Ấn chương Việt Nam_Phần mở đầu PDF Print E-mail
Written by lichsuvn.info   
Sunday, 26 October 2008
Tài liệu nghiên cứu về ấn chương học Việt Nam, phần mở đầu

Tác giả: Nguyễn Công Việt

Nguồn: thuvien-ebook

Lời giới thiệu


Ấn chương học (Sigillographie hay Sphragistique) là môn học nghiên cứu về con dấu qua các đời. Con dấu trên văn bản thường có 3 mục đích: 1. Bảo đảm tính xác thực của văn bản; 2. Khẳng định quyền chủ sở hữu của văn bản và 3. Xác định niên đại của văn bản[1]. Vì vậy, nghiên cứu ấn chương học được coi là phương pháp tìm chứng cứ (recherche des témoigrages) trong khoa học lịch sử và có ý nghĩa quan trọng đối với văn bản học[2].

Việt Nam có một truyền thống ấn chương lâu đời, các thư tịch cổ đã chép rằng các Lạc tướng có ấn đồng dây thao xanh (đồng ấn thao thụ). Có thể thấy rằng các con dấu gốm đã tìm được trong văn hóa Hoa Lộc, văn hóa Bàu Tró chỉ in các hình trang trí. Khi chữ Hán đã truyền vào Việt Nam thì chúng ta gặp nhiều con dấu thời Hán như dấu “Tư phố huyện ấn” (hiện được cất giữ ở Bảo tàng Bỉ), các con dấu tìm được ở di chỉ Thiệu Dương, Thanh Hóa. Hoặc là chúng ta đã tìm thấy các phong nê ở Quảng Nam cho ta biết ảnh hưởng của Đạo giáo thời kỳ sớm.

Ta đã tìm được những con dấu bằng mã não hoặc bằng chì in bằng chữ Pallava trong các di chỉ văn hóa Óc Eo ở miền Nam từ thế kỷ VII đến thế kỷ IX.

Đến thời kỳ độc lập thì ta mới tìm thấy các con dấu thời Trần như Môn hạ sảnh ấn năm 1377 và Bình Tường thổ châu chi ấn năm 1362. Chúng ta hi vọng là ngày càng tìm được nhiều con dấu của thế kỉ XVI về trước.

Từ thế kỷ XV trở đi, ta mới biết nhiều loại hình con dấu. Tình hình ấn chương từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX chính là nội dung mà Nguyễn Công Việt muốn giới thiệu trong quyển sách này.

Muốn xây dựng ấn chương học thì nhiệm vụ trước hết phải làm là công bố các sưu tập ấn chương (corpus sigillirum) của các thời kỳ. Ở đây, Nguyễn Công Việt đã công bố các corpus sigillirum từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX như thế. Nguyễn Công Việt đã nghiên cứu các ấn chương của nhà vua và các quan chức ở triều đình cùng với các quan chức ở địa phương.

Ở quyển sách này, Nguyễn Công Việt đã đi sâu nghiên cứu các chức quan trong các thế kỉ XV đến XIX và nhờ vào con dấu, đã bổ khuyết nhiều điều chưa biết, nhất là các chức quan trong quân đội. Nói chung, tác giả đã giúp người đọc xác định được nhiều về quan chức chí của các đời. Sự thay đổi của ấn chương được tác giả gắn liền với các cuộc cải cách hành chính từ triều Lê đến triều Nguyễn, những cuộc cải cách đó được tác giả mô tả kỹ càng và làm nổi bật. Qua con dấu cũng đã xác định sự thay đổi một số tên đất như ở thời Tây Sơn. Đó là những tài liệu lịch sử chắc chắn mà ấn chương học đã đem lại.

Tóm lại, đây là một công trình nghiên cứu công phu mà tác giả đã hoàn thành, có đóng góp lớn cho việc xây dựng bộ môn ấn chương học Việt Nam. Về bộ môn này thì đây là công trình đầu tiên; không có gì có thể so sánh được, vì thế, có thể còn một số thiếu sót, nhưng chúng ta có thể hiểu được. Vì vậy, tôi rất vui khi được giới thiệu công trình này với các nhà nghiên cứu, đặc biệt là với những người ham thích tài liệu lịch sử. Tôi tin rằng là tài liệu này sẽ đem lại nhiều điều có ích và thú vị cho chúng ta.

GS.HÀ VĂN TẤN

Viện trưởng Viện Khảo cổ học,

Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Lời nói đầu

Di sản văn hóa thành văn của dân tộc Việt Nam bao gồm hai mảng tư liệu hiện vật và tư liệu thư tịch với một khối lượng lớn phong phú đa dạng tồn tại song hành và luôn gắn bó mật thiết với nhau. Chúng ta tìm thấy không ít những đoạn kinh, câu thơ, bài văn bằng chữ Hán, chữ Nôm khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ đồng thời cũng được ghi trên giấy, lụa. Văn tự Hán Nôm còn được khắc in, đúc trên kim loại như vũ khí, vật dụng, công cụ sản xuất, tiền đồng, trên đồ gốm sứ v.v… Trong kho di sản văn hóa đa dạng đó có một loại tư liệu hiện vật mang đặc thù riêng, đó là ấn chương mà ta còn gọi là ấn triện hay con dấu. Ấn chương bao gồm cả hiện vật ấn tín và những văn bản, văn khắc có in hình con dấu. Trong đó hình con dấu đứng độc lập hay nằm trong một văn bản Hán Nôm khác cũng đều được coi là một văn bản ấn chương hoàn thiện.

Ở công trình này chúng tôi bước đầu công bố các sưu tập ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX, cùng với kết quả nghiên cứu giới thiệu những quả ấn điển hình, những hình dấu tiêu biểu ở hệ thống ấn chương các loại trong bộ sưu tập mà chúng tôi đã thu thập được.

Nằm trong khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của văn hiến Trung Hoa, ấn chương Việt Nam về cơ bản có nhiều điểm gần gũi với ấn chương Trung Quốc. Tuy nhiên ở Trung Quốc tương truyền ấn chương có từ thời Hoàng đế (khoảng năm 2500 TCN) và các nhà khoa học đã khẳng định ấn chương Trung Quốc có từ cuối Xuân Thu Chiến Quốc (năm 770 - 255 TCN), thì ở Việt Nam các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những ấn hoa văn (tiền thân của ấn chương Việt Nam) có niên đại khoảng thế kỉ XV - XVI (TCN) ở Hậu Lộc, Thanh Hóa. Nếu như ở Trung Quốc, sự phát triển và tồn tại của ấn chương mang tính hệ thống liên tục, duy trì đến tận bây giờ với rất nhiều tác gia, tác phẩm viết về ấn chương học, thì ở Việt Nam không có được sự tương đồng, thậm chí đã bị đứt đoạn ở một số đời vua thuộc những vương triều phong kiến khác nhau.

Trải qua bao cuộc kháng chiến chống xâm lược oanh liệt và cả các cuộc nội chiến đẫm máu, cộng với sự tàn phá nặng nề của thiên tai, biết bao ấn chương các loại và văn bản có lưu hình dấu phải chịu chung số phận tro bụi cũng cung điện, lầu các, thư phòng v.v… Với nỗ lực tìm kiếm từ Nam ra Bắc chúng tôi cũng chỉ gom góp được hơn trăm hiện vật ấn chương và ngót nghìn văn bản có hình dấu khác nhau, chủ yếu ở thời Nguyễn. Kết hợp với những tài liệu chính sử, dã sử, tư liệu địa phương, bài viết lẻ tẻ và những văn bản Hán Nôm đã rách ố, chúng tôi bước đầu tuyển chọn giới thiệu sơ lược ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX.

Bắt đầu từ những quả ấn, đó là khối tư liệu hiện vật quý giá quan trọng trong việc nghiên cứu, công bố ấn chương Việt Nam. Những quả ấn này có chất liệu, trọng lượng, hình thức, niên đại và nội dung văn khắc khác nhau và được chia thành hai loại. Loại thứ nhất sau khi khắc chữ ở phần đế, ấn được đem dùng luôn. Loại thứ hai sau khi khắc chữ ở phần đế, ấn phải qua công nghệ đúc mới được dùng. Giá trị lớn nhất của hiện vật ấn chương là tính chân thực của niên đại được khẳng định ở hiện vật: Có những ấn gốm hoa văn đã đạt tới hơn 3.000 năm tuổi. Cùng với các cổ vật khác, chúng gắn liền với những nền văn hoá cổ xưa của dân tộc Việt Nam như văn hoá Hoa Lộc - Thanh Hoá, văn hóa Óc Eo - Nam bộ. Chúng rất có ý nghĩa trong nghiên cứu khảo cổ học, sử học cũng như bảo tàng học sau này. Song, thực trạng hiện vật ấn chương hiện còn với số lượng quá ít sẽ không bao quát hết toàn bộ hệ thống ấn chương các loại, cũng chưa đủ đại diện cho ấn chương mỗi triều đại, do đó việc nghiên cứu hiện vật ấn chương tuy quan trọng những cũng chỉ thể hiện một mặt trong nghiên cứu ấn chương nói chung. Vả lại mỗi một quả ấn cho ra đời một hình dấu - tức một văn bản cô đọng ngắn gọn; nó thể hiện nét đặc thù riêng của loại hình ấn tín: lượng thông tin trong tự thân văn bản có một số hạn chế nhất định. Việc nghiên cứu ấn chương bắt buộc phải mở rộng đến các văn bản Hán Nôm mang hình dấu ấn, đó là mảng tư liệu phong phú, đa dạng đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu ấn chương.

Văn bản Hán Nôm có lưu hình dấu có hai dạng khác nhau: Thứ nhất là dạng văn bản có chất liệu bằng giấy hoặc vải lụa, người ta dùng ấn thấm mực đóng trực tiếp lên trên. Dạng văn bản thứ hai là những hiện vật bằng đá, gỗ, kim loại, gốm sứ được khắc lại trực tiếp hình dấu, hoặc được khắc, vẽ lại hình dấu rồi qua công nghệ đúc, nung mà thành. Trong đó dạng văn bản thứ nhất - văn bản giấy chiếm số lượng tối đa và giữ vai trò chính trong việc nghiên cứu ấn chương.

Văn bản giấy có nhiều loại khác nhau như thư tịch sách vở, tài liệu hành chính, thư pháp tranh ảnh, tấu sớ bùa chú v.v… Trong đó mảng tài liệu hành chính công văn giấy tờ là còn lưu nhiều hình dấu quan ấn (ấn công) nhất. Đó là những sắc, chiếu, chế, cáo, chỉ, dụ; mảng tài liệu quan trọng này gắn với Hoàng đế và bộ phận hành chính thân cận nhà vua. Hình dấu trên đó được đóng ra từ những Bảo Tỉ của vua hoặc những ấn chương khác có ý nghĩa quốc gia trọng đại. Bên cạnh đó là khối lượng lớn các văn thư hành chính khác được làm ra từ các nha môn thuộc các cơ quan trung ương ở kinh đô như hệ thống lục bộ, lục tự, giám sát v.v… với mấy loại văn bản khác nhau theo các con đường đi khác nhau. Loại văn bản gửi lên Hoàng đế qua văn phòng nhà vua, loại văn bản gửi đến các cơ quan ngang cấp hay tới các chính quyền địa phương, quân doanh đơn vị ngoài kinh đô, và một loại văn bản gửi cho thuộc viên cấp dưới. Các văn bản đó đều được đóng các con dấu khác nhau vào nơi quy định của trưởng nha môn hoặc người được thẩm quyển dùng dấu. Đối với các chính quyền địa phương, lực lượng quân đội và cơ quan dân sự ngoài kinh đô thì cũng dùng các hình thức văn bản có tính chất tương tự. Tất cả các loại văn thư hành chính này đều có tên gọi riêng như sớ, tấu tập, tư (tư di, tư trình), sức, chiếu hội v.v… Ở mỗi loại văn bản có cùng một nội dung được lập ra để giải quyết công việc theo hình thức hàng dọc mà gọi theo ngôn ngữ văn bản học Hán Nôm là bản chính, bản phó hay bản lục v.v… được xếp chung gọi là các dạng văn bản. Mỗi dạng văn bản có khi được làm hai hoặc vài ba bản dùng để gửi đi và lưu chiểu, đối chiếu. Ở mỗi loại văn bản, dạng văn bản đều có dấu tích công nhận khác nhau đóng ở những chỗ quy định như dòng ghi niên hiệu, chỗ tên riêng, chỗ quan trọng, chỗ tẩy xoá và nơi giáp phùng.

Ở một số loại sách như địa bạ, sách riêng của dòng họ, sách in chúng ta có thể tìm thấy thưa thớt một số hình dấu nhỏ, đơn giản. Trên các tác phẩm nghệ thuật thư pháp, tranh họa, bản giao kèo mua bán và ở các lá sớ, bùa chú chúng ta cũng tìm thấy nhiều hình dấu lớn nhỏ khác nhau. Đó là những hình dấu tư ấn (ấn riêng) thuộc lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, thương mại và tôn giáo tín ngưỡng.

Cũng như ấn chương Trung Quốc và các nước khu vực dùng chữ khối vuông, ấn chương Việt Nam thể hiện rõ những chức năng riêng biệt của ấn chương nói chung và ở mỗi loại ấn chương nói riêng. Từ ý nghĩa biểu tượng của pháp chế quyền lực đến chức năng khẳng định quyền sở hữu và khẳng định tính chân thực, ấn chương Việt Nam không chỉ mang tính pháp lí hành chính mà còn thể hiện rõ tính văn hoá - xã hội. Bắt đầu từ những Bảo Tỉ của Hoàng đế dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại đến những quả ấn nhỏ xíu của một thường dân là cả một hệ thống ấn chương hoàn chỉnh, có tên gọi và cách dùng riêng biệt. Qua nghiên cứu thống kê ta có thể phân loại ấn chương Việt Nam thành nhiều loại khác nhau là Kim ngọc Bảo Tỉ, ấn cơ quan, Chương và Tín chương, Quan phòng chức vụ, Kiềm ấn, Đồ kí, Kiềm kí, Tín kí - Kí và mảng ấn tín tư nhân. Đồng thời ở đây cũng phân chia rõ rệt hai hệ thống quan ấn và tư ấn; trong đó quan ấn mang tính pháp lí hành chính nhà nước có quy chế nhất định, còn tư ấn thể hiện tính tự do ngoài khuôn khổ qui định.

Tương ứng với ý nghĩa nội dung của mỗi loại ấn, người ta đã đặt ra những quy ước hình thức cho việc chế tác ấn chương từng loại riêng biệt. Những hình thức được chạm khắc ở núm ấn đầu tiên phải kể đến những con vật thiêng theo ý niệm tôn giáo như long, li, quy, phượng, hoặc là loài mãnh thú như hổ, sư tử. Những hình muông thú khác cùng các hình thể đơn giản như tay quai, chuôi vồ v.v… được chạm, khắc, đúc ở mỗi loại ấn khác nhau đã dựng nên bức tranh nghệ thuật sinh động của ấn chương Việt Nam.

Hình thức mặt đế ấn là điều quan trọng nhất trong việc chế tác ấn chương. Chính nó sẽ cho ra đời một hình dấu trên văn bản có nội dung trọn vẹn, bao hàm cả ý nghĩa biểu tượng của hình thể ấn mỗi loại. Chúng ta sẽ tìm thấy nhiều hoạ tiết đường viền khác nhau vành ngoài đế ở một số loại ấn mà chủ yếu trong Bảo Tỉ của Hoàng đế, Hoàng tộc và nội cung. Nó không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng cho loại ấn mà còn hàm chứa lượng thông tin cao đối với người tiếp nhận khi nhìn thấy hình dấu trên văn bản. Nhưng cái chính ở đây là nội dung văn khắc trên mỗi con dấu khác nhau. Với số lượng chữ, thể chữ, bố cục sắp xếp không giống nhau, mỗi hình dấu đã thể hiện đầy đủ ý nghĩa nội dung của một con dấu, nó được coi là một văn bản hoàn chỉnh, cô đọng và nhiều khi khá sâu sắc.

Không có tham vọng biên soạn thành một cuốn sách chuyên khảo lí luận về ấn chương Việt Nam, ở đây chúng tôi chỉ dựa trên cơ sở tư liệu, thực trạng hiện vật ấn và hình dấu trên văn bản để mô tả giới thiệu ấn chương dưới góc độ của người sưu tập và nghiên cứu. Thực tế tư liệu ấn chương thời Lê sơ, Mạc và Lê Trung hưng tìm được quá ít, nên việc giới thiệu chắc chắn không đầy đủ và bao quát hết được ấn chương những giai đoạn này. Vì vậy bố cục cuốn sách chúng tôi cố gắng sắp xếp cân đối trong việc phân chia chương mục.

Ấn chương từ thời Lê sơ đến Tây Sơn được tập hợp vào chung phần thứ nhất, trong đó ấn chương thời Lê sơ, Mạc và Lê Trung hưng với số tư liệu chỉ đủ để giới thiệu một cách khái quát và sơ lược. Riêng thời Tây Sơn tuy ngắn ngủi nhưng tư liệu về cơ bản đã bao quát được ấn chương của vương triều này. Ở phần I, bối cảnh lịch sử của ấn chương được trình bày như một lời dẫn nối gắn với thực trạng ấn chương của mỗi triều đại. Người đọc chắc sẽ cảm thấy thiếu vắng, sơ sài, song thực tế tư liệu không cho phép chúng tôi đi xa hơn khi chưa có đủ căn cứ chắc chắn.

Ấn chương Việt Nam thời Nguyễn ở phần II được giới thiệu nhiều và chi tiết hơn các thời kì trước. Tư liệu thời kì này khá phong phú song cũng chưa thể đại diện đầy đủ hết mọi phương diện của ấn chương giai đoạn này, nhất là xét về hiện vật ấn chương. Từ Kim ngọc Bảo Tỉ của hoàng đế đến ấn tín tư nhân thời Nguyễn, chứng tôi đã cố gắng dựng lại bức tranh ấn chương thời Nguyễn tương đối hoàn chỉnh để qua đó có thể ít nhiều hình dung ra phần nào ấn chương các triều đại trước đó.

Chúng tôi tuyển chọn giới thiệu 223 hình ấn và dấu minh họa trong bộ sưu tập mà chúng tôi thu thập được. Ảnh minh họa gắn với nội dung giới thiệu mô tả của mỗi quả ấn hay hình dấu trên văn bản và được sắp xếp theo trật tự triều đại từ thời xưa đến cuối thời Nguyễn. Mỗi quả ấn, hình dấu được đánh số thứ tự riêng. Hiện vật ấn được minh họa dưới các hình thức sau:

Nếu có 4 kiểu thì được ghi là: mặt trên ấn (a), núm ấn (b), mặt đế ấn (c) và dấu (d).

Nếu có 3 kiểu thì ghi là: núm hoặc mặt trên ấn (a), mặt đế ấn (b) và dấu (c).

Nếu có 2 kiểu thì ghi là: núm ấn hoặc mặt trên ấn (a) và dấu hoặc mặt đế ấn (b).

Ảnh minh họa gồm hiện vật, hình dấu,văn bản lẫn hình dấu được ghi là H. (hình), thứ tự từ H.1 đến H.233. Kích cỡ to nhỏ của ảnh minh họa làm theo hình thức bố cục cân đối phù hợp với mỗi trang sách phần mục riêng, không phụ thuộc vào kích cỡ thật của hiện vật, hình dấu và văn bản.

Hiện vật ảnh minh họa được gọi chung là ấn, không gọi kiểu cách phân loại loại hình như Quan phòng, Đồ kí, Kiềm kí v.v… Tên ấn hoặc dấu được đặt theo cách gọi của nội dung văn khắc chữ Triện ở chính văn.

Hình dấu có thể đứng độc lập hoặc nằm trong một văn bản Hán Nôm khác. Nếu hình dấu nằm trong một văn bản khác sẽ được ghi liền với niên đại của văn bản và chỉ viết hoa chữ ghi niên hiệu.

Về việc viết hoa tên ấn, dấu, nhân danh, địa danh, niên hiệu, can chi và tên chức quan trong nội dung văn khắc ấn, dấu, chúng tôi tạm theo một quy định riêng, xin giới thiệu vắn tắt dưới đây để bạn đọc tiện theo dõi.

- Phần chính văn: đối với chữ Hán khắc ở mặt trên ấn, chữ Triện ở mặt đế ấn (đối với hiện vật) và nội dung chữ trong hình dấu (đối với dấu trong văn bản) khi phiên âm, chỉ viết hoa đối với chữ niên hiệu, địa danh, nhân danh và không viết hoa tên chức quan. Khi dịch, viết hoa tên niên hiệu, địa danh, nhân danh, can chi và tên chức quan.

Chú thích ảnh: Tên ấn và dấu (gọi theo phiên âm) viết hoa tên niên hiệu, địa danh, nhân danh; không viết hoa tên chức quan.

Để công tác in ấn được thuận lợi, chúng tôi không in ảnh màu minh họa xen kẽ trong phần nội dung mà chọn 32 trang ảnh màu để ở phần phụ lục cuối sách. Trong đó những ảnh nào trùng lặp với ảnh đen trắng thì xếp ở trước và ghi số thứ tự ảnh giống như ở nội dung sách. Còn số ít ảnh màu thêm vào dùng để tham khảo thì xếp ở phía sau và cuối phần phụ lục.

Ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX được hoàn thành, chúng tôi hi vọng đó là sự khởi đầu cho bộ môn ấn chương học Việt Nam và mong muốn sẽ có nhiều người tham gia với những bài viết và công trình kế tiếp.

Trong quá trình biên soạn công trình, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều học giả, đồng nghiệp trong và ngoài Viện Nghiên cứu Hán Nôm, từ Hà Nội qua Huế tới Sài Gòn - Nam Bộ, từ những ý kiến mang ý nghĩa học thuật đến việc cung cấp một vài hình dấu tư liệu cụ thể. Nhân đây chứng tôi xin được bày tỏ lòng tri ân với tất cả, đặc biệt là GS. Hà Văn Tấn người đã cho chúng tôi nhiều ý kiến quý báu trong việc hoàn thành công trình.

Thực hiện công trình, chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ của lãnh đạo và cán bộ ở các cơ quan như Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, Trung tâm Lưu trữ trung ương II - thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - thành phố Hồ Chí Minh và đặc biệt là Toyota Foundation của Nhật Bản - đơn vị đã tài trợ cho việc biên soạn và xuất bản cuốn sách này. Nhân đây chúng tôi xin được bày tỏ lời cám ơn sâu sắc nhất.

Quá trình biên soạn công trình chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, tuy đã cố gắng hết sức song chắc chắn còn không ít thiếu sót, chúng tôi xin được lĩnh giáo ý kiến xây dựng bổ sung của quý độc giả để khi tái bản cuốn sách được sửa chữa hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cảm ơn.

Hà Nội tiết lập thu năm Giáp Thân 2004

NGUYỄN CÔNG VIỆT

 

PHẦN MỞ ĐẦU

KHÁI QUÁT VỀ ẤN CHUƠNG HỌC VÀ ẤN CHUƠNG VIỆT NAM


I. Khái luận về ấn chương và ấn chương học

Trên thế giới, ở các quốc gia, các dân tộc có lịch sử văn hiến cũng đều tồn tại hệ thống ấn chương. Lịch sử xuất hiện ấn chương ở mỗi quốc gia khác nhau có nhiều điểm khác biệt, song tựu trung điểm thống nhất cơ bản là sự gắn bó mật thiết giữa lịch sử ấn chương với sự hình thành và phát triển của lịch sử thành văn.

Trung Quốc, cái nôi của văn hóa Đông phương có lịch sử thành văn đã mấy nghìn năm, sự ra đời của ấn chương cũng gắn liền với sự hình thành và phát triển của lịch sử thành văn Trung Quốc. Ấn chương Trung Quốc gọi là “Tỷ” 璽, tương truyền ấn chương xuất hiện từ thời Hoàng Đế (khoảng năm 2500 TCN). Cổ tịch Trung Quốc mà tác giả sống thời Hán đã ghi lại về sự xuất hiện rất sớm của ấn tỷ trong sách Xuân thu vận đẩu khu: “Hoàng Đế thời hoàng long phụ đồ trung hữu tỷ chương”[6] (Thời Hoàng Đế có con rồng vàng đội bức địa đồ trong đó có tỷ chương). Sách Hậu Hán thư - Tế tự trí hạ ghi lại về nguồn gốc của ấn chương “Thời Tam Hoàng không có văn tự, cai trị bằng tết thừng, từ Ngũ Đế trở về sau có thư khế văn tự, đến đời Tam Vương (Hạ Kiệt, Thương Thang, Chu Văn Vương và Võ Vương) tục hóa Triện văn, sau mới có tỷ ấn…”[7]. Trong sách Dật Chu thư - Ân chúc giải cũng ghi rằng khi vua Thành Thang đuổi Kiệt, đại hội chư hầu, Thành Thang đã nhận được ngọc tỷ và lên ngôi Thiên tử.

Về sự xuất hiện của Tỷ ấn gắn liền với việc chính thức phát minh và sử dụng văn tự trong quá trình phát triển xã hội Trung Quốc cổ trên mọi lĩnh vực. Văn giáp cốt thời Ân - Thương được người ta coi là những văn tự tượng hình sớm nhất ở Trung Quốc nhưng bản thân nó lại bị giới hạn về nội dung và phạm vi sử dụng, nên nó không thể bao quát hết được văn tự nói chung của thời kỳ Ân - Thương. Những phát hiện khảo cổ học tìm thấy chứng tích thời Ân ở An Dương - Hồ Nam cũng không giúp cho việc khẳng định nguồn gốc ấn chương thời cổ một cách chính xác. Có ý kiến cho rằng đó là những di vật thời Tây Chu trên mặt có khắc hình văn tự hoặc phù hiệu nhưng không thể đọc nhận biết chính xác được và trong đó không có gì liên quan đến ấn chương. Người khác lại cho rằng trong đó có tín hiệu về ấn chương Trung Quốc. Tương tự trong khai quật mộ táng thời Tây Chu tuy không phát hiện ấn tỷ, nhưng có chứng tích về phù tiết của một chủng thị tộc thuộc đất nước Trung Hoa. Có ý kiến cho rằng “Tiết” (節) có nhiều loại dùng và tên gọi, ấn chương gọi là Tỷ tiết trên khắc quan danh, tên họ dùng làm tín vật…

Có thể tin rằng khởi nguyên của Tỷ ấn ở Trung Quốc vào thời Xuân Thu. Sách Quốc ngữ - Lỗ ngữ chú rằng “… Tỷ, ấn dã; Tỷ thư, ấn phong thư dã” (Tỷ là ấn, tỷ thư là sách có ấn niêm phong). Thời đó người Trung Quốc vẫn dùng thẻ tre và vỏ cây làm giấy viết văn thư cả việc công lẫn việc tư khi gửi đều dùng dây buộc lại, chỗ nút buộc người ta dùng đất bùn đánh dấu lên trên để làm tin. Khi tiếp nhận chỗ đất đánh dấu còn nguyên hoặc không có vết nghi ngờ thì công việc truyền tin đó coi như đã hoàn thành. Dần dần những chỗ đánh dấu bằng đất bùn đó được làm cẩn thận, kỹ thuật hơn và có những ký hiệu truyền tin riêng biệt để tránh sự giả mạo. Có thể nói đó là lịch sử xuất hiện của ấn chương Trung Quốc, hoặc nói một cách khác ấn chương sau này đã tiếp thu tinh thần đánh dấu bằng bùn đất và người ta đã làm ra loại hình văn ấn gọi là “Nê phong”, hoặc “Phong nê”, tức là vẽ, viết chữ tượng hình trên khuôn đất bùn để đánh dấu làm tin.

Trải qua quá trình phát triển, ấn chương đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và văn hóa nghệ thuật, có vị trí một khoa học độc lập gọi là ấn chương học.

Ấn chương học: Sigillographie - Theo cách gọi của giới nghiên cứu cổ sử. Ấn chương học: Sphragistics - Theo cách gọi của các nhà nghiên cứu Ngữ văn học. Ấn chương (印章) theo cách giải thích của các nhà nghiên cứu Trung Quốc đương đại thì chữ “ấn” (印) có chữ gốc từ chữ “ức” (抑) nghĩa là ấn xuống dưới. Tượng hình chữ là một bàn tay to ấn mạnh xuống một người nhỏ bé đang quỳ. Về sau mở rộng nghĩa thành chữ ấn (là ấn chương) mà ngày nay người ta gọi là con dấu, vì khi đóng dấu cần động tác ấn mạnh xuống. Chương (章) nghĩa gốc là đánh dấu, sau này cũng như chữ “ấn” nó biểu tượng cho con dấu khi động độc lập và là tên gọi của một bộ môn khoa học khi đi liền với chữ “ấn” gọi là ấn chương học.

Ở các nước phương Tây, ấn chương học tồn tại với ba chức năng chính:

1. Sự kết thúc (clore).

2. Khẳng định quyền sở hữu (propriété).

3. Khẳng định tính chân thực (authentifier).

Ở nhiều trường hợp ba chức năng này tồn tại độc lập, tách rời nhau, nhưng nhiều khi chúng cũng phải kết hợp với nhau trong một loại hình văn bản hoàn thiện đa năng.

Ở các nước phương Đông mà điển hình là Trung Hoa, ấn chương ngoài những chức năng trên còn một chức năng quan trọng nổi bật là biểu tượng của pháp chế quyền lực, thể hiện rõ nét chế độ pháp quyền quân chủ chuyên chế phong kiến phương Đông.

Sự hình thành, tồn tại và phát triển của ấn chương gắn bó chặt chẽ với chế độ xã hội trên mọi lĩnh vực chính trị, tôn giáo, quân sự, kinh tế v.v… Khi xã hội có sự biến động, thay đổi, phân chia giai cấp, đẳng cấp rõ ràng hơn đã xuất hiện các loại hình ấn chương khác nhau. Ấn chương không chỉ mang ý nghĩa đánh dấu tín vật làm bằng chứng mà còn thể hiện rõ chức năng biểu thị quyền lực, pháp chế, tăng thêm tính pháp quyền của giai cấp thống trị. Đây là lý do cơ bản cho việc tồn tại, phát triển và hoàn thiện hệ thống ấn chương từ những thời kỳ đầu chế độ phong kiến.

Nói đến quyền lực pháp chế của giai cấp thống trị ở xã hội phương Đông xưa là phải nói đến Hoàng đế. Hoàng đế giữ quyền tối cao định đoạt tất cả mọi việc, thay trời hành đạo, trị vì thiên hạ. Chính vì vậy, việc chế tác và sử dụng ấn chương của Hoàng đế được đặc biệt chú trọng, và đôi khi nhuốm cho nó màu sắc tôn giáo siêu hình. Từ việc chọn chất liệu quý như ngọc để tạo tác, đến việc khắc chữ, chạm hình rồi đặt tên, tế lễ v.v… cho ấn ngọc, ấn vàng. Như ở Trung Quốc ấn của vua được gọi là Tỷ rồi Bảo, nó được coi là báu vật của quốc gia và tượng trưng cho Đế quyền. Là Thiên tử, Hoàng đế nhận mệnh của Trời, nên họ đã cho chế tác ấn quý khắc chữ có nội dung “Vua nhận mệnh Trời” để dùng làm ấn truyền quốc. Ví dụ như Ngọc tỷ Thụ mệnh vu thiên ký thọ vĩnh xương (Nhận mệnh ở Trời được sống lâu thịnh vượng)[8], Đại Tống thụ mệnh chi bảo (Bảo ấn của Đại Tống nhận mệnh ở Trời)[9], Hoàng đế phụng thiên chi bảo (Bảo ấn của Hoàng đế phụng mệnh Trời)[10] v.v…

Tính pháp quyền của ấn chương còn được thể hiện rõ ở hệ thống ấn chương trong tổ chức chính quyền từ trung ương đến địa phương, từ lực lượng quân đội đến cơ quan dân sự. Vua và triều đình đặt cấp, phong chức trao quyền cho văn quan võ tướng, đồng thời là việc ban cấp ấn tín để sử dụng trong công vụ. Đó là biểu tượng của pháp chế quyền lực, mà bản thân người được giao nhận ấn tín và đối tượng liên quan phải chấp hành nghiêm cẩn, cấp dưới hay binh lính cũng như quảng đại quần chúng phải tuân thủ tuyệt đối khi nhìn thấy hình dấu in trên văn bản mà không cần phải trông thấy sự hiện diện của một quả ấn cụ thể nào. Mỗi một loại ấn tín đều có cách sử dụng riêng được dùng cho một hay vài loại văn bản chỉ định, đó là những quy định bất biến được lập thành pháp luật mà bản thân người nhận quyền dùng ấn phải chịu trách nhiệm. Đối với quan lại tướng lĩnh đánh mất ấn tức là đánh mất chức vụ quyền lực, đối với Hoàng đế và triều đình để mất Tỷ, Bảo truyền quốc tức là để mất ngôi mất nước.

Trong thời kỳ đầu xã hội phong kiến ở các quốc gia phát triển với nền kinh tế ngày một hưng thịnh, giao lưu thương trường gia tăng, các đô thị mới hình thành. Ấn chương lúc này không chỉ còn là đặc trưng của cơ cấu quyển lực quốc gia nữa, mà nó đã phát triển ra ngoài xã hội gắn với kinh tế thị trường, trở thành biểu tượng trong hoạt động và sinh hoạt xã hội thường ngày của tất cả mọi người trong cộng đồng xã hội. Từ những ký hiệu đánh dấu đến hình dấu mang ý nghĩa tín vật làm bằng chứng phát triển thành con dấu, ấn chương gắn với giao lưu thương phẩm hàng hóa. Đa số các gia tộc lớn tham gia sản xuất hàng hóa và buôn bán trên thương trường đều có ấn tín riêng. Đó là những quả ấn nhỏ được làm nhiều kiểu khác nhau được dùng đánh dấu vào một số loại hàng hóa, đóng dấu vào bản giao kèo mua bán, vào giấy làm tin v.v… Ấn tín này thể hiện rõ những chức năng khẳng định quyền sở hữu và khẳng định tính chân thực của hàng hóa vật phẩm sản xuất và việc buôn bán trao đổi vật phẩm hàng hóa đó. Đó là những thứ mà cả xã hội phương Đông và phương Tây từ cổ chí kim đều phải sử dụng như dược liệu, vải vóc, quẩn áo, đồ trang sức và văn hóa phẩm v.v… không ít cổ vật trang sức có in hình dấu ấn còn được lưu giữ đến ngày nay.

Trong lịch sử phát triển, ấn chương không chỉ còn gắn bó riêng với quyền lực luật pháp hay hoạt động sinh hoạt xã hội nữa mà đã trở thành một bộ phận không thể thiếu được của nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ, hội họa, thư pháp. Điều này thấy rõ ở những quốc gia lớn có nền văn minh sớm như Trung Quốc. Nghệ thuật điêu khắc chạm trổ nhìn từ góc độ ấn chương ở Trung Quốc thật hoàn mỹ và phong phú. Núm ấn đa phần được làm theo hình thú vật mà chủ yếu là con thú trong tôn giáo tín ngưỡng hay biểu tượng của chúa tể trong loài vật như rồng, phượng, hổ, sư tử, rùa, lân, lạc đà v.v… Đó là những hình tượng sống động tượng trưng cho cái cao cả, uy quyền của bậc đế vương, cho cái đẹp rực rỡ uy nghi của Hoàng hậu, cái mạnh mẽ hùng tráng của Đại tướng quân v.v… Đối với ấn tín tự do ngoài xã hội thì tính sáng tạo ngày một được nâng cao với sự đa dạng và hoàn mỹ. Từ những chất liệu thiên tạo có sẵn như ngọc, đá, sừng, xương thú, các nghệ nhân đã tạo tác ra các quả ấn nhiều dáng vẻ khác nhau. Đó là những tác phẩm nghệ thuật sinh động góp phần không nhỏ trong sự phát triển đi lên của nghệ thuật điêu khắc chạm trổ ở mỗi quốc gia, dân tộc. Điều này không riêng gì Trung Quốc mà còn thấy ở một số nước phương Tây và Hồi giáo.

Cũng như điêu khắc, hội họa và thư pháp Trung Quốc hầu như không tách rời ấn chương. Trên những bức tranh và thư pháp không chỉ thấy một mà nhiều hình dấu đóng ở các vị trí khác nhau, nó là sự hình thành phong cách đặc biệt “Thi thư ấn họa” chỉ có trong hội họa và thư pháp Trung Quốc. Ấn chương đã góp phần đưa hội họa và thư pháp Trung Quốc lên đỉnh cao giá trị nghệ thuật.

Sự thành công của ấn chương dẫn đến việc thưởng thức nghệ thuật khắc ấn cùng “Thi thư ấn họa”, rồi từ đó nó trở thành thú tiêu khiển của tầng lớp trí thức, quan lại quý tộc và thương gia giàu có đương thời. Thậm chí không ít vị Hoàng đế Đông phương cũng đã bỏ nhiều thời gian, tiền bạc cho việc chế tác, sử dụng và thưởng thức ấn chương cùng “Thi thư ấn họa”. Người ta gọi đó là “Tư chương” và “Nhàn chương”, mà đối với các vị Hoàng đế và quan lại, trí thức hay chữ, nó là những vật dụng thân thiết luôn mang theo bên mình.

Nghệ thuật khắc ấn ngày một tinh mỹ, đa dạng, hình thành các trường phái riêng biệt với nhiều Triện khắc gia nổi tiếng, còn ấn chương nói chung dần dần trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều cá nhân, nhiều trường phái; rồi từ đó xuất hiện những bài viết và tác phẩm về ấn chương. Qua nhiều giai đoạn lịch sử dưới các triều đại phong kiến khác nhau, chỉ tính riêng Trung Quốc đã có hàng mấy trăm tác gia và tác phẩm tiêu biểu viết về ấn chương học.

II. Khái lược về ấn chương học Trung Quốc

Sự xuất hiện của ấn chương Trung Quốc gắn liền với sự phát triển của lịch sử thành văn Trung Quốc. Bên cạnh Cổ tiền học (Numismatics) và Minh văn học (Epigraphics), ấn chương học (Sphragistics) là viên đá lớn trong nền móng của lịch sử thành văn Trung Quốc giúp ích cho công tác nghiên cứu lịch sử ngôn từ.

Qua nhiều công trình nghiên cứu về ấn chương từ cổ đến nay, các nhà khoa học Trung Quốc đã khẳng định ấn chương Trung Quốc đã có từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc (770 - 255 TCN).

Thời Xuân Thu, nền nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp của các nước chư hầu lớn đã phát triển mạnh, giao lưu thương phẩm phồn thịnh, công nghệ tạo đúc đồng xanh tiến bộ, nhu cầu trong kinh tế xã hội đòi hỏi dẫn đến việc sản sinh ra ấn tỷ làm tín vật bằng chứng. Giai đoạn này đã xuất hiện việc chế tạo ấn chương bằng đồng và bằng đất nung. Các thời kỳ sau đó, việc làm và sử dụng ấn chương ngày một thịnh, cho đến bây giờ người Trưng Hoa còn lưu giữ được những hiện vật và tài liệu về ấn chương từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc. (H.1&2)[11]





Tỷ là cách gọi của ấn chương Trung Quốc trước thời kỳ Tần Thủy Hoàng thống nhất lục quốc tức là thời Tiên Tần, giai đoạn này từ vương công quý tộc đến thứ dân đều dùng Tỷ không phân biệt. Chữ Tỷ ấn văn đương thời lúc đó có nhiều kiểu viết chữ, có chữ thì chỉ quả ấn có chất liệu bằng bùn đất, có chữ thì chỉ loại ấn có chất liệu thuộc kim loại. Ban đầu Tỷ ấn đều được làm từ đất bùn và Tỷ ấn bằng kim loại thì được làm ở giai đoạn sau, khi mà xã hội đã phát triển.

Thời Tiên Tần, cơ cấu chính quyền ngày một hoàn thiện, vai trò của ấn chương bắt đầu định hình với chức năng tín vật làm bằng chứng và tượng trưng của quyền lực. Đương thời quốc thư của trung ương vương thất và các nước chư hầu cùng các khế ước của cấp dưới đến thứ dân đều đóng dấu ấn chương, kiềm cái coi là tín vật bằng chứng của tín ước. Cơ cấu quyền lực các cấp cần tuyên bố chính lệnh, chính sách cho dân chúng đều dùng ấn làm tín vật quyền uy. Chính phủ trao quyền mệnh cho quan lại cấp dưới cũng phải ban cấp ấn chương coi đó là tiêu chí của chức vụ cấp bậc trong hoạt động công vụ.

Trong hoạt động kinh tế chức năng ấn chương được coi là tiêu chí vật chứng trong các việc thu thuế, quản lý chợ quan, kiểm nghiệm thương phẩm, cấm hoặc không các loại vật phẩm lưu thông ở thương trường.

Giai đoạn này công nghệ tạo đúc đồng phát triển, một số ít ấn chương được dùng là ấn phôi tức là loại ấn chưa qua đúc, nhưng được khắc chữ trực tiếp lên ấn còn đại đa số là ấn đúc, tức là khắc chữ lên ấn rồi qua công nghệ đúc mới đưa vào sử dụng. Công nghệ chế đúc ấn chương thời kỳ này ngày một tiến bộ và tinh mỹ.

Ấn văn trên cổ tỷ của các nước ở giai đoạn này về thể mạo đều giống nhau gọi là “Lục quốc cổ văn” theo thể chữ Đại Triện, hình thành một phong cách riêng. Nhìn tổng thể công nghệ tạo đúc khắc hình thể và ấn văn thời Tiên Tần đã đạt những thành tựu lớn, ảnh hưởng nhiều đến quá trình phát triển của ấn chương các giai đoạn sau này.

1. Ấn chương thời Tần - Hán

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc xây dựng quốc gia trung ương tập quyền, xây dựng cải cách chế độ trên nhiều lĩnh vực trong đó có quy định về việc chế tác và sử dụng ấn chương. Quy định ấn chương của Hoàng đế sử dụng là phải lấy ngọc thạch của nước Sở để điêu khắc và phải gọi là Tỷ (璽), quan lại và người bình thường dùng ấn thì gọi là ấn (印) và Chương (章), còn đặt ra loại “phù tiết hợp thừa” dùng cho cơ cấu chuyên môn, thực thi chế độ giám quản ấn tỷ, cấm việc lạm dụng chế tác ấn chương không theo quy định.

Ngọc Tỷ của Hoàng đế từ giai đoạn này được coi là báu vật của quốc gia và tượng trưng cho hoàng quyền, việc sử dụng và quản lý giữ gìn Ngọc Tỷ được thực hiện theo quy chế nghiêm cẩn, mất Ngọc Tỷ tức là đã tượng trưng của việc mất nước.

Thời Tần, ấn chương của quan viên và trăm họ về hình thể cũng tương tự như ấn chương thời Chiến Quốc, nhưng chủ yếu dùng nguyên liệu bằng đồng để đúc, núm ấn thường làm đơn giản. Tư ấn được tạo tác tinh mỹ cẩn thận hơn, núm ấn thường làm theo hình thú vật.





Khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi Hoàng đế đã sai quan Lý Tư chế định ra chữ Tiểu Triện trên cơ sở chữ Đại Triện có quy chỉnh và giản hóa hơn. Hình chữ Tiểu Triện thường khuôn theo hình vuông, kiểu chữ điền (田) nét chữ linh hoạt, đẹp đẽ hơn, tuy khuôn vuông nhưng vẫn thể hiện nét mềm mại uyển chuyển. Chữ Tiểu Triện gần như 100% được dùng làm thể chữ khắc trên các loại Tỷ, ấn, chương và danh từ ấn triện xuất hiện từ đây để chỉ tất cả các loại ấn khác nhau có khắc chữ Triện. Danh từ này tồn tại đến ngày nay và truyền sang các nước khu vực qua giao lưu văn hóa trong đó có cả Việt Nam. (H.3 & 4)

Sang thời Hán, xã hội Trung Quốc phát triển trên các lĩnh vực, mọi điển chương chế độ được thực thi cơ bản theo điển chương chế độ thời Tần. Văn hóa nghệ thuật phát triển mạnh, xuất phát từ thực tế công tác chữ Lệ thư ra đời do sự sáng tạo của một số thư lại trong các nha môn ở trung ương cộng với một số học giả quan lại, Lệ thư chính thức nhập vào rừng nghệ thuật thư pháp Trung Quốc.

Ấn chương thời Hán sơ có đặc điểm quy chế hình thức giống như thời Tần, giai đoạn này sự phát triển hưng thịnh của ấn chương có những điểm cũng gần như thư pháp, tuy nhiên nó vẫn mang nét đặc thù riêng biệt của thể loại ấn chương. Mặc dù chữ Lệ đã ra đời nhưng trong ấn chương vẫn dùng chữ Triện làm thể chữ khắc trên ấn, chỉ có một ít ấn được khắc kiểu Triện - Lệ theo phong cách thư pháp, chủ yếu dùng trong giới nghệ thuật thư pháp mà không sử dụng trong công tác hành chính.

Ấn chương thời Hán phần lớn được tạo đúc kiểu “Bạch văn” (白文) tức là khắc hoặc làm khuôn mà khi đóng dấu thì sẽ cho ra đời một hình dấu có nền màu mực và nét chữ sẽ là những nét trắng nên gọi là “Bạch văn”.

Phong cách văn tự trên ấn chương rất phong phú, chủ yếu và đặc sắc là những kiểu dáng “vuông vức ngay thẳng”, “đoan trang đầy đặn”. Thể văn khắc trên ấn chương rất sinh động với đường nét cong khuôn vòng vừa phải, nét đậm không to quá, nét nhỏ không mảnh quá, chỗ mau chỗ thưa nhưng vẫn giữ được sự cân đối hài hòa, bố cục tự nhiên nhưng vẫn theo quy tắc nhất định.

Hình thức ấn chương thời Hán rất đa dạng với nhiều dạng kiểu hình vuông, tròn, chữ nhật. Núm ấn được làm theo hình thú vật mà chủ yếu là con thú trong tôn giáo tín ngưỡng Trung Quốc như thanh long, bạch hổ, huyền vũ, chu tước và đồ hình tứ linh long, ly, quy phượng. Ngoài ra núm ấn cũng được khắc chạm một số loại thú khác như sư tử, lạc đà, ngựa, chim v.v… nó biểu tượng sự tốt đẹp hùng tráng với nhiều động tác cách điệu sinh động, nó khẳng định sự sáng tạo của các nghệ nhân khắc ấn thời Hán.

Bút họa khắc ấn văn ngoài thể chữ Triện và Triện - Lệ, các nghệ thuật gia thời Hán đã biến hóa cách điệu thành hình các muông thú khác như loài chim, loài cá, loài trùng hình thành phong cách “Điểu trùng thư ấn”.

Văn khắc trên ấn ngoài những đặc điểm cơ bản như trên người ta thường dùng những câu cát ngữ như “Lợi nhật”, “Xuất nhập đại cát”, “Nhật hữu thiên vạn” v.v…



Điển hình ấn chương thời Hán vẫn là Ngọc Tỷ của Hoàng đế, khi Hán Cao Tổ Lưu Bang diệt Tần tiến quân vào Hàm Dương, vua Tần phải buộc dây Ngọc Tỷ truyền đời vào cổ dâng quốc gia cho Lưu Bang và Lưu Bang đã phong ngọc tỷ đó là Truyền quốc tỷ. Thời Hán còn làm thêm một số ngọc tỷ khác dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại đó là Hoàng đế hành tỷ, Hoàng đế tín tỷ, Thiên tử hành tỷ, Thiên tử tín tỷ, v.v… thường gọi là “Lục tỷ”. Các ngọc tỷ này đều được làm rất công phu có núm hình rồng, hổ, hoa văn chạm khắc tinh xảo và văn khắc đều dùng thể chữ Tiểu Triện. Ấn chương thời Hán đã khẳng định sự phát triển đi lên và chiếm vị trí huy hoàng trong truyền thống lịch sử văn hóa nghệ thuật Trung Quốc. Ngày nay người Trung Quốc vẫn còn lưu giữ được một số ấn chương giai đoạn này. (H.5 & 6).

2. Ấn chương thời Đường - Tống

Chế độ ấn chương đến đời Đường - Tông ngày một hoàn bị hơn các thời kỳ trước, việc chế tác chạm khắc ấn, hoa văn và thể chữ cũng có những quy định rõ ràng. Đến đời Võ Tắc Thiên nhận thấy chữ Tỷ (璽) đồng âm với chữ Tức (息) tượng trưng cho sự chết chóc, cho nên năm Diên Tái nguyên niên (năm 694) đổi Tỷ thành Bảo (寶) và quy định các loại ấn chương về hình thức, kích thước lớn nhỏ, dầy mỏng v.v… đều có tiêu chí nhất định. Giai đoạn này số lượng quan ấn tăng gấp bội (do cải cách, tăng thêm chức quan ?), quy định quan ấn nhất luật dùng “Chu văn” (朱文). “Chu văn” còn được gọi là “Dương văn” (陽文) tức là nét chữ được khắc nổi khi áp vào mực son đóng xuống văn bản thì nét chữ sẽ có màu đỏ và khoảng trống là màu trắng.

Đến đời Đường Trung Tông không theo cách của Võ Tắc Thiên lại đổi Bảo thành Tỷ như cũ, sang đời Đường Huyền Tông đổi lại gọi là Bảo và từ đây về sau ấn chương của Hoàng đế thống nhất cách gọi là Bảo.

Thời Đường - Tống phương thức tạo tác có khác thời Tiên Tần và Hán, “Bạch văn” đã được thay thế bằng “Chu văn”. Bố cục nét chữ trên mặt dấu được chú trọng, tiết diện mặt dấu của ấn chương trước đây còn để nhiều khoảng trống, đến đây đã xuất hiện thể chữ mới lấp khoảng trống trên mặt dấu. Tức là thể chữ khắc trên dấu được kéo dài ra hơn uốn khúc nhiều lần hình thành một thể chữ gọi là Thượng phương Đại Triện (尚方大篆).

Giai đoạn này văn hóa nghệ thuật phát triển đồng thời với sự gia tăng hoàn thiện của ấn chương nên đã xuất hiện các quan chức chuyên thu tàng ấn chương trên cơ sở thu tàng thư pháp, hội họa và nghệ thuật phẩm ở cung đình. Hoàng đế thường xem các công trình sưu tập ấy (thư, thi, họa) ban lời khen rồi đóng Tư chương của mình lên. Thi, thư, họa và ấn cùng phát triển tạo thành sự kết hợp một tác phẩm hoàn mỹ nên từ đó câu “Thi thư ấn họa” thường đi liền nhau để chỉ một tác phẩm nghệ thuật đã hoàn thiện. Bên cạnh việc viết chữ, vẽ tranh, làm thơ là việc chế tác ấn chương. Từ mục đích sáng tác nghệ thuật đã dẫn đến mục đích kinh tế và từ đây đã hình thành nghệ thuật khắc ấn. Nghệ thuật khắc ấn phát triển, đồng thời xuất hiện những bài viết và tác phẩm về ấn chương.

Thời Bắc Tống (960 - 1126) những tác giả khắc ấn viết về thi thư ấn họa nối tiếng đầu tiên phải kể đến Âu Dương Tu[12] (歐陽修). Năm 1061 ông soạn bộ Tập cổ lục (集古錄) gồm 10 quyển, và năm 1066 ông phụng mệnh làm Bảo ấn Hoàng đế tôn hiệu chi bảo. Tiếp theo là Tăng Củng[13] (曾鞏) là người đã tổ chức công trình lớn Kim thạch lục (金石錄) trên cơ sở Triện khắc cổ kim gồm trên 500 quyển. Tiếp nữa là Mễ Phấn[14] (米粉) là một thư pháp gia kiêm ấn chương triện khắc gia nổi tiếng đương thời. Một tác gia khác cũng được sách sử Trung Quốc nhắc tới là Dương Khắc Nhất (陽克一), năm 1107 ông đã soạn sách Tập cổ ấn cách (集古印格) 1 quyển.





Thời Nam Tống (1127 - 1279) có Nhan Thúc Hạ (顏叔夏) soạn Cổ ấn phả (古印譜) 1 quyển. Khương Quỳ (姜葵) làm sách Khương thị tập cổ ấn phả (姜氏集古印譜) gồm 4 sách. Còn phải kể đến Trương Đồng (張同) đã khắc ấn Trương Đồng chi ấn (張同之印) trên 4 cạnh của trống đồng cổ. Đây là một trong những hình ấn chương trên trống đồng sớm nhất còn giữ được đến nay, là một trong những sáng tạo đầu tiên của dòng Triện thư khắc vào trống ở Trưng Quốc. (H.7, 8 & 9)

3. Ấn chương thời Nguyên (1279 - 1368)

Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt sau khi định đô đã tuyên bố quy định việc dùng văn tự Bát Tư Ba của đế quốc Nguyên Mông khắp đất nước Trung Hoa. Quy định tất cả ấn chương của các quan lại ở các cấp chính quyền đều phải khắc theo thể chữ Bát Tư Ba. Đương thời tầng lớp quý tộc Mông Cổ làm ấn riêng cũng dùng thể chữ Bát Tư Ba khắc tên vào ấn có tác dụng như phù hiệu chuyên môn riêng biệt của dân tộc mình. Do đó ấn chương thời Nguyên đã xuất hiện một hình thức độc đáo mới là “Hoa giáp” (花鉀). Ấn Hoa giáp đều là Chu văn (朱文) hình thức thường làm hình hồ lô hoặc hình tỳ bà. Trên mặt ấn văn thì dùng chữ Hán thể Khải thư khắc tên họ, phía trước thì khắc tên Hoa giáp, loại này còn được gọi là “Nguyên giáp” (元鉀) và rất thịnh hành vào thời Nguyên.

Tuy nhiên, Hoa giáp hoặc ấn văn Bát Tư Ba chi lưu hành ở trong quan lại, tướng lĩnh và tầng lớp quý tộc Mông Cổ, còn tư ấn của quan viên và quảng đại dân chúng người Hán vẫn dùng ấn chương văn khắc theo thể Triện thư.



Thời Nguyên văn hóa nghệ thuật vẫn duy trì theo truyền thống cũ, sự kết hợp thi thư ấn họa đã hun đúc nên không ít những con người tài hoa của lĩnh vực này. Tiêu biểu là Tiền Tuyển (錢選) năm 1279 đầu thời Nguyên ông đã làm sách Tiền thị ấn phả (錢氏印譜). Ngô Khâu Diễn (呉丘衍) cuối năm 1287 làm sách Cổ ấn thức (古印式). Ngô Phúc Tôn (呉福孫) năm 1311 làm sách Cổ ấn sử (古印史) , Ngô Duệ (呉睿) năm 1322 làm sách Ngô Mạnh Tư ấn phả (呉孟思印譜), và sách Hán Tấn ấn chương đồ phả (漢晉印章圖譜). Chu Khuê (朱珪) năm 1359 làm sách Ấn văn tập khảo (印文集考). (H.10)

4. Ấn chương thời Minh - Thanh (1368 - 1911)

Thời Minh - Thanh xã hội Trung Quốc phát triển đến mức đi lên đỉnh điểm của thời kỳ phong kiến với rất nhiều biến động. Các lĩnh vực phát triển mạnh và tập trung chủ yếu ở thành thị. Ngoài Bắc Kinh và Nam Kinh còn xuất hiện hơn 30 thành thị mới. Nơi đây hội tụ khá đầy đủ tinh hoa của văn hóa nghệ thuật Trung Quốc đồng thời trong đó có không ít các Triện khắc gia và các nhà nghiên cứu ấn chương cả người Hán và người dân tộc khác.

Ấn chương thời Minh - Thanh chia làm hai xu thế thực dụng và nghệ thuật. Trong giao lưu quan hệ xã hội và kinh tế xu thế ấn chương thực dụng ngày một được chú trọng hoàn thiện phát triển. Trong sinh hoạt xã hội và hoạt động văn hóa nghệ thuật nhu cầu dùng ấn chương cũng cao hơn, phong phú hơn trước; khắc ấn không còn là công tác nghệ thuật hoặc thú tiêu khiển nữa mà đã trở thành một nghề thủ công nghiệp, làm kế mưu sinh của không ít người.

Thời kỳ này việc chế tác quan ấn đều theo quy cách chế độ khá hoàn bị. Đối với quan ấn có quy định rõ về chất liệu, hình thể, thể chữ khắc ấn v.v… Như quan ấn từ Hoàng đế đến các quan lớn trong triều dùng chất liệu bằng ngọc, vàng, bạc thể chữ dùng theo thể Thượng phương Đại Triện, ấn Tướng quân có chất liệu bằng đồng, thể chữ dùng lối Tiểu Triện v.v…

Quy định chế độ ấn chương nhà Thanh áp dụng như nhà Minh và sử dụng các thể văn tự Hán, Mãn, Mông và Tạng làm văn khắc ấn, trong đó hai loại văn tự Hán và Mãn được sử dụng để khắc quan ấn. Từ Bảo Tỷ của Hoàng đế đến ấn chương của quan lại và tướng lĩnh các cấp đều có quy định chế tác về chất liệu, hình thể, kích cỡ, thể văn tự, họa tiết nhất định. Như các Bảo Tỷ của Hoàng đế làm cỡ lớn, núm làm hình rồng chất liệu bằng vàng và ngọc. Buổi đầu khắc cả chữ Hán và chữ Mãn, chữ Hán khắc thể Triện thư, chữ Mãn khắc nguyên dạng văn tự Mãn. Đến năm 1749 vua Càn Long cho đổi khắc lại hơn hai mươi Bảo Tỷ vẫn để hai dạng văn tự Hán, Mãn trong một con dấu nhưng chữ Mãn được khắc uốn theo lối chữ Triện, còn một số Bảo Tỷ truyền quốc thì vẫn giữ nguyên như cũ.

Nghệ thuật Triện khắc thời Minh - Thanh phát triển mạnh ngày càng khẳng định đỉnh cao nghệ thuật của ấn chương Trung Quốc. Nghệ thuật hội họa, thư pháp ngày một tinh mỹ có tác động mạnh đến sự phát triển của nghệ thuật Triện khắc.

Người khắc ấn không chỉ là người tạo tác công nghệ sản phẩm, không chỉ làm các dụng cụ làm tín vật nữa mà đã trở thành những con người sáng tạo nghệ thuật phẩm, lưu thông văn hóa phẩm. Tác phẩm Triện khắc được xã hội thừa nhận, lưu truyền, từ đó hình thành phong cách nghệ thuật Triện khắc. Ở các địa khu kinh tế phát triển, số lượng các Triện khắc gia nhiều và tập trung hơn các nơi khác nên có sự giao lưu và kế tục, từ đó đã hình thành các trường phái Triện khắc gia ở mỗi địa khu. Những người khai sáng trường phái Triện khắc đồng thời còn là những nhà thư pháp, họa sĩ, nghiên cứu tài giỏi; họ đã đóng góp không nhỏ trong sự phát triển của ấn chương học nói riêng và văn hóa nghệ thuật nói chung.



Thời Minh (1368 - 1664) có không ít tác giả, tác phẩm viết về ấn chương, hàng trăm tác giả nổi tiếng với mấy trăm tác phẩm ra đời trong giai đoạn này. Tiêu biểu là Lã Chấn (呂震) soạn Lịch đại tỷ ấn phả (歷代璽印譜) năm 1428; Dương Nguyên Tường (楊元祥) soạn Dương thị tập cổ ấn phả (楊氏集古印譜) năm 1587; Trương Học Lễ (張學禮) soạn Khảo cổ chính văn ấn loại (考古正文印類) năm 1589; Lai Hành Học (來行學) soạn Tuyên Hòa tập cổ ấn sử (宣和集古印史) 8 sách năm 1596; Tô Tuyên (蘇宣) soạn Tô Tuyên ấn sách (蘇宣印册) năm 1605 và Tô thị ấn lược (蘇氏印略) năm 1617; Chu Giản (朱簡) soạn Ấn phẩm (印品) gồm 5 sách năm 1611; Hà Thông (何通) soạn Ấn sử (印史) năm 1623 ; Hạ Thụ Phương (夏樹芳) soạn Diễn lộ đường ấn thưởng (演露堂印賞) 8 sách năm 1633. Riêng năm Sùng Trinh thứ 14 (1641) đã có 11 tác giả với 11 tác phẩm viết về ấn chương, đồ sộ hơn cả là Kim Thân Chi (金申之) soạn bộ Kim thị khảo định ấn phả (金氏考定印譜) gồm 8 đầu sách.

Sang thời nhà Thanh (1644 - 1911) việc nghiên cứu ấn chương mới thật rực rỡ với mấy trăm tác gia tác phẩm khác nhau. Nổi bật là các tác gia Hồ Chính Ngôn (胡正言) với 3 bộ Ấn sử sơ tập (印史初集) làm năm 1645, Ấn tồn sơ tập (印存初集) năm 1646 và Ấn tồn huyền lãm (印存玄覽) hoàn thành năm 1660. Hứa Dung (許容) soạn Hứa Mặc công ấn phả (許默公印譜) năm 1674, Thuyết Triện (說篆) năm 1675, Ấn lược (印略) và Ấn giám (印鑑) năm 1689. Uông Cảo Kinh (汪鎬京) soạn Hồng thuật hiên ấn tồn (紅術軒印存) năm 1683, và Hoàng Sơn ấn triện (黄山印篆) năm 1696. Ba anh em Trương Tại Tân, Trương Tại Ất, Trương Tại Mậu soạn Trương thị nhất gia ấn tồn (張氏一家印存) năm 1720 và Triện tâm ấn pháp (篆心印法) năm 1738. Cao Phong Hàn (高風翰) soạn Tây viên ấn phả (西圓印譜) năm 1734, Chương Tông Mẫn (章宗閔) soạn Triệu Phong Phu tiên sinh ấn phả (趙風夫先生印譜) 8 quyển năm 1735 và hoàn thành bộ sách này vào năm 1745 với 12 quyển tiếp.

Chỉ tính riêng đời Quang Tự đã có 54 bộ sách của 45 tác giả viết về ấn chương. Tiêu biểu là Diêu Cẩn Nguyên (姚鄞元) với Hán ấn ngẫu tồn (漢印偶存) và Diêu thị ấn tồn (姚氏印存), Dương Thủ Kính (楊守敬) với Ấn lâm (印林) và Dương thị gia tàng đồng ấn phả (楊氏家藏銅印譜). Ngô Xương Thạc (呉昌碩) với Triện vân hiên ấn tồn (篆云軒印存). Riêng bộ Ấn lâm của Dương Thủ Kính có tới 14 đầu sách, trong đó có 3 sách nói về quan ấn với 115 hạng mục gồm 690 ấn, 8 sách nói về Tư ấn với 330 hạng mục gồm 2028 ấn, còn lại 3 sách với 192 hạng mục gồm 786 ấn, tổng cộng tất cả là 3504 ấn được nói tới.

Không riêng các nhà nghiên cứu, văn hóa mà cả giới tăng lữ Trung Quốc cũng viết về ấn chương. Thời Minh có hòa thượng Thích Long Thái (釋隆彩) soạn bộ Cổ kim ấn thưởng (古今印賞) năm 1627, Thích Tính Không (釋性空) soạn Ấn chương tiểu tập (印章小集) năm 1628. Đời Thanh có Hòa thượng Thích Tục Hạnh (釋續行) soạn bộ Mặc hoa thiền ấn cảo (墨花蟬印鎬) năm 1734 gồm 5 quyển và làm tiếp 1 sách của bộ này vào năm 1745. Hòa thượng Thích Trúc Thiền (釋竹蟬) soạn bộ Du hý tam muội (游戲三昧) in năm Quang Tự nguyên niên (1875) gồm 46 sách khảo chứng về 156 hạng mục ấn. (H.11, 12, 13 & 14)

5. Ấn chương Trung Quốc thế kỷ XX

Trung Hoa Dân Quốc được thành lập năm 1912 và tồn tại đến năm 1949. Đây là thời kỳ chiến tranh, nội chiến kéo dài trên đất nước Trung Hoa, nó đã hạn chế rất nhiều sự phát triển của văn hóa nghệ thuật nói chung và ấn chương học nói riêng. Tuy vậy ấn chương Trung Quốc vẫn tồn tại và không ngừng đi lên với hàng trăm tác gia và tác phẩm mới. Tiêu biểu là các tác gia La Chấn Ngọc (羅振玉) soạn nhiều tác phẩm lớn Khánh thất sở tàng tỷ ấn tục tập (磬室所藏璽印續集) năm 1912, Tề Lỗ phong nê tập tồn (齊魯封泥集存) năm 1927 , Ngô Ẩn (呉隱) soạn Tùy Am Tần Hán cổ đồng ấn phả (隨庵秦漢古銅印譜) năm 1914, Tùy Am ấn học tùng thư (隨庵印學叢書) năm 1920, La Phúc Di (羅福頤) soạn Đãi thời hiên ấn tồn (待時軒印存) 18 sách năm 1927, và 15 sách năm 1932; Ấn phả khảo (印譜考) năm 1931, La Phúc Thành (羅福成) soạn Thượng phù tỷ cổ ấn tập tồn (尚符璽古印集存) năm 1921, Kính ái sơn phòng ấn tồn (敬愛山房印存) năm 1942, Cao Thời Ngạc (高時鶚) soạn Nhạc chỉ thất cổ tỷ ấn tồn (樂只室古璽印存) và Nhạc chỉ thất ấn phả (樂只室印譜) năm 1944.

Nghiên cứu ấn chương giai đoạn hiện đại ở Trung Quốc có không ít tác gia, tác phẩm, trong đó tên tuổi của La Phúc Di sáng chói trong giới ấn chương học Trung Quốc. Các tác phẩm Ấn chương khái thuật (印章概述) năm 1963 , Hán ấn văn tự trưng (漢印文字徵) năm 1978, Bắc Nguyên quan ấn khảo (北元官印考), Tây Hạ quan ấn vựng khảo (西夏官印匯考), Cổ tỷ ấn khái luận (古璽印概論), Cổ tỷ văn biên (古璽文編) và Cổ tỷ vựng biên (古璽匯編) năm 1981. Cận bách niên lai đới cổ tỷ ấn nghiên cứu chi phát triển (近百年來戴古璽印硏究之發展) và Hán ấn văn tự trưng bí di (漢印文字徵祕遺) xuất bản năm 1982.

Ngoài ra còn các tác gia khác như Hàn Thiên Hành (韓天衡) soạn chung sách Tân ấn phả (新印譜) năm 1973, Thư pháp khắc tác (書法刻作) năm 1975, Trung Quốc triện khắc nghệ thuật (中國篆刻藝術) năm 1980, Ngũ bách niên lưu phái ấn chương nghệ thuật xuất tân đàm (五百年流派印章藝術出新談) năm 1982, Trung Quốc ấn học niên biểu (中國印學年表) năm 1987, Mã Quốc Quyền (馬國權) soạn bộ Triện khắc kinh điển đồ thích (篆刻經典圖釋) năm 1983. Từ Ngân Sâm (徐銀森) biên soạn Trung Quốc triện khắc (中國篆刻) năm 1994. Lưu Nhất Văn (劉一聞) soạn sách Ấn chương (印章) năm 1995. Tào Tề (曹齊) soạn Triện khắc chi mĩ (篆刻之美) năm 1996. Nhiệm Kế Dũ (任繼愈) soạn Trung Quốc đích ấn chương dữ triện khắc (中國的印章與篆刻) năm 1997. Tôn Úy Tổ (孫慰祖) soạn sách Ấn chương (印章) năm 1998 v.v…



Cho đến ngày nay Trung Quốc vẫn còn nhiều tác gia và trường phái nghiên cứu về ấn chương, Nhà nước và tư nhân vẫn lưu giữ cẩn trọng hiện vật ấn chương cổ xưa và các loại hình khác có liên quan đến ấn dấu. Nghệ thuật khắc ấn và phong cách “Thi thư ấn họa” vẫn còn lung linh khắp đô thị Trung Quốc như khẳng định tính vĩnh cứu của lĩnh vực này. (H.15 & 16)

III. Khái quát về ấn chương Việt Nam

1. Lịch sử nghiên cứu

Vấn đề nghiên cứu ấn chương Việt Nam từ xưa đến nay ít được các học giả chú ý tới. Tuy nhiên việc nhìn nhận đánh giá về vai trò, giá trị của ấn chương trong thể chế phong kiến đứng đầu là Hoàng đế của mỗi triều đại đã được Nhà nước phong kiến Việt Nam đặc biệt chú trọng. Hầu hết các bộ chính sử của nước ta tản mạn đều ghi về việc chế tác và sử dụng Bảo Tỷ, ấn chương của vua và triều thần. Việc ghi chép này thường sơ lược và mang ý nghĩa lịch sử như một số sự kiện khác mà sử quan phải làm.

Thời Nguyễn, các thành viên ở nội các đã hoàn thành bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ đồ sộ, trong đó quyển 83 và 84 ghi khá rõ về Bảo Tỷ, ấn triện các loại thời Nguyễn. Đây được coi là phần ghi chép đầy đủ nhất về ấn chương trong các bộ sách sử. Nội dung chủ yếu ở đây là những lời chỉ, dụ, chuẩn tấu, chuẩn nghị của vua và những quy định về việc chế tác, ban cấp, sử dụng, định lệ của mỗi một loại Bảo Tỷ, ấn, Chương, Quan phòng, Đồ ký, Kiềm ký, Ký, Triện. Tuy nhiên, đây cũng chỉ được coi là một số quy định và ghi chép sơ lược về ấn chương thời Nguyễn chứ chưa phải là một phần của công trình nghiên cứu ấn chương. Chúng tôi đã tìm được ở đây một tài liệu quý giá chuẩn xác trong việc nghiên cứu so sánh đối chiếu, trích dẫn tư liệu ấn chương thời Nguyễn.

Cuối thời Nguyễn một học giả Pháp là Pierre Daudin đã giới thiệu đề tài này trong Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises[15]. Mặc dù ở thời điểm thuận lợi nhưng tác giả không trình bày sâu về ấn chương mà ông chỉ giới thiệu sơ lược một vài loại hình ấn như Kim ngọc Bảo Tỷ, Tín ký và thống kê các chức vụ phẩm hàm của quan lại trong triều đình nhà Nguyễn. Cách đánh giá của ông thể hiện sự nhìn nhận tổng thể của một học giả châu Âu đối với vương triều Nguyễn lúc đó. Tuy nhiên chúng tôi cũng đánh giá cao học giả này và coi đây là tài liệu tham khảo có giá trị, so với tất cả các bài viết của các tác giả khác về ấn chương thời Nguyễn.

Sau Pierre Daudin, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã công bố một số tài liệu có in hình dấu thời Tây Sơn trong cuốn La Sơn phu tử[16]. Tuy tác giả không trình bày sâu về ấn chương Tây Sơn, nhưng việc giới thiệu một số văn bản và hình dấu cũng giúp ích nhiều cho chúng tôi về việc so sánh nghiên cứu ấn chương giai đoạn này.

Một học giả nổi tiếng quen biết chúng ta là Giáo sư Trần Kinh Hòa. Ông là người đầu tiên khai thác kho Châu bản quý giá triều Nguyễn và làm sách Mục lục Châu bản triều Nguyễn - Triều Gia Long[17]. Tác giả trình bày sơ lược một số Bảo Tỷ thời Nguyễn triều Gia Long nằm trong phần đầu giới thiệu Châu bản và Nội các. Đoạn nói về Bảo Tỷ tuy sơ lược, nhưng chúng tôi xem đó là tài liệu tham khảo có giá trị bên cạnh Pierre Daudin.

Mấy chục năm qua cũng có số ít tác giả đã giới thiệu về ấn chương Việt Nam trong những bài viết đơn lẻ. Đáng chú ý là những bài như Một số ấn đồng thời Lê Thánh Tông mới phát hiện tại Hà Nội[18], và bài Bước đầu tìm hiểu các ấn đồng cổ đã biết được ở nước ta của Nguyễn Văn Huyên. Trong bài viết tác giả chỉ giới thiệu số ít ấn đồng cổ trước thời Nguyễn ở Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội và có những nhận xét chung.

Nhiều năm qua trên báo chí công luận lẻ tẻ cũng có ít bài giới thiệu một vài quả ấn mới phát hiện được ở địa phương. Nhìn chung các tác giả trên cơ sở số ít hiện vật ấn chương ở một số Bảo tàng, hoặc những ấn mới tìm thấy, đã giới thiệu đơn lẻ từng quả ấn dưới góc độ của các nhà khảo cổ, bảo tàng và nghiên cứu lịch sử. Như vậy, cho đến nay có rất ít bài nói về ấn chương và chưa có một tác giả nào đặt vấn đề nghiên cứu ấn chương Việt Nam thành một đề tài có hệ thống.

2. Hiện vật ấn chương - khối tư liệu hiện vật quý giá, quan trọng trong công tác nghiên cứu ấn chương Việt Nam

Tháng 3 năm 1974 Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Ty Văn hóa Thanh Hóa đã tiến hành khai quật tại hai địa điểm Hoa Lộc và Phú Lộc nằm ở ven biển huyện Hậu Lộc - Thanh Hóa. Đây là những địa điểm được xác định có di tích hậu kỳ thời đại đồ đá mới. Tại đây đã phát hiện nhiều hiện vật là công cụ sản xuất, đồ trang sức bằng đá và một số cổ vật bằng gốm trong đó đặc biệt đã tìm thấy các con dấu hoa văn bằng đất nung. Ở địa điểm Hoa Lộc đã tìm thấy 11 con dấu hoa văn, còn ở Phú Lộc đã tìm thấy 14 con dấu hoa văn khác cùng 5 mảnh vỡ nhỏ của các con dấu nữa bị vỡ.

Năm 1977 hai nhà khảo cổ học Phạm Văn Kỉnh và Quang Văn Cậy đã giới thiệu các con dấu hoa văn trên dưới góc độ khảo cổ trong sách Văn hóa Hoa Lộc. Theo các nhà khảo cổ học thì: “Đây là loại hiện vật được làm bằng đất nung là loại đất sét pha trộn cát giống như chất liệu làm đồ gốm cùng tồn tại với chúng. Độ nung khá cao, rất rắn và màu sắc không hoàn toàn giống nhau. Căn cứ vào sự cấu tạo hình dáng và những đường nét khắc trên mặt của chúng, có thể đó là những vật dùng để in hoa văn.

Hình dáng của những dấu in này rất khác nhau và kích thước cũng không đều nhau. Một số chiếc có mặt in hình chữ nhật, một số hình bầu dục, một số có hình tròn và một số có hình vuông. Mặt in hơi lồi ra một chút và trên đó có khắc nhiều họa tiết rất khác nhau và cũng rất phức tạp. Lưng nổi cao lên như hình mu rùa mà ở giữa lưng trong đa số trường hợp đều có những núm nhỏ hình chóp hoặc hình bầu dục dẹt vừa cầm ở các đầu ngón tay, loại núm hình bán khuyên tương đối hiếm.

Những họa tiết trên mặt những con dấu này được khắc lõm khá sâu và đều đặn. Tất cả đều là những hoa văn hình kỷ hà rất phức tạp và cũng rất kỳ lạ nhưng không giống nhau giữa các tiêu bản. Không thấy có hoa văn hình người, động vật và cây lá.

Nhìn chung đó là những vật không được trau chuốt cẩn thận, cầu kỳ, hình dáng đơn giản, chất liệu thông dụng; ít tốn kém. Bởi vậy, chỉ có thể coi những hiện vật này là những đồ dùng bình thường trong sinh hoạt hàng ngày, không thể coi là những vật thiêng hoặc tượng trưng cho uy quyền nào đó.

Tuy vậy, chúng tôi cũng chưa xác định công dụng của những vật này một cách cụ thể. Tạm thời chúng tôi cho rằng đây không phải là những dấu in hoặc những bàn dập hoa văn trên đồ gốm, bởi vì trên tất cả các đồ gốm cùng tồn tại với nó không thấy có những hoa văn giống như các họa tiết trên mặt nhũng con dấu này. Dựa theo tài liệu dân tộc học, có thể đây là những con dấu dùng để in hoa văn trang trí trên nền vải hoặc trên người theo những phong tục có tính chất nghệ thuật hoặc tôn giáo nào đó…”[19].

Qua nghiên cứu xác định bằng các-bon phóng xạ tất cả các hiện vật trong đó có các con dấu in hoa văn trên, các nhà khảo cổ học đã ước định được niên đại của chúng sớm nhất trong khoảng thế kỷ XV - XVI (TCN). Hai nhà khảo cổ học còn khẳng định “Với văn hóa Hoa Lộc, chúng ta đã phát hiện được những di tích đầu tiên của những bộ lạc sinh tụ trên miền ven biển thuộc miền Bắc tỉnh Thanh Hóa trong khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ II (TCN), họ đang sống trong giai đoạn cuối cùng của thời đại đồ đá và chuẩn bị bước sang thời đại kim khí. Đó là những bộ lạc mà về mặt văn hóa và cũng có thể cả về mặt thân tộc có những quan hệ với những bộ lạc khác cùng thời đại sinh tụ trên miền Bắc nước ta. Những mối quan hệ đó đã phản ánh những phong cách văn hóa trong những di vật tìm thấy ở đây”[20]. Hơn 24 con dấu mà trên mặt được khắc hình họa tiết rất đẹp và phức tạp đều có mang những ý nghĩa nhất định. Song những ý nghĩa này chúng ta không thể biết được, chỉ đoán định đưa nó gắn với văn hóa tinh thần của người Hoa Lộc cổ xưa. Đây không phải là những tín vật làm bằng chứng, cũng không phải là bàn dấu in trên đồ gốm mà có thể nó là những con dấu dùng để in hoa văn màu trên vải hoặc trên thân thể người theo phong tục có ý nghĩa tôn giáo tín ngưỡng hoặc nghệ thuật. Nhận xét này của các nhà khảo cổ là hợp lý. Đây có thể được coi là tiền thân của ấn chương xuất hiện tại Việt Nam. (H.17 & 18)




Sự ra đời của ấn chương Việt Nam gắn liền với việc sử dụng chữ Hán trong giao lưu văn hóa giữa các dân tộc. Ở nước ta, chữ Hán đã có mặt từ đầu thế kỷ thứ nhất TCN, khi Triệu Đà đã hoàn thành việc thôn tính Việt Nam (thế kỷ II - TCN) chữ Triện đã được sử dụng trên đất nước Việt Nam. Sau này nước ta giành được quyền độc lập, chữ Hán, tiếng Hán (đọc theo âm Hán Việt) vẫn được tiếp tục sử dụng để xây dựng quốc gia độc lập và phát triển văn hóa dân tộc.

Việc phát hiện 6 chiếc ấn cổ nhỏ trong 6 ngôi mộ cổ ở Thiệu Dương - Thanh Hóa cũng được coi là chứng tích của ấn chương xuất hiện tại Việt Nam. Theo các nhà khảo cổ thì đây là những chiếc ấn được đúc và lưu hành vào khoảng cuối đời Tây Hán đến đầu thời Đông Hán, tương đương với triều Thục An Dương Vương (Khoảng từ 257 - 147 TCN ở nước ta). Các nhà khảo cổ học Việt Nam còn tìm thấy một loại ấn cổ gọi là Phong nê ở tỉnh Quảng Nam. Phong nê này được xác định niên đại cũng vào khoảng thời Hán cùng thời kỳ của các ấn đồng cổ ở Thiệu Dương - Thanh Hóa trên.

Di chỉ văn hóa Óc Eo thuộc huyện Thoại Sơn - Nam Bộ cũng đã được các nhà khảo cổ khai quật và công bố. Trong số cổ vật được giới thiệu có 22 con dấu khác nhau bằng mã não và chì thiếc và chỉ có 4 con dấu là có khắc chữ. Những con dấu này đã được xác định niên đại vào khoảng từ năm 270 đến năm 530 SCN, nhưng chưa được giới thiệu chi tiết và giải mã văn tự trên dấu[21]. Năm 1996 Giáo sư Hà Văn Tấn đã công bố việc giải mã 2 con dấu bằng chì thiếc có khắc văn tự trong số các con dấu trên trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1996.

Theo GS. Hà Văn Tấn: “… Con dấu thứ nhất… Tôi có thể nhận ra chữ ở trên con dấu là “Apramada”. Đây là chữ viết theo văn tự Pallaca Nam Ấn. (Nếu viết theo Devanagari hiện nay, ta có ()… Từ này trong tiếng Sanskrit có nghĩa là “chú ý”. Theo Malleret: “chữ Apramadam khá phổ biến trên các bùa của chúng ta, người ta biết rằng nó là một trong những từ chủ chốt của Phật giáo biểu đạt khái niệm cảnh giác vốn rất cần bên ngoài cả các khái niệm tôn giáo hay triết học mà ngay trong cách ứng xử của cuộc sống” (Malleret 1960: 332).



Về con dấu thứ hai, GS. Hà Văn Tấn khẳng định: “Đó là từ “Raksanya” trong ngôn ngữ Sanskrit và được viết bằng chữ Pallava (nếu viết theo Devanagari hiện nay, ta có (). Từ này có nghĩa là “được che chở, bảo vệ”, có lẽ là một từ cầu xin với thần linh, có tính chất tôn giáo, như nhiều từ gặp trên các con dấu khác ở Óc Eo”. (H. 19a & 19b)

Các triều đại phong kiến Việt Nam từ Lý, Trần, Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng, Tây Sơn đến Nguyễn. Thời gian tuy chưa phải là xa lắm nhưng vì binh hỏa triền miên nên những hiện vật quý giá như ấn chương hầu hết bị chôn vùi, thất thoát.

Trong một chuyến công tác đến Quảng Tây - Trung Quốc, GS. Hà Văn Tấn đã tìm thấy dấu tích quả ấn đồng thời Trần của Việt Nam hiện lưu lạc ở đất Quảng Tây. Quả ấn này được tìm thấy ở núi Lộng Lạc, thuộc công xã Nghĩa Vu, huyện Điền Đông, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc năm 1983. Đến năm 1999 trên cơ sở bài Khảo về ấn của thổ quan phát hiện ở Quảng Tây của học giả Nhật Bản Taniguchi Fusao[22], GS. Hà Văn Tấn đã viết bài Về một quả ấn Việt Nam thời Trần tìm thấy ở Quảng Tây Trung Quốc. Phần cuối ghi rõ: “Quả ấn có mặt hình vuông, mỗi chiều 50mm, dày 10mm, núm ấn cao 26mm. Mặt ấn khắc 6 chữ theo lối triện “Bình Tường thổ châu chi ấn”, chia thành 2 dòng mỗi dòng 3 chữ. Mặt lưng, hai bên núm ấn, có khắc chữ. Bên phải núm ấn là chữ “Đại Trị ngũ niên”, bên trái núm ấn là 5 chữ “Nhâm Dần tứ nguyệt chú”.

Đại Trị là niên hiệu của vua Dụ Tông. Đại Trị ngũ niên là năm Đại Trị thứ năm, tương đương với năm Chí Chính thứ 22 đời Nguyên Thuận Tông, tức năm 1362 dương lịch. Năm đó cũng là năm Nhâm Dần. “Nhâm Dần tứ nguyệt chú” là “Đúc tháng tư năm Nhâm Dần”. Nhìn kỹ ảnh chụp, tôi thấy ở đây chữ “nguyệt” khắc thiếu một nét ngang, đúng với thể lệ viết húy thời Trần.




Như vậy, đây là một con dấu đời Trần không nghi ngờ gì nữa. Thổ châu là châu ở miền núi, trong vùng các dân tộc ít người, mà ở đây hẳn là người Tày. Vấn để ta quan tâm là châu Bình Tường ở đâu?… Theo tôi, châu Bình Tường chính là Bằng Tường hiện nay. Có một lý do mà người Việt Nam ai cũng biết là các địa danh có từ Bằng ở vùng biên giới Việt Nam đều viết chữ Hán là Bình, như Cao Bằng từ lâu đã được viết là Cao Bình”[23].

Cho đến ngày nay số lượng những quả ấn từ thời nhà Trần đến triều Tây Sơn còn lại không nhiều. Hiện nay tại một số cơ quan Bảo tàng thuộc Bộ Văn hóa còn lưu giữ được một số ấn đồng cổ, những ấn cổ này đã được xác định niên đại một cách chính xác. Đầu tiên phải kể đến ấn Môn hạ sảnh ấn được tạo năm Long Khánh thứ 5 đời Trần Duệ Tông (1377). Các ấn thời Lê sơ là Thuần tượng hậu vệ bào lâm hậu sở ấn đúc năm Hồng Đức thứ 24 đời Lê Thánh Tông (1493), ấn Phụng mệnh tuần phủ đô tướng quân ấn tạo năm Hồng Thuận thứ 6 (1514) và ấn Đề thống tướng quân chi ấn được đúc năm Hồng Thuận thứ 7 (1515).

Ba quả ấn thời Mạc còn bảo quản được là Hoành hải hậu sở chi ấn đúc năm Đại Chính thứ 5 (1534), ấn Thanh tái tá sở chi ấn đúc năm Cảnh Lịch thứ 2 (1549) và ấn Khuông trị vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn được tạo năm Thuần Phúc thứ 3 (1564).

Hiện vật ấn chương thời Tây Sơn còn lại là 4 quả ấn đồng được lưu giữ ở những địa phương khác nhau, trong đó có 3 ấn tướng lĩnh quân đội và một ấn hành chính cấp huyện. Đó là ấn Suất trung lương nhị vệ tam hiệu trung lang tướng, Suất hùng cự khai vệ ngũ hiệu đô ti, Tây kỳ phủ trung tín nhất vệ hộ quân sứ vinh hoa hầu và Bằng Tuyên huyện quản lý. Các ấn đồng này được tạo cùng một thời gian là năm Tân Hợi 1791 niên hiệu Quang Trung.

Số lượng hiện vật ấn chương phong phú và đa dạng với nhiều loại hình, chất liệu, kích cỡ là những quả ấn thuộc thời Nguyễn qua hàng chục đời vua từ Gia Long đến Bảo Đại. Hiện được bảo quản tại những Bảo tàng lớn ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế và nhiều địa phương trong cả nước, số hiện vật ấn chương thời Nguyễn lên tới hàng mấy trăm đơn vị ấn khác nhau. Giá trị hơn cả là những Kim Ngọc Bảo Tỷ của các vua Nguyễn có chất liệu bằng ngọc, vàng, bạc, đồng dát vàng, dát bạc, đá cùng ngà quý; và đơn giản là những quả ấn gỗ được lưu giữ tại các đền, chùa ở nhiều địa điểm khác nhau.

Hiện vật ấn chương thời Nguyễn và các triều đại trước Nguyễn là khối tư liệu hiện vật quý giá rất đáng tin cậy. Mỗi một quả ấn khi in xuống giấy, lụa sẽ cho ra đời một văn bản Hán Nôm hoàn thiện, cô đọng. Những dòng chữ Hán khắc trên mặt ấn sẽ giúp ích cho việc xác định niên đại, cơ quan và địa chỉ tạo ấn, trọng lượng của ấn và nhiều khi giúp cho việc Chân hóa chữ Triện được chuẩn xác. Hiện vật ấn chương đóng vai trò quan trọng trong công tác nghiên cứu ấn chương Việt Nam và xây dựng bộ môn ấn chương học của chúng ta hiện nay.

3. Hình dấu trên văn bản, văn khắc Hán Nôm - mảng tư liệu phong phú, đa dạng đóng vai trò chủ yếu trong công tác nghiên cứu ấn chương Việt Nam

Những tư liệu Hán Nôm có in hình con dấu các loại là cơ sở tư liệu quan trọng và chủ yếu trong công tác nghiên cứu ấn chương Việt Nam. Đáng tiếc vì nạn binh hỏa, thiên tai bao thế kỷ đã làm thất thoát nhiều tư liệu Hán Nôm quý, nhất là những tư liệu cổ. Mảng tư liệu này hiện nay một phần nằm trong kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, một phần nằm tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, một phần nằm ở nhiều cơ quan Văn hóa trong cả nước và một phần còn lại còn rải rác trong dân gian trên phạm vi toàn quốc.

Văn bản Hán Nôm có niên đại cổ lưu hành ấn dấu chỉ tồn tại trong loại hình văn bản hành chính như sắc phong, chiếu, dụ, lệnh chỉ, bằng cấp, chứng nhận v.v… Văn bản cổ nhất có niên đại từ năm Đại Hòa thứ 9 (1451) đời Lê Nhân Tông là một bằng chứng nhận về ruộng đất. Trên văn bản còn lưu hình dấu kiềm của một chức nhỏ thuộc Tán trị Thừa chính sứ ty của châu Hóa lộ Thuận Hóa. Hiện nay văn bản này được lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế.

Một văn bản cổ nữa có hình dấu ấn còn giữ được nguyên vẹn đến nay có niên đại ghi ngày 15 tháng 11 năm Hồng Đức thứ 19 (1488) đời Lê Thánh Tông. Đây là bản sắc chỉ của bộ Lại xét cấp phong chức Phòng ngự Thiêm sự cho một viên quan giữ châu Tàm, phủ Thanh Đô. Dòng niên đại còn lưu hình dấu son lớn Lại bộ chi ấn, và giữa sắc chỉ có in nửa hình dấu Lại bộ chi ấn này để đánh dấu đây là loại văn bản gọi là “Bằng Khám hợp” ở thời Lê sơ. Văn bản hiện được lưu giữ ở Cục lưu trữ Nhà nước tại Hà Nội.

Nghiên cứu dấu trên sắc phong, chúng tôi đã tìm thấy các dấu sắc phong thần ở hai điểm di tích khác nhau thuộc hai tỉnh Thái Bình và Hà Tây. Các sắc phong này có niên đại thuộc các năm Minh Đức nguyên niên (1527), Quảng Hòa sơ niên (1540), Sùng Khang cửu niên (1547) và Cảnh Lịch sơ niên (1548) thời Mạc, với hình dấu son Sắc mệnh chi bảo in trên dòng ghi niên đại. Bảo ấn Sắc mệnh chi bảo này được làm từ thời Lê Thái Tông mà sử cũ đã ghi lại “Năm Thiệu Bình thứ 2 (1435) Lê Thái Tông cho đúc 6 ấn vàng dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại”. Như vậy, ta thấy loại hình sắc phong đi liền với hình dấu Sắc mệnh chi bảo, định lệ này trải qua nhiều đời vua Lê và khi nhà Mạc nắm chính quyền vẫn dùng Bảo ấn Sắc mệnh chi bảo đóng trên sắc phong.

Loại văn bản lệnh chỉ có in hình dấu ấn mà bản cổ nhất chúng tôi đã in chụp được là Lệnh chỉ Bình An vương lệnh chỉ ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ghi niên đại năm Quang Hưng thứ 22 (1599) đầu đời Lê Trưng hưng, có hình dấu son với 4 chữ Triện Bình an vương tỷ đóng ở dòng ghi niên đại và chỗ giáp lai. Đây là dấu Tỷ ấn của Bình An vương Trịnh Tùng in trên bản Lệnh chỉ gửi cho xã Vũ Liệt huyện Thanh Chương, Nghệ An.

Thời Lê Trung hưng chúng tôi còn tìm thấy một số hình dấu của các chúa Trịnh in trên những văn bản Hán Nôm khác như dấu của Thanh Đô vương Trịnh Tráng ở văn bản đời Vĩnh Tộ thứ 10 (1628), Tây vương Trịnh Tạc ở văn bản đời Vĩnh Trị thứ 5 (1680), An Đô vương Trịnh Cương ở văn bản Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709), Uy Nam vương Trịnh Giang trên văn bản năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730), Minh vương Trịnh Doanh ở đời Cảnh Hưng thứ 2 (1741), Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm vào năm Cảnh Hưng thứ 28 (1768), Đoan vương Trịnh Tông năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783) và Cảnh Hưng thứ 46 (1785).

Qua các hình dấu của các chúa Trịnh trên chúng tôi thấy, theo điển chế của các triều đại trước đời Lê Thế Tông thì chỉ có Hoàng đế mới được dùng Bảo, Tỷ đóng trên các chiếu văn, sắc phong, lệnh chỉ, lệnh dụ. Ở đây các chúa Trịnh mà bắt đầu từ Trịnh Tùng đã được dùng Tỷ ấn đóng trên bản lệnh chỉ của mình ban xuống, việc này mang ý nghĩa lịch sử quan trọng trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Mở đầu cho một thời kỳ thống trị mới của triều đình thời Lê Trung hưng tồn tại cả vua và chúa mà thực trạng quyền hành nằm trong tay nhà chúa.

Ấn chương không chỉ in hình lại trên tư liệu thành văn giấy lụa mà còn lưu tích lại trên các tư liệu hiện vật như bia đá, ma nhai. Trên phiến đá ở động Tuyết Sơn, chùa Hương, Hà Tây còn lưu giữ hai hình dấu lớn Ngự bút và Vạn cơ thanh hạ khắc dưới bài thơ Đăng Tuyết sơn hữu hứng của chúa Trịnh Sâm. Trên tấm bia Thự bút ngự tứ hiện còn ở xã Phương Triện, Gia Bình, Bắc Ninh có khắc hình Ngự tiền chi bảo dưới dòng ghi niên đại thời Lê Cảnh Hưng.

Thời Tây Sơn tuy ngắn ngủi nhưng ấn chương giai đoạn này khá đa dạng và còn không ít tư liệu với nhiều loại văn bản khác nhau có in hàng chục loại dấu khác nhau. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã có công sưu tầm, lưu giữ những tài liệu quý giá này và tặng lại cho nước nhà mà chúng tôi đã may mắn chụp được nguyên bản tài liệu gốc. Những hình dấu các dạng còn in lại trên văn bản Hán Nôm điển hình như dấu Quảng vận chi bảo và Ngự dụng chi bảo trên chiếu thư đời Thái Đức, Quang Trung. Dấu Tiên nhu chi bảo, Sắc mệnh chi bảo in trên sắc phong thời Cảnh Thịnh; dấu Triều đường chi ấn của triều đình Tây Sơn trên một tờ truyền, dấu Nghệ An trấn phủ chương của chức Trấn thủ trấn Nghệ An trong chính quyền địa phương thời Tây Sơn.

Từ các hình dấu trên văn bản mà tìm lại được tên tuổi của các nhân vật lịch sử thời Tây Sơn như dấu Hoàng thái tử thủ tín của Nguyễn Quang Toản in năm Quang Trung thứ 3 (1790) khi còn làm Thái tử. Dấu Khâm sai tiết chế hữu khang kiêm dân thứ vụ chi ấn của Khang Công Nguyễn Quang Thùy khi lãnh chức Khâm sai Tiết chế thủy bộ chư doanh kiêm Tổng binh dân thứ vụ in năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1797). Dấu Đại tư mã chi ấn của Đại Tư mã Nguyễn Văn Tứ in năm Bảo Hưng thứ 2 (1802).

Hình dấu góp phần trong việc khẳng định bút tích của các nhân vật lịch sử thời Tây Sơn như dấu Trung thư lệnh chi chương của Trung thư lệnh Trần Văn Kỷ có niên hiệu Quang Trung thứ 2 (1789), dấu Nghệ An trấn phủ chương và Nghệ An trấn ký của Trấn thủ Nghệ An Nguyễn Văn Thận trên hai văn bản đời Thái Đức thứ 11 (1788) và đời Quang Trung thứ 2 (1789).

Một số dấu kiềm nhỏ in kèm cùng với các hình dấu lớn chính trên văn bản từ đời Thái Đức đến Bảo Hưng như dấu Tiểu ấn, Tín ấn, Quang hầu, v.v… góp phần quan trọng trong công tác văn bản và nghiên cứu, đồng thời cũng chứng minh cho sự đa dạng của ấn chương thời Tây Sơn.

Thời Nguyễn với số tư liệu hiện vật ấn chương còn giữ được khá phong phú và khối tư liệu thành văn Hán Nôm đồ sộ có in nhiều hình dấu ấn là cơ sở tư liệu chủ yếu quan trọng trong việc nghiên cứu ấn chương. Trước tiên phải kể đến Kim Ngọc Bảo Tỷ của các hoàng đế triều Nguyễn, đó là những quả ấn được làm bằng ngọc (Ngọc Tỷ) được đúc bằng vàng, bạc (Kim Bảo Tỷ). Ấn vàng làm từ đời Chúa Nguyễn Phúc Chu được coi là ấn truyền quốc nhà Nguyễn có tên gọi Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo hiện còn lưu tích trên tấm bia đá chùa Thiên Mụ (Huế). Thời Gia Long làm ra các Bảo Tỷ là Chế cáo chi bảo, Quốc gia tín bảo, Sắc chính vạn dân chi bảo, Thảo tội an dân chi bảo, Ngự tiền chi bảo, Mệnh đức chi bảo, Văn lý mật sát, Phong tặng chi bảo, Trị lịch minh thời chi bảo và Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành.

Minh Mệnh lên ngôi song song với công cuộc cải cách hành chính là việc chế tác và hoàn thiện các loại Bảo Tỷ ấn triện. Điển hình là những Kim Ngọc Bảo Tỷ: Hoàng đế tôn thân chi bảo, Sắc mệnh chi bảo, Minh Mệnh thần hàn, Hoàng đế chi tỷ, Hành tại chi tỷ. Năm 1839 khi đổi quốc hiệu là Đại Nam, Minh Mệnh cho khắc ấn ngọc Đại Nam thiên tử chi tỷ để sánh với nhà Đại Thanh Trung Quốc.

Đến đời Thiệu Trị và Tự Đức có làm thêm một số Bảo Tỷ nữa như Đại Nam hoàng đế chi tỷ, Đại Nam hiệp kỷ lịch chi bảo và đặc biệt là Ngọc Tỷ Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ được coi là ấn truyền quốc của nhà Nguyễn.

Các Kim Ngọc Bảo Tỷ trên đều được dùng cho một loại văn thư chỉ định như Bảo Chế cáo chi bảo dùng đóng trên tờ huân giới chiếu lệnh thăng giáng cấp bậc, sai phái quan tướng; Quốc gia tín bảo dùng đóng trên văn kiện triệu tập các tướng lĩnh, phát động binh sĩ nhập ngũ v.v… Hầu hết các hình dấu Kim Ngọc Bảo Tỷ trên hiện nay vẫn được lưu giữ trong nhiều loại văn bản thời Nguyễn ở kho Châu bản, ở một số thư viện, bảo tàng lớn và trong dân gian.

Những cơ quan trung ương thời Nguyễn có liên hệ mật thiết đến ấn chương đầu tiên phải kể đến Nội các với chức năng gắn liền với Kim Ngọc Bảo Tỷ và các loại hình ấn chương khác. Với chức năng Văn phòng của Hoàng đế, Nội các chịu trách nhiệm tiếp nhận, xem xét, duyệt đóng dấu, chuyển và lưu giữ các loại hình văn bản: phiến, phiếu, chỉ dụ, tấu sớ v.v… Hiện nay một số văn bản trong kho Châu bản thời Nguyễn còn lưu hình các dấu Văn thư phòng quan phòng, Sung biện nội các sự vụ quan phòng và Nội các đã minh chứng cho vấn đề này.

Hệ thống lục Bộ thời Nguyễn với nhiều chức quan có con dấu riêng còn lưu lại trên văn bản Hán Nôm; đứng riêng từng Bộ như dấu Lễ bộ đường chi ấn (đời Gia Long), Hình bộ chi ấn (đời Minh Mệnh); in chung trong các cuộc họp liên như dấu Hình bộ thượng thư quan phòng, Binh bộ tả tham tri quan phòng, Lại bộ hữu thị lang quan phòng v.v… Các dấu này đều đi liền với chức danh tên tuổi cơ quan của chủ sở hữu của con dấu. Tìm hiểu ấn chương ở hệ thống lục Bộ chúng tôi còn phát hiện những hình dấu trên văn bản dùng khi cấp Bộ xuất hành ngoài kinh như dấu Binh bộ hành ấn, Hình bộ hành ấn và đồng thời với chức quan cấp Bộ là chức hàm Đại học sĩ với những hình dấu như Cần Chánh điện đại học sĩ quan phòng của Thượng thư bộ Binh Trương Đăng Quế.

Những dấu tích về quân đội thời Nguyễn chủ yếu nằm ở kho Châu bản thuộc Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I. Trong các tập tấu đời Minh Mệnh, Thiệu Trị chúng tôi đã in sao được một số hình dấu của các tướng tá ở nhiều đơn vị, binh chủng và khu vực khác nhau. Dấu Trấn tây tướng quân chi ấn trong một bản tấu trình gửi về kinh của các quan tướng trấn Tây thành. Một loạt dấu Quan phòng khác nhau của các tướng lĩnh in trên văn bản ở quyển Minh Mệnh 18 là dấu Chưởng trung quân quan phòng, dấu Thần sách hữu doanh quan phòng và dấu Hữu thống chế quan phòng. Các dấu Tiền quân đô thống phủ quan phòng, và Hổ oai thống chế quan phòng được in trên văn bản đời Thiệu Trị thứ 5 (1845). Hai dấu Thống đốc tiễu bổ quân vụ quan phòng và Tham tán quân vụ quan phòng in liền nhau trong một bản tấu ghi niên đại Tự Đức thứ 13 (1860) v.v…

Ấn dấu Đồ Ký được dùng cho các chức đơn vị quân đội cấp thấp, như dấu Loan giá vệ đồ ký, Nam hưng đồ ký, Cẩm y túc trực đồ ký, Kinh tượng nhất vệ đồ ký v.v… đều được lưu tích trong quyển 53 đời Minh Mệnh thứ 9.

Hình dấu ấn chương trong các cấp chính quyền địa phương thời Nguyễn còn lưu lại nhiều ở các tập Công văn cổ chỉ, Công văn cựu chỉ và trong Châu bản, địa bạ. Giai đoạn quân quản Gia Long chia nước thành ba khu vực đặt cấp thành quản các trấn, doanh, đạo cho các tướng đứng đầu mỗi địa phương. Các hình dấu Bắc thành tổng trấn chi ấn, Gia Định thành tổng trấn chi ấn, Thanh Hoa trấn thủ chi chương, đi liền với một số nhân vật tên tuổi như Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Nhân gắn với một số sự kiện lịch sử đương thời.

Minh Mệnh lên ngôi đã tiến hành công cuộc cải cách hành chính, bãi bỏ cấp thành và đổi các trấn thành tỉnh và đặt các chức vụ cấp bậc mới v.v… Những hình dấu Quảng Nam Quảng Ngãi tổng đốc quan phòng, Ninh Bình tuần phủ quan phòng, Hưng Hóa bố chính sứ ty chi ấn, Hà Nội án sát ty chi ấn, Quốc Oai phủ ấn, Quốc Oai phân phủ đồ ký, An Lập huyện ấn, Nà Bôn thổ châu đồ ký, Quỳnh Côi huấn đạo đồ ký v.v… và một số dấu kiềm đi kèm và chứng minh cho cải cách chính quyền địa phương thời Minh Mệnh.

Các dấu Kiềm ký như Đại quân môn thủ hộ kiềm ký, Cần Giờ hải khẩu tấn thủ kiềm ký v.v… thể hiện tính đa dạng của ấn chương thời Nguyễn. Hình dấu Đồng Xuân tổng cai tổng ký, Đồng Xuân phường lý trưởng ký v.v… chứng minh sự hoàn thiện của ấn chương cấp chính quyền địa phương thời Nguyễn.

Những ví dụ về dấu Tín ký và Ký như Trần Lễ Nghi tín ký, Trần Tố ký, Hậu bổ Hồ Trọng Phiên v.v… đã tăng số lượng về loại hình ấn chương Việt Nam lên một bậc nữa.

Giới thiệu ấn chương Việt Nam không thể không nói tới ấn tín tư nhân trong xã hội phong kiến Việt Nam xưa. Tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực thương mại, văn hóa, nghệ thuật và tôn giáo tín ngưỡng, tư liệu ấn tín tư nhân chúng tôi sưu tầm được có niên đại số ít ở thời Hậu Lê còn chủ yếu là ở thời Nguyễn.

Ấn dấu tư nhân trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật rất đa dạng và phong phú, không chỉ là những quả ấn nhỏ hay vừa với nhiều kiểu dáng khác nhau mà nhiều hình dấu còn được chạm khắc trên nhiều hiện vật gốm sứ, kim loại hay đồ gỗ. Tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi đã chụp ảnh được một số ấn tín có nội dung ghi tên hiệu người như ấn dấu Lan Sương, Tùng Tuyết Trai ghi lại hay ý đẹp như Ca vịnh thái bình, Thuận cát, Tường hợp v.v…

Một số dòng họ nổi danh đều có ấn tín vuông đánh dấu vào sách vở và hiện vật gia tộc như dấu Danh gia tàng thư của dòng Ngô gia văn phái, dấu Danh gia hội tuyển của dòng họ Bùi Huy Bích v.v…

Thời Nguyễn các nhà tàng bản xuất hiện ngày càng nhiều, trên những ấn bản có in hình dấu riêng của mỗi nhà, như nhà tàng bản Đa văn đường còn lưu lại hình con dấu Đa Văn đường; các dấu kiểu này còn tìm thấy nhiều trong một số sách in ở cuối thời Nguyễn.

Trong lĩnh vực thương mại ấn tín tồn tại gắn liền với những chức năng cơ bản của ấn chương là khẳng định quyền sở hữu và khẳng định tính chân thực. Tại một số đô thị lớn thời trước như Hội An chúng tôi đã in, chụp được ấn tín của một số cửa hàng người Việt gốc Hoa như ấn dấu Diệp Khải Minh ấn, Diệp Truyền Anh chương, Diệp Đồng Xuân của các thương nhân họ Diệp. Ấn dấu Quảng Đông di xương âm của hiệu kim hoàn, dấu Miên Xương của hiệu bông vải sợi và Quảng Đông Nhị Thiên đường của hãng dầu Nhị Thiên đường nổi tiếng vẫn giữ và tồn tại đến nay; nó là những minh chứng sống động về chức năng tín thực của ấn tín tư nhân trong lĩnh vực thương mại, mà ngày nay rất nhiều hiệu kim hoàn và cửa hàng y dược còn duy trì v.v…

Ở lĩnh vực tôn giáo tín ngưỡng, ấn tín tồn tại phát triển khá phong phú. Trong lòng các ngôi chùa cổ và nhất là những ngôi đền, điện thờ thuộc Đạo giáo và thậm chí cả ở tư gia của một số thầy pháp ở nước ta hiện nay còn bảo lưu rất nhiều ấn tín thuộc lĩnh vực này. Đó là những quả ấn gỗ, đôi khi là ấn đồng có ngoại hình tạo tác đơn giản nhưng với nhiều kiểu dáng khác nhau. Chỉ tính riêng một ngôi điện thờ đức Thánh Trần cách Hà Nội hơn 30km chúng tôi đã tìm thấy gần 30 quả ấn gỗ khác nhau có niên đại cách ngày nay trên dưới 200 năm.

Giá trị của những quả ấn thuộc lĩnh vực tôn giáo tín ngưỡng không phải là ngoại hình với nhiều kiểu chạm khắc như ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật mà là nội dung văn khắc trên một con dấu. Đó là những hình dấu khác nhau trên các loại văn bản tấu, sớ, bùa chú có nội dung khác nhau. Ở Phật giáo là những lá sớ mà dưới chữ “Thiên vận” hoặc “Tuế thứ” bao giờ cũng có hình dấu vuông in bốn chữ Phật pháp tăng bảo. Ấn dấu Phật pháp tăng bảo được tìm thấy ở nhiều ngôi chùa khác nhau với kích cỡ, bố cục tự dạng khác nhau nhưng đều có chung nội dung bốn chữ như trên.

Đạo giáo Việt Nam bao năm nay tồn tại bên cạnh Phật giáo, hòa trộn cùng Phật giáo với tiền Phật hậu Thánh, tiền Thánh hậu Phật. Sự đa dạng của Đạo giáo là các ngôi đền, điện thờ đức Thánh Trần, công đồng tam, tứ phủ cùng chư vị Thánh mẫu v.v… đã được hiện vật ấn tín chứng minh. Những ấn dấu lớn về Trần Hưng Đạo như Cửu thiên vũ đế Trần triều Hưng Đạo đại vương chi ấn, Trần Hưng Đạo vương ấn. Về Điện súy Phạm Ngũ Lão như Trần triều điện súy, Trần triều điện súy thượng tướng quân quan nội hầu chi ấn. Về công đồng như Tam phủ công đồng ấn và Nam tào bắc đẩu, Thiên lôi thần tướng v.v… Tất cả đã vẽ nên bức tranh tôn giáo tín ngưỡng sinh động, đượm màu sắc văn hóa dân gian Việt Nam tồn tại qua bao thế kỷ.

Có thể nói rằng sự đa dạng phong phú của ấn tín tự do trong các lĩnh vực thương mại, văn hóa nghệ thuật và tôn giáo tín ngưỡng thục sự sẽ trở thành mảng đề tài không nhỏ trong ấn chương học. Nhìn từ góc độ khoa học xã hội và văn hóa nói chung thì công tác nghiên cứu ấn chương cũng như một số lĩnh vực khác như bia ký, minh văn v.v… đòi hỏi ở mỗi người nghiên cứu một tri thức liên ngành. Ngoài gốc cơ bản chữ Hán Nôm, những tri thức rất cần thiết bên cạnh ngữ văn học là lịch sử, triết học, tôn giáo, văn hóa dân gian và cả khảo cổ học nữa. Nghiên cứu ấn chương Việt Nam cũng góp phần chứng minh cho công tác Hán Nôm - Một khoa học liên ngành, một dạng văn hóa học trong nền tảng khoa học và văn hóa của dân tộc Việt Nam.

IV. Hình thức và tính chất các loại hình ấn và dấu Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX

A. CÁC LOẠI HÌNH VÀ CÁC KIỂU HÌNH THỂ ẤN CHUƠNG

1. Tên gọi các loại hình ấn chương

Theo thống kê thì có các loại hình ấn chương sau: Tỷ, Bảo, ấn, Kiềm ấn, Chương và Tín chương, Quan phòng, Đồ ký, Kiềm ký, Tín ký, Ký, Ký triện hay Triện. Ở đây chúng tôi xin trình bày một cách khái quát, có hệ thống và định nghĩa sơ lược mỗi loại hình ấn chương từ Kim ngọc Bảo Tỷ của Hoàng đế xuống đến Ký triện của Tổng, Lý cấp tổng, xã.

* Kim ngọc Bảo Tỷ 金玉寶璽

Kim ngọc Bảo Tỷ là những ấn của nhà vua dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại. Ấn được làm bằng ngọc gọi là “Ngọc Tỷ”, được đúc bằng vàng, bạc gọi là “Kim Bảo Tỷ”.

* Ấn 印

Ấn là ấn lớn của cơ quan từ trung ương xuống đến địa phương cấp huyện, châu và trong quân đội một số tướng lĩnh cũng được sử dụng loại ấn này.

Phân biệt từ “ấn” ở đây là danh từ riêng chỉ loại hình ấn lớn mà cơ quan dùng. Ấn ở đây cũng như “Tỷ”, “Bảo” là chữ đứng cuối cùng ở dòng chữ trong dấu, khác với từ “ấn” 印 là danh từ chung chỉ tất cả những loại hình ấn khác nhau.

* Kiềm ấn 鈐印

Là ấn nhỏ của cơ quan, đi liền cặp với ấn lớn của cơ quan và Quan phòng lớn của các quan chức lãnh đạo, thường gọi là bộ ấn kiềm. Kiềm ấn còn gọi là kiềm hay dấu kiềm chỉ loại ấn rất nhỏ, khác với Kiềm ký.

* Chương 章 và Tín chương 信章

Chương và Tín chương là ấn dùng cho quan đứng đầu cấp doanh, trấn, đạo (tức chính quyền địa phương cấp tỉnh, dưới tỉnh) và một số đơn vị chức vụ tương đương tồn tại từ trước đời Gia Long đến Minh Mệnh thứ 13 (1802-1832).

* Quan phòng 關防

Quan phòng là ấn chức vụ của các quan chức, tướng lĩnh, thường gọi là Quan phòng chức vụ. Quan phòng chức vụ bắt đầu dùng từ thời Nguyễn.

* Đồ ký 圖記

Đồ ký là ấn dùng cho các quan dưới chức quan lớn chính ngạch, thường là các quan nhỏ phụ trách phân phủ, phụ trách giáo dục ở phủ, huyện v.v… Trưởng quan các Ty, Sở và sĩ quan đứng đầu các Vệ, Cơ, Thuyền của quân đội. Đồ ký ra đời và sử dụng ở thời Nguyễn.

* Kiềm ký 鈐記

Kiềm ký là ấn dùng cho chức chỉ huy ở cửa thành, cửa khẩu, cửa biển, đồn trạm v.v… những đơn vị nhỏ có tính chất riêng biệt.

* Tín ký 信記

Tín ký là ấn riêng cho tất cả các quan viên, văn, võ trong triều ngoài kinh từ đại thần, vương công đến hàng bát, cửu phẩm.

* Ký 記

Ký là loại ấn nhỏ dùng cho các lại thuộc ở cơ quan như Thư lại, Vị nhập lưu thư lại, những người chưa có phẩm hàm hoặc phẩm hàm thuộc hàng thấp nhất.

* Triện 篆 hay Ký triện 記篆

Triện hay Ký triện là loại ấn nhỏ của Cai tổng (Chánh tổng) và Lý trưởng - những người đại diện cho chính quyền địa phương ở cấp thấp nhất.

* Ấn tín tư nhân 私印

Ấn tín tư nhân là tất cả những quả ấn của cá nhân dùng với tính chất tự do trên mọi lĩnh vực trong xã hội. Thường gọi là “Tư ấn” (私印) để phân biệt với “Quan ấn” (官印).

2. Hình thể các loại hình ấn chương

Hình thể các loại hình ấn chương từ Bảo Tỷ của Hoàng đế đến Triện của Tổng, Lý rất đa dạng phong phú và được làm theo đúng quy chế mà vua ban hành.

* Bảo, Tỷ

Những Bảo, Tỷ của vua dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại núm thường làm theo hình rồng với những kiểu dáng khác nhau: Rồng cuốn, rồng ngồi, rồng đứng, rồng đi. Có ấn lại làm hai con rồng cuốn nhau. Số ít Bảo Tỷ dùng ngoài ý nghĩa quốc gia trọng đại thì làm theo hình kỳ lân.

* Ấn

Ấn lớn thì có ngoại hình đa dạng hơn. Đa số ấn của các triều đại đều làm kiểu núm chuôi vồ. Riêng triều Nguyễn ấn Đình thần Đình thần chi ấn núm được chạm con rồng có sừng. Ấn ở lục Bộ và Tôn nhân phủ núm chạm kỳ lân. Ấn tướng lĩnh cao cấp, ấn trường thi và ấn các doanh, trấn núm chạm hình hổ hoặc hình sư tử, ấn có núm hình lạc đà là ấn của một viện hoặc ấn gia phong cho các nước Vạn Tượng, Cao Miên. Ấn lưu kinh làm theo hình núi. Ấn ở lục Tự, chư nha, ấn quan Bố chánh, Án sát và cấp phủ, huyện, châu được làm theo kiểu chuôi vồ (núm thẳng).

* Quan phòng

Quan phòng chức vụ các cấp ngành có hình thể không kém phần đa dạng. Quan phòng của Đại học sĩ, Thượng thư, lục Bộ, Tả hữu Đô ngự sử núm chạm hình lạc đà. Các tướng lĩnh chức Đô thống, Đô thống chế, Thống chế, các Tào (cấp thành), Quản lý Thương thuyền và Quốc tử giám đều có Quan phòng núm hình sư tử. Quan phòng của Kinh lược, Tham tán, Khâm sai, Khâm phái đại thần, Thanh tra và Tham tri, Thị lang lục Bộ, Tổng đốc, Tuần phủ, Đề đốc, Lãnh binh, Thị vệ có núm hình chuôi vồ. Quan phòng của Thái y viện, Văn thư phòng chạm hình rau tảo. Quan phòng của Nội các lại có núm hình tay quai (vòng tròn).

* Đồ ký, Kiềm ký, Tín ký, Ký, Triện và Ký triện

Các loại hình ấn này đều có hình thể đơn giản. Đồ Ký cấp Cơ, Vệ trong quân đội và cấp Phân phủ thì núm làm hình tay quai còn tất cả các loại ấn còn lại có núm chuôi vồ, dài hoặc ngắn tùy theo chức vụ.

* Kiềm ấn

Có ngoại hình đơn giản nhất theo kiểu hình tháp bằng đầu.

* Ấn tín tự do trong dân gian tùy tiện nhưng không kém phần rực rỡ. Có ấn làm rất cầu kỳ (lĩnh vực nghệ thuật), có loại rất đơn giản (trong thương trường).

Hình thể ấn chương các loại rất đa dạng phong phú, không chỉ phần núm chuôi ấn được chạm khắc mà dưới mặt dấu ở viền vòng ngoài cũng được khắc rất tinh xảo. Là hình lưỡng long chầu nhật, nguyệt, hình họa tiết hoa lá, hình môtíp uốn khúc kiểu cung đình. Đặc biệt là những Ngọc Tỷ của Hoàng đế triều Nguyễn được những nghệ nhân đương thời trổ hết tâm lực, giũa khắc hình rồng, lân ở nhiều thế khác nhau. Tiêu biểu là Ngọc Tỷ Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ với hình rồng uốn khúc cao hơn 4 tấc được coi là một trong những báu vật truyền quốc quý nhất triều Nguyễn.

Kỹ thuật đúc Bảo Tỷ, ấn, Chương bằng vàng, bạc và đồng cũng như việc chạm khắc ấn bằng chất liệu đá quý, ngà và gỗ là chứng minh sống động cho sự đa dạng và phong phú của mỹ thuật điêu khắc chạm trổ Việt Nam từ thế kỷ XV đến XIX.

Theo thống kê thì trọng lượng và thể tích của ấn chương tỷ lệ thuận với cơ quan, đơn vị, chức vụ quan lại các cấp. Hình thể Bảo Tỷ của vua đa phần có khối lượng và trọng lượng lớn hơn các loại hình ấn khác.

3. Chất liệu của các loại ấn chương

Chất liệu để làm ra Kim ngọc Bảo Tỷ và tất cả các loại ấn từ thời Lê sơ đến thời Nguyễn đều phải theo quy chế của Hoàng đế và triều đình. Những quy chế này mang tính kế thừa, rập khuôn các vương triều trước đồng thời mô phỏng theo quy chế ấn chương của Trung Quốc. Những chất liệu đó là ngọc, vàng, bạc, ngà quý và ngà thường, đá quý, cẩm thạch, gỗ quý và thuỷ tinh.

Tỷ của Hoàng đế bao giờ cũng được làm bằng ngọc, cho nên loại hình này có tên là Ngọc Tỷ. Có loại ngọc thường, có loại ngọc tốt, thường là hai loại ngọc xanh và ngọc trắng. Loại Ngọc Tỷ chủ yếu được làm từ thời Nguyễn sơ, vì chất liệu quý hiếm nên số Ngọc Tỷ ít hơn nhiều so với Kim Bảo Tỷ.

Những hòn ngọc lớn và đẹp thường được các Hoàng đế coi trọng và chọn làm Ngọc Tỷ quý giá nhất. Như vua Thiệu Trị được dâng ngọc quý làm thành Ngọc Tỷ Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ. Có khi không có ngọc phải đúc ấn vàng và khắc chữ “Tỷ” 璽 lên mặt ấn vàng.

Kim Bảo Tỷ của Hoàng đế được đúc bằng vàng, bằng bạc. Qua thư tịch Hán Nôm, chúng tôi thống kê triều Nguyễn có tới hàng trăm quả, có quả nặng tới 395 lượng vàng như Kim Bảo Sắc mệnh chi bảo.

Bên cạnh số ít Ngọc Tỷ quý, tất cả Bảo Tỷ của Hoàng đế dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại được đúc bằng vàng. Ngoài ra những lễ tấn phong cho Hoàng Thái hậu, lễ sách lập Hoàng hậu, Thái tử đều được ban ấn đúc bằng vàng, bằng bạc. Tuổi của vàng đúc mỗi loại ấn cũng được quy định rõ ràng.

Những Bảo ấn dùng ngoài ý nghĩa quốc gia trọng đại ghi ý riêng của vua, hoặc ban cho các cung, điện, lâu, tạ v.v… làm bằng ngà quý; ấn sách phong cho Hoàng thân, chư công, Hoàng tử, Hoàng tôn được đúc bằng bạc dát vàng. Tư chương hoặc Nhàn chương của vua khắc những câu, ý thánh hiền v.v… đều làm bằng cẩm thạch và bằng ngà.

Đại thần, tướng lĩnh, chức quan cao cấp như Thượng thư v.v… được dùng ấn, Quan phòng, Kiềm ấn có chất liệu bằng bạc; chức vụ phẩm hàm kém hơn một vài bậc nữa như Thị lang, Thống chế v.v… thì ấn, Quan phòng được làm bằng ngà tốt và bằng đồng pha; chức vụ phẩm hàm thấp nữa của một số đơn vị, cơ quan thì Quan phòng, Đồ ký, Kiềm ấn làm bằng ngà thường và bằng đồng.

Ấn cơ quan, Chương và Tín chương, Quan phòng chức vụ, Đồ ký, Kiềm ký được đúc bằng đồng chiếm tỷ lệ cao trong số lượng ấn chương. Hình thể, trọng lượng, thể tích mỗi hạng khác nhau để phân biệt chức vụ, cấp bậc cao thấp.

Quan lại cấp thấp như Giáo thụ, Huấn đạo sử dụng Đồ ký và hầu hết Kiềm ký đều dùng loại gỗ tốt để làm. Những Kiềm ấn của các quan nhỏ cũng làm bằng gỗ.

Triện hay Ký triện của Tổng, Lý cấp tổng xã bao giờ cũng được làm bằng gỗ.

Riêng loại Kiềm ký hay Ký thì làm theo nhiều loại chất liệu, nhất là từ thời Nguyễn Gia Long trở về trước khi quy chế chưa ổn định. Kiềm ký hay Ký làm bằng ngà, đá, đồng, gỗ, tùy theo chức tước phẩm cấp quan lại. Nói chung các quan lớn thì dùng chất liệu quý hơn, các lại thuộc thường dùng gỗ làm Ký.

Chất liệu làm ấn ít được dùng nhất là thủy tinh. Cũng như Bảo ấn bằng cẩm thạch, ấn thủy tinh có số lượng rất ít với nội dung ý đẹp lời hay kiểu “Ký thọ vĩnh xương”.

Riêng loại hình ấn tư nhân, vì là ấn tự do nên không theo quy định chung, ai thích làm chất liệu gì thì làm. Tuy nhiên cũng tạm phân loại ấn ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật thì chất liệu tốt hơn như ngà, đá, đồng, còn thương nhân dùng ngà và chủ yếu là gỗ, các thầy pháp dùng ấn bằng gỗ cho công việc của mình.

B. CÁC KIỂU HÌNH DẤU, CÁC DẠNG DẤU QUA BỐ CỤC CHỮ TRONG DẤU

1. Các kiểu hình dấu

Hình ấn dấu cũng đa dạng phong phú không kém hình thể của ấn chương, gồm hình: vuông, tròn, chữ nhật, lục giác, bát giác và bầu dục, chủ yếu là tập trung vào hình vuông và hình chữ nhật.

* Dấu hình vuông

Tất cả các Bảo Tỷ của Hoàng đế, ấn lớn của quan, kiềm ấn nhỏ, Chương và Tín chương, một số Tín ký mặt dấu đều làm theo hình vuông. Chỉ có một số Bảo Tỷ viền vòng ngoài dấu mới khắc họa tiết như lưỡng long chầu nhật nguyệt v.v… còn tất cả viền ngoài đều trơn.

* Dấu hình chữ nhật

Tất cả những Quan phòng, Đồ ký, Kiềm ký, Triện hay Ký triện, một số Tín ký mặt dấu được làm theo hình chữ nhật. Ngoại trừ một số ít Bảo ấn dùng ngoài ý nghĩa trọng đại cũng được làm hình chữ nhật.

* Dấu hình tròn

Số ít Bảo ấn của vua dùng ngoài ý nghĩa quốc gia trọng đại, Bảo sách phong cho Hậu, Hoàng tử, thân vương hoặc ấn ban cho các cung điện, lâu, tạ trong nội cung, hoặc ấn tín tự do dấu mới làm theo hình tròn. Viền vòng ngoài thường khắc hình lưỡng long chầu nhật, nguyệt.

* Dấu hình bát giác

Dấu làm khuôn kiểu hình thoi có 6 cạnh vuông góc, 2 cạnh ở giữa lõm hình vòng cung, viền ngoài có đường họa tiết uốn theo hình dấu. Loại hình này chủ yếu thấy ở Ký của các lại điển trong các cơ quan. Một số hậu, phi, quan lớn làm ấn tín tự do cũng làm theo hình này.

* Dấu hình bầu dục

Hình bầu dục hiếm thấy trong ấn chương Việt Nam. Riêng thời Nguyễn cũng chỉ có một vài ấn như Bảo ấn Ngự tiền chi bảo có hình bầu dục.

2. Các dạng dấu qua bố cục chữ trong dấu

a. Dấu hình vuông



Loại 4 chữ: Xếp theo chiều vương góc của hình dấu. Một số Bảo Tỷ của vua - và ấn cơ quan đều thuộc dạng này. Đây là loại dấu có số lượng nhiều nhất trong các loại hình dấu.

a2. Loại 4 chữ: Xếp theo kiểu chữ “Thập” 十 với 2 dạng sau:




a3. Loại 5 chữ: Xếp theo hình dấu nhân X với 2 dạng sau:



a4. Loại 2 chữ: Loại kiềm ấn duy nhất thuộc dạng này



a5. Loại nhiều chữ: Xếp theo 2, 3 hoặc 4 cột dọc



b. Dấu hình chữ nhật

b1. Loại xếp theo 2 hoặc 3 cột dọc:



Loại này là Quan phòng chức vụ và Đồ ký, có số lượng nhiều sau ấn cơ quan.



b2. Loại phần nhỏ chữ xếp chiều ngang, phần dưới xếp theo 2 hoặc 3 cột dọc:

Loại này chỉ có trong Đồ ký và Kiềm ký.

c. Dấu hình tròn và hình bầu dục

Chữ đều xếp theo cột dọc và theo khuôn hình bầu dục hay hình tròn của dấu. Số ít Bảo ấn và ấn tư có dạng dấu này.

c1. Dấu hình tròn:



c2. Dấu hình bầu dục



* Dấu hình bầu dục lõm cạnh



d. Dấu hình bát giác

d1. Xếp theo 1 cột dọc



d2. Xếp theo 2 cột dọc



Dấu của lại điển và số ít quan lại dùng tùy tiện.

e. Loại dấu 1 chữ



Loại dấu này rất hiếm thấy, cùng xếp vào loại Kiềm ấn nhỏ nhất, như dấu chữ Tín.

g. Loại dấu nhiều chữ

Dấu có từ 12 chữ trở lên tạm xếp vào loại nhiều chữ, số lượng dấu ở dạng này cũng rất ít, chỉ nằm trong loại dấu hình vuông, hình tròn, và hình chữ nhật.



Tóm lại, việc phân chia các dạng hình dấu ấn là việc làm cần thiết, chỉ cần nhìn qua văn bản có dạng hình dấu gì ta có thể biết tổng thể ngay loại văn bản đó như thế nào, quan trọng hay không quan trọng. Hình dấu Bảo Tỷ của vua sẽ phải khác hẳn dấu Triện của Lý trưởng cả về hình thức màu sắc và giá trị của dấu đó. Đối với công cuộc cải cách tổ chức hành chính các cấp thì quy chế về việc phân loại kiểu dạng hình dấu có giá trị thực tiễn cao hơn nhiều lần so với quy định về hình thể và chất liệu của ấn.

 

Last Updated ( Sunday, 26 October 2008 )
 
< Prev   Next >
Trang chủ Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam