
Trận Austerlitz còn được gọi là Trận Ba Hoàng đế hay Trận Tam Vương là
một trong những chiến thắng lớn nhất về mặt quân sự của Napoléon. Hoàng
đế Napoléon với đạo quân 68.000 người đã đánh bẹp hai đạo quân Áo và
Nga dưới quyền của Hoàng đế Áo Franz II và Nga hoàng Alexander I của
Nga (tổng cộng gần 90.000 người) vào ngày 2 tháng 12 năm 1805 gần thành
phố Austerlitz, ngày nay là thành phố Slavkov u Brna của Cộng hoà Séc
Bối cảnh trước trận chiến
Mặc dù Vương quốc Anh và Đế quốc Pháp đã ký Hòa ước Amiens ngày
25.3.1802, kết thúc chiến tranh giữa Pháp và Liên minh thứ hai, nhưng
nền hòa bình không được vững chắc. Tháng 5 năm 1803, Anh bắt giữ 1.200
tàu buôn của Pháp và Hà Lan trên các hải cảng Anh. Ít ngày sau, Pháp
trả đũa, bắt mọi người Anh trên đất Pháp rồi theo đuổi chính sách bảo
hộ mậu dịch, phong tỏa thị trường tiêu thụ của nền kỹ nghệ Anh, đồng
thời ngăn cản các hàng nhập cảng cần thiết của Anh, nhất là sản phẩm
nông nghiệp mà Anh không thể tự túc được. Cuộc xung đột trở nên không
thể tránh được, khi quân Anh không chịu di tản khỏi đảo Malta và
Napoléon gửi quân đi để dập tắt cuộc cách mạng Haiti.
Ngày 23.5.1803, Vương quốc Anh chính thức tuyên chiến với Đế quốc Pháp.
Thủ tướng Anh thời đó là William Pitt tăng cường các nỗ lực ngoại giao
nhằm lập Liên minh thứ ba. Ngày 11.4.1805, Vương quốc Anh và Nga ký
hiệp ước liên minh. Anh tài trợ mỗi năm 1,25 triệu bảng Anh cho 100.000
quân Nga. Anh cũng tìm cách lôi kéo Áo và ngày 11.6.1805 Áo gia nhập
Liên minh. Thụy Điển cũng theo Liên minh từ ngày 9.8.1805 và ngày
31.10.1805 Thụy Điển tuyên chiến với Pháp.
Napoléon đã đánh bại quân Áo tại Ulm vào tháng 10 và đã chiếm giữ Wien,
thủ đô của Áo vào tháng 11, nhưng một phần của quân đội Áo vẫn còn
nguyên vẹn và di chuyển lên hướng Bắc để hội quân với quân Nga tại
Olomouc, Moravia. Napoleon nhắm tới một chiến thắng nhanh chóng trước
khi quân Phổ có thể gia nhập liên minh chống Pháp và đe doạ đến ông.

Trích đoạn trong tác phẩm về Napoleon:
Ngày 15 tháng 10, thống chế Nây và Lan-nơ chiếm được các điểm cao
xung quanh Un-mơ. Tình thế của Mắc trở lên tuyệt vọng. Na-pô-lê-ông cho
người đến thương lượng đòi Mắc phải đầu hàng, bằng cách đe doạ sẽ không
tha một ai nếu Na-pô-lê-ông buộc phải đánh vào. Ngày 20 tháng 10 năm
1805, Mắc giao vị trí Un-mơ cho Na-pô-lê-ông và bộ đội của Mắc còn
nguyên vẹn đã đầu hàng với tất cả vũ khí và quân dụng, pháo binh và cả
quân kỳ. Na-pô-lê-ông thả cho Mắc về, còn tù binh thì đưa về Pháp dùng
vào việc khác nhau. ít lâu sau. Na-pô-lê-ông nhận được báo cáo là
Muy-ra đã chặn đánh và bắt làm tù binh được hơn 8.000 người trong số
những người đã may mắn rời bỏ Un-mơ trước khi đầu hàng.
Sau cuộc thất bại kinh khủng và nhục nhã ở Un-mơ, cuộc chiến tranh của
khối liên minh quân sự thứ ba thế là đã thất bại, nhưng trong các bộ
tham mu áo và Nga chỉ có một vài người hiểu ngay được điều đó. Không
nán lâu ở Un-mơ, Na-pô-lê-ông và các thống chế của ông tiến thẳng đến
Viên, theo hữu ngạn sông Đa-nuýp. Trong lúc truy kích, quân Pháp còn
bắt được thêm rất nhiều tù binh. Số tù binh bắt được trong các trận
trước khi thành Un-mơ thất thủ lên tới 29.000 người. Cộng với số 32.000
bị bắt ở Un-mơ, số tổn thất của quân áo lên tới 61.000 người, chưa kể
số bị chết, bị thương nặng không sa vào tay địch và số mất tích.
Trong bản thông báo những kết quả đầu tiên của chiến dịch này cho binh
lính, Na-pô-lê-ông đã nói: "200 khẩu pháo cùng với tất cả các kho tàng
đạn dợc khí tài kỹ thuật, 90 lá cờ, toàn bộ tướng lĩnh của quân thù đã
nằm trong tay chúng ta. Cả cái đội quân ấy không thoát nổi 15.000 tên".
Quân Pháp tiến rất nhanh đến Viên. Nhưng ngày 11 tháng 11, bộ đội của
Cu-tu-dốp cũng đột kích vào quân đoàn của Moóc-chi-ê gần Đu-ren-xtai,
bên bờ tả ngạn sông Đa-nuýp và đã giáng cho Moóc-chi-ê một trận liểng
xiểng. Ngày 13 tháng 11, có kỵ binh của Muy-ra đi trước dẫn đường và
cận vệ hộ tống, Na-pô-lê-ông tiến vào Viên và chọn hoàng cung Sơn-brun
làm bản doanh. Trước khi vội vã bỏ chạy khỏi thủ đô, hoàng đế Phran-xoa
nớc áo đã gửi cho Na-pô-lê-ông đề nghị đình chiến, nhưng Na-pô-lê-ông
không chấp nhận.
Tất cả hy vọng của khối liên minh từ nay chỉ còn trông vào quân đội Nga
và Nga hoàng, nhưng chính bản thân Nga hoàng thì lại đặt hy vọng của
mình vào sự gia nhập liên minh của nớc Phổ. Không bao lâu nữa, tất cả
những hy vọng này sẽ tan như mây khói.
Vào những ngày tháng 10 năm 1805, trong lúc Mắc đang bị hãm ở trong
thành phố Un-mơ sắp sửa đầu hàng, rồi cuối cùng đã phải chịu đầu hàng
thì A-lếch-xan đệ nhất đã có mặt ở Béc-lin và thúc giục Phri-đrích
Vin-hem đệ tam, vua nớc Phổ, tuyên chiến với Na-pô-lê-ông. Phri-đrích
cũng ở trong tình trạng hoảng sợ và lưỡng lự như những vương hầu miền
nam nước Đức. Ông ta sợ cả A-lếch-xan lẫn Na-pô-lê-ông. Trong những lời
đe doạ xa xôi, A-lếch-xan cũng đã đi đến chỗ để lộ ra rằng quân đội Nga
sẽ có thể dùng vũ lực để đi qua nước Phổ, nhưng khi vua Phổ chống lại
với một thái độ kiên quyết bất ngờ và chuẩn bị đối phó lại thì
A-lếch-xan lại đấu dịu. Vả lại, lúc ấy có tin rất hợp với ý đồ của
A-lếch-xan là Na-pô-lê-ông đã ra lệnh cho thống chế Béc-na-đốt, trên
đường sang áo, đi qua biên trấn An-xpắc, một thuộc địa của Phổ ở miền
nam, như vậy là đã vi phạm trắng trợn sự trung lập của nớc Phổ;
Phri-đrích, một mặt bị hành động độc tài của Na-pô-lê-ông xúc phạm, mặt
khác không ngờ tới thắng lợi của đại quân Na-pô-lê-ông (lúc này, Un-mơ
cha bị thất thủ) nên bắt đầu muốn tham gia chiến tranh với khối liên
minh thứ ba. Theo một mật ước cuối cùng được ký giữa Phri-đrích và
A-lếch-xan, nớc Phổ hứa sẽ gửi tối hậu thư cho Na-pô-lê-ông. Xung quanh
việc này, một màn kịch hết sức lố lăng đã diễn ra: Phri-đrích Vin-hem,
hoàng hậu Lu-i-dơ và A-lếch-xan tới lăng huyệt của Phri-đrích đệ nhị
cùng nhau thề thốt tình hữu hảo đời đời.
Cái vô nghĩa của màn kịch ấy, thuộc loại tình cảm mà thời đó người ta
ưa thích, là ở chỗ trước đây nước Nga đã gây ra cũng với chính gã
Phri-đrích đệ nhị đó một cuộc chiến tranh bảy năm trời. Trong bảy năm
đó, lúc thì Phri-đrích thắng quân Nga, lúc thì quân Nga giáng cho
Phri-đrích những trận thất bại đau đớn; quân Nga cũng đã chiếm được
Béc-lin và gần như dồn Phri-đrích vào con đường tự sát. Sau tấn hài
kịch lạ lùng ấy và sau khi đã nhiệt liệt bày tỏ mối tình hữu hảo đời
đời giữa người Đức và người Nga, A-lếch-xan rời Béc-lin để đi thẳng đến
chiến trường áo.
ở Anh và ở áo, người ta mừng quýnh. Nếu toàn bộ quân đội Phổ vượt qua
rặng "núi Kim khi" và tham chiến thì Na-pô-lê-ông sẽ phải thua. Báo chí
đều đã nói như vậy sau khi hứng thú thuật lại lời thề thốt mối tình hữu
nghị Nga-Phổ trước linh cữu Phri-đrích đại đế.
Dù thế nào chăng nữa, Na-pô-lê-ông cũng buộc phải kết thúc vấn đề trước
khi nước Phổ nhảy vào khối liên minh. Ngay sau khi vừa hạ xong thành
Viên, quân Pháp không mất một viên đạn đã chiếm được chiếc cầu lớn nối
giữa Viên với tả ngạn sông Đa-nuýp, chiếc cầu độc nhất mà quân áo không
phá hoại. Việc chiếm được chiếc cầu này đã đẻ ra nhiều giai thoại,
trong đó có một câu chuyện (không chính xác lắm và được tô điểm thêm)
mà người Nga nào đã đọc phần hai cuốn chiến tranh và hoà bình đều biết
rõ. Thực tế, sự việc đã xảy ra như sau: sau khi đã khôn khéo cho một
tiểu đoàn cận vệ mai phục trong bụi rậm, Muy-ra, Lan-nơ, Béc-tơ-răng và
đại tá công binh Đô-đơ công nhiên tiến về phía đầu cầu có chiến luỹ và
quân áo phòng ngự, nhưng quân áo đã nhận được lệnh hễ quân địch xuất
hiện thì phải phá cầu; các tướng Pháp liền tuyên bố rằng hiệp định đình
chiến vừa được ký kết; và thế là sau khi vượt qua cầu chẳng gặp khó
khăn gì, họ cho gọi viên thiếu tướng, bá tớc Au-ét-xpe đến và nhắc lại
lời bịa đặt vừa rồi, và trước cả khi Au-ét-xpe có đủ thời gian trả lời,
theo hiệu lệnh đã định sẵn, quân Pháp bất thần từ trong bụi xông ra,
lao vào quân lính áo và các khẩu pháo đã bố trí sẵn trên cầu. Chỉ trong
nháy mặt, chiếc cầu đã bị chiếm. Tuy quân áo cố chống cự lại nhưng bị
đè bẹp ngay.
Sau khi chiếm được cầu, Muy-ra mừng rỡ báo cáo sự việc kỳ quặc này cho
Na-pô-lê-ông. Na-pô-lê-ông bèn lập tức ra lệnh cho bộ đội vượt qua cầu
và xông thẳng vào quân Nga. Quân Nga lúc này phải trải qua nhiều phen
điêu đứng. Na-pô-lê-ông vợt qua sông Đa-nuýp ở Viên cùng với đại bộ
phận binh lực với ý định chặn đường rút lui của quân Nga đang hối hả
rút về phía bắc. Cu-tu-dốp, tổng chỉ huy quân đội liên minh, đã thấy rõ
muốn thoát chết chỉ còn cách rút ngay từ Cơ-rem về vị trí On-săng ở
phía nam On-mút; lúc đầu Cu-tu-dốp có 45.000 quân và Na-pô-lê-ông có
gần 100.000 quân. Đối với quân đội Nga, câu chuyện chiếm cầu Viên là
một câu chuyện thật khó hiểu và người ta đã nói thẳng ra rằng đó là sự
phản bội; người ta cho rằng quân áo đã bí mật thông đồng với
Na-pô-lê-ông, vì việc mất chiếc cầu đó thật là vô lý và không thể tin
được. Và việc này đã giúp cho Na-pô-lê-ông làm chủ ngay được tả ngạn
sông Đa-nuýp không bị chút tổn thất nào; đã đưa toàn bộ quân Nga đến
chỗ thất bại không thể tránh được.
Sau những trận đánh gay go của đội hậu vệ mà Cu-tu-dốp đã phải điều đến
và cầm chắc sẽ bị hy sinh để yểm hộ cho chủ lực có đủ thời gian rút lui
Cu-tu-dốp đã mất chừng 12.000 người trong số ngót 45.000 người, nhưng
Cu-tu-dốp đã cùng với đội quân kiệt sức của mình tránh được sự đầu hàng
nhục nhã và thoát khỏi sự truy kích sát gót của Na-pô-lê-ông, cuối cùng
đã đa được tàn quân về đến On-mút, nơi A-lếch-xan và Phran-xoa đã có
mặt ở đó
Quyết tâm của các bên
Từ sau cuộc vợt sông Đa-nuýp bất ngờ của Na-pô-lê-ông, Cu-tu-dốp sợ
giao chiến, cho rằng cần phải tiếp tục cuộc rút lui, rút lui xa hơn nữa
về phía đông và kéo dài chiến tranh để có đủ thời gian cho quân Phổ
quyết định dứt khoát tham chiến chống quân Pháp. Nhưng Cu-tu-dốp vấp
phải một trở lực rất lớn: hoàng đế A-lếch-xan muốn mở ngay một trận
tổng công kích.

Không hiểu gì về chiến tranh, nhưng lại không kém hám danh và còn tin
rằng nhất định sẽ đánh thắng, tin rằng nước Phổ sẽ tham chiến ngay "sau
cuộc thề thốt nổi tiếng trước linh cữu Phri-đrích", A-lếch-xan chỉ mơ
tưởng đến tổng công kích. Sa hoàng nghĩ rằng sau khi mình đã điều động
đến đây những đội quân tinh nhuệ như đội cận vệ và rồi điều những lực
lượng mạnh mẽ ấy đi tránh đòn của đối phương trong cái đất miền núi
khốn kiếp này hàng tháng ròng là lẩn trốn trước Na-pô-lê-ông, đó là một
quyết định đáng xấu hổ và vô tích sự. Hoàng thân Phi-e Đôn-gô-ru-cốp,
cận thần của Sa hoàng, người phụ tá trẻ tuổi được nhà vua mến chuộng
chỉ vì hoàng thân cũng như hầu hết các sĩ quan của đội cận vệ đã thống
nhất quan niệm với nhà vua. Cu-tu-dốp biết rằng Nga hoàng,
Đôn-gô-ru-cốp và tất cả bè lũ đều hoàn toàn không hiểu gì về quân sự,
cho dù một vài kẻ trong bọn chúng cũng có chút hiểu biết nào đó về
những mặt khác. Nhưng Cu-tu-dốp tin chắc rằng quân đội Nga đang tiến
tới một tai hoạ và thấy rằng phải nhanh chóng tránh những đòn của
Na-pô-lê-ông phải đứng ngoài tầm tiến công của Na-pô-lê-ông, bằng cách
tránh một cuộc giao chiến quyết định. Biết thế, nhưng Cu-tu-dốp cũng
không còn có cách nào kiên quyết cưỡng lại sự nông nổi tai hại của Sa
hoàng vì y là thủ lĩnh tuyệt đối.

Sa hoàng
Cu-tu-dốp là nhà quân sự xứng đáng duy nhất trong hàng ngũ áo-Nga, là
viên tướng thao lược độc nhất (trong số những người mà tiếng nói có
phần nào được tin nghe) nên người ta cũng nghe Cu-tu-dốp đôi chút.
Nhưng ở đây, Cu-tu-dốp đã vấp phải cái lực lượng mà Cu-tu-dốp không
chống lại được, mặc dầu bản thân ông đã đoán được ngón của
Na-pô-lê-ông.
Đang truy kích quân Nga, Na-pô-lê-ông dừng ngay lại khi thấy quân Nga
không rút lui nữa và đóng bản doanh ở Bơ-run, không xa On-mút là mấy.
Điều duy nhất làm cho Bô-na-pác thật sự lo sợ lúc ấy là thấy quân Nga
lẩn tránh và kéo dài chiến tranh. Vì ở xa nớc Pháp và biết rằng Hau-vít
đang trên đờng đi đến để gửi tối hậu thư của nước Phổ cho mình,
Na-pô-lê-ông khao khát mở một trận tổng công kích càng sớm càng hay vì
ông tin chắc rằng thắng lợi của trận tổng công kích có thể sẽ kết thúc
gọn được ngay chiến tranh. Tài ngoại giao và đóng kịch của Na-pô-lê-ông
lúc đó lại hiện ra một cách rất rực rỡ: ông ta đã phán đoán được tất cả
những diễn biến ở bản doanh quân Nga và hành động phù hợp với ý định
của A-lếch-xan đang chống lại những cố gắng yếu ớt cuối cùng của
Cu-tu-dốp muốn cứu quân đội Nga bằng một cuộc rút lui vội vã.
Na-pô-lê-ông chủ động giả đóng vai một người sợ hãi, nhu nhợc và nhất
là sợ phải giao chiến. Na-pô-lê-ông thấy cần phải gợi cho đối phơng
thấy đây là thời cơ có một không hai để dễ dàng đánh bại quân Pháp,
nhằm khích động quân Nga tiến công ngay. Để thực hiện mưu ấy, thoạt
tiên Na-pô-lê-ông ra lệnh cho các đơn vị tiền tiến bắt đầu rút lui, rồi
cử Xa-va-ri, tớng thân cận của mình, đến gặp A-lếch-xan đa đề nghị đình
chiến và hoà bình, và cuối cùng Na-pô-lê-ông còn chỉ thị cho Xa-va-ri
nhân danh Na-pô-lê-ông yêu cầu A-lếch-xan cho gặp riêng; trường hợp bị
khước từ thì Xa-va-ri phải yêu cầu A-lếch-xan phái người tin cẩn đến
gặp Na-pô-lê-ông để mở cuộc đàm phán. Về phía quân Nga, người ta vui
mừng, đắc chí: Bô-na-pác đã hoảng sợ! Bô-na-pác đã kiệt sức, đã bị
thua! Trước hết, đừng để Bô-na-pác chạy thoát.
Tất cả những thủ đoạn đó của Na-pô-lê-ông chẳng giống tính tình của
Na-pô-lê-ông chút nào, thật là xa lạ và nhục nhã đối với Na-pô-lê-ông,
đến nỗi người ta tưởng rằng vị hoàng đế kiêu hãnh, người tướng bậc nhất
của thế giới không bao giờ lại nghĩ và làm như vậy, trừ phi bị hoàn
cảnh thật cấp thiết, khốn khó bắt buộc. Cu-tu-dốp và những mối lo âu
của ông ta bị mất tín nhiệm và bị bác bỏ hoàn toàn. A-lếch-xan từ chối
hội kiến với Na-pô-lê-ông và phái hoàng thân Đôn-gô-ru-cốp đến gặp
Na-pô-lê-ông. Sau này, Na-pô-lê-ông còn lấy mãi câu chuyện của người
tướng trẻ trong triều đó làm trò đùa, mà trong báo chí công khai
Na-pô-lê-ông gọi là "anh phổi bò", Đôn-gô-ru-cốp nói với hoàng đế Pháp
bằng một giọng kẻ cả và trịch thượng cứng rắn "như nói với một tên
boay-a mà người ta định đem đi đày ở Xi-bê-ri", mỗi khi nhắc đến cuộc
gặp gỡ ấy, Na-pô-lê-ông lại nói bằng giọng châm biếm như vậy. Trong khi
say sưa đóng tiếp tấn hài kịch đó, Na-pô-lê-ông vẫn thủ vai một người
bối rối, sợ sệt, nhưng đồng thời Na-pô-lê-ông cũng biết rằng không nên
quá cường điệu vai trò ấy và trên đời này cái gì cũng có giới hạn ngay
cả sự ngu xuẩn của anh hoàng thân Đôn-gô-ru-cốp. Na-pô-lê-ông đã chấm
dứt cuộc hội kiến bằng cách tuyên bố không thể chấp nhận được những
điều kiện do Đôn-gô-ru-cốp đa ra (Đôn-gô-ru-cốp yêu cầu Na-pô-lê-ông từ
bỏ nước ý và các nước khác đã bị chinh phục). Nhưng việc từ chối ấy
cũng đã được diễn đạt dới hình thức làm cho người ta không những không
giảm bớt mà còn tăng thêm ấn tượng cho rằng Na-pô-lê-ông do dự và sợ
hãi.
Sau báo cáo đầy khích lệ do Đôn-gô-ru-cốp nhận định theo ý chủ quan của
y, phe liên minh không ngả nghiêng, do dự nữa; người ta liền hạ quyết
tâm tiến công Na-pô-lê-ông hiện đang rút lui, suy yếu, bối rối và phải
giải quyết cho xong với hắn.
Chuẩn bị
Lực lượng các bên
Quân Pháp
Tổng chỉ huy là Hoàng đế Napoleon, chỉ huy lực lượng Cận vệ thống chế berthier
Quân đoàn 1: thống chế Bernadot, quân số 12.300 người cùng 24 khẩu
pháo, với 2 sư đoàn bộ binh do Rivaud và Drouet’d Erlon chỉ huy
Quân đoàn 3: thống chế Davu, quân số 6300, 9 pháo, 1 sư đoàn bộ binh
dưới quyền Friant và, 1 sư đoàn long kị binh do Bourcier chỉ huy
Quân đoàn 4: thống chế Soult, 24.000 binh sĩ, 35 pháo,bao gồm 3 sư đoàn
bộ binh (Saint Hilaire, Vandamme, Legrand) 1 sự đoàn khinh kị Margaron
Quân đoàn 5: thống chế Lannơ, 13.000 binh sĩ, 40 pháo, gồm 2 sư đoàn bộ binh (Caffarelli và Suchet)
Quân đoàn kị binh dự bị (Quân đoàn Murat): Thống chế Murat, 7900 kị sỹ,
9 pháo, gồm 2 sư đoàn thiết kị (Nansouty và D’Hautpoul), 1 sư đoàn long
kị (Walther), 1 sư đoàn khinh kị (Kellerman)
Lực lượng dự bì: là đội cận vệ hoàng gia do thống chế Berthier chỉ huy,
quân số 5500 người và 23 pháo, sư đoàn vệ binh, chỉ huy Oudinot và
Duroc, 5500 quân, 10 pháo, 1 sư đoàn long kị do Beaumont chỉ huy.
Tổng số quân Pháp là 75.000 người
Quân liên minh
Tổng chỉ huy Kuturop, tham mưu trưởng Von Weyrother.
Binh đội tiên phong, quân đoàn Áo Kienmayer, chỉ huy tướng Kienmayer,
với 6800 quân, 12 pháo ( 5 tiểu đoàn bộ binh Áo, 23 chi đội kị binh,
cùng 1000 kị binh Cossack)
Binh đoàn 1 (Nga): chỉ huy tướng Dokhturov, quân số gần 14.200 người và 60 pháo ( 22 tiểu đoàn Nga, và 200 kị binh Cossack)
Binh đoàn 2 (Nga): tướng Langeron chỉ huy, lực lượng gồm 12.000 binh sĩ
và 30 khẩu pháo ( 17 tiểu đoàn bộ binh Nga, 2 liên đội long kị
(dragoon) và 200 kị binh Cossack)
Binh đoàn 3 (Nga): tướng Przybyszewski, với 9500 lính, 30 pháo ( 18 tiểu đoàn bộ binh Nga).
Tướng Buxhowden là chỉ huy chung của 3 quân đoàn trên.
Binh đoàn 4 (Áo+Nga): chỉ huy gồm tướng Áo Kolowrat và tướng Nga
Miloradovich, với 16.000 binh sĩ và 75 khẩu pháo ( 15 tiểu đoàn bộ binh
Áo, 12 tiểu đoàn bộ binh Nga, 2 liên đội long kỵ Áo (dragoon))
Binh đoàn kỵ binh 5 (Áo+Nga), chỉ huy là tướng Áo Liechtenstein và
tướng Nga Uvarov, với 7000 kị sĩ, 24 pháo ( 17 liên đội kỵ binh nặng
Áo, 30 liên đội long kỵ và khinh kỵ Nga, 1200 kị binh Cossack)
Binh đoàn Xung Kích của lực lượng liên minh ( Binh đoàn Bagration): chỉ
huy hoàng tử Bagration, với 14.000 lính và 42 pháo ( 15 tiểu đoàn bộ
binh Nga, 33 liên đội kỵ binh và 1500 kị binh Cossack)
Lực lượng dụ phòng: Cận Vệ của Nga Hoàng: chỉ huy Đại Công Tước
K.Pavlovich với 10.000 người và 40 pháo ( 10 tiểu đoàn bộ binh cận vệ
và 17 liên đội kỵ binh cận vệ )
Tổng số quân Pháp là khoảng 75.000 người. Bên phía quân Liên minh là 90.000 người, trong đó 16.000 là quân Áo.
Ngày 1/12/1805, Napoleon đã sửa soạn xong. Đầu tiên, ông lên dây cót
tinh thần cho binh sĩ. Như thường lệ, Napoleon ra 1 tuyên cáo, khơi dậy
niềm kiêu hãnh của binh sĩ, phác họa cho họ những nét chính của trận
đánh sắp tới. Một chiến binh sẽ chiến đấu tốt hơn khi anh ta biết điều
gì đang chờ đón anh ta. Bất kỳ ai cũng cảm thấy mình được tôn trọng khi
một vị thống soái nói với anh ta những điều như vậy. Tiếp theo, vị
hoàng đế đi kiểm tra lần cuối toàn quân. Ông đến khắp nơi, khắp các đơn
vị để có thể bảo đảm mọi việc trong tầm kiểm soát. 4h chiều, Napoleon
đứng trên đỉnh núi Zuran quan sát dự di chuyển của quân địch qua ống
nhòm. Những người Nga đã di chuyển đội quân của mình đúng như dự tính
của Napoleon. "Ngày mai đội quân kia sẽ nàm dưới gót giày ta", vị hoàng
đế tự nhủ.
Ngày 2 tháng 12 năm 1805, một năm đúng sau khi Na-pô-lê-ông xưng đế, ở
trên cao nguyên Prát-den phía tây làng Au-xtéc-líc, cách Viên về phía
bắc 120 ki-lô-mét, một trận huyết chiến đã xảy ra, một trong những trận
lớn nhất lịch sử về tầm quan trọng của nó và là một trong những trận
phi thường nhất của thiên anh hùng ca Na-pô-lê-ông.
Na-pô-lê-ông đích thân ra chỉ huy từ đầu đến cuối: hầu hết các thống
chế của Na-pô-lê-ông đều có mặt đông đủ. Sự thất bại của quân Nga và
quân áo đã được quyết định ngay từ những giờ đầu buổi sáng, nhưng nếu
các tướng lĩnh Nga không mắc phải cạm bẫy của Na-pô-lê-ông thì quân Nga
cũng chưa gặp phải một tai hoạ khủng khiếp như vậy: tính trước quân Nga
và áo sẽ tìm cách đánh chặn đường đến Viên và đến Đa-nuýp để rồi bao
vây hoặc đuổi mình lên phía bắc, dồn vào núi, nên Na-pô-lê-ông đã giả
vờ để ngỏ, không phòng giữ mặt này và cố ý giấu kín sườn trái của mình.
Khi quân Nga từ phía đó tiến lại, Na-pô-lê-ông đã đè bẹp được đối
phương bằng những lực lượng tập trung lớn của mình đã chiếm lĩnh cao
nguyên Prát-den từ trước và đánh dồn kẻ địch vào một dải hồ nửa đóng
băng

Bày binh bố trận của hai bên
Bình minh ngày 2/12/1805, 1 màn sương mù dày đặc làm quân Pháp thoát
khỏi tầm quan sát của quân địch., tất cả các thống chế và tướng tá xúm
quanh Napoleon trên đỉnh núi Zuran, nhận những chỉ thị cuối cùng trước
khi trở về đơn vị của mình.. Ở mạn Bắc, Lannơ và Murat kìm chân quẩn
của Bagration. Nhiệm vụ của họ là bảo đảm cho Davu có thể tung ra những
cú đánh mạnh vào quân Nga. Ở giữa, Soult đang nóng lòng được xuất trận,
lập công. Nhưng Napoleon đã lệnh cho ông phải đợi một lúc mới được tung
ra những cú đòn mãnh liệt lên cao nguyên Pratzen. Nhiệm vụ chiến thuật,
mà Napoleon giao cho Soult, là phải chiếm được cao nguyên Pratzen khi
quân Nga tiến về phía Nam và để trống vị trí này.

Cơn bão màu xanh tiến về Plazen
9 h sáng, khi mặt trời toả ánh hồng trên cao nguyên Pratzen, sương mù
đã tan hết. Thiên anh hùng ca Napoleon cũng toả sáng. Napoleon chỉ thị
cho Soult bắt đầu tiến công "Hãy kết thúc cuộc chiến này = 1 cú đòn sấm
sét", 2 sư đoàn của Vandame và Saint- Hilaire thì được lệnh chiếm hai
điểm cao của Pratzen. Cửa doanh trại bật mở, 1 làn sóng những bộ quân
phục xanh tràn về hướng cao nguyên Pratzen. Tuy nhiên cuộc tấn công của
quân Pháp không dễ dàng như các sử gia Pháp đã viết. Mặc dù bị bất ngờ
trước cuộc tấn công của Soult, quân liên minh cũng nhanh chóng tổ chức
phòng thủ, và quân Pháp nhanh chóng thấy trước mặt mình là sự chống cự
càng lúc càng mãnh liệt. Khi những tiểu đoàn lính Pháp xuất hiện gần
Pratzen, những viên chỉ huy của quân Liên minh sửng sốt, nhưng phản ứng
của họ không hề bị hoảng loạn. Binh đoàn số 4 chỉ vừa tiến về phía
Zlaty, khi quân Pháp xuất hiện bên sườn của họ. Tướng Kuturov lập tức
ra lệnh cho họ sắp xếp lại đội hình và quay lại đối mặt với mối hiểm
hoạ bất ngờ này, chiếm ngôi làng, cao nguyên Pratzen. Chẳng mấy chốc,
tiếp viện của binh đoàn 2 cũng đã tới. Chi đội tiên phong của binh đoàn
này đã chạm trán với quân Pháp ở gần Solkonice. Khi tướng Langeron nghe
thấy tiếng súng nổ ở phía sau, ông hơi ngạc nhiên, liền vội quan lai
xem có chuyện gì. Khi thấy quân địch đang ở phía sau, ông liền vội cho
một lữ đoàn tiến ngược về hướng cao nguyên Pratzen, và ra lệnh cho
tướng Kamenshi chiếm và bảo vệ đỉnh núi. Trận chiến dữ dội diễn ra ở
đây trong vài tiếng đồng hồ.

Soult, người giáng cho quân Nga cú quyết định
Quân hai bên đánh giáp lá cà bằng lưỡi lê, và cả hai bên đều bị thiệt
hại nặng. Người Nga phòng thủ với lòng dũng cảm vô song, khi những
chiến binh Nga bị bắt làm tù binh, họ đã lao vào những người lính Pháp
áp giải họ bằng tay không và cướp vũ khí. Điều này làm quân Pháp nổi
giận, nên không bắt lính Nga làm tù binh mà giết tất cả. Đến gần trưa,
lúc 11 h quân Pháp mới có thể chiếm được Pratzen, Napoleon lập tức di
chuyển hành dinh của mình từ Zuran đến gần làng Oldvinegard, xem xét
tình hình và đưa ra những chỉ thị mới cho sĩ quan phụ tá chuyển tới
những điểm nóng của trận chiến. Chi viện cho Davu, điều Soult tiến về
phía nam chặn đánh Bukhôven. Quân của Bernadot sẽ giữ cho Pratzen thay
cho Soult.

Tình hình 2 bên lúc 9 giờ - 10 giờ 30 Sau khi chiếm được Pratzen, quân Pháp lập tức đánh tạt sườn quân Nga,
đang tiến về Telnitz, nơi Davu đang khổ chiến. Lúc này quân của Davu
đang phải chịu đòn tấn công mãnh liệt của quân chủ lực bên liên minh.
Telnitz và Sokolnitz đổi chủ liên tục sau những trận giáp lá cà đẫm
máu. Nhưng Davu gan dạ đã hoàn thành nhiệm vụ dù quân địch đông hơn gấp
3 lần. Napoleon tăng viện cho Davu 4 tiểu đoàn của Ouđinot. Quân chủ
lực của liên minh bi vướng vào trận chiến gần Zlaty, giờ đây phải chịu
hoả lực từ hai hướng, trước là của Davu, sau là 2 sư đoàn của Soult,
lực lượng vừa tiến xuống từ đỉnh Praten.
Ở hướng Bắc, Lannơ và Murat bị Bagration tấn công mạnh liệt. Nhưng kỵ
binh Pháp đã làm nên kỳ tích và quân Nga bị đẩy lui, phải rút lui hỗn
loạn gần hẻm núi Holubitz.

Davu, viên thống chế Sắt, người hùng của trận chiến này
Nhưng trận chiến chưa phải đã đi đến hồi kết. Người Nga mở cuộc phản
công vào buổi trưa. 10 trung đoàn bộ binh cận vệ, 6 liên đội kị binh
cận vệ do Đại công tước Konstantin chỉ huy ào ạt tấn công chiếm lại
Pratzen. Họ nghiền nát sư đoàn của vandame. Trong bộ quân phục trắng
xanh, những chiến binh cận vệ trên những con chiến mã cao lớn của hai
trung đoàn cận vệ Nga huyền thoại Preobraenski và sêmnovski như những
hung thần từ trên trời rơi xuống, họ hủy diệt tất cả mọi vật cản đường,
và nghiến nát đội hình bộ binh của quân Pháp. Quân Pháp bắt đầu hoảng
loạn. Phòng tuyến sắp thủng, 1 chỉ huy trung đoàn bị bắt làm tù binh.

Hoảng loạn

Cướp cờ
Napoleon liền tung lực lượng cận vệ, lực lượng dự phòng của mình vào
trận. Ông ra lệnh cho Rapp và Bessier tổ chức cuộc phản công. Cuộc đối
đầu giữa hai đội cận vệ hoàng gia hứa hẹn sẽ là một trận long tranh hổ
đấu. Khinh binh của Morland và cận vệ dưới quyền Ordener chỉ huy đột
kích ồ ạt, nhưng cuộc tấn công bị bẻ gãy, quân Pháp bị đẩy lùi, Morland
bị giết. Dahlman, người chỉ huy thay cho Morland, tổ chức số quân còn
lại thành 3 liên đội. Cùng lúc, Rapp cùng dẫn thêm 2 liên đội nữa, liên
đội Mameluke và liên đội cận vệ hoàng gia tham gia. Họ vừa như 1 cơn lũ
ào tới quân Nga, vừa hét vang " Chúng ta sẽ làm những cô em Sain
Petersburs phải khóc than rơi lệ". Lần này , cuộc xung phong đã thành
công, những kỵ sĩ Mameluke đã lập công. Sau khi chiếm lại được Pratzen,
Rapp tập hợp những chiến binh của mình lại và mở một đợt đột kích nữa,
giải quyết nốt những gì còn sót lại, chém giết quân Nga, buộc họ phải
tháo chạy. Đại quân Grande Armee đã tạo được mũi nhón vào sườn kẻ địch,
chọc thùng phòng tuyến của chúng.

Cuộc xung phong của những chiến binh Mameluke
Bị thương đầy mình nhưng hân hoan Rapp giải đến bản doanh của Napoleon
tù binh của mình, 1 đại tá cận vệ, hoàng tử Repnine. Napoleon nồng
nhiệt ca ngợi lòng dũng cảm của Rapp, và khi hoàng đế bày tỏ sự lo ngại
về vết thương của Rapp, Rapp trả lời từ tốn: " đó chỉ là 1 vết xước
thưa điện hạ"

Tù binh của Rapp
1 giờ chiều, Napoleon chuyển sở chỉ huy đến nhà thờ Saint Anthony phía
nam Pratzen. Lúc ấy, 1 tù nhân cao cấp, Baron de Wimffen, 1 người Pháp
phục vụ trong hàng ngũ quân Nga, cũng được dẫn tới với bộ mặt thật thảm
hại. Lúc này, Soult không còn phải lo lắng gì nữa, xua quân tiến về
Telnitz, cùng với Davu khép kín vòng vây quân Buxhowden. Quân Nga cố
gắng rút lui qua hồ Satchen đang đóng băng, nhưng những viên đạn pháo
phá vỡ mặt băng. Quân Nga lớp chết đuối, lớp chết cóng, lớp đầu hàng.
Mặt nước cũng nhấn chìm vô số đạn dược và pháo của quân Nga.

Tình hình 2 bên từ 10 giờ 30 - 14 giờ
Trận chiến kết thúc lúc 4 giờ, tàn quân Nga- Áo bỏ chạy về hướng đông.
Nhưng màn đêm buông xuống đã giúp quân liên minh thoát khỏi cuộc truy
kích của người Pháp.

Tình huống của 2 bên lúc 14 h - 16 h 30 ngày 2 tháng 12 Ngày mùa đông ngắn ngủi ấy kết thúc. Mặt trời rực chiếu từ buổi sớm đã
lặn và nhờ có bóng tối của hoàng hôn, A-lếch-xan và Phran-xơ đã thoát,
không bị bắt. A-lếch-xan hoàn toàn mất tự chủ, run cầm cập như sắp lên
cơn sốt và khóc lóc. Mấy ngày sau còn phải chạy trốn cực nhục, khốn đốn
hơn nữa. Cu-tu-dốp bị thương, phải vất vả lắm mới thoát khỏi tay quân
địch. Hai vị hoàng đế Phran-xoa và A-lếch-xan đã trốn thoát khỏi chiến
trường trước khi cơn tai biến kết thúc. Bọn tuỳ tùng cũng chạy tán loạn
và dọc đường đã bỏ rơi hai vị đế vương mà chẳng bao lâu nữa, hai vị
cũng phải xa lìa nhau trên mình ngựa mỗi người mỗi ngả.

Chiều xuống và người chiến thắng
Đêm đến thì mọi việc đã xong xuôi. Tất cả các sĩ quan tuỳ tùng, các
thống chế, các tướng lĩnh của đội cận vệ, các sĩ quan hầu cận vây quanh
Na-pô-lê-ông và binh lính từ tứ phía chạy vội về hướng hoàng đế, hoan
hô nhiệt liệt chào mừng Na-pô-lê-ông ngồi trên mình ngựa, vượt qua cánh
đồng rộng bát ngát và mỗi bớc vó ngựa va phải biết bao nhiêu xác người
và vật nằm rải rác khắp cánh đồng. Chừng 15.000 quân áo và Nga bị giết,
20.000 bị bắt cầm tù, hầu hết pháo của đối phơng bị tước và nhất là đội
quân Nga-áo đã bị tiêu diệt thật sự, số tàn quân bỏ chạy tán loạn đi tứ
phía, bỏ lại rất nhiều kho tàng, tất cả quân dụng, vô số lương thực. Đó
là những nét lớn về kết quả của cuộc chiến thắng đó. Quân Pháp bị thiệt
mất ngót 9.000 người so với con số 80.000 bên liên minh.
Hàng trung đoàn bị chết đuối hoặc bị đạn đại bác của quân Pháp tiêu
diệt và một số khác thì đầu hàng. Đội kỵ binh cận vệ Nga hầu như bị
tiêu diệt ngay từ lúc trận chiến đấu ở vào giai đoạn quyết liệt, sau
một trận giao chiến ác liệt với đội kỵ binh cận vệ của Na-pô-lê-ông.
Khâm phục tinh thần chiến đấu dũng cảm của binh lính Nga, nhưng các
tướng soái của Na-pô-lê-ông không khỏi không lấy làm ngạc nhiên về sự
cực kỳ ngu muội của các cuộc hành binh, về sự dốt nát hoàn toàn về các
vấn đề chiến tranh, về tinh thần thiếu bình tĩnh và sự bất tài của các
tướng lĩnh người Nga, trừ Cu-tu-dốp. Đặc biệt họ lấy làm lạ rằng
Búc-xô-ve-đen, chỉ huy cánh trái của quân Nga, trong tay có 29 tiểu
đoàn và 22 liên đội, đáng lẽ chạy sang ứng cứu cho chủ lực đang bị khốn
đốn thì lại dành hầu hết thời gian chiến đấu vào việc công kích một cứ
điểm không quan trọng mà ở đó quân Pháp chỉ cần một lực lượng nhỏ không
đáng kể cũng đủ phòng giữ được hàng giờ. Và cuối cùng, khi đã thấy được
phải vừa đánh vừa rút lui thì Búc-xô-ve-đen lại tiến hành không khẩn
trương và thiếu nghệ thuật, đến nỗi hàng nghìn binh lính thuộc quân
đoàn của y bị đuổi dồn đến vùng hồ để rồi bị chết chìm ở đó, vì sau khi
nắm được cuộc điều quân ấy của Búc-xô-ve-đen, Na-pô-lê-ông đã ra lệnh
nã đại bác lên mặt nước đóng băng. Số sống sót đều bị bắt làm tù binh.
Ngày hôm sau, trong tất cả các quân đoàn, người ta đọc bản nhật lệnh
của Na-pô-lê-ông: "Hỡi các binh sĩ! Ta rất lấy làm hài lòng về các
người, các người đã chứng minh lòng son dạ sắt của các người trong trận
Au-xtéc-lít! Các người đã tô điểm cho lá quốc kỳ của các người bằng một
vinh quang bất diệt! Một đội quân do các hoàng đế Nga và áo chỉ huy đã
bị tiêu diệt hoặc tan tác cha đầy bốn tiếng đồng hồ. Những kẻ thoát
được viên đạn của các người thì bị chìm dới đáy hồ..."

Napoleon và hoàng đế nước Áo gặp nhau sau trận chiến
Hoàng đế Phran-xoa lập tức tuyên bố với A-lếch-xan chỉ có điên rồ mới
tiếp tục chiến đấu. A-lếch-xan đồng ý ngay. Hoàng đế áo đề nghị
Na-pô-lê-ông cho hội kiến và Na-pô-lê-ông đã tiếp Phran-xoa ở ngay nơi
lộ doanh của mình, thuộc vùng lân cận Au-xtéc-lít. Na-pô-lê-ông nhã
nhặn đón tiếp Phran-xoa nhưng trước hết ông đòi tàn quân Nga phải rút
ngay ra khỏi nớc áo và tự mình quy định các chặng đường và tuyên bố là
chỉ thương lượng hoà bình với nước áo. Phran-xoa đồng ý tất cả.
Cuộc liên minh quân sự thứ ba kết thúc. |