Một thời Quảng Trị_Chương VII PDF Print E-mail
Written by lichsuvn.info   
Friday, 05 December 2008
Chương bảy
TRÊN MẶT TRẬN MỚI
Trước khi nói về những năm tháng ở Tổng hành dinh, tôi xin dành ít trang cho quê hương Hải Hậu (Nam Định) - nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng tôi khôn lớn trưởng thành.

Nhìn trên bản đồ, dòng chảy của sông Ninh Cơ và sông Sò tạo thành một vòng cung - địa giới phía trong của huyện Hải Hậu. Phía ngoài, gần như một đường thẳng hơi chếch từ đông bắc xuống tây nam là bờ biển. Bờ biển Hải Hậu từ cửa sông Hà Lạn tới cửa sông Ninh Cơ theo bờ đê dài 32 ki-lô-mét.

Từ năm 1920 trở đi vùng đất nơi đây bị biển xâm lấn nên bờ biển sâu.

Theo các cụ kể lại, cách đây 500 năm mảnh đất Hải Hậu còn là một vùng biển, khi đó mới có một số cồn cát nổi lên rải rác ở phía nam cửa Lạch Lác (tên gọi cửa sông Ninh Cơ trước đây) và phía tây cửa Lạn Môn (tên gọi cửa sông Hà Lạn trước đây). Lúc ấy mới lẻ tẻ có người tới cư trú. Cuối thế kỷ XV, ông Trần Vũ, người Cổ Lễ huyện Nam Ninh tới vùng này, nhìn thế đất "khi nước lên thì cá bơi, hạc đứng, bốn mặt mênh mông. Khi nước xuống thì u nhệch, lầu ngao, một vùng gò đống" đã lập bàn địa án dâng lên vua Lê Thánh Tông (Hồng Đức) xin được lấy "khu đất hoang này làm tư điền thế nghiệp".

Ông Trần Vũ được vua Lê phê chuẩn và phong chức Dinh điền Phó sứ.

Ông Trần Vũ kết nghĩa với các ông Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập (bốn ông này sau được nhân dân tôn vinh thành Tứ Tổ) cùng thu họp dân các nơi về khai khẩn. Từ đấy công cuộc quai đê lấn biển được tiến hành có quy hoạch...

Sau khi đắp xong con đê biển gọi là đê Hồng Đức, đồng đất phía trong đê trở nên vững vàng, đồng ruộng, sông ngòi mở mang có bài bản.

Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX, nhân dân ở một số làng xã phía bắc sông Cường và Cát Chử (nay là xã Trực Cát huyện Nam Ninh) tiếp tục sang đây tham gia khai khẩn mở mang. Vào đầu thế kỷ XVII, ở phía tây cửa Lạn Môn, ông Vũ Duy Hòa khởi xướng và tập hợp lực lượng lấn biển được nhiều họ hưởng ứng, đồng thời ở đây nhân dân và các họ từ phía bắc cũng tiếp tục ra lấn biển. Công việc tiến hành ròng rã hơn 100 năm, tới đầu thế kỷ XVIII, khu trong đê Hồng Đức - từ đê Đông xã Quần Anh đến giáp sông Hà Lạn hoàn thành mở thêm một phần đất đai.

Những năm hai mươi của thế kỷ XIX, biển bồi càng mạnh và công việc khai hoang ở đây cũng diễn ra với nhịp độ nhanh trong phạm vi rộng. Dưới triều Minh Mạng với cương vị Dinh điền sứ, Nguyễn Công Trứ mộ dân khẩn hoang khu nam, khi hoàn thành lập ra chín làng: An Nhân, An Nghiệp (Hải Toàn), An Trạch, An Đạo, An Nghĩa (Hải An), An Phong, An Phú, An Lạc, An Lễ (Hải Phòng).

Cư dân Hải Hậu hôm nay là hậu duệ của những người tiên phong đi mở đất. Họ là những người nghèo, chủ yếu ở các làng xã phía Bắc chuyển cư xuống vùng biển phía Nam để khai cơ lập nghiệp.

Trong hành trang mang theo của họ, có cả lối sống và phong cách làm ăn của nền văn minh sông Hồng để tạo dựng một miền quê mới.

Kế thừa truyền thống của ông cha trong lịch sử dựng nước và giữ nước, ngay từ những ngày đầu thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân Hải Hậu đã liên tục tham gia chiến đấu. Đặc biệt, sau sự kiện lịch sử thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930) ở Hội Khê Ngoại đã xuất hiện tổ chức đảng đầu tiên. Dưới sự lãnh đạo của những đảng viên cộng sản này, các tổ chức "Nông hội đỏ" đã lần lượt ra đời ở Hà Lạn, Phúc Lộc (Hải Phúc), Phúc Thủy (Hải Hà), Trung Thành (Hải Vân).

Ngay sau khi giành chính quyền, những người đảng viên cộng sản huyện Hải Hậu đã bắt tay ngay vào việc củng cố tổ chức Đảng để lãnh đạo cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền nhân dân non trẻ. Chi bộ Đảng đầu tiên của huyện được thành lập gồm năm người do đồng chí Nguyễn Thiếp Giáp làm Bí thư ở xã Hải Long. Sự ra đời của chi bộ là một mốc son lịch sử đánh dấu sự trưởng thành của phong trào cách mạng huyện Hải Hậu. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, phong trào phát triển sâu rộng, toàn diện, cơ sở chính trị và lực lượng của Đảng phát triển nhanh chóng. Trước yêu cầu đó, tỉnh ủy Nam Định đã quyết định thành lập huyện ủy Hải Hậu.

Sau khi huyện ủy và lực lượng vũ trang huyện được thành lập, hệ thống tổ chức Đảng, lực lượng đảng viên và lực lượng dân quân, du kích đã lớn mạnh không ngừng, trưởng thành nhanh chóng.

Đây là nhân tố quyết định để lãnh đạo và làm nòng cốt cho phong trào cách mạng của huyện vượt qua những thời kỳ khó khăn, ác liệt nhất. Đặc biệt là thời kỳ địch tạm chiếm "2 năm 4 tháng", từ cuối năm 1949 đến đầu năm 1952. Thời kỳ này, trong tỉnh nhiều nơi phong trào bị địch khủng bố trắng.

ở xã Hải Long, địch bắt được cán bộ, không những chém giết dã man, chúng còn đan rọ cho cán bộ vào rồi buộc đá thả xuống sông Ngòi Cau. Hòa bình lập lại người dân đánh cá còn vớt được nhiều rọ có xương sọ cán bộ.

Bố tôi là Nguyễn Văn Đáp, sinh năm 1921, ở xã Hải Long, huyện Hải Hậu. Bố tôi là người ham học, ông đã nhiều năm theo học chữ Nôm, sách của ông nhiều, xếp đầy giá. Khi còn nhỏ, bố tôi và thầy giáo Luật (một nhà Nho) dạy tôi học ba năm chữ Nôm. Trong kháng chiến chống Pháp, nhiều năm bố tôi tham gia du kích chống địch càn và đi dân công hỏa tuyến.

Do tuổi cao sức yếu, bố tôi đã mất vào năm 1995.

Mẹ tôi là Mai Thị Cúc, quê Hải Tân. Thời trẻ mẹ tôi xinh đẹp có tiếng trong vùng. Thấy bố tôi là người học giỏi nên yêu thương. Ông bà sống với nhau rất hạnh phúc. Mẹ tôi yêu chồng, thương con, tần tảo chịu thương, chịu khó, chắt chiu nuôi năm anh em tôi khôn lớn trưởng thành. Mẹ là chỗ dựa tinh thần cho anh em chúng tôi trong cuộc sống, công tác. Mẹ tôi ra đi giữa những ngày Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc (tháng 5 năm 2008) được tổ chức tại Việt Nam; hưởng thọ 89 tuổi.

Bố mẹ tôi sinh được năm người con. Anh cả tôi là Nguyễn Văn Tiếu, sinh năm 1942, ở quê. Tôi là thứ hai, sinh ngày 27 tháng 7 năm 1947. Em trai tôi là Nguyễn Văn Phu, sinh năm 1952, bộ đội Đoàn 559, sau chuyển ra ngoài công tác tại huyện nhà. Em gái tôi là Nguyễn Thị Sợi, sinh năm 1959, là quân nhân chuyên nghiệp Binh đoàn 11. Em trai út tôi là Nguyễn Văn Tuyến, sinh năm 1961, đại tá, đang bị bệnh hiểm nghèo.

Ngày 20 tháng 2 năm 1965, tôi có lệnh gọi nhập ngũ. Hôm tiễn tôi lên đường, mẹ nắm tay tôi bịn rịn. Mẹ tôi căn dặn: - Con ơi! Thời chiến con là trai phải đi đánh giặc giải phóng miền Nam.

Mẹ cố nén lòng nhưng vẫn không sao cầm được nước mắt. Hai em Nguyễn Thị Sợi (sáu tuổi) và Nguyễn Văn Tuyến (bốn tuổi), chưa hiểu gì, nhìn tôi ngơ ngác... Bố tiễn tôi đến nơi tập trung. Trong lúc đợi lên xe, bố tôi bảo: - Con nhớ, theo gia phả thì họ Nguyễn nhà mình là hậu duệ cụ Nguyễn Bặc, danh tướng đại thần nhà Đinh. Thuở nhỏ là bạn thân của Đinh Bộ Linh, sau kết nghĩa anh em, theo Đinh Bộ Linh dẹp loạn mười hai sứ quân. Được vua Đinh phong tước Định Quốc Công. Ông đã bắt và giết gian thần Đỗ Thích, kẻ đã ám hại Đinh Tiên Hoàng, rồi cùng Đinh Điền, Phạm Hạp dấy binh chống Lê Hoàn nhằm bảo vệ nhà Đinh. Việc làm không thành bị Lê Hoàn giết.

Đến đời Lý ông được truy phong Phúc Thần. Nhà mình thờ chữ Tâm. Người xưa có câu: Sông có khúc, người có lúc. Sinh thì có hạn, tử bất kỳ.

Dừng hồi lâu, bố tôi nói tiếp : - Con nhớ các cụ xưa nói: Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó.

Nói rồi, bố tôi chảy nước mắt. Tôi cũng khóc theo.

Bố tôi nói, không giải thích, nhưng tôi hiểu được ý của bố tôi: Trên bước đường chiến đấu và công tác, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn phải vui vẻ, phải vững tâm, kiên nhẫn mà vượt qua. Còn sinh có hạn, tử bất kỳ, ý của bố tôi là sống chết không thể tính trước được. Điều cuối cùng bố tôi dặn tôi "sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy" là muốn nói với tôi rằng: mình đối xử với mọi người như thế nào, thì về sau mọi người đối xử với mình như thế.

Phải biết trân trọng quá khứ, phải tri ân những người đã giúp đỡ mình, đã hy sinh vì mình, trân trọng lịch sử... Những lời căn dặn của bố tôi, tôi luôn ghi nhớ.

Trong chiến đấu ác liệt, nhiều lúc tưởng chừng không vượt qua được tôi vẫn tự nhủ: Sinh thì tính được, tử chẳng tính trước được, nên tôi quên mình, lao vào cuộc chiến đấu sinh tử với quân thù...

Sau ngày đất nước thống nhất, tôi được tham gia đoàn Việt Nam đi cảm ơn các nước bạn bè trên thế giới. Khi đoàn đến Liên Xô, chúng tôi được tham quan Hạm đội Hắc Hải đóng ở biển Hắc Hải.

Tại đây tôi gặp lưu học sinh Việt Nam ở trường Đại học Y ở ô-đét-xa. Trong số lưu học sinh tại trường Đại học Y-ô-đét-xa. Nơi đây nhà tôi - Lại Thị Xuân, người cùng xã Hải Long đã học bảy năm bác sĩ. Vợ tôi là con gái út của ông Lại Văn Tá - đảng viên Đảng Cộng sản năm 1930. Ông hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Lại Thị Xuân là con liệt sĩ nên được cử ra nước ngoài học từ năm 1969, đến năm 1976 tốt nghiệp bác sĩ, Xuân về nước công tác tại Bệnh viện E. Chúng tôi tổ chức lễ cưới vào ngày 16 tháng 8 năm 1976 (tính theo âm lịch). Vợ chồng tôi sinh được hai con. Con gái Nguyễn Thị Hải Yến sinh năm 1978, công tác tại Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, cháu thi đỗ và được cử sang học cao học ở Vương quốc Anh. Con trai Nguyễn Hải Anh, sinh năm 1980, cũng thi đỗ, được cử sang học và tốt nghiệp cao học ở Vương quốc Anh.

Sau khi tốt nghiệp khóa đào tạo chính quy đầu tiên của Học viện Cấp cao (Học viện Quốc phòng hiện nay), tháng 10 năm 1980, tôi được điều về làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 390, Quân đoàn 1, thay
---------------
1. Vợ chồng tôi dùng chữ đệm cho các con là Hải, có ý kỷ niệm ngày đầu gặp nhau ở biển Hắc Hải, và cùng quê hương Hải Hậu.
------------------
anh Phạm Huấn về Bộ Tư lệnh Hải quân. Cùng về Sư đoàn 390 dịp này với tôi còn có anh Phan Trần Thắng thay anh Nguyễn Văn Đệ giữ chức Chính ủy sư đoàn; anh Vũ Trung Thướng thay anh Đoàn Trương giữ chức Sư đoàn phó - Tham mưu trưởng.

Nhân nói về Sư đoàn 390 nơi tôi sống và công tác bảy năm, anh Trần Văn Thứ - Sư đoàn phó Chính trị, Bí thư Đảng ủy Sư đoàn, khi anh Thứ chuyển đi, anh Lê Xuân Yến thay làm Sư đoàn phó Chính trị, Bí thư Đảng ủy Sư đoàn. Khi tôi đi học ở Liên Xô, anh Trần Xuân Gứng - Sư đoàn phó thay tôi quyền Sư đoàn trưởng. Khi tôi lên quân đoàn, anh Phùng Quang Thanh làm Sư đoàn trưởng, tiếp đến anh Phạm Thế Mỹ và anh Nguyễn Khắc Nghiên giữ chức Sư đoàn trưởng...

Thời gian này ở Sư đoàn 390 cũng chịu sự khủng hoảng kinh tế xã hội nghiêm trọng của đất nước. Bộ đội không có gạo ăn, phải ăn sắn "gạc nai" (1) của người dân Thanh Hóa, đem về giã lấy bột nấu ăn thay cơm. Trước tình hình đó, Đảng ủy và Ban chỉ huy chúng tôi họp bàn rồi tổ chức xin ruộng cho bộ đội cấy lúa, liên hệ xin khai thác luồng để đổi
--------------------------
1. Sắn gạc nai đồng bào nhổ cả bụi để trên gác bếp đen như gạc con nai.
--------------------------
lương thực, phát động trồng rau, nuôi cá, bảo đảm một phần đời sống bộ đội.

Lúc này quân số của sư đoàn hơn một vạn người. Lo cho từng ấy con người thật là khó khăn
Chính trong những tháng ngày khó khăn này, Ban chỉ huy sư đoàn chúng tôi đã nêu vấn đề học tập làm theo lời dạy của Bác: "Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng". Chúng tôi thống nhất cán bộ sư đoàn phải là tấm gương cho bộ đội noi theo. Lời nói phải đi đôi với việc làm. Đây cũng là tính thuyết phục cao nhất đối với cán bộ và chiến sĩ.

Chúng tôi quy định từ cán bộ sư đoàn đến cán bộ đại đội không ăn bếp riêng mà xuống nhà ăn cùng bộ đội.

Ngoài tập trung cho nhiệm vụ huấn luyện nâng cao sức mạnh chiến đấu của sư đoàn, chúng tôi chủ trương xây dựng nhà cơ bản cho bộ đội.

Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, kinh phí trên cấp có hạn, nên chỉ huy sư đoàn chúng tôi xác định phải tự lực đi lên bằng sức lao động của bản thân, phải khai thác tiềm năng sẵn có, những nhân tài vật lực của đơn vị.

Về xây dựng cơ bản, chúng tôi tiến hành xây dựng có trọng điểm. Tập trung xây dựng nhà kho, nhà xe pháo, nhà ăn. Mỗi tiểu đoàn xây dựng một đại đội để rút kinh nghiệm. Năm 1981, ngôi nhà đầu tiên được xây dựng ở Đại đội 11 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64, nhà 14 gian lợp ngói. Khi xây dựng xong, đưa vào sử dụng, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 - Tư lệnh Lê Nam Phong và Phó Tư lệnh Chính trị Đỗ Mạnh Đạo đã cho cán bộ cấp trung đoàn toàn quân đoàn đến tham quan và cho đây là một hình mẫu để các đơn vị làm theo.

Để tiết kiệm chi phí cho sản xuất vật liệu xây dựng, tôi đã cử anh Đoàn Quang Ngần, Sư đoàn phó hậu cần ra Quảng Ninh liên hệ mua hàng nghìn tấn than, chuyển sà lan về tới khu vực đóng quân tại bến Đò Lèn, Hà Trung, Thanh Hóa. Có than mới tính đến đốt gạch, nung vôi. Tôi giao cho Trung đoàn 64 tổ chức sản xuất vật liệu xây dựng.

Sau ba tháng lao động, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 64 đã sản xuất được ba triệu viên gạch, 400 tấn vôi, 1.700 mét khối đa và cát. Chiến dịch sản xuất vật liệu xây dựng của Trung đoàn 64 thắng lợi mở ra niềm tin cho cả sư đoàn. Chúng tôi đã tổ chức tập huấn bồi dưỡng tay nghề cho hàng trăm đồng chí về kỹ thuật đóng gạch, đốt vôi, làm thợ nề, thợ mộc, thợ rèn... Những đồng chí này sau khi được bồi dưỡng ở sư đoàn trở về đơn vị lại hướng dẫn kỹ thuật cho anh em khác. Do đó đã tạo ra một lực lượng đông đảo chiến sĩ có tay nghề trên nhiều lĩnh vực làm cơ sở cho nhiệm vụ xây dựng doanh trại của đơn vị.

Chúng tôi còn tổ chức những cuộc hội thi để chọn tay nghề cao. Tôi còn nhớ, thời gian này thượng úy Bùi Xuân Đếm, Trung đoàn 64 được mệnh danh là "Kiện tướng đốt gạch". Lúc đầu, Đếm đốt lò năm vạn viên thành công. Sau tăng lên chín vạn viên bảo đảm tỷ lệ gạch chín 95%.

Những công trình xây dựng lớn của sư đoàn như nhà truyền thống, nhà chỉ huy sư đoàn, hội trường và nhà cơ quan sư đoàn đo Đội xây dựng của sư đoàn và chiến sĩ các đơn vị được điều lên thực hiện.

Các trung đoàn và các đơn vị trực thuộc tự sản xuất vật liệu để xây dựng nhà ở. Từ tháng 2 đến tháng 9 năm 1983, tôi được cử đi học ở Học viện Phrunde Liên Xô.

Trở về đơn vị tôi kiên định mục tiêu xây dựng cơ bản, với phương châm dựa vào sức của đơn vị là chính đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của chính quyền các địa phương, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ.

Do vậy, thời gian từ tháng 10 năm 1983 đến năm 1987, cả Sư đoàn 390 như một công trình xây dựng.

Từ cơ quan đến đơn vị, nơi nào cũng thấy lò gạch, lò vôi tỏa khói. Đến cuối năm 1987, toàn sư đoàn đã ngói hóa từ 85%-95%. Để cải thiện đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, chỉ huy sư đoàn chúng tôi còn liên hệ tham gia một số công trình của Nhà nước. Trung đoàn 64 tham gia xây dựng sân bay Sao Vàng. Trung đoàn 27, Trung đoàn 54 tham gia xây dựng Nhà máy xi măng Bỉm Sơn. Công binh làm đường khai thác gỗ luồng của Thanh Hóa.

Công tác hậu phương quân đội cũng được Đảng ủy và chỉ huy sư đoàn quan tâm chu đáo và tìm nhiều biện pháp giải quyết. Tôi bàn thảo nhiều lần và cân nhắc rết kỹ với các anh trong Ban chỉ huy sư đoàn: - Sư đoàn ta còn nghèo, không thể giúp anh em cán bộ một, hai chỉ vàng. Chúng ta phải liên hệ xin đất để cán bộ có đất làm nhà. Có an cư thì mới lạc nghiệp được.

Thế rồi, tôi cùng cơ quan cán bộ trực tiếp đi các địa phương xin đất và cấp cho cán bộ. ở Nghệ An, ở Nam Định, Thái Bình. Đặc biệt, chúng tôi đã xin đất xây dựng các khu gia đình sĩ quan ở ngay khu vực sư đoàn bộ, với những tên gọi mang đậm ý nghĩa truyền thống như: Làng Đồng Bằng, làng Vĩnh Định, làng Thạch Hãn, Triệu Hải... Số gia đình lúc đầu còn ít, dần dần đã có tới hàng trăm gia đình sĩ quan đến ở. Phần lớn anh em đã có nhà xây cơ bản, đời sống khá.

Là người trưởng thành từ chiến trường Quảng Trị, một chiến trường khốc liệt, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, tôi rất xót xa khi nhìn những cánh rừng trụi lá do chất độc hóa học, không còn mầm xanh của sự - sống. Nay tôi muốn tạo dựng lại màu xanh của sự sống. Bởi vậy, đầu năm 1983, tôi đề xuất với Ban chỉ huy sư đoàn mở chiến dịch trồng cây xanh. Mục đích của chiến dịch này là phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, trồng cây trong doanh trại, vừa làm đẹp vừa tạo môi trường râm mát, cân bằng hệ sinh thái trước mắt và lâu dài. Chiến dịch được mang tên: "Màu xanh đồng bằng".

Để bảo đảm cho kế hoạch trồng cây, chúng tôi thành lập các tổ làm vườn ươm cây giống. Cơ quan sư đoàn cũng được giao nhiệm vụ cụ thể. Phòng Hậu cần đảm bảo kỹ thuật và cây giống. phòng Chính trị phụ trách công tác tuyên truyền, giáo dục hướng dẫn thi đua. Phòng Tham mưu lo điều lực lượng. Do được giáo dục về ý nghĩa và lợi ích của trồng cây, cán bộ, chiến sĩ đều hăng hái tham gia.

Từ đơn vị cơ sở đến cơ quan sư đoàn không một chỗ nào để đất trống. Đâu đâu cũng thấy cây mọc xanh tốt. Tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh của sư đoàn đã phối hợp với Thị đoàn Bỉm Sơn, Trường phổ thông trung học huyện Hà Trung cùng trồng cây trong doanh trại. Sư đoàn bảo vệ chăm sóc và giữ gìn bốn mươi hécta rừng dẻ gần sư đoàn bộ. Môi trường sinh thái được cải thiện nên từng đàn cò và nhiều loài chim về trú ngụ.

Vườn ươm của sư đoàn đã cung cấp cây giống cho các đơn vị trong sư đoàn đu trồng. Các địa phương nghe tin vườn ươm của sư đoàn có nhiều giống cây quý như lát hoa, tràm hoa vàng, bạch đàn, xà cừ, cây ăn trái nhiều loại do Sở Lâm nghiệp tỉnh Thanh Hóa giúp kỹ thuật đã cử người đến mua. Sư đoàn 390 đã cung cấp hai triệu cây lát hoa, tràm hoa vàng cho các tỉnh từ Quảng Trị đến Hà Nội, Quảng Ninh, giá trị hàng chục triệu đồng.

Tổng kết cuộc thi "Hoa trái Đồng Bằng" sư đoàn quy định mỗi đơn vị trồng năm vườn: Vườn ươm giống; Vườn rau ăn; Vườn thuốc đông y; Vườn hoa; Vườn cây cảnh.

Tháng 4 năm 1984, tôi dẫn đầu đoàn cán bộ Sư đoàn 390 trở lại Quảng Trị. Lần này tôi mang theo một cây đa do bà Thủ tướng ấn Độ In-đra Gan-đi tặng, cây đa này được trồng từ phong trào "Cách mạng xanh" nổi tiếng của đất nước ấn Độ tươi đẹp, nhân chuyến tôi và đoàn đại biểu Việt Nam đi thăm và cảm ơn các nước đã ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược (tháng 10 năm 1977). Cả chuyến đi đó tôi giữ gìn cây đa nhỏ như một báu vật. Về nước, tôi trồng cây đa vào một cái chậu, đi đâu tôi cũng mang theo, từ Học viện Cấp cao rồi về Sư đoàn 390. Đến năm 1984, cây đa lên xanh tốt tôi quyết định đem cây đa và một số cây lát hoa vào trồng ở thị xã Quảng Trị.

Cây đa phát triển rất nhanh. Năm 2005, theo quy hoạch của thị xã, phải dịch chuyển cây đa về đất thị đội. Lúc này cây đa đã rất to. Anh em phải cưa bớt hai cành rồi đánh gốc để cần cẩu cẩu về nơi mới. Khi đánh gốc, anh em phát hiện bốn bộ hài cốt ở dưới gốc đa. Hãy còn đó dép cao su, dây lưng, bi đông Trung Quốc... Hài cốt liệt sĩ được đưa về nghĩa trang liệt sĩ trong Thành Cổ an táng. Tháng 4 năm 2007, tôi trở lại thị đội, cây đa hai nhánh xanh tốt, tỏa bóng mát xuống sân thị đội Quảng Trị. Dưới gốc để một bia đá ghi "Cây đa này do Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Huy Hiệu nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27 - Triệu Hải (nay là Thượng tướng, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) trồng tháng 4 năm 1984. Quà tặng của Thủ tướng In-đra Gan-đi từ phong trào "Cách mạng xanh" nhân chuyến thăm ấn Độ tháng 10 năm 1977". Bên cạnh tấm bia anh em còn đặt một bát hương để thờ đồng đội...

Sau ba năm phát động phong trào "Màu xanh đồng bằng", 12 nghìn cây ăn quả trồng quanh doanh trại lên xanh tốt. Một số loại cây đã cho thu hoạch.

Năm 1986, ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa tặng bằng khen cho Sư đoàn 390 vì có phong trào trồng cây giỏi ở địa phương. Năm 1987, Bộ Lâm nghiệp tặng bằng khen và một số hiện vật cho sư đoàn cũng nhờ thành tích trên. Bộ Quốc phòng đã phát động toàn quân học tập phong trào trồng cây của Sư đoàn 390.

Tháng 12 năm 1987, tôi được bổ nhiệm Phó Tư lệnh thứ nhất Quân đoàn 1, được phong quân hàm Thiếu tướng (năm 1988). Tôi là một trong năm người trưởng thành từ lính nghĩa vụ đầu tiên được phong quân hàm cấp Tướng.

Nhận nhiệm vụ Phó Tư lệnh thứ nhất được ít ngày, tôi được các anh trong Bộ Tư lệnh phân công lên đi kiểm tra và chỉ đạo các đơn vị chiến đấu ở biên giới.

Cuối tháng 4 năm 1988, Quân đoàn 1 bàn giao khu vực tác chiến cho đơn vị bạn trở về vị trí đóng quân Tam Điệp.

Tháng 6 năm 1988, tôi được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 1 thay anh Nguyễn Kiệm. Bộ Tư lệnh có anh Đỗ Trường Quân - Phó Tư lệnh chính trị, anh Đỗ Trung Dương - Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng, anh Hoàng Ngọc Chiêu - Chủ nhiệm Cục Chính trị Quân đoàn. Khi anh Quân chuyển công tác anh Chiêu lên thay Phó Tư lệnh chính trị. Khi anh Đỗ Trung Dương đi học thì anh Phùng Quang Thanh phụ trách Tham mưu trưởng Quân đoàn sáu tháng...

Trong lúc này tình hình biên giới và quần đảo Trường Sa của ta bị đe dọa nghiêm trọng. Cả nước hướng về Trường Sa. Theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Quân đoàn 1 chọn 70 cán bộ từ trung đội đến tiểu đoàn ra làm nhiệm vụ ở Trường Sa. Được động viên chu đáo, tất cả 70 cán bộ được cử đi làm nhiệm vụ đều phấn khởi lên đường và đều hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Trước tình hình chiến sự đang nóng lên ở biên giới và tình hình phức tạp ở quần đảo Trường Sa, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh quân đoàn chủ trương lãnh đạo chỉ huy các đơn vị tăng cường hơn nữa công tác huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, nâng cao tinh thần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ. Chúng tôi chỉ đạo Sư đoàn bộ binh cơ giới 308 tiến hành diễn tập thực binh với mục tiêu: Sư đoàn bộ binh cơ giới tiến công địch ở vùng đồng bằng ven biển. Địa bàn diễn tập là khu vực của một huyện vùng biển. Bộ Tư lệnh phân công anh Đỗ Trung Dương - Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng trực tiếp chỉ huy.

Sau 6 ngày căng thẳng, vất vả, Sư đoàn 308 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ diễn tập thể hiện được khả năng hiệp đồng chiến đấu giữa các đơn vị trong sư đoàn, giữa sư đoàn với lực lượng vũ trang địa phương trong khu vực phòng thủ, phát huy được thế mạnh của lực lượng tại chỗ. Lần đầu tiên làm nhiệm vụ diễn tập chiến đấu ở vùng đồng bằng ven biển, Sư đoàn 308 đã thực hiện đúng yêu cầu rèn luyện cả chiến thuật, kỹ thuật, khả năng cơ động, trình độ hiệp đồng chiến đấu và tiến hành công tác dân vận ở khu vực diễn tập đạt kết quả tết Sau cuộc diễn tập của Sư đoàn 308 thành công, chúng tôi chỉ đạo cho Sư đoàn 312 tiến hành diễn tập: "Sư đoàn bộ binh tiến công địch phòng ngự ở địa hình rừng núi" nhằm hoàn thiện và nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đoàn.

Ngày 9 tháng 11 năm 1989, Sư đoàn 312 bước vào diễn tập ngoài thực địa có bắn đạn thật với tất cả các loại súng pháo có trong biên chế. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 312 (với lực lượng chủ yếu là Trung đoàn 165) đã hoàn thành tốt nhiệm vụ diễn tập được Bộ Quốc phòng biểu dương.
Cùng thời gian này, theo yêu cầu của Nhà nước và quân đội Cam-pu-chia, Bộ Quốc phòng giao cho Quân đoàn 1 tổ chức một khung cố vấn sư đoàn bộ binh cơ giới đi làm nhiệm vụ giúp quân đội Cam-pu- chia. Chúng tôi chỉ đạo Sư đoàn bộ binh cơ giới 308 chọn 48 cán bộ, chiến sĩ tổ chức khung cố vấn từ cấp sư đoàn tới trưởng xe (mang tên K88B). Đoàn cố vấn do Trung tá Phan Khuê Tảo - Phó Tham mưu trưởng Sư đoàn và Thượng tá Lê Sỹ Thái - Phó Sư đoàn trưởng chính trị chỉ huy. Sau 2 năm công tác đoàn đã huấn luyện, xây dựng Sư đoàn bộ binh số 7 của bạn, đồng thời cùng với bạn trực tiếp tham gia chiến đấu truy quét lực lượng tàn quân Pôn Pốt ở các khu vực thuộc các tỉnh Công Pông Xư Pư, Cra Chiê. Tháng 7 năm 1991, Đoàn cố vấn quân sự K88B hoàn thành tốt nhiệm vụ, lên đường về nước.

Thời gian này, ngoài những nhiệm vụ xây dựng đơn vị, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, diễn tập thực binh, Quân đoàn 1 còn xin Bộ Quốc phòng cho thành lập các đơn vị lao động làm kinh tế trong điều kiện cho phép để tạo ra cơ sở vật chất, góp phần cải thiện đời sống và giải quyết chính sách hậu phương quân đội. Các công trường 391, 591 được thành lập. 391 thành lập tháng 3 năm 1991; 591 thành lập tháng 5 năm 1991. Tháng 3 năm 1992, có công trường tham gia xây dựng đường dây tải điện 500 KV Bắc - Nam. Các công trường hoạt động có hiệu quả, tham gia xây dựng nhiều công trình cho đất nước, làm ra nhiều sản phẩm cho xã hội và tạo ra vốn cho quân đoàn.

Tôi còn đề xuất Bộ Tư lệnh Quân đoàn phát động phong trào trồng cây xanh ở các đơn vị. Từ Quân đoàn bộ đến các Sư đoàn 308, Sư đoàn 312 và Sư đoàn 390 phong trào phát triển mạnh.

Mùa xuân năm 1992, Quân đoàn tổ chức cuộc thi sinh vật cảnh giữa các Hội cựu chiến binh Ninh Bình, Nam Định, Thanh Hóa. Nhiều cây cảnh được mang về hội thi. Trong dịp này tôi làm bài thơ với tên là: Ba cây. Vì tôi nghĩ số ba là kiềng ba chân, là tổ ba người. Tôi thích nhất cây đa, cây lộc vừng và cây sung. Ba cây này được trồng trong chậu đẹp như cây bon-sai.

Tuổi cao ngồi gốc cây đa
Ăn sung ngồi ngắm cây hoa lộc vừng
Non xanh nước biếc đã từng
Gừng cay, sung chát xin đừng quên nhau
Ở đời có trước có sau
Nhìn cây mà ngẫm nghĩ câu nhân tình.

Ngày 28 tháng 4 năm 1992, nhân kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng Quảng Trị, đoàn đại biểu Quân đoàn 1 do tôi dẫn đầu vào dự lễ kỷ niệm và cùng nhân dân Quảng Trị khởi công xây dựng tượng đài chiến thắng Ngã ba Long Hưng - cửa ngõ tây nam Thành Cổ Quảng Trị.

Tháng 10 năm 1992, tôi bàn bạc và đề xuất với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn tổ chức luyện tập chiến dịch cho chỉ huy, cơ quan một bên hai cấp (quân đoàn và sư đoàn) với đề mục: "Quân đoàn thực hành tiến công địch ở địa hình rừng núi" tại Sư đoàn 390. Thành phần tham gia luyện tập gồm chỉ huy, cơ quan quân đoàn, chỉ huy, cơ quan sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn thuộc quân đoàn. Kết quả của đợt luyện tập đã bồi dưỡng cho người chỉ huy, cơ quan các cấp biết thứ tự các bước tổ chức đơn vị trong thời chiến để xây dựng đơn vị đủ sức chiến đấu, sẵn sàng đánh thắng địch trong mọi tình huống. Thông qua luyện tập, nhiều vấn đề được đặt ra để nghiên cứu bổ sung cho công tác huấn luyện như: Phương pháp nắm nguồn, công tác hiệp đồng cùng địa phương, địa bàn tiếp nhận quân dự bị, tổ chức biên chế, cấp phát trang bị vũ khí, huấn luyện bổ sung... Những vấn đề trên đòi hỏi người chỉ huy và cơ quan phải có trình đố vững, hiểu biết công việc để chủ động giải quyết và xử trí tình huống kịp thời, đáp ứng yêu cầu chiến đấu tiến công của quân đoàn.

Vừa kết thúc nhiệm vụ luyện tập chiến dịch chỉ huy, theo sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu Quân đoàn tiếp tục tổ chức cho Sư đoàn 312 diễn tập thực nghiệm: "Sư đoàn bộ binh phòng ngự trận đỉa ở địa hình rừng núi". Cuộc diễn tập được tiến hành từ ngày 28 tháng 12 năm 1992 đến ngày 2 tháng 1 năm 1993, tại một khu vực phía bắc Hà Nội, phục vụ lớp tập huấn cán bộ quân sự toàn quân tham quan. Thượng tướng Đào Đình Luyện - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng, trực tiếp chỉ đạo.

Cuộc diễn tập được chuẩn bị chu đáo, luyện tập nhiều lần, tổ chức chặt chẽ nên đạt kết quả tốt. Sư đoàn 312 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Bộ Quốc phòng khen ngợi.

Nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Quân đoàn 1, từ ngày 15 tháng 3 đến ngày 15 tháng 4 năm 1993, tôi chỉ đạo Cục Chính trị và bàn bạc kỹ với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn thống nhất mở trại sáng tác văn học tại Sầm Sơn (Thanh Hóa). Dự trại viết là những cán bộ, chiến sĩ đã và đang công tác tại quân đoàn. Sau một tháng mở trại gần 100 tác phẩm của các trại viên bao gồm các thể loại truyện ngắn, ký sự, thơ, kịch... đã hoàn thành. Quân đoàn chọn hơn 40 tác phẩm có chất lượng về nội dung và nghệ thuật xuất bản thành bộ sách: "Đời lính, đời người" (hai tập) và cuốn "Văn nghệ Quân đoàn 1". Cũng dịp này, chúng tôi nâng cấp Nhà truyền thống và hoàn thành bộ phim: "Binh đoàn tuổi 20". Nhà bảo tàng và bộ phim truyền thống đã tập hợp được những hiện vật, hình ảnh quý báu, phản ánh truyền thống vẻ vang của quân đoàn trong 20 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành.

Cùng với các hoạt động văn hóa, văn nghệ, quân đoàn đã hoàn thành công trình Sở chỉ huy quân đoàn ba tầng với gần một nghìn mét vuông sử dụng, tạo điều kiện thuận lợi để làm việc tập trung, chính quy, cho Bộ Tư lệnh và cơ quan quân đoàn.

Giữa những ngày tháng 10 sôi động, cán bộ, chiến sĩ quân đoàn thi đua lập thành tích kỷ niệm Ngày truyền thống của đơn vị. Quân đoàn phấn khởi, tự hào được đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Trung tướng Nguyễn Hòa, Trung tướng Hùng Phong, Trung tướng Đỗ Mạnh Đạo, Trung tướng Nguyễn Thế Bôn, Trung tướng Lê Nam Phong và nhiều tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp đã từng tham gia xây dựng quân đoàn về thăm. Nhân dịp này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cắt băng khánh thành Nhà bảo tàng Quân đoàn 1.

Ngày 24 tháng 10 năm 1993, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 long trọng tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập. Đại tướng Đoàn Khuê - ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cùng đại biểu các cơ quan Bộ Quốc phòng, các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, học viện, nhà trường và đại biểu thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Quảng Trị, Sông Bé, Thanh Hóa, Ninh Bình, Hòa Bình, Hà Tây, Bắc Thái. :. đã về dự lễ kỷ niệm.

Sau lời diễn văn của tôi, Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng Đoàn Khuê phát biểu. Đại tướng biểu dương thành tích của cán bộ, chiến sĩ quân đoàn trong 20 năm qua. Đồng thời chỉ thị cho quân đoàn: "Phải luôn luôn nắm vững nhiệm vụ trọng tâm là huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao cho, xứng đáng truyền thống của Binh đoàn Quyết thắng anh hùng".

Thay mặt cán bộ, chiến sĩ quân đoàn, tôi hứa: "Luôn trung thành tuyệt đối với Đảng với nhân dân, đồng tâm hiệp lực xây dựng quân đoàn cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, xứng đáng với vị trí, chức năng là binh đoàn chủ lực, cơ động, dự bị chiến lược của Bộ".

Trong suốt 7 năm làm Tư lệnh Quân đoàn 1, tôi đã được đón tiếp các đồng chí Đại tướng Chu Huy Mân, Đại tướng Nguyễn Quyết, Thượng tướng Lê Khả Phiêu và nhiều tướng lĩnh khác về thăm và làm việc với Bộ Tư lệnh Quân đoàn.

Tháng 6 năm 1994, đồng chí Lê Đức Anh - ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước về thăm Quân đoàn 1.

Ngày 15 tháng 10 năm 1994, tôi được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Anh Đỗ Trung Dương - Thiếu tướng Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân đoàn được bổ nhiệm Tư lệnh Quân đoàn 1 thay tôi.

Cũng vào năm này, tôi bảo vệ thành công học vị Phó Tiến sĩ khoa học quân sự (nay là tiến sĩ) tại Học viện Quốc phòng. Trong quá trình làm luận văn "Nghệ thuật đánh địch ngoài công sự trong chiến dịch tiến công", tôi được Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo, Thượng tướng Nguyễn Hữu An giúp đỡ; được các anh Phan Văn Hoè - Phó Giáo sư Nguyễn Trường Cửu - Tiến sĩ hướng dẫn luận văn. Ngoài ra tôi còn được các giáo viên thuộc Học viện Quốc phòng, Học viện Chính trị quân sự nhiệt tình giúp đỡ.

Tháng 6 năm !996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng diễn ra tại Hà Nội. Đại hội đã bầu 170 ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chấp hành Trung ương bầu năm đồng chí Thường vụ Bộ Chính trị. Tôi được Đại hội bầu vào Ban Chấp hành Trung ương.

Khi giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng tôi được Bộ Quốc phòng và Chính phủ phân công làm Phó Trưởng ban phòng chống lụt bão Trung ương, Phó trưởng ban Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn Bộ Quốc phòng, Phó Chủ tịch thường trực ủy ban quốc gia tìm kiếm - cứu nạn, trực tiếp chỉ đạo công tác phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn của Chính phủ và Bộ Quốc phòng. Tôi đã đến nhiều địa phương, có mặt ở những vùng được gọi là "điểm nóng" để tìm ra phương án cứu giúp nhân dân. Từ trong gian khổ, nguy nan tôi càng thấy sự hy sinh to lớn của các lực lượng vũ trang nhân dân. Cũng từ cuộc chiến đấu trong thời bình với thiên tai bão lũ đã sản sinh ra những "cách đánh" mới. Phương châm "Bốn tại chỗ" của tôi cũng ra đời từ thực tiễn ấy Đó là: "Lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ". Trong những trường hợp cụ thể, điều kiện cụ thể, từng địa phương, từng đơn vị lại có những biện pháp hết sức linh hoạt, sáng tạo, nên đã hạn chế đến mức thấp nhất sự tàn phá của thiên tai.

Khi bão lũ ập đến, việc tự cứu mình, tự cứu lấy nhau, đem sức lực của dân để cứu dân là kịp thời, hiệu quả nhất. Phương châm lực lượng tại chỗ xuất phát từ thực tế này. Bởi lúc đó "nước xa không cứu được lửa gần". Lực lượng của Chính phủ, của quân đội không thể có mặt tức thời để giúp dân ngay từ lúc vừa xảy ra sự cố. Vì vậy, để tránh tổn thất do thiên tai, bão lũ gây ra, các địa phương phải xây dựng cho được lực lượng tại chỗ đủ mạnh để xử lý các tình huống. Lực lượng đó là dân quân cơ động xã phường. Đây là lực lượng trẻ, khỏe, thông thạo địa bàn, nếu được tổ chức chu đáo, thường xuyên được tập luyện, diễn tập các tình huống giả định, chắc chắn khi "vào cuộc" lực lượng này sẽ giải quyết tốt các phương án. Phải xây dựng, huấn luyện lực lượng này thành đội quân tại chỗ mạnh, không chỉ để làm nhiệm vụ phòng chống lụt bão, thiên tai, mà còn là chỗ dựa vững chắc cho chính quyền giải quyết các tình huống khác.

Nhiều câu hỏi được đặt ra khi phòng chống bão lụt thiên tai, như: Trong điều kiện dân ta còn nghèo, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, lấy đâu ra phương tiện để đương đầu với bão lũ thiên tai? Xin được nói ngay rằng: Không thiếu, không hiếm các loại phương tiện có thể sử dụng vào việc ứng cứu nhân dân. Có loại phương tiện tưởng như thô sơ, ít tác dụng nhưng trong thực tế bão lũ lại trở thành đắc dụng. Ví dụ: khi lũ tràn về các làng mạc ở vùng quê Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Quảng Nam, tưởng như lại có thể dùng các loại xuồng, phà, ca nô máy đẩy để làm phương tiện cơ động, nhưng thực tế các phương tiện này lại không thể sử dụng được.

Xuồng, phà, ca nô máy đẩy chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi cơ động trên sông, còn len lỏi trong các làng mạc có nhiều gò đồi, cây cối, vật cản thì thúng chai, thuyền chèo lại là hợp lý. Trong trận lũ lịch sử năm 1999, nhân dân các địa phương thuộc tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng đã dùng các loại phương tiện này ứng cứu lẫn nhau rất hiệu quả Hình ảnh những thúng chai chở cả sản nghiệp của gia đình thoát khỏi vùng ngập úng, hay trên đường phố ngập nước xuất hiện những thuyền chèo nhỏ vận chuyển cụ già, trẻ em là một minh chứng sống động về việc huy động phương tiện tại chỗ. Từ thực tiễn này, các địa phương đã tổ chức điều tra, thống kê các loại phương tiện hiện có, trên cơ sở đó lập kế hoạch điều động khi có tình huống xảy ra. Cả hệ thống chính trị vào cuộc đưa phương châm "Bốn tại chỗ" vào cuộc sống.
Từ trong bão lũ cũng đã xuất hiện những cách làm sáng tạo của quân dân ta. Xin được nêu những ví dụ điển hình. Trước khi bão số 6 (năm 2006) đổ bộ vào miền Trung, nhờ có những dự báo về sự tàn phá khủng khiếp của nó. Người dân chuẩn bị tránh bão nhưng cũng không thể bỏ làng mạc, nhà cửa.

Người dân Thăng Bình, Quảng Nam đã sáng tạo việc đào hầm tránh bão. Tương tự, để tránh tổn thất, nhân dân đã phân tán tàu thuyền đưa sâu vào những đoạn sông có làng mạc. Có nơi, bà con còn tổ chức tháo máy, đánh chìm tàu thuyền xuống lòng sông. Việc làm này có thể tốn vài chục triệu, nhưng tránh được tổn thất hàng tỷ đồng.

Đoàn không quân B.72 đã sáng tạo ra cách tránh bão cho khí tài, xe máy, khi thấy nhà xưởng không đủ sức chống đỡ, đó là đưa toàn bộ xe máy từ trong nhà xưởng ra sân. Bão đổ bộ vào, nhà xưởng sập nhưng gần sáu chục xe máy vẫn còn. Tôi đánh giá cao sự sáng tạo của lãnh đạo, chỉ huy Đoàn không quân B.72.

Thực tiễn sinh động muôn màu muôn vẻ, không phải khuôn mẫu có sẵn. Phương châm "Bốn tại chỗ" cũng vậy. Vấn đề là vận dụng sáng tạo những cách làm mới và sự quyết đoán của lãnh đạo các địa phương, đơn vị. Sẽ không có được những biện pháp tối ưu nếu như những mệnh lệnh được phát ra theo kiểu sao chép: "nhận trên, triển khai dưới" một cách máy móc, rập khuôn. Công tác chỉ huy tại chỗ đòi hỏi các cấp ủy, người chỉ huy phải sâu sát thực tế, phải cụ thể tỷ mỷ. Càng sâu sát, cụ thể, càng hạn chế tổn thất và có nhiều cách làm sáng tạo.

Cuối năm 1999, tôi vào miền Trung chỉ đạo công tác phòng chống trận lũ lịch sử. Do đường bộ, đường sắt bị lũ chia cắt, đường không cũng gặp khó khăn về thời tiết, Chính phủ và Bộ Quốc phòng quyết định lập cầu hàng không để chi viện lương thực, thực phẩm, trang thiết bị cứu hộ, cứu nạn. Nhưng, hàng hóa cũng chỉ đến được các đầu cầu hàng không mà thôi. Trong lúc đó, tỉnh Quảng Ngãi bị lũ chia cắt, bao vây như một ốc đảo. Các huyện trong tỉnh cũng bị lũ xé ra thành các ốc đảo nhỏ. Phải tìm con đường đến với tỉnh Quảng Ngãi, để cùng các đồng chí lãnh đạo địa phương cứu giúp đồng bào là mệnh lệnh cao nhất thôi thúc tôi.

Tại Đà Nẵng tôi đã cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân khu 5, các đơn vị hải quân, biên phòng, không quân bàn phương án và đi đến quyết định nhanh chóng dùng tàu Đại Lãnh - con tàu cứu hộ, có sức chịu đựng sóng to, gió lớn, mở một đường biển từ Đà Nẵng vào Quảng Ngãi.

Chuyến xoi đường đi ấy là một trong những chuyến đi hết sức vất vả nguy hiểm, nhưng nó mở ra một hướng mới, một con đường mới có ý nghĩa chiến lược: Nếu như sau này gặp những trận lũ tương tự chia cắt nhiều địa phương, các tuyến giao thông khác tắc nghẽn, thì chúng ta hoàn toàn có thể chủ động đưa lực lượng phương tiện, lương thực, thực phẩm đến ứng cứu các địa phương bằng đường biển.

Nhiều năm qua, lũ lụt, bão lớn liên tiếp xảy ra, nhưng dưới sự chỉ đạo sâu sát của Chính phủ và Bộ Quốc phòng, sự dũng cảm quên mình của các lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương nên đã hạn chế được rất nhiều tổn thất do thiên tai gây ra.

Trong phòng chống bão lũ đã xuất hiện những tấm gương dũng cảm cứu dân, như: Trung úy Phạm Văn Điều, Binh nhất Lê Đình Tư thuộc Hải đội 2 bộ đội biên phòng. Ngày 1 tháng 11 năm 1999, trong khi chống lũ cứu dân, các anh đã anh dũng hy sinh ở cửa Thuận An. Trung úy Phạm Hiếu Nghĩa, phó đội trưởng kiểm soát cửa khẩu Lao Bảo ngày 2 tháng 11 năm 1999, anh đi xe khách đến địa phận xã Mỹ Chánh, huyện Hải Lăng Quảng Trị thì đường 1 ngập nước. Nghĩa cùng hành khách trên xe phải chuyển sang đi thuyền. Bất ngờ, lũ quét tràn về lật đổ thuyền kéo mọi người vào dòng nước cuồn cuộn chảy. Nghĩa đã dũng cảm cứu được hai người đang bị nước cuốn. Đến người thứ ba, mặc dù đã kiệt sức, nhưng khi thấy tiếng kêu cứu anh vẫn quên mình lao ra cứu người bị nạn. Một đợt lũ mới ập tới, cuốn chìm hai người về phía hạ lưu...

Tôi hết sức cảm động trước sự hy sinh quên mình của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang trong bão lũ cứu dân, cứu tài sản của dân. Tôi cảm ơn lãnh đạo các địa phương, ban ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức quốc tế, các cá nhân trong và ngoài nước đã ủng hộ đồng bào nơi bị thảm họa thiên tai.

Nhân đây, tôi mong mọi người hãy bảo vệ môi trường sống, bảo vệ rừng đầu nguồn, trồng và bảo vệ rừng chính là bảo vệ cuộc sống trước mắt và lâu dài cho con cháu chúng ta. Nếu chúng ta không biết bảo vệ mà tàn phá môi trường thì chúng ta sẽ phải trả giá. Tháng 4 năm 2001, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, tôi được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương và được bầu vào Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, được Bộ Quốc phòng giao cho tiếp tục phụ trách công tác đối ngoại thay anh Trần Hanh. Tôi còn được phân công phụ trách Trung tâm Khoa học Kỹ thuật - Công nghệ Quân sự Bộ Quốc phòng thay anh Trương Khánh Châu; Trung tâm Nhiệt đới Việt-nga thay anh Nguyễn Thới Bưng.

Công tác đối ngoại quân sự là một bộ phận của công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, đối ngoại quân sự đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Việt Nam luôn kiên định quan điểm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ.nghĩa.

Bản chất của chính sách quốc phòng Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI là hòa bình, tự vệ.

Việt Nam sử dụng mọi biện pháp cần thiết để thực hiện chính sách quốc phòng của mình, đồng thời tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích của quốc gia theo nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hiệp quốc và luật pháp quốc tế. Việt Nam tăng cường phát triển quan hệ với quân đội các nước láng giềng có chung biên giới và các nước trong khu vực; từng bước đưa quan hệ vào chiều sâu. Từ năm 1992, quan hệ quốc phòng Việt - Trung có bước phát triển nhanh trên nhiều mặt. Hai bên đã định kỳ trao đổi nhiều đoàn ở cấp lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, các Tổng cục, Quân khu và ở các cấp khác. Thông qua hoạt động giao lưu, trao đổi, lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Quân đội hai nước đều đạt được nhận thức chung về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, bảo vệ vững chắc những thành quả của chủ nghĩa xã hội trước những âm mưu thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và khẳng định quyết tâm có những hoạt động thiết thực nhằm thực hiện chủ trương xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, từng bước đi vào giải quyết những vấn đề còn tồn tại và mở ra hợp tác cụ thể. Đây là một trong những yếu tố tạo nền tảng để lãnh đạo hai nước đạt được thỏa thuận về khuôn khổ quan hệ song phương 16 chữ:

Láng giềng thân thiện
Hợp tác toàn diện
Ổn định lâu dài
Hướng tới tương lai.

Và 4 tốt:
Láng giềng tốt
Bạn bè tốt
Đồng chí tốt
Đối tác tốt


Quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa Bộ Quốc phòng và Quân đội hai nước cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc ký kết Hiệp ước biên giới trên bộ (12-1999), Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ (2000), Hiệp định hợp tác nghề cá (2000) và Nghị định thư bổ sung Hiệp định hợp tác nghề cá (2004).

Bộ Quốc phòng hai nước đã ký Nghị định thư cụ thể hóa các lĩnh vực hợp tác: Trao đổi đoàn; công tác đảng; công tác chính trị; tổ chức xây dựng và huấn luyện; công nghiệp quốc phòng; giao lưu học thuật, đào tạo; giao lưu giữa các Quân khu và tuần tra chung trên Vịnh Bắc Bộ... Các văn kiện hợp tác này đánh dấu bước phát triển tốt đẹp, bắt đầu một giai đoạn mới trong quan hệ quốc phòng hai nước, góp phần tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển ở mỗi nước, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích lâu dài của mỗi quốc gia.

Tuy nhiên, đây là quá trình phấn đấu lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì và nỗ lực chung từ cả hai phía.

Trước những mưu đồ chống phá điên cuồng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, hòng chia rẽ quan hệ đặc biệt Việt - Lào, đe dọa an ninh sườn phía tây của đất nước, xuất phát từ nhận thức "giúp bạn là tự giúp mình", ta đã kiên trì, chủ động tăng cường củng cố quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện với quân đội Lào anh em thông qua việc thực hiện triệt để, đầy đủ các nội dung Nghị định thư hàng năm giữa hai Bộ Quốc phòng, tiếp tục quan hệ chặt chẽ với bạn trên các lĩnh vực: Thông tin tuyên truyền; tác chiến; hậu cần - kỹ thuật; đào tạo cán bộ, chuyên gia; điều trị thương bệnh binh và nghỉ dưỡng; tìm kiếm hồi hương hài cốt liệt sĩ làm kinh tế kết hợp quốc phòng...
Nhận thức rõ sự ổn định của biên giới Tây Nam có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc tạo môi trường hòa bình, ổn định cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ta đã từng bước triển khai các hoạt động song phương nhằm phục hồi quan hệ quân sự cấp cao với Quân đội Hoàng gia Cam-pu-chia. Bộ Quốc phòng ta thực hiện giúp bạn trên các lĩnh vực đào tạo cán bộ quân sự; sửa chữa trang bị tàu thuyền; điều trị và tham quan nghỉ dưỡng... đồng thời thỏa thuận Hải quân hai nước sẽ tuần tra chung trên vùng nước lịch sử; hợp tác hồi hương hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam; hợp tác giữa các Quân khu giáp biên và lực lượng Biên phòng hai nước... Phối hợp chặt chẽ với các hoạt động của Chính phủ, ta kiên trì chính sách nhất quán là tôn trọng độc lập chủ quyền. không can thiệp vào công việc nội bộ của Cam-pu-chia, ủng hộ Cam-pu-chia trở thành thành viên chính thức của ASEAN. Quan hệ hữu nghị giữa hai Quân đội đã góp phần củng cố quan hệ láng giềng thân thiện giữa hai nước và tạo điều kiện triển khai các biện pháp hữu hiệu duy trì ổn định vùng biên.

Sau khi gia nhập ASEAN (7-1995), ta đã thiết lập được quan hệ quốc phòng với tất cả các nước trong khu vực và từng bước đưa quan hệ vào chiều sâu Ta và các nước trong khu vực đã tổ chức nhiều chuyến thăm lẫn nhau ở các cấp: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng, Quân chủng, Học viện, Nhà trường, tàu hải quân; trao đổi Tùy viên quân sự, kinh nghiệm huấn luyện, đào tạo; giao lưu thi đấu thể thao; triển khai tuần tra chung với Thái Lan...

Kể từ khi trở thành thành viên chính thức của ASEAN, ngay từ đầu, trong khuôn khổ diễn đàn ARF và các hội nghị chuyên đề của ASEAN, ta đã tích cực góp phần vào việc giữ gìn những nguyên tắc cơ bản của tổ chức ASEAN. Đó là đồng thuận trong sự đa dạng và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tạo dựng sự hợp tác trong khối và với các đối tác bên ngoài hướng vào việc thực hiện có hiệu quả Chương trình Hành động Hà Nội và tầm nhìn ASEAN 2010; đồng thời có nhiều đóng góp thiết thực trong việc ra Tuyên bố về cách ứng xử ở biển Đông, chủ trương khu vực không có vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học. Trong các diễn đàn đa phương khác, ta cũng tích cực đóng góp ý kiến nhằm hình thành các chủ trương, biện pháp tiến tới đạt được giải pháp cho các vấn đề bức xúc như ma túy tội phạm xuyên quốc gia, buôn bán phụ nữ, trẻ em và các vấn đề an ninh phi truyền thống. Gần đây lãnh đạo Quân đội ta đã chủ động tham gia trực tiếp vào các hoạt động đa phương của khu vực như Hội nghị Tổng tham mưu trưởng Quân đội các nước ASEAN về chống khủng bố, Hội nghị Tư lệnh Lục quân Châu Á - Thái Bình Dương... Ta đã đăng cai tổ chức Hội nghị chuyên đề của Tổ chức thể thao quân sự quốc tế (CISM) mà ta là thành viên, tham gia các cuộc họp Đại hội đồng của tổ chức này và cử đoàn vận động viên tham dự các giải thi đấu của CISM cũng như của quân đội các nước thành viên ASEAN.

Các hoạt động trên đã góp phần tăng cường hữu nghị, hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, góp phần vào việc ổn định khu vực, tăng cường thu hút đầu tư, thúc đẩy giao lưu kinh tế - thương mại, phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế.

Hoạt động đối ngoại quân sự cũng góp phần củng cố và mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, các nước độc lập dân tộc, các nước đang phát triển.

Trong những năm qua, cách mạng Cu Ba đứng trước những thử thách gay go quyết liệt do lệnh cấm vận, trừng phạt kinh tế và các hoạt động chống phá của chủ nghĩa đế quốc. Bởi vậy, việc ta giúp đỡ bạn vượt qua thời kỳ đặc biệt này cũng là nhằm duy trì, bảo vệ trận địa của chủ nghĩa xã hội. Do cách xa về địa lý và cả hai bên còn khó khăn, sự giúp đỡ của ta dành cho bạn chủ yếu là giúp thông tin, kinh nghiệm để bạn nghiên cứu vận dụng vào thực tiễn của mình. Hai bên đã trao đổi các đoàn Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và một số đoàn chuyên ngành nhằm tăng cường hữu nghị, thống nhất quan điểm và đề ra các biện pháp thúc đẩy quan hệ phù hợp với khả năng của mỗi bên đồng thời triển khai hợp tác trên các lĩnh vực trao đổi thông tin, bảo quản và cải tiến trang bị, bước đầu đạt kết quả tốt.

Năm 1994 đánh dấu bước khởi sắc trong quan hệ quốc phòng giữa ta và Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên. Bạn cử Tùy viên quân sự trở lại Việt Nam sau một thời gian dài để trống do vấn đề Cam-pu-chia. Trong các năm 1994 - 1996, hai bên triển khai một số dự án hợp tác công nghiệp quốc phòng. Gần đây, ta tổ chức chu đáo việc cất bốc và hồi hương hài cốt 14 quân nhân Triều Tiên hy sinh trong chiến tranh (9-2002). Tháng 10 năm 2002, Anh Lê Văn Dũng - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã sang thăm Triều Tiên. Tháng 12 năm 2003, Phó Chủ nhiệm thứ nhất Tổng cục Chính trị bạn đã đến thăm Việt Nam.

Ngoài ra, hai bên đã trao đổi một số đoàn công tác các cấp.

Sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, viện trợ quân sự không hoàn lại cho Việt Nam chấm dứt. Các hiệp định về cố vấn chuyên gia quân sự và đào tạo cán bộ quân sự cho Việt Nam cũng mặc nhiên hết hiệu lực. Năm 1994, Tổng tham mưu trưởng Đào Đình Luyện thăm hữu nghị chính thức Liên bang Nga và Ucraina, đã ký Hiệp định về hợp tác một số lĩnh vực đào tạo chiến thuật quân sự với Nga và Hiệp định liên Chính phủ về hợp tác kỹ thuật quân sự với Ucraina. Trước đó, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Ucraina và Bêlarút (1992). Từ đó, quan hệ quân sự và đặc biệt là hợp tác kỹ thuật quân sự với ba nước dần được khôi phục và có bước phát triển mới trên cơ sở các bên cùng có lợi. Mối quan hệ này ngày càng ổn định, có hiệu quả và đi vào chiều sâu, đáp ứng phần lớn nhu cầu của ta về mua sắm, sửa chữa, cải tiến và hợp tác sản xuất vũ khí, trang bị và đào tạo. Kết quả nổi bật là đã xây dựng và thiết lập về cơ bản hệ thống cơ sở pháp lý cần thiết để điều chỉnh quan hệ quân sự và kỹ thuật quân sự với ba nước (cho đến nay ta mới ký Hiệp định liên Chính phủ về Hợp tác kỹ thuật quân sự với ba nước trong SNG); đồng thời thành lập các tổ chức tương ứng của hai phía, xác lập cơ chế phối hợp giải quyết ngày càng kịp thời và có hiệu quả những vướng mắc phát sinh trong quá trình hợp tác. Ta cũng đã xử lý thỏa đáng vấn đề Cam Ranh phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong điều kiện mới.

Từ chỗ quan hệ bị ngưng trệ, Nga đã trở thành đối tác chiến lược của Việt Nam góp phần đáng kể vào việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội và tiềm lực quốc phòng của nước ta.

Cho đến năm 1989, ta và các nước Đông âu vẫn quan hệ mật thiết và có đặt phòng Tùy viên quân sự tại thủ đô của nhau. Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông âu, ta và các nước này đều rút Tùy viên quân sự. Gần đây, quan hệ quốc phòng giữa ta với một số nước Đông âu đã từng bước được phục hồi. Một số đoàn của Quân chủng Phòng không - Không quân, Tổng cục Kỹ thuật đã thăm một số nước Đông âu, khảo sát và mua sắm một số trang bị, phụ tùng linh kiện kỹ thuật. Việt Nam và ấn Độ có quan hệ hữu nghị truyền thống, song trong một thời gian dài, quan hệ quân sự chưa tương ứng với quan hệ chính trị hai nước.

Năm 1998, bạn bắt đầu dành cho ta học bổng theo đường Bộ Quốc phòng. Trên lĩnh vực trao đổi đoàn hai bên trao đổi nhiều đoàn cấp lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục, Quân chủng, Học viện... Bạn nhiều lần cử tàu Hải quân thăm Việt Nam. Qua các chuyến thăm cấp cao, hai bên thống nhất hợp tác trên các lĩnh vực: Đối thoại quốc phòng; kỹ thuật quân sự và công nghiệp quốc phòng; huấn luyện đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Triển khai đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, gần đây ta đã mở rộng quan hệ đối ngoại quân sự ra các khu vực trên thế giới. Tôi đã dẫn đầu đoàn Bộ Quốc phòng Việt Nam thăm Nam Phi, ăng-gô-la, Mô-dăm-bích, Cộng hòa Công-gô, Chi Lê (7-2004), I-ran, Li-bi, Ai Cập (3-2004), ác-hen-ti-na (7-2004)... Ta ta đã đón tiếp Thứ trưởng Quốc phòng Mô-dăm-bích (3-2004), Thứ trưởng Quốc phòng ăng-gô-la (8-2004). Hiện nay, ta đã mở phòng Tùy viên quân sự tại An-giê-ri, Bra-xin và Nam Phi.

Đối với các nước công nghiệp phát triển ở Châu Âu (đây là những nước có trình độ phát triển cao, có nhiều tiềm năng về khoa học công nghệ và đào tạo) ta đang tranh thủ để phục vụ nhu cầu xây dựng quân đội; góp phần thúc đẩy và phát triển quan hệ đối ngoại chung của Đảng và Nhà nước. Mặt khác, chính sách đối ngoại của những nước này có xu hướng độc lập, tương đối phù hợp cho việc triển khai đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa của ta.

Pháp là nước đi đầu trong việc thiết lập quan hệ với Quân đội ta (1991). Ta đã cử các đoàn Bộ Quốc phòng (1997 và 2001), Tổng tham mưu trưởng (3-2000), Tổng cục Kỹ thuật, quân binh chủng sang thăm chính thức, dự triển lãm, trao đổi kinh nghiệm.

Pháp đã cử các đoàn Tham mưu trưởng Liên quân (1997 và 2000), các đoàn Quân chủng, tàu hải quân và chuyên ngành sang thăm và làm việc tại Việt Nam. Đồng thời, ta mở ra quan hệ chính thức với một số nước khác bằng việc chấp thuận Tùy viên quân sự Anh (1996), Italia (1997), Bỉ (2002); trao đổi Tùy viên quân sự với Đức (2003).

Sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (7-1995), Tùy viên quân sự đầu tiên của Mỹ đã đến Hà Nội (12-1995), đánh dấu sự khởi đầu của quan hệ quốc phòng. Ta đã xác định với phía Mỹ: Quan hệ quốc phòng Việt - Mỹ là một bộ phận nằm trong tổng thể quan hệ kinh tế - chính trị xã hội hai nước.

Đây có thể được coi là cơ chế vận hành quan hệ quốc phòng song phương thời gian qua.

Trên tinh thần "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai", một mặt, ta chủ động triển khai quan hệ quốc phòng nhằm góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại và các lĩnh vực quan hệ khác; mặt khác, kiên quyết đấu tranh đòi Mỹ phải có trách nhiệm đối với hậu quả chiến tranh do họ gây ra ở Việt Nam. Trên tinh thần nhân đạo, ta đề nghị hai bên phối hợp giải quyết có hiệu quả vấn đề MIA đồng thời yêu cầu Mỹ cung cấp thông tin về quân nhân ta mất tích trong chiến tranh. Từ 1997, hàng năm ta cử cán bộ tham dự một số cuộc hội thảo, lớp tập huấn về an ninh theo lời mời của Mỹ. Từ năm 1999, hàng năm Chính phủ Mỹ dành cho Việt Nam một phần kinh phí để mua thiết bị dò tìm bom, mìn, vật liệu chưa nổ sót lại sau chiến tranh. Ta đã Vài lần đón tàu hải quân Mỹ vào thăm Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Ta đã trao cho Mỹ kế hoạch tẩy độc tại sân bay Đà Nẵng, Biên Hòa, Phù Cát và đèo Cù Mông nhưng phía Mỹ chưa đáp ứng tích cực.

Trên tinh thần nhân đạo, ta đã phối hợp giải quyết có lý, có tình vấn đề bia mộ lính Pháp chết trận tại Việt Nam. Ta còn phối hợp giải quyết có hiệu quả vấn đề MIA, được chính giới và đông đảo dư luận Mỹ công khai thừa nhận.

Theo chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, Bộ Quốc phòng ta đã chấp thuận để Ca-na-đa cử Tùy viên quân sự tại Băng Cốc kiêm nhiệm tại Việt Nam (2002).

Trải qua 10 năm hoạt động kiên trì, bền bỉ, đến nay ta đã thiết lập được quan hệ quốc phòng với quân đội nhiều nước ở các châu lục, trong đó có năm nước ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hiệp quốc. Hiện nay có 34 cơ quan Tùy viên quân sự nước ngoài ở Việt Nam (thường trú và kiêm nhiệm) và 24 cơ quan Tùy viên quân sự Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời ta có quan hệ giao lưu tiếp xúc thương mại quân sự với hàng chục nước khác.

Lãnh đạo Bộ Quốc phòng ta đã thăm và đón tiếp các đoàn quân sự cấp cao của các nước: Trung Quốc, Nga, Mỹ, ấn Độ, Nhật Bản và một số nước EU; tham gia các diễn đàn an ninh quốc tế và khu vực; đã triển khai quan hệ đa dạng trên các lĩnh vực chính trị - quân sự, tư tưởng - văn hóa, hậu cần - kỹ thuật, kinh tế - thương mại, văn hóa - thể thao.

Điều đó chứng tỏ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa đã được thực hiện trên thực tế. Có thể nói một thế trận đối ngoại quốc phòng mới, rộng rãi đã được thiết lập và triển khai trên phạm vi tất cả các châu lục, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định, đưa đất nước từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, tạo điều kiện thuận lợi phục vụ hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Bộ Quốc phòng đã tham gia các đoàn của Chính phủ đàm phán và ký Nghị định thư bổ sung Hiệp định biên giới với Lào, giải quyết một số tồn tại về biên giới với Cam-pu-chia, phân định vùng chồng lấn với Thái Lan và phân định thềm lục địa với In-đô-nê-xi-a. Đặc biệt công tác đối ngoại quân sự đã đóng góp tích cực trong việc giải quyết hai trong ba vấn đề biên giới, lãnh thổ tồn tại do lịch sử để lại giữa Việt Nam và Trung Quốc. Cụ thể, đã góp phần tích cực để ta ký với bạn: Hiệp ước biên giới trên đất liền, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá.

Công tác đối ngoại quân sự cũng đóng góp không nhỏ vào Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) làm nền tảng tiến tới thỏa thuận về Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC).

Trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi, ta đã triển khai từng bước vững chắc hoạt động kinh tế đối ngoại nhằm khai thác các nguồn lực bên ngoài, tận dụng các tiềm năng của phân công lao động quốc tế và các điều kiện quốc tế thuận lợi phục vụ sự nghiệp củng cố quốc phòng, góp phần từng bước hiện đại hóa quân đội Thời gian qua, nhiều đoàn đã được cử ra nước ngoài tìm kiếm đối tác, thị trường, nguồn vốn, nguồn hàng. Hiện đang tiếp tục triển khai các dự án tổ chức cho bộ đội xuất ngũ đi lao động nước ngoài, xuất khẩu sản phẩm công nghiệp quốc phòng sang một số nước và triển khai dự án liên doanh, gia công hàng may mặc, quân trang, giày dép với một số đối tác nước ngoài.

Tháng 6 năm 2005, tháp tùng Thủ tướng Phan Văn Khải sang thăm Mỹ trong một buổi tiếp xúc với các chính giới Mỹ tôi nói rằng: Nước Mỹ còn 2 nghìn quân nhân mất tích trong chiến tranh Việt Nam, nhưng ở Việt Nam còn 300 nghìn quân nhân đến nay vẫn chưa có tin chính xác về họ. Mỹ có 2 nghìn người mất tích, có 2 nghìn bà mẹ mất tin con, thì việt Nam gấp hơn một trăm lần như thế với 300 nghìn người mẹ mất tin con. Nỗi đau của mỗi người mẹ Mỹ và nỗi đau của mỗi người mẹ Việt Nam nào có khác nhau.

Tôi lại nói: ở Việt Nam có gần bốn triệu người chịu ảnh hưởng chất độc da cam đi-ô-xin do Mỹ sử dụng trong chiến tranh. Trên tinh thần nhân đạo, tôi yêu cầu Mỹ phải có trách nhiệm góp phần xoa dịu nỗi đau này.

Về vấn đề bom mìn sót lại sau chiến tranh, phía Mỹ cũng đã làm nhưng chưa được bao nhiêu. Tôi yêu cầu Mỹ phải có trách nhiệm nhân đạo hơn nữa để giải quyết bom mìn sót lại sau chiến tranh ở Việt Nam, đặc biệt là ở Quảng Trị. Tôi đưa ra con số trung bình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 2.000 người thương vong do bom mìn sót lại.

Tôi đã đi hơn 60 nước trên thế giới. Đến đâu tôi cũng kêu gọi các tổ chức phi chính phủ và các tở chức nhân đạo giúp đỡ Việt Nam giải quyết những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh. Tôi dẫn đầu đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng nước ta thăm Bỉ - nơi đặt trụ sở khối NATO. Phía bạn yêu cầu tôi và bà Tôn Nữ Thị Ninh - Đại sứ Việt Nam tại Bỉ phát biểu ở Hạ viện có đông đảo các nhà báo quốc. tế. Tôi cũng nói những vấn đề còn tồn đọng sau chiến tranh ở Việt Nam và yêu cầu Quốc hội Bỉ giúp đỡ.

Trước những tổn thất to lớn do chiến tranh gây ra tại Việt Nam. Đến nước nào, ở đâu, tôi cũng muốn bày tỏ nỗi khát khao, nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam với nhân dân trên thế giới là: Phải tìm mọi cách ngăn chặn chiến tranh. Hãy cùng nhau bảo vệ hành tinh của chúng ta mãi mãi là hành tinh hòa bình, hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác cùng phát triển...

Tháng 6 năm 2003, tôi được Chủ tịch nước phong quân hàm Thượng tướng.

Tôi còn nhớ, sau kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, anh Phạm Văn Trà - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao cho tôi trực tiếp chỉ đạo các nhà khoa học của quân đội trong đó có Trung tướng Trương Khánh Châu - Viện sĩ, Tiến sĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm Tổng Công trình sư nghiên cứu sản xuất máy bay siêu nhẹ thủy phi cơ mang ký hiệu VN-41.

Anh Trương Khánh Châu đã cùng Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân và các nhà khoa học trong Quân chủng nhiều năm nghiên cứu và đã sản xuất thành công chiếc máy bay bay thử nghiệm đầu tiên tại hồ Trị An. Sau đó, chúng tôi đưa chiếc thủy phi cơ này ra sân bay Hòa Lạc bay thử lần hai và đã thành công. Chúng tôi đã sản xuất sáu thủy phi cơ siêu nhẹ. Thành công này đã mở ra triển vọng cho Quân chủng Phòng không - Không quân của ta vừa có máy bay huấn luyện, vừa có thể dùng cho cứu hộ thiên tai ở những vùng sông nước. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận của các nhà khoa học hàng không của quân đội ta.

Tháng 11 năm 2003, tôi dẫn đầu đoàn đại biểu Bộ Quốc phòng nước ta đi thăm ấn Độ theo lời mời của Bộ Quốc phòng nước bạn. Trong khuôn khổ chương trình chuyến thăm, bạn sắp xếp cho đoàn chúng tôi đến tham quan ngôi chùa cổ. Nơi đó theo truyền thuyết của ấn Độ là miền đất Phật thiêng liêng, chỉ có khách quý mà bạn coi như người nhà bạn mới đưa đến. Từ Thủ đô Niu Đê-li, chúng tôi phải bay hơn một nghìn ki-lô-mét tới Bốt-gay-a bang Bi-ha rồi đi đường bộ bằng ôtô gần bốn tiếng đồng hồ mới đến được "cửa ngõ" của miền đất Phật.

Chúng tôi phải đi bộ gần 10 cây số, qua những nẻo đường quanh co đèo dốc đẹp như trong cổ tích.

Trong lòng chúng tôi háo hức trước một di tích có bề dày lịch sử vào bậc nhất của đất nước ấn Độ.

Khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, chùa chiền hoành tráng, uy nghi, cổ kính hơn cả sự tưởng tượng của chúng tôi. Tại đây, đoàn chúng tôi gặp một nhà tu hành người Việt Nam, đó là Đại sư Thích Huyền Diệu. Đại sư là một trong năm nhà tu hành ở nước ngoài đến đây lập chùa tu. Sau khi thăm ngôi chùa Việt Nam trên mảnh đất linh thiêng huyền bí này, chúng tôi được Đại sư hướng dẫn tham quan ngôi chùa cổ kính nhất khu vực này.

Khi biết chúng tôi đến từ đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị sư trụ trì tại ngôi chùa thiêng đã tặng tôi ba cây bồ đề con được lấy giống từ cây bồ đề nghìn năm tuổi.

Tương truyền, cây bồ đề này là nơi Đức Phật Thích Ca thành đạo. Mọi người, từ các vị quốc vương, các vị lãnh đạo Chính phủ các nước đến các chư vị tăng ni, phật tử các nơi trên thế giới đến đây ai ai cũng mong có một lá bồ đề, vì tin rằng lá cây chứa đựng sự linh thiêng, mầu nhiệm và sự tuệ giác của chư Phật... Trân trọng nhận món quà giầu ý nghĩa, tôi nghĩ ngay đến việc đưa ba cây bồ đề về trồng ở các nghĩa trang liệt sĩ - nơi cõi thiêng như một sự tri ân đến các đồng đội, đồng bào đã hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc: Suốt hành trình dài tôi và anh Nguyễn Hồng Sinh (thư ký của tôi) thay nhau chăm sóc ba cây bồ đề này.

Về nước, việc đầu tiên là tôi ươm ba cây bồ đề vào ba cái chậu, khi đó mỗi cây chỉ cao chưa đầy hai mươi phân. Khi cây thật sự cứng cáp tôi mới đưa đi trồng. Cây thứ nhất, tôi trồng ở Nghĩa trang Quốc gia Đường 9. Cây thứ hai, tôi trồng ở khuôn viên Bảo tàng Quân đoàn 1 (Tam Điệp, Ninh Bình) - nơi tôi trưởng thành từ người chiến sĩ rồi sau đó trải qua những năm tháng gian khổ, ác liệt ở chiến trường Quảng Trị. Cây thứ ba, tôi trồng ở nghĩa trang Liệt sĩ quê nhà tại xã Hải Long, Hải Hậu, Nam Định - nơi chôn nhau cắt rốn của tôi. Hiện nay, cả ba cây bồ đề đều xanh tốt, trong đó cây bồ đề ở Nghĩa trang Quốc gia Đường 9 tốt nhất.

Biết tôi mang cây bồ đề từ đất phật về trồng ở Nghĩa trang Quốc gia Đường 9, Thượng tọa Thích Quảng Tùng (ủy viên kiểm soát, Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phó ban Thường trực Thành hội Phật giáo Hải Phòng) trong đoàn Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ ở đây, nói: "Thật là tuyệt vời, cây bồ đề đất Phật trồng ở nơi hàng vạn anh linh Anh hùng liệt sĩ yên nghỉ thì còn gì bằng. Sự hữu duyên ở chỗ, cây đất phật trồng nơi những người con trung hiếu không tiếc máu đào, sẵn sàng đấu tranh với cái xấu, cái ác, anh dũng hy sinh vì sự sống của chúng sinh, sự trường tồn của dân tộc. Đây là sự gặp nhau giữa cái tâm của người trồng và sự từ bi hỉ xả của nhà Phật". Cảm ơn lời nói chân thành của Thượng tọa Thích Quảng Tùng, "Người với người sống để yêu nhau", phải tôn vinh cái thiện, phải độ lượng bao dung, giàu lòng vị tha, nhân ái... chính là sự gặp nhau mà Thượng tọa đã nói đồng thời cũng là điều tâm nguyện suốt đời của tôi...

Tháng 6 năm 2006, Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng được tiến hành tại Hà Nội. Tôi được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương. Được Bộ Quốc phòng tiếp tục giao phụ trách Cục Đối ngoại Tổng cục Kỹ thuật, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Trung tâm Khoa học Kỹ thuật - Công nghệ Quân sự Bộ Quốc phòng, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga.

Mười bốn năm ở Tổng hành dinh tôi được sự cộng tác của các cục chức năng: Tác chiến, Quân huấn, Nhà trường, Quân lực, Dân quân tự vệ... của Bộ Tổng tham mưu và các Tổng cục. Chính các cơ quan chiến lược này đã giúp cho Đảng ủy Quân sự Trung ương Bộ Quốc phòng tham mưu cho Đảng và Nhà nước đề ra các quyết sách trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các vấn đề cụ thể về đối ngoại quốc phòng, các chính sách bảo đảm cho lực lượng vũ trang hoàn thành nhiệm vụ trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao.

Năm nào cũng vậy, cứ vào dịp 30 tháng 4 hoặc 27 tháng 7 tôi đều trở lại Quảng Trị, chiến trường một thời máu lửa để thắp hương cho đồng đội. Trung tuần tháng 4 năm 2007 tôi trở lại chiến trường xưa đúng vào dịp kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng Quảng Trị. Tôi đã đến dâng hương tại Nghĩa trang Quốc gia Đường 9, Thành Cổ Quảng Trị và nghĩa trang huyện Hải Lăng - nơi yên nghỉ của hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 - Mặt trận B5.

Tôi cùng đồng chí Thanh, quyền chỉ huy trưởng tỉnh đội Quảng Trị về thôn Gia Bình xã Gio An huyện Gio Linh. Trong kháng chiến chống Mỹ, thôn Gia Bình là hậu cứ dã chiến của Trung đoàn 27.

Cách đây hơn 40 năm, ở đầu thôn có một cây đa cổ thụ, cành lá xum xuê, thân to hai người ôm không xuể Trên ngọn cây, bộ đội pháo binh đã làm đài quan sát, đo đạc, hiệu chỉnh tầm hướng cho pháo binh từ bờ Bắc sông Bến Hải bắn vào Cồn Tiên, Dốc Miếu, Quán Ngang... Cách gốc đa vài chục mét là một giếng nước cổ, hình tròn, ghép đá.

Trước đó, năm 1998, khi tôi là Trung tướng - Phó Tổng tham mưu trưởng đã cùng cán bộ huyện Gio Linh về thôn Gia Bình để tìm đến cây đa và giếng nước đã để lại bao kỷ niệm trong cuộc đời chiến đấu của tôi. Tôi hỏi một số người dân nhưng không ai biết cây đa, giếng nước ở đâu. Rất may, lúc đó có hai cụ già đến. (Hai cụ đã từng làm cán bộ địa phương trong kháng chiến chống Mỹ). Hai cụ kể lại: "Ngày 6 tháng 3 năm 1968, trong một trận đánh không cân sức, chiến sĩ Cao Như Thiêm của Trung đoàn 27 - Mặt trận B5 đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, bị thương nặng và bị địch bắt.

Chúng đưa anh về gốc cây đa hết dụ dỗ lại đánh đập dã man hòng lấy được tin tức về Trung đoàn 27.

Nhưng chúng đã thất bại trước ý chí kiên cường của người chiến sĩ quân đội cách mạng. Bọn chúng đã xả đạn vào anh. Khi hy sinh, Cao Xuân Thiêm tựa vào gốc đa, hướng về miền Bắc... (sự hy sinh của chiến sĩ Cao Xuân Thiêm tôi đã nhắc tới trong Chương hai).

Biết cây đa chính là đài quan sát của ta, ngày nào địch cũng nã pháo, giội bom và rải chất độc hóa học hòng hạ gục cây đa. Lần lượt cành lớn, cành nhỏ của cây đa bị phạt ngang như dao chém, chồi không kịp nẩy, thân chi chít mảnh bom, mảnh pháo...

thế nhưng cây đa vẫn đứng trơ trơ, đầy thách thức cho đến ngày giải phóng Quảng Trị tháng 5 năm 1972, cây đa mới chịu ngã xuống".

Sau khi dẫn tôi và đoàn cán bộ huyện Gio Linh ra khu vực gốc đa và giếng nước, không khó khăn lắm hai cụ đã chỉ chính xác gốc đa xưa. Tại đó tôi đã trồng một cây đa búp đỏ.
Cây đa tôi trồng năm đó bây giờ đã xanh tốt, tỏa bóng mát và thả những chùm rễ cắm sâu vào lòng đất bazan của vùng đồi Gio An.

Thấy chúng tôi dừng chân bên cây đa, nhiều người trong thôn Gia Bình kéo đến. Một chị tự giới thiệu:
- Em là Nguyễn Thị Quý - Bí thư Đảng ủy xã Gio An. Anh có phải là Tướng Hiệu, người đã trồng cây đa này không?
- Đúng! Tôi đây.
- Ba em là Nguyễn Phương Tâm, người trước đây đã dẫn anh đi tìm gốc đấy.
- ông cụ đâu rồi?
Giọng chị chùng xuống:
- Ba em bị tù đày, địch tra tấn dã man nên sức khỏe ba em không được tốt. Ba em mất vào tháng 5 năm 1998, sau khi anh trồng cây đa này được ba tháng. Trước khi mất ba em dặn: "Bộ quần áo quân phục Tướng Hiệu tặng ba khi Tướng Hiệu về thăm thôn Gia Bình và trồng cây đa, ba giữ cẩn thận. Khi nào ba đi, các con nhớ mặc cho ba nhé".

Câu chuyện của chị Quý làm tôi vô cùng xúc động.
Chị kể tiếp:
- Sau khi anh trồng cây đa, dân làng em đã chăm sóc cẩn thận, rào gốc để trâu bò không phá và đặt bát hương dưới gốc cây đa. À, em quên chưa nói với anh: Cụ Nguyễn Văn Nậy - người đã cùng bố em dẫn anh ra trồng cây đa này hôm nay cũng có mặt ở đây?

Chị Quý vừa nói vừa nắm tay một ông cụ râu tóc bạc phơ. Tôi nắm chặt tay cụ, hỏi thăm:
- Thưa cụ, cái giếng nước trước đây nằm ở chỗ nào ạ?
- Nó ở chỗ này - Cụ chỉ tay ra một khoảng đất trống - Hồi đó, bom đạn Mỹ ném xuống nhiều lắm, nó phá cây đa và lấp luôn cả giếng!
- Thế bây giờ bà con có muốn làm lại cái giếng không - Tôi hỏi.

Cụ Nậy suy nghĩ, rồi ngập ngừng nói:
- Muốn chứ, vừa là giếng cổ của thôn vừa mang nhiều dấu tích lịch sử, nhưng dân làng nghèo lắm, không có tiền.

Tôi rút ngay năm triệu đồng, nói với chị Quý, cụ Nậy và bà con:
- Số tiền ít ỏi này là của cá nhân tôi, xin gửi lại xã gọi là chút lòng thành. Nếu còn thiếu thì Bí thư Đảng ủy xã huy động bà con góp công, góp của làm lại cái giếng. Cái giếng này là dấu tích lịch sử. Nước giếng đã tắm rửa cho hàng trăm đồng đội của chúng tôi anh dũng hy sinh, được chuyển từ các nơi về trước khi an táng. Cố gắng khôi phục giếng như cũ.

Tất cả mọi người đứng đó đều nói:
- Như thế thì phải khôi phục lại giếng thôi.

Cầm số tiền trên tay, chị Quý nói:
- Làm lại giếng cổ cũng là ý nguyện của ba em lúc còn sống. Ba em nhiều lần kể rằng: "Bộ đội Trung đoàn 27 và các đơn vị của Mặt trận B5 khi đưa thi hài liệt sĩ về đây, trước lúc an táng đều lấy nước giếng tắm rửa”. Ba em cũng đôi lần tham gia công việc này. Em và cụ Nậy cùng bà con xã Gio An xin hứa với anh sẽ làm xong giếng trước ngày 27 tháng 7 năm 2007 để kỷ niệm 60 năm ngày Thương binh liệt sĩ.

Tôi nắm chặt tay chị Quý:
- Cây đa tôi đã trồng được rồi, còn giếng nước chưa làm được. Hôm nay gặp cụ Nậy, gặp Bí thư Đảng ủy xã Gio An, tôi thật vui mừng. Điều mà bấy lâu cứ canh cánh trong tôi, nay đã được thực hiện. Cảm ơn bà con xã Gio An anh hùng vẫn son sắt thủy chung với bộ đội như những năm đánh Mỹ.

Đúng vào dịp 27 tháng 7 năm 2007, chị Quý đã gửi cho tôi một số tấm ảnh chụp cảnh nhân dân Gio An đang thi công làm lại giếng cổ ở thôn Gia Bình. Ngắm từng bức ảnh phía trước là giếng được ghép đá phía sau là cây đa tỏa bóng xum xuê, tôi đã không cầm được nước mắt.

Anh Lê Hải Triều cùng đi với tôi trong chuyến trở lại thăm cây đa búp đỏ có bài viết: - Trở lại Gia Bình - đăng trên - Tạp chí Văn hóa quân sự - số tháng 7 năm 2007. Một bạn đọc tên là Lê Văn Tuấn (nội ngoại của anh Tuấn đều có người là liệt sĩ) điện cho tôi xin tài trợ một trăm triệu đồng để xây một ngôi đình trên nền đình cũ đã bị bom Mỹ san bằng. Thế là, lại thêm một tấm lòng tri ân với đồng đội, đồng bào.

Đầu năm 2008, tôi đưa nhà tài trợ vào xã Gio An để thống nhất với xã và các cụ trong làng việc xây dựng lại ngôi đình cổ. Phần thiết kế thi công và xây dựng do Công ty 384 Binh đoàn 12 đảm nhiệm.

Ngày 31 tháng 3 năm 2008 (tức ngày 24 tháng 2 năm Mậu Tý) xã Gio An đã khởi công xây dựng ngôi đình. Công việc xây dựng lại ngôi đình đang tiến triển tốt và sẽ hoàn thành vào ngày 27 tháng 7 năm 2008.



Suốt chặng đường chiến đấu gần chục năm trên mảnh đất Quảng Trị, với tôi, biết bao kỷ niệm vui buồn. Thấm thoát đã hơn một phần ba thế kỷ trôi qua kể từ ngày Quảng Trị giải phóng. Nhớ làm sao xiết, ghi làm sao hết những kỷ niệm buồn vui. Cảm xúc lớn lao, bao trùm trong tôi là niềm tự hào vì đã một thời được chiến đấu trên mảnh đất anh hùng này. Những địa danh Đường 9, Dốc Miếu, Tà Cơn, Khe Sanh, Sa Mưu, Phu-lơ, Thành Cổ, sông Thạch Hãn, suối La La... sẽ mãi in đậm trong lịch sử cuộc kháng chiến thần thánh chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam.

Không nơi nào, nghĩa trang liệt sĩ lại nhiều như ở nơi đây. Cả tỉnh có 72 nghĩa trang (trong đó có Nghĩa trang Quốc gia Đường 9 và Nghĩa trang Quốc gia Trường Sơn). ở đây, còn có hai nghĩa trang không mộ nữa là mảnh đất Thành Cổ và lòng sông Thạch Hãn. Lòng sông Thạch Hãn trở nên linh thiêng bởi ẩn trong nó biết bao số phận của những người lính.

Hằng năm, vào ngày 27 tháng 7, người dân Quảng Trị và du khách khắp mọi miền vẫn về đây thả hoa tưởng niệm. Lê Bá Dương, một người lính của Trung đoàn 27 thời đánh Mỹ, đã viết:

Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Hóa tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm.

Lời thơ giản dị mà sâu sắc biết bao. Đó chính là lời nhắn gửi mọi thế hệ: Hãy luôn nhớ và nghiêng mình bên dòng sông thiêng nơi tuổi xuân của các anh hùng, liệt sĩ đã trở thành bất tử.

Gần đây, Phạm Minh Tâm, thương binh 2/4, người đã từng chiến đấu trong chiến hào Quảng Trị năm xưa, khi về thăm Quảng Trị đã viết bài thơ "Về giữa lòng mẹ". Tôi xin được trích đôi dòng ở cuối bài thơ:

... Một nghĩa trang bạt ngàn trong đất
Nấm mồ chung hương khói Cổ Thành
Xin cây cỏ chớ vô tình tươi tốt
Và sông kia đừng xiết xoáy đổi dòng
Móng những công trình xin đừng vô cảm
Lớp lớp địa tầng, đồng đội chúng tôi đông
Và hoa nữa mỗi lần đua nở
Ngát hương đò cũng từ đất mà thơm
Bản nhạc du dương cung thanh đừng réo rắt
Đêm ngoài kia giao hưởng những linh hồn
Xin tất cả một lần thôi cũng đủ
Được hồi sinh từ máu đổ xương tàn
Hãy cúi xuống hôn vào lòng đất mẹ
Nơi những linh hồn yên nghỉ gió mưa chan".

Chiến tranh là thế! Một thời Quảng Trị là thế! Xin hàng ngàn, ngàn lần hôn vào lòng đất mẹ - mảnh đất "lớp lớp địa tầng, đồng đội chúng tôi đây".

Năm nào tôi cũng trở vào Quảng Trị một đôi lần. Lần nào tôi cũng dành thời gian đến các nghĩa trang Đường 9, Hải Lăng, Thành Cổ... để thắp hương cho đồng đội của tôi. Tôi đã đóng góp ý kiến xây dựng khu di tích Thành Cổ. Tôi kêu gọi các nhà đầu tư, những người có lòng hảo tâm xây dựng những khu tưởng niệm, những khu di tích lịch sử cách mạng để tri ân đồng chí, đồng bào. Tôi nghĩ, phải bằng mọi cách để có thể nói lại với mai sau về những sự tích anh hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại, để các thế hệ mai sau không lãng quên quá khứ hào hùng của dân tộc, không lãng quên - Một thời Quảng Trị - mảnh đất thiêng liêng và huyền thoại, mảnh đất đau đáu trong tôi suốt cả cuộc đời.

Viết xong vào dịp kỷ niệm Chiến thắng 30 tháng 4 năm 2008.
 
< Prev   Next >
Trang chủ Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam