| Phi công MiG-17 và MiG-21, “sát thủ” diệt “Con Ma”, “Thần Sấm” |
|
|
|
| Written by lichsuvn.info | |
| Saturday, 08 September 2007 | |
|
Phi công MiG-17 và MiG-21, “sát thủ” diệt “Con Ma”, “Thần Sấm”
Ngày 23 tháng Tám 1967, lúc 14 giờ, một trận tập kích đường không nữa của Không lực Hoa Kỳ vào thủ đô ở miền Bắc của Việt Nam đang được tiến hành. tiêm kích Xô-viết Ngày 23 tháng Tám 1967, lúc 14 giờ, một trận tập kích đường không nữa của Không lực Hoa Kỳ vào thủ đô ở miền Bắc của Việt Nam đang được tiến hành. Máy bay tiêm kích MiG-17 “Fresco” của Không quân nhân dân Việt Nam Do lực lượng được phái đi rất đông (40 máy bay, bao gồm các máy bay Thần sấm F-105 mang theo bom, F-105F làm nhiệm vụ chế áp các dàn rađa điều khiển tên lửa SAM của Việt Nam và các Con Ma F-4 đi làm nhiệm vụ hộ tống), tổ bay của một trong những chiếc F-4D, Charles R. Tyler (phi công) và Ronald M. Sittner (sỹ quan hỏa lực) của phi đội chiến thuật 555 thuộc phi đoàn chiến thuật 8, cảm thấy rất tự tin. Họ không trông đợi sự tiếp đón của MiG, có vẻ như đã bị tê liệt sau những trận không chiến ác liệt chống lại F-4 của Phi đoàn 8 cuối tháng Năm và đầu tháng Sáu. Tyler nghe trong rađiô tiếng của một phi công của chiếc F-105D (Elmo Baker) thông báo rằng anh ta bị MiG tấn công và phải nhảy dù. Tyler còn đang cố tìm xem đồng đội đang ở đâu thì một tiếng nổ lớn làm rung chuyển cả máy bay, Tyler mất khả năng điều khiển nó và bị bắn bật ra ngoài. Treo lơ lửng dưới những múi dù, anh ta nhìn thấy chiếc F-4 bốc cháy rơi xuống rừng rậm, còn người sỹ quan hỏa lực thì không thấy nhảy dù ra – Sittner đã bị giết bằng chính quả tên lửa đã bắn vào máy bay. Cả Tyler và Baker đều bị bắt bởi lính Bắc Việt ngay khi tiếp đất. ![]() Máy bay tiêm kích MiG-21 “Fishbed” của Không quân nhân dân Việt Nam Cả hai máy bay Mỹ đều bị bắn hạ bởi tên lửa không đối không R-3S Atoll của hai chiếc MiG-21PF “Fishbed” (Tên Mỹ đặt cho MiG-21) của Trung đoàn 921 của Quân chủng Không quân (Lực lượng không quân Việt Nam) lái bởi Nguyễn Nhật Chiêu và Nguyễn Văn Cốc. Hai chiếc F-4 khác cũng bị hạ, mà không đi kèm bất kỳ thiệt hại nào của MiG. Quả là một ngày chiến đấu thành công của họ. Trong khi chỉ có hai phi công Mỹ trở thành Át trong chiến tranh Việt Nam, Randy "Duke"(1) Cunningham (Hải quân Hoa Kỳ) và Steve Ritchie (Không lực Hoa Kỳ) thì có đến 16 phi công Việt Nam đạt được danh hiệu tự hào đó. Nguyễn Văn Cốc là Át chủ bài dẫn đầu của nhóm các phi công này, với thành tích 9 máy bay Mỹ (7 máy bay và 2 chiếc “xe trên trời không người lái” Firebees). Trong số 7 chiếc của anh, có 6 chiếc được chính thức xác nhận bởi Không lực Hoa Kỳ, nhưng chúng ta có thể ghi thêm vào đó một chiếc thứ 7 nữa, chiếc F-102A của phi công Mỹ Wallace Wiggins (chết) bị hạ ngày 3 tháng Hai năm 1968, được kiểm tra chính xác bởi Không quân Việt Nam. Bỏ qua hai “con ong ngớ ngẩn” không người lái, thì Nguyễn Văn Cốc vẫn là phi công “đỉnh” nhất trong chiến tranh trên bầu trời Bắc Việt vì không có bất cứ một phi công Mỹ nào đạt được thành tích hạ trên 5 chiếc. Vậy thì tại sao các phi công Việt Nam lại ghi được nhiều bàn thắng hơn các phi công Mỹ? Có lẽ lý do đầu tiên là số lượng. Trong năm 1965, Không quân Việt Nam chỉ có 36 chiếc MiG-17 với một số lượng tương đương phi công, thì đến 1968 họ đã có tới 180 chiếc MiG và 72 phi công. Sáu “tiểu đội” phi công dũng cảm này phải đối mặt với 200 chiếc F-4 của các phi đoàn 8, 35 và 366; khoảng 140 chiếc Thần sấm F-105 của các phi đoàn 355 và 388 của Không lực Hoa Kỳ và khoảng 100 chiếc của Hải quân Hoa Kỳ (F-8, A-4 và F-4) từ tàu sân bay “Yankee Station” trực chiến trong Vịnh Bắc Bộ, kiêm cả các nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động không kích (EB-6B – gây nhiễu; HH-53 – cứu phi công nhảy dù; “Skyraider” yểm hộ hai loại trên). ![]() Máy bay F-4 “Con Ma” của Không lực Hoa Kỳ ![]() Tàu sân bay “Yankee Station” ![]() Máy bay A-4 của Hải quân Hoa Kỳ ![]() Máy bay F8E-Crusader của Hải quân Hoa Kỳ ![]() Skyraider ![]() Trực thăng HH-53 Như vậy, phi công Việt Nam rõ ràng là “bận rộn” hơn đối thủ, và đồng thời họ dễ dàng tìm được mục tiêu để diệt hơn, và quan trọng là họ chiến đấu với tinh thần “chiến đấu đến khi hy sinh”. Họ không cần phải về nhà, vì đây đã là nhà của họ rồi – Tổ quốc. Phi công Mỹ cứ sau 100 chuyến xuất kích lại được về thăm nhà, ngoài ra còn được về để huấn luyện, để nhận lệnh hoặc trăm thứ việc linh tinh khác. Khi quay lại, không phải ai cũng sẵn sàng chiến đấu. Vậy thì đặc điểm của chiến thuật của hai bên là gì? Bởi vì Không lực Hoa Kỳ đã không tấn công tiêu diệt được các dàn rađa và trung tâm chỉ huy bay của Bắc Việt (lúc đó họ cho rằng được sự cố vấn của các chuyên gia quân sự Liên Xô hoặc Trung Quốc), người Việt Nam đã dẫn các máy bay tiêm kích đánh chặn của họ một cách tài tình với chiến thuật “du kích”, mai phục trên bầu trời. Những chiếc MiG nhanh như cắt và bất ngờ tấn công vào đội hình không quân Hoa Kỳ từ nhiều hướng khác nhau (thông thường, MiG-17 đánh vỗ mặt, MiG-21 đánh từ phía sau). Sau khi bắn rơi một vài chiếc trong đội hình Mỹ, bắt các máy bay cường kích F-105 phải hấp tấp ném bom trước khi đến mục tiêu, không chờ đợi sự phản ứng của đối phương, các máy bay MiG biến mất. Chiến thuật “không chiến du kích” của không quân Việt Nam đã rất thành công. ![]() Máy bay F-105D ”Thần Sấm” của Không lực Hoa Kỳ Chiến thuật này nhiều khi lại được sự hậu thuẫn của chính những thói quen thủ cựu đến kỳ quặc của không lực Hoa Kỳ. Ví dụ, vào cuối năm 1966, đội hình tấn công của F-105 đã bay hàng ngày ở một giờ cố định, trên một đường bay cố định và dùng những mật hiệu gọi nhau trong khi bay không thay đổi, lặp đi lặp lại trong rađiô. Các chỉ huy không quân Bắc Việt Nam đã không bỏ lỡ cơ hội: vào tháng Chạp năm 1966, các phi công MiG-21 của Trung đoàn 921 đã chặn được tụi Thần sấm trước khi họ gặp được các tốp F-4 hộ tống, bắn rơi 14 chiếc F-105 mà chẳng mất chiếc nào. Đợt chiến đấu này kết thúc vào ngày 2 tháng Giêng năm 1967 khi Đại tá Robin Olds tiến hành chiến dịch “Bolo”. ![]() Nhân viên kỹ thuật mặt đất Việt Nam đang chuẩn bị cho chuyến xuất kích của hai chiếc MiG-21PF (Trung đoàn không quân tiêm kích 921) Về huấn luyện Giữa thập kỷ 1960, các phi công Mỹ được tập trung huấn luyện sử dụng tên lửa không đối không (như các loại AIM-7 Sparrow (dẫn đường bằng rađa) và AIM-9 (dẫn đường bằng hồng ngoại)) để giành chiến thắng trong không chiến. Tuy nhiên, họ đã “quên” rằng người phi công ngồi trong khoang lái quan trọng hơn vũ khí họ sử dụng rất nhiều. Nhưng không quân Việt Nam rất biết điều đó, họ huấn luyện và cùng với các phi công của họ khai thác tính năng thế mạnh của những chiếc MiG 17, 19 và 21: nhanh nhẹn, cơ động, sử dụng lối đánh gần, khi mà những chiếc Con ma và Thần sấm hoàn toàn bất lực. Chỉ cho đến năm 1972, khi chương trình “Top Gun” cải thiện kỹ năng không chiến của các phi công Mỹ trong Hải quân Hoa Kỳ như Randall Cunningham, và sự xuất hiện của chiếc F-4E tích hợp khẩu cà-nông 20mm “Núi lửa” (Vulcan) thì tình hình mới được cải thiện. Cuối cùng, với mật độ đông đúc máy bay Mỹ trên bầu trời, với cái nhìn của các phi công Việt Nam thì đó là một “chiến trường giàu mục tiêu”, còn với các phi công Mỹ thì Việt Nam là một “mảnh đất nghèo đói”. Các phi công Mỹ không có đủ mục tiêu để có thể san bằng tỷ số, bởi vì làm gì có chiếc MiG nào ở xung quanh mà tiêu diệt! Thời đó, Không quân Việt Nam chưa bao giờ có quá 200 chiếc máy bay chiến đấu. Tất cả những yếu tố đó đã tạo ra nhiều Át Việt Nam hơn là Át Hoa Kỳ, và tạo điều kiện cho các phi công Át Việt Nam ghi được nhiều bàn thắng hơn các đối thủ Mỹ. Nói một cách chính thức thì có 16 phi công Át Việt Nam trong toàn bộ cuộc chiến tranh Việt Nam (13 người là phi công MiG-21, chỉ có 3 người là phi công MiG-17 và không có Át MiG-19). Trong danh sách dưới đây, con số trong ngoặc đơn ở cột “Chiến công” là số liệu được Không lực Hoa Kỳ chính thức xác nhận, và do đó trên thực tế số “bàn thắng” có thể cao hơn. Các phi công Át MiG-17 và MiG-21 trong chiến tranh Việt Nam: Phi công Át chủ bài của Không quân Việt Nam Chiến công ![]() Chi tiết Trung đoàn không quân tiêm kích Máy bay Nguyễn Văn Cốc 9 (7) 2 F-4D, 1 F-4B, 2 F-105F, 1 F-105D và 1 F-102A 921 MiG-21PF Nguyễn Hồng Nhị 8 (3) 1 UAV, 1 F-4D, 1 F-105D. Bị bắn rơi một lần. 921 MiG-21 Phạm Thanh Ngân 8 (1) 1 RF-101C 921 MiG-21F-13 Mai Văn Cương 8 (?) - 921 MiG-21 Đặng Ngọc Ngữ 7 (1) 1 F-4C (22 tháng Năm 1967) 921 MiG-21 Nguyễn Văn Bảy 7 (5) 2 F-8, 1 F-4B, 1 A-4C và 1 F-105D 923 MiG-17F Nguyễn Đức Soát 6 (5) 3 F-4E, 1 F-4J, 1 A-7B 927 MiG-21PFM Nguyễn Ngọc Độ 6 (2) 1 F-105F, 1 RF-101C 921 MiG-21 Nguyễn Nhật Chiêu 6 (2) 1 F-4 (trên MiG-17), 1 F-105D 921 MiG-17 & MiG-21 Vũ Ngọc Đỉnh 6 (5) 3 F-105D, 1 F-4D, 1 HH-53C 921 MiG-21 Lê Thanh Đạo 6 (2) 1 F-4D, 1 F-4J 927 MiG-21PFM Nguyễn Danh Kính 6 (3) 1 F-105D, 1 EB-66C, 1 UAV 921 MiG-21 Nguyễn Tiến Sâm 6 (1) 1 F-4E 927 MiG-21PFM Lê Hải 6 (2) 1 F-4C, 1 F-4B 923 MiG-17F Lưu Huy Chao 6 (1) 1 RC-47 606 ACS 923 MiG-17F Nguyễn Văn Nghĩa 5 (1) - 927 MiG-21PFM Trong ngoặc là con số dc ghi nhận chính thức trong báo cáo thiệt hại của Hoa Kỳ.( ko bít kẻ bảng thế nào xem tạm nhé^^) ![]() Ba phi công Át của Việt Nam: (từ trái sang phải)Nguyễn Văn Bảy (7), Nguyễn Văn Cốc (9) và Nguyễn Đức Soát (6) Phải nói thêm rằng, đây là những chiến công của các phi công dũng cảm, các dũng sỹ trên bầu trời đã phải đối mặt với một lực lượng không quân hùng mạnh nhất thế giới để bảo vệ Tổ quốc họ, và họ rất biết rằng mình đang đối mặt với ai. Đại tá Toon là ai? Người đọc Hoa Kỳ rất có thể đã từng nghe về người phi công Át huyền thoại của Việt Nam, đại tá Toon (hoặc Tomb). Nhưng vì sao ông không có trong danh sách ở đây? Bởi vì ông ta đúng là chỉ có trong “huyền thoại”. Chẳng có phi công nào là Đại tá Toon của Không quân Việt Nam, ông ta là nhân vật tưởng tượng của các phi công Mỹ và thường xuyên được họ đưa ra làm đề tài chuyện phiếm. Như là một thiện ý của các phi công Mỹ, đại tá Toon là một sự tổng hợp của các phi công giỏi của Việt Nam, giống như những “nghệ sỹ sôlô” ném bom đơn độc ban đêm trong chiến tranh thế giới II được gọi là “máy giặt Sác-li” vậy. Nguyễn Văn Bảy Khi Trung đoàn không quân tiêm kích 923 được thành lập ngày 7 tháng Chín năm 1965, Nguyễn Văn Bảy là một trong những học viên được lựa chọn để học lái MiG-17 Fresco. Khóa học kết thúc tháng Giêng năm 1966, và người trung úy trẻ tuổi nhanh chóng được tham gia vào cuộc đối mặt với Không lực Hoa Kỳ. Ngày 21 tháng Giêng năm 1966, bốn chiếc MiG-17 của Trung đoàn không quân tiêm kích 923 “túm được” một chiếc máy bay trinh sát RF-8A cùng với mấy gã hộ vệ F-8 Crusader (Hiệp sỹ thánh chiến) của phi đội 211 Hoa Kỳ. Mặc dù đội “Hiệp sỹ thánh chiến” bắn rơi được hai chiếc MiG, Nguyễn Văn Bảy vẫn ghi được bàn thắng đầu tiên của mình bằng một chiếc F-8E của Cole Black, người sau đó nhảy dù và bị bắt làm tù binh. Quan trọng hơn, các phi công Việt Nam đã lập được chiến công của họ: Bảy và người chỉ huy, phi công Phan Thành Trung trong vai trò của người chỉ huy đội đã bắn hạ một chiếc RF-8A. Người phi công, Leonard Eastman sau đó cũng bị bắt làm tù binh. Một tuần sau đó, ngày 29 tháng Sáu, Bảy cùng ba phi công MiG-17 khác tham gia vào trận đánh với các máy bay F-105D đang tới đánh vào kho xăng Đức Giang (Hà Nội), và (cùng với Phạm Văn Túc) Nguyễn Văn Bảy bất ngờ hạ luôn một chiếc F-105D. Người phi công bị hạ chính là tốp trưởng, thiếu tá Murphy Neal Jones sau đó bị bắt làm tù binh ![]() Chiếc MiG-17F số hiệu 2047, tại bảo tàng Không quân Hà Nội. Phi công Nguyễn Văn Bảy đã dùng chiếc tiêm kích này bắn bị thương tàu khu trục USS Oklahoma City ngày 19 tháng Tư năm 1972. ![]() Tàu khu trục USS Oklahoma City đang trao đổi mệnh lệnh với tàu liên lạc USS Providence (Hạm đội 7 Hoa Kỳ) Trận đánh giòn giã nhất của Nguyễn Văn Bảy là vào ngày 24 tháng Tư năm 1967. Cùng với người biên đội trưởng, biên đội bất ngờ, bí mật cất cánh từ sân bay dã chiến Kiến An, đưa những chiếc MiG-17 vào trận “tiếp đón” các máy bay của hải quân Hoa Kỳ vào đánh cảng Hải Phòng. Bảy tiếp cận một chiếc F-8C của Phi đội 24 và dùng khẩu cà-nông 37mm của mình bắn nó vỡ tan thành từng mảnh. Chiếc F-8C số hiệu 146915 do thiếu tá hải quân E.J.Tucker bốc cháy và vỡ vụn. E.J.Tucker nhảy dù và bị bắt (nhưng sau đó chết trong khi bị giam). Những chiếc F-4B của Phi đội 114 hộ tống tìm cố gỡ bàn bằng cách lao vào công kích Bảy, nhưng người trợ thủ của Bảy, Nguyễn Thế Hơn đã kịp báo cho anh, Bảy tài tình ngoặt gấp tránh được tất cả những cú phóng tên lửa của máy bay Mỹ. Sau đó chính anh lại lao chiếc MiG-17 Fresco của mình về phía một chiếc F-4 Con Ma, hạ nó bằng pháo (Tổ bay, các thiếu tá hải quân C.E. Southwick và Ens. J.W. Land nhảy dù và được cứu, vẫn nghĩ rằng mình bị bắn rơi bởi pháo cao xạ phòng không). Ngày hôm sau 25 tháng Tư, biên đội của Bảy lại tiếp tục ghi bàn, bắn hạ hai chiếc A-4 mà chẳng bị thiệt hại gì. Cả hai chiến công của họ đều được xác nhận chính thức bởi Hải quân Hoa Kỳ: chiếc A-4C số hiệu 147799 trung úy Stackhouse (bị bắt làm tù binh) – rơi xuống trước mũi súng của Bảy và chiếc thứ hai, chiếc A-4C số hiệu 151102, lái bởi trung úy hải quân A.R. Crebo (được cứu thoát). Bảy được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng quân đội vì kỹ thuật bay và tinh thần dũng cảm trong chiến đấu, và cả do sự chỉ huy biên đội tài tình. Đầu năm 1972, Bảy cùng với người đồng đội Lê Xuân Di được các chuyên gia Cuba huấn luyện trong chống tàu chiến, và họ quả là những học trò giỏi. Ngày 19 tháng Tư năm 1972, họ tấn công hai chiếc Khu trục hạm USS Oklahoma City và Highbee, đang làm nhiệm vụ pháo kích thành phố Vinh. Trong khi Bảy bắn bị thương nhẹ chiếc thứ nhất, Lê Xuân Di đã thả một quả bom 500 bảng (hơn 200 kg) BETAB-250 trúng tháp chỉ huy phía sau chiếc thứ hai. Đây là trận bị tấn công từ trên không đầu tiên của Hạm đội Bảy Hải quân Hoa Kỳ kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới 2. Nguyễn Đức Soát Một trong những khả năng xuất sắc của Không quân Việt Nam là việc các phi công thành công có thể truyền kinh nghiệm của mình cho các phi công trẻ. Đó là trường hợp của Nguyễn Đức Soát. Là một phi công tiêm kích MiG-21 trẻ măng của Trung đoàn 921, và thày giáo của anh chính là những phi công “nóng” nhất của Không quân Việt Nam: Phạm Thanh Ngân (hạ 8 chiếc) và “con người siêu phàm” Nguyễn Văn Cốc (9 trận thắng). Soát không cần gì nhiều hơn thế nữa. Trong khi còn chưa lập được chiến công, anh thu thập kinh nghiệm cho mình. Tham gia vào thành phần Trung đoàn không quân tiêm kích 927, khi chiến dịch “Linebacker I” bắt đầu tháng Năm năm 1972, Soát đã hoàn toàn sẵn sàng “trình diễn” những kỹ năng của mình. Ngày 23 tháng Năm, anh “ghi bàn” lần đầu tiên, bắn hạ chiếc A-7B Corsair II của Hải quân Hoa Kỳ bằng pháo 30mm. Phi công Charles Barnett bị chết. Ngày 24 tháng Sáu, hai chiếc MiG-21 của Nguyễn Đức Nhu và Hà Vinh Thanh cất cánh ở sân bay Nội Bài vào lúc 15 giờ 12 phút để đánh chặn một tốp Con Ma lên không kích nhà máy gang thép Thái Nguyên. Đội hình hộ tống Mỹ nhanh chóng phản ứng và nghênh chiến. Nhưng hai chiếc MiG đó chỉ là mồi nhử, vì bất ngờ hai chiếc MiG-21PFM của Trung đoàn 927 xuất hiện: Nguyễn Đức Soát (biên đội trưởng hai chiếc) và Ngô Duy Thu (hộ vệ), lao từ đâu tới tấn công đội hình F-4 hộ tống. Bắn bằng quả tên lửa không đối không có đầu dẫn nhiệt R-3S Atoll, Soát hạ chiếc F-4E của David Grant và William Beekman, Thu cũng hạ một chiếc Con Ma khác. ![]() Nguyễn Đức Soát đã hạ được vài chiếc F-4 của Không lực Hoa Kỳ trên chiếc MiG-21PFM Fishbed số hiệu 5020 này Ba ngày sau, Soát và Thu lại kín đáo cất cánh từ sân bay Nội Bài vào 11 giờ 53 phút để đánh chặn một tốp 4 chiếc F-4, nhưng vẫn biết rằng còn có 8 chiếc Con Ma khác đang bay tới, họ không thể bị “mắc kẹt”(2) lại ở giữa hai tốp đó. Họ ngoặt lại, vọt lên độ cao 5000 mét và chờ đợi. Sự kiên nhẫn đã được đền đáp, họ “túm” được cặp F-4 đi sau cùng. Cả Soát và Thu đều mỗi người hạ một chiếc bằng tên lửa R-3. Hai phi công Mỹ “nạn nhân” của Soát là Miller và McDow bị bắt làm tù binh. Ngày 26 tháng Tám 1972, Nguyễn Đức Soát lập công xuất sắc bắn hạ một chiếc Con Ma duy nhất của Lực lượng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Sỹ quan chống rađa của chiếc F-4J được cứu nhưng người phi công xấu số Sam Cordova thì thiệt mạng. Soát ghi chiến công cuối cùng của mình vào ngày 12 tháng Mười năm 1972, khi anh “giật phăng” khỏi bầu trời chiếc F-4E của Myron Young và Cecil Brunson (bị bắt làm tù binh). Cùng với Nguyễn Văn Cốc và các phi công cựu chiến binh khác của Không quân nhân dân Việt Nam, Soát là một huyền thoại sống bởi những chiến công dũng cảm và kỹ thuật bay tuyệt vời của mình hơn ba mươi năm trước. (1) Duke: công tước, tiếng lóng: nắm đấm (2) Nguyên văn: bị kẹp như giữa hai miếng sandwitch Tám huy hiệu của Bác Hồ tặng Thượng tướng Phạm Thanh Ngân … Trong cuộc đời binh nghiệp của tướng Phạm Thanh Ngân, có một điều khá thú vị là phần lớn những kỷ vật của ông đều gắn với những kỷ niệm về Bác Hồ: Ông được Bác Hồ tặng tám chiếc huy hiệu, vì tám lần bắn rơi tám chiếc máy bay. Ông cũng là một trong những Anh hùng không quân được trực tiếp gặp Bác Hồ, được Bác tặng chiếc đồng hồ có khắc chữ ở mặt sau “Bác Hồ tặng Phạm Thanh Ngân, tháng 12 năm 1968”... … Phạm Thanh Ngân bắt đầu tham gia chiến đấu từ tháng 6 năm 1966, khi địch đánh kho xăng Đức Giang ( Hà Nội) và Thượng Lý (Hải Phòng)…mở đầu bước leo thang mới đánh phá hệ thống xăng dầu và Thủ đô Hà Nội. Lúc đầu Phạm Thanh Ngân rất bỡ ngỡ, vì ngay cả ở dưới mặt đất còn chưa đánh địch bao giờ huống chi đánh chúng ở trên trời. Được đồng chí Trần Hanh truyền đạt cho một số kinh nghiệm, nhưng khi gặp địch trận đầu, địch rất đông, gấp hàng chục lần máy bay của ta, lần đầu tiên tham gia chiến đấu, Ngân không bắn rơi được máy bay Mỹ nào. Đến khoảng tháng 10, tháng 11 năm 1967, Phạm Thanh Ngân tham gia các trận chiến đấu dồn dập hơn. Lại được Nguyễn Văn Cốc bay cùng. Hai người thường bay yểm hộ cho nhau. Máy bay Mỹ mỗi khi đi đánh phá miền Bắc, tốp đi đầu là bọn cường kích F-105, theo sau là máy bay F-4, F-4C để yểm hộ. Thời gian đầu, Phạm Thanh Ngân không bắn được máy bay cường kích của địch. Mục tiêu lúc đó đặt ra là phải làm sao bắn rơi được bọn cường kích để chúng không ném bom phá hoại miền Bắc được, nhất là Hà Nội. Trận ngày 18 tháng 11 năm 1967, Phạm Thanh Ngân phối hợp với tên lửa đánh một trận rất hay. Hôm đó một tốp máy bay của địch gồm 12 chiếc F-105 và 4 chiếc F-4 bám sau, xuất hiện trên bầu trời Yên Bái- Phú Thọ. Chúng bay từ Thái Lan sang, vòng xuống núp sau dãy núi Tam Đảo hướng vào Hà Nội. Sau khi phát hiện mục tiêu, Ngân nhanh chóng thông báo và lệnh cho máy bay số 2 công kích tốp cường kích bên phải còn mình xông thẳng vào tốp bên trái, mặc dù biết phía sau máy bay F-4 của địch đang bám theo. “Tôi đột ngột tăng tốc độ, phóng một quả tên lửa thứ nhất vào tốp đi đầu, sau ít giây, máy bay địch bốc cháy. Lúc này tốc độ tiếp cận rất lớn, tôi cho máy bay vọt lên rồi phóng quả tên lửa số 2 tiêu diệt chiếc F-105 thứ 2 của địch. Cùng lúc, máy bay số 2 cũng phóng tên lửa vào tốp máy bay bên phải, một máy bay địch trúng đạn bốc cháy”, ông nhớ lại. Trận đó biên đội của Ngân bắn rơi 3 chiếc, tên lửa đối không của ta cũng hạ được 6 chiếc, trong đó có một chiếc F-105 do một tên đại tá phi công Mỹ lái. Đây là trận đánh hiệp đồng tuyệt đẹp của không quân và tên lửa phòng không. Trong 2 ngày tiếp theo, biên đội của Ngân bắn rơi thêm 2 chiếc nữa...”. Với thành tích bắn rơi 8 máy bay Mỹ, chỉ huy đơn vị bắn rơi 8 chiếc khác, Phạm Thanh Ngân được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang năm 1969. Từ năm 1989 đến năm 1996, ông là Tư lệnh Quân chủng Không quân. Từ năm 1998 đến năm 2001, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Chinh trị. Khi đã là Uỷ viên Bộ Chính trị, Thượng tướng- Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông vẫn nhớ như in những ngày tháng chiến đấu oanh liệt đó. Hiện ông là Trưởng ban chỉ đạo tổng kết chiến lược về quân sự và quốc phòng trực thuộc Bộ Chính trị. Thượng tướng Phạm Thanh Ngân hồi tưởng: “Tôi kể xong, bác Phạm Văn Đồng hỏi tiếp: “Thế đồng chí lái được loại máy bay gì?” Tôi trả lời: “Thưa Bác, cháu lái được MIG 17 và MiG-21”. Bác Đồng lại hỏi: “Thế đồng chí lái máy bay nào tốt hơn”. Tôi trả lời: “Thưa bác, cháu lái máy bay MiG-21 tốt hơn ạ!”. Bác Đồng lại hỏi: “Thế đồng chí bay được bao nhiêu giờ rồi?”. Tôi đáp: “Thưa, được khoảng 200 giờ ạ!”. Thế số anh em mới về lái có tốt không?. Tôi trả lời: “Dạ thưa, số anh em mới về trẻ, khoẻ có kiến thức nhưng chưa có kinh nghiệm thực tiễn. Các đồng chí ấy tương lai sẽ rất giỏi ạ !”... (Bá Kiên - Trần Dương) Bảo vệ cầu Long Biên … Không quân Nhân dân Việt Nam đã cất cánh hàng trăm lần chiếc, chiến đấu bảo vệ Hà Nội, bảo vệ cầu Long Biên. Tôi nhớ mãi trận đánh bảo vệ Hà Nội ngày độc lập 2-9-1972. Hôm đó, chúng tôi được phổ biến, bọn Mỹ sẽ tổ chức đánh lớn Thủ đô Hà Nội, nhằm phá hoại ngày lễ độc lập của ta. Mới sáng sớm, hai chiếc F-4 đã lượn qua Hòa Bình- Mộc Châu. Tàu cấp cứu, trực thăng, được lệnh tiến vào khu vực cứu nạn, 10 giờ 30 phút, máy bay mang bom xuất hiện. Biên đội hai chiếc MiG- 21 cất cánh từ sân bay Nội Bài chặn địch ở hướng Tây Nam, một biên đội MiG-19 do Hoàng Cao Bổng và Nguyễn Văn Quảng cất cánh ra khu vực Việt Trì. Địch vào rất đông. Nhưng hai gọng kìm của Không quân ta với lợi thế cơ động, bất ngờ đã băm nát đội hình của địch, hai chiếc MiG- 21 thu hút toàn bộ tiêm kích hướng về Hoà Bình. ở Việt Trì, 12 chiếc F-4 mang bom từ phía Tây theo đường số 2 tiến vào Hà Nội, gặp biên đội MiG - 19, đã chờ sẵn. Trong chớp mắt, ngay loạt đạn đầu, Hoàng Cao Bổng bắn rơi một chiếc F-4. Bọn Mỹ thả bom khẩn cấp, trở thành những chiếc tiêm kích không chiến với MiG-19. Bổng yểm hộ cho Quảng quần nhau với bọn Mỹ. MiG- 19 nhiều lần tiếp cận, chiếm được góc trong, nhưng không bắn được. Cuộc không chiến ác liệt, không gian như nứt ra, bọn Mỹ quyết bắn rơi MiG - 19. Nhưng, hai chiếc MiG của ta yểm hộ nhau rất tốt. Chớp thời cơ một chiếc F-4 lỏng tay lái, Nguyễn Văn Quảng đè đầu chiếc F-4D, xả một tràng đạn cắt chiếc F-4D làm hai tên giặc lái không kịp nhảy dù… (Lê Thành Chơn) |
|
| Last Updated ( Saturday, 08 March 2008 ) |
| < Prev | Next > |
|---|
















