi khá cao, nhập ngũ từ năm 1959, dày dạn trận mạc nhưng hơi có chút công thần. Cán bộ, chiến sĩ trung đoàn yêu cầu họ cho xe tránh sang một bên để cho đoàn xe trung đoàn của tôi vượt lên nhưng họ không chịu. Tôi đến gặp họ và tự giới thiệu: "Tôi là Nguyễn Huy Hiệu, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27. Các anh có nghe mệnh lệnh thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa của Đại tướng Võ Nguyên Giáp không? Các anh phải chấp hành sự hướng dẫn của anh em chúng tôi". Nghe tôi nói vậy, một số anh em lái xe đã biết tên tôi nói với nhau: "Nghe tên từ lâu giờ mới được gặp ông ấy trẻ thế mà đã là trung đoàn trưởng". Thế rồi không ai bảo ai tất cả đều chấp hành theo sự hướng dẫn của anh em chúng tôi. Các đồng chí cho xe lùi vào bên, nhường đường cho đoàn xe chúng tôi. Đội hình trung đoàn dồn lên nhưng chiếc xe sa lầy vẫn chưa khắc phục được. Tôi quyết định dùng Tiểu đoàn 5 mở con đường tránh. Anh em ai có cuốc dùng cuốc, có xẻng dùng xẻng, có dao dùng dao. Người chặt cây, người san đất. Sau gần hai giờ, con đường gần một cây số đã hoàn thành. Đoàn xe tiếp tục lăn bánh... Đoàn xe chạy ra đường 14, con đường trải nhựa phẳng lỳ. Về đêm, đèn các xe bật sáng, đoàn xe dài gần chục cây số không khác gì con rồng khổng lồ đang uốn lượn. Ngày 10 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn 27 chúng tôi đến thị xã Buôn Ma Thuột - nơi vừa diễn ra cuộc tiến công chiến lược mở màn cho cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa xuân của quân dân ta. Dọc đường còn ngổn ngang dây thép gai, xác xe, pháo địch... Những ngày này, thị xã Buôn Ma Thuột trở nên chật chội bởi những đoàn xe từ Trường Sơn đổ về ngày càng nhiều. Xe tên lửa, xe kéo pháo dài như toa tàu ngụy trang kín mít. Xe công binh chở phà, chở thuyền cồng kềnh. Xe tải đầy ắp hàng. Những chiếc xe tăng T.54, T.58, xe bọc thép K63 thân đỏ bụi đường... tất cả đều hối hả chạy về miền Đông Nam Bộ. Ngồi trên xe không mui, nắng bụi làm mặt mọi người sạm lại. Nhưng nét mặt ai cũng rất tươi. Tới Bình Phước, xe chạy giữa các lô cao su. Có chỗ năm đến bảy đường ôtô. Những ngã ba, ngã tư có hàng chục biển chỉ đường với nhiều ký hiệu khác nhau: A100, A300, T500... từng đơn vị nhận ra đường của mình qua các ký hiệu riêng ấy. ở các trạm ba-ri-e, sĩ quan tham mưu cùng với các chiến sĩ công binh, trinh sát, truyền đạt thức suốt đêm ngày để hướng dẫn cho các đoàn quân và các đoàn xe vào đúng vị trí tập kết. Ngày 10 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn 27 đã có mặt ở Đồng Xoài thuộc tỉnh Phước Long, trong một cánh rừng cao su. Từ đây, theo đường chim bay chỉ cách địch 50 ki-lô-mét. Đây cũng là mảnh đất cửa ngõ Đông Nam Bộ. Hàng ngày địch vẫn cho máy bay đến ném bom bắn phá vào những cánh rừng cao su, nơi chúng nghi có lực lượng ta. Đêm đầu tiên nằm võng trong cánh rừng cao su và rừng khộp Đồng Xoài, tôi nghĩ lại chặng đường hành quân vừa qua quả là thần tốc. Vượt gần 2.000 ki-lô-mét chỉ mất 12 ngày. Cuộc hành quân này có khác gì cuộc hành quân thần tốc của Quang Trung trong mùa xuân Kỷ Dậu (1789) từ Phú Xuân ra Thăng Long để đánh tan 29 vạn quân Thanh. Hôm nay các binh đoàn chiến lược của quân đội ta lại rầm rập hành quân từ mảnh đất Ninh Bình nơi hội quân của Quang Trung chuẩn bị đánh vào Thăng Long. Hai cuộc hành quân tuy rất xa nhau về thời gian nhưng đều chung một mục đích: Đánh đuổi quân xâm lược, diệt bè lũ bán nước tay sai giành lại độc lập tự do và thống nhất đất nước. Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh nhiều cuộc hành quân kỳ diệu nhưng có lẽ chưa có một cuộc hành quân nào lại trùng điệp với sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân mà Đảng ta đã biết phát huy cao độ như trong cuộc hành quân thần tốc, vĩ đại này. Trong thời gian này, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Bộ tư lệnh Khu 5 và Bộ tư lệnh Hải quân thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi đánh chiếm các đảo do quân ngụy Sài Gòn chiếm đóng thuộc quẩn đảo Trường Sa. Ngày 14 tháng 4, bộ đội ta giải phóng đảo Song Tử Tây. Từ ngày 25 đến 29 tháng 4, ta giải phóng các đảo Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa... Cũng trong ngày 14 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị gửi điện cho Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn: Đồng ý Chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Đây là chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn có kết hợp với nổi dậy của quần chúng, kết thúc chiến tranh. Đó là trận quyết chiến chiến lược lịch sử Ngay tối hôm đến Đồng Xoài, Đảng ủy Trung đoàn đã họp và ra Nghị quyết lãnh đạo đơn vị. Năm ngày tạm dừng ở Đồng Xoài, Ban chỉ huy trung đoàn chúng tôi tranh thủ từng giờ từng phút làm công tác chuẩn bị mọi mặt cho nhiệm vụ chiến đấu, đồng thời tổ chức huấn luyện hiệp đồng giữa bộ binh và các đơn vị xe tăng, bộ binh với các đơn vị pháo binh, công binh... cách đánh địch trong hành tiến và cách đánh địch trong thành phố. Tôi chỉ đạo các đơn vị cứ một cựu binh thì hướng dẫn dìu dắt cho hai tân binh. Đơn vị cũng tranh thủ học tập chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng khi vào thành phố. Những ngày này, tôi còn nhớ một chuyện đau lòng đã xảy ra. Trung đội công binh đi đầu, trong khi đang khắc phục cầu sắt ở Đồng Xoài thì máy bay địch ập tới ném bom trúng đội hình, 36 cán bộ, chiến sĩ bị thương và hy sinh. 3 giờ ngày 18 tháng 4 năm 1975, tôi nhận được điện của Tư lệnh Sư đoàn Lưu Bá Xảo: "Tổ chức cho đơn vị hành quân về khu vực Mã Đà, phía nam sông Bé. Chỉ huy cấp trưởng từ đại đội trở lên về sư đoàn nhận nhiệm vụ. Nhận được điện, tôi hội ý Ban chỉ huy Trung đoàn, thống nhất: Tôi và anh Trịnh Văn Thư - Chính ủy và đại đội cấp trưởng trở lên tách khỏi đội hình hành quân về sở chỉ huy Sư đoàn. Bộ đội vẫn tiếp tục hành quân do Trung đoàn phó Đặng Ngọc Châu và Phó Chính ủy Nguyễn Văn Ký chỉ huy. Suốt từ 4 giờ sáng đến 10 giờ đêm, các đơn vị bộ binh lặng lẽ hành quân cắt rừng, xuyên qua chiến khu Đ. Cùng lúc đó, những chiếc xe tăng, xe kéo pháo hạng nặng, pháo binh, công binh, cao xạ giấu mình trong những cành lá ngụy trang, nối với những đoàn xe ôtô vận tải đầy ắp gạo, đạn từ Đồng Xoài chạy theo con đường "Ba Thước" rồi ngoặt về Bến Bàu. Các chiến sĩ bộ binh, ngoài quân trang mỗi người còn phải mang thêm gần 30 ki-lô-gam súng đạn, lương thực. Bộ phận hỏa lực có người còn mang tới 40, 50 ki-lô-gam. Tuy mang vác nặng, lại hành quân trong những ngày nắng nóng của miền Đông Nam Bộ, nhưng mọi người đều cố gắng. Không một ai chịu dừng lại, không một ai chịu san bớt cho người khác. Đường mòn ở đây ngang dọc, chỉ tụt lại vài chục mét là có thể bị lạc. Lại nói về cái khát. Mùa này, cả cánh rừng khát nước. Những hố bom sâu khô khốc. Những con suối biến thành đường, hiếm hoi lắm mới đọng lại được vài vũng nước nhỏ. Bộ đội phải mang bi đông, nylon đi hai, ba cây số để lấy nước. Có hành quân qua đây trong những ngày này mới thấy hết sự gian khổ, hy sinh mà đồng bào và chiến sĩ miền Đông Nam Bộ đã trải qua suốt mấy chục năm kháng chiến, để giữ vững căn cứ địa miền Nam. Chiều ngày 21 tháng 4, Trung đoàn 27 vào tới khu vực tập kết theo quy định. 20 giờ 15 phút hôm đó, khi Nguyễn Văn Thiệu đang đọc diễn văn từ chức tổng thống ngụy trên Đài phát thanh Sài Gòn, thì tôi được sư đoàn thông báo: Sở chỉ huy sư đoàn 5 ngụy đã chuyển về Phú Lợi, chiến đoàn 7 có thể về nam Phước Vĩnh. Địch đưa hai tiểu đoàn bảo an lên tuyến đường số 8 và tăng cường một đại đội của sư đoàn 5 chốt ở Tân Uyên, lập tuyến phòng thủ từ xa. Những ngày này, bọn địch ở đây ra sức đối phó, bằng những phương tiện trinh sát hiện đại, chúng đoán đường 13 sẽ là một hướng bị quân ta tiến đánh. Chúng hốt hoảng khi biết một số đơn vị thuộc lực lượng dự bị chiến lược của ta có mặt ở Nam Bộ. Bộ tổng tham mưu ngụy liền đưa máy bay đánh xăm, hòng phá sự chuẩn bị của ta. Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh sư đoàn 5 ngụy lệnh cho các trận địa pháo ở Lai Khê, Bến Cát, Phước Vĩnh bắn tối đa vào các khu vực mà chúng nghi có quân ta tập kết. Trên trời, máy bay trinh sát của địch vè vè quần đảo suốt ngày. Chúng kết hợp dùng không quân với biệt kích, thám báo tăng cường trinh sát, đánh phá trên trục đường 13, ngầm Rang Rang và những khúc sông chúng nghi có bến vượt của quân ta. Ngày 20 tháng 4 năm 1975, tại sở chỉ huy_của khu suối Mã Đà, Tư lệnh sư đoàn Lưu Bá Xảo chính thức giao nhiệm vụ cho các đơn vị và tổ chức hiệp đồng chiến đấu. Tấm bản đồ quyết tâm chiến đấu treo sát vách đá, nổi bật dòng chữ: "Quyết tâm chiến đấu của sư đoàn 320B Quân đoàn 1: Thọc sâu trên hướng bắc Sài Gòn", như có sức hút kỳ diệu sự chú ý của mọi người. Mở đầu, Tư lệnh sư đoàn Lưu Bá Xảo báo cáo tình hình chung trên chiến trường giữa ta và địch, về thời cơ chiến lược... Đồng chí cho biết: - Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch đã hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn trong thời gian ngắn nhất bằng lực lượng đột kích mạnh, liên tục, vừa đánh ở ngoại vi, vừa chọc thẳng vào trung tâm thành phố với tinh thần thần tốc, bất ngờ. Mục tiêu tác chiến cụ thể của quân đoàn có sự thay đổi. Từ đánh dinh Độc Lập, đài phát thanh, chuyển sang đánh chiếm bộ tổng tham mưu, tiểu khu Gia Định và khu bộ tư lệnh các binh chủng quân ngụy. Về kế hoạch tác chiến của quân đoàn được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu đánh mở cửa, triển khai đội hình chuẩn bị tổng công kích. Giai đoạn sau, thực hành tổng công kích, tiến công trên hai hướng. Hướng chủ yếu, thọc sâu vào Sài Gòn - Gia Định tiến theo đường Bình Chuẩn, cắt ngang đường số 8, xuống Lái Thiêu, vượt sông Sài Gòn đánh chiếm bộ tổng tham mưu ngụy, tiểu khu Gia Định, khu bộ tư lệnh các binh chủng và quận ly Gò Vấp. Hướng này do Sư đoàn 320B cùng các lực lượng tăng cường đảm nhiệm, tiến công bằng binh chủng hợp thành có sức đột kích mạnh, nhanh chóng đánh vào mục tiêu chính. Hướng thứ hai, hướng quan trọng, đánh chiếm căn cứ Phú Lợi, chốt chặn đường 13, bao vây, chia cắt tiêu diệt sư đoàn 5 nguy, tạo thế thuận lợi cho hướng thọc sâu. Hướng này do Sư đoàn 312 cùng lực lượng tăng cường đảm nhiệm. Như vậy, trừ Sư đoàn 308 ở lại hậu phương làm nhiệm vụ dự bị nghi binh chiến lược của Bộ, hai Sư đoàn 312 và 320B cùng các đơn vị binh chủng khác đều đảm nhiệm những nhiệm vụ quan trọng. Sư đoàn 320B được tăng cường Tiểu đoàn xe tăng thiết giáp 66 (Lữ đoàn 202), Trung đoàn cao xạ 280 (Sư đoàn 367), tiểu đoàn công binh cầu phà, Tiểu đoàn ôtô vận tải 51. Nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị trong sư đoàn như sau: Trung đoàn 48 được tăng cường 2 đại đội xe tăng, một tiểu đoàn pháo cao xạ 37 và 57 ly, hai đại đội súng phun lửa, một trung đội tên lửa B72 và một tiểu đoàn ôtô vận tải, đảm nhiệm hướng chủ yếu đánh chiếm bộ tổng tham mưu ngụy. Trung đoàn 27 được tăng cường một đại đội xe tăng, một tiểu đoàn cao xạ 37, 57 ly, hai đại đội pháo binh, một đại đội 121y7, một trung đội súng phun lửa, một đại đội vận tải, có nhiệm vụ đánh chiếm đường 16, đoạn từ Tân Uyên đến Bình Cơ mở cửa cho sư đoàn đưa lực lượng vào chuẩn bị thọc sâu kết hợp lực lượng thọc sâu bằng cơ giới với lực lượng luồn sâu ém sẵn tiến công tiêu diệt tuyến "tử thử' của địch ở Lái Thiêu, mở đường cho mũi thọc sâu của Trung đoàn 48 đánh vào bộ tổng tham mưu ngụy. Trung đoàn pháo binh 54 và các đơn vị pháo cao xạ được tăng cường có nhiệm vụ chi viện cho bộ binh đánh chiếm các mục tiêu và bảo vệ đội hình tiến công của sư đoàn. Trung đoàn 64 làm nhiệm vụ dự bị. Tư lệnh Lưu Bá Xảo rất trăn trở, làm sao đánh lướt được tuyến phòng thủ gần 90 ki-lô-mét để thọc thẳng vào cơ quan đầu não chiến tranh của địch. Đội hình tiến công hàng trăm xe, pháo các loại mà địa hình chưa ai biết sẽ giải quyết ra sao. Cầu cống khi ta tiến công, địch phá thì khắc phục vượt sông như thế nào, v.v... Cuối cùng đồng chí Tư lệnh sư đoàn kết luận: - Trong chiến đấu thọc sâu phải phát huy sức mạnh hiệp đồng binh chủng, đánh nhanh đánh mạnh, áp đảo quân địch, phải nắm chắc thời cơ, thần tốc, táo bạo, bất ngờ, bao vây, chia cắt tiêu diệt địch. Không biết đường thì dựa vào nhân dân hoặc bắt tù binh dẫn đường. Đề phòng địch phá cầu chỉ có cách là đánh mạnh, đánh nhanh, làm cho địch không kịp phá. Chính ủy sư đoàn Đỗ Mạnh Đạo, thay mặt Đảng ủy và Bộ tư lệnh Sư đoàn trao cho Trung đoàn 48 lá cờ Giải phóng sẽ cắm lên nóc nhà bộ tổng tham mưu ngụy... Tại vị trí tập kết, Trung đoàn 27 tổ chức hội nghị quân chính toàn trung đoàn. Mở đầu, anh Trịnh Văn Thư - Chính ủy trung đoàn nói: Chiến dịch Hồ Chí Minh - chiến dịch mang tầm vóc lịch sử lớn nhất trong 30 năm qua của quân đội ta, đánh vào hang ổ cuối cùng của Mỹ - ngụy, giành thắng lợi hoàn toàn cho dân tộc, cho cách mạng Việt Nam. Được tham dự trận đánh cuối cùng này là vinh dự và niềm tự hào của mọi người. Tôi kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ trung đoàn hãy vượt qua gian khổ hy sinh, đạp bằng hiểm nguy, mang lá cờ bách chiến bách thắng của quân đội tới đích cuối cùng. Sau khi anh Trịnh Văn Thư động viên tinh thần cán bộ, chiến sĩ. Tôi trình bày kế hoạch tác chiến, Tôi nói: - Trung đoàn 27 chúng ta được tăng cường một đại đội xe tăng thiết giáp, một tiểu đoàn pháo cao xạ 37 và 57 ly, một đại đội xe ôtô vận tải, một đại đội súng 12 1y 7, một đại đội pháo 85 ly, một đại đội cối 120 ly, một đại đội vận tải, một phân đội công binh, một phân đội súng phun lửa bốn khẩu, một đội phẫu. Quá trình chiến đấu được lựu pháo 122 của sư đoàn chi viện. Có nhiệm vu: Dùng một tiểu đoàn bộ binh đánh chiếm đoạn đường 16 từ Bình Cơ đến dốc Bà Nghĩa trong đêm 27 tháng 4 để mở rộng hành lang cho sư đoàn thọc sâu. Dùng một tiểu đoàn bộ binh được tăng cường binh khí kỹ thuật tiến công bằng cơ giới, là lực lượng chủ yếu tiến công đánh chiếm khu quân binh chủng ngụy ở Gò Vấp. Trung đoàn là lực lượng đi đầu đội hình thọc sâu của sư đoàn đánh chiếm tuyến tử thủ Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng chủ yếu của sư đoàn phát triển đánh chiếm bộ tổng tham mưu ngụy. Quyết tâm của trung đoàn: Tập trung toàn bộ lực lượng sẵn có, với sức mạnh hiệp đồng binh chủng, nêu cao tinh thần đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể, kiên quyết đạp bằng mọi khó khăn gian khổ, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh cấp trên. Nắm vững thời cơ, thần tốc, táo bạo, thọc sâu chia cắt địch, tranh thủ từng giờ, từng phút thực hiện mở rộng hành lang đúng thời gian. Kết hợp chặt chẽ lực lượng luồn sâu và lực lượng cơ giới, đánh từ trong ra, đánh từ ngoài vào bằng hiệp đồng binh chủng, hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn, không để mất thời gian. Dừng một lúc, tôi nói tiếp: - Về cách đánh, chuẩn bị khẩn trương, mở rộng hành lang đúng thời gian. Bộ binh áp sát mục tiêu có hỏa lực chuẩn bị trước. Lực lượng luồn sâu tránh đụng độ với địch dọc đường, chủ động hiệp đồng với lực lượng thọc sâu. Lực lượng thọc sâu đánh địch trong hành tiến bằng sức đột kích nhanh, mạnh của xe tăng, chủ động hiệp đồng với lực lượng luồn sâu, đánh chiếm chi khu và quận lỵ Lái Thiêu, chốt giữ cầu Lái Thiêu và cầu Vĩnh Bình, thực hiện đánh nhanh, nhằm chiếm bằng được mục tiêu chủ yếu. Cuối cùng tôi nhấn mạnh từng lời như muốn truyền đến cán bộ, chiến sĩ trong toàn trung đoàn tất cả tâm huyết của mình: - Nhiệm vụ của chúng ta là tiểu đội thọc sâu, trung đội thọc sâu, đại đội thọc sâu, tiểu đoàn thọc sâu và tôi (tôi vỗ vào ngực) cùng Ban chỉ huy cũng thọc sâu. Trong trận đánh cuối cùng này, trung đoàn ta có thể chỉ còn lưu danh trong bảo tàng. Nếu phải hy sinh, mặt chúng ta phải hướng về Sài Gòn! Thế rồi, tôi nắm tay hô lớn: - Các đồng chí có quyết tâm không? Cả khu rừng như vỡ ra bởi những tiếng hô: - Quyết tâm1... Quyết tâm1... Quyết tâm!... của anh em cán bộ trung đoàn. Đêm hôm đó, tôi lặng lẽ một mình đi kiểm tra bộ đội. Tôi nghe thấy mấy anh em lính trẻ Hà Nội nói chuyện với nhau. Một cậu hỏi Phạm Quang Hùng, quê số 10 Hoàng Hoa Thám, Hà Nội: - Anh Hùng, anh thấy chiến dịch này thế nào? Hùng nói: - Lần này giải phóng miền Nam là cái chắc! Anh em mình sẽ ở lại đây thôi và không bao giờ được về ăn kem Bốn Mùa ở Bờ Hồ nữa đâu. Nhưng dù có chuyện gì thì chúng ta cũng phải nhớ lời trung đoàn trưởng: "Nếu phải hy sinh, mặt chúng ta phải hướng về Sài Gòn". Sau câu trả lời của Hùng, tất cả như lặng chìm vào suy tư. Thế rồi họ vô tư đi vào giấc ngủ. Đúng là tuổi trẻ, lo đấy nhưng họ cũng sẵn sàng chấp nhận hy sinh. Tôi thầm cám ơn những chiến sĩ vô cùng yêu quý của mình. Đêm 25 tháng 4 năm 1975, toàn bộ trung đoàn vượt sang phía nam sông Bé, tiến vào vị trí xuất phát. Trước đó, công binh, trinh sát quân đoàn, sư đoàn và trung đoàn đã bí mật chuẩn bị con đường cho bộ đội xuất kích. ở đây địa hình trống trải, khó giấu quân và giữ bí mật, nhiều nơi chưa xác định được tuyến. Anh em trinh sát, công binh phải dựa vào trục đường cũ xác định hướng, rồi bí mật phân chia từng đoạn để trinh sát đánh dấu, rồi mới nối lại thành mạng đường. Các đơn vị xe tăng, pháo binh, cao xạ vượt sang phía nam sông Bé tiến theo con đường Ba Thước mà lữ đoàn công binh vừa sửa gấp để vượt qua ngầm Bến Bầu. Cùng lúc, lực lượng bộ binh trung đoàn từ các cánh rừng đổ về lần lượt chờ vượt qua một khúc sông cạn cách ngầm Bến Bầu chừng 3 ki-lô-mét. Pháo địch từ Lai Khê, Bến Cát bắn tới nổ chát chúa hai bờ sông. Nhưng pháo địch cũng không ngăn nổi cán bộ, chiến sĩ trung đoàn rầm rập vượt sông và tiến vào các vị trí đã định. Chỉ còn mấy giờ nữa trung đoàn phải tổ chức xong đội hình chiến đấu. Tôi trao đổi với anh Trịnh Văn Thư, họp Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn mở rộng lần cuối. Anh Thư nói: - Theo thông báo của trên, Quân đoàn 4 sau khi giải phóng Xuân Lộc, phát triển đánh chiếm Trảng Bom. Đặc công diệt địch và chiếm cầu Rạch Chiếc, Rạch Cát, Cầu Ghềnh mở đường sẵn sàng đón chủ lực. Pháo binh ta đã đánh phá làm tê liệt sân bay Biên Hòa, địch phải chuyển máy bay về Tân Sơn Nhất. Quân khu 8 và Quân khu 9 cắt đứt lộ 4, đoạn Bến Lức đi ngã ba Trung Lương. Đoàn 232 đánh chiếm đầu cầu An Ninh, Lộc Giang trên sông Vàm Cỏ Đông. ở hướng đông, Quân đoàn 2, được pháo binh chiến dịch chi viện đã đồng loạt đánh chiếm căn cứ Nước Trong, chi khu quân sự Long Thành, vượt đường 15 giải phóng Phường Thường, bao vây Long Vân. Sư đoàn 3 Quân khu 5 đánh chiếm chi khu Đức Thạnh, đang tiến về Bà Rịa. ở hướng tây bắc Quân đoàn 3 từ nhiều hướng bắn phá căn cứ Đồng Dù, Củ Chi, Trảng Bàng, Gò Dầu Hạ. Như vậy, chiến dịch đang phát triển rất thuận lợi. Về nhiệm vụ cụ thể của trung đoàn anh Hiệu sẽ nói cụ thể. Tôi nói ngay: - Nhiệm vụ sư đoàn giao cho Trung đoàn 27 chúng ta là phải đập tan tuyến tử thủ phía bắc Sài Gòn trên trục đường 13. Không được cho địch phá cầu để đại quân thọc vào nội đô. Do vậy, trung đoàn sử dụng: Tiểu đoàn 4, do Tiểu đoàn trưởng Cư, Chính trị viên Hồng có nhiệm vụ mở rộng hành lang. Tiểu đoàn 5, do Tiểu đoàn trưởng Ký và Chính trị viên Sinh luồn sâu lót sẵn ở Lái Thiêu. Tiểu đoàn 6, do Tiểu đoàn trưởng Dũng và Chính trị viên Vụ được tăng cường xe tăng, xe bọc thép và 25 xe vận tải chở quân có nhiệm vụ thọc sâu đánh chiếm khu binh chủng của quân ngụy. Như vậy, trung đoàn hình thành ba thê đội tiến công, từ vị trí xuất phát đến mục tiêu cuối cùng là khu quân binh chủng ngụy ở Gò Vấp. Ta phải vượt qua ba tuyến phòng thủ của địch ở phía bắc Sài Gòn. Tuyến đường 16 - phòng thủ từ xa; tuyến đường 8 - tuyến trung gian và tuyến tử thủ là tuyến đường 13 (đường Đại Hàn) khu Lái Thiêu, cầu Vĩnh Bình, cầu Bình Triệu, cầu Bình Lợi với chặng đường dài 80 ki-lô-mét. Thời gian rất gấp, các đồng chí còn gì hỏi không. Nếu không, về bắt tay vào chuẩn bị ngay. Sau cuộc họp Thường vụ mở rộng, chúng tôi phân công nhau xuống các đơn vị phổ biến kế hoạch và hiệp đồng chiến đấu lần cuối. Anh Đặng Ngọc Châu, Trung đoàn phó và anh Nguyễn Văn Ký (2), phó Chính ủy đi với Tiểu đoàn 5 có nhiệm vụ luồn sâu và lót sẵn ở Lái Thiêu. Tôi và anh Trịnh Văn Thư - Chính ủy, anh Nguyễn Viết Giáp - Tham mưa trưởng, anh Lê Đăng Nhiệm ------------------------------------ 1. Chỗ ở hiện nay: 143/17C Nguyễn Chí Thanh, thành phố Đà Nẵng. 2. Chỗ ở hiện nay: Vạn Lượng, Vạn Ninh, Khánh Hòa. ----------------------------------------------------- Chủ nhiệm chính trị, anh Nguyễn Văn An - Chủ nhiệm Hậu cần đi với mũi thọc sâu do Tiểu đoàn 6 đảm nhiệm. Lúc sau, Phó tư lệnh sư đoàn Lê Quang Thúy có mặt đi chỉ đạo Trung đoàn 27. Chúng tôi lệnh cho Tiểu đoàn 4 nhanh chóng áp sát mục tiêu, đánh vào tuyến đường 8. Cũng trong đêm ấy khi các đơn vị cơ giới thọc sâu của sư đoàn đang làm công tác chuẩn bị, thì Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 27 lên đường làm nhiệm vụ Theo phương án, Tiểu đoàn 5 sẽ luồn sâu và lót sẵn ở Lái Thiêu, phối hợp với mũi thọc sâu bằng cơ giới của trung đoàn từ Tân Uyên tiến vào, tiêu diệt tuyến "tử thủ" này mở đường cho mũi chủ yếu của sư đoàn phát triển vào trong. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 5 lặng lẽ hành quân. Trong lúc đó tiếng súng đánh địch của Sư đoàn 312 ở phía Bình Mỹ vọng đến lúc dồn dập, lúc im ắng, gây cho các chiến sĩ tiểu đoàn một cảm giác hồi hộp.. : Tuy tiếng súng tiến công địch của Trung đoàn 27 chưa nổ, nhưng trận chiến đấu đã thực sự bắt đầu từ cuộc hành quân luồn sâu này. Tiểu đoàn 5 vượt qua ngã ba ]Bình Cơ thì trời tối hẳn. Màn đêm lan nhanh xuống cánh đồng hoang, cỏ dại. Lòng người chiến sĩ bồi hồi, miền quê nào trên đất nước ta, cũng có những cánh đồng, những xóm làng quen thuộc, thân thương với những rặng cây hàng tre bao bọc... Giờ đây cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 5 như được sống lại ba năm trước khi tiến về cánh Đông Thành Cổ Quảng Trị, vùng Nại Cửu An Tiêm, Bích La Đông thuộc xã Triệu Thành và Triệu Đông trong mùa hè của năm 1972 đỏ lửa... Hai đêm tránh địch cắt đường hành quân, Tiểu đoàn 5 mới vượt được gần 30 ki-lô-mét. Như vậy, mới được nửa đoạn đường. Tính toán thời gian với đoạn đường còn lại, cán bộ tiểu.. đoàn không khỏi lo lắng. Đi đánh địch mà gặp địch không được đánh thì còn gì cực hơn. Cứ phải tìm đường vòng tránh, luồn lách qua. Nhưng anh ém đều ý thức được nơi họ cần đến và phải đến đúng thời gian là Lái Thiêu - tuyến tử thủ của địch trên hướng bắc Sài Gòn. Đêm 28 tháng 4 năm 1975, Tiểu đoàn 5 tiếp tục hành quân. Nửa đêm, tiểu đoàn dừng lại bên con suối nhỏ gần ngã ba Tân Hiệp. Hơn một tiếng đồng hồ trôi qua, tiểu đoàn vẫn chưa có thời cơ vượt đường. Tôi sốt ruột hỏi: - Anh Ký? Đã vượt đường chưa? Anh Ký trả lời: - Trên ngã ba và dọc con đường chạy ngang qua bốt Tân Hiệp, pháo sáng địch không lúc nào tắt. Nghe anh Ký báo cáo như vậy, tôi điện qua máy thông tin 2W của Nguyễn Văn Quảng - Tiểu đội trưởng thông tin Tiểu đoàn 5, quê Thụy Phúc, Thái Thụy, Thái Bình nhắc anh Ký: "Tiểu đoàn 5 tìm mọi cách ngay trong đêm nay phải có mặt ở Lái Thiêu". Nhận được điện của tôi, Chính trị viên Hoàng Ngọc Sinh trao đổi với Tiểu đoàn trưởng Hoàng Đức Ký: - Ta đi như vừa rồi là tốt. Nhưng cứ tránh địch mãi thì không bảo đảm được thời gian. Cái chính lúc này là thời gian, là mục tiêu. Đành là thế. Nhưng các đồng chí địa phương dẫn đường chưa xác định được đường đi gần nhất. - Cứ thế này thì không thể hiệp đồng được với trung đoàn. Mở cửa Lái Thiêu chậm là vào Sài Gòn chậm. Chính trị viên và tiểu đoàn trưởng đang còn trao đổi thì tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 5 đến. Giọng anh sôi nổi: - Sao chưa cho đi, các anh?. Tắc đường hay là gặp địch? Theo ý tôi, gặp địch là đánh! Đánh để lấy đường mà đi. Không tránh như hai đêm vừa rồi nữa... Tiểu đoàn phó nói chưa dứt lời thì tổ trinh sát dẫn về hai tên thám báo. Các chiến sĩ bắt được khi chúng đang trinh sát con đường qua Tân Hiệp. Chúng có bốn tên, hai tên chạy thoát về Tân Hiệp. Một lúc sau pháo cối địch lập tức bắn vào đội hình của Tiểu đoàn 5, đồng thời chúng cho một đại đội bảo an nống ra đánh phá, ngăn chặn đường tiến quân của tiểu đoàn. Tình huống này ta đã tính đến. Tiểu đoàn trưởng quyết định cho Đại đội 5 ở lại giam chân thu hút địch, còn đại bộ phận tiếp tục hành quân. Tiểu đoàn trưởng Ký nói với hai tên tù binh, mặt đang tái đi vì sợ: - Các anh hãy dẫn chúng tôi vào Lái Thiêu theo con đường gần nhất. Đây là một cơ hội cho các anh lập công chuộc tội. Làm đúng các anh sẽ được tha về với gia đình, làm sai các anh sẽ bị nghiêm trị. Hai tên tù binh hứa sẽ làm đúng những yêu cầu của ta và luôn mồm: "Xin các ông tha chết!". Được tin Tiểu đoàn 5 đã vượt qua Tân Hiệp, tôi điện nhắc Ban chỉ huy tiểu đoàn: "Các anh cần nắm chắc nhiệm vụ chính là có mặt ở Lái Thiêu, đẩy nhanh tốc độ tiến quân". Trong khi các chiến sĩ Tiểu đoàn 5 bí mật hành quân luồn sâu vào tuyến tử thủ Lái Thiêu thì Tiểu đoàn 4 cũng khẩn trương triển khai đánh mở cửa Tân Uyên (một trận địa phòng ngự vòng ngoài trong tuyến phòng thủ phía bắc Sài Gòn của địch) cho lực lượng cơ giới triển khai đội hình thọc sâu. quan trọng hơn là phải thắng nhanh, tạo điều kiện cho mũi thọc sâu của sư đoàn đánh chiếm mục tiêu chủ yếu. Chi khu Tân Uyên không phải là vật cản lớn trên đường tiến quân của sư đoàn, nhưng việc đánh chiếm đường 16, giải tỏa khu bắc Tân Uyên có ý nghĩa quan trọng đối với mũi thọc sâu. Khi trời còn tranh tối tranh sáng, các chiến sĩ Đại đội 2 và Đại đội 3 Tiểu đoàn 4, mình kín ngụy trang tiềm nhập vào sát các vị trí địch. Đại đội 2 hình thành hai mũi áp vào đồi Đất Đỏ. Đại đội 3 bao vây phía bắc quận ly. Lúc 4 giờ chiều, lợi dụng pháo địch trong chi khu bắn, tôi đã cho các trận địa pháo của trung đoàn bắn thử để xác định phần tử. Những quả đạn pháo của ta như đã báo cho chúng biết trước điều gì sẽ đến. 16 giờ 45 phút, các mũi, các hướng báo về sở chỉ huy trung đoàn đã "ém" quân xong. 17 giờ tôi ra lệnh cho các trận địa pháo 85 ty nòng dài, cối 120 ly đồng loạt bắn vào trung tâm quận lỵ. Các trận địa cối 82 ly, cối 60 ly của tiểu đoàn cũng bắn vào các cụm quân địch vòng ngoài. Đèn điện vụt tắt, sau loạt đạn pháo đầu tiên của ta các trận địa pháo của địch câm bặt, đèn dù tắt ngấm. Pháo ta bắn trúng một số mục tiêu trong chi khu, gây nhiều đám cháy lớn. Sau 30 phút bắn phá, pháo ta chuyển làn rồi ngừng bắn. Các hướng bộ binh nổ súng tiến công vào các chốt của địch. ở hướng Đại đội 3, Đại đội trưởng Mai Văn Dung chỉ huy đánh vào các chốt phía bắc quận lỵ. Vượt qua được các hàng rào kẽm gai, mũi tiến công của Đại đội 3 bị các hỏa điểm địch bắn chặn quyết liệt. Dung lệnh cho Tiến, xạ thủ B40 vượt lên tiêu diệt các ổ đề kháng. Phát đạn đầu tiên, Tiến bắn chệch. Đại đội trưởng Dung ném hai quả lựu đạn về phía khẩu đại liên, rồi hô: - Bình tĩnh, Tiến! Di chuyển sang bên phải! Tiến lao sang một gò đất, lắp quả đạn B40 thứ hai. Một quầng lửa trùm lên khẩu đại liên địch. Tiến đứng dậy vuốt mồ hôi trên mặt nhìn đại đội trưởng khẽ cười. Dung gật đầu, chỉ cho Tiến bọn địch trong lô cốt đang xối đạn vào sườn Trung đội 2. Tiến trườn gần về phía lô cất, bằng hai quả đạn B40 chính xác, anh diệt gọn bọn địch trong lô cốt và diệt thêm một hỏa điểm khác. Các chiến sĩ Đại đội 2 xung phong đánh bọn địch tạt ra phía bờ suối. Chúng vứt cả súng, bơi qua suối địch chạy về chi khu Nhưng chúng đã nằm trong tầm súng của các chiến sĩ Đại đội 3. Chiến sĩ Hiệp quét một loạt AK, diệt ba tên đang bơi rồi xông lên cùng trung đội tiêu diệt bọn địch đang tháo chạy. Đại đội 3 đánh thẳng vào đồi Đất Đỏ, chia cắt địch rồi phát triển vào khu vực tháp nước. Địch dựa vào lô cốt, hầm ngầm chống trả lại ta. Đại đội trưởng Mai Văn Dung chỉ huy Trung đội 2 đánh thẳng vào khu vực tháp nước. Dung vừa vươn người tung quả lựu đạn vào tốp địch, thì một quả M.79 rơi trúng người anh. Đại đội trưởng Dung khuỵu xuống. Tiến và một chiến sĩ lao tới, băng bó cho Mai Văn Dung. Mấy phút sau Dung tỉnh lại. Nhìn Tiến anh nói: - Xe tăng1 Xe tăng địch1 Tháp nước... ! Tiến hiểu, sau câu nói tỉnh táo này, đại đội trưởng khó qua khỏi. Tiến lau nước mắt trả lời: - Không, anh ạ! Đó là xe tăng của trung đoàn vượt đường 16 đấy? Tiếng động cơ xe tăng, thiết giáp, xe chở quân vọng đến ầm ầm. Đại đội trưởng Dung cố trở mình định ngồi dậy, nhưng anh không gượng nổi. Dung nói trong hơi thở đuối dần: - Thông đường... 16 rồi... phải không? Tiến định nói với đại đội trưởng là ta đã chiếm được đồi Đất Đỏ và làm chủ đường 16, đang phát triển vào trong chi khu, nhưng Mai Văn Dung đã lịm đi trên tay anh. Tiến xốc Đại đội trưởng Dung đặt lên vai một người chiến sĩ rồi xách khẩu AK của Dung chạy về phía tháp nước. 9 giờ tối ngày 28 tháng 4 năm 1975, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 27 đã làm chủ hoàn toàn khu vực bắc chi khu Tân Uyên đến Bình Cơ. Cửa mở đã thông, đội hình bộ binh cơ giới thọc sâu của sư đoàn ầm ầm qua đường 16. Tân Uyên được giải phóng, hành lang tiến quân của sư đoàn được mở rộng xuống phía Nam. Tư lệnh sư đoàn điện cho tôi, nhanh chóng tổ chức lực lượng thọc sâu theo đường Tân Uyên, Tân Bạ tiến công địch "tử thủ" Lái Thiêu. Tôi và Đại đội trưởng xe tăng Hoàng Thọ Mạc ngồi mỗi người một xe dẫn đầu đội hình tiến công, đi sau là pháo 85 ly và pháo 37 ly, 57 ly, tiếp đó là xe chở bộ đội. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Lê Thế Dũng chỉ huy tiểu đoàn ngồi trên xe bọc thép và xe ôtô vận tải nối nhau hình thành mũi thọc sâu binh chủng hợp thành. Mũi thọc sâu của Trung đoàn 27 chúng tôi vượt qua Tân Uyên tới ngã tư đường 48 thì bị pháo địch từ căn cứ Phú Lợi, Biên Hòa, Sóng Thần bắn chặn đường. Đạn pháo rơi hai bên đường, nhiều quả rơi trúng mặt đường, tiếng nổ đinh tai, khói pháo mù mịt. Lợi dụng quy luật tản mát của đạn pháo, tôi ra lệnh đoàn xe nâng tốc độ vượt lên, ra khỏi tầm pháo địch. Đoàn xe chạy đến Bình Chuẩn thì gặp hai đại đội thuộc tiểu đoàn địch 321 chặn lại. Chúng dựa vào công sự và vật chướng ngại, dùng hỏa lực bắn vào đội hình quân ta. Trước tình hình đó, tôi nghĩ: "Phải đánh áp đảo ngay từ đầu, đẩy địch ra khỏi công sự. Đồng thời chớp thời cơ cho đoàn xe của mũi thọc sâu vượt qua". Tôi ra lệnh cho hai xe tăng đi đầu và pháo 37 ly hạ nòng bắn vào cụm quân địch. Bị pháo xe tăng và pháo 37 của ta bắn thẳng, quân địch nằm chết gí trong hầm, dưới lòng hào, không dám ngóc đầu dậy. Tôi ra lệnh cho Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Lê Thế Dũng cho hai xe chở bộ binh vượt lên, đổ quân đánh vào đội hình quân địch. Bị tiến công bằng xe tăng, nay lại thấy bộ binh ta xuất hiện, 2 đại đội địch tan rã nhanh chóng. Tôi nói với Tiểu đoàn trưởng Dũng bắt một số tù binh ngồi lên xe dẫn đường, số còn lại được phóng thích về với gia đình. Trong số tù binh này có trung úy Hiệp là sĩ quan chỉ huy lính thổi kèn ở tổng hành dinh ngụy, bị kỷ luật đẩy ra chiến trường và một tổ máy thông tin PRC25. Tôi lệnh cho máy thông tin của địch mà ta vừa thu được vẫn mở máy giữ nguyên tần số liên lạc và bảo nếu cấp trên hỏi thì nói: "Sư đoàn 5 về bảo vệ tuyến "tử thủ" Sài Gòn". Khi đoàn xe tăng, xe bọc thép, xe chở quân vào đến Búng sở chỉ huy địch hỏi: "Lực lượng nào vậy", tổ máy thông tin trả lời như tôi đã dặn. Mũi thọc sâu của Trung đoàn 27 tiếp tục tiến quân. Với cách đánh "gạt" địch để lướt qua, chúng tôi đã đánh tan hai đại đội bảo an khác ở Thuần Giáo, chất vòng ngoài của tuyến "tử thủ" Lái Thiêu. 17 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn dừng lại ở ngã tư Búng, chuẩn bị tiến công địch ở Lái Thiêu. Trong khi mũi thọc sâu của Trung đoàn 27 phát triển thuận lợi, thì tôi được biết ở hướng chủ yếu Trung đoàn 48 gặp khó khăn. Đoàn xe đi cách Tân Uyên 3 ki-lô-mét thì bị mất đường. Con đường xấu và hẹp mất hút trong bãi cỏ gianh bạt ngàn cao lút đầu người. Các chiến sĩ trinh sát, công binh vận dụng mọi kinh nghiệm để phán đoán tìm đường. Con đường lúc hiện, lúc mất trong bãi cỏ gianh. Nhiều đoạn phải chặt cây, cắt bớt cỏ gianh mới đi được. Đoàn xe nhích lên từng đoạn theo bước chân của các chiến sĩ trinh sát, công binh. Phải mất ba tiếng đồng hồ, đoàn xe mới vượt qua được bãi cỏ mịt mùng ấy. Ra khỏi con đường Đất ủi, đoàn xe đang vượt dốc thì bị máy bay địch oanh tạc vào đội hình. Các chiến sĩ cao xạ vừa đi vừa bắn trả máy bay địch, bảo vệ đội hình tiến quân. Nhiều chiến sĩ bị thương nhưng không một ai chịu ở lại phía sau. Lúc này, ở các hướng chiến dịch, mũi thọc sâu binh chủng hợp thành của Quân đoàn 3 tiến cách sân bay Tân Sơn Nhất và bộ tổng tham mưu ngụy chừng 3 ki-lô-mét. Quân đoàn 2 ở hướng đông nam đánh chiếm và làm chủ Vũng Tàu, Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ và đang tiến về Cát Lái, Cầu xa lộ Đồng Nai. Đặc công đánh chiếm căn cứ Nước Trong, ngã ba Long Bình, Biên Hòa đang kịch chiến vì địch ở Hố Nai còn chống cự. ở phía nam, Đoàn 232 làm chủ thị xã Hậu Nghĩa, quận ly Đức Hòa, bức rút Đức Huệ, mở thông sông Vàm Cỏ Đông. ở Quân khu 8 ta đánh chiếm ngã ba Vĩnh Lộc, Cầu Sáng, lộ 10 cắt đứt lộ 4, phát triển tiến công địch ở Cần Giuộc và Hưng Long. Nhân dân và lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định đã nổi dậy diệt bọn ác ôn đầu sỏ, chiếm các công sở, đồn bốt đọc đường số 1 và một số nơi ở nội thành. Công nhân xưởng dệt Vi-na-tếc-cô đấu tranh bắt bọn phá hoại, tề điệp, bảo vệ an toàn máy móc và tổ chức tiếp tế cơm nước cho bộ đội. Trên các đường phố, xe nhà binh, xe cảnh sát và xe chở những người "di tản" hốt hoảng lao vùn vụt. Trong các công sở ngụy quyền, nhân viên, công chức bỏ trốn. Bọn lính, cảnh sát hàng ngày nhan nhản, hách dịch dọa nạt nhân dân, giờ đây lột vội quân phục, khoác áo thường dân, tìm đường tẩu thoát. Cùng đêm 29 tháng 4 năm 1975, từng đoàn máy bay lên thẳng Mỹ bật đèn sáng, hớt hải, bay rối loạn trên bầu trời Sài Gòn. Rồi từng chiếc lén lút đỗ xuống những mái nhà bằng, chở người di tản tháo chạy vội vã. Nhân viên tòa đại sứ Mỹ cùng sĩ quan, binh lính và gia đình của chúng tranh cướp nhau lên máy bay. Chúng bắn súng thị uy, chửi bới, văng tục ẩu đả loạn xị. Tiếng kêu khóc của trẻ con, phụ nữ bị chìm lắng trong mớ âm thanh hỗn độn, sợ hãi của quang cảnh Sài Gòn hấp hối. Chiều ngày 29 tháng 4, khi nhận được chỉ thị của Bộ Tư lệnh Quân đoàn phải đẩy nhanh tốc độ tiến quân hơn nữa, Tư lệnh sư đoàn Lưu Bá Xảo điện cho tôi: - Anh Hiệu đấy phải không? Thế nào? Chưa trinh sát được Lái Thiêu à? - Báo cáo, chúng tôi đang triển khai. Xin hứa với Tư lệnh chúng tôi sẽ nổ súng đúng kế hoạch. - Được! Cho triển khai ngay. Nổ súng càng sớm càng tốt. Tôi nhắc lại, nhiệm vụ chính của Trung đoàn 27 là tập trung lực lượng làm tan rã địch trên đường 13, đoạn chi khu Lái Thiêu, sau đó thọc ngay vào Gò Vấp. Mọi việc còn lại do lực lượng khác giải quyết - Tôi sẽ thực hiện đúng chỉ thị của Tư lệnh. Vị trí của chỉ huy Trung đoàn 27 dừng chân chuẩn bị tiến công địch ở Lái Thiêu là một rừng cao su ven lộ 13, cách bắc Lái Thiêu khoảng 3 ki-lô mét. Tôi nói với Chính ủy Thư phải hội ý với các đơn vị, nắm lại tình hình sau một ngày chiến đấu và phổ biến bổ sung phương án đánh vào Lái Thiêu. Sở chỉ huy trung đoàn là một chiếc nhà bạt căng tạm giữa rừng cao su. Tranh thủ lúc chờ cán bộ đến, tôi và anh Thư mỗi người ăn một vài thanh lương khô. Khi cán bộ các tiểu đoàn và đại đội phối thuộc đến, tôi cũng dúi vào tay họ một phong lương khô, rồi bảo: - ăn đi, tranh thủ ăn để lấy sức mà chạy. Đã ba, bốn ngày nay, cả trung đoàn có hạt cơm nào vào bụng đâu. Chờ cán bộ đến đông đủ, tôi phổ biến ngay chỉ thị của Tư lệnh sư đoàn nhanh chóng giải quyết Lái Thiêu bảo đảm thông đường đúng thời gian. Không khí cuộc họp sôi nổi, khẩn trương. Những vấn đề bổ sung cụ thể vào phương án chiến đấu được thảo luận và nhanh chóng thống nhất. Rút kinh nghiệm về chỉ huy và hiệp đồng sau một ngày chiến đấu thọc sâu, tôi kết luận: - Cán bộ chỉ huy cấp trưởng của các đơn vị phải đi đầu mũi tiến quân của đơn vị mình, nắm chắc tình hình để chỉ huy, quyết định vấn đề được nhanh chóng. Còn vấn đề bộ binh thiếu đạn hỏa lực B40, B41 thì cơ quan hậu cần và đơn vị vận tải phải bảo đảm cấp đủ sau 2 tiếng đồng hồ. Xăng dầu xe tăng còn đủ đánh Lái Thiêu, đánh xong sẽ lấy xăng dầu của địch bổ sung. Việc này anh An - Chủ nhiệm Hậu cần trung đoàn trực tiếp giải quyết. Khó khăn lớn nhất hiện nay là tình hình địch trong quận ly Lái Thiêu ta chưa nắm được cụ thể. Giải quyết việc này, tôi, anh Thư, anh Giáp cùng trinh sát đi vào thị trấn, dựa vào dân để nắm địch. Nói xong tôi hỏi: - Các đồng chí còn có ý kiến gì không? Thấy mọi người ngồi im. Tôi nói: - Tĩnh hình rất khẩn trương, các đồng chí nhanh chóng về bắt tay vào tổ chức bộ đội chuẩn bị chiến đấu. Tôi xin được nói thêm một chi tiết: Ký hiệu của trung đoàn 27 trong chiến dịch Hồ Chí Minh là BK19. Mật danh của Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27 (tôi) là Phong và anh Chính ủy Trịnh Văn Thư là Hàm. Mật khẩu hỏi: Hồ Chí Minh. Đáp: Muôn năm. Trên ngực mỗi người có miếng vải đỏ. Tôi, anh Thư, anh Giáp và một tổ trinh sát bám vào hàng cây bên đường đi về phía quận ly. Khi đến gần nghĩa địa của khu vực Búng, chúng tôi thấy một ngôi nhà lụp xụp, trong nhà le lói ngọn đèn dầu. Tôi nói ba trinh sát vào bắt liên lạc. "Cộc, cộc, cộc" Sau tiếng gõ cửa của trinh sát, tôi thấy trong nhà có tiếng bước chân, cùng với ánh đèn sáng dần ra phía cửa: - Ai đấy? Tiếng một bà má (1) vừa như thăm dò, vừa có vẻ thờ ơ. - Chúng tôi là Quân giải phóng, là Bộ đội Cụ Hồ - Một chiến sĩ trinh sát trả lời. Nghe mấy tiếng Bộ đội Cụ Hồ, má mạnh dạn ra mở cửa, giơ cao ngọn đèn, nhìn kỹ người chiến sĩ. Nhận ra ám hiệu - miếng vải đỏ trên ngực - giọng má bỗng trở nên nghiêm trang và xúc động: - Hồ Chí Minh! Phấn khởi tìm được cơ sở, đồng chí trinh sát như reo lên khi đáp lại mật khẩu chiến dịch: - Muôn năm! Nhận ra bộ đội Giải phóng, má cầm tay từng người giục: - Các con vào đi! Vào đi. Má không ngờ các con về sớm thế. Tôi, anh Trịnh Văn Thư và Sáu Châu, huyện đội phó vào nhà. Tôi nhìn. một lượt, căn nhà lợp tôn, ---------------------------- 1. Tôi được biết.tên má là Sáu Ngẫu, trước đây má là giáo viên. Như đã hứa, ngày 1 tháng 5 năm 1975, tôi trở lại thăm má và hai em Phước, Đức. Tôi đã nhiều lần về thăm má khi má còn sống và góp phần xây mộ má khi má qua đời. Sau này, nhạc sĩ Văn Thành Nho có sáng tác bài hát "Tấm bản đồ má trao" dựa trên câu chuyện có thật về má Sáu Ngẫu. Bài hát đã được phát nhiều lần trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam. một chiếc bàn gỗ đã cũ, hai chiếc giường đơn sơ. Gia tài cũng không có gì. Đợi chúng tôi ngồi xuống, má nói: - Bây giờ các con cần má giúp những gì? Tôi nói tóm tắt nhiệm vụ cửa đơn vị và đề nghị má: - Chúng con chưa nắm chắc địch và địa hình ở quận lỵ Lái Thiêu. Con nhờ má bày cho! Tôi đưa tấm bản đồ quân sự, nhìn qua má bảo: - Má không rành bản đồ này. Đợi má chút xíu. Lát sau, má trở ra, mở bọc giấy báo, cẩn thận trải tờ giấy đã ố vàng lên mặt bàn. Mọi cặp mắt đổ dồn vào những nét vẽ chằng chịt, lòng hứng khởi tràn đầy. Giọng má hơi chùng xuống: Đây là bản đồ Đô thành Sài Gòn. Anh Tư Ca (1) giữ từ năm 1961. - Thưa má, bây giờ anh Tư Ca ở đâu ạ? - Anh Tư Ca là chồng má. Hồi nớ ảnh và anh em du kích xã đã định diệt quân địch ở quận ly. Chuyện lộ, ảnh bị bắt giam ở nhà tù Phú Lợi. Sau khi ra tù, ảnh tiếp tục hoạt động làm tuyên giáo --------------------------- 1. Tư Ca tên thật là Đinh Quang Kỳ, quê Đức Thủy, Đức Thọ, Hà Tĩch. ông theo đoàn quân Nam tiến vào miền Nam từ năm 1945. ---------------------------- phụ trách tờ báo của tỉnh Thủ Dầu Một. Năm 1968, trong chuyến đi công tác, ảnh lọt vào ổ phục kích của địch. ảnh bị địch bắn vào chân. Chúng xông lại thu đài bán dẫn và lột nhẫn của ảnh. ảnh mắng vào mặt tụi nó. Bọn địch xả súng bắn chết ảnh. Riêng sơ đồ của ảnh má vẫn giữ được. Và cứ mỗi lần có sự thay đổi về phạm vi, lực lượng... má lại vẽ bổ sung trên toàn tuyến phòng thủ từ chi khu Lái Thiêu vào Sài Gòn. Má thuộc nằm lòng mà. Bên cạnh nét mực đã mờ là những đường chì nhìn còn vụng về nhưng tỉ mỉ, chính xác. Mười bốn năm trời âm thầm, cần mẫn thay chồng, thay các chiến sĩ du kích Lái Thiêu đã hy sinh và đang bị cầm tù, má nắm tình hình địch và ghi vào bản đồ với tất cả niềm tin chiến thắng. Má xoay chiếc sơ đồ về phía tôi, cặp kính lão trễ xuống tận cánh mũi, má nói: - Ngày hôm qua, chúng điều một tiểu đoàn bảo an từ Sài Gòn ra và hai khẩu pháo 175 từ Bình Dương về tăng cường cho Lái Thiêu. Trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương có gần 2.000 tên. Ngoài ra còn một số tàn quân từ các nơi chạy về... Vừa nói má vừa chỉ vào những ký hiệu đánh dấu các vị trí mới của địch trên sơ đồ. Tôi và mọi người theo dõi một cách chăm chú. Má nói tiếp: - Toàn bộ quân địch ở quận ly Lái Thiêu là vậy, tấm bản đồ này má trao lại cho mấy con. Cầm tấm bản đồ trên tay, chúng tôi vô cùng cảm động. Chúng tôi chào má và nhanh chóng lên đường. Má xin được trực tiếp dẫn đường cho đơn vị. Thấy má đã già yếu, tôi nói: - Cảm ơn má! Chúng con sẽ quét sạch địch ở Lái Thiêu, mở đường cho đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước để trả thù cho má, trả thù cho bà con cô bác ở Lái Thiêu. Ngày mai, con sẽ trở lại thăm má. Biết chúng tôi không để cho má đi, má hướng về phía sau nhà gọi: - Phước, Đức đâu? Vào má bảo. Thì ra, trong lúc trao đổi với chúng tôi, má đã giao cho các em làm nhiệm vụ cảnh giới. Ngay lúc đó Hai Mỹ (Bí thư huyện đoàn huyện Lái Thiêu) đến. Má nói với Hai Mỹ: - Má xin dẫn đường, nhưng mấy anh không chịu. Các con thay má làm nhiệm vụ dẫn đường cho đơn vị. Các con phải gắng mà hoàn thành. Tôi nói: - Sáu Châu, Hai Mỹ dẫn chúng con là được rồi, còn em Phước (17 tuổi), em Đức (13 tuổi) còn nhỏ để em ở nhà giúp má. Sáu Châu và Hai Mỹ cùng chúng tôi nhanh chóng về nơi tập kết. Quận lỵ Lái Thiêu nằm trên đường 13 đường Đại Hàn, cách Sài Gòn 15 ki-lô-mét, là cửa ngõ của tuyến "tử thủ" cuối cùng của địch ở phía bắc Sài Gòn. Trên một diện tích chưa đầy 4 ki-lô-mét vuông, chúng bố trí ba tiểu đoàn bảo an, hai chi đoàn xe tăng, một tiểu đoàn pháo binh và 1.800 quân trong trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương. Các vị trí địch trong khu vực đều được cấu trúc kiên cố liên hoàn với nhau, có tới trên 20 hàng rào dây thép gai xen kẽ vật chướng ngại và hào chiến đấu. Những ngày cuối tháng 4 năm 1975, mỗi ngày địch lại tăng cường thêm lực lượng cho Lái Thiêu. Lính từ Sài Gòn ra, từ Bình Dương, Phú Lợi đổ về. Lái Thiêu vốn là một quận lỵ sầm uất với những vườn cây ăn quả nổi tiếng khắp miền, nay trở nên ồn ào, chật chội. Lính về, tai họa đổ xuống đầu người dân. Đổ tiền, đổ lính vào những tuyến tử thủ, chỉ huy quân ngụy Sài.Gòn hy vọng chặn đứng được các mũi tiến công của ta, có thể kéo dài thêm sự tồn tại của chính quyền tay sai Mỹ. Sau khi xem xét các mặt mạnh yếu của địch, tôi hội ý Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn và nói: Địch tuy đông, phòng thủ có chiều sâu nhưng tổ chức ô hợp. Tàn quân từ các nơi chạy về đã gây tâm lý hoang mang, dao động trong các đơn vị địch. Trận mở cửa Lái Thiêu là trận hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến việc hoàn thành nhiệm cụ của sư đoàn. Trung đoàn 27 chúng ta đánh nhanh hay chậm đều ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian mũi thọc sâu của sư đoàn đánh chiếm mục tiêu chủ yếu là bộ tổng tham mưu quân ngụy Sài Gòn. Vì vậy bằng giá nào trung đoàn ta cũng phải tiến công theo đúng kế hoạch, thời gian. Tôi quyết định, không đánh lần lượt từ ngoài vào trong mà tập trung lực lượng, kết hợp luồn sâu, ém sẵn và thọc sâu bằng cơ giới tiến công vượt qua Lái Thiêu từ hai đầu. Tiểu đoàn 5 (mũi luồn sâu) tiến công địch từ hướng nam, đánh chiếm cầu Lái Thiêu, bao vây, chia cắt làm tan rã trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương. Tiểu đoàn 6 (mũi thọc sâu cơ giới) tiến đánh từ hướng bắc, phối hợp với mũi tiến công của Tiểu đoàn 5 từ hướng nam đánh lên, làm tan rã địch trên đường 13, đoạn từ Lái Thiêu đến cầu Vĩnh Bình, Bình Phước. Đồng thời chặn các hướng khác buộc chúng phải đầu hàng, bảo đảm cho đội hình thọc sâu của sư đoàn phát triển nhanh chóng. 12 giờ đêm ngày 29 tháng 4, phương án tác chiến được phổ biến tới từng tổ chiến đấu. Lúc này trên hướng Tiểu đoàn 5 đã hình thành thế bao vây vu hồi phía đông nam chi khu. Đại đội 5 do Đại đội trưởng Vương Văn Vinh và Chính trị viên Trần Sĩ Quế chỉ huy. Đại đội 7 do Đại đội trưởng Nguyễn Văn Tý và Chính trị viên Nguyễn Đình Sức chỉ huy triển khai đội hình trên hướng chính đánh thẳng vào quận lỵ, giải tỏa đường 13. Đại đội 6 do Đại đội trưởng Nguyễn Quang Khởi chỉ huy, vòng sang phía tây nam, áp sát chia cắt trung tâm huấn luyện Huỳnh Vắn Lương. Hướng Tiểu đoàn 6, Đại đội 10, Đại đội 11 bộ binh và Đại đội 3 xe tăng hiệp đồng chiến đấu lần cuối. Bộ binh rời xe, chia thành các mũi, áp sát hàng rào địch. Các trận địa pháo binh, cao xạ đặt phía sau, ngay sát đội hình bộ binh. Xe tăng triển khai dọc đường 13. 3 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, các đơn vị báo cáo đã vào đúng vị trí quy định. Tôi ra lệnh tiến công. Một phát pháo hiệu màu vàng bay vút lên không trung. Các trận địa pháo, cối nhất loạt nổ súng bắn vào chi khu, pháo phòng không 37 ly hạ thấp nòng bắn chế áp các lô cốt vòng ngoài, chi viện cho bộ binh mở cửa. Trên hướng Tiểu đoàn 6, ngay từ những phút đầu chiến sĩ Đại đội 11, dùng bộc phá ống phá tung các lớp rào kẽm gai, thùng phuy chặn đường. Địch bị bất ngờ, không kịp nổ súng chống trả. Lính ở các chất tiền duyên bỏ công sự tháo chạy tán loạn. Đại đội 3 xe tăng do Đại đội trưởng Hoàng Thọ Mạc chỉ huy từ đường Đại Hàn tiến vào cùng Đại đội 11 thọc thẳng chiếm các mục tiêu. Đạn pháo xe tăng, đạn B40, B41 của ta nhanh chóng bắn tiêu diệt quân địch chặn đường. Chiến sĩ ta vừa đánh vừa kêu gọi địch đầu hàng. Trên hướng Tiểu đoàn 5, khi nghe tiếng pháo ta nổ ở phía đường Đại Hàn, Tiểu đoàn trưởng Hoàng Đức Ký lệnh cho các mũi áp sát mục tiêu. Pháo chuyển làn, bộ binh từ các hướng xung phong đánh vào mục tiêu theo kế hoạch. ở trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương, sau ít phút nổ súng, Đại đội 6 đã thấy phía cổng trại xuất hiện những lá cờ trắng. Bọn địch đi thành hàng dọc về phía trận địa Đại đội 6. Đi đầu là đại 'tá Nguyễn Văn Hinh chỉ huy trưởng trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương. Lính đi sau, tên nào cũng cầm vải trắng giơ cao. Gần 2 nghìn mảnh vải trắng nối nhau, kéo dài trông như dải băng tang lớn choàng qua cổng trại nơi có dòng chữ: "Trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương" cùng với phù hiệu "Bạch xà tinh" (Phù hiệu của sư đoàn 5 ngụy). Nghe Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 báo về cả trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương đầu hàng, chúng kéo ra rất đông, tôi chỉ thị cho anh Ký: "Giải thích rõ chính sách khoan hồng của Mặt trận, rồi tha chúng về với gia đình". Trong lúc Đại đội 6 vây trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương thì ở mũi chủ yếu, Đại đội 5 và Đại đội 7 đã đánh chiếm được cầu Lái Thiêu, theo đường Đại Hãn thọc vào chi khu. Mũi luồn sâu của Tiểu đoàn 5 phát triển đến khu nhà tên quận trưởng thì bắt liên lạc được với mũi thọc sâu của Tiểu đoàn 6 cùng xe tăng. Trung đoàn 27 làm chủ đường Đại Hãn đoạn qua Lái Thiêu, chia cắt địch trong chi khu ra thành từng tốp nhỏ. Hai Mỹ và Sáu Châu dẫn đường cho các mũi đánh chiếm từng mục tiêu trong chi khu. Viên trung tá quận trưởng Nguyễn Thái Bình hoảng sợ rúc xuống hầm ngầm bị các chiến sĩ Tiểu đoàn 5 tóm gọn cùng với toàn bộ sĩ quan trong quận Lái Thiêu. Binh lính trong quận lỵ Lái Thiêu tan rã, hạ vũ khí đầu hàng. Như vậy, sau hơn 2 giờ chiến đấu liên tục, Trung đoàn 27 đã làm chủ quận ly Lái Thiêu. Tuyến "tử thủ" mà quân ngụy Sài Gòn đặt nhiều hy vọng sẽ chặn được các mũi tiến công của quân ta đã bị đập tan, cánh cửa phía bắc Sài Gòn đã rộng mở. Lúc này, từ ngã tư Búng, đội hình xe tăng, thiết giáp, bộ binh cơ giới thọc sâu của sư đoàn ào ạt phóng qua Lái Thiêu trong tiếng hò reo của nhân dân trong quận. Tin Lái Thiêu được giải phóng lan nhanh khắp quận lỵ. Nhân dân ùa ra đường, đổ về dinh quận trưởng, nơi có lá cờ Giải phóng đang tung bay trên tháp cao. Bà con mang đến cho bộ đội hoa quả, bánh kẹo, chiến sĩ ta chưa kịp nhận thì được tin một đoàn xe địch từ Bình Dương rút chạy về Sài Gòn tiến lại phía sau đội hình quân ta. Bộ đội hướng dẫn cho dân sơ tán và triển khai chiến đấu chặn địch. Tiểu đoàn 5 vừa triển khai xong thì đoàn xe địch lao tới. Chúng vẫn chưa hay biết gì về Lái Thiêu thất thủ. Toàn bộ tốp xe đi đầu lọt vào trận địa của Đại đội 5 do Đại đội trưởng Vinh chỉ huy. Tốp xe bị tiêu diệt gọn. Những chiếc xe phía sau lại xông lên. Đại đội trưởng Vinh vừa chỉ huy chiến đấu vừa dùng B40 bắn cháy một xe chở quân của địch, diệt hàng chục tên. Tổ ba người do Nguyễn Văn Bài phụ trách, bí mật vòng lại phía sau đội hình địch. Bài nhằm vào chiếc xe cuối cùng nổ súng. Quả đạn B40 của Bài lao vào chiếc xe. Chiếc xe chung chiêng rồi đâm xuống vệ đường bốc cháy. Bài vác súng chạy theo đoàn xe địch đang giảm dần tốc độ Khi cách xe địch 30 mét anh nâng súng, siết cò Hai quả đạn B40 liên tiếp bay đi. Chùm khói màu da cam phủ kín chiếc xe tăng và chiếc xe GMC của địch. Bọn địch sống sót nhảy xuống đường tháo chạy. Một số xe tăng và xe GMC chở quân địch vượt qua được trận địa Đại đội 5 chạy về phía quận lỵ. Tình huống diễn ra khẩn trương, bất ngờ. Nghĩ rằng một trong những chiếc xe tăng này mà nã pháo vào sau lưng mũi thọc sâu của sư đoàn thì sẽ vô cùng tai hại, tôi lệnh cho Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 dùng Đại đội 6 nhanh chóng thiết lập tuyến chốt giữa quận lỵ chặn bằng được những chiếc xe tăng địch. Đồng thời tôi ra lệnh Đại đội 16 giá súng 12 1y 7 ngay giữa đường phố đánh địch. Đại đội 15 cũng chia thành từng khẩu đội cối 82 ly cùng bộ binh chiến đấu. Chiến sĩ ta bám vào tường nhà nổ súng chặn địch. Đường phố Lái Thiêu một lần nữa lại mịt mù khói đạn. Các chiến sĩ Tiểu đoàn 5 và các đơn vị trực thuộc chiến đấu rất quả cảm, diệt hết chiếc xe này đến chiếc xe khác. Xe tăng, xe GMC chở quân của địch, chiếc bị bắn cháy, chiếc lao xuống vệ đường, chiếc đâm vào nhau đổ gục. Xác lính ngụy nằm rải rác trên mặt đường. Súng đạn, quần áo trang bị của địch vứt bừa bộn khắp nơi. Toàn bộ lực lượng địch tháo chạy qua Lái Thiêu bị tiêu diệt. Tiểu đoàn 5 diệt 30 xe, thu 20 xe. Bọn tù binh, hàng binh dồn về chật một bãi cỏ rộng ở trung tâm quận lỵ. Tôi nói với Chính trị viên Tiểu đoàn 5 Hoàng Ngọc Sinh giải thích Mười chính sách của Mặt trận, rồi phóng thích họ. Anh Sinh tuyên bố. "Cho phép các anh trở về làm ăn, sinh sống với gia đình". Khi anh Sinh vừa dứt lời, đám lính ngụy nhảy lên reo hò: "Hoan hô Quân giải phóng! Hoan hô Quân giải phóng!". Việc làm này được nhân dân quận lỵ Lái Thiêu rất hoan nghênh. Những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc "Quân giải phóng trả thù, sẽ có những cuộc tắm máu đã sớm tan biến trước chính sách khoan hồng, nhân đạo của ta. Các gia đình đón chồng, con, em trở về với niềm vui đoàn tụ và lòng biết ơn cách. mạng sâu sắc. Cùng thời gian trên, mũi tiến công binh chủng hợp thành của Tiểu đoàn 6 thọc vào phía bắc cầu Vĩnh Bình. Gần 30 chiếc xe tăng, thiết giáp từ bộ chỉ huy thiết giáp xông ra phản kích. Đạn pháo từ xe tăng và đạn chống tăng từ các lô cốt địch bắn ra đan dày trước đội hình tiến công của ta. Chiếc xe tăng đi đầu của ta trúng đạn bốc cháy. Mũi thọc sâu của Tiểu đoàn 6 bị chững lại. Trước tình huống đó, tôi trao đổi với Đại đội trưởng Hoàng Thọ Mạc động viên anh em giữ vững quyết tâm chiến đấu. Đồng thời tôi điều Đại đội 10 lên cùng phối hợp, kiên quyết đánh chiếm bằng được cầu Vĩnh Bình. Chúng tôi tổ chức thành hai mũi tiến công vào đội hình xe tăng địch. Mạc ngồi một xe, tôi ngồi một xe tiến theo đường 13. Xe tăng ta vừa tiến, vừa bắn. xe của Mạc và xe của tôi bắn cháy 3 xe tăng M.48. Các chiến sĩ bộ binh Đại đội 10 cũng chia thành hai mũi đánh vào sườn địch. Chiến sĩ B40, B41 của Đại đội 10 đánh rất giỏi, bắn trúng mười xe tăng địch. Cánh quân phản kích bằng xe tăng của địch đã bị Trung đoàn 27 cùng Đại đội 3 xe tăng đánh thiệt hại nặng. Gần như cùng một lúc, các đơn vị báo cáo với tôi: "Đạn B40, B41 đã hết, chỉ còn lựu đạn, thủ pháo và đạn AK, đề nghị bổ sung gấp". Tôi thoáng lo lắng: "Không có đạn hỏa lực, bộ binh không thể vượt qua trận địa xe tăng địch được". Tôi lệnh cho các đơn vị phía trước dùng lựu đạn, thủ pháo, AK giữ vững trận địa và chỉ thị cho anh An - Chủ nhiệm Hậu cần chuyển hết số đạn B40, B41 dự trữ của trung đoàn lên bổ sung kịp thời. Bộ binh dừng lại cho công binh khắc phục mìn. Khi các chiến sĩ công binh giơ tay ra hiệu đường thông, thì lúc đó các đơn vị đã được bổ sung đạn hỏa lực. Cầu Vĩnh Bình đã hiện ra trước mắt các chiến sĩ, nhưng đội hình của ta vẫn chỉ nhích lên được từng mét. Địch tổ chức phòng thủ ngay sát đầu cầu và nống ra phản kích lần thứ hai. Lúc này chúng tôi không lo những chiếc xe tăng địch lao về phía mình mà lo chúng phá cầu. Tôi và Hoàng Thọ Mạc cho xe tách khỏi đội hình, vượt lên, chỉ thị mục tiêu cho xe tăng và bộ binh ta đánh địch. Trong chiến đấu, tôi có thói quen ngoài khẩu K59 đeo bên người, bao giờ tôi cũng khoác thêm khẩu AK báng gấp với vài băng đạn. Lúc chúng tôi cho xe vượt lên, anh em lái xe nói: - Đề nghị thủ trưởng vào trong xe để bảo đảm an toàn. Tôi liền bảo: - Vị trí của tôi là đứng ở đây, quan sát địch, chỉ thị mục tiêu cho bộ binh và xe tăng chiến đấu. Các đồng chí cứ tăng tốc độ lên! Cùng lúc đó, một pháo tự hành 175 của địch từ nhánh đường rẽ lao ra phía cầu Vĩnh Bình. Hoàng Thọ Mạc hô: - Xe 956! Đạn xuyên một phát, bắn! Tiếng hô của Đại đội trưởng Mạc vừa dứt, một quả đạn đã lao vút vào khẩu pháo "vua chiến trường" làm nó đâm đầu vào bức tường bên đường bốc cháy dữ dội. Còn một khẩu pháo 175, lính chạy bỏ lại. Tôi bảo anh em lấy sơn viết vào khẩu pháo: BK19. Thấy "vua chiến trường" bị diệt, bọn địch ở phía sau hốt hoảng dừng lại. Chớp thời cơ cán bộ, chiến sĩ Đại đội 10 chia thành nhiều mũi, từ các hướng đánh vào trận địa địch. Xe tăng của chúng chiếc bị bắn cháy, chiếc bị ta bắt sống. Những chiếc còn lại vội vàng cụm lại, chốt giữ đầu cầu. Địch vẫn ngoan cố chống cự và tìm cách ngăn chặn mũi tiến công của ta. Đoạn đường đầu cầu, chúng dựng thùng phuy chứa đầy cát và những tấm bê tông trên mặt đường, tạo thành một lối đi chật hẹp, ngoắt ngoéo. Hoàng Thọ Mạc nói với tôi: - Ta không thể cho xe tăng lao lên húc đổ các vật cản trên đường. Địch sẽ lợi dụng lúc xe tăng ta khắc phục vật cản mà diệt. Phải đánh bằng bộ binh thôi anh Hiệu ạ! Nói rồi, Mạc tháo mũ công tác, xách khẩu B40, bật nắp xe nhảy xuống đường. Một số chiến sĩ cũng rời xe, xách súng AK chạy theo đại đội trưởng. Thấy vậy Mạc ra lệnh: - Các đồng chí về ngay vị trít Chuẩn bị cho xe vượt cầu! Tiếng Đại đội trưởng Mạc lẫn trong tiếng nổ ầm ầm của đạn pháo địch. Anh lao đi phối hợp chiến đấu với một mũi tiến công của Đại đội 10 Tiểu đoàn 6. Bỗng có tiếng súng rộ lên ở phía sau. Đó là tiếng súng của Tiểu đoàn 5 đang chặn địch tháo chạy từ Bình Dương về Sài Gòn. Phía trước, phía sau đều có địch. Phải nhanh chóng chiếm cầu bằng được. Mạc bàn với Nguyễn Tiến Hoạt - Đại đội trưởng Đại đội 10, rồi vượt sang bên kia đường. Một tiếng nổ choáng óc ở mép đường Mạc vừa tới. Quân địch ở lô cốt gần đó nhìn thấy anh, chúng nổ súng. Mảnh đạn M. 79 xuyên vào ngực làm anh lảo đảo khuỷu xuống. Một chiến sĩ lao đến. Mạc khoát tay ra hiệu cho người chiến sĩ im lặng rồi anh chỉ tay về phía cầu. Quân địch từ trên cầu càng bắn mạnh. Chúng đang đổ đạn xuống mặt đường trước đội hình tiến công của ta. Nhưng khoảng cách giữa ta và địch ngày càng gần lại. Những vật cản của địch trên đường để ngăn chặn ta tiến công giờ đây trở thành ụ chiến đấu của các chiến sĩ phát triển lên đánh chiếm cầu. Lúc này, Hoàng Thọ Mạc tay trái bóp chặt vết thương đang rỉ máu, tay phải cầm khẩu B40 vẫn lao lên. Máu chảy ướt đẫm một khoảng áo trước ngực. Anh hất đầu về dãy thùng phuy. Hiểu ý đại đội trưởng, một chiến sĩ vọt tiến theo anh. Một tiếng "xooẹ xoẹt" lao đến trước mặt anh và người chiến sĩ. Đại đội trưởng Mạc tung người xô ngã người chiến sĩ, rồi nằm úp lên trên. Khói quả đạn phủ kín cả hai người. Hoàng Thọ Mạc (1) đã anh dũng hy sinh. Máu của anh chảy thắm đỏ một khoảng đất đầu cầu Vĩnh Bình. Các chiến sĩ Đại đội 3 xe tăng và Đại đội 10 Tiểu đoàn 6 vô cùng thương tiếc người đại đội trưởng dũng cảm. Lòng căm thù như tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sĩ, thôi thúc họ tiến lên diệt địch, trả thù cho đại đội trưởng thân yêu. Tôi điều hai khẩu 37 ly hạ nòng bắn vào các cụm quân địch đang chiếm giữ cầu. Các mũi tiến công của Đại đội 10 chiếm được lô cốt đầu cầu, đẩy địch ra khỏi công sự. Mất chỗ dựa, toàn bộ quân địch chốt giữ trên cầu Vĩnh Bình buộc phải bỏ súng, đầu hàng. Tôi nói anh em đưa thi hài Hoàng Thọ Mạc lên xe cùng tiến vào hang ổ cuối cùng của địch. Xe tăng, xe thiết giáp, xe vận tải chở Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 27 ào qua cầu Vĩnh Bình. Tấm biển chỉ đường ở đầu cầu ghi dòng chữ màu trắng: "Sài Gòn 10 ki-lô-mét". Vượt qua cầu Vĩnh Bình, mũi thọc sâu binh chủng hợp thành của Trung đoàn 27 rẽ về hướng tây, theo một con đường vào quận ly Gò Vấp. --------------------------------- 1. Hoàng Thọ Mạc quê Xuân Hùng, Xuân Trường, Nam Định. Bố anh là Hoàng Thọ Mô, liệt sĩ chống Pháp. Nhà có hai anh em, Mạc và em gái Hoàng Thị Vui. Tháng 2 năm 1974, anh xây dựng gia đình với chị Tô Thị Khuy quê Xuân Vinh, Xuân Trường, Nam Định. Anh chị chưa có con. ----------------------------- Mũi thọc sâu tiến sát khu bộ tư lệnh các binh chủng quân ngụy ở quận Gò Vấp. Trời Sài Gòn như vỡ ra bởi tiếng nổ rung chuyển của các loại đạn các cỡ. Tiếng rít xé gió của đạn pháo. Tiếng đạn nhỏ xiết vào không gian chiu chíu. Tiếng động cơ máy nổ, tiếng bánh xích nghiến rung mặt đường. Lúc này tôi nhận được điện của Bộ Tư lệnh Quân đoàn truyền đạt tinh thần bức điện của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương: Kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, chiến sĩ với quyết tâm lớn nhất hãy nhanh chóng đánh thẳng vào sào huyệt cuối cùng của địch với khí thế hùng mạnh nhất của quân đội trăm trận trăm thắng, đập tan mọi sự đề kháng của địch, kết hợp tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn - Gia Định. Phải giữ kỷ luật thật nghiêm, triệt để chấp hành mọi chỉ thị, mệnh lệnh, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, nêu cao truyền thông và bản chất cách mạng của quân đội ta, hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc giành thắng lợi hoàn toàn cho chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại. 9 giờ 30 phút, mũi thọc sâu của Trung đoàn 27 đánh vào bộ tư lệnh thiết giáp - lực lượng mạnh nhất của địch trong khu bộ tư lệnh các binh chủng ngụy. Trước cổng bộ tư lệnh thiết giáp, địch đã tổ chức một trận địa phòng ngự bằng tất cả các loại xe tăng, thiết giáp hiện đại nhất của chúng. Xe tăng xe thiết giáp được bố trí nhiều tầng, bắn như đổ đạn về phía trước ngăn chặn mũi tiến công của ta. Quan sát trận địa địch tôi thấy chúng phòng thủ chủ yếu bằng xe tăng, thiết giáp, rất ít bộ binh. Do vậy chúng không dám ra phản kích. Biết rõ chỗ yếu của địch, tôi ra lệnh cho xe tăng ta nã pháo chế áp trận địa địch, đồng thời cho bộ binh chia thành nhiều mũi, dùng B40, B41 áp sát chia cắt, tiêu diệt xe tăng địch. Nhận được lệnh, Đại đội 3 xe tăng của ta tập trung nã pháo tới tấp vào trận địa địch. Các xạ thủ B40, B41 rời khỏi xe ôtô vượt qua làn đạn đan chéo trên đầu, xông thẳng vào đội hình xe tăng địch. Mười chiếc xe tăng địch bị bắn cháy. Địch bị bất ngờ trước lối đánh của quân ta, chúng quay đầu tháo chạy. Nhưng, những con đường trước mặt chúng đều là những con đường cụt, buộc chúng phải co về cố thủ trong khu bộ tư lệnh thiết giáp. Chớp thời cơ, tôi lệnh cho xe tăng và bộ binh vừa đánh vừa tiến vào. Không chịu nổi sức tiến công của ta, viên đại tá Chiêu buộc phải dẫn sĩ quan, binh sĩ trong bộ tư lệnh thiết giáp ra hàng. Lá cờ ba que bị hạ xuống, chiến sĩ ta kéo lá cờ Giải phóng lên nóc cột cờ bộ tư lệnh thiết giáp quân ngụy. Làm chủ bộ tư lệnh thiết giáp, ta bắt tù binh dẫn đường đánh chiếm các mục tiêu tiếp theo. Lục quân công xưởng (trại Đoàn Dư Khương) là căn cứ sửa chữa lớn, tập trung nhiều vật tư kỹ thuật, có khoảng 2 nghìn sĩ quan, hạ sĩ quan và nhân viên với nhiều xưởng cơ khí, đúc, quân xa, xe hơi, trọng pháo, vũ khí... ở đây sửa chữa theo dây chuyền rất hiện đại, có khả năng đại tu tất cả các loại vũ khí, trọng pháo, xe tăng, xe thiết giáp, xe hơi lục quân Khi ta đánh vào chỉ còn một số sĩ quan, binh sĩ. Tôi ra lệnh cho đại tá Chiêu chỉ huy sĩ quan, binh sĩ trong Lục quân công xưởng: - Các anh phải có trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ thuật, dây chuyền sửa chữa. Tại căn cứ 60 tiếp vận truyền tin (trại Nguyễn Thái Học là căn cứ sửa chữa lớn các máy thông tin. Trại Phạm Tất Được là nơi dự trữ nhiên liệu đặc biệt), khi Trung đoàn 27 chiếm giữ, căn cứ còn 12 triệu lít xăng. Ta còn chiếm giữ các căn cứ: Căn cứ tồn trữ quân nhu 331 (trại Nguyễn Công Trứ), bao gồm quân trang, các xưởng may mặc của quân đội ngụy. Căn cứ này có khoảng trên một nghìn sĩ quan, binh sĩ và nhân viên. Tiểu đoàn 61 pháo binh (trại Phan Sào Nam). Trường quân cụ và trường đào tạo kỹ thuật... Tôi nhớ nhất là khi đánh vào Tổng y viện Cộng Hòa, bệnh viện lớn và hiện đại nhất của quân ngụy. Tên lính ngụy dẫn đường đưa chúng tôi vào thẳng phòng làm việc của viên chuẩn tướng Phạm Hà Thanh. Thấy chúng tôi vào, Thanh lắp bắp: - Xin chào các đồng chí! Tôi nói ngay: - Anh không phải là đồng chí của chúng tôi. Thanh liếc nhìn tôi. Nhận ra giọng nói Nam Định của tôi, Thanh bắt chuyện: - Tôi quê Nam Định, là bạn học cùng bác sĩ Phạm Gia Triệu (1), quê ở Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định. Chúng tôi cùng học với nhau ở Pháp. Tôi cắt ngang: - Tôi là Phong, chỉ huy cánh quân này. Anh cho biết bệnh viện của anh có bao nhiêu bác sĩ và nhân viên? - Dạ thưa, khoảng 400 bác sĩ và nhân viên. - Bao nhiêu thương binh? - Có 200 thương binh từ thiếu tá trở xuống. -------------------------------- 1. Bác sĩ Phạm Gia Triệu - Viện phó Viện quân y 108 từ năm 1967, ông là một chuyên gia phẫu thuật thần kinh. ông được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1967. ------------------------------------------------- Dừng lại một lúc, tôi nói như ra lệnh: - Anh cho đăng ký số thương binh là cấp tá, còn tất cả thương binh khác cho gia đình đưa về điều trị và chuyển sang các viện dân sự. Anh cùng bác sĩ, nhân viên y tế tiếp tục ở lại phục vụ thương binh Quân giải phóng, ngay từ bây giờ. Phạm Hà Thanh rụt rè hỏi: - Thưa quý ông, tiêu chuẩn thương binh của cách mạng được hưởng là bao nhiêu? Lúc này tôi cũng không rõ tiêu chuẩn điều trị các loại thế nào. Tôi bảo: - Thương binh Quân giải phóng được hưởng tiêu chuẩn cao nhất từ trước đến nay. - Thưa quý ông! Thuốc chỉ dùng được có 15 ngày thôi! - Kho thuốc ở đâu? - Căn cứ 70, tồn trữ y dược. - Anh cho người và xe cùng chúng tôi đi nhận thuốc. Phạm Hà Thanh đầy vẻ lễ phép: - Dạ, dạ, dạ. Tôi nói tiếp: - Tất cả thương binh của chúng tôi vào điều trị ở đây anh phải bảo đảm chữa khỏi cho họ. Nếu để xảy ra tử vong, anh hoàn toàn chịu trách nhiệm. Tôi vừa nói xong, Phạm Hà Thanh mặt biến sắc: - Thưa quý ông, thương binh nặng tử vong có nhiều nguyên nhân. Nếu tử vong mà do vết thương quá hiểm nghèo mà quý ông quy trách nhiệm cho tôi thì khó quá. Mong quý ông xem xét lại. Suy nghĩ một lát, tôi nói: - Thôi được, các anh phải thành lập Hội đồng y khoa, cố gắng chạy chữa cho các đồng chí của chúng tôi. Nếu chẳng may vì vết thương quá nặng mà hy sinh, được hội đồng kết luận thì tôi miễn tra cứu trách nhiệm. Bây giờ anh về lo làm những việc tôi vừa giao... Thương binh của Trung đoàn 27 và thương binh các hướng của chiến dịch bắt đầu được đưa về Tổng y viện Cộng Hoà (Ngày nay, nơi đây là Viện 175) điều trị. Thi hài Hoàng Thọ Mạc (1) vẫn trên xe, tôi bảo anh em đến nơi bán quan tài chọn chiếc đẹp nhất để khâm liệm và an táng cho anh. Đây cũng là một trong những cán bộ hy sinh ngay trước giờ thắng lợi trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Tang lễ Hoàng Thọ Mạc được tổ chức trọng thể với chiếc quan tài đẹp nhất. ---------------------- 1. Hoàng Thọ Mạc được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong chiến dịch Hồ Chí Minh. ----------------------- Cũng vào thời điểm 11 giờ 30 phút lá cờ chiến thắng của quân đội ta được kéo lên ở Dinh Độc Lập, bộ tổng tham mưu quân ngụy Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất và nhiều nơi khác trong thành phố Sài Gòn - Gia Định. Chiến dịch Hồ Chí Minh - Trận quyết chiến chiến lược cuối cùng đã đại thắng. Nhân dân Sài Gòn xuống đường hò reo đón chào bộ đội cách mạng. Cờ đỏ sao vàng, cờ Giải phóng bay rợp các đường phố. Bà con cô bác, nam nữ thanh niên, các cháu thiếu niên vây quanh các anh bộ đội, vây quanh những chiếc xe tăng, những khẩu pháo lớn. Nét mặt ai nấy đều hân hoan rạng rỡ. Cả Sài Gòn, cả Việt Nam lúc ấy sống trong niềm vui bất tận - niềm vui giải phóng, với những nụ cười cùng những giọt nước mắt lăn nhanh trên má mọi người. Trong giờ phút lịch sử, chúng tôi đều xúc động nhớ tới Bác Hồ. Câu thơ mừng Xuân năm 1969 của Người: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào" đã chỉ đường đi cho cách mạng Việt Nam đến thắng lợi hôm nay. Giữa giờ phút thiêng liêng này, tôi nghẹn ngào nhớ tới hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 và các đơn vị bạn đã anh dũng ngã xuống từ Mặt trận Bắc Quảng Trị mùa Xuân năm 1968, trên suốt chặng đường chiến đấu, đến chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng hôm nay. Tôi càng bồi hồi, đau xót nhớ tới những đồng đội mới hôm qua và vừa mới trước đây vài giờ đã anh dũng hy sinh vì thắng lợi huy hoàng. |
| < Prev | Next > |
|---|


