Trích trong tác phẩm "Lịch sử chiến tranh" của Geofrey Parker. Xét ở tầm mức chiến thuật thì đã từ nhiều thế kỷ, người địa phưưong La Mã của bán đảo Ý đã đưa vào sử dụng đội hình phalanx của người ETrusque thưở xưa, một đội hình đã được vay mượn từ người Hy Lạp. Thật vậy, lịch sử...........
Trích trong tác phẩm "Lịch sử chiến tranh" của Geofrey Parker. Xét ở tầm mức chiến thuật thì đã từ nhiều thế kỷ, người địa phưưong La Mã của bán đảo Ý đã đưa vào sử dụng đội hình phalanx của người ETrusque thưở xưa, một đội hình đã được vay mượn từ người Hy Lạp. Thật vậy, lịch sử La Mã cho thấy người dân nứoc này bị mê hoặc bởi đội hình phalanx và sự linh động- chứ không phải một lực lượng bình dị - cùng với thanh đoản kiếm, chứ không phải giáo, tạo ra một sức mạnh hủy diệt cho bộ binh La Mã. Khi so sánh đạo binh La Mã với đội hình phalanx, Polibius kết luận rằng :" đạo binh La Mãcó thể thích nghi ở mọi nơi mọi lúc và cho bât cứ mục tiêu nào".................. Tuy vậy, sự hình thành của đạo binh chỉ xuất hiện ở Ý trong trong thời gian từ thế kỷ thứ 4 và thứ 3 trước công nguyên. Trước đó, những mặt hạn chế của đội hình phalanx La Mã càng lộ rõ khi Rome từ tốn bành trướng qua bán đảo Ý và đội hình này cần thấy cần phải thích nghi với lực lượng của nó với những đội quân khác nhau của miền Bắc, Đông, và Nam Do đó, sự hình thành theo hàng dọc của đội hình phalax La Mã dần dà bị bẻ vỡ thành những đơn vị chiến thuật nhỏ gọi là maniples ( tiểu đoàn). Song song với đội fhinh mới mẻ, chuyển động nhanh và linh động này, người lính bộ binh La Mã từ bỏ giáo và khiên tròn rộng lớn để sự dụng loại khiên chữ nhật uốn cong, lao, cùng với kiếm ngắn 2 lưỡi. Vào thế kỷ thưứ 2 trước CN, khi LM đối đáu với quân Hellens Hy Lạp, một đạo binh La Mã gồm khoảng 4200 bộ binh và 300 kỵ binh, chia thành 3 tuyến liên tiếp gồm 10 Maniples, mỗi maniples cách xa maniples khắc bằng chiều rộng của đội hình nó. Như thế mỗi tuyến có 10 đơn vị độc lập - ít nữa là trước khi lao vào quân thù - có khoảng cách thoấng rộng ở 2 bên hông cùng phía trước và sau. Trên bình diện tổ chức, người lính bộ binh La Mã được kết nạp vào đạo binh (Legion) thành từng đại đội ( centuries ) gồm khoảng từ 60 đến 70 chủ nông trang được lãnh đạo bởi một đại đội trưởng (Centurion) thành thạo. 2 đại đội cùng chiến đấu trong một maniples, đại đội này sát cánh với đại đội kia. Sau những cuộc giao tranh ngắn ngủi đầu tiên giữa khinh binh và kỵ binh, thì tuyến đầu của mười maniples, cái gọi là Hastati, sáp đến gần đối phương từ khoảng cách 50 đến 100 m và phóng lao liên tục vào đối phương khi đến gần khảong 30 m. Với kiếm và khiên, lực lượng này chạy theo hướng lao đã phóng ra để xông vào quân thù đang choáng váng vì thương tích. Như thế là tuyến đầu của hàng rào phòng thủ của địch quân đã bị kết thúc trong kinh hoàng, tựa như lỗi đánh của ngừoi lính bộ binh có võ trang khiên giáo xưa, nhưng lần này thanh đoản kiếm giúp cho đội quân không giáo của La Mã dễ dàng xâm nhập vào đội hình của quân thù và xắt mỏng phần chân tay để lộ của kẻ địch. Đến điểm này những chiến binh sử dụng kiếm của người La Mã, những Principes tiến lên theo - nếu quân thù có thể vùng vẫy chống cự thì những principes này trở thành một lực lượng dự phòng riêng lẻ, một đợt sóng thứ 2, tấn công vào đối phương, với đoản kiếm trên tay, khi tuyến đầu gồm những Hastati mệt lã đã rút lui qua những khoảng trống của các maniples đang tiến lên. Tuyến thứ 2 gồm những princepes, những tay kiếm thành thạo và gan lỳ của đạo binh, phá vỡ sự cố kết của quân thù.. Nhưng nếu không làm được điều đó, hàng quân thứ 3 và là hàng quân sau cùng, gọi là Triarii đang chờ sẵ, với hàng lính quỳ gối, che chở bởi khiên, giáo giuơng dài. Vững như đá, cả 10 đại đội đó đang dõi theo bất cứ sự chộn rộn nào xảy ra ở 2 tuyến trước để chống đỡ. Nếu đạo binh thực sự lâm nguy, những chiến binh tuyến đàu và Principes có thể tách rời nhau để len qua những đôi quân hình chữ nhật che chắn gồm những triarii để về doanh trại có hàng rào cọc nhọn bao quanh. Tuy vậy thường khi theo đà chiến thằng của đạo binh La Mã, tuyến quân triarii cũng thận trọng tiến lên và giáng xuống những cú ân huệ cho những quân thù lạc ngũ hay những đọi ngũ bị tan rã và quân thù giờ đây càng khiếp sợ hơn khi trông thấy một tuyến quân mới đội ngột trỗi lên với quân số đông đảo. Tương tự như đội hình phalanx, đội hình này cũng được bảo vệ ở cánh sườn bởi kỵ binh và khinh binh. __________________ People killing People dying Children hurt and women crying Will you practice what you preach And would you turn the other cheek Father father father, help us Need some guidance from above These people got me got me questioning Where is the love? Black Eye Pea  31-05-2007, 00:11 |  | Tử Tù | | Tham gia ngày: 05-01-2007 Bài gởi: 910 | | Trích Wiki. Bác 4eyes tả khó hình dung quá. Mà thấy hình như hơi rườm rà. Đội hình này sinh ra vào thời Cộng Hòa, sau khi Rome bị rợ Gaul vượt dãy Alpes và xông vào Rome đánh phá như chỗ không người. Kể sơ về lịch sử La Mã, do bác eskimot09 sưu tầm và dịch La Mã là 1 quốc gia quân sự và nó cai trị lãnh thổ mênh mông của mình bằng cách duy trì 1 lực lượng quân sự mạnh trên nhiều nước nó chiếm đóng. Là 1 chủng tộc thông minh, người La Mã dành rất nhiều trí tuệ của họ cho việc xây dựng chiến thuật, công nghệ, tổ chức và luật lệ quân sự, tất cả dành cho việc duy trì cái thế giới rộng lớn họ đã dựng lên. Nhưng La Mã được biết đến không chỉ vì thiên tài quân sự và tổ chức mà còn vì văn hóa. Quần thể văn hóa La Mã chỉ kém chút ít không đáng kể so với Hy Lạp, nơi đã bắt đầu thể chế nhà nước vài thế kỷ trước Cộng hòa La Mã. Văn hóa La Mã có nhiều cái bắt nguồn từ Hy Lạp: nghệ thuật, kiến trúc, triết học và tôn giáo. Tuy nhiên, người La Mã đã làm biến đổi nhiều thứ văn hóa này bằng việc làm nó trở nên thích nghi với thế giới quan và nhu cầu riêng của họ. Thứ văn hóa biến đổi này sau đó được truyền bá đến các cộng đồng dân cư châu Âu thời cổ đại và phục hưng. Chúng ta gần như không biết gì về những cư dân đầu tiên của La Mã. Những người đầu tiên là người Cro-Magnons, nhưng đến thời đồ đá mới, họ dường như bị thay thế bởi những người di trú đến từ Châu Phi, Tây Ban Nha, và Pháp. Những người này sau đó lại bị thay thế bởi làn sóng người di trú trong thời kỳ đồ đồng, bắt đầu ở khu vực này khoảng năm 1500 trước công nguyên. Cộng đồng mới này đến từ các vùng đất bên kia dãy Alps và vượt biển Adriatic tới phía Đông của bán đảo Italia. Họ là những người du cư, chăn nuôi gia súc và sở hữu phương tiện sx cao. Họ đúc đồng, cưỡi ngựa và có xe ngựa. Họ là những người thiện chiến và bắt đầu định cư tại các vùng cao trên bán đảo Italia. Ngày nay chúng ta gọi họ là người Italic, gồm nhiều dân tộc khác nhau: người Sabine, người Umbrian, người Latinh và rất nhiều nữa. Vào khoảng năm 700-800 trước công nguyên, hai nhóm cư dân mới bắt đầu xâm chiếm bán đảo Italia. Không giống những người nhập cư trước đó, những người khai hoang mới này mang tới cùng họ nền văn minh Hy Lạp và Etruscans. NGƯỜI ETRUSCANS [n2] Các nhà khảo cổ học cho rằng người Etruscans đến từ phía đông Địa Trung Hải, có thể là từ tiểu vùng châu Á. Dù gì đi nữa chúng ta sẽ khôgn bao giờ biết họ thật sự đến từ đâu và tại sao họ chiếm cứ Italy. Nhưng chúng ta biết rõ rằng khi họ đến Italy, họ đã mang theo cùng với họ nền văn minh và đô thị hóa. Họ đặt nền móng xã hội ở Đông Bắc Italy, giữa dãy núi Appenine và biển Tyrrhenian. Trong khi người Etruscans đang rất bận rộn với việc xây dựng quyền lực ở các vùng đất ngoài Italy, và với các hoạt động buôn bán tấp nập với phía Đông và với Châu Phi, thì một thành phố ở phía Nam của họ bắt đầu lớn mạnh nhanh chóng. Thành phố này mô phỏng người Etruscans ở rất nhiều mặt. Nó có tên Vương quốc La Mã. VƯƠNG QUỐC LA MÃ[n3] Theo các nhà khảo cổ, La Mã được thanh lập vào khoảng năm 753 trước công nguyên bởi những người Italic sống ở phía nam sông Tiber. Sự phát triển của xã hội La Mã là sự mô phỏng xã hội láng giềng Etruscans ở phía Nam. Thể chế nhà nước ban đầu của La Mã là thể chế quân chủ được xây dựng trên nền tảng xã hội bộ lạc. Trong xã hội khởi thủy này, người đàn ông có quyền quyết định và là thầy tế trong gia đình. Tuy nhiên quyền lực của Quốc vương được giới hạn và kiểm soát bởi một hiến pháp mà ông ta không được phép thay đổi. Hiến pháp này do Viện nguyên lão (VNL) và quốc hội lập ra. Viện nguyên lão là hội đồng gồm các trưởng lão, là thủ lĩnh của các thị tộc khác nhau, là 1 hình thức liên minh các thị tộc. VNL có quyền chấp thuận và phủ quyết việc bổ nhiệm quốc vương, có quyền kiểm tra và phán quyết tính hợp hiến và tuân theo truyền thống của các luật lệ và hành động của quốc vương. Sự phát triển sức mạnh và tầm ảnh hưởng của La Mã làm của cải tập trung vào 1 bộ phận nhỏ và khiến xã hội phân chia thanh 2 giai cấp: quý tộc và bình dân Dưới thời quân chủ, La Mã mở rộng tầm kiểm soát đáng kể đến các địa hạt chung quanh. Thể chế quân chủ bản thân nó được thành lập với mục đích mang đến sự ổn định và an toàn. Việc xâm chiếm các địa giới chung quanh không có nghĩa rằng La Mã thèm muốn đất đai và của cải của những nơi này mà dường như là bởi mối lo đối với sự đe dọa đến từ các cư dân chung quanh. Tuy nhiên, việc mở rộng địa giới của La Mã đã thu hút sự chú ý của người láng giềng Etruscans hùng mạnh ở phía Bắc. Chế độ quân chủ La Mã rơi vào tay người Etruscans vào giữa thế kỷ 6 trước công nguyên. Người La Mã chống lại 1 cách cay đắng. Cuối cùng, khi 1 hoàng tử của Etruscans thuộc gia đình Tarquins đang cai trị La Mã cưỡng bức vợ của 1 quý tộc (sự kiện này có được nhắc đến trong sử liệu của nhà sử học Livy nhưng nhiều người cho rằng đây có lẽ chỉ là 1 câu chuyện hư cấu), dân La Mã đã nổi dậy đánh đổ quyền lực của Tarquins năm 509 trước CN. Nền văn minh Etruscans bắt đầu đi xuống từ đây. NỀN CỘNG HÒA LA MÃ[n4] Sau khi Junius Brutus lật đổ vương triều Tarquin năm 509 trước CN, La Mã bước vào kỷ nguyên của nền cộng hòa, thể chế cai trị bởi Viện nguyên lão và quốc hội. Lịch sử của Cộng hòa La Mã là lịch sử của những cuộc chiến tranh. Tất cả các câu chuyện lịch sử người La Mã sẽ dùng như là minh chứng cho các ưu điểm và giá trị La Mã đều bắt đầu từ giai đoạn dữ dội này, giai đoạn của các cuộc xâm lược và bảo vệ đất nước. Trước nay, hiến pháp của La Mã không tồn tại chính thức hay được viết ra thành văn bản mà là một loạt các giá trị và luật bất thành văn. Nó được định ra trên cơ sở của 1 vương triều trong quá khứ, bởi vậy dù không khôi phục nền quân chủ, người La Mã vẫn dành những quyền lực to lớn cho các quan chức. Ở vị trí cao nhất là hai quan chấp chính, được bầu cử hàng năm trong số những nhà quý tộc. Cũng giống với các quốc vương trong thời quân chủ, 2 quan chấp chính đưa ra luật pháp, nắm giữ tòa án, quân đội và vị trí trưởng tế của quốc gia. Phục sức của họ giống với các vị vua trong quá khứ, áo choàng tía và ngồi trên ghế truyền thống dành riêng cho nhà vua. Tuy nhiên, quyền lực của họ đã bị hạn chế rất nhiều. Với việc quyền lực hoàn toàn tập trung trong tay giới quý tộc, thể chế cộng hòa La Mã lúc bắt đầu là 1 hình thức chuyển giao quyền lực từ quốc vương sang tầng lớp giàu có nhất La Mã. Tính chất thống trị của luật pháp, hệ thống tài chính, và chính sách ngoại giao thiết lập bởi giới quý tộc ngay lập tức đưa đến sự oán giận của tầng lớp bình dân. Từ lúc bắt đầu năm 509 trước CN cho đến lúc tan rã trong tay Caesar vào giữa thế kỷ thứ nhất trước CN, lịch sử chính trị của Cộng hòa La Mã là 1 mớ hỗn độn, và thường xuyên xung đột giữa hai tầng lớp dân chúng muốn tranh giành quyền lực chính trị. Năm 494 trước CN, những người lao động rời khỏi La Mã và chiếm 1 vùng núi thiêng. Tại đây, họ thành lập 1 chính phủ mới, 1 tổ chức có hình thức bộ lạc kiểu cũ, đứng đầu là các quan bảo mẫu (những người lãnh đạo bộ tộc của họ). Họ công khai phủ quyết các quyết định của giới quan chức La Mã và luật pháp của Viện nguyên lão. Cùng thời gian này, và với tính chất tự phát tương tự, họ tiến hành mở rộng lãnh thổ của mình. Thoạt đầu, các cuộc chiến do những người cộng hòa tiến hành chủ yếu có tính chất phòng ngự vì việc lật đổ vương triều Tarquins đã dẫn đến nhiều cuộc tấn công của người Etruscans và các đồng minh nhằm vào La Mã. Nhưng không lâu sau đó, La Mã chuyển sang việc tấn công giành quyền kiểm soát lãnh thổ của những người láng giềng nhằm triệt tiêu hiểm họa bị tấn công. Logic của La Mã là việc kiểm soát các lãnh thổ chung quanh sẽ ngăn ngừa được bất cứ cuộc tấn công nào từ cư dân trên các lãnh thổ này đồng thời tạo ra 1 vùng đệm an toàn cho La Mã với những kẻ tấn công đến từ xa. Chính sách xâm lược của La Mã bởi vậy tiếp tục được duy trì vì lý do an toàn của bản thân họ. Kết quả cuối cùng của quá trình này là việc giành quyền kiểm soát toàn bộ bán đảo Italia năm 265 trước CN, và sau đó là cả thế giới. Có thể nói rằng đế chế La Mã là 1 sự ngẫu nhiên, nó được hình thành trong quá trình theo đuổi 1 chính sách có tên: sự an toàn. Chỉ đến giai đoạn cuối của quá trình này, Đế chế La Mã mới trở thành 1 mục tiêu rõ ràng CHINH PHỤC ITALY[n5] Cuộc chinh phục Italy được bắt đầu ngay sau khi người La Mã trục xuất vương triều Tarquins năm 509 trước CN với mục tiêu đầu tiên chính là lãnh thổ của người Etruscans. Liên minh với các tộc Latinh khác và với Hy Lạp, La Mã từng bước vững chắc chinh phục lãnh thổ Etruscans trong suốt 2 thế kỷ 5 và 4 trước CN. Người Etruscans bị đuổi ra khỏi bán đảo Italy. Nền văn minh Etruscans đến đây chấm dứt. Tuy nhiên, cuộc chinh phục Italy của người La Mã bất ngờ bị gián đoạn bởi cuộc xâm lược của bộ tộc Gaul (phần đất châu âu cổ gồm Pháp, bắc Hà Lan và 1 phần Thụy Sĩ), du cư và thiện chiến đến từ bên kia dãy Alps. Năm 387 trước CN, người Gaul vượt dãy Alps, nhanh chóng đánh bại quân đội và thiêu hủy La Mã. Tuy nhiên, người Gaul không có ý định định cư tại Italy, họ chỉ quan tâm đến của cải của La Mã. Họ cướp phá La Mã, yêu cầu cống nạp, và sau khi đã thu thập đủ thì quay về đất của họ ở trung tâm châu Âu. La Mã lúc này suy kiệt và nhiều cư dân họ đã chinh phục trên bán đảo Italy quay lại tấn công họ. Tuy nhiên, đến năm 350 trước CN, La Mã đã hồi phục mạnh mẽ đủ để lập lại vị thế ở các vùng đất nói trên. Trước đó, như 4eyes nói, bộ binh La Mã cầm khiên tròn, giáo dài, xài phalanx bắt chước Hy Lạp. Thế rồi khi bị Gô Loa cho 1 trận, La Mã ý thức được rằng, không cải tổ đồng nghĩa với đám rợ lại xông xuống phía Nam cho Italy một phát toi luôn, vì vậy, La Mã bắt đầu chuyển sang cầm 2 cây lao, 1 cây ngắn 1 cây dài, 1 thanh gradius(kiếm ngắn) mà nhiều người bảo là bắt chước bên Tây Ban Nha, và 1 cái khiên chữ nhật bự khủng khíêp. Trong khi hầu hết các nơi cầm khiên tròn, nhỏ thì La Mã cầm khiên cực lớn, che gần hết người, đây là cuộc cách mạng dẫn tới nhiều đội hình, nhiều cách đánh, nhiều chiến thuật tung hòanh khắp Châu Âu của Đế Quốc La Mã - The Roman Empire. Tui sẽ kể sau. Nếu Rợ khôn hơn đc 1 chút mà giết sạch đối phương thì khỏe quá, anh em nhỉ  Lịch Sử thế giới sẽ đi theo 1 kiểu hòan tòan khác, và chắc có thể Việt Nam ta ko còn tồn tại đâu. Sau cái đợt này, nền Cộng Hòa mới nghĩ ra cái đội hình Checkerboard hay còn gọi là Đội Hình Bàn Cờ. Trích trong tác phẩm "Lịch sử chiến tranh" của Geofrey Parker. Xét ở tầm mức chiến thuật thì đã từ nhiều thế kỷ, người địa phưưong La Mã của bán đảo Ý đã đưa vào sử dụng đội hình phalanx của người ETrusque thưở xưa, một đội hình đã được vay mượn từ người Hy Lạp. Thật vậy, lịch sử La Mã cho thấy người dân nứoc này bị mê hoặc bởi đội hình phalanx và sự linh động- chứ không phải một lực lượng bình dị - cùng với thanh đoản kiếm, chứ không phải giáo, tạo ra một sức mạnh hủy diệt cho bộ binh La Mã. Khi so sánh đạo binh La Mã với đội hình phalanx, Polibius kết luận rằng :" đạo binh La Mãcó thể thích nghi ở mọi nơi mọi lúc và cho bât cứ mục tiêu nào".................. Tuy vậy, sự hình thành của đạo binh chỉ xuất hiện ở Ý trong trong thời gian từ thế kỷ thứ 4 và thứ 3 trước công nguyên. Trước đó, những mặt hạn chế của đội hình phalanx La Mã càng lộ rõ khi Rome từ tốn bành trướng qua bán đảo Ý và đội hình này cần thấy cần phải thích nghi với lực lượng của nó với những đội quân khác nhau của miền Bắc, Đông, và Nam Do đó, sự hình thành theo hàng dọc của đội hình phalax La Mã dần dà bị bẻ vỡ thành những đơn vị chiến thuật nhỏ gọi là maniples ( tiểu đoàn). Song song với đội fhinh mới mẻ, chuyển động nhanh và linh động này, người lính bộ binh La Mã từ bỏ giáo và khiên tròn rộng lớn để sự dụng loại khiên chữ nhật uốn cong, lao, cùng với kiếm ngắn 2 lưỡi. Vào thế kỷ thưứ 2 trước CN, khi LM đối đáu với quân Hellens Hy Lạp, một đạo binh La Mã gồm khoảng 4200 bộ binh và 300 kỵ binh, chia thành 3 tuyến liên tiếp gồm 10 Maniples, mỗi maniples cách xa maniples khắc bằng chiều rộng của đội hình nó. Như thế mỗi tuyến có 10 đơn vị độc lập - ít nữa là trước khi lao vào quân thù - có khoảng cách thoấng rộng ở 2 bên hông cùng phía trước và sau. Trên bình diện tổ chức, người lính bộ binh La Mã được kết nạp vào đạo binh (Legion) thành từng đại đội ( centuries ) gồm khoảng từ 60 đến 70 chủ nông trang được lãnh đạo bởi một đại đội trưởng (Centurion) thành thạo. 2 đại đội cùng chiến đấu trong một maniples, đại đội này sát cánh với đại đội kia. Sau những cuộc giao tranh ngắn ngủi đầu tiên giữa khinh binh và kỵ binh, thì tuyến đầu của mười maniples, cái gọi là Hastati, sáp đến gần đối phương từ khoảng cách 50 đến 100 m và phóng lao liên tục vào đối phương khi đến gần khảong 30 m. Với kiếm và khiên, lực lượng này chạy theo hướng lao đã phóng ra để xông vào quân thù đang choáng váng vì thương tích. Như thế là tuyến đầu của hàng rào phòng thủ của địch quân đã bị kết thúc trong kinh hoàng, tựa như lỗi đánh của ngừoi lính bộ binh có võ trang khiên giáo xưa, nhưng lần này thanh đoản kiếm giúp cho đội quân không giáo của La Mã dễ dàng xâm nhập vào đội hình của quân thù và xắt mỏng phần chân tay để lộ của kẻ địch. Đến điểm này những chiến binh sử dụng kiếm của người La Mã, những Principes tiến lên theo - nếu quân thù có thể vùng vẫy chống cự thì những principes này trở thành một lực lượng dự phòng riêng lẻ, một đợt sóng thứ 2, tấn công vào đối phương, với đoản kiếm trên tay, khi tuyến đầu gồm những Hastati mệt lã đã rút lui qua những khoảng trống của các maniples đang tiến lên. Tuyến thứ 2 gồm những princepes, những tay kiếm thành thạo và gan lỳ của đạo binh, phá vỡ sự cố kết của quân thù.. Nhưng nếu không làm được điều đó, hàng quân thứ 3 và là hàng quân sau cùng, gọi là Triarii đang chờ sẵ, với hàng lính quỳ gối, che chở bởi khiên, giáo giuơng dài. Vững như đá, cả 10 đại đội đó đang dõi theo bất cứ sự chộn rộn nào xảy ra ở 2 tuyến trước để chống đỡ. Nếu đạo binh thực sự lâm nguy, những chiến binh tuyến đàu và Principes có thể tách rời nhau để len qua những đôi quân hình chữ nhật che chắn gồm những triarii để về doanh trại có hàng rào cọc nhọn bao quanh. Tuy vậy thường khi theo đà chiến thằng của đạo binh La Mã, tuyến quân triarii cũng thận trọng tiến lên và giáng xuống những cú ân huệ cho những quân thù lạc ngũ hay những đọi ngũ bị tan rã và quân thù giờ đây càng khiếp sợ hơn khi trông thấy một tuyến quân mới đội ngột trỗi lên với quân số đông đảo. Tương tự như đội hình phalanx, đội hình này cũng được bảo vệ ở cánh sườn bởi kỵ binh và khinh binh. __________________ People killing People dying Children hurt and women crying Will you practice what you preach And would you turn the other cheek Father father father, help us Need some guidance from above These people got me got me questioning Where is the love? Black Eye Pea  31-05-2007, 00:11 |  | Tử Tù | | Tham gia ngày: 05-01-2007 Bài gởi: 910 | | Trích Wiki. Bác 4eyes tả khó hình dung quá. Mà thấy hình như hơi rườm rà. Đội hình này sinh ra vào thời Cộng Hòa, sau khi Rome bị rợ Gaul vượt dãy Alpes và xông vào Rome đánh phá như chỗ không người. Kể sơ về lịch sử La Mã, do bác eskimot09 sưu tầm và dịch La Mã là 1 quốc gia quân sự và nó cai trị lãnh thổ mênh mông của mình bằng cách duy trì 1 lực lượng quân sự mạnh trên nhiều nước nó chiếm đóng. Là 1 chủng tộc thông minh, người La Mã dành rất nhiều trí tuệ của họ cho việc xây dựng chiến thuật, công nghệ, tổ chức và luật lệ quân sự, tất cả dành cho việc duy trì cái thế giới rộng lớn họ đã dựng lên. Nhưng La Mã được biết đến không chỉ vì thiên tài quân sự và tổ chức mà còn vì văn hóa. Quần thể văn hóa La Mã chỉ kém chút ít không đáng kể so với Hy Lạp, nơi đã bắt đầu thể chế nhà nước vài thế kỷ trước Cộng hòa La Mã. Văn hóa La Mã có nhiều cái bắt nguồn từ Hy Lạp: nghệ thuật, kiến trúc, triết học và tôn giáo. Tuy nhiên, người La Mã đã làm biến đổi nhiều thứ văn hóa này bằng việc làm nó trở nên thích nghi với thế giới quan và nhu cầu riêng của họ. Thứ văn hóa biến đổi này sau đó được truyền bá đến các cộng đồng dân cư châu Âu thời cổ đại và phục hưng. Chúng ta gần như không biết gì về những cư dân đầu tiên của La Mã. Những người đầu tiên là người Cro-Magnons, nhưng đến thời đồ đá mới, họ dường như bị thay thế bởi những người di trú đến từ Châu Phi, Tây Ban Nha, và Pháp. Những người này sau đó lại bị thay thế bởi làn sóng người di trú trong thời kỳ đồ đồng, bắt đầu ở khu vực này khoảng năm 1500 trước công nguyên. Cộng đồng mới này đến từ các vùng đất bên kia dãy Alps và vượt biển Adriatic tới phía Đông của bán đảo Italia. Họ là những người du cư, chăn nuôi gia súc và sở hữu phương tiện sx cao. Họ đúc đồng, cưỡi ngựa và có xe ngựa. Họ là những người thiện chiến và bắt đầu định cư tại các vùng cao trên bán đảo Italia. Ngày nay chúng ta gọi họ là người Italic, gồm nhiều dân tộc khác nhau: người Sabine, người Umbrian, người Latinh và rất nhiều nữa. Vào khoảng năm 700-800 trước công nguyên, hai nhóm cư dân mới bắt đầu xâm chiếm bán đảo Italia. Không giống những người nhập cư trước đó, những người khai hoang mới này mang tới cùng họ nền văn minh Hy Lạp và Etruscans. NGƯỜI ETRUSCANS [n2] Các nhà khảo cổ học cho rằng người Etruscans đến từ phía đông Địa Trung Hải, có thể là từ tiểu vùng châu Á. Dù gì đi nữa chúng ta sẽ khôgn bao giờ biết họ thật sự đến từ đâu và tại sao họ chiếm cứ Italy. Nhưng chúng ta biết rõ rằng khi họ đến Italy, họ đã mang theo cùng với họ nền văn minh và đô thị hóa. Họ đặt nền móng xã hội ở Đông Bắc Italy, giữa dãy núi Appenine và biển Tyrrhenian. Trong khi người Etruscans đang rất bận rộn với việc xây dựng quyền lực ở các vùng đất ngoài Italy, và với các hoạt động buôn bán tấp nập với phía Đông và với Châu Phi, thì một thành phố ở phía Nam của họ bắt đầu lớn mạnh nhanh chóng. Thành phố này mô phỏng người Etruscans ở rất nhiều mặt. Nó có tên Vương quốc La Mã. VƯƠNG QUỐC LA MÃ[n3] Theo các nhà khảo cổ, La Mã được thanh lập vào khoảng năm 753 trước công nguyên bởi những người Italic sống ở phía nam sông Tiber. Sự phát triển của xã hội La Mã là sự mô phỏng xã hội láng giềng Etruscans ở phía Nam. Thể chế nhà nước ban đầu của La Mã là thể chế quân chủ được xây dựng trên nền tảng xã hội bộ lạc. Trong xã hội khởi thủy này, người đàn ông có quyền quyết định và là thầy tế trong gia đình. Tuy nhiên quyền lực của Quốc vương được giới hạn và kiểm soát bởi một hiến pháp mà ông ta không được phép thay đổi. Hiến pháp này do Viện nguyên lão (VNL) và quốc hội lập ra. Viện nguyên lão là hội đồng gồm các trưởng lão, là thủ lĩnh của các thị tộc khác nhau, là 1 hình thức liên minh các thị tộc. VNL có quyền chấp thuận và phủ quyết việc bổ nhiệm quốc vương, có quyền kiểm tra và phán quyết tính hợp hiến và tuân theo truyền thống của các luật lệ và hành động của quốc vương. Sự phát triển sức mạnh và tầm ảnh hưởng của La Mã làm của cải tập trung vào 1 bộ phận nhỏ và khiến xã hội phân chia thanh 2 giai cấp: quý tộc và bình dân Dưới thời quân chủ, La Mã mở rộng tầm kiểm soát đáng kể đến các địa hạt chung quanh. Thể chế quân chủ bản thân nó được thành lập với mục đích mang đến sự ổn định và an toàn. Việc xâm chiếm các địa giới chung quanh không có nghĩa rằng La Mã thèm muốn đất đai và của cải của những nơi này mà dường như là bởi mối lo đối với sự đe dọa đến từ các cư dân chung quanh. Tuy nhiên, việc mở rộng địa giới của La Mã đã thu hút sự chú ý của người láng giềng Etruscans hùng mạnh ở phía Bắc. Chế độ quân chủ La Mã rơi vào tay người Etruscans vào giữa thế kỷ 6 trước công nguyên. Người La Mã chống lại 1 cách cay đắng. Cuối cùng, khi 1 hoàng tử của Etruscans thuộc gia đình Tarquins đang cai trị La Mã cưỡng bức vợ của 1 quý tộc (sự kiện này có được nhắc đến trong sử liệu của nhà sử học Livy nhưng nhiều người cho rằng đây có lẽ chỉ là 1 câu chuyện hư cấu), dân La Mã đã nổi dậy đánh đổ quyền lực của Tarquins năm 509 trước CN. Nền văn minh Etruscans bắt đầu đi xuống từ đây. NỀN CỘNG HÒA LA MÃ[n4] Sau khi Junius Brutus lật đổ vương triều Tarquin năm 509 trước CN, La Mã bước vào kỷ nguyên của nền cộng hòa, thể chế cai trị bởi Viện nguyên lão và quốc hội. Lịch sử của Cộng hòa La Mã là lịch sử của những cuộc chiến tranh. Tất cả các câu chuyện lịch sử người La Mã sẽ dùng như là minh chứng cho các ưu điểm và giá trị La Mã đều bắt đầu từ giai đoạn dữ dội này, giai đoạn của các cuộc xâm lược và bảo vệ đất nước. Trước nay, hiến pháp của La Mã không tồn tại chính thức hay được viết ra thành văn bản mà là một loạt các giá trị và luật bất thành văn. Nó được định ra trên cơ sở của 1 vương triều trong quá khứ, bởi vậy dù không khôi phục nền quân chủ, người La Mã vẫn dành những quyền lực to lớn cho các quan chức. Ở vị trí cao nhất là hai quan chấp chính, được bầu cử hàng năm trong số những nhà quý tộc. Cũng giống với các quốc vương trong thời quân chủ, 2 quan chấp chính đưa ra luật pháp, nắm giữ tòa án, quân đội và vị trí trưởng tế của quốc gia. Phục sức của họ giống với các vị vua trong quá khứ, áo choàng tía và ngồi trên ghế truyền thống dành riêng cho nhà vua. Tuy nhiên, quyền lực của họ đã bị hạn chế rất nhiều. Với việc quyền lực hoàn toàn tập trung trong tay giới quý tộc, thể chế cộng hòa La Mã lúc bắt đầu là 1 hình thức chuyển giao quyền lực từ quốc vương sang tầng lớp giàu có nhất La Mã. Tính chất thống trị của luật pháp, hệ thống tài chính, và chính sách ngoại giao thiết lập bởi giới quý tộc ngay lập tức đưa đến sự oán giận của tầng lớp bình dân. Từ lúc bắt đầu năm 509 trước CN cho đến lúc tan rã trong tay Caesar vào giữa thế kỷ thứ nhất trước CN, lịch sử chính trị của Cộng hòa La Mã là 1 mớ hỗn độn, và thường xuyên xung đột giữa hai tầng lớp dân chúng muốn tranh giành quyền lực chính trị. Năm 494 trước CN, những người lao động rời khỏi La Mã và chiếm 1 vùng núi thiêng. Tại đây, họ thành lập 1 chính phủ mới, 1 tổ chức có hình thức bộ lạc kiểu cũ, đứng đầu là các quan bảo mẫu (những người lãnh đạo bộ tộc của họ). Họ công khai phủ quyết các quyết định của giới quan chức La Mã và luật pháp của Viện nguyên lão. Cùng thời gian này, và với tính chất tự phát tương tự, họ tiến hành mở rộng lãnh thổ của mình. Thoạt đầu, các cuộc chiến do những người cộng hòa tiến hành chủ yếu có tính chất phòng ngự vì việc lật đổ vương triều Tarquins đã dẫn đến nhiều cuộc tấn công của người Etruscans và các đồng minh nhằm vào La Mã. Nhưng không lâu sau đó, La Mã chuyển sang việc tấn công giành quyền kiểm soát lãnh thổ của những người láng giềng nhằm triệt tiêu hiểm họa bị tấn công. Logic của La Mã là việc kiểm soát các lãnh thổ chung quanh sẽ ngăn ngừa được bất cứ cuộc tấn công nào từ cư dân trên các lãnh thổ này đồng thời tạo ra 1 vùng đệm an toàn cho La Mã với những kẻ tấn công đến từ xa. Chính sách xâm lược của La Mã bởi vậy tiếp tục được duy trì vì lý do an toàn của bản thân họ. Kết quả cuối cùng của quá trình này là việc giành quyền kiểm soát toàn bộ bán đảo Italia năm 265 trước CN, và sau đó là cả thế giới. Có thể nói rằng đế chế La Mã là 1 sự ngẫu nhiên, nó được hình thành trong quá trình theo đuổi 1 chính sách có tên: sự an toàn. Chỉ đến giai đoạn cuối của quá trình này, Đế chế La Mã mới trở thành 1 mục tiêu rõ ràng CHINH PHỤC ITALY[n5] Cuộc chinh phục Italy được bắt đầu ngay sau khi người La Mã trục xuất vương triều Tarquins năm 509 trước CN với mục tiêu đầu tiên chính là lãnh thổ của người Etruscans. Liên minh với các tộc Latinh khác và với Hy Lạp, La Mã từng bước vững chắc chinh phục lãnh thổ Etruscans trong suốt 2 thế kỷ 5 và 4 trước CN. Người Etruscans bị đuổi ra khỏi bán đảo Italy. Nền văn minh Etruscans đến đây chấm dứt. Tuy nhiên, cuộc chinh phục Italy của người La Mã bất ngờ bị gián đoạn bởi cuộc xâm lược của bộ tộc Gaul (phần đất châu âu cổ gồm Pháp, bắc Hà Lan và 1 phần Thụy Sĩ), du cư và thiện chiến đến từ bên kia dãy Alps. Năm 387 trước CN, người Gaul vượt dãy Alps, nhanh chóng đánh bại quân đội và thiêu hủy La Mã. Tuy nhiên, người Gaul không có ý định định cư tại Italy, họ chỉ quan tâm đến của cải của La Mã. Họ cướp phá La Mã, yêu cầu cống nạp, và sau khi đã thu thập đủ thì quay về đất của họ ở trung tâm châu Âu. La Mã lúc này suy kiệt và nhiều cư dân họ đã chinh phục trên bán đảo Italy quay lại tấn công họ. Tuy nhiên, đến năm 350 trước CN, La Mã đã hồi phục mạnh mẽ đủ để lập lại vị thế ở các vùng đất nói trên. Trước đó, như 4eyes nói, bộ binh La Mã cầm khiên tròn, giáo dài, xài phalanx bắt chước Hy Lạp. Thế rồi khi bị Gô Loa cho 1 trận, La Mã ý thức được rằng, không cải tổ đồng nghĩa với đám rợ lại xông xuống phía Nam cho Italy một phát toi luôn, vì vậy, La Mã bắt đầu chuyển sang cầm 2 cây lao, 1 cây ngắn 1 cây dài, 1 thanh gradius(kiếm ngắn) mà nhiều người bảo là bắt chước bên Tây Ban Nha, và 1 cái khiên chữ nhật bự khủng khíêp. Trong khi hầu hết các nơi cầm khiên tròn, nhỏ thì La Mã cầm khiên cực lớn, che gần hết người, đây là cuộc cách mạng dẫn tới nhiều đội hình, nhiều cách đánh, nhiều chiến thuật tung hòanh khắp Châu Âu của Đế Quốc La Mã - The Roman Empire. Tui sẽ kể sau. Nếu Rợ khôn hơn đc 1 chút mà giết sạch đối phương thì khỏe quá, anh em nhỉ  Lịch Sử thế giới sẽ đi theo 1 kiểu hòan tòan khác, và chắc có thể Việt Nam ta ko còn tồn tại đâu. Sau cái đợt này, nền Cộng Hòa mới nghĩ ra cái đội hình Checkerboard hay còn gọi là Đội Hình Bàn Cờ. Đội hình này không quá xịn sau thử nghiệm của tui trên Rome. Có lẽ những game thì khó mà mô tả hết mấy thứ như vậy. Hình 1 là đội hình Checkerboard. Các bác nhìn ra lỗ hổng giữa các legion ko ạ? Hastati đứng tiên phong, Principes thứ 2, Bộ binh già Triarii(quân rất lão luyện) đứng thứ ba. Hàng 1 và hàng 2 khi bị óanh thua sẽ chạy qua mấy lỗ thủng này. Đội hình này tồn tại tới năm 107 TCN thì đã bị bãi bỏ và theo kỳ cách tân của Marian(cải cách Marian).Đấy chính là cải cách quân đội trở thành chuyên nghiệp. Nghĩa là, Hastati và Principes, Triarii nữa, đều là lính triệu tập, không hề là lính chuyên nghiệp. Quân đội chuyên nghiệp huyền thọai chinh nam phạt bắc của La Mã là từ đây/ Nói ít thì 1 legion khỏang 6000 quân, và 5200 nếu chỉ tính lính. 800 quân còn lại không phải chiến binh. Mỗi legion có 10 cohort, 6 centuries mỗi cohort và 5 centuries cực mạnh có 160 quân đứng tiên phong. Một century có 80 quân. 80 quân này lại chia ra 8 đơn vị. Tại sao gọi cải cách Marian là cực kỳ quan trọng? Vì trước đây, lính được tuyển từ dân thường, huấn luyện, thêm kỷ luật và ra trận một cách thô ráp và không được nếm mùi máu. Còn cải cách Marian cho bộ binh La Mã chuyên nghiệp, nghĩa là quân đã ra trận là không có nhiệm vụ khác ngòai chiến đấu và chiến đấu. Đấy là checkerboard formation, 1 đội hình cổ của La Mã. Sau này La Mã đã cách tân rất nhiều và tạo ra rất nhiều đội hình xịn hơn nhiều. Đợt sau kể. |
| |