| Thủy quân nhà Nguyễn |
|
|
|
| Written by lichsuvn.info | |
| Thursday, 10 July 2008 | |
|
Cải tiến Hải hành Như ta đã biết, hải hành cần những hải đồ và đồng hồ chính xác. Chúa Nguyễn Phước Chu cho đặt các đồng hồ Tây phương nơi các công sở và đồn tàu dọc biển, sau đó Ông Nguyễn Văn Tú rồi tiếp theo những người khác nữa lại chế tạo được đồng hồ. Từ đó, sự điều động thủy quân theo thời gian được chính xác hơn xưa. Chúa Nguyễn nhờ cánh tay dài Thủy Quân đã nối dài đất nước tới tận Hoàng Sa và Trường Sa. Sách sử Việt Nam đã ghi chép về quần đảo Hoàng Sa từ thế kỷ XVII với chi tiết địa lý rõ ràng trong sách "Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư" (1630 1653) của Đỗ Bá. Sau cuốn sách này, ta có "Phủ biên Tạp lục" một tác phẩm của Lê Quý Đôn mà trong đó ông tường thuật những công tác thi hành chủ quyền Việt Nam trên Hoàng Sa và Trường Sa. Các đội Hoàng Sa trách nhiệm những đảo Cát Vàng và đội Bắc Hải trách nhiệm Trường Sa, Phú Quốc; tuân hành theo lệnh Chúa Nguyễn. Ít nhất đã khởi sự vào cuối thế kỷ XVII, sau những chuyến đi biển hàng năm thường dài tới 6,7 tháng, các đội Hoàng Sa đã báo cáo lại mọi diễn biến trên hải trình làm kinh nghiệm cho những chuyến công tác sau này. Từ đời chúa Nguyễn phúc Nguyên (1613 1615) hay có thể trước đó nữa, các đội Hoàng Sa đã được thành lập để thu lượm hải vật. Học giả Lê quý Đôn (1726 1784) từng tham khảo sổ biên của Cai đội Thuyên đức Hầu (một chức quyền Hải Quân cao cấp ngày trước) thấy năm 1702 đội Hoàng Sa lấy được 30 thỏi bạc, năm 1704 được 5,100 cân thiếc, năm 1705 được 126 thỏi bạc... Vì không có tài liệu ghi nhận bất cứ một tai nạn đắm tàu nào, ta thấy rằng khả năng hải hành lúc đó đã khá và việc nghiên cứu đường biển trong thời các Chúa Nguyễn cũng khá đầy đủ. Bước Đường Bôn tẩu Trên Biển Khi đọc Sử, chúng ta thường ca tụng Vua Quang Trung trọng dụng chữ Nôm, Tuy vậy, có một câu chuyện chữ Nôm về Nhà Nguyễn rất thích thú và cảm động sau đây. Qua 9 đời Chúa, sau thời hưng thịnh họ Nguyễn đến lúc suy vong. Nguyễn Ánh may mắn sống sót, trốn chạy bằng đường thủy, mưu cầu phục quốc. Nay thuyền Ông tấp vào bớ sông vắng, mai tàu Ông trôi dạt ra hòn đảo ngoài khơi. Trong khi bị truy sát, sinh mạng như chỉ mành treo chuông, chẳng có loại ngôn ngũ nào hay hơn khi Nguyễn Ánh muốn bộc lộ lòng mình bằng những tiếng nôm na của mẹ cha ông bà của mình. Điều này khác xa với các văn bản của Sử Quán. Các Quan thường dùng chữ Hán và văn chương biền ngẫu, sau này còn tô vẽ thêm cho nhà Vua một thứ sơn lót chân mạng đế vương. Linh Mục Cadier là người đã đi tìm đọc thấy 14 bức thư chữ Nôm của Nguyễn Ánh gửi các giáo sĩ. Trong số đó có cả tờ lệnh ban cho Sĩ quan Pháp thuộc Hải quân của Ông. Chúng ta vô cùng thương cảm cho một Ông Hoàng đã mất hết uy quyền, cải trang thường dân, lênh đênh góc biển chân trời, hải đảo xa vắng, thốt lời chua chát, than thở cho số phận đắng cay, ray rứt vì chưa làm tròn bổn phận với Tổ tiên. Bằng văn Nôm, Ông tự biểu lộ là một người bạn thành thực chí tình, một người cha thương nhớ đứa con mình xa cách nửa vòng trái đất... Có lẽ nhà Vua đã viết nhiều tài liệu tương tự hay tác phẩm nôm na như vậy, nhưng nay đã bị thất lạc. Khi cần khích động lòng quân sĩ và đồng bào Việt Nam của mình, Ông cũng viết tiếng Việt Nam. Đạo Dụ bằng quốc văn trong cuộc duyệt binh ngày 26 tháng 3 năm 1800, trước khi binh đoàn khởi hành hay xuống tàu đi cứu Võ Tánh, là một bằng chứng vậy! Giao thương Khắp Nẻo Nối tiếp sự nghiệp các Chúa, Nguyễn Ánh mở mang việc thương mại với các nước láng giềng và thuyền buôn Tây phương. Sau khi chiếm lại được Gia Định lần chót từ tay Tây Sơn, Nội viện Trần Vũ Khách đưa tàu đi Giang Lư Ba (Batavia), Cai đội Ô li vi, Đội trưởng Ba la di đi Goa, Mã la Kha (Ba la kha Malacca). Tài liệu Tây phương cho biết L. Barizy còn trương hiệu kỳ của chúa Nguyễn buôn bán với thương nhân Đan mạch, Hanop và Stevenson. Đứng trung lập trong chiến tranh Anh Pháp, họ làm đại lý cho Ánh ở Tranquebar (Ấn Độ). Các thương cảng miền Nam bắt đầu hồi sinh. Trước nội chiến, Tourane nườm nượp những ghe trọng tải từ 40 150 tấn đến chở cau, đường. Mỗi chuyến riêng mỗi thứ mang đi hàng 40 ngàn tấn. Nhưng vào khoảng năm 1790, khi Âu châu e ngại với Tây Sơn, đường cát tuy có rất nhiều ở Quảng Nam nhưng không trở thành món hàng xuất cảng. Kết quả của sự thiếu giao thương là hiệu năng vũ khí của Tây Sơn suy kém hẳn đi. Trong Lịch Sử Nội Chiến Ở Việt Nam, Tạ Chí Đại Trường viết: Những khẩu súng nhồi bằng thuốc đạn Trung Hoa không bắn xa bằng thứ cùng loại ở Gia Định nhồi bằng thuốc đạn Tây Phương. Thủy chiến là Sở trường của ta Trở lại với thủy chiến, ta thấy Liệt Truyện q.10, 6b chép rằng; Nguyễn Ánh và các tướng của Ông thường lý luận và tin tưởng rằng: "Thủy chiến là sở trường của ta". Thủy binh bao giờ cũng tiến nhanh và là mũi nhọn phóng sâu vào đất địch trước bộ binh. Tư thế chủ động và tính cách độc lập của thủy quân còn được Sử gia Tạ Chí Đại Trường xác nhận là quân ngoài biển không những luôn luôn đi tiên phong mà nhiều khi còn phải làm thế nương tựa cho quân bộ chiến có khả năng tiến lên nữa. Nhận biết thủy quân là quan trọng, giá tiền thưởng khi bắt lính đào ngũ có sự cách biệt rõ rệt: quân nào bắt được lính bộ thì thưởng 30 quan, còn được thủy binh thì được hưởng tới 40 quan (thực lục quyển 4, 12a). Nhà Nguyễn kiến trúc nhiều chiến hạm tân tiến. Các Tây dương dạng thuyền như Thoại Phụng do Barizy điều khiển, Loan phi của Chaigneau, Bằng Phi của DeForcan, Phượng Phi của Vannier đều có kỹ thuật rất cao, với thủy thủ đoàn và quân đổ bộ đông tới 300 người. Đánh tan Hạm đội thuyền Tề Ngôi Trung Hoa Khi Vua Quang Trung qua đời, lực lượng quân sự phía mặt biển suy yếu thấy rõ. Tây Sơn phải tìm cách bù đắp. Bọn cướp biển Tề Ngôi người Trung Hoa được bổ túc vào sự thiếu sót đó. Các thuyền Tề Ngôi vừa giữ nhiệm vụ tiếp tế cho nội địa vừa chính là một bộ phận của thủy quân Tây Sơn để quân bình sự yếu kém vậy. Ngoài Bắc Hà, thuyền buôn không đến nhiều. Của cải trong nước hư hao. Sử nhà Nguyễn chép: Cha con Nguyễn Quang Bình dùng binh cướp nước, sai hơn 100 chiếc Tàu ô, 12 viên Tổng binh lấy tiếng là tìm mua quân lương, đi chiêu tập nhiều tụi vong mạng dọc bờ biển Trung Quốc. Lấy quan tước làm mồi nhử, cấp cho thuyền và khí giới, sai đưa đường cướp Mân, Việt, Giang, Chiết... (Lịch Sử Nội Chiến Ở Việt Nam, Tạ Chí Đại Trường, trang 221). Tuy số lượng tàu hải tặc Trung Hoa rất đông, nhưng chúng thường ô hợp, nên dần dần bị Chúa Nguyễn đánh tan. Chủ tướng của chúng là Đông hải Vương Mạc Quần Phù cùng các tướng bị bắt ngoài khơi Thị Nại khoảng tháng 5 năm 1801. Thủy Quân Gia Định tung hoành ra lấy Phú Xuân, rồi Thăng Long mà không sợ một lực lượng lưu động biển nào theo đuổi ngăn trở nưã. Sự Chắc chắn của các Chiến Hạm Nam Hà Thực ra sau khi làm chìm chiếc tầu Macao tịch thu được của người Bồ bị bão dạt vào Quy Nhơn, Tây Sơn cũng cố gắng phát triển thủy quân. Nguyễn Huệ đã cho đóng những chiếc đại hiệu thuyền có thể chở nổi các con voi trận. Có lẽ đó là những chiếc tàu mà người Anh đi lạc vào thành Quảng Nam chuyến tháp tùng phái bộ MacCartney đã nhìn thấy và ước lượng đến 150 tấn trọng tải và chắc cũng là loại tàu Định quốc mà Vũ Văn Dũng đem án ngữ ở cửa Thị Nại trong trận thủy chiến năm 1801. Thế nhưng chúng ta hãy nghĩ tới những chiếc tàu chiến bọc vỏ đồng của Nguyễn Ánh rõ là tân tiến và có sức chịu đựng hơn nhiều. Học hỏi Kỹ thuật Nhưng không Nệ Người Tây Phương Trình độ xâm nhập kỹ thuật Tây phương tăng tiến trong những năm đầu chinh chiến, nhưng ảnh hưởng cá nhân của bọn phiêu lưu người Pháp sụt xuống rõ rệt về sau này. Nguyễn Ánh dùng người Ngoại Quốc làm Cố Vấn nhưng Ông rất quyết đoán, không để Nam quân lệ thuộc vào họ. Năm 1792 trong cuộc thủy chiến Thị Nại lần đầu, Jean Marie Dayot và mấy Hạm Trưởng người Pháp tham dự việc tấn công. Cũng tại nơi đó chỉ 9 năm sau, 1801, các Tướng Lãnh người Việt là Nguyễn Văn Trương, Võ Di Nguy Lê Văn Duyệt ào ạt đốt thuyền địch. Trong khi đó, Chaigneau, Vannier, De Forcan đứng ở hậu đội. Năm 1793, sử quan nhắc tới bọn Tây Dương Binh theo quân ở Bình Thuận, vây quanh Qui Nhơn. Năm 1797, trong lực lượng xuất phát vào tháng 4 1797 có 447 chiến thuyền và 42,000 chiến binh, vẫn còn những thoại hạm (fregate và corvette) do người Âu chỉ huy. Thế mà chỉ đến năm 1801, Chaigneau, Vannier chỉ làm nhiệm vụ lấy lương tiếp tế cho Qui Nhơn, Phú Xuân mà thôi (Lịch Sử Nội Chiến Ở Việt Nam, Tạ Chí Đại Trường, trang 356). Sau năm 1799, lúc J. Dayot đã đi thì Olivier cũng muốn từ chức. Khi nhóm nho sĩ đứng đằng sau Nguyễn Vương tăng thêm thanh thế, uy tín Tây phương hạ xuống rất nhanh (trang 306). Phải nói thêm rằng: bọn phiêu lưu người Pháp rất "ngán" Nguyễn Ánh. Vào năm 1795, dù phải sửa soạn binh thuyền đi cứu Diên Khánh bị vây lần thứ hai, Ông đã tống giam Dayot vì tội làm chìm chiếc tàu được nhà Vua giao cho trông giữ. Sau đó ít lâu, Dayot bỏ đi và chết đuối khi thăm dò thủy đạo tại Vịnh Bắc phần. Thời gian gần cuối cuộc chiến, một Sĩ Quan khác nữa là L. Barizy bị bỏ tù, khi có người tố cáo Barizi đầu độc một chủ tàu buôn. Số Thủy binh trong Quân đội Vào đầu thập niên 1800, Thủy binh chuyên nghiệp của Nguyễn Ánh gồm có: Lính làm thuốc đạn xưởng đóng tàu 8,000 Thủy binh trên các tàu trong cửa biển 8,000 Thủy binh trên các tàu đóng kiểu Âu 1,200 Thủy binh trên các ghe bầu 1,600 Thủy binh trên các thuyền chiến có chèo 8,000 Tổng số Thủy quân là 26.800 người trong một quân lực 139.800. (Lịch Sử Nội Chiến Ở Việt Nam, Tạ Chí Đại Trường, trang 230). Lưu ý rằng quân đội Nguyễn Ánh bao gồm nhiều quân, binh chủng như tượng quân, công binh, pháo binh, tiếp vận, truyền tin ... Riêng về nhân lực của Xưởng Đóng Tàu (8,000 người) cần một sự so sánh với Hải Quân Công Xưởng Ba Son để được dễ hiểu. Trong thế kỷ 20, thường thường chỉ có từ 2,000 đến 3,000 thợ mà thôi. Hoàng Đế Nguyễn Ánh, một Biểu tượng Hải Quân Những người lính thủy ngày nay cho dù có bất đồng ý kiến về bất cứ một vai trò lịch sử nào của nhà Nguyễn, cũng phải công nhận Hoàng Đế Nguyễn Ánh là một trong những biểu tượng Hải Quân vĩ đại nhất trong dòng Sử Việt. Ông đã làm nức lòng quân đội, nhất là Thủy quân khi đích thân nhận quyền Hạm Trưởng một chiếc Thoại hạm. Vị Hoàng đế này cũng là nhà chiến lược hải chiến tài ba và rất có thể là vị tướng lãnh Việt Nam đầu tiên sử dụng hải pháo để mở đường tiến quân, phá hủy mục tiêu, đồng thời dùng thủy quân xung phong, giúp cho bộ binh chiếm đóng đồn địch. Những hoạt động quân sự này chính là bước đi tiền thân của các Hải Đoàn Xung Phong mà ta thấy sau này. Trận Thủy Chiến quyết định: Đệ nhất Vũ công Trận Thủy Chiến quyết định mà Sử quan Nhà Nguyễn ghi nhận là Đệ nhất vũ công đã diễn ra tại Thị Nại. Khi đó Võ Tánh bị vây tại thành Qui Nhơn khá lâu. Tháng giêng năm Canh Thân 1800, Tướng Tây Sơn là Võ Văn Dũng đưa hai chiếc Định quốc Đại hiệu thuyền, chở từ 50 đến 60 khẩu đại bác chắn ngay cửa Thị Nại. Dày đặc bên trong là 40 tàu lớn, 20 tàu nhỏ hơn với 100 ghe chiến đậu san sát đến cửa vào Đầm Nước Mặn. Triền núi, Dũng cho đặt đại bác yểm trợ đoàn tàu. Trên bộ, Dũng còn có hơn 50 voi trận và quân lính. Nguyễn Vương cử đại quân ra tiếp viện bằng đường biển, sai Nguyễn Văn Thành và các tướng tiến qua Phú Yên ra Bình Định. Quân thủy và quân bộ của Vương không thông được với nhau và cũng vì vậy, không cứu viện được Võ Tánh. Tháng giêng năm Tân Dậu 1801, Ánh sai các tướng Nguyễn Văn Trương và Tống Phúc Lương đánh đồn thủy Tây Sơn, trong khi đó Lê Văn Duyệt và Võ Di Nguy đem chiến thuyền đánh thẳng vào cửa Thi Nại. Dù biết Võ Di Nguy đã bị trúng đạn chết, nhưng Lê Văn Duyệt vẫn ra sức xông đột, đốt được cả tàu và thuyền của Tây Sơn. Vì Tây Sơn đã dồn toàn thể thủy quân để chiến đấu nên một khi bị tiêu diệt, Tây Sơn không còn uy thế nào đáng kể trên mặt biển nữa. Quân Nam Hà tiến dần dần ra Phú Xuân, rồi thẳng ra chiếm Bắc Hà rất nhanh chóng. Biển Đông đã Nối liền Gia Định và Thăng Long thành Đế hiệu Gia Long. Bằng cách ngự trị biển cả, từ một giấc mộng nhỏ bé của Nguyễn Hoàng là mong mỏi được một phần đất tự trị "vạn đại dung thân" tiếp tục trải qua đời 9 vị Chúa, sau cùng họ Nguyễn đã đi đến một thành tích vĩ đại là thống nhất quốc gia, đưa đất nước qua cảnh nhiễu nhương chia ba, xẻ bảy. Năm 1802, hai miền thủ phủ Gia Định và Thăng Long đã nối liền. Nguyễn Ánh lên ngôi với đế hiệu Gia Long. Đốt cháy Hạm Đội Anh Cát Lợi Dù không còn phải dụng binh nhiều sau năm 1802, Thủy quân Nhà Nguyễn vẫn còn rất mạnh. Nước Anh đưa thư xin ngoại giao thông thương ba bốn lần đều bị khước từ. Năm 1803 khi một Hạm đội của họ gồm 7 chiếc tàu tiến từ Biển Đông theo đường sông vào Hà Nội, bị quân ta đốt cháy. Không thấy chính phủ Anh Cát Lợi phản đối. Có lẽ vì Anh Quốc biết rằng mình có lỗi khi xâm nhập hải phận và lãnh thổ Việt Nam một cách bất hợp pháp, nên mọi việc cũng êm. Tài liệu hiếm này được Nhà Quân Sử Phạm Văn Sơn ghi lại trong Việt Sử Toàn Thư, xuất bản năm 1960, trang 591. Truyền thống Tàu Thuyền Ngàn Năm: Trống đồng và Cửu đỉnh Sau Gia Long, vị vua thứ hai triều Nguyễn là Minh Mệnh. Ông Vua này đáng được kể là một nhà Văn Hóa lớn khi chính Ông đã cho thực hiện bộ Cửu đỉnh gồm 9 cái đỉnh đồng rất lớn. Chúng tôi xin trình bày nội dung công trình đó một cách ngắn gọn như sau: Đồ Đồng Đông Sơn được sản xuất vào thiên kỷ thứ nhất TTL. tiêu biểu cho nền văn hoá đặc thù của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ mở nước và dựng nước các triều đại Hùng Vương. Khi khảo sát văn hoá thời Đông Sơn, nhiều học giả, gồm cả Đông phương lẫn Tây phương như Chikamouri, Bezacier, Manuel, và nhất là Keith Weller Taylor (tác giả "The Birth of Vietnam", University of California Press, California, 1983); đã đồng ý rằng: "Các hình vẽ và trang trí tàu thuyền trên trống đồng Đông Sơn luôn luôn tạo nên ý tưởng về những biểu tượng của nghệ thuật hàng hải, đồng thời minh chứng một cách không thể lầm lẫn về tầm ảnh hưởng của một thế lực dựa trên căn bản của biển cả." Khi hiểu như vậy, ta thấy tinh thần tập đoàn của thủy thủ đã tạo thành gốc rễ cho sự đoàn kết và phát triển quốc gia chúng ta suốt bốn ngàn năm lịch sử. Bẵng đi hơn 2,000 năm, Nhà Nguyễn nhận thức được cái tinh thần hàng hải cao quý lâu đời đó cần phải được phát huy trở lại. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, Quyển Biểu Kinh Sư, trang 86 (Bản dịch: Nguyễn Tạo, Saigòn 1960), năm 1836 nhà Vua cho đúc chín cái đỉnh. Trong những biểu tượng quốc gia chạm khắc trên đỉnh, người ta thấy xuất hiện những hình ảnh thuộc nhiều loại tàu thuyền như sau :
EASTERN CULTURE Vũ Hữu San |
| < Prev | Next > |
|---|


