Tài liệu nghiên cứu về ấn chương học Việt Nam, kết luận.
KẾT LUẬN
1.
Nghiên cứu ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX gắn bó
mật thiết với Hoàng đế và thiết chế tổ chức hành chính từ trung ương
xuống địa phương của các triều đại phong kiến Việt Nam từ thời Lê sơ
đến thời Nguyễn. Ấn chương biểu thị quyền lực của Hoàng đế, của chính
quyền các cấp, của mọi cơ quan và đơn vị quân đội và mang tính pháp
lệnh quốc gia.
Ngay khi lên ngôi từ Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông đến Gia Long, Minh Mệnh
thời Nguyễn song song với việc ban hành chiếu sắc chính sự là việc ra
chỉ dụ chế tác và sử dụng Bảo Tỷ cùng các loại ấn chương khác. Mỗi một
Bảo, Tỷ, Ấn, Chương, Quan phòng, Đồ ký v.v… đều có cách sử dụng riêng
và dùng cho một loại văn thư chỉ định. Các Bảo ấn Chế cáo chi bảo, Sắc
mệnh chi bảo, Ngự tiền chi bảo v.v… với chức năng riêng biệt được duy
trì từ đầu thời Lê sơ đến hết thời Nguyễn là điển hình của tính lịch sử
kế thừa ấn chương qua năm triều đại. Bảo ấn Tiên nhu chi bảo dùng đóng
trên sắc phong thời Tây Sơn mang nét đặc thù riêng của Bảo Tỷ Việt Nam.
Ngọc Tỷ Đại Nam thiên tử chi tỷ đời Minh Mệnh dùng đóng trên các văn
kiện ban sắc thư cho người nước ngoài, đã vượt ra ngoài tính chất nội
trị mang ý nghĩa trên trường quốc tế. Quốc hiệu “Đại Nam” đã được khắc
trên mặt ấn ngọc biểu thị tư tưởng quốc gia độc lập và ý thức tự hào
dân tộc.
Công cuộc cải cách hành chính triều Lê Thánh Tông và triều Minh Mệnh từ
trung ương xuống địa phương đều dẫn đến sự thay đổi về ấn chương. Những
cơ quan mới thành lập, chức năng mới được bổ nhiệm sẽ được ban cấp một
loại ấn tín mới; hoặc việc thay đổi chức vụ cấp bậc của một văn quan
hay võ tướng cũng đều có sự thay đối ấn chương, ấn mới với tên gọi mới
sẽ thay thế cho ấn cũ.
Cải cách hành chính ở địa phương cũng là cuộc cải cách ấn chương tại
địa phương. Đời Lê Thánh Tông khi chia đất nước thành 12 đạo Thừa
tuyên, đổi chức Lộ An phủ sứ làm Tri phủ là việc ban ra ấn Tri phủ thay
cho ấn An phủ sứ. Đời Minh Mệnh, sự chấm hết của Chương và Tín Chương
cũng là sự định hình hoàn toàn của ấn, Quan phòng khi giai đoạn tản
quyền chấm dứt năm 1832. Ấn Đồ ký ngày thêm hoàn thiện khi chính quyền
cấp phủ, phân phủ, huyện, châu đã thành công trong cải cách. Kiềm ký ra
đời khi nhà Nguyễn cho thiết lập các cửa thành, cửa khẩu, cửa biển, đồn
trạm. Ký Triện của Tổng, Lý đã nằm trong quy chế ở thời kỳ mà cải cách
hành chính ở phủ, huyện đã hoàn thành. Sự thay đổi và hoàn chỉnh ấn,
Quan phòng cùng Đồ ký trong binh chế quân đội góp phần không nhỏ trong
nghiên cứu hệ thống ấn chương. Việc hoàn thiện và ổn định dần của ấn
chương đời Minh Mệnh đã đưa tính tự do của Tín Ký vào trong quy chế
chung.
Mỗi loại hình ấn, từ Bảo Tỷ của Hoàng đế xuống đến Ký Triện của Tổng,
Lý đều biểu thị cho quyền lực. Với Bảo Tỷ là tượng trưng của đế quyền
đại diện cho một quốc gia, một dân tộc. Với Tổng, Lý là quyền lực bất
khả kháng của chính quyền xã thôn, việc tuân thủ là tuyệt đối và như
một định luật bất biến. Tính pháp quyền của ấn chương ở đây được các
Hoàng đế từ thời Lê sơ đến Nguyễn giương cao bằng những chỉ dụ mà chính
sử phải ghi lại. Nó phù hợp với chế độ quân chủ chuyên chế, tư tưởng
chính trị đề cao pháp trị và độc tôn Nho giáo nhất là trong thời Nguyễn.
Sự phát triển và hoàn thiện của ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến
cuối thế kỷ XIX đã tác động tích cực trở lại đối với công cuộc cải cách
hành chính, củng cố chế độ trung ương tập quyền của các vương triều từ
Lê sơ đến Nguyễn. Biến cố 1885, người Pháp chính thức đặt quyền bảo hộ,
cũng là lúc chính thể nhà Nguyễn suy sụp, điều đó đã khiến cho hệ thống
ấn chương mất mát nhiều cả về số lượng lẫn chất lượng.2.
Nghiên cứu ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX là
nghiên cứu văn bản Hán Nôm. Mỗi hình dấu là một văn bản Hán Nôm hoàn
thiện, văn bản này đứng độc lập hoặc nằm trong một văn bản Hán Nôm
khác. Đây là đặc thù riêng mà chỉ có ở loại hình ấn dấu.
Mỗi hiện vật ấn chương sẽ cho ra đời văn bản Hán Nôm, đây được coi là
một văn bản hoàn thiện và trung thành nhất. Việc phiên chữ Triện ra chữ
Chân của Hán tự trong dấu là thao tác đầu tiên và tất yếu của người
nghiên cứu ấn chương. Chữ ở ấn dấu từ thời Lê sơ đến triều Gia Long
thời Nguyễn có nét khắc vuông vức uốn nhiều nét, nên khó phiên giải. Từ
đời Minh Mệnh trở đi, chữ Triện trong dấu nét khắc mềm và ngắn hơn, ở
nhiều hình dấu tự dạng gần như chữ Lệ nên việc phiên giải có thuận lợi.
Việc phiên giải trước hết phải xác định ấn dấu đó thuộc loại hình nào
(Bảo Tỷ, ấn hay Quan phòng…), thuộc tổ chứcnào (lục Bộ, quân đội hay
chính quyền địa phương…) và ở thời kỳ nào (Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng,
Tây Sơn hay Nguyễn). Có những chữ Triện với nhiều kiểu viết khác nhau ở
các loại hình ấn khác nhau, thậm chí cùng trong một loại hình ấn thực
sự đã gây khó khăn trong việc phiên giải. Đơn giản như một chữ ấn (印)
trong dấu cũng có tới vài chục kiểu viết khác nhau. Ở những hình dấu
độc lập, công tác văn bản phiên giải khó hơn dấu in trên văn bản Hán
Nôm.
Qua hình dấu ấn có thể xác định ngay được loại hình văn bản là sắc
phong, lệnh chỉ hay văn bản hành chính nào. Dấu Sắc mệnh chi bảo, Tiên
nhu chi bảo, Phong tặng chi bảo khẳng định ngay văn bản đó là sắc
phong. Dấu Bình An vương tỷ cùng dấu Ngọc Tỷ của các chúa Trịnh khác
hay dấu Hoàng thái tử thủ tín cho ta biết đó là các bản Lệnh chỉ. Những
dấu chính quyền các cấp thường là các văn bản hành chính thuộc dạng văn
thư ngoại gửi về Kinh hoặc chuyển ngang. Những dấu của Nội các hay lục
Bộ thể hiện văn bản hành chính thuộc dạng văn thư nội gửi xuống chính
quyền các cấp hay trực Ty để tuân nhận.
Nếu trên văn bản có hình dấu ấn, Chương hoặc Tín chương in ở dưới chữ
“Nhật” hoặc dưới bên phải dòng ghi niên hiệu, thì việc khẳng định đó là
văn bản đời Gia Long đến trước năm 1823 là chính xác. Tất cả những hình
dấu ấn, Quan nhòng, Đồ ký đóng trên mặt chữ “Nguyệt” của dòng niên đại
thì chắc chắn là từ giữa đời Minh Mệnh trở về sau.
Qua hình dấu có thể xác định được chữ ghi niên hiệu bị mất, rách.
Trường hợp dấu kiềm Bắc thành đã trình bày là một ví dụ. Những nét chữ
thay cho hình dấu ở dòng niên hiệu, có dấu kiềm của cấp chủ quản chứng
thực bên cạnh đã giúp cho việc xác định bản chính hay bản phó được
chính xác.
Qua hình dấu trên văn bản có thể biết ngay được văn bản đó là bút tích
của một vị Hoàng đế, đại thần hay tướng lĩnh, đồng thời còn biết được
cả đó là bút tích của vị Hoàng đế, đại thần nào, tướng lĩnh nào. Kể cả
việc văn bản không ghi niên đại hoặc dòng ghi niên hiệu bị rách mất.
Dấu Tự Đức thần hàn ở Chương 1 phần II là minh chứng cụ thể[289].
Trên một hoặc hai trang văn bản Hán Nôm xuất hiện nhiều hình dấu khác
nhau thì được coi là văn bản quan trọng. Nếu là hình dấu của chức quan
cao cấp thì tầm quan trọng của văn bản càng được nâng cao. Trên một văn
bản có hình dấu Sung biện nội các sự vụ quan phòng thời Nguyễn thì ta
biết ngay đó là một bản sao từ một bản gốc chính có bút tích của Hoàng
đế. Bản sao này khi phát xuống các trực Ty để tuân nhận thì vô hình
trung được coi là bản chính theo đó để thực thi. Một bản sao của Nội
các trên, đương thời được coi như một bản chính thì chắc chắn ngày nay
nó sẽ được công nhận là một bản chính gốc. Cách đánh giá chính xác về
hai dạng văn bản này trong mảng công văn tài liệu Hán Nôm rất hữu ích
trong công tác văn bản học và các lĩnh vực Lưu trữ, Bảo tàng.
Qua ấn dấu xác định được chính xác tác giả, tác phẩm nhất là những dòng
họ hoặc tác gia nổi tiếng. Dấu Danh gia tàng thư của dòng Ngô gia văn
phái và dấu Danh gia hội tuyển của Bùi Huy Bích đã chứng minh cho lập
luận này.
Ấn dấu trên văn bản Hán Nôm là một trong các dấu tích công nhận đáng
tin cậy nhất, tạo cho văn bản một giá trị và uy tín cao đối với người
tiếp nhận. Một tài liệu Hán Nôm đầy đủ (nhất là mảng công văn tài liệu
hành chính, địa bạ) mà không có dấu ấn, sợ sẽ không được coi là tài
liệu gốc. Dấu tích công nhận bằng ấn chương lại càng không nhất thiết
phải là, hoặc chỉ là hình dấu của một người hay một cơ quan thảo ra. Mà
trên đường đi của một văn bản, những dấu ấn khác có thể được lần lượt
thêm vào, mà nếu không có chúng văn bản sẽ không được coi là một văn
bản hoàn thiện. 3.
Nghiên cứu ấn chương từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX đã tái hiện một
cách khái quát toàn bộ lịch sử, xã hội, văn hóa và những nhân vật lịch
sử đương thời.
Nhà Lê sơ bắt đầu sự nghiệp dựng nước từ đời Thái Tổ, Thái Tông và đỉnh
cao là đời Thánh Tông với công cuộc cải cách hành chính quy mô đồng bộ
từ trung ương xuống địa phương, từ lực lượng quân đội đến các cơ quan
dân sự. Chế độ tam Sảnh bị bãi bỏ, hệ thống lục Bộ được hoàn chỉnh và
từ đây được nâng cao vai trò giá trị. Lịch sử mở mang bờ cõi chinh phạt
Chiêm Thành còn lưu tích trên sắc phong có dấu Kim Bảo Sắc mệnh chi
bảo. Thắng lợi này đi liền với tên tuổi Lê Thánh Tông cùng các quan
tướng như Trung quân Đô thống Phạm Như Tăng… Những ấn cổ Phụng mệnh
tuần phủ đô tướng quân ấn và Đề thống tướng quân chi ấn đã lưu lại
chứng tích về tên chức Tướng quân của giai đoạn Lê sơ.
Nghiên cứu ba quả ấn thời Mạc Khuông trì vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn,
Hoành hải hậu sở chi ấn và Thanh tái tả sở chi ấn gần như tái hiện phần
nào bức tranh về lực lượng quân đội nhà Mạc cũng như giai đoạn chiến
tranh khốc liệt giữa hai tập đoàn phong kiến Lê - Mạc.
Từ các bản Lệnh chỉ có in dấu Tỷ ấn của các chúa Trịnh mà bắt đầu bằng
Lệnh chỉ của Bình An vương Trịnh Tùng năm 1599 đến Lệnh chỉ của Đoan
Nam vương Trịnh Tông năm 1785, lịch sử xã hội thời Lê - Trịnh cũng được
phơi bày. Những tư liệu này rất có ý nghĩa trong việc nghiên cứu, đánh
giá về sự kiện và nhân vật lịch sử của một thời kỳ mới trong thể chế
phong kiến Việt Nam tồn tại cả Vua và Chúa. Giai đoạn này còn lưu lại
đến nay không ít hình ấn dấu trên các dạng tư liệu hiện vật khác nhau.
Đó là hình những dấu được khắc trên bia đá, ma nhai, biển gỗ, nó đi
liền với bút tích của một số nhân vật lịch sử đương thời.
Thời Tây Sơn tồn tại tuy không lâu nhưng ấn chương giai đoạn này khá
phong phú và đa dạng. Là những ấn tín của tướng lĩnh quân đội và mấy
chục văn bản có in hình dấu các loại của triều đình và cơ quan đơn vị
khác nhau. Đường lối và chính sách của nhà Tây Sơn thể hiện trên các
sắc, chiếu, chỉ, dụ… có đóng dấu Quảng vận chi bảo, Sắc mệnh chi bảo,
Tiên nhu chi bảo. Hình ảnh của Quang Trung - Nguyễn Huệ tái hiện qua
các văn bản gửi La Sơn phu tử gắn liền với dấu Quảng vận chi bảo và Ngự
dụng chi bảo. Những người con của Quang Trung kế tục sự nghiệp được lưu
tích trên hình dấu Hoàng thái tử chi bảo và Khâm sai tiết chế hữu khang
kiêm dân thứ vụ chi ấn. Sự kiện lịch sử cùng các văn thần võ tướng xuất
sắc như Trần Văn Kỷ, Nguyễn Văn Thận, Nguyễn Văn Tứ còn để lại dấu tích
trên văn bản Hán Nôm với các hình dấu Trung thư lệnh chi chương, Nghệ
An trấn phủ chương và Đại tư mã chi ấn v.v…
Thời Nguyễn bắt đầu với đường lối chính sách của Gia Long trong thời kỳ
tản quyền là việc biến các đại tướng cầm quân trở thành các đại quan
cai trị về mặt hành chính cấp doanh, trấn và thành. Tương ứng với chính
sách trên là việc thay đổi ấn tướng quân bằng ấn hành chính. Những nhân
vật lịch sử như Đại tướng Nguyễn Văn Thành với dấu Tiền quân chi ấn trở
thành Tổng trấn Nguyễn Văn Thành cùng dấu Bắc thành tổng trấn chi ấn.
Công cuộc cải cách của Minh Mệnh đã chấm dứt thời kỳ tản quyền và bắt
đầu giai đoạn trung ương tập quyền. Chế độ Văn quan tôn Nho được giương
cao với việc hoàn thiện hệ thống lục Bộ, lục Tự, thiết lập chư nha, Nội
các v.v… Năm 1827 tổ chức hàng ngũ lãnh đạo ở lục Bộ được hoàn thiện,
việc thay đổi ấn kiềm trong hệ thống này mới hoàn chỉnh. Thượng thư ở
mỗi Bộ được coi là chức quan cao nhất trong hàng văn quan, những hình
dấu Quan phòng gắn liền với những nhân vật tên tuổi là những Thượng
thư, Tham tri, Thị lang, Biện lý ở lục Bộ như Trần Lợi Trinh, Hoàng Kim
Xán, Nguyễn Đăng Tuân, Doãn Uẩn, Trương Đăng Quế v.v…
Những ấn dấu của tướng lĩnh quân đội Nguyễn trên văn bản Hán Nôm, đã
góp phần không nhỏ trong việc tìm hiểu lịch sử, xã hội, nhân vật thời
Nguyễn và vai trò của quân đội trong gần một thế kỷ. Dấu Trấn tây tướng
quân chi ấn của Trương Minh Giảng, Nguyễn Văn Trọng, Dương Văn Phong in
năm 1838 giúp cho việc đánh giá lập trường chính trị của Minh Mệnh đối
với các nước lân bang đương thời. Hai dấu Thống đốc tiễu bộ quân vụ
quan phòng của Nguyễn Tri Phương và Tham tán quân vụ quan phòng của
Phạm Thế Hiển, gắn liền với văn bản Hán Nôm ghi về cuộc kháng chiến
chống Pháp của triều đình Huế và nhân dân Nam Bộ thời Tự Đức. Cùng với
hai dấu trên, hình dấu Đề đốc tiễu bổ quân vụ quan phòng của Tôn Thất
Hàn đã chứng tỏ trong chiến tranh (thời Tự Đức) có những chức vụ, cấp
bậc về việc binh được đặt ra thêm, hoặc gắn thêm chức cho một chức đã
có sẵn, mà vốn trong quy chế chức vụ, cấp bậc của bộ Binh thời Nguyễn
không thấy ghi.
Nghiên cứu ấn chương thời Nguyễn cũng thấy được việc lập phủ Tôn nhân
của các vua Nguyễn mang màu sắc chính trị rõ nét. Phủ Tôn nhân như một
tổ chức riêng với chế độ ưu đãi đặc biệt. Hàng trăm ấn quý được ban
phong cùng cặp sách vàng, bạc cho Hoàng thái tử, Hoàng tử, Hoàng thân
v.v… chưa kể số lượng ấn vàng, bạc của Hoàng thái hậu, Thái phi.
Kim ngọc Bảo Tỷ của Hoàng đế là đỉnh cao của các loại hình ấn chương
thời Nguyễn. Con người của Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức và
các vua khác gần như hiện ra bên cạnh các chỉ dụ và Bảo Tỷ của họ.
Những sự kiện trọng đại của dân tộc Việt Nam thời Nguyễn lưu lại trên
văn bản Hán Nôm gắn liền với các Bảo Tỷ: Quốc gia tín bảo thời Gia Long
như một khẩu hiệu giương cao tư tưởng quốc gia dân tộc. Hoàng đế chi
bảo của Minh Mệnh đã in trên các sắc thư, văn kiện quan trọng gửi đi
nước ngoài. Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ là sự kiện chế
tác có một không hai kéo dài nhiều tháng trời cuối đời Thiệu Trị. Đại
Nam hoàng đế chi tỷ đánh dấu quan điểm chính trị giữa hai nước Pháp -
Việt thời Tự Đức, còn Ngự tiền chi bảo và Văn lý mật sát được nhắc đến
nhiều lần trong chính sử…
Bức tranh xã hội đời thường thời Nguyễn được tái hiện qua ấn tín tư
nhân ở một số lĩnh vực. Dấu Danh gia tàng thư, Danh gia hội tuyển nhắc
ta nhớ tới những dòng văn phái nổi danh đương thời. Dấu trên đồ gốm,
dấu ghi tên hiệu v.v… là bức tranh sinh động của ấn tín văn hóa nghệ
thuật. Ấn dấu của nhiều tiệm buôn ở Hội An, Sài Gòn chứng tỏ xã hội
thời Nguyễn đã bước vào ngưỡng cửa của nền kinh tế hàng hóa thị trường.
Hình dấu ở lá sớ lá bùa còn lưu hành tới ngày nay là một chứng minh về
sự vĩnh cửu của tôn giáo, tín ngưỡng trong con người Việt Nam.
Nghệ thuật điêu khắc chạm trổ từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX đã sống
lại ít nhiều qua việc chế tác các loại hình ấn chương. Mỗi quả ấn là
một hình rồng, sư tử, kỳ lân hay trái núi v.v… từ hình rồng mây uốn
lượn trên ấn lớn bằng ngọc của Hoàng đế đến chiếc ấn gỗ nhỏ xíu của một
thường dân đều do bàn tay, khối óc và tâm huyết của người thợ tạo nên. 4.
Nghiên cứu ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX một cách
hệ thống có ý nghĩa thực tiễn đối với công cuộc cải cách hành chính của
chúng ta hiện nay.
Bất cứ một cuộc cải cách hành chính ở trung ương hay địa phương cũng
tất yếu phải thay đổi ấn chương. Nếu cải cách hành chính tiến hành đồng
bộ từ trung ương xuống địa phương, từ lực lượng quân đội đến những đơn
vị kinh tế riêng lẻ… mang tính chất quốc gia và biểu thị tính pháp
lệnh, thì việc thay đổi ấn chương là một vấn đề quan trọng và cấp thiết.
Nghiên cứu ấn chương Việt Nam và tham khảo thực trạng hệ thống ấn
chương giai đoạn hiện đại cho đến nay của nước ta, với nhiều vụ làm giả
ấn chương các loại, nhiều vụ giấy tờ đóng dấu giả bị phanh phui… Nhiều
hình dấu có hình thức, kích cỡ, bố cục, kiểu chữ, họa tiết rất giống
nhau hoặc chưa hợp lý… Những điểm này dễ gây nhầm lẫn và hạn chế trong
công tác hành chính, kiểm tra, chứng thực, thống kê kế toán v.v… Do đó
chúng tôi thấy cần phải có một công trình kế tiếp của ấn chương giai
đoạn cận đại và hiện đại. Công trình này có thể với tên gọi Ấn chương
trong hệ thống hành chính Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ
XX. Trong đó vai trò của ấn chương trong cải cách hành chính sẽ được
trình bày đầy đủ. Đây là một công trình mang ý nghĩa khoa học và cấp
thiết, chúng tôi hi vọng sẽ được thực hiện trong một thời gian không xa. TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. Sách tiếng Việt
1. Bảng đối chiếu âm dương lịch 2000 năm và Niên biểu lịch sử, Nxb. KHXH, H. 1976.
2. Bùi Dương Lịch: Nghệ An ký, Nxb. KHXH, H.1993.
3. Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu - Trần Nghĩa & Gros F đồng chủ biên, Nxb. KHXH, H. 1993.
4. Đại Nam chính biên liệt truyện, TV Viện NCHN, KH: D.1087 - D.1014.
5. Đại Nam điển lệ, Nhà in Tôn Thất Lễ, Sài Gòn, 1962.
6. Đại Nam hội điển toát yếu và quan chế đời Minh Mệnh, TV Viện NCHN, KH: LA.13.
7. Đại Nam liệt truyện tiền biên, Nxb. KHXH, H. 1995.
8. Đại Nam nhất thống chí, Nxb. KHXH, H. 1970 - 71.
9. Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Sử học, 1963.
10. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. KHXH, H. 1974 và 1985.
11. Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb. KHXH, H. 1997.
12. Đại Việt sử ký tục biên, Nxb. KHXH, H. 1991.
13. Đào Duy Anh: Lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn Hóa, H. 1958.
14. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. KHXH, H. 1964.
15. Đỗ Văn Ninh: Tiền cổ Việt Nam, Nxb. KHXH, HN. 1992.
16. Đỗ Văn Ninh: Từ điển chức quan Việt Nam, Nxb. Thanh niên, H. 2002.
17. Đinh Khắc Thuân: Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia, Nxb. KHXH, H. 2001.
18. Hà Văn Tấn - Trần Quốc Vượng: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam (Giáo trình khoa Sử trường ĐHTH Hà Nội).
19. Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, Nxb. KHXH, H. 1975.
20. Hoàng Xuân Hãn: La Sơn phu tử, Nxb. Minh Tân, Paris. 1952.
21. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 1993.
22. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Sử Địa, H. 1960.
23. Lê Quí Đôn: Đại Việt thông sử, Nxb. KHXH, H. 1978.
24. Lê Quí Đôn: Kiến văn tiểu lục, Nxb. KHXH, H. 1962.
25. Lê Quí Đôn: Phủ biên tạp lục, Nxb. KHXH. H. 1977.
26. Lê Quí Đôn: Vân đài loại ngữ, Nxb. Văn hóa, H. 1962.
27. Lê quý dật sử - Nxb. KHXH, H. 1987.
28. Lê triều quan chế, Nxb. Văn hóa Thông tin - Viện Sử học, 1997.
29. Lê Xuân Diệm - Đào Linh Côn - Võ Sĩ Khải: Văn hóa Óc Eo những khám phá mới, Nxb. KHXH. H. 1995.
30. Lê Kim Ngân: Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông - Bộ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn. 1963
31. Lý Lạc Nghị - Jim Waters: Tìm về cội nguồn chữ Hán, Nxb. Thế giới, H. 1997.
32. Mục lục Châu bản triều Nguyễn Minh Mệnh, Nxb. KHXH, H. 2000.
33. Ngô Đức Thọ: Nghiên cứu chữ Húy Việt Nam qua các triều đại, Nxb. Văn Hóa, H. 1997.
34. Ngô Cao Lãng: Lịch triều tạp kỷ, Nxb. KHXH. H. 1975.
35. Nguyễn Phúc tộc thế phả, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 1995.
36. Nguyễn Phước tộc giản yếu, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh. 1992.
37. Nguyễn Sĩ Hải: Tổ chức chính quyền thời Nguyễn sơ, (Luận án Tiến sĩ Luật khoa Sài Gòn 1962).
38. Nguyễn Văn Huyên: Một số ấn đồng thời Lê Thánh Tông mới phát hiện tại Hà Nội, NC Lịch sử số 158 - 1976.
39. Nguyễn Văn Huyên: Bước đầu tìm hiểu các ấn đồng cổ đã biết được ở nước ta, Tạp chí Khảo cổ học số 20, 1976.
40. Nguyễn Thị Tây Sơn ký, Bản dịch TV Viện NCHN, KH: 00344.
41. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Sử học Hà Nội, H. 1961.
42. Phan Huy Lê: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Nxb. Sử học, H. 1962.
43. Tây Sơn thực lục, Bản dịch ở TV Viện NCHN, KH: Bt 00062.
44. Tây Sơn thuật lược, Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, Sài Gòn. 1971.
45. Tên làng xã Việt Nam, Nxb. KHXH. H. 1992.
46. Tuyển tập văn khắc Việt Nam, Nxb. KHXH, H. 1992.
47. Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, Tập II, Bộ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn xuất bản, Sài Gòn. 1971.
48. Trần Thanh Tâm: Tìm hiểu quan chức chế nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế. 1996.
49. Trần Viết Ngạc: Về một công văn của tổng trấn Thuận Quảng Nguyễn Hoàng năm 1597, Nghiên cứu Huế, Số.1, 1989.
50. Trần Kinh Hòa: Mục lục Châu bản triều Nguyễn - Triều Gia Long, Nxb. Đại học Huế, Huế. 1960.
51. Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Đại học Trung Chính Đài Loan và Viện NC Hán Nôm hợp tác xuất bản, 2002.
52. Võ Văn Sạch: Một văn bản thời Lê Thánh Tông, Tạp chí Văn thư Lưu trữ, Số.1, 3/1998.
53. Vương Hồng Sển: Khảo về đồ sứ men lam Huế, Nxb. Mỹ thuật, 1994.
54. Việt sử cương mục tiết yếu, Nxb. KHXH, H. 2002.
55. Việt sử lược, Nxb. Văn Sử Địa. H. 1960. B. Sách Hán Nôm
56. Bắc Ninh tỉnh Tiên Du huyện Đại Vi tổng Đại Vi xã địa bạ, TV Viện NCHN, KH: AG.a5/9.
57. Cơ mật viện túc trình, Viện Cơ mật nhà Nguyễn chép năm 1926, Tủ
sách họ Phan, 29 Nguyễn Chí Thanh, Thành phố Huế (không có kí hiệu).
58. Công văn tập, TV Viện NCHN, KH: A.2763.
59. Công văn cổ chỉ, TV Viện NCHN, KH: A.3086.
60. Công văn cựu chỉ, TV Viện NCHN, KH: A.3032.
61. Đồng Khánh, quyển 1, 2, 3, 4, Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hà Nội.
62. Đồng Xuân tổng các thôn phường địa bạ, TV Viện NCHN, KH: A.1275.
63. Đồng Xuân tổng các thôn phường địa bạ - TV Viện NCHN, KH: A.629.
64. Gia Long, quyển 1, 2, 3, 4, 5, Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hà Nội.
66. Hà Nội địa bạ, TV Viện NCHN, KH: A.629.
67. Hà Nội tỉnh Thọ Xương huyện Đồng Xuân tổng các xã thôn địa bạ, TV Viện NCHN, KH: AG.a14/4.
68. Hà Đông tỉnh Thượng Phúc huyện Hà Nội tổng các xã địa bạ, TV Viện NCHN. KH: AG a1/77.
69. Hà Đông tỉnh Thượng Phúc huyện Triều Đông tổng các xã địa bạ, TV Viện NCHN, KH: AG a1/85.
70. Hàm Nghi, quyển 2, Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hà Nội.
71. Hoài An huyện công văn tập, TV Viện NCHN, KH: A.1273.
72. Hoàng Việt thi tuyển, TV Viện NCHN, KH: VHv.1451.
73. Minh Mệnh, quyển 1 đến 83 (trừ các quyển 6, 9, 13, 17, 20, 28, 31,
32, 46, 47, 55, 56, 60, 61, 65), Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu
trữ Quốc gia Hà Nội.
74. Ninh Bình tỉnh Gia Viễn huyện Liên Huy tổng các xã địa bạ, TV Viện NCHN, KH: AG a4/12.
75. Ngô gia văn phái, TV Viện NCHN, KH: VHv 16/12.
76. Phú Thọ tỉnh Hạ Hòa huyện Vĩnh Chân tổng các xã địa bạ, TV Viện NCHN, KH: AG a11/13.
77. Tự Đức, quyển 1 đến 352 (trừ 34 quyển bị hư nát), Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hà Nội.
78. Tứ lục sao, TV Viện NCHN, KH: A.152.
79. Trường Sơn thôn hương lệ, TV Viện NCHN, KH: VHv.2678.
80. Thành Thái, quyển 7, 9, 13, Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hà Nội.
81. Thiệu Trị, quyển 1 đến 51 (trừ các quyển 13, 11, 15, 16, 23, 24,
28, 41, 42, 44), Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hà
Nội.
82. Thiên Nam dư hạ tập, phần Quan chế, TV Viện NCHN, KH: A.334/1 và 1313/b.
83. Ngự tiền văn phòng Châu bản, do Ngự tiền văn phòng triều Nguyễn làm
năm 1938, Tủ sách họ Phan, 29 Nguyễn Chí Thanh, thành phố Huế (không có
kí hiệu). Sách gồm 3 loại chữ Việt Hán - Pháp.
* Một số thác bản văn bia, chuông ở TV Viện NCHN.
C. Sách ngoại văn
84. Bulletin de la Société des Études Indochinoises 120 Annec - N0.1 - 1937, TV Thông tin KHXH.
85. Bulletin des Amis du Vieux Hué 130 Annec - N0.1 - 1926, TV Thông tin KHXH.
86. 許 慎: 說文解字 - 北京中華書局出版 - 1979.
87. 季 崇 建: “中 國 古 代 印 譜 八 百 年 集 成” - 中 國 文 物 世 界 五 十 五 期 - 1990.
88. 方宗珪: “壽山石全書” - 上海書店出版社 - 1994.
89. 馬振凱: “中國書法欣賞” - 藝術圖書出版公司 - 1971.
90. “中國書法大字典” - 北京世界圖書出版公司 - 1992.
91. “中國篆書大字典” - 上海書畫出版社 - 1994.
92. 羅福頤: “印章概述” - 1963.
93. 羅福頤: “古璽文編” - 1981.
94. 韓天衡: “中國印學年表” - 1987.
95. 劉一聞: “印章” - 1995.
96. 曹齊: “篆刻之美” - 1996.
97. 任繼愈: “中國的印章與篆刻” - 1997.
98. 孫慰祖: “印章” - 1998.
ẤN CHƯƠNG VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XIX
Chịu trách nhiệm xuất bản
TS. VI QUANG THỌ
Biên tập nội dung
TS. KIỀU VIỆT CƯỜNG
Dịch tiếng Anh
NGUYỄN QUỐC HÙNG M.A
Ảnh
PHÚ XUYÊN - NGUYỄN XUÂN HOÀNG
Đồ họa
TÁC GIẢ
Bìa và trình bày
Họa sĩ LÊ TÂM
Viết chữ minh họa bìa sau
LÊ QUỐC VIỆT
Chế bản
TRẦN XUÂN PHƯƠNG - NGUYỄN TÔ LAN
Sửa bản in
PHÚ XUYÊN - NGUYỄN TÔ LAN
In 1000 cuốn, khổ 14x26cm tại Công ty Cổ phần in 15 - Bộ CN. Số đăng ký
KHXB 59/1135/CXB cấp ngày 19/7/2005. In xong và nộp lưu chiểu tháng 10
năm 2005.
____________________________
[1] Sigillographie, trong L’histoir’e et ses methods Gallimard, Paris, 1961, tr. 393 - 446.
[2] Như trên
[3] Sigillographie, L’histoir’e et ses methods Gallimard, Paris, 1961, p. 393 - 446.
[4] Sigillographie, L’histoir’e et ses methods Gallimard, Paris, 1961, p. 393 - 446.
[5] Translate summarily from About the seals in VietNam (item 2 & 3, page 70-88).
[6] Theo cuốn Ấn chương của Lưu Nhất Văn, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1996, tr.1.
[7] Trích dịch từ cuốn Thọ sơn thạch toàn thư, mục Ấn chương sử nguyên
của Phương Tông Khuê, Thượng Hải thư điếm xuất bản xã, 1994, tr.98.
[8] Ngọc tỷ thời Tần Thủy Hoàng đế (Doanh Chính) (246-209 TCN) được coi là ấn truyền quốc qua nhiều đời của Trung Quốc.
[9] Bảo ấn được làm từ đời Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận (960-984) thời Bắc Tống - Trung Quốc truyền đến thời kỳ Nam Tống.
[10] Bảo ấn được làm đầu thời Minh (1386-1662) ở Trung Quốc.
[11] H.1 đến H.14 chụp lại từ sách Ấn chương, Tôn Úy Tổ, Thượng Hải nhân dân mỹ thuật xuất bản xã, 1998.
[12] Âu Dương Tu (1007-1072) đậu Tiến sĩ khoa Canh Ngọ (1030), năm 1058
được gia hàm Long Đồ các Đại học sĩ quyền Tri phủ phủ Khai Phong, năm
1068 được thăng Binh bộ Thượng thư. Ông mất ở đời Tống Hy Ninh thứ 5
(1072).
[13] Tăng Củng (1019-1083) đậu Tiến sĩ khoa Đinh Dậu (1057).
[14] Mễ Phấn (1051 - 1107), năm 1092 làm Tri phủ Thông Khâu, năm 1103 được thăng Thái thường Bác sĩ.
[15] Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises - tập 22. Số 1 năm 1937, Thư viện Thông tin KHXH.
[16] Hoàng Xuân Hãn: La Sơn phu tử, Nxb. Minh Tân, Paris, 1952.
[17] Mục lục Châu bản triều Nguyễn - Triều Gia Long, Trần Kinh Hòa, Nxb. Đại học Huế, 1960.
[18] Nguyễn Văn Huyên: Nghiên cứu lịch sử - Số 158, năm 1974 và Tạp chí Khảo cổ học - Số 2, năm 1976.
[19] Phạm Văn Kỉnh, Quang Văn Cậy: Văn hóa Hoa Lộc, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, 1977, tr.71.
[20] Văn hóa Hoa Lộc. Sđd, tr.220-221.
[21] Xem Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải: Văn hóa Óc Eo, những khám phá mới, Nxb. KHXH, HN. 1995, tr.330.
[22] Bài viết của Tanaguchi Fusao đăng trên tờ Nghiên cứu niên báo của
Sở Nghiên cứu văn hóa Á Phi, trường Đại học Tokyo, số 31, tháng 3, năm
1997, tr.176 - 188.
[23] Hà Văn Tấn, Về một quả ấn Việt Nam thời Trần tìm thấy ở tỉnh Quảng
Tây, Trung Quốc, Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1999, Nxb.
KHXH, H, 2000.
[24] Đông Kinh: Tức thành Thăng Long, trước đó gọi là Đông Đô, cùng
thời với thành Tây Đô ở Thanh Hóa. Đầu đời Lê Lợi, đổi Đông Đô gọi là
Đông Kinh, Tây Đô gọi là Tây Kinh.
[25] Lê Văn Linh (1377-1448) là bậc công thần khai quốc nguyên lão của ba triều Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông.
[26] ĐVSKTT, Nxb. KHXH, HN, 1972, t3, tr.102 - Phần chữ Hán là chúng tôi đưa thêm vào.
[27] ĐVSKTT, sđd, tr.79.
[28] Tể tướng là quan đứng đầu triều còn gọi là Tướng quốc. Nhà Trần
đặt hai quan đứng đầu triều là Tả, Hữu Tướng quốc. Nhà Lê sơ đổi gọi là
Tướng quốc và gia thêm danh hiệu là Kiểm hiệu Bình chương quân quốc
trọng sự.
[29] Tam Sảnh hay Tam Tỉnh 三省: xin xem phần sau.
[30] Cơ quan kiểm sát:
a. Lục Khoa đầu tiên đặt ở nước ta từ thời Lê Nghi Dân ( 1459-1460) để
giám sát lục Bộ, gồm Đông khoa, Tây khoa, Nam khoa, Bắc khoa, Trung thư
khoa và Hải khoa.
b. Ngự sử đài: có từ thời Trần, có nhiệm vụ khuyến cáo lỗi của vua và
đàn hặc quan lại phạm tội. Lê Thái Tổ đặt chức Đô Ngự sử đứng đầu Ngự
sử đài.
[31] Nội mật viện: Cơ quan có nhiệm vụ xem xét những việc cơ mật trong
triều. Ở nước ta có từ thời Lý với tên gọi là Khu mật viện, đến đầu Lê
sơ đổi làm Nội mật viện, đặt chức Chánh sứ và Phó sứ quản lý.
[32] Lê triều quan chế, Nxb. VH-TT - Viện Sử học, HN. 1997. tr.12.
[33] ĐVSKTT, Sđd. tr.214-220.
[34] Hàn lâm viện: Cơ quan phụng mệnh vua khởi thảo các chế, cáo, chỉ, dụ, văn thư.
[35] Đông các: Cơ quan phụng mệnh vua sửa chữa, hiệu đính các văn bản
khởi thảo trên của Hàn lâm viện; đồng thời phụ trách việc bầu cử của
triều đình.
[36] Trung thư giám: Tiền thân là tam Sảnh, phụ trách việc biên chép
những văn bản mà Đông các đã sửa chữa giao cho. Đồng thòi biên chép tờ
Kim tiên (giấy sắc vàng), Ngân tiên (giấy sắc bạc) cùng sắc phong,
biểu, giảng từ, văn tế điện miếu.
[37] Bí thư giám: Cơ quan trông coi thư viện của Hoàng đế.
[38] Xem ĐVSKTT, sđd, tr.199.
[39] Năm 1469 Lê Thánh Tông cho đổi gọi Nam Sách là Hải Dương, Thiên
Trường là Sơn Nam, Quốc Oai là Sơn Tây, Bắc Giang là Kinh Bắc.
[40] ĐVSKTT, Sđd, tr.198.
[41] Bản sắc phong năm Hồng Đức thứ 2 (1471) nay đã được con cháu dòng
họ Phạm Như Tăng truyền đời giữ gìn tồn tại đến trước năm 1963 ở Quế
Sơn, Quảng Nam đã được Giáo sư Lê Kim Ngân công bố nguyên bản trong Tổ
chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông, Bộ Quốc gia Giáo
dục Sài Gòn in năm 1963. Chúng tôi sẽ giới thiệu ở mục sau.
[42] Thành Đồ Bàn còn có tên là thành Lỗi hay thành Sà Bàn, nay thuộc
huyện Tuy Viễn - Bình Định. Năm 1778 Nguyễn Nhạc xưng Đế đổi làm thành
Hoàng đế, sau Nguyễn Ánh chiếm Bình Định bỏ không dùng.
[43] Khi Đồ Bàn thất thủ, tướng Chiêm là Bồ Tri Trì chạy về giữ đất
Phan Lung rồi đầu hàng xin xưng thần. Lê Thánh Tông phủ dụ phong vương
cho Bồ Tri Trì, rồi lại cho lập ra hai Tiểu quốc nữa là Nam Phan và Hóa
Anh để họ khống chế lẫn nhau không quấy nhiễu nước ta. Di duệ của các
vương tiểu quốc này còn tồn tại mãi đến thời Nguyễn, họ có những kho
báu trong đó có một số quả ấn mà sau này năm 1957-1958 các nhà khảo cổ
miền Nam đã tìm ra.
[44] Xem ĐVSKTT, sđd, tr.221.
[45] Quả ấn Môn hạ sảnh ấn này đã được ông Nguyễn Văn Huyên giới thiệu
trong bài Bước đầu tìm hiểu các ấn đồng cổ đã biết được ở nước ta, Tạp
chí Khảo cổ học số 20-1976, tr.49: “Chiếc ấn cổ thứ hai là Môn hạ sảnh
ấn phát hiện tại xã Hương Giang, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh năm 1962
được chế tạo năm “Long Khánh ngũ niên” đời Trần Duệ Tông (1377)”. Ấn cổ
nhất ông cho là 6 chiếc ấn tìm thấy trong mộ táng ở Thiệu Dương, Thanh
Hóa, có niên đại khoảng cuối thời Tây Hán đến đầu thời Đông Hán. Tác
giả chưa có điều kiện giới thiệu và cũng chưa chứng minh được 6 chiếc
ấn này, do đó chúng tôi tạm coi Môn hạ sảnh ấn là quả ấn cổ nhất có
niên đại rõ ràng ở nước ta.
[46] Năm 1368 khi Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương lập ra nhà Minh đã ra
lệnh bãi bỏ Trung thư sảnh và đến Minh Vĩnh Lạc (1403-1418) mới thiết
lập Nội các thay thế cho Môn hạ sảnh. Dần dần chức năng nhiệm vụ của
Nội các cũng đa dạng hơn và được cải biến nhiều lần để phù hợp với quá
trình phát triển của thể chế phong kiến Trung Quốc.
[47] Giai đoạn đầu thời Trần, chức đứng đầu Thượng thư sảnh là Hành
khiển Thượng thư, tức là chức Á tướng. Đến đầu thời Lê sơ đổi là Thượng
thư lệnh cũng là chức Á tướng, còn gọi là Mật viện Tham tri. Môn hạ
sảnh được thiết lập thời Trần không rõ cụ thể chức gì đứng đầu, chỉ
thấy sử ghi là chức Hành khiển điều hành. Đến đầu Lê sơ ghi là chức Tri
tư sự đứng đầu, thứ nhì là Thị lang, dưới có các chức Lang trung và
Khởi cư xá nhân.
[48] ĐVSKTB, Nxb. KHXH, tr.427-438.
[49] ĐVSKTB, Sđd, tr.469-477.
[50] ĐVSKTB, Sđd, tr.479, 481, 483.
[51] Trước kia Tổng tài Trung thư sảnh là Trung thư lệnh thường giao cho Tể tướng kiêm giữ.
[52] Lê triều quan chế, Sđd, tr.9, 33.
[53] Xem Nguyễn Văn Huyên: Bước đầu tìm hiểu các ấn đồng cổ đã biết
được ở nước ta, Sđd. Tác giả đọc nhầm chữ Thuần 馴 thành chữ Tuần 巡.
[54] Xem Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông
(1400-1407), Lê Kim Ngân - Bộ Quốc gia giáo dục Sài Gòn, 1963, tr.92.
Không hiểu tác giả đã tham khảo bản dịch chữ Hán hay chữ Quốc ngữ mà
ghi là Quy lâm (?) Có thể do tự dạng chữ Quy và Bào hơi giống nhau, qua
sao chép in chụp bị nhầm lẫn. Có khả năng là sở Bào Lâm mới đúng.
[55] Thời Lý chức đứng đầu ngạch võ là Đô thống, Bộ chỉ huy quân sự ở
Kinh đô gồm các võ quan cao cấp là Nguyên súy, Tổng quản, Khu mật sứ,
Tả hữu Kim ngô, Thượng tướng, Đại tướng, Đô tướng, các Vệ tướng quân,
Chỉ huy sứ.
[56] Xem Đỗ Văn Ninh: Từ điển chức quan Việt Nam, Nxb. Thanh niên, HN, 2002, tr.233.
[57] Xem Nguyên Văn Huyên: Bước đầu tìm hiểu các ấn đồng cổ đã biết được nước ta, Sđd.
[58] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, q.21, tờ 39a.
[59] Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông, Sđd, tr.95.
[60] Trà Kệ sau đổi thành Kim Trà rồi Hương Trà duy trì tên gọi đến
nay. Huyện Phong Điền (nơi phát hiện văn bản) được thành lập từ đất của
2 huyện Hương Trà và Đan Điền vào năm Minh Mệnh thứ 15 (1834).
[61] Tóm lược bài: Phát hiện văn bản Hán Nôm thời Lê sơ tại Phong Điền,
Thừa Thiên - Huế của ông Nguyễn Thế - Phòng VHTT huyện Phong Điền, Thừa
Thiên - Huế. Nhân đây có lời cảm ơn ông Nguyễn Thế và Trung tâm Bảo tồn
di tích cố đô Huế.
[62] Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông, Sđd, tr.28-29.
[63] Xem Võ Văn Sạch: Một văn bản thời Lê Thánh Tông, Tạp chí Văn thư
lưu trữ số 1, 3 - 1988. Nhân đây xin có lời cảm ơn ông Võ Văn Sạch đã
gián tiếp giúp chúng tôi tư liệu này.
[64] Phòng ngự sứ là chức chỉ huy lực lượng bảo vệ biên giới, gọi là
Phòng ngự sứ ty. Ở nước ta chức này có từ thời Trần và duy trì đến thời
Nguyễn. Phòng ngự Thiêm sự và Phòng ngự Đồng tri là chức phó, được đặt
ra cùng thời với chức trưởng của Phòng Ngự sứ.
[65] Ở loại hình sắc phong, những năm gần đây người ta đã làm giả khá
nhiều, do đó chúng tôi cho rằng người làm công tác nghiên cứu Hán Nôm
khi công bố một văn bản có ghi niên đại cổ (nhất là loại hình sắc
phong) bắt buộc chúng ta phải tuân thủ những tiêu chí cơ bản như: Chất
liệu giấy và mầu mực, mầu nhũ (đậm, nhạt…); Họa tiết hoa văn trang trí;
Thể chữ; Lối hành văn dùng mỹ tự; Niên đại ghi trong văn bản; Hình con
dấu in trên văn bản. Riêng hình con dấu cũng có những tiêu chí riêng để
xác định dấu thật hay giả như: Kích cỡ dấu, mầu mực dấu với mảng đậm,
nhạt, lỗ chỗ (chứng minh cho các loại mực tinh chế riêng dùng cho các
loại dấu khác nhau); Viền ngoài dấu với những họa tiết riêng; kiểu chữ
Triện); Nội dung qua các dòng chữ trong dấu và vị trí đóng dấu trên văn
bản.
[66] Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sử (bản dịch), tr.138.
[67] Xem Đinh Khắc Thuân: Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia, Nxb. KHXH, HN, 2001, tr.156.
[68] Năm 1579 - Đô Tổng binh sứ đạo Ninh Sóc đã trao quyền Tổng binh sứ
Đồng tri trấn Cao Bằng cho Phạm Văn Tuấn là Đặc tiến Kim tử vinh lộc
đại phu trấn giữ.
[69] Xem Lịch sử triều Mạc qua thư tịch và văn bia, Sđd, tr.158-159.
[70] Thiên Nam dư hạ tập, phần Quan chế, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. KH: A.334/1 và 1313/b.
[71] Phủ Kinh Môn: một trong 4 phủ của đạo Hải Dương quản 7 huyện nay thuộc đất của ba tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng và Hải Dương.
- Vĩnh Lại nay là huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng.
- An Lão thời Mạc gồm cả Đồ Sơn và An Lão, nay thuộc thành phố Hải Phòng.
- Nghi Dương: xưa gồm cả thị xã Kiến An và huyện Kiến Thụy - nay thuộc thành phố Hải Phòng.
- Đông Triều: nay là huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Phủ Hải Đông: Phủ duy nhất của đạo An Bang thời Mạc quản 3 huyện 4 châu, nay thuộc địa phận hai tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng.
[72] Thiên Nam dư hạ tập, Sđd. KH: A.334/1 - VHv. 1313/b.
[73] Trong chuyến công tác thực địa, TS. Phạm Thị Thùy Vinh (Viện
Nghiên cứu Hán Nôm) đã phát hiện ra số sắc phong thời Lê-Mạc ở đền
Quang Lãng, Thụy Hải, Kiến Thụy, Thái Bình. Sau đó, vào năm 2001 chúng
tôi đã trực tiếp xuống địa điểm trên, chụp ảnh và đo đạc toàn bộ số sắc
phong, trong đó có các sắc phong thời Mạc.
[74] ĐVSKTT, Nxb. KHXH, HN, 1968, t4, tr.250.
[75] ĐVSKTT, Sđd, t4, tr.254.
[76] ĐVSKTT, Sđd. t4, tr.267.
[77] ĐVSKTT, Sđd, t4, tr.271.
[78] ĐVSKTT, Sđd, t4, tr.259.
[79] Phủ Thiên Trường một trong 11 phủ của đạo Sơn Nam đầu thời Lê
Trưng hưng quản 4 huyện Giao Thủy, Mỹ Lộc, Thượng Nguyên (nay thuộc Mỹ
Lộc) và Tây Chân (nay là Trực Ninh) đều thuộc tỉnh Nam Định ngày nay.
[80] Châu Bình Nguyên là một trong năm châu thuộc phủ Yên Bình đạo
Tuyên Quang đầu thời Lê Trung hưng, nay thuộc huyện Vị Xuyên, Bắc Quang
và Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang.
[81] Ông Trần Trung Thường nguyên là một sĩ quan tham mưu Quân đội nhân
dân Việt Nam thời chống Mỹ. Sau Giải phóng miền Nam, ông về nghỉ hưu,
tiếp tục nghiệp Đạo sĩ truyền thống của gia đình. Con trai ông thuộc
đời thứ tám, hiện nay đang kế tục công việc của ông.
[82] Dấu thứ 5 và dấu thứ 6 là con dấu chỉ Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão.
[83] Chúng tôi có tham khảo và sử dụng tư liệu của ông Trần Viết Ngạc
trong bài: Về một công văn của Tổng trấn Thuận Quảng Nguyễn Hoàng năm
1597, Nghiên cứu Huế số 1 - 1989. Nhân đây xin được cảm ơn ông Trần
Viết Ngạc và ông Phan Thuận An đã giúp chúng tôi tư liệu này.
[84] Các địa danh thuộc khu vực Nam Trung Bộ từ đèo Cù Mông đến Phú Yên.
[85] Vào Thuận Hóa buổi đầu Nguyễn Hoàng đặt bản doanh ở xã Ái Tử,
huyện Vũ Xương (nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Năm Canh Ngọ
(1570) Nguyễn Hoàng dời ra làng Trà Bát huyện Vũ Xương.
[86] Quảng Nam trước đó do Trấn Quận công Bùi Tá Hán trấn thủ, năm 1570
do Tổng binh Nguyễn Bá Quýnh trấn giữ. Khi Nguyễn Hoàng làm Tổng trấn
Thuận - Quảng, Quýnh được điều về giữ Nghệ An.
[87] Việt sử cương mục tiết yếu, Nxb. KHXH, HN. 2000, tr.416, 436.
[88] Xem: Về một công văn của Tổng trấn Thuận Quảng Nguyễn Hoàng năm 1597, Sđd.
[89] Ngọc Bảo là con gái Thượng phụ Thái sư Nguyễn Kim - đệ nhất công
thần của buổi đầu thời Lê Trung hưng, là chị ruột của Nguyễn Hoàng - vị
chúa Nguyễn đầu tiên của triều Nguyễn sau này.
[90] ĐVSKTT, Sđd, tr.164. [91] ĐVSKTT, Sđd, tr.254.
[92] Trên một vài trang phần chính văn của một số Lệnh chỉ này có đóng dấu TV. Viện NCHN, HC.9.
[93] Những văn bản sao chụp lại bản gốc chúng tôi không đo kích thước hình dấu để đảm bảo tính chính xác của con dấu.
[94] Xem ĐVSKTT - Bản kỷ tục biên, T.1, Nxb. KHXH & NV 1982, tr.77, 88.
[95] Thác bản bia này do TS. Phạm Thủy Vinh - Viện Nghiên cứu Hán Nôm cung cấp.
[96] Tổ tiên ba anh em Nguyễn Nhạc, vốn quê ở huyện Hưng Nguyên - Nghệ
An, khoảng năm 1653-1657 ông tổ tứ đại bị quân chúa Nguyễn bắt về ở ấp
Tây Sơn huyện Quy Ninh (nay là Hoài Nhơn), sau chuyển đến ở ấp Kiên
Thành huyện Tuy Viễn; Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ sinh ra ở
đây.
[97] Nguyễn Thung và Huyền Khê không rõ người ở đâu - Huyền Khê sau chết trận, còn Nguyễn Thung năm 1786 bị Nguyễn Nhạc giết.
[98] Phù Ly, Bồng Sơn và Tuy Viễn đều thuộc phủ Quy Nhơn - Phù Ly nay đổi là Phù Cát đều thuộc tỉnh Bình Định.
[99] Nữ chúa Chiêm Thành tên chữ Hán là Thị Hỏa, sau bị quân của Tống Phúc Hiệp giết.
[100] Nghệ An ký, Nxb. KHXH, HN, 1993, tr.322.
[101] Thành Đồ Bàn còn có tên là thành Lỗi hay thành Sà Bàn nằm ở địa
phận ba thôn An Nam, Bắc Thuận và Ba Canh thuộc huyện Tuy Viễn, tỉnh
Bình Định - xưa kia là kinh đô nước Chiêm Thành.
[102] Xem ĐNCBLT - Sơ tập. TV. Viện NCHN. KH: D.995 và Nguyễn thị Tây Sơn ký - TV. Viện NCHN, KH: 00344.
[103] Xem ĐNCBLT, Sđd, tr.10 và Nguyễn thị Tây Sơn ký, Sđd, tr.14.
[104] Nguyễn Hữu Chỉnh người làng Đông Hải - Nghệ An, trước là thuộc hạ
của cha con Hoàng Ngũ Phúc, sau theo về Tây Sơn. Trong đợt đánh Phú
Xuân này Nguyễn Hữu Chỉnh đóng vai trò quan trọng, vừa là người hiến kế
vừa đóng vai trò người tình báo. Vì có Phu Như là thuộc hạ của Phạm Ngộ
Cầu là người quen của Nguyễn Hữu Chỉnh nên đã lừa được Ngộ Cầu. Năm
1787 Chỉnh bị Vũ Văn Nhậm giết.
[105] Vũ Văn Nhậm - Chính tên là Vũ Văn Sĩ, vì kiêng húy tên Tự Đức nên
các sử gia nhà Nguyễn sau này đều ghi là Vũ Văn Sĩ. Nhậm là con rể của
Nguyễn Nhạc. Năm 1787 bị Nguyễn Huệ giết.
[106] Phạm Ngộ Cầu một tướng của chúa Trịnh giữ chức Trấn thủ Thuận Hóa năm 1786 cùng phó tướng Trần Đình Thể.
[107] ĐNCBLT, Sđd, tr. 18.
[108] Tây Sơn thuật lược - Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản 1971, tr.12. TV. Viện NCHN.
[109] Trần Văn Kỷ còn có tên là Trần Chính Kỷ người huyện Hương Trà xứ
Thuận Hóa (Thừa Thiên - Huế). Từng đậu Giải nguyên đời Cảnh Hưng, ông
nổi tiếng hay chữ khắp miền Nam Trung Bộ. Ông theo Tây Sơn từ khi khởi
nghĩa, lúc đầu giữ chức Nội tán bên cạnh Nguyễn Huệ. Khi Nguyễn Huệ lên
ngôi vương phong ông làm Trung thư lệnh. Ông là người Bí thư tài giỏi
của Quang Trung. Khi Nguyễn Huệ mất, ông bị biếm phải làm lính trạm,
rồi lại được phục chức cũ. Cuối đời Cảnh Thịnh ông bị Gia Long bắt, ông
trá hàng rồi bỏ trốn, bị Gia Long giết.
[110] ĐNCBLT, Sđd, tr.44
[111] Lê quý dật sử, Nxb. KHXH, HN, 1987, tr.95.
[112] ĐNCBLT, Sđd, tr.43.
[113] ĐNCBLT, Sđd, tr.44.
[114] Xem Tây Sơn thuật lược, Sđd, tr.12. Việc lập thẻ Tín bài này là theo kế sách của Ngô Thì Nhậm.
[115] Xem Tây Sơn thực lục, TV. Viện NCHN, KH: Bt.00062 Nguyễn Tá Nhí dịch, Nguyễn Hữu Chế hiệu đính.
[116] La sơn phu tử Nguyễn Thiếp: quê ở Nguyệt Am, tổng Lai Thạch,
huyện La Sơn, xứ Nghệ An (nay Đức Thọ - Hà Tĩnh), họ Nguyễn húy Minh,
tự Quang Thiếp (vì kiêng húy Quang đời Trịnh Doanh nên bỏ chữ Quang).
Nguyễn Thiếp còn có tên tự Khải Xuyên, Hạnh Am, hiệu là: Lạp Phong cư
sĩ, Bùi Phong cư sĩ, Hạnh Am, Cuồng ẩn, Điên ẩn. Được người đời đặt tên
hiệu khác là Hầu Lục Niên, Lục Niên tiên sinh, Hạnh Am tiên sinh, La
Giang phu tử, La sơn phu tử, La sơn tiên sinh, Nguyệt Am tiên sinh.
[117] Xem LSPT, Nxb. Minh Tân, Paris, 1952, tr.105-107.
[118] Xem LSPT, Sđd, tr.249. Nhà in đã in nhầm chữ Quảng vận chi bảo thành Quốc vận chi bảo.
[119] Xem LSPT, Sđd, tr.262.
[120] LSPT, Sđd, tr.121, 250. [121] Văn bản ghi lầm chữ Thiếp ra chữ Thiệp (?).
[122] Xem LSPT, Sđd, tr.123, 124, 125 và 251 (ảnh 24-C13).
[123] Yên Trường: Tên làng Yên Trường nằm trên sông Dũng Quyết, từ thời
Lê đã được lấy làm Trấn ty thủ phủ Nghê An coi là Vĩnh Doanh, tức thành
phố Vinh ngày nay.
[124] Xem LSPT, Sđd, tr.123, 124, 125 và 251 (ảnh 24-C13).
[125] Xem LSPT, Sđd, tr.248.
[126] Thận Trực hầu tức Nguyễn Văn Thận là người tâm phúc của Nguyễn
Huệ, giữ chức Trấn thủ Nghệ An, theo Nguyễn Huệ từ cuối năm 1787, sau
được thăng Thận Quận công. Ông trấn nhậm Nghệ An trải đến đời Bảo Hưng,
năm Nhâm Tuất (1802) Quang Toản thua chạy, ông thua trận chạy ra Thanh
Hoa thì bị bắt và bị giết.
[127] Xem Góp thêm một số tài liệu về ấn triện thời Tây Sơn, Tạp chí Khảo cổ học số 1 - 1989, tr.20.
[128] Xem Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, quyển III, Nxb. KHXH, HN, 1977.
[129] Xem KĐĐNHĐSL, phần Binh chế, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1993.
[130] Xem Đại Việt thông sử, quyển III, Nxb. KHXH, HN 1978, tr.268.
[131] Lê Quý dật sử, Nxb. KHXH, HN, 1978, tr.95.
[132] Quả ấn đồng này do một người dân ở thôn 6 xã Đại Lãnh, huyện Đại
Lộc, tỉnh Quảng Nam khi đào đất vườn phía sau nhà đã phát hiện được quả
ấn đồng đặt trong một cái hũ đất nung. Nhà giáo Nguyễn Văn Cương đã
nghiên cứu quả ấn này và công bố trên tập san Thế giới mới năm 1997:
Tìm được ấn đồng của vua Quang Trung. Nhân đây xin có lời cảm ơn nhà
giáo Nguyễn Văn Cương và cũng xin lưu ý một chút trong bài viết có nhầm
chữ Vệ thành chữ Thuật vì tự dạng chữ viết rất giống nhau.
[133] Các trấn tổng xã danh bị lãm. (Bản chữ Hán) KH: A.570, TV. Viện
NCHN - bản dịch Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX - Dương Thị The,
Phạm Thị Thoa dịch, biên soạn Nxb KHXH, HN, 1981.
[134] Xem Ngô Đức Thọ, Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Nxb. Văn hóa, 1997, tr.107, 108.
[135] Cao Bình, tên phủ từ thời Lê trở về trước gọi là Cao Bình, đến
thời Tây Sơn đổi gọi là Cao Bằng và giữ nguyên cách gọi đến nay. Lộc
Bình: châu Lộc Bình có từ thời thuộc Minh, thời Tây Sơn đổi là Lộc
Bằng. Đến đời Gia Long lại đổi làm Lộc Bình.
[136] Theo tổ chức chính quyền thời Hậu Lê thì mỗi huyện đặt 2 viên Tri
huyện gọi là Đông đường và Tây đường, đến thời Nguyễn mới xóa bỏ và đặt
mỗi huyện một Tri huyện.
[137] Xem Tây Sơn thuật lược, Sđd, tr.11.
[138] Nội dung bức thư đã được cố GS. Hoàng Xuân Hãn dịch và giới thiệu ảnh trong LSPT, Sđd, tr.137, 138 và 252.
[139] Xem LSPT, Sđd, tr.151, 253.
[140] Xem LSPT, Sđd, tr.150 và 253.
[141] Xem LSPT, Sđd, tr.153 - 254.
[142] Xem LSPT, Sđd, tr.153-154.
[143] Nay thuộc xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
[144] Lê Quý dật sử, Nxb. KHXH, HN, 1987, tr.95.
[145] Cơ quan quản lý hoàng tộc, rất có thế lực ở triều Nguyễn.
[146] Dấu này có kích thước 3,2x3,2cm, được áp trên văn bản chữ Hán,
chư Bộ Nha, quyển 2, Gia Long thứ 18, hiện giữ ở kho lưu trữ Trung ương
I, Hà Nội.
[147] Nay là xã Trần Phú, huyện Thanh Trì, Hà Nội
[148] Sử quan nhà Nguyễn gọi quân Tây Sơn là “Ngụy”.
[149] Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Sử học, HN, 1963, tr.339.
[150] Tài liệu dịch theo hợp đồng cộng tác khoa học giữa Viện Nghiên
cứu Hán Nôm và nhà Bảo tàng Quang Trung - Nghĩa Bình 1984 - ký hiệu
D992 - Xem tr.8-14.
[151] Điển sự: còn gọi là Lại điển chỉ những nhân viên làm việc trong Bộ, Viện không có chức vụ gì.
[152] Tư vụ: chức quan nhỏ giữ việc nhận và phát các văn cảo ở Bộ,
Viện, dưới chức Viên ngoại lang và Lang trung ở hệ thống lục Bộ.
[153] Xem Tây Sơn thực lục, TV. Viện NCHN, KH: Bt 00062, tr.85a.
[154] Cơ mật viện túc trình: Sách chữ Hán giấy bản cũ dày 58 trang, khổ
28,7x16cm, phần lớn ghi về Kim ngọc Bảo Tỷ triều Nguyễn. Có đóng ấn Cơ
mật viện ấn và Kiềm dấu Cơ mật. Đây là cuốn sách của Viện Cơ mật chép
năm Bảo Đại nguyên niên (1926) do nhà nghiên cứu Phan Thuận An tại Huế
cung cấp.
[155] Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Sử học, HN, 1963, tr.33.
[156] Trên bia đá còn hai dấu nhỏ nữa, nhưng vì quá cao nên chúng tôi không in rập được.
[157] Năm 1714 Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Chưởng cơ Tổng Đức Đại trông
nom việc trùng tu và mở rộng chùa Thiên Mụ, xây thêm nhiều điện đài,
nhà cửa tráng lệ, dựng bia đá rất lớn. Đến năm 1715 thì hoàn thành.
[158] Minh Mệnh chính yếu, Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên xuất bản, 1974, tr.27.
[159] Đây là một bản sao mà chúng tôi đã sao chụp lại nhân chuyến công tác vào Huế năm 1998.
[160] Chế cáo: Cáo sắc phong cho công thần theo lệnh vua. [161] Xem Nguyễn Quảng Tuân: Tờ chiếu của vua Gia Long phong cho Nguyễn
Du tước Du Đức hầu, Tạp chí Hán Nôm, số 3-1997, tr.78-82.
[162] Xem KĐĐNHĐSL, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1993, tr.286.
[163] MMCY, Sđd, tr.28.
[164] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.33.
[165] KĐĐNHĐSL, Sđd, tập 6, tr.284-285.
[166] KĐĐNHĐSL, Sđd, tập 14, tr.29.
[167] Xem Về chiếc ấn Hoàng đế tôn thân chi bảo của Đặng Văn Thắng và
Phạm Hữu Công trong Những phát hiện mới về khảo cổ học 1995, Nxb. KHXH,
HN, 1996.
[168] Nguyên Hòa ngũ niên: Đời Lê Trang Tông niên hiệu Nguyên Hòa 5 (1537).
[169] ĐNTLCB, Sđd, tr.59.
[170] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.34.
[171] Dấu Sắc mệnh chi bảo đời Lê Chiêu Thống in ở sắc phong thần ở
thôn Đoài, xã Phù Xá, huyện Kim Anh, tỉnh Bắc Ninh, có cùng địa điểm
với 2 dấu Phong tặng chi bảo và Sắc mệnh chi bảo thời Nguyễn. Những sắc
phong này do nhà nghiên cứu Hoàng Giáp - Trưởng phòng Sưu tầm Viên
Nghiên cứu Hán Nôm cung cấp.
[172] Theo tư liệu của cụ Lê Văn Hoàng ở khu Kim Long - Huế. Cụ là một
trong các nhân viên được giao trọng trách giữ Bảo ấn Sắc mệnh chi bảo
dưới đời Bảo Đại.
[173] MMCY, Sđd, tr.27.
[174] Ngọc Tỷ truyền quốc của Đại Nam, nhận mệnh lâu dài từ trời.
[175] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.41.
[176] Bản phúc thư có dấu Ngọc Tỷ này do Tố Am Nguyễn Toại sưu tầm và
dịch, Tảo Trang hiệu đính và chú thích. Bài Hoàng đế nước Đại Nam kính
phúc đáp Hoàng đế nước Đại Phú Lãng sa trước điện xem thư, Tạp chí Hán
Nôm, số 4-1995.
[177] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.42.
[178] Hiệp kỷ là “Hiệp dụng ngũ kỷ”; 5 kỷ là: Năm, tháng, ngày, tinh tú và lịch số.
[179] Phần chữ Hán tờ Ngự chế được ông Nguyễn Hữu Tưởng, cán bộ Viện
Nghiên cứu Hán Nôm dịch nghĩa và PGS. TS. Đào Thái Tôn, Viên Nghiên cứu
Hán Nôm hiệu đính.
[180] ĐNTLCB, Sđd, tr.24.
[181] MMCY, Sđd, tr.42.
[182] Đại Nam hội điển toát yếu và Quan chế đời Minh Mệnh, Ngô Thế Long dịch, KH: LA.13, TV Viện NCHN.
[183] Việc kiểm duyệt đóng ấn Bảo Tỷ do hệ thống Giám sát gồm đại diện
Đô sát viện, Cấp sự trung Lục khoa và Giám sát Ngự sử các đạo thực hiện.
[184] Phất thức: lau chùi quét phủi bụi bặm.
Tài liệu về lễ “Phất thức” do nhà nghiên cứu Phan Thuận An tại Huế cung cấp.
[185] Chuyến công tác vào Nam năm 1998 chúng tôi đã in chụp được một số
ấn triện, trong đó có Khánh Ninh cung bảo. Nhân đây xin được cảm ơn bà
Giám đốc TS. Trịnh Thị Hòa và cán bộ Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại
thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ chúng tôi về một số tư liệu ấn triện
thời Nguyễn.
[186] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.298, 308.
[187] ĐNTLCB, Sđd, tr.403.
[188] Hai dấu này đóng trong quyển 5, Thiệu Trị nguyên niên, tr.394, CBTN.
[189] Hai dấu này đóng ở quyển 13, Thành Thái nhị niên, tr.186, CBTN.
[190] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.127. [191] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.127.
[192] Dấu Hoàng thái tử thủ tín đóng trong quyển 2, đời Gia Long thứ 4, tr.176, CBTN.
[193] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr127,129.
[194] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.127, 129.
[195] Phủ Hoài Đức thời Gia Long thuộc Bắc thành (Tổng trấn trực tiếp quản lý) nay thuộc tỉnh Hà Tây.
[196] Dấu Văn thư phòng quan phòng đóng trong quyển 18 - đời Minh Mệnh thứ 7, tr.391, CBTN.
[197] Dấu Sung biện nội các sự vụ quan phòng đóng trong quyển 46 - đời Thiệu Trị thứ 2, tr.4, CBTN.
[198] Sung làm công việc Nội các gồm hai người trật nhị phẩm là Thị
lang lục Bộ, hoặc Chưởng viện học sĩ, Trực học sĩ viện Hàn lâm, hai
người trật tứ phẩm lấy Thị độc học sĩ viện Hàn lâm.
[199] Kiềm dấu Nội các đóng trong quyển 1 - Đồng Khánh nguyên niên (1886) - CBTN.
[200] Hình dấu này in ở quyển 2 - Gia Long thứ 18, tr.259, CBTN.
[201] Hội nghị công đồng được lập từ năm 1787 với tên gọi Sở Công đồng,
dùng ấn Công đồng chi ấn. Đến năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) đổi làm hội
nghị đình thần với tổ chức như cũ, ấn Đình thần chi ấn được làm ra thay
cho ấn Công đồng.
[202] Cai bạ: Thời Gia Long và đầu Minh Mệnh, đứng đầu một doanh (Tức
tỉnh sau này) là một Lưu thủ, có các chức Cai bạ, Ký lục phụ tá - Cai
bạ chính là chức Phó doanh.
[203] Hiệp trấn: Thời Gia Long và đầu Minh Mệnh đứng đầu mỗi trấn (tức
tỉnh sau này) là một Trấn thủ, có các Hiệp trấn, Tham hiệp phụ tá. Hiệp
trấn chính là chức Phó trấn.
[204] Tất cả những dấu trên ở quyển 18 - Minh Mệnh thứ 7, tr.16, 17, 18, CBTN.
[205] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.304.
[206] Quyển 17 - Thiệu Trị thứ 2, tr.23, CBTN.
[207] Quyển 119 - Tự Đức thứ 13, CBTN.
[208] Đại Nam hội điển toát yếu và quan chế đời Minh Mệnh: KH. LA. 13, Sđd, tr.116.
[209] ĐNTLCB, Sđd, tr.424.
[210] Chủ nhân ấn đồng năm 1802 ?: Nguyễn Hữu Thông - Nguyễn Văn Đăng
trong Tạp chí Xưa & Nay, số 10B 2000. Nhân dây chúng tôi xin được
cảm ơn hai tác giả trên đã gián tiếp cung cấp tư liệu về ấn Tả quân chi
ấn.
Về sự khác biệt một chút về kích thước giữa hình dấu in trên văn bản
chữ Hán và hình dấu đóng từ quả ấn trên chúng tôi thấy dấu trên văn bản
bao giờ cùng nhỉnh hơn một ít vì độ mực dấu thấm loang trên giấy bản
cũ. Còn việc vẽ lại hình dấu trên văn bản (trường hợp dấu Tả quân chi
ấn, Hữu quân chi ấn, do không được phép chụp ảnh photocopy) sẽ không
đảm bảo độ chính xác 100% như hình dấu in từ hiện vật ấn.
[211] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.300.
[212] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.229,304.
[213] Dấu Trấn tây tướng quân chi ấn ở quyển 67 - Minh Mệnh thứ 19, tr.26, CBTN.
[214] Hai dấu này ở quyển 52 - Minh Mệnh thứ 15, tr.459, CBTN.
[215] 5 dấu Quan phòng này đóng ở quyển 18 - Minh Mệnh thứ 7, tr.15, 16, CBTN.
[216] Bốn dấu đóng ở quyển 5 - Thiệu Trị nguyên niên, tr.353, 367, 369, CBTN.
[217] Dấu của Vũ Văn Giải in trong quyển 5 - Thiệu Trị nguyên niên, tr.377, CBTN.
[218] Dấu này trong quyển 119 - Tự Đức thứ 13, tr.137, CBTN.
[219] Dấu này in trong quyển 119 - Tự Đức thứ 13, tr.137, CBTN.
[220] Dấu Đề đốc Gia Định in trong quyển 53 - Minh Mệnh thứ 16, tr.493, CBTN. [221] Dấu Đề đốc Tiễu bổ quân vụ - quyển 119 - Tự Đức thứ 13, tr.153, CBTN.
[222] Dấu Loan giá vệ đồ ký trong quyển 67 - Minh Mệnh thứ 19, tr.162, CBTN.
[223] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.136.
[224] Dấu Nam Hưng đồ ký đóng ở quyển 67 - Minh Mệnh thứ 19, tr.161, CBTN.
[225] Dấu Kinh tượng nhất vệ và Cẩm y túc trực đều đóng cùng quyển 53 - Minh Mệnh thứ 19, tr.368, CBTN.
[226] ĐNTLCB, Sđd, tr.80.
[227] Dấu của Tổng trấn Bắc thành in trong CBTN đời Gia Long.
[228] Cuối đời Gia Long - Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành bị vu
cáo phải uống thuốc độc tự tử. Gia Long lấy Lê Tông Chất làm Tổng trấn
và Lê Văn Phong làm Hiệp Tống trấn Bắc thành và giao bộ ấn kiếm Bắc
thành tổng trấn chi ấn mà Nguyễn Văn Thành đã dùng cho Lê Tông Chất và
Lê Văn Phong sử dụng.
[229] Dấu kiềm Bắc thành ở quyển 5, Công văn cổ chỉ. KH: A.3086, Sđd, tr.42.
[230] Nguyễn Văn Nhân theo phò Nguyễn Ánh từ năm 1778 làm tới chức Khâm
sai chưởng Hữu quân Bình tây tướng quân, năm 1808 được phong làm Tổng
trấn thành Gia Định.
[231] Trịnh Hoài Đức theo gặp Nguyễn Ánh từ khi còn chiến tranh giữ
chức Tham tri bộ Hộ, năm 1808 làm Hiệp tổng trấn Gia Định thành. Hiện
nay ở thị xã Biên Hòa còn lăng mộ bia đá.
[232] ĐNTLCB, Sđd, tr.394.
[233] Lê Văn Duyệt: Thời trẻ là thái giám theo Nguyễn Ánh từ 1778, sau
làm đến Khâm sai chưởng Tả quân Bình tây tướng quân, năm 1820 làm Tổng
trấn Gia Định thành. Hiện nay ở trung tâm quận Bình Thạnh - Tp. Hồ Chí
Minh còn khu lăng mộ đền thờ Lê Văn Duyệt được bảo quản xếp hạng Di
tích lịch sử văn hóa.
[234] Dấu Gia Định thành tổng trấn chi ấn in ở quyển 18 - Minh Mệnh thứ 7, tr.82, CBTN.
[235] Thanh Hoa trấn thủ chi chương sao chụp ở Công văn cựu chỉ. KH: A. 3032, TV Viện NCHN.
[236] Quảng Nam doanh chi chương ở quyển 18 - Minh Mệnh thứ 7, tr.86, CBTN.
[237] ĐNTLCB, Sđd, tr.206.
[238] Thanh Hoa trấn ấn ở quyển 18 - Minh Mệnh thứ 7, CBTN.
[239] Hai dấu Quảng Nam doanh chi chương và Bình Định trấn ấn cùng đóng trong quyển 18 - Minh Mệnh thứ 7, tr.78, 86, CBTN.
[240] Dấu Khâm mệnh tín chương sao chụp ở tập I, Công văn cổ chỉ. KH: A. 3032, tr.57, TV Viện NCHN.
[241] Thời Gia Long một số cấp hành chính ở một số nơi chưa được ổn
định, những nơi này đều do các quan Khâm sai, Khâm phái đảm nhiệm.
Trường hợp đạo Thanh Bình này là một ví dụ.
[242] Đạo Thanh Bình gồm 2 phủ, 6 huyện, 41 tổng, 271 xã, thôn, trang
(Thiên Quan là một trong hai phủ). Đầu Minh Mệnh đổi làm đạo Ninh Bình.
[243] Dấu Ninh Bình đạo ấn chụp ở Công văn cựu chỉ, Sđd, quyển 4, tr.25.
[244] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.314.
[245] Đại Nam điển lệ: Nguyễn Sĩ Giác dịch - Nhà in Tôn Thất Lễ, Sài Gòn, 1962.
[246] Trang tài liệu này do nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh tại Tp. Hồ Chí
Minh cung cấp, nhân chuyến công tác của chúng tôi vào Nam năm 1989.
[247] Công văn cựu chỉ: KH: A 3032 - quyển 1, tr.76.
[248] Công văn cựu chỉ: KH: A.3326 - quyển 5, tr.71.
[249] Phó - Bản phó, một trong các loại văn bản thuộc dạng công văn triều Nguyễn dùng để phân biệt với bản chính và bản lục.
[250] Dấu ấn và dấu kiềm Bố chính sứ Ninh Binh in trong Công văn cựu chỉ quyển 5, Sđd, tr.2. [251] Đại Nam điển lệ: Sđd, tr.103.
[252] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.334, 335.
[253] Trực lệ, còn gọi là Tả Trực lệ và Hữu Trực lệ - Gồm 4 tỉnh giáp
kinh đô Huế là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị và Quảng Bình.
[254] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.301.
[255] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.319.
[256] Công văn cổ chỉ, KH: A.3086, quyển 2, tr.2.
[257] Công văn cổ chỉ, Sđd, quyển 3, tr.42.
[258] Công văn cựu chỉ, quyển 1, KH: A.3032
[259] Công văn cựu chỉ, quyển 4, KH: A.3032
[260] Dấu Nà Bôn thổ châu đồ ký trong quyển 2, tr.161 - Hàm Nghi nguyên
niên, CBTN. Vì nguyên tắc lưu trữ, chúng tôi không photocopy được
nguyên bản hình dấu và trang văn tự dân tộc thiếu số nên - chỉ đồ họa
lại. (Châu Nà Bôn thuộc tỉnh Quảng Trị).
[261] Đại Nam điển lệ, Sđd, tr.337.
[262] Hình ấn và Đồ ký này do ông Hoàng Giáp - trưởng phòng Sưu tầm
Viện Nghiên cứu Hán Nôm, in rập được nguyên bản tại huyện Hữu Lũng,
tỉnh Lạng Sơn năm 1985.
[263] Huyện Quỳnh Côi đời Gia Long thuộc phủ Thái Bình, trấn Sơn Nam - sau thuộc phân phủ Thái Bình, nay thuộc tỉnh Thái Bình.
[264] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.322.
[265] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.322.
[266] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.323.
[267] Dấu in ở quyển 67 - Minh Mệnh, tr.144.
[268] Dấu in ở quyển 67 - Minh Mệnh thứ 19, tr.6.
[269] Đại Nam điển lệ, Sđd, tr.337.
[270] Đồng Xuân - Đời Gia Long thuộc huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, nay
thuộc quận Hoàn Kiếm - Hà Nội. Hai dấu Triện này đóng trong tập Đồng
Xuân tổng các thôn phường địa bạ - KH: A.3086 - TV Viện NCHN.
[271] Dấu in trong Phú Thọ tỉnh, Hạ Hòa huyện, Vĩnh Chân tổng các xã địa bạ, KH: AG a11/13.
[272] MMCY, Sđd, tr.17.
[273] KĐĐNHĐSL, Sđd, tr.328.
[274] Dấu in trong Công văn cựu chỉ, quyển 4, KH: A.3032, tr.9.
[275] Công văn cổ chỉ, KH: A.3086, Q.5, tr.54.
[276] Hậu bổ: Những người mới đỗ ở trường Hậu bổ, hoặc quan lại đợi khuyết để bổ vào nhậm chức.
[277] Công văn cựu chỉ, KH: A.2918, tr.69.
[278] Tứ lục sao, KH: A.152, tr.2, TV Viện NCHN.
[279] Ngô gia văn phái, KH: VHv.16/12, tr.17, TV Viện NCHN.
[280] Hoàng Việt thi tuyển, KH: VHv.1451, tr.2, TV Viện NCHN.
[281] Dấu Ca vịnh thái bình, in lại nguyên bản hiện vật tại Viện Bảo tàng lịch sử, Tp. Hồ Chí Minh.
[282] Dấu Tùng tuyết trai sao lại ở Bulletin de la Société des Études Indochinoises, Sđd.
[283] Dấu Thuận cát in rập nguyên bản hiện vật tại Hội An, Đà Nẵng năm 1989.
[284] Dấu Tường hợp in lại nguyên bản hiện vật tại Viện Bảo tàng Lịch sử, Tp. Hồ Chí Minh.
[285] Gia đình ông Sùng người Việt gốc Hoa sang Việt Nam từ thời
Nguyễn, trú tại phố cổ Hội An, hiện còn lưu giữ được ít nhiều cổ vật
quí giá. Ngoài số ấn tín được biết chúng tôi còn được xem nhiều cổ vật
bằng đồng, bằng gốm, gỗ và một kho sách chữ Hán, chữ Trung Quốc có giá
trị.
[286] Cửu Thiên, theo Từ nguyên là chỉ “Trời”; “cửu thiên” là tám
phương trời và khu trung ương ở giữa trời. Ngày nay khi khấn vái, dân
ta thường mở đầu bằng câu: “… Lạy chín phương trời mười phương Phật…”.
[287] Theo sách Trần Đại vương bình Nguyên thì Trần Quốc Tuấn sinh năm
Bính Tuất (1226), một số tư liệu khác thì khẳng định ông sinh năm 1228.
[288] Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb. KHXH, 1997, tr.362.
[289] Ngoài dấu Tự Đức thần hàn còn các dấu Minh Mệnh thần hàn, Thiệu Trị thần hàn, Thần hàn chi tỷ có chức năng tương tự.
HẾT |