ĐÔI NÉT VỀ PHÁO ĐÀI ĐỒNG ĐĂNG
Tác giả Hồng Quang
Sáng hôm 18/10/1950,chúng tôi mới biết tin quân địch ở pháo đài Đồng
Đăng đã rút chạy từ hôm 16/10/1950.Độ ấy mưa lũ lớn nên giao thông có
phần chậm trễ.Mãi gần đến trưa chúng tôi mới có bè mảng vượt sông Kỳ
cùng từ mé xã Sông giang(Huyện Điềm He cũ) tiến vào thị trấn Đông
Đăng.Lúc bấy giờ,đông chí Nguyễn Đình Láy là Bí thư kiêm Chủ tịch Uỷ
ban kháng chiến hành chính huyện Văn Uyên có giao cho tôi nđưa 1 trung
đội địa phương lên đồn.Khoảng 3 giờ chiều 18/10/1950 chúng tôi tiến vào
thị trấn Đông Dăng,nhân dân các dân tộc các phố đứng đông ở 2 ven đường
đón chào cán bộ,bộ đội của huyện trong bầu không khí tưng bừng náo
nhiệt,có nhiều khuôn mặt rạng rỡ mừng vui thoáng đôi chút ngỡ
ngàng.chắc hẳn họ cũng thấy việc quân Pháp rút bỏ tháo chạy là rất bất
ngờ.Chờ đón chúng tôi ở trên đồn là 1 đơn vị dân quân và 2 hàng binh
người Pháp.
Sau 1 lát nghỉ ngơi,chúng tôi cho tiến hành kiểm tra ngay các kho lương
thực,thực phẩm,quân trang,quân dụng,và nhất là các tầng hầm của pháo
đài có nhiều hòm đạn các cỡ mà chúng không kịp phá hủy hoặc mang theo
khi bỏ chạy.Tại các gian phòng ăn của chúng cửa khoá kín,có tiếng chó
sủa gầm gừ ở bên trong,sau jhi các cánh cửa bị phá tung,chúng tôi thấy
2 con chó "béc giê" buộc ở 2 đầu bàn cúp đuôi sợ sệt,hàng dẫy bàn đầy
thức ăn,chúng tôi đoán chùng chúng không kịp ăn bữa chiều đã hoảng hốt
tháo lui khi thấy từng tốp tàn quân từ phía Na Sầm tất tả chạy về thị
xã Lạng Sơn.
Buổi tối hôm ấy bữa cơm của con nhà lính chúng tôi khá thịnh soạn,đủ
các món thịt bò thịt lợn măng nấm...nhưng toàn là đồ hộp,bộ phận cấp
dưỡng chỉ có việc ninh kỹ các hộp sôi lên sùng sục là xong.Ngoài ra
chúng tôi cghia cho mỗi khẩu phần 1 ca rượu vang và 2 gói thuốc lá sợi
nâu hiệu"gô loa" (Gaulois)
Phấn khởi được đóng quân trên đồn,được đi xem khắp các kho tàng,doang
trại,anh em chúng tôi ngồi trò truyện vui vẻ sau bữa cơm.Chính bản thân
tôi có nhắc nhở anh em đi ngủ sớm mà sao trong người vẫn thấy lâng lâng
sảng khoái,không buồn ngủ tý nào.Đêm ấy,ánh trăng thượng huyền rải sáng
đầy sân 4 bề im lặng.Thật với quang cảnh những đêm tuần trước,chúnh tôi
nghỉ ở 1 bản ven sông,ngoài tiếng sóng vỗ đôi bờ,tiếng ếch nhái kêu inh
ỏi thỉnh thoảng điểm thêm tiếng súng nổ ì ầm từ phía Na Sầm vọng lại Sáng 19/10/1950,chúng tôi kiểm tra kỹ toàn bộ công sự của đồn và báo
cáo huyện uỷ để điều ngay các đơn vị dân công đến chuyển vận phần đạn
dược.
Khoảng 4 giờ chiều,các đoàn dân công đến,được đưa xuống tầng hầm tranh
thủ chuyển các hòm đạn đi nơi khác.Dòng người lũ lượt cuốn xuống phía
dưới đồn trong lúc hoàng hôn ập xuống,với tiếng cười nói râm ran làm
cho chúng tôi không thể không bồi hồi xúc động.Chúng tôi rất mừng là đã
hoàn thành tốt nhiệm vụ của trên giao.Điều đó đã động viên cổ vũ chúng
tôi trong việc chuyển tiếp lương thực thực phẩm,quân trang,quân dụng
trong các ngày sau.
Tính đến nay đã trên 35 năm(thời điểm 1986 còn đến hiện tại là hơn 57
năm),nhưng mỗi lần ôn lại chiến dịch Biên giới thu đông 1950 chúng tôi
những người cán bộ Đảng viên cũ,cũng rất đỗi tự hào đã đóng góp phần
công sức nhỏ bé của mình trong việc giữ gìn giải tỏa các tài sản trên
đồn Đồng Đăng ngày trước.
Mãi về sau khi sưu tầm được thêm tài liệu và qua mắt thấy tai
nghe,chúng tôi mới hình dung được 1 phần nào đồn Đồng Đăng kể trên đã
chiếm 1 vị trí quan trọng trên tuyến phòng thủ biên giới của bọn thực
dân Pháp trước đây.Từ sau hóa ước Thiên Tân 9/6/1885,Triều đình nhà
Thanh đã phài rút quân nhường lại cho quân đội Pháp chiếm đóng tại Lạng
Sơn.Từ đó suốt dọc đường số 4 chúng xây dựng các đồn luỹ từ Lạng Sơn
đến Cao Bằng và từ 1937 trở về trước đồn Đồng Đăng tuy ở sát biên giới
Việt Trung nhưnh cũng như các nơi khác chỉ có 1 viên Quan 3 chỉ huy 1
đại đội lính Khố Đỏ & có chừng vài tiểu đội lính đóng chốt ở ngoại
vi Khư Đa,Ma Mèo...Sau 1937 Pháo đài Đồng Đăng được củng cố và xây dựng
theo 1 thiết kế rất kiên cố.9/1940,quân Nhật từ biên giới Trung
Việt,vượt ải Nam Quan tấn công bất ngờ đồn Đồng Đăng.Chúng đã bị thiệt
hại khá nặng khi đáng chiếm & tàn sát rất man rợ bọn tù binh Pháp
để trả thù.Cụ Mỹ 71 tuổi(năm 1986)o93 Tềnh Tổng kể lại:"Trước 1940,Quân
đội Pháp đã bắt đầu xây pháo đài trên đồn Đồng Đăng.Hồi đó tôi có làm
thợ xây các bờ luỹ ngoài tường,tôi có được biết chúng gọi là Tam pháo
đài.Tầng trên là nóc pháo đài bố trí các khẩu đại liên & Đài vô
tuyến điện nhắm ra 4 hướng.Tầng hầm thứ 2 có đủ các loại lỗ châu mai để
chiến đấu,tầng hầm thứ 3 là nơi chứa quân trang,đạn dược lương
thực...Hồi đó khi quân Nhật đã treo được lá cờ Mặt trời mọc của chúng
lên nóc Pháo đài,nhưng ở các góc đường hầm,quân Pháp vẫn tiếp tục nhả
đạn các cỡ cho đến khi kiệt sức mới phải đầu hàng. Đến cuối năm 1941,Pháp lại củng cố toàn bộ hệ thống phòng thủ biên
giớivì kẻ thù đáng gờm trước mắt của chúng là quân phát xit Nhật đang
có mưu đồ đánh chiếm Đông dương.Pháp cử hẳn 1 đoàn Công binh đặc trách
xây dựng lại toàn bộ pháo đài Đồng Đăng song sonh với các pháo đài Đèo
Giang Văn Vỉ(ở thị xã Lạng Sơn)Ông Pa bạn tôi có kểlạiViệc củng cố gia
tăng các công sự chú ý đặc biệt của quân đội Pháp trước kia.Chúng đánh
giá đây là 1 căn cứ quân sự quan trọng có tầm cỡ lớn trên toàn tuyến
phòng thủ biên giới Đông Dương>Việc xây dựng pháo đài này được coi
trọng gần ngang tầm với công trình chiến luỹ Maginot tại chính quốc
trước thế chiến thứ 2.Chả thế mà viên Quan 2 Công binhđặc trách là 1 sĩ
quan rất có năng lực chuyên môn ,tên sĩ quan La roche này có 2 bằng kỹ
sư cầu cống và kỹ sư hầm mỏ tốt nghiệp ở trường Bách khoa quân sự của
nước Pháp,hắn vốn là 1 thầy tu được huy động ra làm việc binh.Tên này
thường xuyên có mặt ở Đồng Đăng để chỉ đạo toàn bộ công trình suốt từ
thời kỳ khởi công(cuối 1941)đến khi cơ bản hoàn thành(đầu 1945)Và sau
đó được phong chức Thiếu tá Công binh.
Chính vì thế mà đêm 9/3/1945,quân Nhật đảo chính Pháp trên toàn cõi
Đông Dương,cũng trên đồn Đồng Đăng này(diện tích chưa =2ha)quân Nhật đã
bị tổn thất nặng nề trước khi đánh chiến được.Chính vì thế mà sau khi
Pháp bị thua trận,chúng lại tái diễn việc sát hại tù binh 1 cách vô
nhân đạo. Quân Nhật không thể không bị thiệt hại lớn vì 4 bức tường chung quanh
đồn đều cóp hào sâu,luỹ hiểm bao bọc,cửa chính củia đồn phải qua 1 đoạn
cầu sắt có thể đẩy ra rút vào bằng con lăn khi cần thiết.Hầm của pháo
đài ở góc tây nam cửa đồn ,xây hình vòm khum nổi lên xừng xững nhìn
trải rộng ra 4 phía.Tiếng Pháp gọi là Casemate.
Cả 3 tầng hầm đều tập trung hỏa lực rất dày đặc có thể bắn tỏa từ trên
xuống dưới,từ dưới lên trên,đan chéo ngang dọc trong tầm căn của pháo
& trung,đại liên các cỡ.Các đường hầm ngầm dầy trên 1m đổ bê tông
cốt sắt,rộng chừng 1,5m,cao độ 2m xây cuốn,cứ vài chục thước lại có
những ngóc ngách xiên ngang dọc.Ta7i tầng hầm thứ 3 có đầy đủ tiện nghi
gồm các buồng làm việc,ăn ngủ của sĩ quan,binh lính (đủ cho 1 tiểu
đoàn)khi có chiến sự xảy ra ác liệt,có trạm cứu thương kho dự trữ lương
thực,thực phẩm,đạn dược từ 3 đến 6 tháng,có hệ thống điện nước riêng
& có sẵn đường hầm bí mật xây kiên cố từ dưới chân pháo đài ra phía
nhà ga để khai thông nối tuyến từ trên đỉnh núiChóp Chài đi xuống.
Tháng 8 Năm 1945 khi Tướng Lư Hán đưa 1 Phương diện quân tàu tưởng sang
Việt Nam giải giáp quân Nhật đầu hàng,có 1 bộ phậnchốt lại ở Lạng
Sơn.Nhiệm vụ đầu tiên của chúnh khi sang nước ta là phải phá huỷ các
công trình phòng ngự biên giới trong đó có đồn Đồng Đăng,& các pháo
đài Đèo Giang,Văn Vỉ(ở thị xã)nhằm ngăn nước ta không thể sử dụng làm
cứ điểm chống chúng khi chúng trở mặt.Nhưng chúnh không sao thực hiện
được hoàn toàn theo ý đồ,chỉ phá được phần trên của pháo đài vì kiến
trúc xây dựng của bọn Pháp trước đây rất kiên cố tinh vi.
Đến năm 1947,hồi tạm chiếm,Pháp lại đào thếm đường hầm từ dưới tầng sâu
xuyên qua phố Đồng Đăng đến phía Đền Mẫu để khi có chiến sự kịp thời
đưa quân ra đối phó bất ngờ với mặt biên giới.Chính trên mặt đất trong
phạm vi của đồn,nếu chúng ta chú ý xem xét thì thấy có 1 số vết tích
đất phủ hình tròn,chính các nơi ấy xưa kia là đường giếng từ trên dẫn
xuống các tầng ngầm,cũng là đường vận chuyển quân khi cần thiết = thang
sắt và có cửa ngăn bịt bằng lưới sắt Trước ngày 17/2/1979 quân đội ta có lấy đồn Đồng Đăng làm đài quan sát và nơi tập kết trú ẩn khi cần thiết.
Chínhthế trong cuộc xâm lăng tháng 2 năm 1979 của bọn phản động Bắc
kinh cũng tại nơi đây đã diễn ra nhiều trận đánh rất ác liệt để chống
trả quân xâm lược mặc dù ta với số quân ít,lực lượng của chúng đông gấp
bội nhung chúng cũng không làm sao xuống được đến tầng hầm thứ 3 của
pháo đài.Các chiến sĩ của ta đã trụ bám đến 27/2/1979 tức sau 10 ngày
chống trả giữ bước tiến quân của địch rồi 1 số an toàn rút ra ngoài.
Đồn Đồng Đăng ngày xưa đã là 1 vị trí cực kỳ quan trọng.Đứng về mặt thế
thủ ở đó có thể là 1 pháo đài kiên cố lấy ít địch nhiều.Vì vậy quân
Pháp trước kia đã tốn nhiều nhân lực,vật lực,tài lực trong nhiều thời
kỳ để xây dựng lên cứ điểm căn cứ đó.Ngay từ 1941 đồn đã có 1 viên Quan
tư chỉ huy 1 tiểu đoàn tinh nhuệ để đáp ứng với các tuyến phòng thủ đã
được cải tiến.
Sở dĩ quân pháp năm 1950 quân Pháp phải tháo chạy vội vã không kịp phá
huỷ đồn bót là do phía ta,trong chiến thắng do chọn địa điểm tiến công
chính xác đánh vào Đông Khê thắng lợi,đánh tan rã 3 binh đoàn tinh nhuệ
của chúng,đã làm rung chuyển toàn bộ quân địch ở đường số 4 "Chúng ta
hồi ấy đã làm cho địch suy xụp về tinh thần,tan rã về tổ chức,rối loạn
về chiến lược".Cũng vì thế mà chúng phải bỏ Đồng Đăng,bỏ toàn bộ hệ
thống pháo đài,đường ngầm kiên cố ở đó,chạy thẳng 1 mạch về thị xã Lạng
Sơn để rồi tiếp tục tháo lui chiến lược về phía Tiên Yên,Móng cái(Hải
Ninh cũ)
Với tầm quan trọng của vị trí Đồng Đăng,1 điểm nóng bỏng của khói lửa
chiến tranh qua từng thời kỳ,chắc chắn từ nay trở đi sẽđược chúng ta
chú ý củng cố xây dựng mọi mặt để nơi đó mãi mãi trở nên 1 cứ điểm quân
sự đặc biệt lợi hại trên phòng tuyến biên giới phía Bắc Việt Trung.
Thị xã Lạng Sơn 22/6/1986
HếT |