Xe tăng trong WW II: Hồng Quân PDF Print E-mail
Written by lichsuvn.info   
Saturday, 08 September 2007
Xe tăng của Liên Xô

T-37

là tăng lội nước chuyên dùng trong trinh sát được lấy mẫu từ tăng AM33 của pháp, có thể nói T-37 là một trong những chiếc xe tăng lội nước đầu tiên trên thế giới được đưa vào phục vụ và dần được thay thế bởi tăng T-38 tiến tiến hơn. tuy là xe tăng lội nước nhưng trên thực tế nó chỉ có thể lội qua những vùng nứoc không quá sâu và nước chảy không quá siết.
thông số
nặng: 3.2 tonnes
dài: 3.75 m
rộng: 2.10 m
cao: 1.82 m
tổ lái: 2
giáp: 3 mm–9 mm
vũ khí chính: DT machine gun
tốc độ: 35 km/h

T-38

là bản phát triển của T-37, T-38 cũng là tăng trinh sát nhưng nó tốt hơn T-37 trên hầu hết mọi mặt: giáp, hỏa lực, tốc độ, khả năng ngụy trang và khả năng lội nước (nhờ có ba mái chèo gắn phía sau). được sử dụng chủ yếu để trinh sát, hổ trợ bộ binh ta và chống bộ binh địch, trong biên chế tiểu đoàn bộ binh giai đoạn đầu cuộc chiến, thường có khoảng 38 chiếc T-38 và có thể tăng lên đến 50 khi tham chiến. T-38 có thể được vận chuyển đến chiến trường nhanh chóng trên máy bay ném bom Tupolev TB-3. tuy nhiên, T-38 dần bị thay thế bởi các loại tăng khác tốt hơn khi chiến tranh bắt đầu trở nên khốc liệt.
thông số
nặng: 3.3 tonnes
dài: 3.78 m
rộng: 3.33 m
cao: 1.63 m
tổ lái: 2
giáp: 3 mm–9 mm
vũ khí chính: DT machine gun
vận tốc: 40 km/h

T-40

một bản thiết kế hầu như hoàn hảo cho tăng lội nước trinh sát. tuy vậy, dưới sức ép của chiến tranh, liên xô nhận thấy cần phải có một loại tăng khả dĩ có khả năng đối chọi với tăng của đức về hỏa lực và giáp nên họ đã ngừng việc sản xuất T-40 từ rất sớm và phát triển nó lên bản T-60 (một loại tăng trinh sát hạng nhẹ). được chế tạo với số lượng rất khiêm tốn và được nhìn thấy trong các trận chiến chống quân đức trong chiến dịch Barbarossa và các trận đánh bảo vệ Moscow.
thông số
nặng: 5.9 tonnes
dài: 4.11 m
rộng: 2.33 m
cao: 1.95 m
tổ lái: 2
giáp: 7 mm–14 mm
vũ khí chính: 12.7mm DShK machine gun
vũ khí phụ: 7.62mm DT machine gun
vận tốc: 44 km/h

T-26

được chế tạo dựa trên tank Vickers 6-Ton của anh quốc. T-26 được sử dụng từ những năm 1930 đến gần hết ww2. xuất hiện trong khá nhiều cuộc chiến tranh như Spanish Civil War, Winter War, Battle of Khalkhin Gol, và được sản xuất với số lượng lớn 12000. đến tận năm 1941, T-26 vẫn là một trong những loại tăng hạng nhẹ chính của lực lượng thiết giáp liên xô và phía liên xô đã gần như không lo lắng gì nhiều về loại tăng này. Tuy nhiên, niềm tin của liên xô sụp đổ khi chứng kiến chiến dịch Barbarossa, trong toàn bộ chiến dịch Barbarossa, liên xô đã "đón tiếp" quân đức với hơn 10 ngàn tăng T-26, nhưng T-26 đã không làm đựoc nhiệm vụ của mình. các loại tăng hạng nhẹ của đức tỏ ra vượt trội về mọi mặt. hơn 10 ngàn tăng T-26, chỉ có khoảng 2500 chiếc sống sót.
chiếc T-26 vào năm 1931
thông số
nặng: 9.4 tonnes
dài:4.88 m
rộng: 3.41 m
cao: 2.41 m
tổ lái: 3
giáp: ~7–16 mm
vũ khí chính:45 mm gun Model 32
vũ khí phụ: Up to 3× DT machine guns
vận tốc: 28 km/h

T-50

cho đến nắm 1939, hầu hết tăng của liên xô đều được chế tạo dựa théo các loại tăng của nước ngoài thì T-50 được xây dựng dành riêng cho liên xô. T-50có một số điểm tiến bộ về thiết kế và trang bị như động cơ, bố trí tháp pháo. tuy vậy T-50 lại quá phức tạp và mắc tiền nên không được trọng dụng. chỉ có khoảng 69 (có thể hơn) chiếc được sản xuất. và nó mặc dù xuất hiện trong một số trận tại stalingrat, moscow nhưng vẫn không thực sự chứng minh được sưc mạnh của nó.
thong số
nặng: 14 tonnes
dài: 5.20 m
rộng: 2.47 m
cao: 2.16 m
tổ lái: 4
giáp: 12–37 mm
vũ khí chính: 45 mm Model 1938
vũ khí phụ: 1×DT 7.62 mm machine gun
vận tốc: 60 km/h

T-60

như đã nói ở trên, tăng siêu nhẹ lội nước T-40 bị ngưng sản xuất tiếp tục phát triển thành T-60. T-60 tuy là một tăng hạng nhẹ nhưng do tiền thân của nó là T-40 nên nó đồng thời gánh luôn nhiệm vụ trinh sát. liên xô đã dự định lắp cho T-60 Một chiếc cánh cùng một động cơ cánh quạt để biến nó thành một chiếc xe tăng biết bay (ý tưởng viến vông vào thời đó) nhưng do không có một chiếc cánh đủ khỏe nên dự án bị hủy.
thông số
nặng: 5.8 tonnes
dài:4.10 m
rộng: 2.30 m
cao: 1.75 m
tổ lái: 2
giáp: 7 mm-20 mm
vũ khí chính:20 mm TNSh cannon
vũ khí phụ: 7.62 mm coaxial DT
vận tốc:44 km/h 

T-70

vào năm 1942, trong khi các dòng tăng hạng nhẹ của liên xô tỏ ra không thể trụ vững trứoc tăng của đức, T-34 mới được đưa vào sử dụng và binh lính còn chưa quen với loại tăng mới, thì T-70 được xem là một sự nổ lực để cứu chửa cho hồng quân. T-70 được hồng quân sử dụng suốt chiến tranh thế giới thứ 2, nó thay thế cho T-60 trinh sát và T-50 hạng nhẹ chuyên hổ trợ bộ binh. sử dụng 2 động cơ GAZ-202,, một tháo pháo 45mm, T-70 có thể nói là đã thay thế phần nào cho các loại tăng đang thất thế trên chiến trường. nhưng "một cây làm chẳng nên non", T-70 vẫn bị áp đảo bởi các loại tăng của đức. T-70 được hồng quân phát triển lên T-80, tuy nhiên, dự án này bị ngừng lại bởi việc ra đời các loại tăng hạng trung và tăng tốc độ ( fast tank). khung gầm của T-70 được dùng làm thành T-90 self-propelled anti-aircraft gun.
một chiếc T-90
thông số
nặng: 9.2 tonnes
dài: 4.29 m
rộng: 2.32m
cao: 2.04m
tổ lái: 2
giáp: 60 mm
vũ khí chính: 45 mm gun Model 38
vũ khí phụ: 7.62 mm DT coaxial
vận tốc: 45 km/h

BT tank
Zero xin phép nói riêng về dòng BT tank. dòng BT tank, còn gọi là tăng tốc độ (fast tank) hay tăng kỵ binh (calavary tank) là một dòng tăng khá đặc biệt của hồng quân xô viết. trong tất cả các nước tham gia ww2, liên xô có lẽ là quốc gia duy nhất phát triển tank có tốc độ cao thành một dòng tank riêng biệt. đặc điểm chung của dòng BT tank là tốc độ cao (BT 2 có tốc độ cao nhất lên tới 100km/m trên đường đá, những loại còn lại đều trên 70km/h), hỏa lực mạnh (chủ yếu là pháo 45mm), giáp mỏng, bánh xích nhỏ, và trọng lượng tương đối nhẹ (trên dưới 10 tấn). dòng BT được đưa vào sử dụng ngay từ đầu chiến tranh, BT tank đã chứng minh khả năng ưu việt của mình trong việc trinh sát (tốt hơn cả dòng tank trinh sát siêu nhẹ lội nước),chống bộ binh, đánh tập hậu sau lưng đối phương, và trong những trận đánh nhanh rút nhanh bằng tank (chắc chỉ có liên xô dùng tank để đánh nhanh rút nhanh). nhược điểm lơn nhất của BT có lẽ ai cũng đoán được, sự linh hoạt và tốc độ được đưa lên hàng đầu nên BT buộc phải hy sinh giáp của mình. giáp BT rất mỏng, thậm chí không chịu được một quả chống tăng cầm tay. lái BT tank cũng giống như đánh cược , nếu thắng anh sẽ sống, ngược lại anh phải trả giá bằng sinh mạng của mình.
một chiếc BT-5
thông số BT-5
nặng: 11.5 tonnes
dài: 5.58 m
rộng: 2.23 m
cao: 2.25 m
tổ lái: 3
giáp: 6 to 13 mm
vũ khí chính: 45 mm Model 32
vũ khí phụ: DT machine gun
vận tốc:72 km/h
BT-2 đời đầu tiên
BT-7 tank

T-28

được sử dùng từ năm 1933 đến năm 1944, là tăng hạng trung nhưng nó không chững tỏ gì nhiều về vai trò của mình, có nhiều điểm tương tự như chiếc Vickers A1E1 Independent của anh quốc. mặc dù được trang bị hỏa ực khá mạnh gồm 1 khẩu 76.2mm với 70 viên đạn và 4 khẩu DT 7.62mm machine guns với 8000 viên đạn nhưng T-28 không thành công lắm trong chiến trận, tuy vậy nó là nền tảng cho các ý tưởng thiết kế mới.
thông số
nặng: 28 tonnes
dài: 7.44 m
rộng: 2.87 m
cao: 2.82 m
tổ lái: 6
giáp: 30 mm
vũ khí chính: 76.2mm gun with 70 rounds
vũ khí phụ: 4 or 5×DT 7.62mm machine guns with 8,000 rounds
vận tốc:37 km/h (road),22 km/h (off-road)

và bây giờ xin trân trọng giới thiệu
T-34 tank

không phải mất công quảng cáo cho chiếc tăng này nhỉ (mà lỡ quảng cáo rùi ). bất cứ ai đã biết về thế chiến thứ hai chắc chắn biết đến chiếc tank này. được mệnh danh là chiến xa tốt nhất thế chiến thứ hai, sự ưu việt của T-34 thể hiện qua tính cơ động, hỏa lực mạnh, khả năng tự bảo vệ tốt. T-34 tốt đến nỗi cho đến nay người ta vẫn lấy hình mẫu của nó (hoặc một số bộ phận) để thiết kế các loại tăng mới.
anti aircraf của quân đội nhân dân viêt nam đặt trên thân của T-34
Syrian T-34/122.
Egyptian T-34/100
được phát triển trong những năm 1937-1940 và bắt đầu được sản xuất vào cuối năm 1940. T-34 là sự cải tiến của dòng BT Tank bằng cách cải tạo giáp và tăng cường hỏa lực mới. đối với binh lính nói chung, T-34 lúc đầu củng chỉ được coi là một loại tăng xung kích bình thường, cho đến năm 1941 người nga đã gần như quen với việc tank của họ bị áp đảo trên chiến trường (nói đơn giản là hi vọng gần tàn lụi), thậm chí ngay ca người đức cũng tự tin "We had nothing comparable - không ai có thể so sánh với chúng ta" (Friedrich von Mellenthin, Generalmajor (không rỏ nghĩa từ này lắm) của quân đội đức trong thế chiến thứ hai). thế nhưng, người tính không bằng trời tính. được trang bị pháo 76.2mm, động cơ 12-cyl diesel model V-2500 hp (373 kW), ngay từ những lần đầu xuất trận vào mùa hè năm 1941, T-34 đã khiến người ta kinh ngạc về khả năng của mình. người Đức thực sự shock khi chứng kiến khả năng chiến đấu của T-34. các loại tank Panzer I, II, III , IV, và cả dòng Tiger danh tiếng lần lượt tỏ ra bất lực trước T-34, các đơn vị bộ binh của đức với các loại súng chông tăng cầm tay, các loại pháo anti tank từ 37mm đến 50mm đều không có hiệu quả trong ngăn bứoc tiến của T-34. trong nhiều trận chiến, để tiêu diệt T-34, người đức buộc phải dùng tới một chiến thuật chẳng đặng đừng : huy động tối đa bộ binh, áp sát T-34, chấp nhận tổn thất để diệt tổ lái bên trong. T-34 đã tạo ra khúc ngoặt mới cho toàn bộ ngành công nghiệp tăng thiết giáp của liên xô. nhận thấy khả năng chiến đấu đáng sợ của T-34, bộ chỉ huy quốc xã buộc phải nghiên cứu một loại tank mới để đối đầu với T-34 (dòng Panther), tuy nhiên, tất cả đã quá muộn với người đức. hồng quân liên xô đẩy mạnh sản xuất T-34 với một tốc độ chưa từng thấy 1000 tank/ tháng (một con số mà người đức không bao giờ có thể đạt được) và đã sản xuất khoảng 84000 chiếc trong suốt chiến tranh, họ gần như ngừng tất cả các loại tăng hạng nhẹ, tăng trinh sát và tập trung vào mỗi T-34. có thể nói, với sự xuất hiện của T-34 niềm hy vọng của liên xô được vực dậy mạnh mẽ. sự thành công của T-34 ngaòi việc thiết kế tốt còn phải kể công của cá nhà hóa học nga, họ đã giãi mã thành công cấu trúc thép của tank đức và chế tạo đưc loại đạn anti tank hữu hiệu cho T-34. ngoài ra, T-34 còn ăn điểm ở chổ dể lắp ráp và sửa chửa, nhiều trương hợp được ghi nhận (đặc biệt là trận Krusk) T-34 bị bắn bay tháp pháo nhưng được kéo về xưởng lắp tháp pháo mới và tiếp tục ra trận.
thông số T-34 mod 43
nặng: 30.9 tonnes (34.1 short tons)
dài: 6.75 m (22.1 ft)
rộng: 3.00 m (9.8 ft)
cao: 2.45 m (8.0 ft)
tổ lái: 4
giáp: 70 mm (2.75 in)
vũ khí chính: 76.2 mm (3.0 in) F-34 tank gun
vũ khí phụ: 2×7.62 mm (0.308 in) DT machine guns
vận tốc: 55 km/h (34 mph)  

T-44

T-44 là "người nối nghiệp"của dòng tank thành công T-34, được sản xuất vào gần cuối cuộc chiến tranh nhưng chưa tới 2000 chiếc được sản xuất do nó có một số vấn đề về bộ bánh xích, nhưng thiết kế của T-44 là cơ sở cho loại tank chiến đấu (main battle tank) T-54/55 sau này (loại mà quân đội nhân dân Việt Nam đã sử dụng trong kháng chiến chống Mỹ).
vào đầu ww2, mãu tank T-34M với nhiều cải tiến và được áp dụng công nghệ hiện đại đã bị ngưng lại. tới tận năm 1942, trước yêu cầu cần phải có các loại tank mạnh để đối đầu với quân đức, dự án phát triển T-43 được mở ra nhưng bị hủy ngay sau đó vì sự thành công ngoại tưởng tượng của T-34. vào năm 1943, một mẫu thiết kế mới tương tự như T-34 ra đời với sự tăng cường giáp, tháp pháo (Pháo 100mm-120mm), bánh xích là T-44. thoạt nhìn, T-44 có vẻ ưu việt hơn T-34, nhưng trên thực tế, bộ bánh xích của T-44 lại tỏ ra không hiệu quả lắm với các trận đánh trên đầm lầy và rừng (trong đầm lầy thì dễ bị mắc kẹt, trong rừng lại mau hỏng do độ ẩm cao và địa hình nhiều đá rắn). sau chiến tranh, T-44 được dùng trong huấn luyện và để phát triển T-54/55, từ năm 1956, không ai nhìn thấy T-44 trên chiến trường.
thông số
nặng: 31.9 tonnes
dài: 7.65 m
rộng: 3.15 m
cao: 2.45 m
tổ lái: 4
giáp: 120 mm
vũ khí chính: 85mm gun model ZiS-S-53
vũ khí phụ: 2×DTM machine guns
vận tốc: 51 km/h

T-35

"to con mà dở ẹc" đó là tóm gọn một cách chính xác về T-35, là một chiếc tăng cực kì đồ sộ, T-35 "chỉ có" tổng cộng 5 tháp pháo, và nó cũng là chiếc duy nhất trong thế chiến thứ hai có đến 5 tháp pháo. trong WW2, T-35 được nhìn thấy với số lượng hạn chế trong chiến dịch Barbarossa, lần cuối cùng người ta nhìn thấy sự hiệ diện của T-35 là trong chiến dịch phòng thủ tại Moscow, sau chiến dịch này không ai còn thấy nó trên chiến truờng nữa. 90% số tank T-35 của liên xô bị mất trong chiến tranh là của trung đoàn 67 và 68. nguyên nhân là do T-35 tuy đồ sộ nhưng nó lại quá chậm chạp, cồng kềnh và rắc rối (cần đến 11 người để vận hành cái đống sắt này). điều đặc biệt (và có lẽ là xấu hổ) là phần lớn các chiếc T-35 bị mất không phải là do chiến đấu mà do trục trặc về kỹ thuật và chính tổ lại đã phá hủy nó. chỉ còn 4 chiếc được giữ lại để huấn luyện, một trong số chúng hiện đang đựoc trưng bày tại bảo tang tăng thiết giáp Kubinka ở Moscow.

ai muốn thì chế tạo một chiếc chạy chơi


so sánh kích thước của nó với người lính đứng cạnh

thông số
nặng: 45 tonnes
dài: 9.72 m
rộng: 3.20 m
cao: 3.43 m
tổ lái: 11
giáp: 11–30 mm
vũ khí chính: 76.2 mm gun model 27/32
vũ khí phụ: 2×45 mm guns, 5 or 6×7.62 mm machineguns
vận tốc: 30 km/h

KV Tank
kv-1 model 1940

tên đầy đủ là Kliment Voroshilov tank (viết tắt là KV), KV là mẫu tank hạng nặng được đặt theo tên của chính khách và ủy viên mặt trận phòng thủ nhân dân Kliment Voroshilov. vào thời điểm đức xâm lược liên xô, lực lượng tank của liên xô có khoảng 500KV và khoảng hơn 1000 tank T-34.
trước kết quả đáng thất vọng của T-35, những nhà thiét kế đã bắt tay thiết kế một loại tank mới để nhanh chóng thay thế cho T-35. Trong khi T-35 chỉ thích hợp dùng vào những năm 1920 với chiến thuật 'breakthrough tank', lúc này tank được trang bị hỏa lực rất mạnh (so với thời đó) nhưng đổi lại giáp lại rất nghèo nàn và hy sinh tính cơ động, thì dòng KV lại chỉ hy sinh tính cơ động (và chỉ duy nhất tính cơ động). KV được trang bị hỏa lực cực kỳ mạnh, giáp dầy, và trong một số phiên bản phát triển (như KV-1 phát triển thành T-100) nó được gắn tới 2 tháp pháo



chiến tranh càng khốc liệt, KV càng được trang bị giáp dầy hơn, hỏa lực được tăng cường tới mức đỉnh điểm. dòng KV lúc này không khác gì những thừng thuốc nổ bọc sắt, đặc biệt chiếc KV-2 hạng nặng được trang bị một khẩu pháo howitzer 152mm, nó chậm nhưng hiếm có chiếc tăng nào của đức dám nghênh chiến với nó vì chỉ cần một phát pháo trúng đích vào bất cứ vị trí nào (kể cả những chổ có giáp 100mm) cũng thừa sức tiễn chiếc tank xấu số kia về chầu ông bà tổ.

một chiếc KV-2 với pháo howitzer 152mm.

tuy nhiên, việc trang bị giáp dầy lại làm trọng lượng của chiếc tank tăng lên đáng kể mà động cơ lại chưa phát triển tương ứng. và cùng với sự thành công của T-34, người nga nhận thấy T-34 có thể đảm đương nhiệm vụ của KV một cách hiệu quả (chi phí cho một chiếc T-34 rẻ hơn nhiều so với KV) cho nên dự án phát triển KV bị dừng lại vào năm 1943 và chỉ được mở lại khi dòng tank Panther của Đữ xuất hiện khắc chế T-34.

KV-1 mẫu nguyên bản vào năm 1939


KV-1 sản xuất năm 1942


KV-1E năm 1940

thông số
nặng: 45 tonnes
dài: 6.75 m
rộng: 3.32 m
cao: 2.71 m
tổ lái: 5
giáp: 90 mm-180mm
vũ khí chính: 76.2 mm gun model F-34
vũ khí phụ: 4×DT machine guns
vận tốc: 35 km/h

Iosif Stalin tank - IS Tank

IS-1 đời đầu tiên.

sự thành công của T-34 buộc ngươi đức phải phát triển một dòng tank mới để khắc chế T-34: dòng tank Panther. quả thật, Panther tank đã làm rất tốt nhiệm vụ của mình, nó đã đối đầu với T-34 mà không hề tỏ ra thua kém. điều này buộc người nga phải mở lại các dự án phát triển tank hạng nặng đã bị đóng cửa từ năm 1943.
được đặt theo tên của Joseph Stalin, dòng IS được thiết kế với lớp giáp giày để chống lại pháo 88mm, động cơ mạnh, và hỏa lực cao (pháo 85mm cho IS-1, 122mm cho IS-2). nói một cách đơn giản, IS là dòng T-34 được tăng cường giáp, pháo, động cơ.
chiếc IS-1 nguyên bản chỉ được sản xuất vài lần và nhìn thấy trên chiến trừơng một cách hạn chế, sau đó nó nhường chổ cho IS-2 và IS-3. sự xuất hiện IS-2 và IS-3 bên cạnh dòng T-34 đã làm cho đội hình của lực lượng thiết giáp của liên xô gần như bất khả chiến bại.
lần đầu tiên IS-2 xuất hiện được ghi nhận là vào mùa xuân năm 1944, IS-2 thường được giao nhiệm vụ hổ trợ bộ binh, bắn phá boongke của đối phương, phá hủy thiết bị vật chất và nếu có thì hỏi thăm cả những chiếc tank hạng nhẹ đến hạng trung của đức.
IS-2 có trọng lượng tương đương như Panther và nhẹ hơn Tiger, tuy nhiên nó chậm hơn cả hai chiếc trên một chút. điểm yếu của IS-2 đều nằm ở phần hỏa lực, tốc độ bắn chậm và lực đạn mang theo ít, những trận đánh thử lửa vào mùa xuân 1944 đã cho thấy hầu hết IS-2 đều rời chiến trường sớm do hết đạn. sau những trận đánh mùa xuân 1944, ngươi ta không nhìn thấy IS-2 cho đến tận tháng 8/1944. IS-2 cùng vài phiên bản cải tiến (một số it tank mới là IS-3) trở lại và đem đến nỗi sợ hãi cho lính đức, đặc biệt là với tank Tiger I-II : ngày 13 tháng 8, trung đoàn tăng IS-2 hạng nặng độc lập số 11 thuộc sư đoàn 71 - 71st Independent Heavy Tank Regiment's eleven IS-2 (ko bít dịch đúng ko), bị kẹt giữa một cuộc tấn công của 14 tank Tiger II thuộc trung đoàn tăng Panzer hạng nặng - 105th Heavy Panzer Regiment. kết quả 4 chiếc Tiger II bị phá hủy và 7 chiếc khác bị thương trong khi chỉ có 3 chiếc IS-2 bị bắn cháy. kết quả này khiến cho lính đức đặt cho IS-2 một cái tên "Dooms" nghĩa là quỷ dữ.


chiếc IS-2 model 1943 (bên phải) và IS-3 bên trái

IS-2 với pháo 122mm


IS-3 với giáp siêu dày và tháp pháo hình bán cầu

thông số IS-2 model 1943
nặng: 46 tonnes
dài: 9.90 m
rộng: 3.09 m
cao: 2.73 m
tổ lái: 4
giáp: 30 to 160 mm
vũ khí chính: D25-T 122 mm gun
vũ khí phụ: 3×DT, 1×DShK machine guns
vận tốc: 37 km/h

Last Updated ( Saturday, 08 March 2008 )
 
< Prev   Next >
Trang chủ Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam