Thế chiến II: các loại máy bay tiêm kích nổi tiếng PDF Print E-mail
Written by lichsuvn.info   
Monday, 02 June 2008

Tư liệu tổng hợp từ vi.wikipedia.org

1. Messerschmitt Bf 109 (Đức):


Chiếc Bf 109G-2/Trop 'Black 6', đang được trưng bày tại Bảo tàng Không quân Hoàng gia Anh tại Hendon, London.

Chiếc Messerschmitt Bf 109 là một kiểu máy bay tiêm kích của Đức trong Thế Chiến II được thiết kế bởi Willy Messerschmitt vào đầu những năm 1930. Nó là một trong những máy bay tiêm kích hiện đại thực sự đầu tiên vào thời đó, có những tính năng như cấu trúc thân đơn toàn kim loại, nóc buồng lái hoàn toàn kín và càng hạ cánh xếp lại được. Chiếc Bf 109 được sản xuất với số lượng nhiều hơn cả so với mọi kiểu máy bay tiêm kích khác trong lịch sử, với số lượng được sản xuất trong thời chiến (từ tháng 9 năm 1939 đến tháng 5 năm 1945) là 30.573 chiếc. Loại máy bay tiêm kích chiếm 47% số lượng máy bay do Đức sản xuất, và chiếc Bf 109 chiếm đến 57% số máy bay tiêm kích được sản xuất.[1] Ngoài ra, 2.193 chiếc Bf 109 phiên bản A-E đã được chế tạo trước chiến tranh từ năm 1936 đến tháng 8 năm 1939, và có hơn 1.000 chiếc được chế tạo sau chiến tranh theo giấy phép nhượng quyền dưới các tên gọi Avia S-99/S-199 và Ha 1112 Buchon.

Chiếc Bf 109 là xương sống của lực lượng tiêm kích Không quân Đức trong Thế Chiến II, cho dù chúng bắt đầu được thay thế một phần bởi kiểu Focke-Wulf Fw 190 từ năm 1941. Chiếc Bf 109 đã ghi được số chiến công không chiến nhiều hơn cả trong Thế Chiến II hơn mọi kiểu máy bay tiêm kích nào khác. Trong những thời đđiểm khác nhau, nó được sử dụng như là máy bay tiêm kích chiếm ưu thế trên không, hộ tống ném bom, tiêm kích đánh chặn, tấn công mặt đất và máy bay trinh sát. Cho dù Bf 109 có những điểm yếu, bao gồm tầm bay kém và đặc biệt là khó điều khiển hạ cánh do vệt bánh hẹp của kiểu càng đáp gấp ra phía ngoài, nó vẫn tỏ ra cạnh tranh cùng những máy bay tiêm kích Đồng Minh cho đến khi chiến tranh kết thúc.

Chiếc Bf 109 được lái bởi ba phi công "Ách" có thành tích dẫn đầu trong Thế Chiến II: Erich Hartmann, phi công chiến đấu có thành tích cao nhất mọi thời đại với 352 chiến công chính thức, Gerhard Barkhorn với 301 chiến công, và Günther Rall với 275 chiến công. Tất cả họ đều bay cùng Jagdgeschwader 52 (Phi đoàn Tiêm kích 52), một đơn vị chỉ bay toàn kiểu Bf 109 và đã ghi được hơn 10.000 chiến công, chủ yếu là trên Mặt trận phía Đông. Hartmann đã từ chối bay chiến đấu với bất kỳ kiểu máy bay nào khác trong suốt cuộc chiến. Hans-Joachim Marseille, phi công "Ách" Đức có thành tích cao nhất tại Mặt trận Bắc Phi, cũng ghi được toàn bộ 158 chiến công chính thức của mình trên kiểu Bf 109 khi đối đầu cùng những phi công Đồng Minh Tây Âu. Chiếc Bf 109 cũng được sử dụng với kết quả tốt bởi phi công các nước khác, bao gồm phi công "Ách" Phần Lan Ilmari Juutilainen với 94 chiến công, thành tích cao nhất của một phi công "Ách" không phải là người Đức trong lịch sử.

Tên gọi của kiểu Bf 109:

Bf 109 là tên gọi chính thức mà Bộ Hàng không Đức (RLM: Reichsluftfahrtministerium) dành cho kiểu máy bay này, vì kiểu thiết kế được đề nghị bởi hãng Bayerische Flugzeugwerke, và được sử dụng trong tất cả các văn bản Đức chính thức có liên quan đến họ máy bay này. Sau khi công ty được đổi tên thành Messerschmitt AG vào tháng 7 năm 1938 khi Erhard Milch cuối cùng đã cho phép Willy Messerschmitt sở hữu công ty; từ thời điểm đó trở đi, mọi máy bay Messerschmitt đều được mang ký hiệu "Me" ngoại trừ những chiếc đã có ký hiệu Bf trước đó. Các tài liệu thời chiến tranh của Messerschmitt AG, RLM và các bên liên quan tiếp tục sử dụng cả hai ký hiệu, đôi khi trên cùng một trang, nhưng đã có nhiều chỉ thị của RLM không chấp nhận ký hiệu Me cho kiểu Bf 109. Me 109 được biết đến như là cái tên mà các tài liệu tuyên truyền của Không quân Đức thường sử dụng cũng như là trong nội bộ hãng Messerschmitt kể từ sau tháng 7 năm 1938, và trong số nhân viên của Không quân Đức vốn phát âm chúng là may hundert-neun. Tên gọi Me 109 cũng thông dụng trong các nước nói tiếng Anh. Tuy nhiên, trong cả thời kỳ chiến tranh cho đến hiện nay, cả hai tên "Bf" và "Me" đều được dùng; còn trên biển khung máy bay của những chiếc còn giữ lại cho đến ngày nay đều mang tên "Bf 109", kể cả phiên bản cuối cùng K-14.

Lịch sử cạnh tranh:

Vào năm 1933, cơ quan Technisches Amt (hay T-Amt, bộ phận kỹ thuật của Bộ Hàng không Đức) đã kết luận về một loạt các đề án nghiên cứu về không chiến trong tương lai. Kết quả của các nghiên cứu này là bốn dự thảo chung cho máy bay chiến đấu trong tương lai:

* Rüstungsflugzeug (máy bay vũ trang) I về một kiểu máy bay ném bom hạng trung nhiều động cơ.
* Rüstungsflugzeug II về một kiểu máy bay ném bom chiến thuật.
* Rüstungsflugzeug III về một kiểu máy bay tiêm kích hạng nặng hai chỗ ngồi.
* Rüstungsflugzeug IV về một kiểu máy bay tiêm kích một chỗ ngồi

Rüstungsflugzeug IV được dự định là một kiểu máy bay tiêm kích đánh chặn thay thế cho những kiểu máy bay cánh kép Arado Ar 64 và Heinkel He 60 đang phục vụ. Trong khi R-IV được dự trù như là kiểu máy bay tiêm kích tốt nhất trong số những máy bay đang hoạt động, các yêu cầu đặt ra lại không quá khó để có thể đạt được.

Chiếc máy bay tiêm kích cần đạt được tốc độ tối đa 400 km/h (250 dặm mỗi giờ) ở độ cao 6.000 m (19.500 ft) và có thể duy trì được như vậy trong vòng 20 phút, trong khi tổng thời gian ở trên không cần thiết là 90 phút. Nó sẽ được trang bị kiểu động cơ mới Junkers Jumo 210 có công suất tối đa khoảng 700 mã lực (522 kW). Nó cũng cần phải được trang bị ít nhất ba súng máy 7,9 mm với 1.000 viên đạn cho mỗi khẩu, hoặc một pháo 20 mm với 200 quả đạn. Một đặc tínhkhá thú vị khác là yêu cầu áp lực cánh của chiếc máy bay phải dưới 100 kg/m², một cách để khẳng định khả năng lộn vòng và lên cao của chiếc máy bay. Ưu tiên thiết kế của chiếc máy bay tiêm kích là tốc độ bay ngang, tốc độ lên cao và khả năng cơ động (theo thứ tự trên).

Thực ra bản tính năng của đề án R-IV không do nội bộ của T-Amt nghĩ ra. Vào đầu năm 1933 cả Heinkel và Arado đã gửi đến những thiết kế do đầu tư riêng của các hãng này cho một kiểu máy bay tiêm kích cánh đơn, và T-Amt chỉ đơn giản thu nhặt những đặc tính tốt nhất từ cả hai thiết kế này rồi gửi trở lại cho họ, bổ sung thêm hãng Focke-Wulf vào danh sách các nhà thầu. Đến tháng 5 năm 1934 bản dự thảo yêu cầu R-IV được chính thức phát hành. Mỗi nhà thầu được yêu cầu chế tạo ba chiếc nguyên mẫu để được thử nghiệm cạnh tranh trực tiếp vào cuối năm 1934.

Ban đầu Willy Messerschmitt không được mời tham gia vào cuộc cạnh tranh. Điều này chủ yếu là do mối hận thù cá nhân giữa Messerschmitt và giám đốc của RLM là Erhard Milch (Hans Hackman, một bạn thân của Milch, tử nạn khi thử nghiệm chiếc máy bay nguyên mẫu vận tải nhẹ Messerschmitt M20), sau khi chiếc M20 đã tỏ ra là một thảm họa khi sử dụng tại hãng hàng không Lufthansa. Tuy nhiên Messerschmitt lại có uy tín cao trong giới sĩ quan cao cấp của Không quân Đức do sự thành công của kiểu máy bay thể thao Messerschmitt Bf 108 Taifun. Sau một thời gian trì hoãn kéo dài nhiều tháng, Bayerische Flugzeugwerke (BFW: Bavarian Aircraft Manufacturers), mà Messerschmitt đảm trách làm nhà thiết kế chính, được mời tham gia vào đầu năm 1935, cho dù Milch đã hé lộ cho biết rằng họ sẽ không bao giờ thắng được hợp đồng.

Đặc điểm kỹ thuật (Bf 109 G-6):

Đặc tính chung:
* Đội bay: 01 người
* Chiều dài: 8,95 m (29 ft 7 in)
* Sải cánh: 9,93 m (32 ft 6 in)
* Chiều cao: 2,60 m (8 ft 2 in)
* Diện tích bề mặt cánh: 16,40 m² (173,3 ft²)
* Lực nâng của cánh : 199,8 kg/m² (40,9 lb/ft²)
* Trọng lượng không tải: 2.247 kg (5.893 lb)
* Trọng lượng có tải: 3.148 kg (6.940 lb)
* Trọng lượng cất cánh tối đa: 3.400 kg (7.495 lb)
* Động cơ: 1 x động cơ Daimler-Benz DB 605A-1 bố trí chữ V ngược làm mát bằng chất lỏng, công suất 1.455 mã lực (1.085 kW)

Đặc tính bay:
* Tốc độ lớn nhất: 640 km/h (398 mph) ở độ cao at 6.300 m (20.669 ft); 520 km/h ở độ cao mặt biển; 588 km/h ở độ cao 4.000 m; 616 km/h ở độ cao 8.000 m
* Tốc độ bay đường trường: 590 km/h (365 mph) ở độ cao 6.000 m (19.680 ft)
* Tầm bay tối đa: 850 km (528 mi); 1.000 km (620 mi) với thùng nhiên liệu phụ
* Trần bay: 12.000 m (39.370 ft)
* Tốc độ lên cao: 17,0 m/s (3.345 ft/min)
* Tỉ lệ công suất/khối lượng : 0,33 kW/kg (0,21 hp/lb)

Vũ khí:
* 2 x súng máy MG 131 13 mm
* 1 x pháo MG 151/20 20 mm (hoặc 1 x pháo MK 108 30 mm, G-6/U4)
* 1 x thùng nhiên liệu phụ 300 L (78 US gal) hoặc 1 × bom 250 kg (550 lb) hoặc 4 × bom 50 kg (110 lb)
* 2 × rocket WGr.21 (G-6 với BR21)
* 2 x cụm pháo MG 151/20 20 mm dưới cánh (G-6 với R6)

Kiểu: máy bay tiêm kích
Hãng sản xuất: Bayerische Flugzeugwerke Messerschmitt
Thiết kế bởi: Willy Messerschmitt
Chuyến bay đầu tiên: 28 tháng 5 năm 1935
Được giới thiệu: 1937
Hết sử dụng:
*1945, Không quân Đức
*1965, Tây Ban Nha
Tình trạng: nghỉ hưu
Hãng sử dụng chính:
*Không quân Đức
*Không quân Hungary
*Không quân Italy
*Không quân Romania
Số lượng được sản xuất: hơn 33.000

 


2. Focke-Wulf Fw 190 (Đức):



Chiếc Focke-Wulf Fw 190 Würger ("shrike"), thường gọi là Butcher-bird, là một kiểu máy bay tiêm kích một động cơ một chỗ ngồi của Không quân Đức, và là một trong những chiếc máy bay tiêm kích tốt nhất trong thế hệ của nó. Được sử dụng rộng rãi trong Thế Chiến II, đã có hơn 20.000 chiếc được sản xuất, bao gồm khoảng 6.000 chiếc phiên bản tiêm kích-ném bom. Việc sản xuất được bắt đầu từ năm 1941 cho đến khi kết thúc chiến tranh, và trong quá trình đó chiếc máy bay được liên tục nâng cấp. Phiên bản mới nhất có phẩm chất tương đương ngang ngữa với các kiểu máy bay tiêm kích Đồng Minh, nhưng người Đức đã không thể sản xuất chiếc máy bay với số lượng đủ làm xoay chuyển tình hình trong những năm cuối cùng của cuộc chiến.

Chiếc Fw 190 được những phi công lái chúng ưa chuộng, và nó được công nhận rộng rãi là vượt trội hơn so với kiểu Supermarine Spitfire Mk. V hoạt động ngoài mặt trận khi bắt đầu tham gia chiến đấu vào năm 1941.[1] So với những chiếc Bf 109, chiếc Fw 190 là một "con ngựa thồ" được sử dụng và chứng tỏ là phù hợp cho một loạt những vai trò khác nhau, bao gồm tấn công mặt đất, hộ tống ném bom tầm xa, máy bay tiêm kích bay đêm và (đặc biệt đối với phiên bản "D") máy bay tiêm kích đánh chặn tầm cao.

Việc phát triển ban đầu:

Vào mùa Thu năm 1937, Bộ Hàng không Đức (RLM: Reichsluftfahrtministerium) đã đặt ra trước nhiều nhà thiết kế về yêu cầu một kiểu máy bay tiêm kích mới chiến đấu bên cạnh chiếc Messerschmitt Bf 109, máy bay tiêm kích chủ yếu của Đức vào lúc đó. Cho dù chiếc Bf 109 vào thời điểm đó là một kiểu máy bay tiêm kích cực kỳ cạnh tranh, RLM đã tỏ ý lo ngại là những thiết kế mới ở nước ngoài sẽ vượt qua nó và mong muốn có được kiểu máy bay mới dự phòng cho trường hợp đó.[2]

Kurt Tank đã đáp ứng với một số thiết kế, đa số sử dụng kiểu động cơ thẳng hàng làm mát bằng dung dịch. Tuy nhiên, chỉ đến khi một thiết kế được trình bày sử dụng kiểu động cơ bố trí hinh tròn BMW 139 14 xy lanh làm mát bằng không khí mới gây được sự chú ý của RLM. Vào lúc đó, việc sử dụng kiểu động cơ bố trí hinh tròn là khá bất thường tại Châu Âu vì diện tích bề mặt trước khá lớn của nó nên được tin là sẽ tạo ra quá nhiều lực cản để có thể thiết kế thành một chiếc máy bay có tính cạnh tranh. Tank đã không bị thuyết phục như thế, từng chứng kiến kiểu động cơ bố trí hinh tròn này được Hải quân Mỹ sử dụng thành công, và thiết kế được một kiểu máy bay mang động cơ khá suôn thẳng.[3] Thay vì để phía trước động cơ mở rộng nhằm lấy gió mát thổi qua các xy lanh động cơ, Tank sử dụng cửa mở khá hẹp giữa nắp động cơ và trục cánh quạt khá lớn để hút gió, thổi qua toàn động cơ bằng một quạt. Về lý thuyết, sử dụng nắp động cơ hẹp còn mang lại một ít lực đẩy do khí bị nén ở tốc độ bên trong nắp động cơ.[4] Người ta cũng tin rằng vì kiểu máy bay Fw 190 sử dụng loại động cơ bố trí hình tròn sẽ không ảnh hưởng đến việc sản xuất chiếc Bf 109, nên đã thu hút sự quan tâm của RLM đối với chiếc Fw 190.[5]

Những chiếc nguyên mẫu:

Chiếc nguyên mẫu đầu tiên Fw 190 V1 được trang bị động cơ BMW 139 14 xy lanh bố trí hình tròn công suất 1.550 mã lực, với số hiệu dân sự là D-OPZE, đã bay chuyến bay đầu tiên vào ngày 1 tháng 6 năm 1939 và đã nhanh chóng biểu lộ các phẩm chất xuất sắc đối với một chiếc máy bay tương đối nhỏ như vậy; tính năng điều khiển tuyệt vời, tầm nhìn tốt và tốc độ ban đầu đạt được lên đến 610 km/h (380 dặm mỗi giờ).[6] Tốc độ lộn vòng là 162° mỗi giây ở vận tốc 410 km/h (255 dặm mỗi giờ) nhưng chiếc máy bay có tốc độ chòng chành cao đến 205 km/h (127 dặm mỗi giờ). Theo các phi công từng lái chiếc nguyên mẫu đầu tiên, vệt bánh đáp rộng khiến cho việc cất cánh và hạ cánh khá dễ dàng hơn, đưa đến một kiểu máy bay đa dụng và an toàn hơn trên mặt đất so với chiếc Bf 109.

Những vấn đề về kiểu buồng lái bố trí sát về phía trước ngay phía sau động cơ khiến cho buồng lái quá nóng và không dễ chịu. Trong thực tế khi bay, nhiệt độ buồng lái đã lên đến 55°C (131°F), đến mức mà phi công thử nghiệm chính của hãng Focke Wulf là Hans Sander đã phải nhận xét: "Nó giống như là ngồi đưa cả hai chân vào lò sưởi."[7] Trong nhiều tháng, Focke Wulf và BMW đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau. Cuối cùng, BMW thuyết phục Tank và RLM loại bỏ kiểu động cơ 139 để thay thế bằng kiểu BMW 801. Động cơ 801 có đường kính tương đương với kiểu 139, cho dù nó nặng hơn và hơi dài hơn, điều này đã buộc Tank phải thiết kế lại chiếc Fw 190. Và ngay cả với động cơ và quạt làm mát hoàn toàn mới, kiểu động cơ 801 vẫn bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ của hàng xy lanh thứ hai lên rất cao, lên đến ít nhất có một trường hợp đã gây nổ các viên đạn súng máy 17 gắn trên thân. Một khuyết điểm khác của cách bố trí buồng lái là tầm nhìn qua mũi máy bay kém, đưa đến vấn đề điều khiển chúng trên mặt đất. Đã có hơn một tai nạn trên mặt đất do không quen thuộc với kiểu khung máy bay mới.

Đặc điểm kỹ thuật (Fw 190A-8)

Đặc tính chung:
* Đội bay: 01 người
* Chiều dài: 9,00 m (29 ft 0 in)
* Sải cánh: 10,51 m (34 ft 5 in)
* Chiều cao: 3,95 m (12 ft 12 in)
* Diện tích bề mặt cánh: 18,30 m² (196,99 ft²)
* Lực nâng của cánh : 241 kg/m² (49,4 lb/ft²)
* Trọng lượng không tải: 3.200 kg (7.060 lb)
* Trọng lượng có tải: 4.417 kg (9.735 lb)
* Trọng lượng cất cánh tối đa: 4.900 kg (10.800 lb)
* Động cơ: 1 x động cơ BMW 801D-2 bố trí hình tròn làm mát bằng không khí, công suất 1.730 mã lực (1.272 kW) ; 2.000 mã lực (1.471 kW với tăng áp)

Đặc tính bay:
* Tốc độ lớn nhất: 656 km/h (383 mph) ở 4.800 m (19.420 ft); 685 km/h (408 mph) với tăng áp; cho đến 750 km/h khi bổ nhào
* Tầm bay tối đa: 800 km (500 mi)
* Trần bay: 11.410 m (37.430 ft)
* Tốc độ lên cao: 13 m/s (2.560 ft/min)
* Tỉ lệ công suất/khối lượng : 0,29 - 0,33 kW/kg (0,18 - 0,21 hp/lb)

Vũ khí:
* 2 x súng máy MG 131 13 mm, 475 viên đạn mỗi khẩu
* 4 x pháo MG151/20E 20 mm, 250 viên đạn mỗi khẩu ở gốc cánh và 140 viên đạn mỗi khẩu ở ngoài cánh


Đặc điểm kỹ thuật (Fw 190D-9):

Đặc tính chung:
* Đội bay: 01 người
* Chiều dài: 10,20 m (33 ft 6 in)
* Sải cánh: 10,50 m (34 ft 5 in)
* Chiều cao: 3,35 m (11 ft 0 in)
* Diện tích bề mặt cánh: 18,30 m² (196,99 ft²)
* Lực nâng của cánh : 238 kg/m² (48,7 lb/ft²)
* Trọng lượng không tải: 3.490 kg (7.694 lb)
* Trọng lượng có tải: 4.350 kg (9.590 lb)
* Trọng lượng cất cánh tối đa: 4.840 kg (10,670 lb)
* Tải trọng vũ khí: 2.300 kg (5.000 lb)
* Động cơ: 1 x động cơ Junkers Jumo 213A-1 12 xy lanh bố trí chữ V ngược, công suất 1.750 mã lực (1.287 kW); công suất 2.100 mã lực (1.544 kW) với tăng áp

Đặc tính bay:
* Tốc độ lớn nhất: 685 km/h (426 mph) ở độ cao 6.600 m (21.655 ft); 710 km/h (440 mph) ở độ cao 11.300 m (37.000 ft)
* Tầm bay tối đa: 835 km (519 mi)
* Trần bay: 12.000 m (39.370 ft)
* Tốc độ lên cao: 17 m/s (3.300 ft/min)
* Tỉ lệ công suất/khối lượng : 0,30 - 0,35 kW/kg (0,18 - 0,21 hp/lb)

Vũ khí:
* 2 x súng máy MG 131 13 mm
* 2 x pháo MG 151 20 mm
* 1 × bom 500 kg (1.102 lb)

Kiểu: Máy bay tiêm kích
Hãng sản xuất: Focke-Wulf Flugzeugbau AG
Thiết kế bởi: Kurt Tank
Chuyến bay đầu tiên: 1 tháng 6 năm 1939
Được giới thiệu: tháng 8 năm 1941
Hết sử dụng: 1945
Sử dụng chính bởi:
*Không quân Đức
*Không quân Hungary
*Không quân Thổ Nhĩ Kỳ
*Không quân Romania
Được chế tạo: 1941-1945
Số lượng được sản xuất: trên 20.000

 

3. Messerschmitt Me 262(Đức):



Messerschmitt Me 262 Schwalbe (tiếng Đức, nghĩa là Chim nhạn) là máy bay phản lực do Đức chế tạo đầu tiên trên thế giới . Nó được sản xuất trong chiến tranh thế giới II và được biên chế trong các đơn vị vào năm 1944 với vai trò là máy bay ném bom/trinh sát và máy bay tiêm kích/đánh chặn. Nó được đặt tên chính thức là Schwalbe, bởi vì chim nhạn là một loại chim rất nhanh với tốc độ lao xuống tấn công con mồi và tiêu diệt mục tiêu, những phi công Đức đặt tên cho nó là Turbo, trong khi quân đồng minh lại gọi nó là Chim báo bão. Khi chưa kết thúc chiến tranh Me 262 không có một vai trò tác động đáng kể nào (xấp xỉ 150 máy bay đồng minh bị tiêu diệt cho 100 chiếc Me 262 bị tiêu diệt), nhưng thiết kế của nó lại có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển máy bay sau chiến tranh.

Lịch sử hoạt động:

Vào tháng 4-1944, Erprobungskommando 262 được hình thành ở Lechfeld ở Bavaria như một đơn vị thử nghiệm thử nghiệm để đưa Me 262 vào phục vụ và huấn luyện một số phi công cốt cán để lái máy bay mới. Thiếu tá Walter Nowotny được chỉ định làm chỉ huy vào tháng 7-1944, và đơn vị được đặt tên lại là Phi đội Nowotny. Phi đội Nowotny thực chất là một một đơn vị thử nghiệm, nhưng nó có khác biệt đây là phi đội máy bay phản lực đầu tiên trên thế giới. Những cuộc thử nghiệm được tiếp tục chậm chạp với những mệnh lệnh ban đầu chống lại quân đồng minh vào tháng 8-1944, phi đội này đã hạ 19 máy bay của đồng minh trong khi 6 chiếc Me 262 bị bắn hạ, dù những tuyên bố này chưa bao giờ được xác minh với hồ sơ của không quân Hoa Kỳ. Bảo tàng không quân hoàng gia Anh không giữ những báo cáo mật về những chiếc máy bay của RAF tham gia vào trận chiến với Me 262 vào tháng 8-1944, dù có một báo cáo về cuộc chạm trán giữa một Me 262 và một chiếc DH98 Mosquito. Chính bản thân Nowotny đã bị bắn và chết vào 8 tháng 11-1944 bởi sĩ quan chỉ huy số 1 Edward Haydon “Bạn thân” của nhóm máy bay chiến đấu số 357, không quân Hoa Kỳ và đại úy Ernest “Feeb” Fiebelkorn thuộc nhóm máy bay chiến đấu số 20, không quân Mỹ. "Phi đội" sau đó được rút xuống làm nhiệm vụ huấn luyện và sửa lại chiến thuật trận đánh để tối ưu hóa sức mạnh của Me 262.

Vào tháng 1-1945, Jagdgeschwader 7 (JG7) được thành lập như một đơn vị máy bay chiến đấu phản lực thuần túy. Trong lúc đó một đơn vị ném bom - I Gruppe, Kampfgeschwader 54 (KG54) được tranh bị lại với Me 262 để sử dụng trong vai trò tấn công mặt đất và tiêm kích. Tuy nhiên, đơn vị này đã bị mất 12 máy bay trong khi thực hiện nhiệm vụ trong 2 tuần.

Jagdverband 44 (JV44) một đơn vị khác cũng được hình thành với trang bị Me 262 vòa tháng 2-1945, được chỉ huy bởi Adolf Galland. Galland là một chỉ huy nhiều kinh nghiệm và đơn vị này được biên chế những phi công chiến đầu từ các đơn vị thuộc Không quân Đức.

Trong suốt tháng 3, đơn vị máy bay chiến đấu Me 262 được tin tưởng để tiêu diệt các máy bay ném bom của quân đồng minh. Vào 18 tháng 3-1945, 37 chiếc Me 262 thuộc đơn vị JG7 đã tấn công một đơn vị quân đồng minh gồm 1,221 máy bay ném bom và 632 máy bay hộ tống. Họ đã bắn hạ 12 chiếc máy bay ném bom và 1 máy bay chiến đấu trong khi bị mất 3 chiếc Me 262. Dù một tỷ lệ là 4:1 chưa là câu trả lời cần để Không quân Đức tác động đến cuộc chiến. Vào năm 1943 và đầu năm 1944, không quân Hoa Kỳ có khả năng giữ khả năng hoạt động tấn công kéo dài trên tỷ lệ mức tổn thất là 5% và hơn nữa.

Một vài phiên bản huấn luyện 2 chỗ "B" của Me 262 đã được thích nghi với máy bay chiến đấu ban đêm, đầy đủ với ra-đa và ăng-ten "sừng hươu". Phục vụ trong đơn vị Bậc 10, chiến đấu ban đêm 11, một đơn vị máy bay chiến đấu ban đêm, gần Berlin, vài máy bay này đã thông báo tiêu diệt 13 chiếc Mosquito (Con muỗi) khi đang bay qua Berlin vào 3 tháng đầu năm 1945. Các đơn vị luôn thiếu phi công, và phần lớn phi công mới phải thực hiện các chuyến bay đầu tiên trên máy bay phản lực một chỗ và không có người hướng dẫn.

Me 262 rõ ràng đã báo hiệu sự kết thúc của máy bay động cơ pít-tông một máy bay chiến đấu hiệu quả. Trong một chuyến bay, Me 262 tăng tốc quá 800 km/h (500 mph), nhanh hơn 150 km/h (93 mph) so với bất kỳ máy bay chiến đấu nào của quân đồng minh hoạt động trên bầu trời Châu Âu thời ấy.

Phi công lái Me 262 Hauptmann Franz Schall đã được phong cấp "át" với 17 máy bay, trong đó bao gồm 6 máy bay ném bom và 10 máy bay chiến đấu Ngựa thảo nguyên P-51, phi công cấp "át" lái máy bay chiến đấu ban đêm Kurt Welter thông báo đã hạ 25 chiếc Con muỗi và 2 chiếc máy bay ném bom 4 động cơ trong đêm và 2 chiếc Con muỗi vào ban ngày với Me 262. Một ứng cử viên khác cho danh hiệu "át" là Heinrich Bär với 16 máy bay bị hạ khi bay với Me 262.

Chiến thuật tấn công máy bay ném bom của Me 262:

Cách tiếp cận chống lại đội hình máy bay ném bom, với vận tốc tuần tra của Me 262 được thực hiện từ trên cao, Me 262 sẽ tiếp cận máy bay ném bom từ đằng sau trên độ cao lớn, sau đó lao xuống từ trên cao để tăng thêm vận tốc rồi nổ súng với pháo 30 mm trong khoảng cánh 600 m.

Những xạ thủ trên máy bay ném bom của quân đồng minh phát hiện những tháp nhỏ đặt súng của họ có những vấn đề về theo dõi máy bay phản lực. Tuy nhiên, vì cách tiếp cận theo đường thẳng của Me 262, tốc độ không thật sự quan trọng bằng việc tiêu diệt được mục tiêu, điều này rất khó vì máy bay phản lực khóa mục tiêu trong tầm bắn rất nhanh và chỉ lướt qua mục tiêu trong một thời gian ngắn.

Dần dần chiến thuật đánh mới được phát triển để chống lại những biện pháp phòng thủ của máy bay ném bom quân đồng minh. Me 262 trang bị mới với số lượng lớn tên lửa R4M có thể áp sát mục tiêu từ phía ngoài, khi mục tiêu đã ra khỏi phạm vi tầm bắn của của súng trên máy bay. Loại tên lửa này rất mạnh, chỉ với 1 hoặc 2 quả là đã có thể bắn hạ được loại Pháo đài bay B-17. Chiến thuật này tỏ ra hiệu quả nhưng nó lại được đề xuất quá muộn. Phương pháp này đã trở thành tiêu chuẩn trong những trận đánh chống lại máy bay ném bom, cho đến khi phát minh và trang bị tên lửa có điều khiển. Một vài tên riêng đã đặt cho chiến thuật này đó là "Gói sói của Không quân Đức", nó được thực hiện với những máy bay chiến đấu, chúng sẽ bay thành từng nhóm 2 đến 3 máy bay, bắn tên lửa rồi sau đó trở về căn cứ.

Vào 1 tháng 9-1944, tư lệnh không quân Hoa Kỳ Carl Andrew Spaatz tỏ ra lo lắng nếu có một số lượng lớn máy bay phản lực của Đức thực hiện chiến thuật trên, họ có thể phá hủy những máy bay ném bom hạng nặng của không quân Mỹ, đủ để quân đồng minh phải hủy bỏ những kế hoạch ném bom vào các mục tiêu của Đức Quốc Xã.

Chiến thuật chống Me 262:

Nhiều sự đánh giá của phi công máy bay ném bom quân đồng minh được trích dẫn thì họ ngạc nhiên bởi tốc độ của Me 262. Thông tin tình báo của quân đồng minh nhận thấy được sự phát triển máy bay phản lực của Đức Quốc Xã, nhưng không phải mọi đơn vị chiến đấu đều được chỉ dẫn đầy đủ về loại máy bay Me 262, và nó có lẽ đúng để nói rằng tin tình báo của quân đồng minh đã đánh giá thấp tốc độ của Me 262.

Chiến thuật chống lại Me 262 được phát triển nhanh chóng từ những thất bại để tìm ra những cách đánh phù hợp khi Me 262 có tốc độ lớn hơn. Máy bay hộ tống của quân đồng minh đi kèm máy bay ném bom (đặc biệt là P-51) đã bay cao hơn đội hình của máy bay ném bom - sau khi phát hiện Me 262 chúng liền bổ nhào xuống để tấn công, việc lao từ trên cao xuống đã tăng thêm vận tốc cho máy bay như vậy làm giảm bớt lợi thế về tốc độ của Me 262. Me 262 có ít khả năng thao diễn hơn P-51 và những phi công huấn luyện của quân đồng minh có thể đuổi kịp Me 262; nhưng cách đáng tin cậy duy nhất là tấn công khi Me 262 đang hạ cánh, cất cánh và trên mặt đất. Do đó, các sân bay của Không quân Đức thường bị máy bay ném bom tầm trung tấn công thả bom, và máy bay chiến đấu của quân đồng minh sẽ tấn công các mục tiêu nào cố gắng hạ cánh xuống sân bay đó. Không quân Đức chống lại những hành động này bằng việc đặt những súng phòng không để bảo vệ Me 262 từ dưới đất, và chuẩn bị chỗ đậu cho máy bay.

Nhiều phương án thử nghiệm khác như dùng oxit nitơ trên Ngựa thảo nguyên P-51. Khi bám theo một chiếc Me 262, phi công có thể bơm nitơ vào nhiên liệu để tăng tốc nhanh.

Những máy bay tiêm kích khác của quân đồng minh chạm trán Me 262 gồm Máy bay khạc lửa siêu hải, Hawker Tempest của Anh và Lavochkin La-7 của Liên Xô. Hồ sau đầu tiên ghi nhận máy bay quân đồng minh tiêu diệt chiếc Me 262 đầu tiên là vào 28 tháng 8-1944, do phi công J Myers và M.D. Croy lái Tiếng sét P-47. Phi công Oberfeldwebel Hieronymus "Ronny" Lauer thuộc I KG(J) 51, khi đang hạ cánh đã đụng độ với máy bay quân đồng minh và bị phá hủy, đó là chiếc Me 262 đầu tiên bị phá hủy do tấn công oanh tạc. Chiếc Me 262 đầu tiên bị hạ trong không chiến vào 5 tháng 10-1944 bởi Máy bay khạc lửa IX thuộc phi đội 401 RCAF. Phi công lái Me 262 là H. C. Butmann thuộc WNr 170093 của 3./KG51. Lavochkin là máy bay chiến đấu duy nhất của liên Xô đã bắn hạ Me 262, với phi công "át" Ivan Nikitovich Kozhedub lái La-7, anh ta đã hạ một chiếc Me 262 vào 15 tháng 2-1945 ở phía đông của Đức.

Sản xuất

Me 262 được không quân Đức lưu tâm để ý tới hàng đầu, mọi nguyên liệu đều được dồn vào việc sản xuất Me 262. Trong khi Đức đang phải chịu những cuộc ném bom liên tục từ phía đồng minh, việc sản xuất Me 262 đã phải chia ra nhiều nơi để chế tạo, và chỉ chế tạo được với số lượng nhỏ. Những nhà máy ngầm lớn được xây dựng để sản xuất Me 262, chúng được bảo vệ an toàn khỏi những máy bay ném bom, nhưng chiến tranh đã kết thúc trước khi chúng kịp hoàn tất. Vài thành phần hợp thành me 262 được chế tạo trong những trại lao động cưỡng bức. Cuối cùng, khoảng 1,400 chiếc Me 262 thuộc mọi phiên bản đã được chế tạo. Do thiếu nhiên liệu, phi công và sân bay (đường băng bằng bê tông được khuyến cáo là các động cơ phản lực có thể làm chảy lớp nhựa đường), chỉ có khoảng 200 chiếc Me 262 được trang bị cho các đơn vị chiến đấu.

Các phiên bản:
* A-1a Schwalbe - sản xuất với phiên bản Jäger (chiến đấu) và Jabo (tiếng Đức: "Jagdbomber", máy bay chiến đấu ném bom).
o A-1a/U1 - mẫu thứ nhất với 6 khẩu pháo được trang bị, 2 pháo MG 151 20 mm, 2 pháo Mk 103 30 mm, và 2 pháo MK 108 30 mm.
o A-1a/U2 - mẫu thứ nhất với radar FuG 220 Lichtenstein SN 2 và ăn tên mảng Hirschgeweih, mẫu này được dùng như một máy bay chiến đấu ban đêm.
o A-1a/U3 - phiên bản trinh sát giảm một số thứ, gắn camera RB20/30 ở mũi (đôi khi là một RB 20/20 và một RB 75/30). Giữ lại một pháo 30 mm.
o A-1a/U4 - mẫu thứ 2 với 2 pháo chống tank 50 mm ở mũi.
* A-1b - như A-1a nhưng động cơ BMW 003. Có 2 chiếc được chế tạo, được biết đến với những thiết lập thí nghiệm với vận tốc cực đại là 497 mph (800 km/h).
* A-2a Sturmvogel - phiên bản máy bay ném bom chớp nhoáng cuối cùng với 2 súng.
o A-2a/U1 - mẫu thứ nhất với máy ngắm ném bom cải tiến.
o A-2a/U2 - mẫu thứ hai.
* A-3a - phiên bản tấn công mặt đất trong đề án.
* A-4a - phiên bản trinh sát.
* A-5a - phiên bản trinh sát cuối cùng, sử dụng số nhỏ khi kết thúc chiến tranh.
* B-1a - phiên bản huấn luyện 2 chỗ.
o B-1a/U1 - phiên bản huấn luyện B-1a cải tạo thành máy bay chiến đấu ban đêm, gắn radar FuG 218 Neptun.
* B-2 - phiên bản chiến đấu ban đêm trong đề án với thân kéo dài hơn.
* C-1a - mẫu thứ nhất trang bị tên lửa đánh chặn với tên lửa Walter ở cánh.
* C-2b - mẫu thứ nhất trang bị tên lửa đánh chặn với tên lửa được gắn ở dưới vở động cơ BMW.
* C-3a - mẫu thứ nhất trang bị tên lửa đánh chặn với tên lửa gắn ở dưới bụng.
* D-1 - phiên bản mang súng cối Jagdfaust trong đề án.
* E-1 - phiên bản trang bị pháo được phát triển từ A-1a/U4 trong đề án.
* E-2 - phiên bản trang bị 48 tên lửa R4M trong kế hoạch.

Thiết kế của Nhật Bản dựa trên mẫu Me 262:
* Nakajima Kikka

Phiên bản sau chiến tranh:
* Avia S-92 - Tiệp Khắc chế tạo từ A-1a.
* Avia CS-92 - Tiệp Khắc chế tạo từ B-1a.
* A-1c - máy bay cá nhân được chế tạo ở Mỹ, dựa trên mẫu A-1a.
* B-1c - máy bay cá nhân được chế tạo ở Mỹ, dựa trên mẫu B-1a.
* A/B-1c - máy bay cá nhân được chế tạo ở Mỹ, có thể thay đổi giữa A-1a và B-1a.

Thông số kỹ thuật (Messerschmitt Me 262 A-1a):

Đặc điểm riêng:
* Phi đoàn: 1
* Chiều dài: 10.60 m (34 ft 9 in)
* Sải cánh: 12.51 m (41 ft 0 in)
* Chiều cao: 3.50 m (11 ft 6 in)
* Diện tích cánh: 21.7 m² (234 ft²)
* Trọng lượng rỗng: 3,800 kg (8,400 lb)
* Trọng lượng cất cánh: 6,400 kg (14,100 lb)
* Trọng lượng cất cánh tối đa: 7,130 kg (15,720 lb)
* Động cơ: 2× động cơ phản lựcJunkers Jumo 004B-1, công suất 8.8 kN (1,980 lbf) mỗi chiếc.

Hiệu suất bay:
* Vận tốc cực đại: 870 km/h (541 mph)
* Tầm bay: 1,050 km (652 mi)
* Trần bay: 11,450 m (37,565 ft)
* Vận tốc lên cao: 1,200 m/min (3,900 ft/min)
* Lực nâng của cánh: N/A
* Lực đẩy/trọng lượng: 0.28

Vũ khí:
* 4x pháo MK 108 30 mm (A-2a: 2 pháo)
* 2x 250 kg (550 lb) bom (chỉ có A-2a)
* 24x 55 mm (2.2 in) tên lửa R4M

Kiểu: Máy bay tiêm kích
Hãng sản xuất: Messerschmitt
Thiết kế bởi: Willy Messerschmitt
Chuyến bay đầu tiên: 8 tháng 4-1941 với động cơ pít-tông, 18 tháng 7-1942 với động cơ phản lực
Được giới thiệu: tháng 4-1944
Hết sử dụng:
*1945 Không quân phát xít Đức
*1957 Tiệp Khắc
Hãng sử dụng chính:
*Đức Quốc Xã
*Tiệp Khắc
Số lượng được sản xuất: 1,430

 

4. Nakajima Ki-43(Nhật Bản):



Nakajima Ki-43 Hayabusa (tiếng Nhật: 隼, chim cắt) là chiếc máy bay tiêm kích một động cơ đặt căn cứ trên đất liền được Không lực Lục quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng trong Thế Chiến II. Tên gọi của Lục quân là "Máy bay Chiến đấu Kiểu 1" (一式戦闘機); còn phe Đồng Minh gọi nó là Oscar.

Thiết kế và phát triển

Ki-43 được thiết kế để giống như Mitsubishi Zero, nhưng nó nhẹ hơn và càng kém bền chắc hơn kiểu của Hải quân. Nó nổi tiếng vì điều khiển nhanh nhẹn và huyền thoại về tính năng tại Đông Á vào những năm đầu chiến tranh. Nó được thiết kế bởi Hideo Itokawa, sau này trở nên nổi tiếng là nhà tiền phong về kỹ thuật tên lửa Nhật Bản. Mặc dù độ cơ động của Ki-43 khá tốt, vài phi công Nhật than phiền là nó ít cơ động hơn chiếc Nakajima Ki-27 "Nate". Điều này được sửa chữa bằng cách gắn thêm một cánh phụ hình bướm trên cánh, nhưng một số phi công vẫn tiếp tục than phiền .

Số máy bay Ki-43 được sản xuất tổng cộng là 5.919 chiếc.

Lịch sử hoạt động

Ki-43 là máy bay tiêm kích được sử dụng rộng rãi nhất của Lục quân, được trang bị cho 30 sentai (trung đoàn bay) và 12 chutai (đại đội bay). Phiên bản đầu tiên, Mark I, đưa vào hoạt động năm 1941, Mark II vào tháng 12 năm 1942, II-Kai vào tháng 6 năm 1943, và kiểu Mark IIIa vào mùa Hè năm 1944.

Giống như Zero, Ki-43 ban đầu chiếm được ưu thế trên không trên bầu trời của Malaya, Đông Ấn thuộc Hà Lan, Miến Điện và Tân Guinea. Điều này một phần là do tính năng tốt hơn của máy bay tiêm kích Nhật và cũng do số lượng máy bay ít ỏi của Đồng Minh ở Á Châu và Thái Bình Dương lúc bắt đầu chiến tranh. Tuy nhiên khi chiến tranh tiếp diễn, chiếc máy bay chịu những điểm yếu tương tự như Ki-27 và Mitsubishi Zero; vỏ giáp mỏng và thùng nhiên liệu tự hàn kín kém hiệu quả gây nhiều tổn thất trong chiến đấu. Trang bị vũ khí của nó - 2 súng máy - cũng không đủ để chống lại vỏ giáp nặng của máy bay Đồng Minh. Khi máy bay kiểu mới của Đồng Minh như Vought Corsair và Hellcat được đưa vào hoạt động, Nhật Bản buộc phải lui về thế phòng ngự và đa số máy bay được lái bởi phi công thiếu kinh nghiệm.

Ki-43 cũng phục vụ trong vai trò phòng ngự trên không tại Đài Loan, Okinawa và các đảo chính quốc Nhật. Một số kiểu mẫu được cung cấp cho các nước thân Nhật là Thái Lan, Mãn Châu Quốc và chính quyền bù nhìn Trung Hoa Wang Jingwei. Các đơn vị Thái đôi khi chiến đấu chống lại Không lực Mỹ ở miền Nam Trung Hoa.[1].

Hayabusa được ưa thích trong Không lực Nhật vì đặc tính bay dễ dàng và độ cơ động tuyệt vời, và hầu hết các phi công "Ách" của Không lực ghi được chiến công với Hayabusa trong một phần của binh nghiệp. Vào cuối chiến tranh, hầu hết các đơn vị bay Hayabusa được nhận máy bay kiểu Nakajima Ki-84 Hayate ("Frank") để thay thế, nhưng một vài đơn vị bay Hayabusa cho đến hết chiến tranh. Chiến công ghi được nhiều nhất trên chiếc Hayabusa là của Trung sĩ Satoshi Anabuki với 59 chiến công.

Sau chiến tranh một số lượng giới hạn máy bay này cũng phục vụ cho Không quân Pháp trong Chiến tranh Đông Dương.

Đặc điểm kỹ thuật (Ki-43-II)

Đặc điểm chung:
* Đội bay: 01 người
* Chiều dài: 8,92 m (29 ft 3 in)
* Sải cánh: 10,84 m (35 ft 7 in)
* Chiều cao: 3,27 m (10 ft 8 in)
* Diện tích cánh: 21,40 m² (230,35 ft²)
* Trọng lượng không tải: 1.975 kg (4.355 lb)
* Trọng lượng có tải: 2.590 kg (5.710 lb)
* Động cơ: 1 x động cơ Nakajima Ha-115 bố trí hình tròn, công suất 1.130 mã lực (890 kW)

Đặc tính bay:
* Tốc độ lớn nhất: 530 km/h (315 mph) ở 4.000 m (13.125 ft)
* Tầm bay tối đa: 3.200 km (1.990 mi)
* Tầm bay chiến đấu: 1.760 km (1.095 mi)
* Trần bay: 11.200 m (36.750 ft)
* Tốc độ lên cao: 16,5 m/s (3.240 ft/min)

Vũ khí:
* 2 x súng máy Ho-103 12,7 mm trên nắp động cơ với 250 viên đạn mỗi khẩu, tốc độ bắn 400 viên/phút, hoặc
* 1 x súng máy 12,7 mm và 1 x súng máy Kiểu 89 7,7 mm.
* 2 x bom 250 kg (550 lb)

Hãng sản xuất: Nakajima
Thiết kế bởi: Hideo Itokawa
Chuyến bay đầu tiên: 1942
Hết sử dụng:
*1945 (Nhật Bản)
*1952 (Trung Quốc)
Hãng sử dụng chính:
*Không lực Lục quân Đế quốc Nhật Bản
*Không quân Hoàng gia Thái Lan
Được chế tạo: 1942-1945
Số lượng được sản xuất: 5.919

5. Kawasaki Ki-61 (Nhật Bản):



Chiếc Kawasaki Ki-61 Hien (飛燕|Phi yến - én bay) là một kiểu máy bay tiêm kích được Không lực Lục quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng trong Thế Chiến II. Tên mã của phe Đồng Minh cho chiếc máy bay này là "Tony"; trong khi tên gọi chính thức của Lục quân Nhật Bản là "Máy bay Tiêm kích Loại 3" (三式戦闘機).[1] Nó là kiểu máy bay tiêm kích Nhật Bản sản xuất hằng loạt duy nhất được trang bị kiểu động cơ thẳng hàng bố trí hình chữ V làm mát bằng chất lỏng.

Thiết kế và phát triển

Được trang bị kiểu động cơ Daimler-Benz DB 601 chế tạo theo giấy phép nhượng quyền, chiếc Ki-61 mang dáng dấp tương tự như chiếc Messerschmitt Bf 109 khiến phía Đồng Minh tin rằng nó là một chiếc máy bay Bf 109 được chế tạo theo giấy phép nhượng quyền tại Nhật Bản.
Được trang bị kiểu động cơ Daimler-Benz DB 601 chế tạo theo giấy phép nhượng quyền, chiếc Ki-61 mang dáng dấp tương tự như chiếc Messerschmitt Bf 109 khiến phía Đồng Minh tin rằng nó là một chiếc máy bay Bf 109 được chế tạo theo giấy phép nhượng quyền tại Nhật Bản.

Trong tất cả các phiên bản, chiếc Ki-61 Hien là một máy bay tiêm kích một động cơ một chỗ ngồi cấu tạo hầu như toàn bằng kim loại; chỉ có các bề mặt kiểm soát bay được phủ vải. Nó được cấu tạo chắn chắn và khá nặng đối với một kiểu máy bay Nhật Bản. Phần sau thân có mặt cắt hình tam giác và tương đối dài đối với một chiếc tiêm kích trang bị kiểu động cơ DB-601, và có dạng "lưng dao cạo" phía sau buồng lái. Động cơ gắn phía trước mũi cùng một cặp súng máy Ho-103 12,7 mm. Kiểu súng máy Ho-103 là một vũ khí nhẹ (khoảng 23 kg) so với cỡ nòng của nó, và bắn ra đầu đạn nhẹ nhưng được bù lại bằng tốc độ bắn nhanh. Trữ lượng đạn bị giới hạn chỉ có 250 viên đạn cho mỗi khẩu. Kính chắn gió chống đạn cùng với tấm giáp thép bảo vệ phi công dày 13 mm. Trữ lượng nhiên liệu là vào khoảng 550 L (145 gal) cho phép có tầm bay xa đến trên 1.000 km (540 hải lý) mà không cần thùng nhiên liệu phụ. Cánh có diện tích khá lớn, nên có áp lực cánh thấp. Cánh cũng mang một cặp súng máy hay pháo và bộ càng đáp gấp lên. Nhìn chung, tính năng bay của chiếc Ki-61 là tốt nhất trong số các kiểu máy bay tiêm kích trang bị kiểu động cơ DB-601, bao gồm chiếc Bf 109 phiên bản E và F, chiếc Macchi C.202 và chiếc Reggiane Re.2001.

Các nhà thiết kế Takeo Doi và Shin Owada đã thiết kế chiếc Ki-61 Hien song song với kiểu máy bay tiêm kích đánh chặn Kawasaki Ki-60. Được xây dựng chung quanh kiểu động cơ Ha-40 (một bước phát triển của kiểu động cơ Kawasaki V12, vốn là một phiên bản chế tạo theo giấy phép nhượng quyền của loại động cơ Đức Daimler-Benz DB 601A), Chiếc Ki-61 đã cải tiến trên thiết kế của chiếc Ki-60 với thay đổi thiết kế cánh và nhiều biện pháp làm suôn thẳng và giảm trọng lượng. Nó bay chuyến bay đầu tiên vào tháng 12 năm 1941. Cho dù các phi công thử nghiệm rất phấn khích về các thùng nhiên liệu tự hàn kín, vũ khí được nâng cấp và khả năng bổ nhào tốt, áp lực cánh lên đến 146,3 kg/m² (30 lb/ft²) được xem là vượt quá tiêu chuẩn của Nhật Bản. Chiếc Ki-43-Ia có áp lực cánh 92,6 kg/m² (19 lb/ft²) được xem là tới hạn.

Để giải quyết mối quan tâm này, Kawasaki đã đề nghị một cuộc bay loại giữa hai chiếc nguyên mẫu Ki-61 cùng với chiếc Ki-43-II, chiếc Ki-44-I phiên bản tiền sản xuất, chiếc LaGG-3 (do một kẻ đào ngũ bay sang Mãn Châu), chiếc Bf 109E-3 và một chiếc P-40E Warhawk chiếm được. Kiểu Ki-61 đã chứng minh được là chiếc nhanh nhất trong tất cả những máy bay đó và chỉ kém chiếc Ki-43 về độ cơ động.

Chiếc Ki-61 là kiểu máy bay tiêm kích cuối cùng trang bị dòng động cơ DB-601, và nó nhanh chóng bị vượt qua bởi những chiếc máy bay tiêm kích trang bị động cơ mạnh hơn. Vào lúc nó bay chuyến bay đầu tiên vào tháng 12 năm 1941, chỉ một năm sau chuyến bay đầu tiên của chiếc Macchi và ba năm sau chiếc Bf 109E, dòng động cơ DB-601 đã tỏ ra yếu kém so với những kiểu động cơ thẳng hàng 1.500 mã lực hay động cơ bố trí hình tròn 2.000 mã lực mới đang được phát triển (và gần được đưa vào sản xuất hàng loạt) nhằm cung cấp động lực cho thế hệ máy bay tiêm kích tiếp nối: những chiếc P-47, Fw 190 và Bf 109 G. Hơn nữa, kiểu động cơ thẳng hàng Ha-40 lại cho thấy là một động cơ kém tin cậy.

Động cơ DB-601 mà chiếc Hien trang bị vốn được thiết kế với những giới hạn về dung sai khá nghiêm ngặt, và trên kiểu Ha-40 các kỹ thuật viên Nhật đã phát triển một phiên bản nhẹ hơn (khoảng 30 kg) đòi hỏi một dung sai ngặt nghèo hơn nữa. Đạt đến mức như vậy đã làm "kéo căng" khả năng của nền công nghiệp hàng không Nhật Bản, vốn còn làm phức tạp hơn bởi những biến động trong chất lượng của nguyên liệu, nhiên liệu và chất bôi trơn cần dùng cổ máy tính năng cao và nhạy cảm này vận hành một cách trơn tru. Kiểu tương đương của Nhật Bản đối với loại động cơ mới DB-605 mạnh mẽ hơn chính là kiểu Ha-140, được trang bị cho Kiểu 3 để chế tạo chiếc máy bay tiêm kích đánh chặn tầm cao Ki-61-II.

So với kiểu Ki-61-I, phiên bản Ki-61-II có diện tích cánh lớn hơn 10%, vỏ giáp tốt hơn, và với kiểu động cơ Kawasaki Ha-140 đã cung cấp được công suất 1.120 kW (1.500 mã lực). Sau khi vượt qua được những vấn đề về mất ổn định thân và cánh ban đầu, chiếc máy bay tiêm kích đánh chặn mới quay trở lại kiểu cánh ban đầu và được đưa vào hoạt động dưới tên gọi Ki-61-II-KAI. Tuy nhiên, kiểu động cơ Ha-140 lại có những vấn đề về độ tin cậy của riêng nó mà chưa bao giờ được giải quyết một cách trọn vẹn, và khoảng phân nửa trong số động cơ được sản xuất ở lô đầu tiên bị gửi trả lại nhà máy để chế tạo lại. Không lâu sau, một cuộc ném bom của Không quân Mỹ vào ngày 19 tháng 1 năm 1945 đã phá hủy nhà máy sản xuất động cơ tại Akashi, Hyōgo, để lại 275 khung máy bay Ki-61-II-KAI không được trang bị động cơ, mà sau này được chuyển đổi sang sử dụng kiểu động cơ bố trí hình tròn Mitsubishi Ha-112-II đưa đến kiểu máy bay Ki-100. Trong khi kiểu động cơ Ha-112 giải quyết được những vấn đề liên quan đến Ha-140, động cơ mới lại có một điểm yếu: thiếu động lực ở tầm cao, làm suy giảm khả năng đánh chặn những chiếc B-29 Superfortress bay cao so với những chiếc Ki-61-II.

Lịch sử hoạt động

Một chiếc Ki-61 bị chiếm đang được Không lực Lục quân Hoa Kỳ bay thử nghiệm.
Một chiếc Ki-61 bị chiếm đang được Không lực Lục quân Hoa Kỳ bay thử nghiệm.

Chiếc máy bay tiêm kích mới Ki-61 Hien được đưa vào sử dụng cùng một đơn vị huấn luyện đặc biệt, Phi đội 23, và được đưa ra hoạt động chiến đấu lần đầu tiên vào mùa Xuân năm 1943 trong chiến dịch New Guinea. Ban đầu, do kiểu dáng khá bất thường đối với một chiếc máy bay tiêm kích Nhật Bản, phía Đồng Minh tin rằng nó có nguồn gốc từ Đức hay Italy, có thể là một chiếc Bf 109 chế tạo theo giấy phép nhượng quyền; kiểu dáng giống như của Italy đã làm cho chiếc máy bay được mang tên mã là "Tony".

Đơn vị Sentai (phi đoàn) đầu tiên được trang bị toàn với kiểu máy bay Hien là Sentai 68 trú đóng tại Wewak, Tân Guinea, và được tiếp nối bởi Sentai 78 đặt căn cứ tại Rabaul. Cả hai đơn vị được gửi đến những chiến trường khó khăn, nơi mà rừng rậm và khí hậu khắc nghiệt cùng với việc thiếu thốn phụ tùng thay thế nhanh chóng làm lu mờ hiệu quả của máy móc và con người; điều này đặc biệt ảnh hưởng đến những kiểu máy bay mới được thiết kế, vốn có xu hướng gặp phải những vấn đề nhỏ ban đầu như trường hợp của chiếc Ki-61. Vào lúc đầu, chiến dịch này mang lại sự thành công cho Không lực Lục quân Nhật Bản, nhưng khi lực lượng Đồng Minh được tái tổ chức và nâng cao hiệu quả chiến đấu của các lực lượng không quân, họ giành lại được ưu thế trên không từ phía Lục quân Nhật Bản.[8]

Tỉ lệ tổn thất cao đã xảy ra trong một số trường hợp trong chiến dịch này. Ví dụ như, trong khi di chuyển giữa Truk và Rabaul, Sentai 78 thiệt hại 18 trong tổng số 30 chiếc Ki-61. Các đơn vị khác cũng có tham gia và đôi khi còn kém may mắn hơn: chỉ có hai chiếc trong tổng số 24 chiếc Ki-49 đến được Rabaul vào tháng 6 năm 1943. Hầu như tất cả các kiểu động cơ Nhật hiện đại, đặc biệt là kiểu động cơ làm mát bằng nước của Ki-61, phải chịu một loạt các hư hỏng tai hại tiếp nối nhau, khiến cho chiếc máy bay tiêm kích lạc hậu Ki-43 phải đảm trách vai trò máy bay tiêm kích chủ yếu của Không lực Lục quân. Vào cuối chiến dịch, có gần 2.000 máy bay Nhật đã bị mất dưới sự tấn công liên tục từ trên không của khoảng 200 máy bay Đồng Minh mỗi đợt (trong số đó, khoảng phân nữa là những chiếc B-24 và B-25 trang bị bom miểng.[8] Sau khi quân Nhật rút lui, có hơn 340 xác máy bay đã được tìm thấy sau đó tại Hollandia.

Ngay cả với những vấn đề như vậy, đã có một mối quan ngại chung ở phía Đồng Minh về kiểu máy bay tiêm kích mới này:

"Chiếc Hien được đưa vào chiến đấu từ mùa Xuân năm 1943 tại chiến dịch Tân Guinea, hoạt động tại Tân Guinea, quần đảo Admiralty, Tân Britain và Tân Ireland. Chiếc máy bay tiêm kích Nhật Bản mới đã gây ra sự đau khổ và khiếp đảm trong các phi công Đồng Minh, đặc biệt là khi họ nhận ra rằng không thể tiếp tục bổ nhào để né tránh những chiếc máy bay tiêm kích Nhật Bản nhẹ hơn... Tướng George Kenney, Tư lệnh lực lượng không quân Đồng Minh tại Mặt trận Tây Nam Thái Bình Dương, nhận thấy những chiếc P-40 Warhawk của ông bị vượt qua toàn diện, đã nài xin cho có được nhiều chiếc P-38 Lightning hơn để đối chọi lại mối đe dọa của kiểu máy bay tiêm kích mới của đối phương."

Chiếc Ki-61 cũng được sử dụng tại Đông Nam Á, Okinawa, Trung Quốc, và như một máy bay tiêm kích đánh chặn khi Hoa Kỳ ném bom Nhật Bản, kể cả để chống lại những chiếc B-29 Superfortress. Chiếc Ki-61 thật đáng chú ý vì nhiều lý do: ban đầu được nhận diện như là mộ kiểu máy bay có nguồn gốc từ Đức hay Italy, những máy bay này có khả năng theo kịp về tốc độ những máy bay Đồng Minh như chiếc P-40, và sau này những cuộc đánh giá đã xác nhận, vượt hơn hầu như về mọi mặt. Tuy nhiên, vũ khí trang bị cho những chiếc Hien ban đầu còn yếu, tuy đủ dùng cho hầu hết các mục đích. Trong số những chiếc máy bay tiêm kích Đồng Minh đối đầu trong giai đoạn đầu của Thế Chiến II, chỉ có P-38 là vượt hơn nó.[12] Chiếc Ki-61 cũng mang một lượng lớn nhiên liệu, nhưng nhờ có thùng nhiên liệu tự hàn kín, nó không được xem là "dễ dàng bắt lửa" như nhiều chiếc máy bay Nhật Bản khác.

Do trọng lượng nặng hơn, tính năng bay của chiếc Ki-61 và độ nhanh nhẹn bị ảnh hưởng khi các trang bị vũ khí mạnh hơn, nhưng nó vẫn có khả năng đạt được tốc độ tối đa 580 km/h (313 hải lý mỗi giờ). Khẩu pháo được trang bị là vũ khí cần thiết để đối chọi cùng những chiếc máy bay ném bom Đồng Minh, vốn đã chứng tỏ là rất khó bị bắn hạ chỉ với súng máy 12,7 mm. Trọng lượng không tải và trọng lượng tối đa của chiếc nguyên mẫu Ki-61 (2 x 12,7 mm + 2 x 7,7 mm) tương ứng là 2.238 kg (4.934 lb) và 2.950 kg (6.504 lb); của chiếc Ki-61-I căn bản (4 x 12,7 mm) là 3.130 kg (6.900 lb); và của phiên bản Ki-61-KAI (2 x 12,7 mm + 2 x 20 mm) tương ứng là 2.630 kg (5.798 lb) và 3.470 kg (6.750 lb).

Một số chiếc Ki-61 cũng được sử dụng trong các phi vụ cảm tử Tokkotai (Thần phong kamikaze) cho đến lúc kết thúc chiến tranh. Chiếc Ki-61 được bộ trí đến Sentai (liên đội) 15 cũng như một số Chutaicho (phi đội) độc lập thuộc các Sentai khác, và ngay cả các đơn vị hoạt động huấn luyện của Không lực Lục quân Nhật. Chiếc máy bay hầu như không gặp sự cố gì trong hoạt động ngoại trừ việc kiểu động cơ làm mát bằng nước thường bị quá nóng khi đậu nổ máy trên mặt đất cũng như chịu trục trặc trong lưu chuyển dầu động cơ và các vòng bi.

Đơn vị tấn công đặc biệt Ki-61

Chiến thuật sử dụng máy bay lao thẳng vào máy bay ném bom B-29 Hoa Kỳ không phải là điều mới lạ vào năm 1944. Việc dùng máy bay Ki-61 lao thẳng vào máy bay ném bom được ghi nhận lần đầu tiên vào cuối tháng 8 năm 1944, trong một trận không kích mà những chiếc B-29 xuất phát từ các sân bay ở Trung Quốc ném bom các nhà máy thép ở Yahata, binh nhì Shigeo Nobe thuộc Sentai 4 đã chủ định lao máy bay của anh vào một chiếc B-29. Các cuộc tấn công khác kiểu này được tiếp nối, do hậu quả các phi công riêng lẽ xác định rằng đó là cách thực tế nhất để tiêu diệt B-29. Vào ngày 7 tháng 11 năm 1944, tư lệnh của Hiko Shidan (quân đoàn bay) số 10 đã đưa chiến thuật này trở thành chính thức bằng cách thành lập các các nhóm tấn công đặc biệt nhằm đối đầu những chiếc B-29 ở tầm cao. Chiếc máy bay được tháo bỏ vũ khí và các hệ thống bảo vệ nhằm có thể đạt được độ cao cần thiết. Các đơn vị được bố trí đến Quân đoàn 10 bao gồm Hiko Sentai (liên đội) 244, lúc đó dưới quyền chỉ huy của Đại úy Takashi Fujita đã tổ chức một nhóm chuyên lao máy bay đặt tên là Hagakure-Tai ("Đơn vị tấn công đặc biệt"), bao gồm ba thành phần: Chutai (phi đội) số 1 "Soyokaze", Chutai số 2 "Toppu" và Chutai số 3 "Mikazuki".

Trung úy Toru Shinomiya được chọn để lãnh đạo nhóm tấn công, anh ta đã trở nên nổi tiếng vì đã lao vào một chiếc B-29 Mỹ và sống sót để kể lại câu chuyện. Shinomiya tấn công chiếc B-29 vào ngày 3 tháng 12 năm 1944, và đã măng được chiếc máy bay bị hư hại cùng anh quay trở về, sau này anh ta bị thiệt mạng như một phi công Tokkotai (kamikaze) trong Trận chiến Okinawa. Một phi công khác của Liên đội 244, Masao Itagaki, thực hiện một cú tương tự cùng vào dịp đó, nhưng anh ta phải nhảy dù ra từ chiếc máy bay bị hỏng nặng. Một phi công thứ ba, Nakano, thuộc Hagakure-Tai của Liên đội 244 đã lao vào một chiếc B-29 khác và bị rơi chiếc Ki-61 của anh ta trên một cánh đồng. Trung sĩ Shigeru Kuroishikawa cũng là một thành viên lỗi lạc khác của đơn vị.

Sự hiện diện của đơn vị tấn công lao máy bay được giữ kín cho đến lúc đó, nhưng nó được chính thức công khai trong các thông báo kết quả chiến sự và được Bộ Tổng tư lệnh phòng thủ đặt tên chính thức là "Shinten Seiku Tai" ("Heart of Heaven Intercept Unit"). Nhưng những phi công này không có được sự trì hoãn, và cho dù với những thành công như vậy họ bị buộc phải tiếp tục chiến thuật tấn công nguy hiểm chết người này cho đến khi họ bị giết hay bị thương nặng đến mức không thể bay được nữa. Họ được xem là những người bất hạnh và được tôn vinh trong số những người đi đến cái chết chắc chắn như các phi công cảm tử Tokkotai (kamikaze). Một số phi công lái Ki-61 khác đã trở nên nổi tiếng, trong số họ có Thiếu tá Teruhiko Kobayshi là người được ghi nhận có khoảng một tá chiến công hầu hết là do các cuộc tấn công thông thường chống những chiếc B-29.

Các phiên bản

Ki-61
Chiếc nguyên mẫu. Có 12 chiếc được chế tạo.
Ki-61-I
Phiên bản sản xuất đầu tiên.
Ki-61-Ia
Phiên bản máy bay tiêm kích sản xuất thứ hai. Đa số được trang bị hai súng máy 7,7 mm (0,303 in) và hai súng máy 12,7 mm (0,50 in), nhưng một số được trang bị một cặp pháo Đức MG 151 20 mm thay cho súng máy trên cánh.
Ki-61-Ib
Đa số được trang bị bốn súng máy 12,7 mm, nhưng một số được trang bị một cặp pháo MG 151 20 mm thay cho súng máy trên cánh.
Ki-61-I-KAIc
Phiên bản có cánh được gia cố để mang bom hay thùng nhiên liệu phụ bên ngoài, thân kéo dài thêm 190 mm (7,5 in), cấu trúc nhẹ hơn, thân sau được thiết kế lại và bánh đáp đuôi cố định. Trang bị hai pháo 20 mm trước mũi.[15]
Ki-61-I-KAId
Phiên bản máy bay tiêm kích đánh chặn với hai súng máy 12,7 mm trên thân và hai pháo 30 mm trên cánh.
Ki-61-II
Chiếc nguyên mẫu. Diện tích cánh tăng thêm 10%, trang bị động cơ Ha-140 công suất 1.120 kW (1.500 mã lực) khi cất cánh; bay chuyến bay đầu tiên vào tháng 12 năm 1943. Có tám chiếc được chế tạo.
Ki-61-II-KAI
Phiên bản tiền sản xuất với cánh nguyên thủy, thân được kéo dài thêm 220 mm (8,7 in), bánh lái đuôi mở rộng và trang bị động cơ Ha-140. Có 30 chiếc được chế tạo.
Ki-61-II-KAIa
Trang bị hai súng máy 12,7 mm trên cánh và hai pháo 20 mm trên thân.
Ki-61-II-KAIb
Trang bị bốn pháo 20 mm.
Ki-61-III
Chiến nguyên mẫu. Có một chiếc được chế tạo.

Đặc điểm kỹ thuật (Ki-61-I-KAIc):

Đặc tính chung:
* Đội bay: 01 người
* Chiều dài: 8,94 m (29 ft 4 in)
* Sải cánh: 12,00 m (39 ft 4 in)
* Chiều cao: 3,70 m (12 ft 2 in)
* Diện tích bề mặt cánh: 20,00 m² (215,28 ft²)
* Kiểu cánh: NACA 2R 16 wing root, NACA 24009 tip
* Lực nâng của cánh : 173,5 kg/m² (35,5 lb/ft²)
* Trọng lượng không tải: 2.630 kg (5.800 lb)
* Trọng lượng có tải: 3.470 kg (7.650 lb)
* Trữ lượng nhiên liệu:
o Bên trong: 550 L (145,2 US gal)
o Bên ngoài: 2 x thùng nhiên liệu phụ vứt được 200 L (53,8 US gal)
* Động cơ: 1 x động cơ Kawasaki Ha-40 bố trí hình chữ V làm mát bằng chất lỏng, công suất 1.175 mã lực (875 kW) mỗi động cơ

Đặc tính bay:
* Tốc độ lớn nhất: 580 km/h (360 mph) ở 5.000 m (16.405 ft)
* Tầm bay tối đa: 580 km (360 mi)
* Trần bay: 11.600 m (38.100 ft)
* Tốc độ lên cao: 15,2 m/s (2.983 ft/min), mất 7 phút để lên cao 5.000 m (16.405 ft)
* Tỉ lệ công suất/khối lượng : 0,25 kW/kg (0,15 hp/lb)

Vũ khí:
* 2 x pháo Ho-5 20 mm, 120 viên đạn mỗi khẩu
* 2 x súng máy Ho-103 12,7 mm (0,50 in), 200 viên đạn mỗi khẩu
* 2 x bom 250 kg (550 lb)

Hãng sản xuất: Kawasaki Heavy Industries
Chuyến bay đầu tiên: tháng 12 năm 1941
Được giới thiệu: 1943
Hết sử dụng: 1945
Hãng sử dụng chính:
*Không lực Lục quân Đế quốc Nhật Bản
*Không quân Trung Hoa Dân Quốc
Số lượng được sản xuất: 3.159

 

6. A6M-Zero (Nhật Bản):


A6M5 đời 0 kiểu 52

Mitsubishi A6M Zero (A để chỉ máy bay tiêm kích, kiểu thứ 6, M là Mitsubishi) là máy bay tiêm kích hạng nhẹ hoạt động trên tàu sân bay được Không lực Hải quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng từ năm 1940 đến năm 1945. Lịch sử của nó phản ảnh vận may của Đế Quốc Nhật trong Thế Chiến II. Vào lúc được giới thiệu, Mitsubishi A6M là máy bay tiêm kích hoạt động trên tàu sân bay tốt nhất thế giới và là nỗi sợ hãi của phi công Đồng Minh.[1] [2] [3] Những chiến thuật được các lực lượng Đồng Minh phát triển trong năm 1942 để đọ sức với Zero cân bằng hơn. Đến năm 1943, các hãng chế tạo Mỹ và Anh đã sản xuất được những máy bay tiêm kích có hỏa lực mạnh hơn, vỏ giáp, tốc độ, và đạt đến khả năng cơ động xấp xỉ Zero. Đến năm 1944, Mitsubishi A6M đã lạc hậu nhưng vẫn còn được sản xuất. Do việc chuyển đổi ưu tiên trong những năm cuối của chiến tranh tại Thái Bình Dương, Zero được sử dụng trong những phi vụ Thần Phong (kamikaze).

Một sự phối hợp tính cơ động tuyệt vời và tầm bay rất xa khiến nó trở thành một máy bay tiêm kích xuất sắc vào thời nó. Trong những hoạt động chiến đấu ban đầu, Zero được sự ngưỡng mộ gần như huyền thoại, qua mặt những chiếc cùng thời. Sau này, yếu kém về thiết kế và sự khan hiếm động cơ mạnh khiến Zero trở nên kém hiệu quả để chống lại những máy bay tiêm kích mới.

Nó được biết đến nhiều nhất bằng tên gọi Zero do tên hiệu của Hải quân Nhật: máy bay chiến đấu trên tàu sân bay đời 0 (tiếng Nhật: 零式艦上戦闘機, Rei shiki Kanjo sentoki), lấy từ hai số cuối của Năm đế chế (Nhật) 2600 (1940), khi nó được đưa vào hoạt động. Tại Nhật nó được gọi không chính thức là Rei-sen hay Zero-sen. Tên mã chính thức do Đồng Minh đặt là Zeke (và Hamp cho phiên bản A6M3 kiểu 32); trong khi nó theo một tiêu chuẩn thực hành là đặt tên con trai cho máy bay tiêm kích, vẫn không biết chắc là tên này được chọn vì tương tự với "Zero."

Thiết kế và phát triển

Chiiếc máy bay tiêm kích Mitsubishi A5M vừa mới được đưa vào sử dụng vào đầu năm 1937 khi Hải quân Đế quốc Nhật Bản bắt đầu tìm kiếm một kiểu thay thế nó sau này. Vào tháng 5 họ phát hành tiêu chuẩn 12-Shi cho một máy bay tiêm kích hoạt động trên tàu sân bay và gửi đến Nakajima và Mitsubishi. Cả hai công ty khởi sự những công việc thiết kế sơ thảo trong khi chờ đợi những yêu cầu chi tiết hơn sẽ được gửi sau vài tháng.

Căn cứ vào những kinh nghiệm của chiếc A5M tại Trung Hoa, Hải quân gửi đến những yêu cầu được cập nhật vào tháng 10. Nó bao gồm một vận tốc 500 km/h ở độ cao 4.000 m và tốc độ lên cao 3.000 m trong vòng 3,5 phút. Nó phải bay được 2 giờ tốc độ tối đa hoặc 6 đến 8 giờ ở tốc độ bay đường trường với thùng nhiên liệu phụ vứt được. Vũ khí bao gồm 2 pháo 20 mm và 2 súng máy 7,7 mm, với 2 quả bom 30 kg hay 60 kg. Liên lạc radio đầy đủ phải được trang bị cho mọi máy bay, kèm theo một bộ định hướng radio để dẫn đường tầm xa. Độ cơ động phải ít nhất tương đương với A5M, trong khi sải cánh phải ngắn hơn 12 m để vừa cho các tàu sân bay.

Nhóm thiết kế Nakajima nghĩ rằng những yêu cầu trên không thể đạt được và rút lui khỏi cuộc cạnh tranh vào tháng 1 năm 1938. Jiro Horikoshi, thiết kế trưởng của Mitsubishi, cảm thấy có thể đạt được nếu chiếc máy bay được làm càng nhẹ càng tốt. Mọi biện pháp làm nhẹ cân được dùng, như sử dụng rộng rãi hợp kim nhôm (duralumin). Với cánh đơn gắn thấp dạng bao lơn, càng đáp rộng xếp được và buồng lái kín, thiết kế không chỉ rất hiện đại hơn mọi kiểu Hải quân đã dùng, mà còn là một trong những kiểu hiện đại nhất trên thế giới.

Tuy vậy A6M được thiết kế khắc khổ hơn máy bay Tây Âu. Không giống các chiếc máy bay tiêm kích cùng thời, không có vỏ giáp để bảo vệ phi công, và không có thùng nhiên liệu tự hàn kín. Hầu hết thân máy bay được làm bằng nhôm T-7178, một cải tiến tuyệt mật được phát triển bởi người Nhật cho mục đích này. Nó nhẹ và chắc hơn nhôm thường thời đó, nhưng dòn hơn. Zero có bộ cánh nâng được nhiều ở tốc độ chậm và áp lực cánh rất thấp, cho phép nó có một tốc độ chòng chành rất thấp dưới 60 knot. Đây là nguyên nhân của khả năng lượn vòng (đặt một áp lực G trên cánh khi lượn vòng trước khi xảy ra sự gia tốc chòng chành) của chiếc này, cho phép nó lượn gắt hơn mọi máy bay tiêm kích Đồng Minh thời đó. Tốc độ lộn vòng được tăng cường bởi tấm lái thăng bằng đặt trên cánh nhỏ sẽ được làm lệch ngược chiều lại cánh nhỏ giúp giảm nhẹ lực điều khiển. Điểm bất lợi là nó sẽ làm giảm hiệu quả lộn vòng tối đa. Ở tốc độ 260 km/h (160 mph) A6M2 có tốc độ lộn vòng 56° mỗi giây. Vì độ linh hoạt của cánh, hiệu quả lộn vòng còn gần bằng 0 ở tốc độ 300 mph.

Quân đội Mỹ tìm thấy nhiều đặc tính độc đáo của A6M khi họ thu được một mẫu gần như nguyên vẹn tại Alaska. Viên phi công Nhật bị lạc quá xa khỏi căn cứ và hy vọng đáp khẩn cấp xuống lãnh thổ Hoa Kỳ, nhưng máy bay bị lật và ông ta bị gảy đốt sống cổ.

Lịch sử hoạt động

Kiểu A6M2 Zero bắt đầu được biết đến trong những năm 1940-1941, khi nó lập 266 chiến công không chiến tại Trung Hoa. Vào thời gian Trận đánh Trân Châu Cảng, có 420 chiếc Zero hoạt động ở Thái Bình Dương. Kiểu 21 trang bị trên tàu sân bay là loại đối đầu với người Mỹ, hoạt động xa các tàu sân bay hơn là người ta nghĩ, với tầm hoạt động chiến đấu lên đến 1.600 dặm (2.600 km). Ở nhiều khía cạnh, máy bay tiêm kích Zero hơn hẵn tất cả những chiếc của Đồng Minh tại Thái Bình Dương vào năm 1941, và nhanh chóng đạt được sự ngưỡng mộ lớn. Dù sao, Zero không thể đạt được ưu thế trên không tuyệt đối vì những chiến thuật phù hợp và máy bay mới của Đồng Minh. Trong suốt Thế chiến II, Zero diệt được ít nhất 1.550 máy bay Mỹ.

Phi công "Ách" Nhật Bản Saburo Sakai mô tả khả năng chịu đựng tổn hại của máy bay Đồng Minh thời đầu, là yếu tố ngăn chặn Zero trở thành kẻ chiếm lĩnh hoàn toàn như sau: [4] "Tôi tự tin khả năng của mình có thể tiêu diệt chiếc Grumman và quyết định kết liễu máy bay đối phương chỉ với súng máy 7.7mm. Tôi xoay khóa khẩu pháo 20mm về vị trí "tắt", rồi áp sát vào. Vì một lý do lạ lùng nào đó, cho dù tôi đã nả năm hay sáu trăm viên đạn thẳng vào chiếc Grumman, nó không rơi mà tiếp tục bay. Tôi thấy đây thật lạ lùng - chưa xảy ra bao giờ - và áp sát hơn nữa cho đến lúc gần như đưa tay ra chạm được vào chiếc Grumman. Tôi thật ngạc nhiên, đuôi và cánh lái của nó bị xé tan từng mảnh trông như miếng giẻ rách cũ. Với máy bay của hắn như thế, chả trách viên phi công không thể nào tiếp tục chiến đấu! Một chiếc Zero chịu đựng từng ấy viên đạn ắt bây giờ đã là một quả cầu lửa rồi."

Được thiết kế để tấn công, Zero dành ưu tiên cho độ cơ động và hỏa lực đánh đổi sự bảo vệ — hầu hết không có thùng nhiên liệu tự hàn hay vỏ giáp — nên nhiều chiếc Zero kèm theo phi công bị mất dễ dàng trong chiến đấu. Thú vị là, trong những giai đoạn đầu của chiến cuộc Thái Bình Dương, người Nhật huấn luyện phi công của họ kỹ lưỡng hơn Đồng Minh, nhưng tổn thất phi công nặng nề không lường trước tại Trận chiến Biển San Hô và Trận Midway làm cho họ rất khó được bù đắp.

Với sự nhanh nhẹn cực kỳ của Zero, phi công Đồng Minh nhận ra rằng chiến thuật không chiến thích hợp chống lại Zero là giữ khoảng cách bên ngoài tầm bắn và tấn công lúc lên cao hay bổ nhào. Bằng cách dùng tốc độ và tránh sai lầm chết người muốn lượn vòng theo chiếc Zero, sau này pháo hay súng máy hạng nặng có thể mang theo, và chỉ cần một phát nổ duy nhất cũng thường đủ hạ chiếc Zero. Những chiến thuật này, gọi là boom-and-zoom (bắn và dzọt), được áp dụng thành công tại Mặt trận Trung Hoa-Miến Điện-Ấn Độ bởi Nhóm phi công Tình nguyện Hoa Kỳ (AVG: American Volunteer Group) của Đội Phi Hổ (Flying Tigers) chống lại những máy bay Nakajima Ki-27 và Ki-43 có độ cơ động tương đương của Lục quân Nhật. Phi công AVG được huấn luyện để khai thác ưu thế của những chiếc Curtiss P-40; rất chắc chắn, vũ khí mạnh, nhanh hơn khi bổ nhào và khi bay ngang ở cao độ thấp, và tốc độ lộn vòng tốt.

Một cách cơ động quan trọng khác được đặt tên là "Thach Weave," đặt theo tên người đã phát minh ra nó, Thiếu tá John S. "Jimmy" Thach. Nó đòi hỏi 2 máy bay: chỉ huy và đồng đội, sẽ bay cách nhau khoảng 200 ft. Khi một chiếc Zero bám theo đuôi một trong hai chiếc của đội bay, hai chiếc sẽ lượn vòng hướng vào nhau. Nếu chiếc Zero tiếp tục theo đuổi mục tiêu ban đầu, nó sẽ lọt vào tầm ngắm của chiếc kia. Chiến thuật này được dùng với kết quả mỹ mãn tại Trận chiến Biển San Hô và trận Midway, giúp bù đắp cho sự yếu kém của những chiếc máy bay Mỹ cho đến khi những kiểu máy bay mới được đưa vào sử dụng.

Khi những chiếc Grumman F6F Hellcat, Vought F4U Corsair và Lockheed P-38 xuất hiện tại mặt trận Thái Bình Dương, A6M với động cơ yếu kém đã mất tính cạnh tranh. Tỉ lệ thắng:thua trong không chiến của Hải quân Mỹ đang là 1:1 đột ngột tăng vọt lên trên 10:1. Trong khi Hellcat và Corsair nói chung được đánh giá tốt hơn toàn diện chiếc Zero, sự thành công này cũng là do số phi công Nhật không có kinh nghiệm đã gia tăng.

Dù sao, cho đến cuối chiến tranh, trong những bàn tay giỏi, Zero vẫn đáng sợ. Do sự thiếu hụt động cơ máy bay công suất cao và những sự cố xảy ra cho những kiểu máy bay thay thế, Zero tiếp tục được sản xuất đến năm 1945, với hơn 11.000 chiếc thuộc tất cả các kiểu được chế tạo.

Các biến thể

A6M1, Đời 0 Nguyên mẫu:

Chiếc nguyên mẫu A6M1 đầu tiên hoàn tất tháng 3 năm 1939, gắn động cơ Mitsubishi Zuisei-13 công suất 780 mã lực (580 kW) với bộ cánh quạt 2-cánh. Nó cất cánh lần đầu ngày 1 tháng 4, và vượt qua các thử nghiệm trong thời gian khá ngắn. Đến tháng 9 nó sẵn sàng cho Hải quân thử nghiệm với tên Máy bay A6M1 Tiêm kích từ tàu sân bay Đời 0, chỉ với một thay đổi đáng chú ý là cánh quạt 3-cánh để loại trừ rung động.

A6M2, Đời Type 0 Kiểu 11:

Trong khi Hải quân còn đang thử 2 chiếc nguyên mẫu, họ đề nghị chiếc thứ 3 sẽ gắn động cơ Nakajima Sakae-12 940 mã lực (700 kW) thay vào đó. Mitsubishi cũng có động cơ cùng hạng của riêng họ là Mitsubishi Kinsei, nên họ rất miễn cưỡng khi sử dụng Sakae. Dù sao khi chiếc A6M2 đầu tiên hoàn tất vào tháng 1 năm 1940, sức mạnh vượt trội hơn của động cơ Sakae thúc đẩy tính năng bay cải thiện rõ rệt hơn những tiêu chuẩn ban đầu.

Phiên bản mới tỏ ra rất hứa hẹn nên Hải quân đặt hàng 15 chiếc và đưa sang Trung Hoa trước khi thử nghiệm hoàn tất. Chúng đến Mãn Châu vào tháng 7 năm 1940, và tham chiến lần đầu tại Trùng Khánh vào tháng 8. Ở đó nó chứng minh cho thấy là không thể nào đụng chạm đến nó bởi những chiếc Polikarpov I-16 và I-153 vốn là những vấn đề cho chiếc A5M đang được sử dụng. Trong một trận chiến 13 chiếc Zero đã bắn rơi 27 chiếc I-15 và I-16 trong vòng 3 phút mà không bị thiệt hại. Sau khi xem những báo cáo Hải quân lập tức đặt hàng sản xuất hằng loạt dưới tên gọi kiểu 11.

Báo cáo về tính năng bay của Zero gửi về Mỹ một cách chậm chạp, và bị bỏ qua bởi đa số các viên chức quân đội vì họ cảm thấy người Nhật không có khả năng tạo ra những chiếc máy bay tốt như thế.

A6M2, Đời 0 Kiểu 21:

Sau khi chỉ mới giao được 65 chiếc cho đến tháng 11 năm 1940, một cải tiến nữa được đưa vào dây chuyền sản xuất, đó là cánh gập để có thể đậu vừa trên những tàu sân bay. Kiểu 21 ra đời sẽ là phiên bản được sản xuất nhiều nhất thời kỳ đầu chiến tranh. Khi các dây chuyền chuyển sang kiểu tiếp theo, 740 chiếc Kiểu 21 do Mitsubishi và thêm 800 chiếc do Nakajima sản xuất. Hai phiên bản khác của Kiểu 21 được chế tạo với số lượng nhỏ: thủy phi cơ Nakajima A6M2-N "Rufe" (dựa trên Kiểu 11 với thay đổi nhỏ trên cánh đuôi), và phiên bản huấn luyện 2 chỗ ngồi A6M2-K với tổng cộng 508 chiếc do Hitachi và Xưởng Không lực Hải quân Sasebo chế tạo.

A6M3, Đời 0 Kiểu 32:

Cuối năm 1941, Nakajima giới thiệu động cơ Sakae 21 có sử dụng bộ siêu tăng áp 2-tốc độ nhằm có tính năng bay tốt hơn ở tầm cao, cho công suất 1.130 mã lực (840 kW). Kế hoạch dự trù áp dụng kiểu động cơ này lên chiếc Zero trong thời hạn nhanh nhất.

Động cơ Sakae mới hơi nặng và dài hơn do có bộ siêu tăng áp lớn, làm dịch chuyển trọng tâm trên khung máy bay cũ ra phía trước. Để hiệu chỉnh, khung động cơ phải lùi 200 mm (8 inch) về phía buồng lái. Việc này làm giảm dung lượng thùng nhiên liệu chính (đặt ngay sau động cơ) từ 518 L xuống còn 470 L. Cải tiến chính khác là cánh được bỏ bớt phần gấp lên, thành kiểu cánh không gấp. Cánh cũng cho phép có trữ lượng đạn nhiều hơn, đến 100 quả đạn cho mỗi khẩu pháo 20 mm. Những thay đổi này đủ nhiều để phía Mỹ đặt tên mã mới là Hamp, trước khi nhận ra nó chỉ đơn giản là kiểu Zeke mới.

Những thay đổi trên cánh mang lại hiệu quả trong tính năng bay nhiều hơn mong đợi. Cánh nhỏ hơn nên lộn vòng tốt hơn, và sức cản thấp cho phép tốc độ bổ nhào tăng lên đến 360 knot (670 km/h). Điểm bất lợi là giảm tính cơ động và tầm bay do giảm lực nâng cánh và thùng nhiên liệu nhỏ hơn. Phi công thường than phiền về cả hai điểm yếu này, và tầm bay bị giảm ảnh hưởng đáng kể trong chiến dịch Solomons năm 1942.

Kiểu 32 được giao lần đầu vào tháng 4 năm 1942, nhưng chỉ trên dây chuyền sản xuất trong thời gian ngắn với 343 chiếc được chế tạo.

A6M3, Đời 0 Kiểu 22:

Nhằm khắc phục những khiếm khuyết của Kiểu 32, một phiên bản mới của Kiểu 21 cánh gập, chứa nhiên liệu trong cánh và gắn thêm thùng nhiên liệu phụ vứt được 330 L trên mỗi cánh được giới thiệu. Dự trữ nhiên liệu bên trong được tăng lên 570 L giúp lấy lại được tầm bay xa bị mất. Vì khung máy bay được lấy lại từ Kiểu 32 với cùng kiểu động cơ, nó được Hải quân đặt tên Kiểu 22, trong khi Mitsubishi gọi nó là A6M3a. Kiểu mới được bắt đầu sản xuất từ tháng 12 năm 1942, và có 560 chiếc được sản xuất. Một vài kiểu mẫu được sản xuất nhằm đánh giá, được trang bị pháo Kiểu 5 30 mm dưới tên gọi A6M3b (Kiểu 22b).

A6M4:

Tên A6M4 được áp dụng cho hai chiếc A6M2 lắp thử nghiệm động cơ siêu tăng áp Sakae thiết kế để hoạt động ở tầm cao. Công việc thiết kế, cải tiến và thử nghiệm hai chiếc nguyên mẫu này thuộc trách nhiệm của Dai-Ichi Kaigun Gijitshusho (Xưởng không lực Hải quân thứ I) tại Yokosuka trong năm 1943. Việc thiếu thốn hợp kim thích hợp dùng cho việc chế tạo bộ siêu tăng áp cũng như các ống dẫn liên quan, khiến có sự cố các ống dẫn bị vỡ gây cháy và tính năng kém. Vì vậy, việc phát triển tiếp tục kiểu A6M4 bị ngừng lại. Tuy nhiên chương trình này cung cấp các thông tin hữu ích để thiết kế các kiểu trong tương lai, và việc chế tạo được tăng tốc cho kiểu thông dụng hơn A6M5, đang được Jukogyo K.K. của Mitsubishi phát triển.[5]

A6M5, Đời 0 Kiểu 52:

A6M5 là kiểu nâng cấp đơn giản từ A6M3 Kiểu 22, có đầu cánh không gập được và vỏ bọc dầy hơn cho phép tốc độ bổ nhào nhanh hơn, cũng như cải tiến việc thải khí (bốn ống thải mỗi bên) giúp tăng hiệu quả động cơ. Cải tiến cánh thu ngắn để tăng độ lượn vòng của A6M3 không được áp dụng. Các biến thể nhỏ bao gồm:

* A6M5a Đời 52a «Kou», trang bị pháo Kiểu 99-II nạp đạn dây chuyền loại Mk 4 thay cho nạp đạn trống Mk 3 (100 rpg), cho phép trữ lượng đạn nhiều hơn (125 rpg).
* A6M5b Đời 52b «Otsu», gắn kính chống đạn, bộ dập lửa cho thùng nhiên liệu và một súng máy Kiểu 97 7,7 mm (tốc độ đầu đạn 750 m/s với tầm bắn 600 m) gắn trên nắp động cơ được thay bằng súng máy Kiểu 3 mô phỏng Browning 13,2 mm (tốc độ đầu đạn 790 m/s với tầm bắn 900 m) và có 240 viên đạn.
* A6M5c Đời 52c «Hei» có kính chống đạn dày hơn (5.5 cm) và vỏ giáp cho ghế ngồi phi công. Kiểu này cũng trang bị ba súng máy 13,2 mm (một trên nắp động cơ, và một trên mỗi cánh với tốc độ bắn 800 viên mỗi phút), hai pháo Kiểu 99-II 20 mm và thùng nhiên liệu phụ 367 L, thường được thay bằng một quả bom 250 kg.

A6M5 đạt tốc độ 540 km/h và đạt đến độ cao 8.000 m sau gần 10 phút. Các phiên bản khác là kiểu tiêm kích bay đêm A6M5d-S (cải tiến để chiến đấu ban đêm, trang bị một pháo Kiểu 99 20 mm gắn lui vào buồng lái) và kiểu huấn luyện 2-chỗ ngồi A6M5-K "Zero-Reisen"(kiểu l22) cũng do Mitsubishi sản xuất.

A6M6c:
Tương tự A6M5c, nhưng có bình nhiên liệu cánh tự hàn và gắn động cơ Nakajima Sakae 31a có phun hổn hợp nước-methanol để tăng tốc.

A6M7, Đời 0 Kiểu 63:
Tương tự A6M6 nhưng dự định cho vai trò tấn công cảm tử Thần Phong (Kamikaze).

A6M8:
Tương tự A6M6 nhưng gắn động cơ Mitsubishi Kinsei-62, chỉ có hai chiếc nguyên mẫu được chế tạo.


Đặc điểm kỹ thuật (A6M2 đời 0 Kiểu 21):

Đặc tính chung:
* Đội bay: 01 người
* Chiều dài: 9,06 m (29 ft 9 in)
* Sải cánh: 12,0 m (39 ft 4 in)
* Chiều cao: 3,05 m (10 ft 0 in)
* Diện tích bề mặt cánh: 22,44 m² (241,5 ft²)
* Trọng lượng không tải: 1.680 kg (3.704 lb)
* Trọng lượng có tải: 2.410 kg (5.313 lb)
* Động cơ: 1 x động cơ Nakajima Sakae 12 bố trí hình tròn, công suất 950 mã lực (709 kW)

Đặc tính bay:
* Tốc độ lớn nhất: 660 km/h (356 knot, 410 mph)
* Tốc độ nhanh nhất tiêu biểu: 533 km/h (287 knot, 331 mph) ở độ cao 4.550 m (14.930 ft)
* Tầm bay tối đa: 3.105 km (1.675 nm; 1.929 mi)
* Trần bay: 10.000 m (33.000 ft)
* Áp lực cánh: 107,4 kg/m² (22,0 lb/ft²)
* Tỉ lệ công suất/khối lượng: 0,294 W/kg (0,18 hp/lb)

Vũ khí:
* Súng:
o 2 x súng máy 7,7 mm (0,303 in) kiểu 97 trong nắp động cơ
o 2 × pháo 20 mm (0,787 in) kiểu 99 trên cánh
* Bom:
o 2 × bom 66 lb (30 kg) và
o 1 × bom 132 lb (60 kg) hoặc
o 2 × bom cố định 250 kg (550 lb) để tấn công kiểu Thần Phong (kamikaze)

Kiểu: Máy bay tiêm kích
Hãng sản xuất: Mitsubishi
Thiết kế bởi: Jiro Horikoshi
Chuyến bay đầu tiên: 1 tháng 4 năm 1939
Được giới thiệu: tháng 7 năm 1940
Hết sử dụng: 1945
Tình trạng: nghỉ hưu
Hãng sử dụng chính: Không lực Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Được chế tạo: 1940-1945
Số lượng được sản xuất: 11.000

7. Nakajima Ki-84 (Nhật Bản):



Chiếc Nakajima Ki-84 Hayate (疾風|Tật phong - gió lạ) là một kiểu máy bay tiêm kích một chỗ ngồi được Không lực Lục quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng trong Thế Chiến II. Nó là kiểu cuối cùng trong loạt những chiếc máy bay tiêm kích cổ điển của Nakajima và được xem là một trong những máy bay có tính năng bay vượt trội của nước này. Tên mã khối Đồng Minh đặt cho nó là "Frank"; trong khi tên gọi chính thức của Lục quân Nhật Bản là "Máy bay Tiêm kích Loại 4" (四式戦闘機).

Cho dù bản thân thiết kế khá vững chắc, việc thiếu hụt nhiên nhiệu và vật liệu cấu tạo, chất lượng sản xuất kém và thiếu hụt phi công có kỹ năng khiến chiếc máy bay không đạt được hết tiềm năng của nó. Có tổng cộng 3.514 chiếc được chế tạo.

Thiết kế và phát triển:

Việc thiết kế chiếc Ki-84 được bắt đầu từ đầu năm 1942 nhằm đáp ứng một yêu cầu của Không lực Lục quân Đế quốc Nhật Bản về một kiểu máy bay tiêm kích thay thế cho chiếc Nakajima Ki-43 "Hayabusa" vốn vừa mới được đưa vào hoạt động. Bản tiêu chuẩn đã mường tượng ra nhu cầu phải phối hợp độ cơ động của chiếc Ki-43 với tính năng bay có thể theo kịp những máy bay tiêm kích tốt nhất và trang bị vũ khí nặng của phương Tây.[1] Chiếc Ki-84 bay chuyến bay đầu tiên vào tháng 3 năm 1943.[2]

Chiếc Ki-84 đã khắc phục được phần nào những điểm than phiền hay gặp nhất đối với kiểu máy bay thông dụng có độ cơ động cao Ki-43: động cơ không đủ công suất, vỏ giáp bảo vệ kém và tốc độ lên cao yếu. Chiếc Ki-84 được giới thiệu với hai khẩu súng máy 12,7 mm (50 inch) và hai khẩu pháo 20 mm, một cải thiện đáng kể so với một khẩu súng máy 7,7 mm và một khẩu 12,7 mm trang bị cho chiếc Hayabusa. Vỏ giáp bảo vệ cho phi công lái Hayate tốt hơn là những thùng nhiên liệu trên cánh không tự hàn và khung hợp kim nhẹ của chiếc Ki-43. Thêm vào đó, chiếc Ki-84 trang bị kính nóc buồng lái dày 65 mm, vỏ giáp 13 mm phía đầu và lưng, và nhiều vách ngăn trong thân để bảo vệ thùng hổn hợp methanol-nước (dùng để tăng thêm hiệu quả bộ siêu tăng áp) và thùng nhiên liệu trung tâm.

Nhưng chính là động cơ đã cung cấp cho chiếc Hayate tốc độ và năng lực trong chiến đấu. Áp dụng kiểu động cơ Nakajima Homare được dùng cho nhiều máy bay Nhật khác, chiếc Hayate sử dụng một phiên bản cải biến phun nhiên liệu trực tiếp, dùng cách phun nước để hỗ trợ bộ siêu tăng áp, cung cấp cho chiếc Ki-84 công suất lên đến 2.000 mã lực khi cất cánh. Sự phối hợp này trên lý thuyết ít nhất sẽ đem lại tốc độ lên cao và vận tốc tối đa ngang ngữa với những chiếc máy bay tiêm kích hàng đầu của Đồng Minh trong giai đoạn sau của cuộc chiến tại Thái Bình Dương, chiếc P-51D Mustang và chiếc P-47D Thunderbolt (đạt được tốc độ tối đa 433 và 426 dặm mỗi giờ tương ứng). Những thử nghiệm ban đầu của chiếc Hayate do Tachikawa thực hiện vào đầu mùa Hè năm 1943 cho thấy Trung úy phi công thử nghiệm Funabashi đã đạt được tốc độ tối đa khi bay ngang là 634 km/h (394 dặm mỗi giờ) trên chiếc nguyên mẫu thứ hai, nhưng sau chiến tranh một chiếc do Quân đội Mỹ chiếm được, sử dụng nhiên liệu có chỉ số octane cao đã đạt được tốc độ lên đến 690 km/h (430 dặm mỗi giờ).

Tuy nhiên, sự phức tạp của kiểu động cơ phun nhiên liệu trực tiếp đòi hỏi rất nhiều cẩn thận trong chế tạo và bảo trì, và khi phe Đồng Minh tiến sát đến chính quốc Nhật Bản, ngày càng khó khăn hơn trong việc hỗ trợ tính năng được thiết kế của Hayate. Vấn đề về độ tin cậy bị làm trầm trọng hơn khi Đồng Minh phong tỏa tàu ngầm làm ngăn trở việc vận chuyển các thành phần cốt yếu như bộ càng đáp. Hậu quả là nhiều chiếc Hayate bị gảy càng đáp khi hạ cánh.

Các phiên bản:


Ki-84
Chiếc nguyên mẫu, thử nghiệm đánh giá và kiểu mẫu tiền sản xuất.
Ki-84-Ia Hayate
Máy bay tiêm kích Lục quân Kiểu 4.
Ki-84-Ib
Phiên bản trang bị bốn pháo Ho-5 20 mm.
Ki-84-Ic
Phiên bản đánh chặn máy bay ném bom, với một pháo Ho-5 20 mm và một pháo Ho-105 30 mm trên cánh.
Ki-84-Ia (Kiểu Manshu Type)
Sản xuất bởi Mansyu tại Mãn Châu theo giấy phép nhượng quyền của Nakajima.
Ki-84-II
Tương tự như các kiểu trên (Ki-84-Ia, -Ib, -Ic).
Ki-84 N/P/R
Phiên bản hoạt động tầm cao.
Ki-106
Những chiếc nguyên mẫu cấu tạo toàn bằng gỗ.
Ki-113
Chiếc nguyên mẫu tương tự kiểu Ki-84-Ib cấu tạo toàn thép.
Ki-116
Phiên bản đánh giá, trang bị động cơ Mitsubishi 62 (Ha-33) công suất 1.500 mã lực (1.120 kW).
Ki-117
Tên gọi mới của kiểu Ki-84 N.

Tổng cộng có 3.514 chiếc được sản xuất, trong đó 3.288 chiếc bởi Nakajima và 94 chiếc bởi Mansyu.

Đặc điểm kỹ thuật (Ki-84-Ia):

Đặc tính chung:
* Đội bay: 01 người
* Chiều dài: 9,93 m (32 ft 7 in)
* Sải cánh: 11,23 m (36 ft 10 in)
* Chiều cao: 3,38 m (11 ft 1 in)
* Diện tích bề mặt cánh: 21 m² (226 ft²)
* Lực nâng của cánh : 172kg/m² (35 lb/ft²)
* Trọng lượng không tải: 2.665 kg (5.875 lb)
* Trọng lượng có tải: 3.616 kg (7.972 lb)
* Trọng lượng cất cánh tối đa: 3.898 kg (8.594 lb)
* Động cơ: 1 x động cơ Nakajima Ha-45-21 18 xy lanh bố trí hình tròn, công suất 1.990 mã lực (1.485 kW)

Đặc tính bay:
* Tốc độ lớn nhất: 627 km/h (392 mph), không vượt quá 800 km/h (496 mph)
* Tầm bay tối đa: 2.155 km (1.339 mi)
* Trần bay: 10.500 m (34.450 ft)
* Tốc độ lên cao: 19,25 m/s (3.790 ft/min)
* Tỉ lệ công suất/khối lượng : 0,41 kW/kg (0,25 hp/lb)

Vũ khí:
* 2 x pháo Ho-5 20 mm trên cánh
* 2 x súng máy Ho-103 12,7 mm (0,50 in) trên thân
* 2 x bom 250 kg (550 lb)

Kiểu: Máy bay tiêm kích
Hãng sản xuất: Nakajima
Chuyến bay đầu tiên: tháng 3 năm 1943
Hết sử dụng: 1945
Hãng sử dụng chính: Không lực Lục quân Đế quốc Nhật Bản
Số lượng được sản xuất: 3.514

 

8. Kawasaki Ki-100 (Nhật Bản):


Một chiếc Ki-100 được trưng bày tại Bảo tàng Không quân Hoàng gia Anh ở Hendon, London

Chiếc Kawasaki Ki-100 là một kiểu máy bay tiêm kích được Lục quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng trong Thế Chiến II. Một biện pháp khẩn cấp nhằm thích nghi một chiếc máy bay tiêm kích Ki-61-II-KAI trang bị một động cơ Mitsubishi bố trí hình tròn đưa đến một kiểu máy bay tiêm kích đánh chặn xuất sắc, một trong những chiếc tốt nhất được Lục quân Nhật sử dụng trong cuộc chiến. Các phi vụ chiến đấu được bắt đầu từ tháng 3 năm 1945; và ngay từ những cuộc đối đầu ban đầu, chiếc Ki-100 đã chứng tỏ phẩm chất tốt để đối chọi lại những chiếc máy bay ném bom hạng nặng B-29 của Không lực Mỹ ở tầm cao, cũng như có khả năng chống cự hiệu quả những máy bay tiêm kích trên tàu sân bay của Hải quân Hoa Kỳ. Một phiên bản mới hơn, chiếc Ki-100-Ib, được chế tạo trong những tuần lễ cuối cùng của cuộc chiến nhằm trang bị cho năm sentai (trung đoàn bay) để phòng thủ chính quốc. Kiểu máy bay này có tên chính thức của Lục quân Nhật là "Máy bay Tiêm kích loại 5" (五式戦闘機).

Thiết kế và phát triển:

Vào giữa năm 1944, một trong những máy bay tiêm kích tốt nhất của Lục quân Nhật Bản là chiếc Kawasaki Ki-61 Hien (飛燕、Phi Yến - én bay, tên mã của Đồng Minh là "Tony"). Nó là máy bay tiêm kích duy nhất do Nhật Bản sản xuất trang bị động cơ thẳng hàng (kiểu Kawasaki Ha-40, một cải biến của người Nhật dựa trên kiểu động cơ Daimler-Benz DB 601 của Đức) trong Thế Chiến II, cũng như là chiếc đầu tiên trang bị vỏ giáp và thùng nhiên liệu tự hàn kín ngay khi xuất xưởng. Nó cũng có được tính năng bay đáng ngưỡng mộ, so sánh được với các thiết kế hiện đại của Hoa Kỳ và Châu Âu vào thời đó, chú tâm vào vận tốc và tốc độ lên cao thay vì độ cơ động và tầm bay xa. Nó là một thiết kế có hiệu quả, nhưng chịu ảnh hưởng bởi sự thiếu hụt động cơ và những vấn đề về độ tin cậy.

Những vấn đề này cùng với ưu thế về tính năng bay của những chiếc máy bay tiêm kích đối phương, đặc biệt là kiểu F6F Hellcat, đã dẫn đến việc phát triển một phiên bản cải tiến, chiếc Ki-61-II (sau này là Ki-61-II-KAI), trang bị động cơ mới Kawasaki Ha-140 công suất 1.120 kW (1.500 mã lực), mà không may thay lại nặng hơn chiếc Ki-61-I-KAIc mà nó thay thế. Tốc độ tối đa gia tăng từ 590 km/h (368 mph) lên 610 km/h (379 mph) và tính năng bay nói chung (ngoại trừ tốc độ lên cao) đều được cải thiện. Tuy nhiên, nó không bao giờ có dịp thể hiện như kế hoạch do chất lượng của dây chuyền sản xuất động cơ liên tục bị xuống cấp. Việc sản xuất kiểu này kết thúc vào đầu năm 1945, khi một cuộc ném bom của B-29 đã phá hủy nhà máy sản xuất động cơ, để lại hơn 280 khung máy bay Ki-61 không có động cơ trang bị. Vào thời điểm này của cuộc chiến, Lục quân Nhật đang rất cần những chiếc máy bay tiêm kích đánh chặn hiệu quả để ngăn chặn những cuộc ném bom của đối phương vào chính quốc Nhật Bản, nên đã yêu cầu trang bị kiểu động cơ Mitsubishi Ha-112-H trên những khung máy bay này.

Kiểu Mitsubishi Ha-112-H là một động cơ mạnh mẽ, thực chất tương đương với kiểu Ha-140, nhưng là loại bố trí hình tròn và nhẹ hơn (chiếc Ki-100 nhẹ hơn 272 kg/600 lb so với chiếc Ki-61-II, tương đương kiểu Ki-61-I). Sau khi nghiên cứu một mẫu máy bay Fw 190A được nhập khẩu, một máy bay tiêu biểu có động cơ bố trí hình tròn lắp thành công trên một khung máy bay hẹp, ba khung máy bay Ki-61-II-KAI được cải biến để lắp kiểu động cơ này làm chiếc nguyên mẫu. Vào ngày 1 tháng 2 năm 1945, kiểu máy bay mới bay chuyến bay đầu tiên. Bộ Tổng tham mưu Lục quân đã ngạc nhiên bởi tính năng bay xuất sắc của nó, đã vượt qua chiếc Hien về mọi mặt ngoại trừ vận tốc tối đa (bị suy giảm đôi chút do diện tích cản lớn hơn), nên đã yêu cầu đưa kiểu máy bay mới vào sản xuất dưới tên gọi Máy bay Tiêm kích Lục quân Loại 5 Kiểu 1a. Tên đặt của công ty cho nó là Ki-100-1-Ko, và không lâu sau có thêm 271 khung máy bay cùng được cải tiến.

Động cơ này tỏ ra bền bỉ tương phản với những cơn ác mộng cơ khí công suất cao trên những chiếc Nakajima Ki-84, Kawasaki Ki-61 và Kawanishi N1K-J đã khiến nhiều chiếc máy bay phải nằm lại trên mặt đất. Mặc dù chậm khi bay ngang, Ki-100 có thể bổ nhào sánh cùng P-51 Mustang không giống như đa số những máy bay tiêm kích Nhật khác và iữ được tốc độ khi thoát ra. Các khẩu pháo mang được 250 viên đạn 20 x 94 mm mỗi khẩu, mỗi đầu đạn nặng 112 g (AP: xuyên thép) hay 79 g (HE: đạn nổ 12%). Vận tốc đầu đạn là 700 m/s (2.300 ft/s); của HE là 730 m/s (2.400 ft/s) cung cấp tầm bắn hiệu quả là 900 m (2.950 ft). Tốc độ bắn 850 viên mỗi phút bị giảm đi khoảng 27% khi đồng bộ với các cánh quạt, dù vậy kiểu vũ khí này vẫn có hiệu quả (620,5 viên mỗi phút) ngay cả theo tiêu chuẩn phương Tây. Mỗi khẩu súng máy trên cánh mang được 250 viên đạn 12,7 x 81 mm. mỗi đầu đạn nặng 35,4 g AP (33-38 g 2,2%HE) và có vận tốc đầu đạn là 760 m/s (770-796 m/s HE) (2.450 ft/s; 2.500-2.600 ft/s) cung cấp tầm bắn hiệu quả là 750 m (2.460 ft), với tốc độ bắn 900 viên mỗi phút. [2]

Việc cải tiến kiểu căn bản đã cho ra đời phiên bản Ki-100-II, với động cơ siêu tăng áp dùng để đánh chặn những chiếc máy bay ném bom B-29 Superfortress trên tầm cao, nhưng chỉ có ba chiếc được chế tạo và chúng chưa từng được đưa ra sử dụng.

Lịch sử hoạt động:

Chiếc Ki-100 nhìn từ phía trước. Ảnh chụp tại Bảo tàng Không quân Hoàng gia Anh ở Hendon, London.
Chiếc Ki-100 nhìn từ phía trước. Ảnh chụp tại Bảo tàng Không quân Hoàng gia Anh ở Hendon, London.

Các đơn vị Lục quân Đế quốc Nhật Bản đầu tiên được trang bị kiểu máy bay này là các trung đoàn bay (sentai) số 5, 59, 200, 244 và đại đội bay độc lập 81. Cùng thời gian này, Lục quân yêu cầu phát triển một phiên bản mới cải tiên đôi chút được gọi là Ki-100 I-Otsu hay Máy bay Tiêm kích Lục quân Loại 5 Kiểu 1b. Kiểu này có một nóc buồng lái dạng bọt nước để cải thiện tầm nhìn và khung máy bay nhằm mục đích mang một động cơ bố trí hình tròn. Khi việc cung cấp những khung máy bay Ki-61-II rỗng kết thúc, phiên bản mới được đưa vào sản xuất. Cùng với các đơn vị Lục quân kể trên, các trung đoàn bay 17, 18, 25, 111 và 125 cũng được huấn luyện để sử dụng kiểu máy bay này.

Chiếc Ki-100 bắt đầu tham gia chiến đấu vào ngày 9 tháng 3 năm 1945 và chịu đựng tổn thất đầu tiên vào tháng 4 năm 1945, tuy nhiên lực lượng Đồng Minh nhanh chóng đánh giá chiếc máy bay tiêm kích mới là một kiểu máy bay chiến đấu hàng đầu[3]. Chỉ có một số ít máy bay Ki-100 sẵn có so với số lượng những chiếc Ki-84 nhưng chúng được nhanh chóng bố trí đến các trung đoàn bay 4, 5, 17, 20, 59, 111, 112 và 244 (việc bố trí này đã trãi rộng đáng kể số máy bay ít ỏi có được, nhưng nhiều trong số các đơn vị này chỉ được tái trang bị một phần). Đến năm 1945, Ki-100 được nhìn nhận là một máy bay tiêm kích quan trọng trong lực lượng. Tuy nhiên trong việc đánh chặn những chiếc máy bay ném bom B-29 trên tầm cao (tại một thời điểm trong cuộc chiến, những cuộc tấn công của B-29 diễn ra ở tầm thấp), chiếc máy bay tiêm kích mới gặp khó khăn do kiểu động cơ Ha-112-H bị suy giảm động lực ở độ cao lớn. Cách tấn công những chiếc Superfortress hiệu quả nhất là tấn công trực diện cực kỳ nguy hiểm, chỉ thay đổi đường bay khi đến gần những chiếc máy bay ném bom. Một sai sót trong nổ lực này là rất nguy hiểm, vì sự tập trung hỏa lực phòng thủ từ chiếc máy bay ném bom. Trong kiểu chiến đấu này, những chiếc máy bay tiêm kích đánh chặn Mitsubishi J2M Raiden của Hải quân là vượt trội hơn cả.[4]

Vào ngày 25 tháng 7 năm 1945, 18 chiếc máy bay tiêm kích Ki-100 thuộc Trung đoàn bay 244 nghênh chiến cùng mười chiếc F6F Hellcat thuộc Phi đoàn Belleau Wood trong một trận không chiến đáng ghi nhớ, khi các phi công Ki-100 báo cáo đã bắn rơi đến 12 máy bay địch và bị tổn thất hai chiếc. Nhiều tranh luận từ cả hai phía nổ ra chung quanh con số chiến thắng và tổn thất thực sự của trận này, nhưng điều này cho thấy chiếc Ki-100 đã trở thành một vũ khí đối địch lợi hại. Tổn thất thực sự của trận này là hai chiếc Hellcat cùng hai chiếc Ki-100 bị mất; trong đó một chiếc Ki-100 và một chiếc F6F bị rơi do va chạm giữa Thiếu tá Tsutae Obara và Thiếu úy Edwin White và cả hai đều bị thiệt mạng.[5] Ki-100 được đánh giá cao về tính nhanh nhẹn của nó, và một chiếc Ki-100 được điều khiển thành thạo có thể vượt qua mọi chiếc máy bay tiêm kích hàng đầu của Mỹ kể cả những chiếc P-51D Mustang và P-47N Thunderbolt chắc chắn theo hộ tống các cuộc ném bom của B-29 xuống Nhật Bản vào lúc đó, và sánh được về tốc độ đặc biệt là ở độ cao trung bình. Trong tay một phi công kinh nghiệm, chiếc Ki-100 là một đối thủ nguy hiểm, và cùng với chiếc Ki-84 của Lục quân và chiếc Kawanishi N1K-J của Hải quân, là những chiếc máy bay tiêm kích Nhật Bản duy nhất có thể đối chọi được những kiểu máy bay Đồng Minh mới nhất. [6]

Sau trận ném bom nhà máy Kagamigahara và sự chậm trễ trong việc giao hàng từ các nhà máy vệ tinh, tốc độ sản xuất của chiếc Ki-100 ngày càng giảm sút, và trong khoảng thời gian giữa tháng 5 và tháng 7, chỉ có 12 chiếc được giao hàng. Cuối cùng, việc sản xuất phải chấm dứt do bị ném bom, và chỉ có tổng cộng 118 chiếc thuộc phiên bản Kiểu 1b được giao hàng. Tổn thất cuối cùng của chiếc Ki-100 trong cuộc chiến diễn ra vào ngày 14 tháng 8 năm 1945, chỉ một ngày trước khi Nhật Bản đầu hàng, khi Trung sĩ Tamagake bị một chiếc Mustang bắn rơi.

Các phiên bản

Ki-100 Nguyên mẫu
Dựa trên kiểu Kawasaki Ki-61 II KAI với động cơ bố trí hình tròn. Có ba chiếc được chế tạo.
Ki-100 I-Ko
Máy bay Tiêm kích Lục quân Loại 5 (Mark Ia), phiên bản sản xuất đầu tiên, cải biến dựa trên kiểu KI-61 II KAI. Có 271 chiếc được chế tạo.
Ki-100 I-Otsu
Máy bay Tiêm kích Lục quân Loại 5 (Mark Ib), Nóc buồng lái có tầm nhìn toàn diện. Có 118 chiếc được chế tạo.
Ki-100 II Nguyên mẫu
Trang bị động cơ Mitsubishi Ha-112-II-Ru với turbo tăng áp công suất 1.500 mã lực (1.100 kW). Có ba chiếc được chế tạo.

Tổng cộng số lượng sản xuất: 395 chiếc.

Đặc điểm kỹ thuật (Ki-100-1a/b Goshikisen):

Đặc tính chung:
* Đội bay: 01 người
* Chiều dài: 8,82 m (28 ft 11 in)
* Sải cánh: 10,48 m (34 ft 4 in)
* Chiều cao: 3,75 m (12 ft 4 in)
* Diện tích bề mặt cánh: 20 m² (215 ft²)
* Trọng lượng không tải: 2.525 kg (5.567 lb)
* Trọng lượng có tải: 3.495 kg (7.705 lb)
* Động cơ: 1 x động cơ Mitsubishi Ha 112-II bố trí hình tròn, công suất 1.500 mã lực (1.119 kW) ở 6.000 m (19.685 ft)

Đặc tính bay:
* Tốc độ lớn nhất: 580 km/h (360 mph); tốc độ bổ nhào lớn nhất: 850 km/h (528 mph)
* Tầm bay tối đa: 2.200 km (1.367 mi)
* Trần bay: 11.000 m (36.090 ft)
* Tốc độ lên cao: 16,8 m/s (3.300 ft/min)

Vũ khí:
* 2 x pháo Ho-5 20 mm (0,30 in) gắn trên cánh, 250 viên đạn 20x94 mm mỗi khẩu
* 2 x súng máy Ho-103 12,7 mm (0,50 in) gắn trên thân, 250 viên đạn 12,7x81 mm mỗi khẩu.

Kiểu: Máy bay tiêm kích
Hãng sản xuất: Kawasaki Heavy Industries
Chuyến bay đầu tiên: 1 tháng 2 năm 1945
Được giới thiệu: 1945
Hết sử dụng: 1945
Hãng sử dụng chính: Không lực Lục quân Đế quốc Nhật Bản
Được chế tạo: 1945
Số lượng được sản xuất: 395
Được phát triển từ: Kawasaki Ki-61

9. Mitsubishi J2M (Nhật Bản):



Chiếc Mitsubishi J2M "Raiden" (tiếng Nhật: 雷電, thunderbolt, sấm chớp) là kiểu máy bay tiêm kích cánh quạt 1 động cơ đặt căn cứ trên đất liền do Hải quân Đế quốc Nhật Bản sử dụng trong Thế chiến II. Tên mã của Đồng Minh là "Jack".

Thiết kế và phát triển:

J2M được thiết kế bởi Jiro Horikoshi, cha đẻ của chiếc Mitsubishi A6M Zero. Nó chỉ thuần chất là một máy bay tiêm kích đánh chặn phòng thủ nội địa, dự định để chống lại nguy cơ bị tấn công bởi máy bay ném bom tầm cao, do đó sẽ dựa vào vận tốc, khả năng bay lên cao và vũ khí trang bị mạnh mẽ bằng cách đánh đổi tính cơ động. J2M là chiếc máy bay có dáng mượt nhưng lùn mập với động cơ Mitsubishi Kasei quá khổ bên dưới một nắp che dài, làm mát bằng quạt thổi và truyền động đến cánh quạt với một trục dài. Tầm nhìn của phi công khá kém.

Sản xuất:

Tổng cộng có 621 máy bay được sản xuất bởi các nhà máy của Mitsubishi Jukogyo K.K ở Nagoya và Suzuka. Nhiều chiếc J2M3 và J2M5 cũng được sản xuất bởi Koza Kaigun Kokusho (Xưởng Không lực Hải quân). Cụ thể số lượng các phiên bản như sau:

* J2M1 – 8 chiếc
* J2M2 - 131 chiếc
* J2M3 - 307 chiếc do Mitsubishi và 128 chiếc do Koza KK.
* J2M4 - 2 chiếc
* J2M5 - 43 chiếc

Lịch sử hoạt động:

Vài chiếc J2M2 sản xuất đầu tiên được gửi đến các đơn vị phát triển vào tháng 12 năm 1942 nhưng có những vấn đề nghiêm trọng của động cơ. Việc thử nghiệm và cải tiến mất gần 1 năm, và lô sản xuất hằng loạt đầu tiên J2M2 Kiểu 11 được giao đến Kokutai 381 vào tháng 12 năm 1943. Song song đó, việc sản xuất J2M3 Raiden Kiểu 21 cũng được bắt đầu. Chiếc J2M3 đầu tiên xuất hiện vào tháng 10 năm 1943 nhưng việc giao hàng cho các đơn vị chiến đấu chỉ bắt đầu vào đầu tháng 2 năm 1944.

Raiden bắt đầu tham gia chiến đấu vào tháng 9 năm 1944 trong Trận chiến biển Philippine. Nhiều chiếc J2M cất cánh từ đảo Guam và đảo Saipan và một số nhỏ được bố trí tại Philippines.

Nhiệm vụ chủ yếu của các đơn vị trang bị Raiden là ngăn chặn những chiếc máy bay ném bom B-29 Superfortress bay trên những đảo thuộc lãnh thổ chính quốc Nhật. Vũ khí mạnh và tính năng bay tốt khiến nó là đối thủ của những chiếc B-29, nhưng số lượng không đủ nên không thể chống lại tất cả máy bay ném bom vào Nhật Bản.

Đặc điểm kỹ thuật (J2M5):

Đặc điểm chung:
* Đội bay: 01 người
* Chiều dài: 9,95 m (32 ft 8 in)
* Sải cánh: 10,80 m (35 ft 5 in)
* Chiều cao: 3,94 m (13 ft 0 in)
* Diện tích bề mặt cánh: 20 m² (216 ft²)
* Trọng lượng không tải: 2.839 kg (6.259 lb)
* Trọng lượng có tải: 3.482 kg (7.676 lb)
* Động cơ: 1 x động cơ Mitsubishi MK4U-4 Kasei 26a 14-xy lanh bố trí vòng tròn, công suất 1.820 mã lực (1.358 kW)

Đặc tính bay:
* Tốc độ lớn nhất: 615 km/h (382 mph)
* Tầm bay tối đa: 560 km (348 mi)
* Trần bay: 11.250 m (36.910 ft)
* Tốc độ lên cao: 19,5 m/s (3.838 ft/min)
* Lực nâng của cánh: 174 kg/m² (35 lb/ft²)
* Tỉ lệ công suất/khối lượng: 0,39 kW/kg (0,24 hp/lb)

Vũ khí:
* 4 x pháo 20 mm, 2 khẩu trên mỗi cánh, khoảng 200 viên đạn mỗi khẩu.
* 2 × bom 60 kg (132 lb) hoặc 2 × thùng nhiên liệu phụ 200 L vứt được.

Kiểu: Máy bay tiêm kích đánh chặn
Hãng sản xuất: Mitsubishi
Thiết kế bởi: Jiro Horikoshi
Chuyến bay đầu tiên: 20 tháng 3 năm 1942
Được giới thiệu: tháng 12 năm 1942
Hết sử dụng: tháng 8 năm 1945
Hãng sử dụng chính: Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Số lượng được sản xuất: 621

 

10. Kawanishi N1K-J (Nhật Bản):


Một chiếc Kawanishi N1K2-J

Chiếc Kawanishi N1K "Kyōfū" (強風|Cường Phong- cơn gió lớn) là một kiểu máy bay tiêm kích thủy phi cơ của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, trong khi chiếc Kawanishi N1K-J "Shiden" (紫電|Tử điện) là một phiên bản N1K của Hải quân Đế quốc Nhật Bản đặt căn cứ trên đất liền. Được phe Đồng Minh đặt tên mã là George, chiếc N1K-J được các phi công của nó và ngay cả đối thủ xem là một trong những máy bay tiêm kích đặt căn cứ trên đất liền tốt nhất từng được Nhật Bản sử dụng trong Thế Chiến II. Nó được trang bị vũ khí khá mạnh, và hiếm gặp trên một chiếc máy bay tiêm kích Nhật, nó có thể chịu đựng tổn hại rất khá trong chiến đấu. Chiếc N1K-J thậm chí còn đối đầu ngang ngữa với chiếc F6F Hellcat và được xem là khá hơn chiếc A6M5 Zeke để đối đầu những chiếc F4U Corsair và P-51 Mustang của Đồng Minh. Cho dù có khả năng như thế, nó được sản xuất quá trễ và số lượng không đủ để ảnh hưởng đến kết quả của cuộc chiến.

Thiết kế và phát triển:

Chiếc Kawanishi N1K ban đầu được chế tạo như một thủy phi cơ tiêm kích hoạt động tại các chiến dịch tấn công ngoài mặt trận nơi không có các đường băng. Nhưng đến năm 1943 khi chiếc máy bay được đưa ra hoạt động, Nhật Bản đang ở trong thế phòng ngự, và đã không có nhu cầu sử dụng đến chiếc N1K. Chúng chỉ được sử dụng trong phòng thủ, nhưng cũng không sánh được với các máy bay tiêm kích của Hải quân Hoa Kỳ hoạt động trên các tàu sân bay.

Yêu cầu phải mang phao nổi to nặng nề đã làm phá hỏng chiếc N1K khi đối chọi lại những chiếc máy bay tiêm kích Mỹ hiện đại. Tuy nhiên, các kỹ sư của Kawanishi đã đề nghị từ cuối năm 1941 rằng kiểu N1K cũng có thể tạo ra một phiên bản máy bay tiêm kích chắc chắn đặt căn cứ trên đất liền, và phiên bản này được sản xuất như là sự đầu tư riêng của hãng. Nó bay chuyến bay đầu tiên vào ngày 27 tháng 12 năm 1942, trang bị một động cơ Nakajima Homare bố trí hình tròn thay cho loại Mitsubishi Kasei công suất kém hơn trên chiếc N1K. Chiếc máy bay giữ lại kiểu cánh gắn giữa của chiếc thủy phi cơ, điều này cùng với các cánh quạt đường kính lớn đã đòi hỏi phải có bộ càng đáp dài, lênh khênh. Một đặc tính độc đáo là các cánh nắp chiến đấu tự động của chiếc máy bay sẽ tự động điều chỉnh theo gia tốc không cần sự can thiệp của phi công, và hạn chế được sự tròng trành trong chiến đấu.

Động cơ Nakajima Homare là kiểu mạnh mẽ, nhưng do được vội vã đưa vào sản xuất trước khi nó thực sự sẵn sàng, nên có nhiều trục trặc. Một vấn đề nữa là do kỹ thuật nhiệt luyện kém, bộ càng đáp thường bị gảy khi hạ cánh. Được biết là đã có nhiều chiếc George đã bị mất vì tai nạn do lỗi này hơn là bởi máy bay Đồng Minh. Ngoài những vấn đề về động cơ và bộ càng đáp, chương trình thử nghiệm cho thấy chiếc máy bay có nhiều triễn vọng. Những chiếc nguyên mẫu được Hải quân đánh giá, và vì nó nhanh hơn chiếc Mitsubishi A6M5 "Reisen" và có tầm bay xa hơn chiếc Mitsubishi J2M2 "Raiden", nó được yêu cầu đưa vào sản xuất dưới tên gọi N1K1-J, ký tự -J cho biết đây là phiên bản cải biến thành máy bay tiêm kích đặt căn cứ trên đất liền của chiếc thủy phi cơ tiêm kích nguyên thủy.

Vũ khí trang bị là bốn khẩu pháo Kiểu 99 Loại 2 Mk 4 20 mm trên cánh, mang được 100 viên đạn mỗi khẩu cho cặp súng trong và 70 viên đạn mỗi khẩu cho cặp súng ngoài. Loại đạn 20×101 mm có tầm bắn hiệu quả 1.000 m (3.280 ft) và vận tốc đầu đạn là 700 m/s (2.297 ft/s). Đầu đạn nặng 128 g chứa 6-8% chất nổ. Tốc độ bắn vào khoảng 500 viên mỗi phút cho mỗi khẩu. Các khẩu súng được chỉnh hội tụ ở tầm bắn 200 m (656 ft).

Chiếc N1K2-J là một kiểu được thiết kế lại hoàn toàn được bắt đầu chỉ bốn ngày sau khi chiếc Shiden bay chuyến bay thử nghiệm đầu tiên, nhằm giải quyết những yếu kếm chính của chiếc N1K1-J, chủ yếu là kiểu cánh gắn giữa và bộ càng đáp quá dài. Cánh được chuyển đến vị trí thấp hơn, cho phép sử dụng loại càng đáp thông thường, thân được kéo dài thêm, đuôi được thiết kế lại, và toàn bộ chiếc máy bay được làm để sản xuất đơn giản hơn và sử dụng ít hơn các vật liệu then chốt vốn đang khan hiếm. Kiểu động cơ Homare được giữ lại vì không có được kiểu thay thế cho dù những vấn đề về độ tin cậy chưa được hoàn toàn sửa chữa. Số lượng đạn mang được của các khẩu pháo cũng được tăng lên 200 viên mỗi khẩu. Chiếc nguyên mẫu bay chuyến bay đầu tiên vào ngày 1 tháng 1 năm 1944 và được vội vã đưa vào sản xuất sau khi được Hải quân thử nghiệm trong tháng 4. Chiếc máy bay được đặt tên là "Shiden-Kai" (紫電改), trong đó tiếng Nhật 改, Kai mang ý nghĩa được cải biến.

Lịch sử hoạt động:
Một chiếc Kawanishii N1K-J, có thể là phiên bản N1K4-J Shiden Kai Kiểu 32 - chỉ có hai chiếc được chế tạo.
Một chiếc Kawanishii N1K-J, có thể là phiên bản N1K4-J Shiden Kai Kiểu 32 - chỉ có hai chiếc được chế tạo.

Chiếc máy bay được đưa vào hoặt động từ đầu năm 1944 và đã chứng tỏ có hiệu quả cao để chống lại các máy bay tiêm kích Hoa Kỳ, cho dù máy móc không được tin cậy. Động cơ rất khó bảo trì, và giống như bộ càng đáp phức tạp, rất hay bị hỏng. Chiếc N1K1-J được sử dụng rất hiệu quả tại Đài Loan, Philippines và sau đó tại Okinawa. Trước khi việc sản xuất được chuyển qua phiên bản cải tiến N1K2-J, đã có 1.007 chiếc được chế tạo kể cả những chiếc nguyên mẫu.

Vấn đề nảy sinh do có rất ít máy bay phiên bản mới được sản xuất, nhưng kiểu Shiden-Kai đã chứng tỏ là một trong những chiếc máy bay không chiến tốt nhất từng được cả hai phía đưa ra chiến trường. Cùng với tốc độ cao, chiếc máy bay tiêm kích rất nhanh nhẹn với tốc độ lộn vòng 82° mỗi giây ở tốc độ 384 km/h (240 dặm mỗi giờ). Vũ khí trang bị rất hiệu quả với bốn khẩu pháo 20 mm trên cánh và một cặp súng máy trước mũi. Trong vai trò máy bay tiêm kích đánh chặn nghênh cản những chiếc máy bay ném bom, nó ít thành công hơn vì tốc độ lên cao kém và tính năng bay ở tầm cao bị giảm sút.

Liên đội Tiêm kích Hải quân 343:

Do những khó khăn trong sản xuất và những thiệt hại gây ra bởi những cuộc không kích của B-29 Superfortress xuống các nhà máy Nhật Bản, nên chỉ có 415 chiếc máy bay tiêm kích mới được sản xuất. Kiểu máy bay tiêm kích N1K-J được sử dụng chủ yếu bởi các đơn vị ưu tú như Liên đội Tiêm kích Hải quân 343 (343 Kokutai) dưới sự chỉ huy của Minoru Genda. Chiếc máy bay tiêm kích Shiden mới đã tham dự vào các trận chiến trong năm cuối cùng của cuộc chiến tranh. Liên đội Tiêm kích Hải quân 343 (343 Kokutai) được thành lập vào ngày 25 tháng 12 năm 1944 bởi Trung tá Minoru Genda, phi công hải quân kỳ cựu vốn đã từng vạch ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng trước đây. Một đơn vị khác từng mang tên phiên hiệu này, nhưng đã bị giải thể vào tháng 7 năm 1944. Liên đội 343 mới bao gồm những phi công giỏi nhất và những máy bay tiêm kích tốt nhất có được. Một trong những phi công lỗi lạc của Liên đội 343 là Kensuke Muto nổi tiếng vì đã một mình bắn hạ được bốn chiếc Hellcat. Đơn vị này cũng được trang bị kiểu máy bay trinh sát tầm xa C6N Saiun ("Myrt") mới. Một trong những chiếc Saiun vào ngày 18 tháng 3 năm 1945 đã phát hiện ra những tàu sân bay Mỹ, và Liên đội 343 đã sẵn sàng tham chiến vào ngày hôm sau.

Sáng hôm đó, 300 máy bay Mỹ đã gặp phải những chiếc Shiden. Nhiều chiếc Shiden thuộc phiên bản N1K2 có trọng lượng nhẹ hơn khoảng 250 kg, nhanh hơn, cấu trúc đơn giản hơn và tin cậy hơn phiên bản N1K1 trước đó. Trận chiến bắt đầu khi một số chiếc Shiden bổ nhào trên những chiếc Hellcat của Phi đội VBF-17. Ba máy bay của mỗi bên bị mất trong đợt tấn công đầu tiên: một chiếc Hellcat và hai chiếc Shiden bị hỏa lực đối phương bắn rơi, hai chiếc khác va chạm nhau, và một chiếc Hellcat bị rơi trong khi tìm cách xoay sở để hạ cánh. Tiếp theo sau, những chiếc Shiden lại bổ nhào trên những chiếc Hellcat và bắn rơi được một chiếc. Cuối ngày hôm đó, Phi đội 407 mất sáu máy bay Shiden so với tám chiếc Hellcat của Phi đội VBF-17 bị bắn rơi.

Căng thẳng hơn là trong trận chiến cùng những chiếc Corsair thuộc Phi đội VBF-10, khi hai chiếc Corsair tách khỏi đội hình chính và bị những chiếc Shiden của Liên đội 343 tấn công. Bốn chiếc N1K2 đã bị bắn rơi trong khi những chiếc Corsair tìm cách quay trở lại được tàu sân bay của chúng, chiếc USS Bunker Hill. Những chiếc N1K2 nhanh chóng báo thù, khi những chiếc Corsair thuộc Phi đội VFM-123 bị những chiếc Shiden bất ngờ tấn công, mà ban đầu lại nhầm lẫn là những chiếc Hellcat bạn bè, tiếp nối bằng cuộc không chiến kéo dài 30 phút. Ba chiếc Corsair bị bắn rơi, năm chiếc bị hư hại và ba chiếc F4U khác bị hư hỏng nghiêm trọng đến mức chúng bị vứt xuống biển sau khi hạ cánh được trên tàu sân bay. Trong số mười máy bay Nhật Bản mà phía Mỹ báo cáo đã bắn rơi, không có chiếc nào thực sự rơi tại chỗ. Tuy nhiên có hai chiếc Shiden bị bắn rơi trong lúc đang tìm cách hạ cánh bởi những chiếc Hellcat của Phi đội VF-9, và nhiều chiếc Shiden khác bị máy bay tiêm kích Mỹ tiêu diệt bên trên một sân bay khác, nơi chúng đang cố gắng hạ cánh vì gần hết nhiên liệu. Vào cuối ngày, Liên đội 343 báo cáo có được 52 chiến công, trong khi các phi công Mỹ cho là đã hạ được 63 chiếc. Tổn thất thật sự là 15 chiếc Shiden cùng 13 phi công, một chiếc "Myrt" với đội bay ba người, và chín máy bay tiêm kích Nhật Bản khác. Phía Mỹ cũng chịu tổn thất lớn với 14 máy bay tiêm kích và sáu phi công, cùng 11 máy bay tấn công khác.

Năm ngày sau đó, một tưởng thưởng không chính thức được gửi đến Liên đội Tiêm kích Hải quân 343 do thành tích đã lập được vào ngày 19 tháng 3. Đến ngày 12 tháng 4 năm 1945 lại diễn ra một trận chiến ác liệt, trong đó phía Nhật Bản ghi được nhiều chiến công nhưng cũng bị tổn thất 12 trong tổng số 34 máy bay của họ. Đến ngày 4 tháng 5, 24 chiếc Shiden được tung ra chiến đấu. Cuối cùng, sau khi thiệt hại 29 trong số 48 máy bay, Liên đội 343 được cho nghỉ hưu vào cuối tháng 6.

Trong mọi trường hợp, chiếc Shiden, đặc biệt là phiên bản Kai (đơn giản, nhẹ hơn và tin cậy hơn), đã chứng tỏ rằng chúng có thể đối đầu cùng nhiều chiếc Hellcat và ngay cả Corsair, ngay cả khi những chiếc máy bay Đồng Minh không phải là "dễ xơi", như nhiều tài liệu từng đề cập. Chiếc Shiden chậm hơn cả hai chiếc máy bay tiêm kích Mỹ và phải chịu tính năng bay kém hơn ở tầm cao; nhưng hỏa lực, độ nhanh nhẹn và độ chắc chắn đều được cải thiện hơn đáng kể so với chiếc Zero, và nếu như những chiếc máy bay tiêm kích này được sẵn sàng vào năm 1944 cho lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay Nhật Bản, chúng sẽ là thử thách đáng kể cho lực lượng Mỹ tại quần đảo Marianas và ở Leyte. Trong thực tế, việc thiếu hụt một thế hệ máy bay tiêm kích mới là điểm yếu chính của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, vì những kiểu máy bay khác (B6N và D4Y) là kiểu mới và có tốc độ nhanh hơn chiếc A6M5 (ít nhất, chiếc D4Y bay được 575 km/h so với 540-565). Các trấn chiến khác diễn ra tại các liên đội như 343, nhưng cho dù với lòng quả cảm và phi công được huấn luyện tốt, những đơn vị này có quá ít phi công so với lực lượng Đồng Minh, và các thiệt hại nặng nề đã buộc phải cho nghỉ hưu các đơn vị này.

Hiện nay còn ba chiếc còn sống sót và đang trưng bày hay lưu trữ tại các viện bảo tàng tại Mỹ.

Các phiên bản:

N1K1 Kyofu:

* N1K1: phiên bản duy nhất là tiêu chuẩn thủy phi cơ, được sử dụng từ đầu năm 1943.
* N1K2: tên dành để đặt cho một kiểu dự định lắp động cơ lớn hơn, không được chế tạo.

N1K1-J Shiden:

* N1K1-J: Chiếc nguyên mẫu phát triển từ máy bay thủy phi cơ tiêm kích N1K1 Kyofu, trang bị động cơ Nakajima Homare 11 1.820 mã lực, có chín chiếc được chế tạo.
* N1K1-J Máy bay tiêm kích đánh chặn Hải quân đặt căn cứ trên đất liền Loại 11: kiểu sản xuất đầu tiên, trang bị động cơ Nakajima Homare 21 1.990 mã lực với nắp động cơ được cải biến, trang bị hai súng máy Kiểu 97 7,7 mm và hai pháo Kiểu 99 20 mm. Nóc buồng lái cải biến nhìn bao quát.
* N1K1-Ja, Kiểu 11A: Không có súng máy 7,7 mm trước mũi, chỉ có bốn pháo 20 mm trên cánh.
* N1K1-Jb, Kiểu 11B: Tương tự như Kiểu 11A mang thêm được hai bom 250 kg, cải tiến vũ khí mang trên cánh.
* N1K1-Jc, Kiểu 11C: Phiên bản chuyên biệt tiêm kích-ném bom, cải biến từ Kiểu 11B. Bốn đế bom dưới cánh.
* N1K1-J KAIa: Phiên bản thử nghiệm bổ sung thêm tên lửa. Có một chiếc Kiểu 11 được cải biến.
* N1K1-J KAIb: Phiên bản cải biến thành máy bay ném bom bổ nhào. Một bom 250 kg dưới bụng và sáu đế rocket dưới cánh.

N1K2-J Shiden-KAI:

* N1K2-J Chiếc nguyên mẫu, kiểu N1K1-Jb được thiết kế lại. Cánh gắn thấp, cải biến nắp động cơ và càng đáp hạ cánh, thân và đuôi mới. Có tám chiếc được chế tạo.
* N1K2-J Shiden KAI - Máy bay tiêm kích đánh chặn Hải quân đặt căn cứ trên đất liền Loại 21.
* N1K2-Ja Kiểu 21A: Phiên bản tiêm kích-ném bom. Mang bốn bom 250 kg. Được chế tạo bởi: Kawanishi: 393 chiếc, Mitsubishi: 9 chiếc, Aichi: một chiếc, Showa Hikoki: một chiếc, Xưởng Hải quân Ohmura: mười chiếc, Xưởng Hải quân Hiro: một chiếc.
* N1K2-K Shiden KAI-Rensen: Phiên bản huấn luyện N1K-J hai chỗ ngồi, có khả năng chiến đấu hay được cải biến trong xưởng.

Các phiên bản khác:

* N1K3-J Shiden KAI 1, Kiểu 31: Nguyên mẫu. Động cơ được dịch ra trước, trang bị hai súng máy Kiểu 3 13,2 mm trước mũi. Có hai chiếc được chế tạo.
* N1K3-A Shiden KAI 2,Kiểu 41: Phiên bản N1K3-J để hoạt động trên tàu sân bay. Chỉ là dự án.
* N1K4-J Shiden KAI 3, Kiểu 3: Chiếc nguyên mẫu, trang bị động cơ Nakajima Homare 23 2.000 mã lực. Có hai chiếc được chế tạo
* N1K4-A Shiden KAI 4, Kiểu 4: Nguyên mẫu thử nghiệm cải biến chiếc N1K4-J với các thiết bị để hoạt động trên tàu sân bay. Có một chiếc được chế tạo.
* N1K5-J Shiden KAI 5, Kiểu 25: Phiên bản máy bay tiêm kích đánh chặn tầm cao. Chỉ là dự án.

Tổng số lượng được chế tạo (mọi phiên bản): 1.435 chiếc.

Đặc điểm kỹ thuật (N1K2-J):

Đặc tính chung:
* Đội bay: 01 người
* Chiều dài: 9,3 m (30 ft 7 in)
* Sải cánh: 12,0 m (39 ft 4 in)
* Chiều cao: 3,9 m (13 ft 0 in)
* Diện tích bề mặt cánh: 23,5 m² (253 ft²)
* Lực nâng của cánh : 166 kg/m² (34 lb/ft²)
* Trọng lượng không tải: 2.656 kg (5.855 lb)
* Trọng lượng có tải: 4,.000 kg (8.820 lb)
* Trọng lượng cất cánh tối đa: 4.860 kg (10.710 lb)
* Động cơ: 1 x động cơ Nakajima Homare NK9H bố trí hình tròn, công suất 1.990 mã lực (1.480 kW)

Đặc tính bay:
* Tốc độ lớn nhất: 594 km/h (369 mph)
* Tầm bay tối đa: 2.395 km (1.488 mi)
* Tầm bay chiến đấu: 1.716 km (1.066 mi)
* Trần bay: 10.800 m (35.500 ft)
* Tốc độ lên cao: 20,3 m/s (4.000 ft/min)
* Tỉ lệ công suất/khối lượng : 0,305 kW/kg (0,226 hp/lb)

Vũ khí:
* 4 x pháo Loại 99 Kiểu 2 Mk 4 20 mm trên cánh, 200 viên đạn mỗi khẩu.
* 2 × bom 300 kg

Kiểu: Máy bay tiêm kích
Hãng sản xuất: Kawanishi Aircraft Company
Chuyến bay đầu tiên: (N1K-J) 27 tháng 12 năm 1942
Được giới thiệu: 1943
Hết sử dụng: 1945
Hãng sử dụng chính: Hải quân Đế Quốc Nhật Bản
Số lượng được sản xuất: 1.435


 
< Prev   Next >
Trang chủ Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam