Tài liệu nghiên cứu về ấn chương học Việt Nam, phần mở đầu
Tác giả: Nguyễn Công Việt
Nguồn: thuvien-ebook
Lời giới thiệu
Ấn chương học (Sigillographie hay Sphragistique) là môn học nghiên cứu
về con dấu qua các đời. Con dấu trên văn bản thường có 3 mục đích: 1.
Bảo đảm tính xác thực của văn bản; 2. Khẳng định quyền chủ sở hữu của
văn bản và 3. Xác định niên đại của văn bản[1]. Vì vậy, nghiên cứu ấn
chương học được coi là phương pháp tìm chứng cứ (recherche des
témoigrages) trong khoa học lịch sử và có ý nghĩa quan trọng đối với
văn bản học[2].
Việt Nam có một truyền thống ấn chương lâu đời, các thư tịch cổ đã chép
rằng các Lạc tướng có ấn đồng dây thao xanh (đồng ấn thao thụ). Có thể
thấy rằng các con dấu gốm đã tìm được trong văn hóa Hoa Lộc, văn hóa
Bàu Tró chỉ in các hình trang trí. Khi chữ Hán đã truyền vào Việt Nam
thì chúng ta gặp nhiều con dấu thời Hán như dấu “Tư phố huyện ấn” (hiện
được cất giữ ở Bảo tàng Bỉ), các con dấu tìm được ở di chỉ Thiệu Dương,
Thanh Hóa. Hoặc là chúng ta đã tìm thấy các phong nê ở Quảng Nam cho ta
biết ảnh hưởng của Đạo giáo thời kỳ sớm.
Ta đã tìm được những con dấu bằng mã não hoặc bằng chì in bằng chữ
Pallava trong các di chỉ văn hóa Óc Eo ở miền Nam từ thế kỷ VII đến thế
kỷ IX.
Đến thời kỳ độc lập thì ta mới tìm thấy các con dấu thời Trần như Môn
hạ sảnh ấn năm 1377 và Bình Tường thổ châu chi ấn năm 1362. Chúng ta hi
vọng là ngày càng tìm được nhiều con dấu của thế kỉ XVI về trước.
Từ thế kỷ XV trở đi, ta mới biết nhiều loại hình con dấu. Tình hình ấn
chương từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX chính là nội dung mà Nguyễn Công
Việt muốn giới thiệu trong quyển sách này.
Muốn xây dựng ấn chương học thì nhiệm vụ trước hết phải làm là công bố
các sưu tập ấn chương (corpus sigillirum) của các thời kỳ. Ở đây,
Nguyễn Công Việt đã công bố các corpus sigillirum từ thế kỉ XV đến thế
kỉ XIX như thế. Nguyễn Công Việt đã nghiên cứu các ấn chương của nhà
vua và các quan chức ở triều đình cùng với các quan chức ở địa phương.
Ở quyển sách này, Nguyễn Công Việt đã đi sâu nghiên cứu các chức quan
trong các thế kỉ XV đến XIX và nhờ vào con dấu, đã bổ khuyết nhiều điều
chưa biết, nhất là các chức quan trong quân đội. Nói chung, tác giả đã
giúp người đọc xác định được nhiều về quan chức chí của các đời. Sự
thay đổi của ấn chương được tác giả gắn liền với các cuộc cải cách hành
chính từ triều Lê đến triều Nguyễn, những cuộc cải cách đó được tác giả
mô tả kỹ càng và làm nổi bật. Qua con dấu cũng đã xác định sự thay đổi
một số tên đất như ở thời Tây Sơn. Đó là những tài liệu lịch sử chắc
chắn mà ấn chương học đã đem lại.
Tóm lại, đây là một công trình nghiên cứu công phu mà tác giả đã hoàn
thành, có đóng góp lớn cho việc xây dựng bộ môn ấn chương học Việt Nam.
Về bộ môn này thì đây là công trình đầu tiên; không có gì có thể so
sánh được, vì thế, có thể còn một số thiếu sót, nhưng chúng ta có thể
hiểu được. Vì vậy, tôi rất vui khi được giới thiệu công trình này với
các nhà nghiên cứu, đặc biệt là với những người ham thích tài liệu lịch
sử. Tôi tin rằng là tài liệu này sẽ đem lại nhiều điều có ích và thú vị
cho chúng ta.
GS.HÀ VĂN TẤN
Viện trưởng Viện Khảo cổ học,
Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Lời nói đầu
Di sản văn hóa thành văn của dân tộc Việt Nam bao gồm hai mảng tư liệu
hiện vật và tư liệu thư tịch với một khối lượng lớn phong phú đa dạng
tồn tại song hành và luôn gắn bó mật thiết với nhau. Chúng ta tìm thấy
không ít những đoạn kinh, câu thơ, bài văn bằng chữ Hán, chữ Nôm khắc
trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ đồng thời cũng được ghi trên giấy,
lụa. Văn tự Hán Nôm còn được khắc in, đúc trên kim loại như vũ khí, vật
dụng, công cụ sản xuất, tiền đồng, trên đồ gốm sứ v.v… Trong kho di sản
văn hóa đa dạng đó có một loại tư liệu hiện vật mang đặc thù riêng, đó
là ấn chương mà ta còn gọi là ấn triện hay con dấu. Ấn chương bao gồm
cả hiện vật ấn tín và những văn bản, văn khắc có in hình con dấu. Trong
đó hình con dấu đứng độc lập hay nằm trong một văn bản Hán Nôm khác
cũng đều được coi là một văn bản ấn chương hoàn thiện.
Ở công trình này chúng tôi bước đầu công bố các sưu tập ấn chương Việt
Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX, cùng với kết quả nghiên cứu giới
thiệu những quả ấn điển hình, những hình dấu tiêu biểu ở hệ thống ấn
chương các loại trong bộ sưu tập mà chúng tôi đã thu thập được.
Nằm trong khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của văn hiến Trung Hoa, ấn
chương Việt Nam về cơ bản có nhiều điểm gần gũi với ấn chương Trung
Quốc. Tuy nhiên ở Trung Quốc tương truyền ấn chương có từ thời Hoàng đế
(khoảng năm 2500 TCN) và các nhà khoa học đã khẳng định ấn chương Trung
Quốc có từ cuối Xuân Thu Chiến Quốc (năm 770 - 255 TCN), thì ở Việt Nam
các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những ấn hoa văn (tiền thân của ấn
chương Việt Nam) có niên đại khoảng thế kỉ XV - XVI (TCN) ở Hậu Lộc,
Thanh Hóa. Nếu như ở Trung Quốc, sự phát triển và tồn tại của ấn chương
mang tính hệ thống liên tục, duy trì đến tận bây giờ với rất nhiều tác
gia, tác phẩm viết về ấn chương học, thì ở Việt Nam không có được sự
tương đồng, thậm chí đã bị đứt đoạn ở một số đời vua thuộc những vương
triều phong kiến khác nhau.
Trải qua bao cuộc kháng chiến chống xâm lược oanh liệt và cả các cuộc
nội chiến đẫm máu, cộng với sự tàn phá nặng nề của thiên tai, biết bao
ấn chương các loại và văn bản có lưu hình dấu phải chịu chung số phận
tro bụi cũng cung điện, lầu các, thư phòng v.v… Với nỗ lực tìm kiếm từ
Nam ra Bắc chúng tôi cũng chỉ gom góp được hơn trăm hiện vật ấn chương
và ngót nghìn văn bản có hình dấu khác nhau, chủ yếu ở thời Nguyễn. Kết
hợp với những tài liệu chính sử, dã sử, tư liệu địa phương, bài viết lẻ
tẻ và những văn bản Hán Nôm đã rách ố, chúng tôi bước đầu tuyển chọn
giới thiệu sơ lược ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX.
Bắt đầu từ những quả ấn, đó là khối tư liệu hiện vật quý giá quan trọng
trong việc nghiên cứu, công bố ấn chương Việt Nam. Những quả ấn này có
chất liệu, trọng lượng, hình thức, niên đại và nội dung văn khắc khác
nhau và được chia thành hai loại. Loại thứ nhất sau khi khắc chữ ở phần
đế, ấn được đem dùng luôn. Loại thứ hai sau khi khắc chữ ở phần đế, ấn
phải qua công nghệ đúc mới được dùng. Giá trị lớn nhất của hiện vật ấn
chương là tính chân thực của niên đại được khẳng định ở hiện vật: Có
những ấn gốm hoa văn đã đạt tới hơn 3.000 năm tuổi. Cùng với các cổ vật
khác, chúng gắn liền với những nền văn hoá cổ xưa của dân tộc Việt Nam
như văn hoá Hoa Lộc - Thanh Hoá, văn hóa Óc Eo - Nam bộ. Chúng rất có ý
nghĩa trong nghiên cứu khảo cổ học, sử học cũng như bảo tàng học sau
này. Song, thực trạng hiện vật ấn chương hiện còn với số lượng quá ít
sẽ không bao quát hết toàn bộ hệ thống ấn chương các loại, cũng chưa đủ
đại diện cho ấn chương mỗi triều đại, do đó việc nghiên cứu hiện vật ấn
chương tuy quan trọng những cũng chỉ thể hiện một mặt trong nghiên cứu
ấn chương nói chung. Vả lại mỗi một quả ấn cho ra đời một hình dấu -
tức một văn bản cô đọng ngắn gọn; nó thể hiện nét đặc thù riêng của
loại hình ấn tín: lượng thông tin trong tự thân văn bản có một số hạn
chế nhất định. Việc nghiên cứu ấn chương bắt buộc phải mở rộng đến các
văn bản Hán Nôm mang hình dấu ấn, đó là mảng tư liệu phong phú, đa dạng
đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu ấn chương.
Văn bản Hán Nôm có lưu hình dấu có hai dạng khác nhau: Thứ nhất là dạng
văn bản có chất liệu bằng giấy hoặc vải lụa, người ta dùng ấn thấm mực
đóng trực tiếp lên trên. Dạng văn bản thứ hai là những hiện vật bằng
đá, gỗ, kim loại, gốm sứ được khắc lại trực tiếp hình dấu, hoặc được
khắc, vẽ lại hình dấu rồi qua công nghệ đúc, nung mà thành. Trong đó
dạng văn bản thứ nhất - văn bản giấy chiếm số lượng tối đa và giữ vai
trò chính trong việc nghiên cứu ấn chương.
Văn bản giấy có nhiều loại khác nhau như thư tịch sách vở, tài liệu
hành chính, thư pháp tranh ảnh, tấu sớ bùa chú v.v… Trong đó mảng tài
liệu hành chính công văn giấy tờ là còn lưu nhiều hình dấu quan ấn (ấn
công) nhất. Đó là những sắc, chiếu, chế, cáo, chỉ, dụ; mảng tài liệu
quan trọng này gắn với Hoàng đế và bộ phận hành chính thân cận nhà vua.
Hình dấu trên đó được đóng ra từ những Bảo Tỉ của vua hoặc những ấn
chương khác có ý nghĩa quốc gia trọng đại. Bên cạnh đó là khối lượng
lớn các văn thư hành chính khác được làm ra từ các nha môn thuộc các cơ
quan trung ương ở kinh đô như hệ thống lục bộ, lục tự, giám sát v.v…
với mấy loại văn bản khác nhau theo các con đường đi khác nhau. Loại
văn bản gửi lên Hoàng đế qua văn phòng nhà vua, loại văn bản gửi đến
các cơ quan ngang cấp hay tới các chính quyền địa phương, quân doanh
đơn vị ngoài kinh đô, và một loại văn bản gửi cho thuộc viên cấp dưới.
Các văn bản đó đều được đóng các con dấu khác nhau vào nơi quy định của
trưởng nha môn hoặc người được thẩm quyển dùng dấu. Đối với các chính
quyền địa phương, lực lượng quân đội và cơ quan dân sự ngoài kinh đô
thì cũng dùng các hình thức văn bản có tính chất tương tự. Tất cả các
loại văn thư hành chính này đều có tên gọi riêng như sớ, tấu tập, tư
(tư di, tư trình), sức, chiếu hội v.v… Ở mỗi loại văn bản có cùng một
nội dung được lập ra để giải quyết công việc theo hình thức hàng dọc mà
gọi theo ngôn ngữ văn bản học Hán Nôm là bản chính, bản phó hay bản lục
v.v… được xếp chung gọi là các dạng văn bản. Mỗi dạng văn bản có khi
được làm hai hoặc vài ba bản dùng để gửi đi và lưu chiểu, đối chiếu. Ở
mỗi loại văn bản, dạng văn bản đều có dấu tích công nhận khác nhau đóng
ở những chỗ quy định như dòng ghi niên hiệu, chỗ tên riêng, chỗ quan
trọng, chỗ tẩy xoá và nơi giáp phùng.
Ở một số loại sách như địa bạ, sách riêng của dòng họ, sách in chúng ta
có thể tìm thấy thưa thớt một số hình dấu nhỏ, đơn giản. Trên các tác
phẩm nghệ thuật thư pháp, tranh họa, bản giao kèo mua bán và ở các lá
sớ, bùa chú chúng ta cũng tìm thấy nhiều hình dấu lớn nhỏ khác nhau. Đó
là những hình dấu tư ấn (ấn riêng) thuộc lĩnh vực văn hoá nghệ thuật,
thương mại và tôn giáo tín ngưỡng.
Cũng như ấn chương Trung Quốc và các nước khu vực dùng chữ khối vuông,
ấn chương Việt Nam thể hiện rõ những chức năng riêng biệt của ấn chương
nói chung và ở mỗi loại ấn chương nói riêng. Từ ý nghĩa biểu tượng của
pháp chế quyền lực đến chức năng khẳng định quyền sở hữu và khẳng định
tính chân thực, ấn chương Việt Nam không chỉ mang tính pháp lí hành
chính mà còn thể hiện rõ tính văn hoá - xã hội. Bắt đầu từ những Bảo Tỉ
của Hoàng đế dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại đến những quả ấn nhỏ
xíu của một thường dân là cả một hệ thống ấn chương hoàn chỉnh, có tên
gọi và cách dùng riêng biệt. Qua nghiên cứu thống kê ta có thể phân
loại ấn chương Việt Nam thành nhiều loại khác nhau là Kim ngọc Bảo Tỉ,
ấn cơ quan, Chương và Tín chương, Quan phòng chức vụ, Kiềm ấn, Đồ kí,
Kiềm kí, Tín kí - Kí và mảng ấn tín tư nhân. Đồng thời ở đây cũng phân
chia rõ rệt hai hệ thống quan ấn và tư ấn; trong đó quan ấn mang tính
pháp lí hành chính nhà nước có quy chế nhất định, còn tư ấn thể hiện
tính tự do ngoài khuôn khổ qui định.
Tương ứng với ý nghĩa nội dung của mỗi loại ấn, người ta đã đặt ra
những quy ước hình thức cho việc chế tác ấn chương từng loại riêng
biệt. Những hình thức được chạm khắc ở núm ấn đầu tiên phải kể đến
những con vật thiêng theo ý niệm tôn giáo như long, li, quy, phượng,
hoặc là loài mãnh thú như hổ, sư tử. Những hình muông thú khác cùng các
hình thể đơn giản như tay quai, chuôi vồ v.v… được chạm, khắc, đúc ở
mỗi loại ấn khác nhau đã dựng nên bức tranh nghệ thuật sinh động của ấn
chương Việt Nam.
Hình thức mặt đế ấn là điều quan trọng nhất trong việc chế tác ấn
chương. Chính nó sẽ cho ra đời một hình dấu trên văn bản có nội dung
trọn vẹn, bao hàm cả ý nghĩa biểu tượng của hình thể ấn mỗi loại. Chúng
ta sẽ tìm thấy nhiều hoạ tiết đường viền khác nhau vành ngoài đế ở một
số loại ấn mà chủ yếu trong Bảo Tỉ của Hoàng đế, Hoàng tộc và nội cung.
Nó không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng cho loại ấn mà còn hàm chứa lượng
thông tin cao đối với người tiếp nhận khi nhìn thấy hình dấu trên văn
bản. Nhưng cái chính ở đây là nội dung văn khắc trên mỗi con dấu khác
nhau. Với số lượng chữ, thể chữ, bố cục sắp xếp không giống nhau, mỗi
hình dấu đã thể hiện đầy đủ ý nghĩa nội dung của một con dấu, nó được
coi là một văn bản hoàn chỉnh, cô đọng và nhiều khi khá sâu sắc.
Không có tham vọng biên soạn thành một cuốn sách chuyên khảo lí luận về
ấn chương Việt Nam, ở đây chúng tôi chỉ dựa trên cơ sở tư liệu, thực
trạng hiện vật ấn và hình dấu trên văn bản để mô tả giới thiệu ấn
chương dưới góc độ của người sưu tập và nghiên cứu. Thực tế tư liệu ấn
chương thời Lê sơ, Mạc và Lê Trung hưng tìm được quá ít, nên việc giới
thiệu chắc chắn không đầy đủ và bao quát hết được ấn chương những giai
đoạn này. Vì vậy bố cục cuốn sách chúng tôi cố gắng sắp xếp cân đối
trong việc phân chia chương mục.
Ấn chương từ thời Lê sơ đến Tây Sơn được tập hợp vào chung phần thứ
nhất, trong đó ấn chương thời Lê sơ, Mạc và Lê Trung hưng với số tư
liệu chỉ đủ để giới thiệu một cách khái quát và sơ lược. Riêng thời Tây
Sơn tuy ngắn ngủi nhưng tư liệu về cơ bản đã bao quát được ấn chương
của vương triều này. Ở phần I, bối cảnh lịch sử của ấn chương được
trình bày như một lời dẫn nối gắn với thực trạng ấn chương của mỗi
triều đại. Người đọc chắc sẽ cảm thấy thiếu vắng, sơ sài, song thực tế
tư liệu không cho phép chúng tôi đi xa hơn khi chưa có đủ căn cứ chắc
chắn.
Ấn chương Việt Nam thời Nguyễn ở phần II được giới thiệu nhiều và chi
tiết hơn các thời kì trước. Tư liệu thời kì này khá phong phú song cũng
chưa thể đại diện đầy đủ hết mọi phương diện của ấn chương giai đoạn
này, nhất là xét về hiện vật ấn chương. Từ Kim ngọc Bảo Tỉ của hoàng đế
đến ấn tín tư nhân thời Nguyễn, chứng tôi đã cố gắng dựng lại bức tranh
ấn chương thời Nguyễn tương đối hoàn chỉnh để qua đó có thể ít nhiều
hình dung ra phần nào ấn chương các triều đại trước đó.
Chúng tôi tuyển chọn giới thiệu 223 hình ấn và dấu minh họa trong bộ
sưu tập mà chúng tôi thu thập được. Ảnh minh họa gắn với nội dung giới
thiệu mô tả của mỗi quả ấn hay hình dấu trên văn bản và được sắp xếp
theo trật tự triều đại từ thời xưa đến cuối thời Nguyễn. Mỗi quả ấn,
hình dấu được đánh số thứ tự riêng. Hiện vật ấn được minh họa dưới các
hình thức sau:
Nếu có 4 kiểu thì được ghi là: mặt trên ấn (a), núm ấn (b), mặt đế ấn (c) và dấu (d).
Nếu có 3 kiểu thì ghi là: núm hoặc mặt trên ấn (a), mặt đế ấn (b) và dấu (c).
Nếu có 2 kiểu thì ghi là: núm ấn hoặc mặt trên ấn (a) và dấu hoặc mặt đế ấn (b).
Ảnh minh họa gồm hiện vật, hình dấu,văn bản lẫn hình dấu được ghi là H.
(hình), thứ tự từ H.1 đến H.233. Kích cỡ to nhỏ của ảnh minh họa làm
theo hình thức bố cục cân đối phù hợp với mỗi trang sách phần mục
riêng, không phụ thuộc vào kích cỡ thật của hiện vật, hình dấu và văn
bản.
Hiện vật ảnh minh họa được gọi chung là ấn, không gọi kiểu cách phân
loại loại hình như Quan phòng, Đồ kí, Kiềm kí v.v… Tên ấn hoặc dấu được
đặt theo cách gọi của nội dung văn khắc chữ Triện ở chính văn.
Hình dấu có thể đứng độc lập hoặc nằm trong một văn bản Hán Nôm khác.
Nếu hình dấu nằm trong một văn bản khác sẽ được ghi liền với niên đại
của văn bản và chỉ viết hoa chữ ghi niên hiệu.
Về việc viết hoa tên ấn, dấu, nhân danh, địa danh, niên hiệu, can chi
và tên chức quan trong nội dung văn khắc ấn, dấu, chúng tôi tạm theo
một quy định riêng, xin giới thiệu vắn tắt dưới đây để bạn đọc tiện
theo dõi.
- Phần chính văn: đối với chữ Hán khắc ở mặt trên ấn, chữ Triện ở mặt
đế ấn (đối với hiện vật) và nội dung chữ trong hình dấu (đối với dấu
trong văn bản) khi phiên âm, chỉ viết hoa đối với chữ niên hiệu, địa
danh, nhân danh và không viết hoa tên chức quan. Khi dịch, viết hoa tên
niên hiệu, địa danh, nhân danh, can chi và tên chức quan.
Chú thích ảnh: Tên ấn và dấu (gọi theo phiên âm) viết hoa tên niên hiệu, địa danh, nhân danh; không viết hoa tên chức quan.
Để công tác in ấn được thuận lợi, chúng tôi không in ảnh màu minh họa
xen kẽ trong phần nội dung mà chọn 32 trang ảnh màu để ở phần phụ lục
cuối sách. Trong đó những ảnh nào trùng lặp với ảnh đen trắng thì xếp ở
trước và ghi số thứ tự ảnh giống như ở nội dung sách. Còn số ít ảnh màu
thêm vào dùng để tham khảo thì xếp ở phía sau và cuối phần phụ lục.
Ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX được hoàn thành,
chúng tôi hi vọng đó là sự khởi đầu cho bộ môn ấn chương học Việt Nam
và mong muốn sẽ có nhiều người tham gia với những bài viết và công
trình kế tiếp.
Trong quá trình biên soạn công trình, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ
của nhiều học giả, đồng nghiệp trong và ngoài Viện Nghiên cứu Hán Nôm,
từ Hà Nội qua Huế tới Sài Gòn - Nam Bộ, từ những ý kiến mang ý nghĩa
học thuật đến việc cung cấp một vài hình dấu tư liệu cụ thể. Nhân đây
chứng tôi xin được bày tỏ lòng tri ân với tất cả, đặc biệt là GS. Hà
Văn Tấn người đã cho chúng tôi nhiều ý kiến quý báu trong việc hoàn
thành công trình.
Thực hiện công trình, chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ của lãnh đạo
và cán bộ ở các cơ quan như Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Bảo tàng Lịch sử
Việt Nam - Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, Trung tâm Lưu
trữ trung ương II - thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam -
thành phố Hồ Chí Minh và đặc biệt là Toyota Foundation của Nhật Bản -
đơn vị đã tài trợ cho việc biên soạn và xuất bản cuốn sách này. Nhân
đây chúng tôi xin được bày tỏ lời cám ơn sâu sắc nhất.
Quá trình biên soạn công trình chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn, tuy đã
cố gắng hết sức song chắc chắn còn không ít thiếu sót, chúng tôi xin
được lĩnh giáo ý kiến xây dựng bổ sung của quý độc giả để khi tái bản
cuốn sách được sửa chữa hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội tiết lập thu năm Giáp Thân 2004
NGUYỄN CÔNG VIỆT
PHẦN MỞ ĐẦU
KHÁI QUÁT VỀ ẤN CHUƠNG HỌC VÀ ẤN CHUƠNG VIỆT NAM
I. Khái luận về ấn chương và ấn chương học
Trên thế giới, ở các quốc gia, các dân tộc có lịch sử văn hiến cũng đều
tồn tại hệ thống ấn chương. Lịch sử xuất hiện ấn chương ở mỗi quốc gia
khác nhau có nhiều điểm khác biệt, song tựu trung điểm thống nhất cơ
bản là sự gắn bó mật thiết giữa lịch sử ấn chương với sự hình thành và
phát triển của lịch sử thành văn.
Trung Quốc, cái nôi của văn hóa Đông phương có lịch sử thành văn đã mấy
nghìn năm, sự ra đời của ấn chương cũng gắn liền với sự hình thành và
phát triển của lịch sử thành văn Trung Quốc. Ấn chương Trung Quốc gọi
là “Tỷ” 璽, tương truyền ấn chương xuất hiện từ thời Hoàng Đế (khoảng
năm 2500 TCN). Cổ tịch Trung Quốc mà tác giả sống thời Hán đã ghi lại
về sự xuất hiện rất sớm của ấn tỷ trong sách Xuân thu vận đẩu khu:
“Hoàng Đế thời hoàng long phụ đồ trung hữu tỷ chương”[6] (Thời Hoàng Đế
có con rồng vàng đội bức địa đồ trong đó có tỷ chương). Sách Hậu Hán
thư - Tế tự trí hạ ghi lại về nguồn gốc của ấn chương “Thời Tam Hoàng
không có văn tự, cai trị bằng tết thừng, từ Ngũ Đế trở về sau có thư
khế văn tự, đến đời Tam Vương (Hạ Kiệt, Thương Thang, Chu Văn Vương và
Võ Vương) tục hóa Triện văn, sau mới có tỷ ấn…”[7]. Trong sách Dật Chu
thư - Ân chúc giải cũng ghi rằng khi vua Thành Thang đuổi Kiệt, đại hội
chư hầu, Thành Thang đã nhận được ngọc tỷ và lên ngôi Thiên tử.
Về sự xuất hiện của Tỷ ấn gắn liền với việc chính thức phát minh và sử
dụng văn tự trong quá trình phát triển xã hội Trung Quốc cổ trên mọi
lĩnh vực. Văn giáp cốt thời Ân - Thương được người ta coi là những văn
tự tượng hình sớm nhất ở Trung Quốc nhưng bản thân nó lại bị giới hạn
về nội dung và phạm vi sử dụng, nên nó không thể bao quát hết được văn
tự nói chung của thời kỳ Ân - Thương. Những phát hiện khảo cổ học tìm
thấy chứng tích thời Ân ở An Dương - Hồ Nam cũng không giúp cho việc
khẳng định nguồn gốc ấn chương thời cổ một cách chính xác. Có ý kiến
cho rằng đó là những di vật thời Tây Chu trên mặt có khắc hình văn tự
hoặc phù hiệu nhưng không thể đọc nhận biết chính xác được và trong đó
không có gì liên quan đến ấn chương. Người khác lại cho rằng trong đó
có tín hiệu về ấn chương Trung Quốc. Tương tự trong khai quật mộ táng
thời Tây Chu tuy không phát hiện ấn tỷ, nhưng có chứng tích về phù tiết
của một chủng thị tộc thuộc đất nước Trung Hoa. Có ý kiến cho rằng
“Tiết” (節) có nhiều loại dùng và tên gọi, ấn chương gọi là Tỷ tiết trên
khắc quan danh, tên họ dùng làm tín vật…
Có thể tin rằng khởi nguyên của Tỷ ấn ở Trung Quốc vào thời Xuân Thu.
Sách Quốc ngữ - Lỗ ngữ chú rằng “… Tỷ, ấn dã; Tỷ thư, ấn phong thư dã”
(Tỷ là ấn, tỷ thư là sách có ấn niêm phong). Thời đó người Trung Quốc
vẫn dùng thẻ tre và vỏ cây làm giấy viết văn thư cả việc công lẫn việc
tư khi gửi đều dùng dây buộc lại, chỗ nút buộc người ta dùng đất bùn
đánh dấu lên trên để làm tin. Khi tiếp nhận chỗ đất đánh dấu còn nguyên
hoặc không có vết nghi ngờ thì công việc truyền tin đó coi như đã hoàn
thành. Dần dần những chỗ đánh dấu bằng đất bùn đó được làm cẩn thận, kỹ
thuật hơn và có những ký hiệu truyền tin riêng biệt để tránh sự giả
mạo. Có thể nói đó là lịch sử xuất hiện của ấn chương Trung Quốc, hoặc
nói một cách khác ấn chương sau này đã tiếp thu tinh thần đánh dấu bằng
bùn đất và người ta đã làm ra loại hình văn ấn gọi là “Nê phong”, hoặc
“Phong nê”, tức là vẽ, viết chữ tượng hình trên khuôn đất bùn để đánh
dấu làm tin.
Trải qua quá trình phát triển, ấn chương đã trở thành đối tượng nghiên
cứu của các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và văn hóa nghệ thuật, có vị
trí một khoa học độc lập gọi là ấn chương học.
Ấn chương học: Sigillographie - Theo cách gọi của giới nghiên cứu cổ
sử. Ấn chương học: Sphragistics - Theo cách gọi của các nhà nghiên cứu
Ngữ văn học. Ấn chương (印章) theo cách giải thích của các nhà nghiên cứu
Trung Quốc đương đại thì chữ “ấn” (印) có chữ gốc từ chữ “ức” (抑) nghĩa
là ấn xuống dưới. Tượng hình chữ là một bàn tay to ấn mạnh xuống một
người nhỏ bé đang quỳ. Về sau mở rộng nghĩa thành chữ ấn (là ấn chương)
mà ngày nay người ta gọi là con dấu, vì khi đóng dấu cần động tác ấn
mạnh xuống. Chương (章) nghĩa gốc là đánh dấu, sau này cũng như chữ “ấn”
nó biểu tượng cho con dấu khi động độc lập và là tên gọi của một bộ môn
khoa học khi đi liền với chữ “ấn” gọi là ấn chương học.
Ở các nước phương Tây, ấn chương học tồn tại với ba chức năng chính:
1. Sự kết thúc (clore).
2. Khẳng định quyền sở hữu (propriété).
3. Khẳng định tính chân thực (authentifier).
Ở nhiều trường hợp ba chức năng này tồn tại độc lập, tách rời nhau,
nhưng nhiều khi chúng cũng phải kết hợp với nhau trong một loại hình
văn bản hoàn thiện đa năng.
Ở các nước phương Đông mà điển hình là Trung Hoa, ấn chương ngoài những
chức năng trên còn một chức năng quan trọng nổi bật là biểu tượng của
pháp chế quyền lực, thể hiện rõ nét chế độ pháp quyền quân chủ chuyên
chế phong kiến phương Đông.
Sự hình thành, tồn tại và phát triển của ấn chương gắn bó chặt chẽ với
chế độ xã hội trên mọi lĩnh vực chính trị, tôn giáo, quân sự, kinh tế
v.v… Khi xã hội có sự biến động, thay đổi, phân chia giai cấp, đẳng cấp
rõ ràng hơn đã xuất hiện các loại hình ấn chương khác nhau. Ấn chương
không chỉ mang ý nghĩa đánh dấu tín vật làm bằng chứng mà còn thể hiện
rõ chức năng biểu thị quyền lực, pháp chế, tăng thêm tính pháp quyền
của giai cấp thống trị. Đây là lý do cơ bản cho việc tồn tại, phát
triển và hoàn thiện hệ thống ấn chương từ những thời kỳ đầu chế độ
phong kiến.
Nói đến quyền lực pháp chế của giai cấp thống trị ở xã hội phương Đông
xưa là phải nói đến Hoàng đế. Hoàng đế giữ quyền tối cao định đoạt tất
cả mọi việc, thay trời hành đạo, trị vì thiên hạ. Chính vì vậy, việc
chế tác và sử dụng ấn chương của Hoàng đế được đặc biệt chú trọng, và
đôi khi nhuốm cho nó màu sắc tôn giáo siêu hình. Từ việc chọn chất liệu
quý như ngọc để tạo tác, đến việc khắc chữ, chạm hình rồi đặt tên, tế
lễ v.v… cho ấn ngọc, ấn vàng. Như ở Trung Quốc ấn của vua được gọi là
Tỷ rồi Bảo, nó được coi là báu vật của quốc gia và tượng trưng cho Đế
quyền. Là Thiên tử, Hoàng đế nhận mệnh của Trời, nên họ đã cho chế tác
ấn quý khắc chữ có nội dung “Vua nhận mệnh Trời” để dùng làm ấn truyền
quốc. Ví dụ như Ngọc tỷ Thụ mệnh vu thiên ký thọ vĩnh xương (Nhận mệnh
ở Trời được sống lâu thịnh vượng)[8], Đại Tống thụ mệnh chi bảo (Bảo ấn
của Đại Tống nhận mệnh ở Trời)[9], Hoàng đế phụng thiên chi bảo (Bảo ấn
của Hoàng đế phụng mệnh Trời)[10] v.v…
Tính pháp quyền của ấn chương còn được thể hiện rõ ở hệ thống ấn chương
trong tổ chức chính quyền từ trung ương đến địa phương, từ lực lượng
quân đội đến cơ quan dân sự. Vua và triều đình đặt cấp, phong chức trao
quyền cho văn quan võ tướng, đồng thời là việc ban cấp ấn tín để sử
dụng trong công vụ. Đó là biểu tượng của pháp chế quyền lực, mà bản
thân người được giao nhận ấn tín và đối tượng liên quan phải chấp hành
nghiêm cẩn, cấp dưới hay binh lính cũng như quảng đại quần chúng phải
tuân thủ tuyệt đối khi nhìn thấy hình dấu in trên văn bản mà không cần
phải trông thấy sự hiện diện của một quả ấn cụ thể nào. Mỗi một loại ấn
tín đều có cách sử dụng riêng được dùng cho một hay vài loại văn bản
chỉ định, đó là những quy định bất biến được lập thành pháp luật mà bản
thân người nhận quyền dùng ấn phải chịu trách nhiệm. Đối với quan lại
tướng lĩnh đánh mất ấn tức là đánh mất chức vụ quyền lực, đối với Hoàng
đế và triều đình để mất Tỷ, Bảo truyền quốc tức là để mất ngôi mất nước.
Trong thời kỳ đầu xã hội phong kiến ở các quốc gia phát triển với nền
kinh tế ngày một hưng thịnh, giao lưu thương trường gia tăng, các đô
thị mới hình thành. Ấn chương lúc này không chỉ còn là đặc trưng của cơ
cấu quyển lực quốc gia nữa, mà nó đã phát triển ra ngoài xã hội gắn với
kinh tế thị trường, trở thành biểu tượng trong hoạt động và sinh hoạt
xã hội thường ngày của tất cả mọi người trong cộng đồng xã hội. Từ
những ký hiệu đánh dấu đến hình dấu mang ý nghĩa tín vật làm bằng chứng
phát triển thành con dấu, ấn chương gắn với giao lưu thương phẩm hàng
hóa. Đa số các gia tộc lớn tham gia sản xuất hàng hóa và buôn bán trên
thương trường đều có ấn tín riêng. Đó là những quả ấn nhỏ được làm
nhiều kiểu khác nhau được dùng đánh dấu vào một số loại hàng hóa, đóng
dấu vào bản giao kèo mua bán, vào giấy làm tin v.v… Ấn tín này thể hiện
rõ những chức năng khẳng định quyền sở hữu và khẳng định tính chân thực
của hàng hóa vật phẩm sản xuất và việc buôn bán trao đổi vật phẩm hàng
hóa đó. Đó là những thứ mà cả xã hội phương Đông và phương Tây từ cổ
chí kim đều phải sử dụng như dược liệu, vải vóc, quẩn áo, đồ trang sức
và văn hóa phẩm v.v… không ít cổ vật trang sức có in hình dấu ấn còn
được lưu giữ đến ngày nay.
Trong lịch sử phát triển, ấn chương không chỉ còn gắn bó riêng với
quyền lực luật pháp hay hoạt động sinh hoạt xã hội nữa mà đã trở thành
một bộ phận không thể thiếu được của nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ,
hội họa, thư pháp. Điều này thấy rõ ở những quốc gia lớn có nền văn
minh sớm như Trung Quốc. Nghệ thuật điêu khắc chạm trổ nhìn từ góc độ
ấn chương ở Trung Quốc thật hoàn mỹ và phong phú. Núm ấn đa phần được
làm theo hình thú vật mà chủ yếu là con thú trong tôn giáo tín ngưỡng
hay biểu tượng của chúa tể trong loài vật như rồng, phượng, hổ, sư tử,
rùa, lân, lạc đà v.v… Đó là những hình tượng sống động tượng trưng cho
cái cao cả, uy quyền của bậc đế vương, cho cái đẹp rực rỡ uy nghi của
Hoàng hậu, cái mạnh mẽ hùng tráng của Đại tướng quân v.v… Đối với ấn
tín tự do ngoài xã hội thì tính sáng tạo ngày một được nâng cao với sự
đa dạng và hoàn mỹ. Từ những chất liệu thiên tạo có sẵn như ngọc, đá,
sừng, xương thú, các nghệ nhân đã tạo tác ra các quả ấn nhiều dáng vẻ
khác nhau. Đó là những tác phẩm nghệ thuật sinh động góp phần không nhỏ
trong sự phát triển đi lên của nghệ thuật điêu khắc chạm trổ ở mỗi quốc
gia, dân tộc. Điều này không riêng gì Trung Quốc mà còn thấy ở một số
nước phương Tây và Hồi giáo.
Cũng như điêu khắc, hội họa và thư pháp Trung Quốc hầu như không tách
rời ấn chương. Trên những bức tranh và thư pháp không chỉ thấy một mà
nhiều hình dấu đóng ở các vị trí khác nhau, nó là sự hình thành phong
cách đặc biệt “Thi thư ấn họa” chỉ có trong hội họa và thư pháp Trung
Quốc. Ấn chương đã góp phần đưa hội họa và thư pháp Trung Quốc lên đỉnh
cao giá trị nghệ thuật.
Sự thành công của ấn chương dẫn đến việc thưởng thức nghệ thuật khắc ấn
cùng “Thi thư ấn họa”, rồi từ đó nó trở thành thú tiêu khiển của tầng
lớp trí thức, quan lại quý tộc và thương gia giàu có đương thời. Thậm
chí không ít vị Hoàng đế Đông phương cũng đã bỏ nhiều thời gian, tiền
bạc cho việc chế tác, sử dụng và thưởng thức ấn chương cùng “Thi thư ấn
họa”. Người ta gọi đó là “Tư chương” và “Nhàn chương”, mà đối với các
vị Hoàng đế và quan lại, trí thức hay chữ, nó là những vật dụng thân
thiết luôn mang theo bên mình.
Nghệ thuật khắc ấn ngày một tinh mỹ, đa dạng, hình thành các trường
phái riêng biệt với nhiều Triện khắc gia nổi tiếng, còn ấn chương nói
chung dần dần trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều cá nhân, nhiều
trường phái; rồi từ đó xuất hiện những bài viết và tác phẩm về ấn
chương. Qua nhiều giai đoạn lịch sử dưới các triều đại phong kiến khác
nhau, chỉ tính riêng Trung Quốc đã có hàng mấy trăm tác gia và tác phẩm
tiêu biểu viết về ấn chương học. II. Khái lược về ấn chương học Trung Quốc
Sự xuất hiện của ấn chương Trung Quốc gắn liền với sự phát triển của
lịch sử thành văn Trung Quốc. Bên cạnh Cổ tiền học (Numismatics) và
Minh văn học (Epigraphics), ấn chương học (Sphragistics) là viên đá
lớn trong nền móng của lịch sử thành văn Trung Quốc giúp ích cho công
tác nghiên cứu lịch sử ngôn từ.
Qua nhiều công trình nghiên cứu về ấn chương từ cổ đến nay, các nhà
khoa học Trung Quốc đã khẳng định ấn chương Trung Quốc đã có từ thời
Xuân Thu - Chiến Quốc (770 - 255 TCN).
Thời Xuân Thu, nền nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp của
các nước chư hầu lớn đã phát triển mạnh, giao lưu thương phẩm phồn
thịnh, công nghệ tạo đúc đồng xanh tiến bộ, nhu cầu trong kinh tế xã
hội đòi hỏi dẫn đến việc sản sinh ra ấn tỷ làm tín vật bằng chứng. Giai
đoạn này đã xuất hiện việc chế tạo ấn chương bằng đồng và bằng đất
nung. Các thời kỳ sau đó, việc làm và sử dụng ấn chương ngày một thịnh,
cho đến bây giờ người Trưng Hoa còn lưu giữ được những hiện vật và tài
liệu về ấn chương từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc. (H.1&2)[11]


Tỷ là cách gọi của ấn chương Trung Quốc trước thời kỳ Tần Thủy Hoàng
thống nhất lục quốc tức là thời Tiên Tần, giai đoạn này từ vương công
quý tộc đến thứ dân đều dùng Tỷ không phân biệt. Chữ Tỷ ấn văn đương
thời lúc đó có nhiều kiểu viết chữ, có chữ thì chỉ quả ấn có chất liệu
bằng bùn đất, có chữ thì chỉ loại ấn có chất liệu thuộc kim loại. Ban
đầu Tỷ ấn đều được làm từ đất bùn và Tỷ ấn bằng kim loại thì được làm
ở giai đoạn sau, khi mà xã hội đã phát triển.
Thời Tiên Tần, cơ cấu chính quyền ngày một hoàn thiện, vai trò của ấn
chương bắt đầu định hình với chức năng tín vật làm bằng chứng và tượng
trưng của quyền lực. Đương thời quốc thư của trung ương vương thất và
các nước chư hầu cùng các khế ước của cấp dưới đến thứ dân đều đóng dấu
ấn chương, kiềm cái coi là tín vật bằng chứng của tín ước. Cơ cấu
quyền lực các cấp cần tuyên bố chính lệnh, chính sách cho dân chúng đều
dùng ấn làm tín vật quyền uy. Chính phủ trao quyền mệnh cho quan lại
cấp dưới cũng phải ban cấp ấn chương coi đó là tiêu chí của chức vụ cấp
bậc trong hoạt động công vụ.
Trong hoạt động kinh tế chức năng ấn chương được coi là tiêu chí vật
chứng trong các việc thu thuế, quản lý chợ quan, kiểm nghiệm thương
phẩm, cấm hoặc không các loại vật phẩm lưu thông ở thương trường.
Giai đoạn này công nghệ tạo đúc đồng phát triển, một số ít ấn chương
được dùng là ấn phôi tức là loại ấn chưa qua đúc, nhưng được khắc chữ
trực tiếp lên ấn còn đại đa số là ấn đúc, tức là khắc chữ lên ấn rồi
qua công nghệ đúc mới đưa vào sử dụng. Công nghệ chế đúc ấn chương thời
kỳ này ngày một tiến bộ và tinh mỹ.
Ấn văn trên cổ tỷ của các nước ở giai đoạn này về thể mạo đều giống
nhau gọi là “Lục quốc cổ văn” theo thể chữ Đại Triện, hình thành một
phong cách riêng. Nhìn tổng thể công nghệ tạo đúc khắc hình thể và ấn
văn thời Tiên Tần đã đạt những thành tựu lớn, ảnh hưởng nhiều đến quá
trình phát triển của ấn chương các giai đoạn sau này. 1. Ấn chương thời Tần - Hán
Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc xây dựng quốc gia trung
ương tập quyền, xây dựng cải cách chế độ trên nhiều lĩnh vực trong đó
có quy định về việc chế tác và sử dụng ấn chương. Quy định ấn chương
của Hoàng đế sử dụng là phải lấy ngọc thạch của nước Sở để điêu khắc
và phải gọi là Tỷ (璽), quan lại và người bình thường dùng ấn thì gọi
là ấn (印) và Chương (章), còn đặt ra loại “phù tiết hợp thừa” dùng cho
cơ cấu chuyên môn, thực thi chế độ giám quản ấn tỷ, cấm việc lạm dụng
chế tác ấn chương không theo quy định.
Ngọc Tỷ của Hoàng đế từ giai đoạn này được coi là báu vật của quốc gia
và tượng trưng cho hoàng quyền, việc sử dụng và quản lý giữ gìn Ngọc Tỷ
được thực hiện theo quy chế nghiêm cẩn, mất Ngọc Tỷ tức là đã tượng
trưng của việc mất nước.
Thời Tần, ấn chương của quan viên và trăm họ về hình thể cũng tương tự
như ấn chương thời Chiến Quốc, nhưng chủ yếu dùng nguyên liệu bằng đồng
để đúc, núm ấn thường làm đơn giản. Tư ấn được tạo tác tinh mỹ cẩn thận
hơn, núm ấn thường làm theo hình thú vật.


Khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi Hoàng đế đã sai quan Lý Tư chế định ra chữ
Tiểu Triện trên cơ sở chữ Đại Triện có quy chỉnh và giản hóa hơn. Hình
chữ Tiểu Triện thường khuôn theo hình vuông, kiểu chữ điền (田) nét chữ
linh hoạt, đẹp đẽ hơn, tuy khuôn vuông nhưng vẫn thể hiện nét mềm mại
uyển chuyển. Chữ Tiểu Triện gần như 100% được dùng làm thể chữ khắc
trên các loại Tỷ, ấn, chương và danh từ ấn triện xuất hiện từ đây để
chỉ tất cả các loại ấn khác nhau có khắc chữ Triện. Danh từ này tồn tại
đến ngày nay và truyền sang các nước khu vực qua giao lưu văn hóa trong
đó có cả Việt Nam. (H.3 & 4)
Sang thời Hán, xã hội Trung Quốc phát triển trên các lĩnh vực, mọi điển
chương chế độ được thực thi cơ bản theo điển chương chế độ thời Tần.
Văn hóa nghệ thuật phát triển mạnh, xuất phát từ thực tế công tác chữ
Lệ thư ra đời do sự sáng tạo của một số thư lại trong các nha môn ở
trung ương cộng với một số học giả quan lại, Lệ thư chính thức nhập vào
rừng nghệ thuật thư pháp Trung Quốc.
Ấn chương thời Hán sơ có đặc điểm quy chế hình thức giống như thời Tần,
giai đoạn này sự phát triển hưng thịnh của ấn chương có những điểm cũng
gần như thư pháp, tuy nhiên nó vẫn mang nét đặc thù riêng biệt của thể
loại ấn chương. Mặc dù chữ Lệ đã ra đời nhưng trong ấn chương vẫn dùng
chữ Triện làm thể chữ khắc trên ấn, chỉ có một ít ấn được khắc kiểu
Triện - Lệ theo phong cách thư pháp, chủ yếu dùng trong giới nghệ thuật
thư pháp mà không sử dụng trong công tác hành chính.
Ấn chương thời Hán phần lớn được tạo đúc kiểu “Bạch văn” (白文) tức là
khắc hoặc làm khuôn mà khi đóng dấu thì sẽ cho ra đời một hình dấu có
nền màu mực và nét chữ sẽ là những nét trắng nên gọi là “Bạch văn”.
Phong cách văn tự trên ấn chương rất phong phú, chủ yếu và đặc sắc là
những kiểu dáng “vuông vức ngay thẳng”, “đoan trang đầy đặn”. Thể văn
khắc trên ấn chương rất sinh động với đường nét cong khuôn vòng vừa
phải, nét đậm không to quá, nét nhỏ không mảnh quá, chỗ mau chỗ thưa
nhưng vẫn giữ được sự cân đối hài hòa, bố cục tự nhiên nhưng vẫn theo
quy tắc nhất định.
Hình thức ấn chương thời Hán rất đa dạng với nhiều dạng kiểu hình
vuông, tròn, chữ nhật. Núm ấn được làm theo hình thú vật mà chủ yếu là
con thú trong tôn giáo tín ngưỡng Trung Quốc như thanh long, bạch hổ,
huyền vũ, chu tước và đồ hình tứ linh long, ly, quy phượng. Ngoài ra
núm ấn cũng được khắc chạm một số loại thú khác như sư tử, lạc đà,
ngựa, chim v.v… nó biểu tượng sự tốt đẹp hùng tráng với nhiều động tác
cách điệu sinh động, nó khẳng định sự sáng tạo của các nghệ nhân khắc
ấn thời Hán.
Bút họa khắc ấn văn ngoài thể chữ Triện và Triện - Lệ, các nghệ thuật
gia thời Hán đã biến hóa cách điệu thành hình các muông thú khác như
loài chim, loài cá, loài trùng hình thành phong cách “Điểu trùng thư
ấn”.
Văn khắc trên ấn ngoài những đặc điểm cơ bản như trên người ta thường
dùng những câu cát ngữ như “Lợi nhật”, “Xuất nhập đại cát”, “Nhật hữu
thiên vạn” v.v…

Điển hình ấn chương thời Hán vẫn là Ngọc Tỷ của Hoàng đế, khi Hán Cao
Tổ Lưu Bang diệt Tần tiến quân vào Hàm Dương, vua Tần phải buộc dây
Ngọc Tỷ truyền đời vào cổ dâng quốc gia cho Lưu Bang và Lưu Bang đã
phong ngọc tỷ đó là Truyền quốc tỷ. Thời Hán còn làm thêm một số ngọc
tỷ khác dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại đó là Hoàng đế hành tỷ,
Hoàng đế tín tỷ, Thiên tử hành tỷ, Thiên tử tín tỷ, v.v… thường gọi là
“Lục tỷ”. Các ngọc tỷ này đều được làm rất công phu có núm hình rồng,
hổ, hoa văn chạm khắc tinh xảo và văn khắc đều dùng thể chữ Tiểu Triện.
Ấn chương thời Hán đã khẳng định sự phát triển đi lên và chiếm vị trí
huy hoàng trong truyền thống lịch sử văn hóa nghệ thuật Trung Quốc.
Ngày nay người Trung Quốc vẫn còn lưu giữ được một số ấn chương giai
đoạn này. (H.5 & 6). 2. Ấn chương thời Đường - Tống
Chế độ ấn chương đến đời Đường - Tông ngày một hoàn bị hơn các thời kỳ
trước, việc chế tác chạm khắc ấn, hoa văn và thể chữ cũng có những quy
định rõ ràng. Đến đời Võ Tắc Thiên nhận thấy chữ Tỷ (璽) đồng âm với chữ
Tức (息) tượng trưng cho sự chết chóc, cho nên năm Diên Tái nguyên niên
(năm 694) đổi Tỷ thành Bảo (寶) và quy định các loại ấn chương về hình
thức, kích thước lớn nhỏ, dầy mỏng v.v… đều có tiêu chí nhất định. Giai
đoạn này số lượng quan ấn tăng gấp bội (do cải cách, tăng thêm chức
quan ?), quy định quan ấn nhất luật dùng “Chu văn” (朱文). “Chu văn” còn
được gọi là “Dương văn” (陽文) tức là nét chữ được khắc nổi khi áp vào
mực son đóng xuống văn bản thì nét chữ sẽ có màu đỏ và khoảng trống là
màu trắng.
Đến đời Đường Trung Tông không theo cách của Võ Tắc Thiên lại đổi Bảo
thành Tỷ như cũ, sang đời Đường Huyền Tông đổi lại gọi là Bảo và từ đây
về sau ấn chương của Hoàng đế thống nhất cách gọi là Bảo.
Thời Đường - Tống phương thức tạo tác có khác thời Tiên Tần và Hán,
“Bạch văn” đã được thay thế bằng “Chu văn”. Bố cục nét chữ trên mặt dấu
được chú trọng, tiết diện mặt dấu của ấn chương trước đây còn để nhiều
khoảng trống, đến đây đã xuất hiện thể chữ mới lấp khoảng trống trên
mặt dấu. Tức là thể chữ khắc trên dấu được kéo dài ra hơn uốn khúc
nhiều lần hình thành một thể chữ gọi là Thượng phương Đại Triện (尚方大篆).
Giai đoạn này văn hóa nghệ thuật phát triển đồng thời với sự gia tăng
hoàn thiện của ấn chương nên đã xuất hiện các quan chức chuyên thu tàng
ấn chương trên cơ sở thu tàng thư pháp, hội họa và nghệ thuật phẩm ở
cung đình. Hoàng đế thường xem các công trình sưu tập ấy (thư, thi,
họa) ban lời khen rồi đóng Tư chương của mình lên. Thi, thư, họa và ấn
cùng phát triển tạo thành sự kết hợp một tác phẩm hoàn mỹ nên từ đó câu
“Thi thư ấn họa” thường đi liền nhau để chỉ một tác phẩm nghệ thuật đã
hoàn thiện. Bên cạnh việc viết chữ, vẽ tranh, làm thơ là việc chế tác
ấn chương. Từ mục đích sáng tác nghệ thuật đã dẫn đến mục đích kinh tế
và từ đây đã hình thành nghệ thuật khắc ấn. Nghệ thuật khắc ấn phát
triển, đồng thời xuất hiện những bài viết và tác phẩm về ấn chương.
Thời Bắc Tống (960 - 1126) những tác giả khắc ấn viết về thi thư ấn họa
nối tiếng đầu tiên phải kể đến Âu Dương Tu[12] (歐陽修). Năm 1061 ông soạn
bộ Tập cổ lục (集古錄) gồm 10 quyển, và năm 1066 ông phụng mệnh làm Bảo ấn
Hoàng đế tôn hiệu chi bảo. Tiếp theo là Tăng Củng[13] (曾鞏) là người đã
tổ chức công trình lớn Kim thạch lục (金石錄) trên cơ sở Triện khắc cổ kim
gồm trên 500 quyển. Tiếp nữa là Mễ Phấn[14] (米粉) là một thư pháp gia
kiêm ấn chương triện khắc gia nổi tiếng đương thời. Một tác gia khác
cũng được sách sử Trung Quốc nhắc tới là Dương Khắc Nhất (陽克一), năm
1107 ông đã soạn sách Tập cổ ấn cách (集古印格) 1 quyển.


Thời Nam Tống (1127 - 1279) có Nhan Thúc Hạ (顏叔夏) soạn Cổ ấn phả (古印譜)
1 quyển. Khương Quỳ (姜葵) làm sách Khương thị tập cổ ấn phả (姜氏集古印譜) gồm
4 sách. Còn phải kể đến Trương Đồng (張同) đã khắc ấn Trương Đồng chi ấn
(張同之印) trên 4 cạnh của trống đồng cổ. Đây là một trong những hình ấn
chương trên trống đồng sớm nhất còn giữ được đến nay, là một trong
những sáng tạo đầu tiên của dòng Triện thư khắc vào trống ở Trưng Quốc.
(H.7, 8 & 9) 3. Ấn chương thời Nguyên (1279 - 1368)
Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt sau khi định đô đã tuyên bố quy định việc
dùng văn tự Bát Tư Ba của đế quốc Nguyên Mông khắp đất nước Trung Hoa.
Quy định tất cả ấn chương của các quan lại ở các cấp chính quyền đều
phải khắc theo thể chữ Bát Tư Ba. Đương thời tầng lớp quý tộc Mông Cổ
làm ấn riêng cũng dùng thể chữ Bát Tư Ba khắc tên vào ấn có tác dụng
như phù hiệu chuyên môn riêng biệt của dân tộc mình. Do đó ấn chương
thời Nguyên đã xuất hiện một hình thức độc đáo mới là “Hoa giáp” (花鉀).
Ấn Hoa giáp đều là Chu văn (朱文) hình thức thường làm hình hồ lô hoặc
hình tỳ bà. Trên mặt ấn văn thì dùng chữ Hán thể Khải thư khắc tên họ,
phía trước thì khắc tên Hoa giáp, loại này còn được gọi là “Nguyên
giáp” (元鉀) và rất thịnh hành vào thời Nguyên.
Tuy nhiên, Hoa giáp hoặc ấn văn Bát Tư Ba chi lưu hành ở trong quan
lại, tướng lĩnh và tầng lớp quý tộc Mông Cổ, còn tư ấn của quan viên và
quảng đại dân chúng người Hán vẫn dùng ấn chương văn khắc theo thể
Triện thư.

Thời Nguyên văn hóa nghệ thuật vẫn duy trì theo truyền thống cũ, sự kết
hợp thi thư ấn họa đã hun đúc nên không ít những con người tài hoa của
lĩnh vực này. Tiêu biểu là Tiền Tuyển (錢選) năm 1279 đầu thời Nguyên ông
đã làm sách Tiền thị ấn phả (錢氏印譜). Ngô Khâu Diễn (呉丘衍) cuối năm 1287
làm sách Cổ ấn thức (古印式). Ngô Phúc Tôn (呉福孫) năm 1311 làm sách Cổ ấn
sử (古印史) , Ngô Duệ (呉睿) năm 1322 làm sách Ngô Mạnh Tư ấn phả (呉孟思印譜),
và sách Hán Tấn ấn chương đồ phả (漢晉印章圖譜). Chu Khuê (朱珪) năm 1359 làm
sách Ấn văn tập khảo (印文集考). (H.10) 4. Ấn chương thời Minh - Thanh (1368 - 1911)
Thời Minh - Thanh xã hội Trung Quốc phát triển đến mức đi lên đỉnh điểm
của thời kỳ phong kiến với rất nhiều biến động. Các lĩnh vực phát triển
mạnh và tập trung chủ yếu ở thành thị. Ngoài Bắc Kinh và Nam Kinh còn
xuất hiện hơn 30 thành thị mới. Nơi đây hội tụ khá đầy đủ tinh hoa của
văn hóa nghệ thuật Trung Quốc đồng thời trong đó có không ít các Triện
khắc gia và các nhà nghiên cứu ấn chương cả người Hán và người dân tộc
khác.
Ấn chương thời Minh - Thanh chia làm hai xu thế thực dụng và nghệ
thuật. Trong giao lưu quan hệ xã hội và kinh tế xu thế ấn chương thực
dụng ngày một được chú trọng hoàn thiện phát triển. Trong sinh hoạt xã
hội và hoạt động văn hóa nghệ thuật nhu cầu dùng ấn chương cũng cao
hơn, phong phú hơn trước; khắc ấn không còn là công tác nghệ thuật hoặc
thú tiêu khiển nữa mà đã trở thành một nghề thủ công nghiệp, làm kế mưu
sinh của không ít người.
Thời kỳ này việc chế tác quan ấn đều theo quy cách chế độ khá hoàn bị.
Đối với quan ấn có quy định rõ về chất liệu, hình thể, thể chữ khắc ấn
v.v… Như quan ấn từ Hoàng đế đến các quan lớn trong triều dùng chất
liệu bằng ngọc, vàng, bạc thể chữ dùng theo thể Thượng phương Đại
Triện, ấn Tướng quân có chất liệu bằng đồng, thể chữ dùng lối Tiểu
Triện v.v…
Quy định chế độ ấn chương nhà Thanh áp dụng như nhà Minh và sử dụng các
thể văn tự Hán, Mãn, Mông và Tạng làm văn khắc ấn, trong đó hai loại
văn tự Hán và Mãn được sử dụng để khắc quan ấn. Từ Bảo Tỷ của Hoàng đế
đến ấn chương của quan lại và tướng lĩnh các cấp đều có quy định chế
tác về chất liệu, hình thể, kích cỡ, thể văn tự, họa tiết nhất định.
Như các Bảo Tỷ của Hoàng đế làm cỡ lớn, núm làm hình rồng chất liệu
bằng vàng và ngọc. Buổi đầu khắc cả chữ Hán và chữ Mãn, chữ Hán khắc
thể Triện thư, chữ Mãn khắc nguyên dạng văn tự Mãn. Đến năm 1749 vua
Càn Long cho đổi khắc lại hơn hai mươi Bảo Tỷ vẫn để hai dạng văn tự
Hán, Mãn trong một con dấu nhưng chữ Mãn được khắc uốn theo lối chữ
Triện, còn một số Bảo Tỷ truyền quốc thì vẫn giữ nguyên như cũ.
Nghệ thuật Triện khắc thời Minh - Thanh phát triển mạnh ngày càng khẳng
định đỉnh cao nghệ thuật của ấn chương Trung Quốc. Nghệ thuật hội họa,
thư pháp ngày một tinh mỹ có tác động mạnh đến sự phát triển của nghệ
thuật Triện khắc.
Người khắc ấn không chỉ là người tạo tác công nghệ sản phẩm, không chỉ
làm các dụng cụ làm tín vật nữa mà đã trở thành những con người sáng
tạo nghệ thuật phẩm, lưu thông văn hóa phẩm. Tác phẩm Triện khắc được
xã hội thừa nhận, lưu truyền, từ đó hình thành phong cách nghệ thuật
Triện khắc. Ở các địa khu kinh tế phát triển, số lượng các Triện khắc
gia nhiều và tập trung hơn các nơi khác nên có sự giao lưu và kế tục,
từ đó đã hình thành các trường phái Triện khắc gia ở mỗi địa khu. Những
người khai sáng trường phái Triện khắc đồng thời còn là những nhà thư
pháp, họa sĩ, nghiên cứu tài giỏi; họ đã đóng góp không nhỏ trong sự
phát triển của ấn chương học nói riêng và văn hóa nghệ thuật nói chung.

Thời Minh (1368 - 1664) có không ít tác giả, tác phẩm viết về ấn
chương, hàng trăm tác giả nổi tiếng với mấy trăm tác phẩm ra đời trong
giai đoạn này. Tiêu biểu là Lã Chấn (呂震) soạn Lịch đại tỷ ấn phả
(歷代璽印譜) năm 1428; Dương Nguyên Tường (楊元祥) soạn Dương thị tập cổ ấn phả
(楊氏集古印譜) năm 1587; Trương Học Lễ (張學禮) soạn Khảo cổ chính văn ấn loại
(考古正文印類) năm 1589; Lai Hành Học (來行學) soạn Tuyên Hòa tập cổ ấn sử
(宣和集古印史) 8 sách năm 1596; Tô Tuyên (蘇宣) soạn Tô Tuyên ấn sách (蘇宣印册)
năm 1605 và Tô thị ấn lược (蘇氏印略) năm 1617; Chu Giản (朱簡) soạn Ấn phẩm
(印品) gồm 5 sách năm 1611; Hà Thông (何通) soạn Ấn sử (印史) năm 1623 ; Hạ
Thụ Phương (夏樹芳) soạn Diễn lộ đường ấn thưởng (演露堂印賞) 8 sách năm 1633.
Riêng năm Sùng Trinh thứ 14 (1641) đã có 11 tác giả với 11 tác phẩm
viết về ấn chương, đồ sộ hơn cả là Kim Thân Chi (金申之) soạn bộ Kim thị
khảo định ấn phả (金氏考定印譜) gồm 8 đầu sách.
Sang thời nhà Thanh (1644 - 1911) việc nghiên cứu ấn chương mới thật
rực rỡ với mấy trăm tác gia tác phẩm khác nhau. Nổi bật là các tác gia
Hồ Chính Ngôn (胡正言) với 3 bộ Ấn sử sơ tập (印史初集) làm năm 1645, Ấn tồn
sơ tập (印存初集) năm 1646 và Ấn tồn huyền lãm (印存玄覽) hoàn thành năm 1660.
Hứa Dung (許容) soạn Hứa Mặc công ấn phả (許默公印譜) năm 1674, Thuyết Triện
(說篆) năm 1675, Ấn lược (印略) và Ấn giám (印鑑) năm 1689. Uông Cảo Kinh
(汪鎬京) soạn Hồng thuật hiên ấn tồn (紅術軒印存) năm 1683, và Hoàng Sơn ấn
triện (黄山印篆) năm 1696. Ba anh em Trương Tại Tân, Trương Tại Ất, Trương
Tại Mậu soạn Trương thị nhất gia ấn tồn (張氏一家印存) năm 1720 và Triện tâm
ấn pháp (篆心印法) năm 1738. Cao Phong Hàn (高風翰) soạn Tây viên ấn phả
(西圓印譜) năm 1734, Chương Tông Mẫn (章宗閔) soạn Triệu Phong Phu tiên sinh
ấn phả (趙風夫先生印譜) 8 quyển năm 1735 và hoàn thành bộ sách này vào năm
1745 với 12 quyển tiếp.
Chỉ tính riêng đời Quang Tự đã có 54 bộ sách của 45 tác giả viết về ấn
chương. Tiêu biểu là Diêu Cẩn Nguyên (姚鄞元) với Hán ấn ngẫu tồn (漢印偶存)
và Diêu thị ấn tồn (姚氏印存), Dương Thủ Kính (楊守敬) với Ấn lâm (印林) và
Dương thị gia tàng đồng ấn phả (楊氏家藏銅印譜). Ngô Xương Thạc (呉昌碩) với
Triện vân hiên ấn tồn (篆云軒印存). Riêng bộ Ấn lâm của Dương Thủ Kính có
tới 14 đầu sách, trong đó có 3 sách nói về quan ấn với 115 hạng mục gồm
690 ấn, 8 sách nói về Tư ấn với 330 hạng mục gồm 2028 ấn, còn lại 3
sách với 192 hạng mục gồm 786 ấn, tổng cộng tất cả là 3504 ấn được nói
tới.
Không riêng các nhà nghiên cứu, văn hóa mà cả giới tăng lữ Trung Quốc
cũng viết về ấn chương. Thời Minh có hòa thượng Thích Long Thái (釋隆彩)
soạn bộ Cổ kim ấn thưởng (古今印賞) năm 1627, Thích Tính Không (釋性空) soạn
Ấn chương tiểu tập (印章小集) năm 1628. Đời Thanh có Hòa thượng Thích Tục
Hạnh (釋續行) soạn bộ Mặc hoa thiền ấn cảo (墨花蟬印鎬) năm 1734 gồm 5 quyển và
làm tiếp 1 sách của bộ này vào năm 1745. Hòa thượng Thích Trúc Thiền
(釋竹蟬) soạn bộ Du hý tam muội (游戲三昧) in năm Quang Tự nguyên niên (1875)
gồm 46 sách khảo chứng về 156 hạng mục ấn. (H.11, 12, 13 & 14) 5. Ấn chương Trung Quốc thế kỷ XX
Trung Hoa Dân Quốc được thành lập năm 1912 và tồn tại đến năm 1949. Đây
là thời kỳ chiến tranh, nội chiến kéo dài trên đất nước Trung Hoa, nó
đã hạn chế rất nhiều sự phát triển của văn hóa nghệ thuật nói chung và
ấn chương học nói riêng. Tuy vậy ấn chương Trung Quốc vẫn tồn tại và
không ngừng đi lên với hàng trăm tác gia và tác phẩm mới. Tiêu biểu là
các tác gia La Chấn Ngọc (羅振玉) soạn nhiều tác phẩm lớn Khánh thất sở
tàng tỷ ấn tục tập (磬室所藏璽印續集) năm 1912, Tề Lỗ phong nê tập tồn (齊魯封泥集存)
năm 1927 , Ngô Ẩn (呉隱) soạn Tùy Am Tần Hán cổ đồng ấn phả (隨庵秦漢古銅印譜)
năm 1914, Tùy Am ấn học tùng thư (隨庵印學叢書) năm 1920, La Phúc Di (羅福頤)
soạn Đãi thời hiên ấn tồn (待時軒印存) 18 sách năm 1927, và 15 sách năm
1932; Ấn phả khảo (印譜考) năm 1931, La Phúc Thành (羅福成) soạn Thượng phù
tỷ cổ ấn tập tồn (尚符璽古印集存) năm 1921, Kính ái sơn phòng ấn tồn (敬愛山房印存)
năm 1942, Cao Thời Ngạc (高時鶚) soạn Nhạc chỉ thất cổ tỷ ấn tồn (樂只室古璽印存)
và Nhạc chỉ thất ấn phả (樂只室印譜) năm 1944.
Nghiên cứu ấn chương giai đoạn hiện đại ở Trung Quốc có không ít tác
gia, tác phẩm, trong đó tên tuổi của La Phúc Di sáng chói trong giới ấn
chương học Trung Quốc. Các tác phẩm Ấn chương khái thuật (印章概述) năm
1963 , Hán ấn văn tự trưng (漢印文字徵) năm 1978, Bắc Nguyên quan ấn khảo
(北元官印考), Tây Hạ quan ấn vựng khảo (西夏官印匯考), Cổ tỷ ấn khái luận (古璽印概論),
Cổ tỷ văn biên (古璽文編) và Cổ tỷ vựng biên (古璽匯編) năm 1981. Cận bách niên
lai đới cổ tỷ ấn nghiên cứu chi phát triển (近百年來戴古璽印硏究之發展) và Hán ấn
văn tự trưng bí di (漢印文字徵祕遺) xuất bản năm 1982.
Ngoài ra còn các tác gia khác như Hàn Thiên Hành (韓天衡) soạn chung sách
Tân ấn phả (新印譜) năm 1973, Thư pháp khắc tác (書法刻作) năm 1975, Trung
Quốc triện khắc nghệ thuật (中國篆刻藝術) năm 1980, Ngũ bách niên lưu phái ấn
chương nghệ thuật xuất tân đàm (五百年流派印章藝術出新談) năm 1982, Trung Quốc ấn
học niên biểu (中國印學年表) năm 1987, Mã Quốc Quyền (馬國權) soạn bộ Triện khắc
kinh điển đồ thích (篆刻經典圖釋) năm 1983. Từ Ngân Sâm (徐銀森) biên soạn Trung
Quốc triện khắc (中國篆刻) năm 1994. Lưu Nhất Văn (劉一聞) soạn sách Ấn chương
(印章) năm 1995. Tào Tề (曹齊) soạn Triện khắc chi mĩ (篆刻之美) năm 1996.
Nhiệm Kế Dũ (任繼愈) soạn Trung Quốc đích ấn chương dữ triện khắc
(中國的印章與篆刻) năm 1997. Tôn Úy Tổ (孫慰祖) soạn sách Ấn chương (印章) năm 1998
v.v…

Cho đến ngày nay Trung Quốc vẫn còn nhiều tác gia và trường phái nghiên
cứu về ấn chương, Nhà nước và tư nhân vẫn lưu giữ cẩn trọng hiện vật ấn
chương cổ xưa và các loại hình khác có liên quan đến ấn dấu. Nghệ thuật
khắc ấn và phong cách “Thi thư ấn họa” vẫn còn lung linh khắp đô thị
Trung Quốc như khẳng định tính vĩnh cứu của lĩnh vực này. (H.15 &
16) III. Khái quát về ấn chương Việt Nam
1. Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu ấn chương Việt Nam từ xưa đến nay ít được các học giả
chú ý tới. Tuy nhiên việc nhìn nhận đánh giá về vai trò, giá trị của ấn
chương trong thể chế phong kiến đứng đầu là Hoàng đế của mỗi triều đại
đã được Nhà nước phong kiến Việt Nam đặc biệt chú trọng. Hầu hết các bộ
chính sử của nước ta tản mạn đều ghi về việc chế tác và sử dụng Bảo Tỷ,
ấn chương của vua và triều thần. Việc ghi chép này thường sơ lược và
mang ý nghĩa lịch sử như một số sự kiện khác mà sử quan phải làm.
Thời Nguyễn, các thành viên ở nội các đã hoàn thành bộ Khâm định Đại
Nam hội điển sự lệ đồ sộ, trong đó quyển 83 và 84 ghi khá rõ về Bảo Tỷ,
ấn triện các loại thời Nguyễn. Đây được coi là phần ghi chép đầy đủ
nhất về ấn chương trong các bộ sách sử. Nội dung chủ yếu ở đây là những
lời chỉ, dụ, chuẩn tấu, chuẩn nghị của vua và những quy định về việc
chế tác, ban cấp, sử dụng, định lệ của mỗi một loại Bảo Tỷ, ấn, Chương,
Quan phòng, Đồ ký, Kiềm ký, Ký, Triện. Tuy nhiên, đây cũng chỉ được coi
là một số quy định và ghi chép sơ lược về ấn chương thời Nguyễn chứ
chưa phải là một phần của công trình nghiên cứu ấn chương. Chúng tôi đã
tìm được ở đây một tài liệu quý giá chuẩn xác trong việc nghiên cứu so
sánh đối chiếu, trích dẫn tư liệu ấn chương thời Nguyễn.
Cuối thời Nguyễn một học giả Pháp là Pierre Daudin đã giới thiệu đề tài
này trong Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises[15]. Mặc dù ở
thời điểm thuận lợi nhưng tác giả không trình bày sâu về ấn chương mà
ông chỉ giới thiệu sơ lược một vài loại hình ấn như Kim ngọc Bảo Tỷ,
Tín ký và thống kê các chức vụ phẩm hàm của quan lại trong triều đình
nhà Nguyễn. Cách đánh giá của ông thể hiện sự nhìn nhận tổng thể của
một học giả châu Âu đối với vương triều Nguyễn lúc đó. Tuy nhiên chúng
tôi cũng đánh giá cao học giả này và coi đây là tài liệu tham khảo có
giá trị, so với tất cả các bài viết của các tác giả khác về ấn chương
thời Nguyễn.
Sau Pierre Daudin, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã công bố một số tài liệu có
in hình dấu thời Tây Sơn trong cuốn La Sơn phu tử[16]. Tuy tác giả
không trình bày sâu về ấn chương Tây Sơn, nhưng việc giới thiệu một số
văn bản và hình dấu cũng giúp ích nhiều cho chúng tôi về việc so sánh
nghiên cứu ấn chương giai đoạn này.
Một học giả nổi tiếng quen biết chúng ta là Giáo sư Trần Kinh Hòa. Ông
là người đầu tiên khai thác kho Châu bản quý giá triều Nguyễn và làm
sách Mục lục Châu bản triều Nguyễn - Triều Gia Long[17]. Tác giả trình
bày sơ lược một số Bảo Tỷ thời Nguyễn triều Gia Long nằm trong phần đầu
giới thiệu Châu bản và Nội các. Đoạn nói về Bảo Tỷ tuy sơ lược, nhưng
chúng tôi xem đó là tài liệu tham khảo có giá trị bên cạnh Pierre
Daudin.
Mấy chục năm qua cũng có số ít tác giả đã giới thiệu về ấn chương Việt
Nam trong những bài viết đơn lẻ. Đáng chú ý là những bài như Một số ấn
đồng thời Lê Thánh Tông mới phát hiện tại Hà Nội[18], và bài Bước đầu
tìm hiểu các ấn đồng cổ đã biết được ở nước ta của Nguyễn Văn Huyên.
Trong bài viết tác giả chỉ giới thiệu số ít ấn đồng cổ trước thời
Nguyễn ở Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội và có những nhận xét chung.
Nhiều năm qua trên báo chí công luận lẻ tẻ cũng có ít bài giới thiệu
một vài quả ấn mới phát hiện được ở địa phương. Nhìn chung các tác giả
trên cơ sở số ít hiện vật ấn chương ở một số Bảo tàng, hoặc những ấn
mới tìm thấy, đã giới thiệu đơn lẻ từng quả ấn dưới góc độ của các nhà
khảo cổ, bảo tàng và nghiên cứu lịch sử. Như vậy, cho đến nay có rất ít
bài nói về ấn chương và chưa có một tác giả nào đặt vấn đề nghiên cứu
ấn chương Việt Nam thành một đề tài có hệ thống. 2. Hiện vật ấn chương - khối tư liệu hiện vật quý giá, quan trọng trong công tác nghiên cứu ấn chương Việt Nam
Tháng 3 năm 1974 Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Ty Văn hóa Thanh Hóa
đã tiến hành khai quật tại hai địa điểm Hoa Lộc và Phú Lộc nằm ở ven
biển huyện Hậu Lộc - Thanh Hóa. Đây là những địa điểm được xác định có
di tích hậu kỳ thời đại đồ đá mới. Tại đây đã phát hiện nhiều hiện vật
là công cụ sản xuất, đồ trang sức bằng đá và một số cổ vật bằng gốm
trong đó đặc biệt đã tìm thấy các con dấu hoa văn bằng đất nung. Ở địa
điểm Hoa Lộc đã tìm thấy 11 con dấu hoa văn, còn ở Phú Lộc đã tìm thấy
14 con dấu hoa văn khác cùng 5 mảnh vỡ nhỏ của các con dấu nữa bị vỡ.
Năm 1977 hai nhà khảo cổ học Phạm Văn Kỉnh và Quang Văn Cậy đã giới
thiệu các con dấu hoa văn trên dưới góc độ khảo cổ trong sách Văn hóa
Hoa Lộc. Theo các nhà khảo cổ học thì: “Đây là loại hiện vật được làm
bằng đất nung là loại đất sét pha trộn cát giống như chất liệu làm đồ
gốm cùng tồn tại với chúng. Độ nung khá cao, rất rắn và màu sắc không
hoàn toàn giống nhau. Căn cứ vào sự cấu tạo hình dáng và những đường
nét khắc trên mặt của chúng, có thể đó là những vật dùng để in hoa văn.
Hình dáng của những dấu in này rất khác nhau và kích thước cũng không
đều nhau. Một số chiếc có mặt in hình chữ nhật, một số hình bầu dục,
một số có hình tròn và một số có hình vuông. Mặt in hơi lồi ra một chút
và trên đó có khắc nhiều họa tiết rất khác nhau và cũng rất phức tạp.
Lưng nổi cao lên như hình mu rùa mà ở giữa lưng trong đa số trường hợp
đều có những núm nhỏ hình chóp hoặc hình bầu dục dẹt vừa cầm ở các đầu
ngón tay, loại núm hình bán khuyên tương đối hiếm.
Những họa tiết trên mặt những con dấu này được khắc lõm khá sâu và đều
đặn. Tất cả đều là những hoa văn hình kỷ hà rất phức tạp và cũng rất kỳ
lạ nhưng không giống nhau giữa các tiêu bản. Không thấy có hoa văn hình
người, động vật và cây lá.
Nhìn chung đó là những vật không được trau chuốt cẩn thận, cầu kỳ, hình
dáng đơn giản, chất liệu thông dụng; ít tốn kém. Bởi vậy, chỉ có thể
coi những hiện vật này là những đồ dùng bình thường trong sinh hoạt
hàng ngày, không thể coi là những vật thiêng hoặc tượng trưng cho uy
quyền nào đó.
Tuy vậy, chúng tôi cũng chưa xác định công dụng của những vật này một
cách cụ thể. Tạm thời chúng tôi cho rằng đây không phải là những dấu in
hoặc những bàn dập hoa văn trên đồ gốm, bởi vì trên tất cả các đồ gốm
cùng tồn tại với nó không thấy có những hoa văn giống như các họa tiết
trên mặt nhũng con dấu này. Dựa theo tài liệu dân tộc học, có thể đây
là những con dấu dùng để in hoa văn trang trí trên nền vải hoặc trên
người theo những phong tục có tính chất nghệ thuật hoặc tôn giáo nào
đó…”[19].
Qua nghiên cứu xác định bằng các-bon phóng xạ tất cả các hiện vật trong
đó có các con dấu in hoa văn trên, các nhà khảo cổ học đã ước định được
niên đại của chúng sớm nhất trong khoảng thế kỷ XV - XVI (TCN). Hai nhà
khảo cổ học còn khẳng định “Với văn hóa Hoa Lộc, chúng ta đã phát hiện
được những di tích đầu tiên của những bộ lạc sinh tụ trên miền ven biển
thuộc miền Bắc tỉnh Thanh Hóa trong khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ II
(TCN), họ đang sống trong giai đoạn cuối cùng của thời đại đồ đá và
chuẩn bị bước sang thời đại kim khí. Đó là những bộ lạc mà về mặt văn
hóa và cũng có thể cả về mặt thân tộc có những quan hệ với những bộ lạc
khác cùng thời đại sinh tụ trên miền Bắc nước ta. Những mối quan hệ đó
đã phản ánh những phong cách văn hóa trong những di vật tìm thấy ở
đây”[20]. Hơn 24 con dấu mà trên mặt được khắc hình họa tiết rất đẹp và
phức tạp đều có mang những ý nghĩa nhất định. Song những ý nghĩa này
chúng ta không thể biết được, chỉ đoán định đưa nó gắn với văn hóa tinh
thần của người Hoa Lộc cổ xưa. Đây không phải là những tín vật làm bằng
chứng, cũng không phải là bàn dấu in trên đồ gốm mà có thể nó là những
con dấu dùng để in hoa văn màu trên vải hoặc trên thân thể người theo
phong tục có ý nghĩa tôn giáo tín ngưỡng hoặc nghệ thuật. Nhận xét này
của các nhà khảo cổ là hợp lý. Đây có thể được coi là tiền thân của ấn
chương xuất hiện tại Việt Nam. (H.17 & 18)


Sự ra đời của ấn chương Việt Nam gắn liền với việc sử dụng chữ Hán
trong giao lưu văn hóa giữa các dân tộc. Ở nước ta, chữ Hán đã có mặt
từ đầu thế kỷ thứ nhất TCN, khi Triệu Đà đã hoàn thành việc thôn tính
Việt Nam (thế kỷ II - TCN) chữ Triện đã được sử dụng trên đất nước Việt
Nam. Sau này nước ta giành được quyền độc lập, chữ Hán, tiếng Hán (đọc
theo âm Hán Việt) vẫn được tiếp tục sử dụng để xây dựng quốc gia độc
lập và phát triển văn hóa dân tộc.
Việc phát hiện 6 chiếc ấn cổ nhỏ trong 6 ngôi mộ cổ ở Thiệu Dương -
Thanh Hóa cũng được coi là chứng tích của ấn chương xuất hiện tại Việt
Nam. Theo các nhà khảo cổ thì đây là những chiếc ấn được đúc và lưu
hành vào khoảng cuối đời Tây Hán đến đầu thời Đông Hán, tương đương với
triều Thục An Dương Vương (Khoảng từ 257 - 147 TCN ở nước ta). Các nhà
khảo cổ học Việt Nam còn tìm thấy một loại ấn cổ gọi là Phong nê ở tỉnh
Quảng Nam. Phong nê này được xác định niên đại cũng vào khoảng thời Hán
cùng thời kỳ của các ấn đồng cổ ở Thiệu Dương - Thanh Hóa trên.
Di chỉ văn hóa Óc Eo thuộc huyện Thoại Sơn - Nam Bộ cũng đã được các
nhà khảo cổ khai quật và công bố. Trong số cổ vật được giới thiệu có 22
con dấu khác nhau bằng mã não và chì thiếc và chỉ có 4 con dấu là có
khắc chữ. Những con dấu này đã được xác định niên đại vào khoảng từ năm
270 đến năm 530 SCN, nhưng chưa được giới thiệu chi tiết và giải mã văn
tự trên dấu[21]. Năm 1996 Giáo sư Hà Văn Tấn đã công bố việc giải mã 2
con dấu bằng chì thiếc có khắc văn tự trong số các con dấu trên trong
Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1996.
Theo GS. Hà Văn Tấn: “… Con dấu thứ nhất… Tôi có thể nhận ra chữ ở trên
con dấu là “Apramada”. Đây là chữ viết theo văn tự Pallaca Nam Ấn. (Nếu
viết theo Devanagari hiện nay, ta có ()… Từ này trong tiếng Sanskrit có
nghĩa là “chú ý”. Theo Malleret: “chữ Apramadam khá phổ biến trên các
bùa của chúng ta, người ta biết rằng nó là một trong những từ chủ chốt
của Phật giáo biểu đạt khái niệm cảnh giác vốn rất cần bên ngoài cả các
khái niệm tôn giáo hay triết học mà ngay trong cách ứng xử của cuộc
sống” (Malleret 1960: 332).

Về con dấu thứ hai, GS. Hà Văn Tấn khẳng định: “Đó là từ “Raksanya”
trong ngôn ngữ Sanskrit và được viết bằng chữ Pallava (nếu viết theo
Devanagari hiện nay, ta có (). Từ này có nghĩa là “được che chở, bảo
vệ”, có lẽ là một từ cầu xin với thần linh, có tính chất tôn giáo, như
nhiều từ gặp trên các con dấu khác ở Óc Eo”. (H. 19a & 19b)
Các triều đại phong kiến Việt Nam từ Lý, Trần, Lê sơ, Mạc, Lê Trung
hưng, Tây Sơn đến Nguyễn. Thời gian tuy chưa phải là xa lắm nhưng vì
binh hỏa triền miên nên những hiện vật quý giá như ấn chương hầu hết bị
chôn vùi, thất thoát.
Trong một chuyến công tác đến Quảng Tây - Trung Quốc, GS. Hà Văn Tấn đã
tìm thấy dấu tích quả ấn đồng thời Trần của Việt Nam hiện lưu lạc ở đất
Quảng Tây. Quả ấn này được tìm thấy ở núi Lộng Lạc, thuộc công xã Nghĩa
Vu, huyện Điền Đông, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc năm 1983. Đến năm 1999
trên cơ sở bài Khảo về ấn của thổ quan phát hiện ở Quảng Tây của học
giả Nhật Bản Taniguchi Fusao[22], GS. Hà Văn Tấn đã viết bài Về một quả
ấn Việt Nam thời Trần tìm thấy ở Quảng Tây Trung Quốc. Phần cuối ghi
rõ: “Quả ấn có mặt hình vuông, mỗi chiều 50mm, dày 10mm, núm ấn cao
26mm. Mặt ấn khắc 6 chữ theo lối triện “Bình Tường thổ châu chi ấn”,
chia thành 2 dòng mỗi dòng 3 chữ. Mặt lưng, hai bên núm ấn, có khắc
chữ. Bên phải núm ấn là chữ “Đại Trị ngũ niên”, bên trái núm ấn là 5
chữ “Nhâm Dần tứ nguyệt chú”.
Đại Trị là niên hiệu của vua Dụ Tông. Đại Trị ngũ niên là năm Đại Trị
thứ năm, tương đương với năm Chí Chính thứ 22 đời Nguyên Thuận Tông,
tức năm 1362 dương lịch. Năm đó cũng là năm Nhâm Dần. “Nhâm Dần tứ
nguyệt chú” là “Đúc tháng tư năm Nhâm Dần”. Nhìn kỹ ảnh chụp, tôi thấy
ở đây chữ “nguyệt” khắc thiếu một nét ngang, đúng với thể lệ viết húy
thời Trần.


Như vậy, đây là một con dấu đời Trần không nghi ngờ gì nữa. Thổ châu là
châu ở miền núi, trong vùng các dân tộc ít người, mà ở đây hẳn là người
Tày. Vấn để ta quan tâm là châu Bình Tường ở đâu?… Theo tôi, châu Bình
Tường chính là Bằng Tường hiện nay. Có một lý do mà người Việt Nam ai
cũng biết là các địa danh có từ Bằng ở vùng biên giới Việt Nam đều viết
chữ Hán là Bình, như Cao Bằng từ lâu đã được viết là Cao Bình”[23].
Cho đến ngày nay số lượng những quả ấn từ thời nhà Trần đến triều Tây
Sơn còn lại không nhiều. Hiện nay tại một số cơ quan Bảo tàng thuộc Bộ
Văn hóa còn lưu giữ được một số ấn đồng cổ, những ấn cổ này đã được xác
định niên đại một cách chính xác. Đầu tiên phải kể đến ấn Môn hạ sảnh
ấn được tạo năm Long Khánh thứ 5 đời Trần Duệ Tông (1377). Các ấn thời
Lê sơ là Thuần tượng hậu vệ bào lâm hậu sở ấn đúc năm Hồng Đức thứ 24
đời Lê Thánh Tông (1493), ấn Phụng mệnh tuần phủ đô tướng quân ấn tạo
năm Hồng Thuận thứ 6 (1514) và ấn Đề thống tướng quân chi ấn được đúc
năm Hồng Thuận thứ 7 (1515).
Ba quả ấn thời Mạc còn bảo quản được là Hoành hải hậu sở chi ấn đúc năm
Đại Chính thứ 5 (1534), ấn Thanh tái tá sở chi ấn đúc năm Cảnh Lịch thứ
2 (1549) và ấn Khuông trị vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn được tạo năm
Thuần Phúc thứ 3 (1564).
Hiện vật ấn chương thời Tây Sơn còn lại là 4 quả ấn đồng được lưu giữ ở
những địa phương khác nhau, trong đó có 3 ấn tướng lĩnh quân đội và một
ấn hành chính cấp huyện. Đó là ấn Suất trung lương nhị vệ tam hiệu
trung lang tướng, Suất hùng cự khai vệ ngũ hiệu đô ti, Tây kỳ phủ trung
tín nhất vệ hộ quân sứ vinh hoa hầu và Bằng Tuyên huyện quản lý. Các ấn
đồng này được tạo cùng một thời gian là năm Tân Hợi 1791 niên hiệu
Quang Trung.
Số lượng hiện vật ấn chương phong phú và đa dạng với nhiều loại hình,
chất liệu, kích cỡ là những quả ấn thuộc thời Nguyễn qua hàng chục đời
vua từ Gia Long đến Bảo Đại. Hiện được bảo quản tại những Bảo tàng lớn
ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế và nhiều địa phương trong cả nước,
số hiện vật ấn chương thời Nguyễn lên tới hàng mấy trăm đơn vị ấn khác
nhau. Giá trị hơn cả là những Kim Ngọc Bảo Tỷ của các vua Nguyễn có
chất liệu bằng ngọc, vàng, bạc, đồng dát vàng, dát bạc, đá cùng ngà
quý; và đơn giản là những quả ấn gỗ được lưu giữ tại các đền, chùa ở
nhiều địa điểm khác nhau.
Hiện vật ấn chương thời Nguyễn và các triều đại trước Nguyễn là khối tư
liệu hiện vật quý giá rất đáng tin cậy. Mỗi một quả ấn khi in xuống
giấy, lụa sẽ cho ra đời một văn bản Hán Nôm hoàn thiện, cô đọng. Những
dòng chữ Hán khắc trên mặt ấn sẽ giúp ích cho việc xác định niên đại,
cơ quan và địa chỉ tạo ấn, trọng lượng của ấn và nhiều khi giúp cho
việc Chân hóa chữ Triện được chuẩn xác. Hiện vật ấn chương đóng vai trò
quan trọng trong công tác nghiên cứu ấn chương Việt Nam và xây dựng bộ
môn ấn chương học của chúng ta hiện nay. 3. Hình dấu trên văn bản, văn khắc Hán Nôm - mảng tư liệu phong phú,
đa dạng đóng vai trò chủ yếu trong công tác nghiên cứu ấn chương Việt
Nam
Những tư liệu Hán Nôm có in hình con dấu các loại là cơ sở tư liệu quan
trọng và chủ yếu trong công tác nghiên cứu ấn chương Việt Nam. Đáng
tiếc vì nạn binh hỏa, thiên tai bao thế kỷ đã làm thất thoát nhiều tư
liệu Hán Nôm quý, nhất là những tư liệu cổ. Mảng tư liệu này hiện nay
một phần nằm trong kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, một phần nằm tại
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, một phần nằm ở nhiều cơ quan Văn hóa
trong cả nước và một phần còn lại còn rải rác trong dân gian trên phạm
vi toàn quốc.
Văn bản Hán Nôm có niên đại cổ lưu hành ấn dấu chỉ tồn tại trong loại
hình văn bản hành chính như sắc phong, chiếu, dụ, lệnh chỉ, bằng cấp,
chứng nhận v.v… Văn bản cổ nhất có niên đại từ năm Đại Hòa thứ 9 (1451)
đời Lê Nhân Tông là một bằng chứng nhận về ruộng đất. Trên văn bản còn
lưu hình dấu kiềm của một chức nhỏ thuộc Tán trị Thừa chính sứ ty của
châu Hóa lộ Thuận Hóa. Hiện nay văn bản này được lưu giữ tại Trung tâm
Bảo tồn di tích cố đô Huế.
Một văn bản cổ nữa có hình dấu ấn còn giữ được nguyên vẹn đến nay có
niên đại ghi ngày 15 tháng 11 năm Hồng Đức thứ 19 (1488) đời Lê Thánh
Tông. Đây là bản sắc chỉ của bộ Lại xét cấp phong chức Phòng ngự Thiêm
sự cho một viên quan giữ châu Tàm, phủ Thanh Đô. Dòng niên đại còn lưu
hình dấu son lớn Lại bộ chi ấn, và giữa sắc chỉ có in nửa hình dấu Lại
bộ chi ấn này để đánh dấu đây là loại văn bản gọi là “Bằng Khám hợp” ở
thời Lê sơ. Văn bản hiện được lưu giữ ở Cục lưu trữ Nhà nước tại Hà Nội.
Nghiên cứu dấu trên sắc phong, chúng tôi đã tìm thấy các dấu sắc phong
thần ở hai điểm di tích khác nhau thuộc hai tỉnh Thái Bình và Hà Tây.
Các sắc phong này có niên đại thuộc các năm Minh Đức nguyên niên
(1527), Quảng Hòa sơ niên (1540), Sùng Khang cửu niên (1547) và Cảnh
Lịch sơ niên (1548) thời Mạc, với hình dấu son Sắc mệnh chi bảo in trên
dòng ghi niên đại. Bảo ấn Sắc mệnh chi bảo này được làm từ thời Lê Thái
Tông mà sử cũ đã ghi lại “Năm Thiệu Bình thứ 2 (1435) Lê Thái Tông cho
đúc 6 ấn vàng dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại”. Như vậy, ta thấy
loại hình sắc phong đi liền với hình dấu Sắc mệnh chi bảo, định lệ này
trải qua nhiều đời vua Lê và khi nhà Mạc nắm chính quyền vẫn dùng Bảo
ấn Sắc mệnh chi bảo đóng trên sắc phong.
Loại văn bản lệnh chỉ có in hình dấu ấn mà bản cổ nhất chúng tôi đã in
chụp được là Lệnh chỉ Bình An vương lệnh chỉ ở Thư viện Viện Nghiên cứu
Hán Nôm, ghi niên đại năm Quang Hưng thứ 22 (1599) đầu đời Lê Trưng
hưng, có hình dấu son với 4 chữ Triện Bình an vương tỷ đóng ở dòng ghi
niên đại và chỗ giáp lai. Đây là dấu Tỷ ấn của Bình An vương Trịnh Tùng
in trên bản Lệnh chỉ gửi cho xã Vũ Liệt huyện Thanh Chương, Nghệ An.
Thời Lê Trung hưng chúng tôi còn tìm thấy một số hình dấu của các chúa
Trịnh in trên những văn bản Hán Nôm khác như dấu của Thanh Đô vương
Trịnh Tráng ở văn bản đời Vĩnh Tộ thứ 10 (1628), Tây vương Trịnh Tạc ở
văn bản đời Vĩnh Trị thứ 5 (1680), An Đô vương Trịnh Cương ở văn bản
Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709), Uy Nam vương Trịnh Giang trên văn bản năm Vĩnh
Khánh thứ 2 (1730), Minh vương Trịnh Doanh ở đời Cảnh Hưng thứ 2
(1741), Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm vào năm Cảnh Hưng thứ 28 (1768), Đoan
vương Trịnh Tông năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783) và Cảnh Hưng thứ 46 (1785).
Qua các hình dấu của các chúa Trịnh trên chúng tôi thấy, theo điển chế
của các triều đại trước đời Lê Thế Tông thì chỉ có Hoàng đế mới được
dùng Bảo, Tỷ đóng trên các chiếu văn, sắc phong, lệnh chỉ, lệnh dụ. Ở
đây các chúa Trịnh mà bắt đầu từ Trịnh Tùng đã được dùng Tỷ ấn đóng
trên bản lệnh chỉ của mình ban xuống, việc này mang ý nghĩa lịch sử
quan trọng trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Mở đầu cho một thời kỳ
thống trị mới của triều đình thời Lê Trung hưng tồn tại cả vua và chúa
mà thực trạng quyền hành nằm trong tay nhà chúa.
Ấn chương không chỉ in hình lại trên tư liệu thành văn giấy lụa mà còn
lưu tích lại trên các tư liệu hiện vật như bia đá, ma nhai. Trên phiến
đá ở động Tuyết Sơn, chùa Hương, Hà Tây còn lưu giữ hai hình dấu lớn
Ngự bút và Vạn cơ thanh hạ khắc dưới bài thơ Đăng Tuyết sơn hữu hứng
của chúa Trịnh Sâm. Trên tấm bia Thự bút ngự tứ hiện còn ở xã Phương
Triện, Gia Bình, Bắc Ninh có khắc hình Ngự tiền chi bảo dưới dòng ghi
niên đại thời Lê Cảnh Hưng.
Thời Tây Sơn tuy ngắn ngủi nhưng ấn chương giai đoạn này khá đa dạng và
còn không ít tư liệu với nhiều loại văn bản khác nhau có in hàng chục
loại dấu khác nhau. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã có công sưu tầm, lưu giữ
những tài liệu quý giá này và tặng lại cho nước nhà mà chúng tôi đã may
mắn chụp được nguyên bản tài liệu gốc. Những hình dấu các dạng còn in
lại trên văn bản Hán Nôm điển hình như dấu Quảng vận chi bảo và Ngự
dụng chi bảo trên chiếu thư đời Thái Đức, Quang Trung. Dấu Tiên nhu chi
bảo, Sắc mệnh chi bảo in trên sắc phong thời Cảnh Thịnh; dấu Triều
đường chi ấn của triều đình Tây Sơn trên một tờ truyền, dấu Nghệ An
trấn phủ chương của chức Trấn thủ trấn Nghệ An trong chính quyền địa
phương thời Tây Sơn.
Từ các hình dấu trên văn bản mà tìm lại được tên tuổi của các nhân vật
lịch sử thời Tây Sơn như dấu Hoàng thái tử thủ tín của Nguyễn Quang
Toản in năm Quang Trung thứ 3 (1790) khi còn làm Thái tử. Dấu Khâm sai
tiết chế hữu khang kiêm dân thứ vụ chi ấn của Khang Công Nguyễn Quang
Thùy khi lãnh chức Khâm sai Tiết chế thủy bộ chư doanh kiêm Tổng binh
dân thứ vụ in năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1797). Dấu Đại tư mã chi ấn của Đại
Tư mã Nguyễn Văn Tứ in năm Bảo Hưng thứ 2 (1802).
Hình dấu góp phần trong việc khẳng định bút tích của các nhân vật lịch
sử thời Tây Sơn như dấu Trung thư lệnh chi chương của Trung thư lệnh
Trần Văn Kỷ có niên hiệu Quang Trung thứ 2 (1789), dấu Nghệ An trấn phủ
chương và Nghệ An trấn ký của Trấn thủ Nghệ An Nguyễn Văn Thận trên hai
văn bản đời Thái Đức thứ 11 (1788) và đời Quang Trung thứ 2 (1789).
Một số dấu kiềm nhỏ in kèm cùng với các hình dấu lớn chính trên văn bản
từ đời Thái Đức đến Bảo Hưng như dấu Tiểu ấn, Tín ấn, Quang hầu, v.v…
góp phần quan trọng trong công tác văn bản và nghiên cứu, đồng thời
cũng chứng minh cho sự đa dạng của ấn chương thời Tây Sơn.
Thời Nguyễn với số tư liệu hiện vật ấn chương còn giữ được khá phong
phú và khối tư liệu thành văn Hán Nôm đồ sộ có in nhiều hình dấu ấn là
cơ sở tư liệu chủ yếu quan trọng trong việc nghiên cứu ấn chương. Trước
tiên phải kể đến Kim Ngọc Bảo Tỷ của các hoàng đế triều Nguyễn, đó là
những quả ấn được làm bằng ngọc (Ngọc Tỷ) được đúc bằng vàng, bạc (Kim
Bảo Tỷ). Ấn vàng làm từ đời Chúa Nguyễn Phúc Chu được coi là ấn truyền
quốc nhà Nguyễn có tên gọi Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo
hiện còn lưu tích trên tấm bia đá chùa Thiên Mụ (Huế). Thời Gia Long
làm ra các Bảo Tỷ là Chế cáo chi bảo, Quốc gia tín bảo, Sắc chính vạn
dân chi bảo, Thảo tội an dân chi bảo, Ngự tiền chi bảo, Mệnh đức chi
bảo, Văn lý mật sát, Phong tặng chi bảo, Trị lịch minh thời chi bảo và
Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành.
Minh Mệnh lên ngôi song song với công cuộc cải cách hành chính là việc
chế tác và hoàn thiện các loại Bảo Tỷ ấn triện. Điển hình là những Kim
Ngọc Bảo Tỷ: Hoàng đế tôn thân chi bảo, Sắc mệnh chi bảo, Minh Mệnh
thần hàn, Hoàng đế chi tỷ, Hành tại chi tỷ. Năm 1839 khi đổi quốc hiệu
là Đại Nam, Minh Mệnh cho khắc ấn ngọc Đại Nam thiên tử chi tỷ để sánh
với nhà Đại Thanh Trung Quốc.
Đến đời Thiệu Trị và Tự Đức có làm thêm một số Bảo Tỷ nữa như Đại Nam
hoàng đế chi tỷ, Đại Nam hiệp kỷ lịch chi bảo và đặc biệt là Ngọc Tỷ
Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ được coi là ấn truyền quốc
của nhà Nguyễn.
Các Kim Ngọc Bảo Tỷ trên đều được dùng cho một loại văn thư chỉ định
như Bảo Chế cáo chi bảo dùng đóng trên tờ huân giới chiếu lệnh thăng
giáng cấp bậc, sai phái quan tướng; Quốc gia tín bảo dùng đóng trên văn
kiện triệu tập các tướng lĩnh, phát động binh sĩ nhập ngũ v.v… Hầu hết
các hình dấu Kim Ngọc Bảo Tỷ trên hiện nay vẫn được lưu giữ trong nhiều
loại văn bản thời Nguyễn ở kho Châu bản, ở một số thư viện, bảo tàng
lớn và trong dân gian.
Những cơ quan trung ương thời Nguyễn có liên hệ mật thiết đến ấn chương
đầu tiên phải kể đến Nội các với chức năng gắn liền với Kim Ngọc Bảo Tỷ
và các loại hình ấn chương khác. Với chức năng Văn phòng của Hoàng đế,
Nội các chịu trách nhiệm tiếp nhận, xem xét, duyệt đóng dấu, chuyển và
lưu giữ các loại hình văn bản: phiến, phiếu, chỉ dụ, tấu sớ v.v… Hiện
nay một số văn bản trong kho Châu bản thời Nguyễn còn lưu hình các dấu
Văn thư phòng quan phòng, Sung biện nội các sự vụ quan phòng và Nội các
đã minh chứng cho vấn đề này.
Hệ thống lục Bộ thời Nguyễn với nhiều chức quan có con dấu riêng còn
lưu lại trên văn bản Hán Nôm; đứng riêng từng Bộ như dấu Lễ bộ đường
chi ấn (đời Gia Long), Hình bộ chi ấn (đời Minh Mệnh); in chung trong
các cuộc họp liên như dấu Hình bộ thượng thư quan phòng, Binh bộ tả
tham tri quan phòng, Lại bộ hữu thị lang quan phòng v.v… Các dấu này
đều đi liền với chức danh tên tuổi cơ quan của chủ sở hữu của con dấu.
Tìm hiểu ấn chương ở hệ thống lục Bộ chúng tôi còn phát hiện những hình
dấu trên văn bản dùng khi cấp Bộ xuất hành ngoài kinh như dấu Binh bộ
hành ấn, Hình bộ hành ấn và đồng thời với chức quan cấp Bộ là chức hàm
Đại học sĩ với những hình dấu như Cần Chánh điện đại học sĩ quan phòng
của Thượng thư bộ Binh Trương Đăng Quế.
Những dấu tích về quân đội thời Nguyễn chủ yếu nằm ở kho Châu bản thuộc
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I. Trong các tập tấu đời Minh Mệnh, Thiệu
Trị chúng tôi đã in sao được một số hình dấu của các tướng tá ở nhiều
đơn vị, binh chủng và khu vực khác nhau. Dấu Trấn tây tướng quân chi ấn
trong một bản tấu trình gửi về kinh của các quan tướng trấn Tây thành.
Một loạt dấu Quan phòng khác nhau của các tướng lĩnh in trên văn bản ở
quyển Minh Mệnh 18 là dấu Chưởng trung quân quan phòng, dấu Thần sách
hữu doanh quan phòng và dấu Hữu thống chế quan phòng. Các dấu Tiền quân
đô thống phủ quan phòng, và Hổ oai thống chế quan phòng được in trên
văn bản đời Thiệu Trị thứ 5 (1845). Hai dấu Thống đốc tiễu bổ quân vụ
quan phòng và Tham tán quân vụ quan phòng in liền nhau trong một bản
tấu ghi niên đại Tự Đức thứ 13 (1860) v.v…
Ấn dấu Đồ Ký được dùng cho các chức đơn vị quân đội cấp thấp, như dấu
Loan giá vệ đồ ký, Nam hưng đồ ký, Cẩm y túc trực đồ ký, Kinh tượng
nhất vệ đồ ký v.v… đều được lưu tích trong quyển 53 đời Minh Mệnh thứ 9.
Hình dấu ấn chương trong các cấp chính quyền địa phương thời Nguyễn còn
lưu lại nhiều ở các tập Công văn cổ chỉ, Công văn cựu chỉ và trong Châu
bản, địa bạ. Giai đoạn quân quản Gia Long chia nước thành ba khu vực
đặt cấp thành quản các trấn, doanh, đạo cho các tướng đứng đầu mỗi địa
phương. Các hình dấu Bắc thành tổng trấn chi ấn, Gia Định thành tổng
trấn chi ấn, Thanh Hoa trấn thủ chi chương, đi liền với một số nhân vật
tên tuổi như Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Nhân gắn với
một số sự kiện lịch sử đương thời.
Minh Mệnh lên ngôi đã tiến hành công cuộc cải cách hành chính, bãi bỏ
cấp thành và đổi các trấn thành tỉnh và đặt các chức vụ cấp bậc mới
v.v… Những hình dấu Quảng Nam Quảng Ngãi tổng đốc quan phòng, Ninh Bình
tuần phủ quan phòng, Hưng Hóa bố chính sứ ty chi ấn, Hà Nội án sát ty
chi ấn, Quốc Oai phủ ấn, Quốc Oai phân phủ đồ ký, An Lập huyện ấn, Nà
Bôn thổ châu đồ ký, Quỳnh Côi huấn đạo đồ ký v.v… và một số dấu kiềm đi
kèm và chứng minh cho cải cách chính quyền địa phương thời Minh Mệnh.
Các dấu Kiềm ký như Đại quân môn thủ hộ kiềm ký, Cần Giờ hải khẩu tấn
thủ kiềm ký v.v… thể hiện tính đa dạng của ấn chương thời Nguyễn. Hình
dấu Đồng Xuân tổng cai tổng ký, Đồng Xuân phường lý trưởng ký v.v…
chứng minh sự hoàn thiện của ấn chương cấp chính quyền địa phương thời
Nguyễn.
Những ví dụ về dấu Tín ký và Ký như Trần Lễ Nghi tín ký, Trần Tố ký,
Hậu bổ Hồ Trọng Phiên v.v… đã tăng số lượng về loại hình ấn chương Việt
Nam lên một bậc nữa.
Giới thiệu ấn chương Việt Nam không thể không nói tới ấn tín tư nhân
trong xã hội phong kiến Việt Nam xưa. Tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực
thương mại, văn hóa, nghệ thuật và tôn giáo tín ngưỡng, tư liệu ấn tín
tư nhân chúng tôi sưu tầm được có niên đại số ít ở thời Hậu Lê còn chủ
yếu là ở thời Nguyễn.
Ấn dấu tư nhân trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật rất đa dạng và phong
phú, không chỉ là những quả ấn nhỏ hay vừa với nhiều kiểu dáng khác
nhau mà nhiều hình dấu còn được chạm khắc trên nhiều hiện vật gốm sứ,
kim loại hay đồ gỗ. Tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở thành phố Hồ
Chí Minh chúng tôi đã chụp ảnh được một số ấn tín có nội dung ghi tên
hiệu người như ấn dấu Lan Sương, Tùng Tuyết Trai ghi lại hay ý đẹp như
Ca vịnh thái bình, Thuận cát, Tường hợp v.v…
Một số dòng họ nổi danh đều có ấn tín vuông đánh dấu vào sách vở và
hiện vật gia tộc như dấu Danh gia tàng thư của dòng Ngô gia văn phái,
dấu Danh gia hội tuyển của dòng họ Bùi Huy Bích v.v…
Thời Nguyễn các nhà tàng bản xuất hiện ngày càng nhiều, trên những ấn
bản có in hình dấu riêng của mỗi nhà, như nhà tàng bản Đa văn đường còn
lưu lại hình con dấu Đa Văn đường; các dấu kiểu này còn tìm thấy nhiều
trong một số sách in ở cuối thời Nguyễn.
Trong lĩnh vực thương mại ấn tín tồn tại gắn liền với những chức năng
cơ bản của ấn chương là khẳng định quyền sở hữu và khẳng định tính chân
thực. Tại một số đô thị lớn thời trước như Hội An chúng tôi đã in, chụp
được ấn tín của một số cửa hàng người Việt gốc Hoa như ấn dấu Diệp Khải
Minh ấn, Diệp Truyền Anh chương, Diệp Đồng Xuân của các thương nhân họ
Diệp. Ấn dấu Quảng Đông di xương âm của hiệu kim hoàn, dấu Miên Xương
của hiệu bông vải sợi và Quảng Đông Nhị Thiên đường của hãng dầu Nhị
Thiên đường nổi tiếng vẫn giữ và tồn tại đến nay; nó là những minh
chứng sống động về chức năng tín thực của ấn tín tư nhân trong lĩnh vực
thương mại, mà ngày nay rất nhiều hiệu kim hoàn và cửa hàng y dược còn
duy trì v.v…
Ở lĩnh vực tôn giáo tín ngưỡng, ấn tín tồn tại phát triển khá phong
phú. Trong lòng các ngôi chùa cổ và nhất là những ngôi đền, điện thờ
thuộc Đạo giáo và thậm chí cả ở tư gia của một số thầy pháp ở nước ta
hiện nay còn bảo lưu rất nhiều ấn tín thuộc lĩnh vực này. Đó là những
quả ấn gỗ, đôi khi là ấn đồng có ngoại hình tạo tác đơn giản nhưng với
nhiều kiểu dáng khác nhau. Chỉ tính riêng một ngôi điện thờ đức Thánh
Trần cách Hà Nội hơn 30km chúng tôi đã tìm thấy gần 30 quả ấn gỗ khác
nhau có niên đại cách ngày nay trên dưới 200 năm.
Giá trị của những quả ấn thuộc lĩnh vực tôn giáo tín ngưỡng không phải
là ngoại hình với nhiều kiểu chạm khắc như ở lĩnh vực văn hóa nghệ
thuật mà là nội dung văn khắc trên một con dấu. Đó là những hình dấu
khác nhau trên các loại văn bản tấu, sớ, bùa chú có nội dung khác nhau.
Ở Phật giáo là những lá sớ mà dưới chữ “Thiên vận” hoặc “Tuế thứ” bao
giờ cũng có hình dấu vuông in bốn chữ Phật pháp tăng bảo. Ấn dấu Phật
pháp tăng bảo được tìm thấy ở nhiều ngôi chùa khác nhau với kích cỡ, bố
cục tự dạng khác nhau nhưng đều có chung nội dung bốn chữ như trên.
Đạo giáo Việt Nam bao năm nay tồn tại bên cạnh Phật giáo, hòa trộn cùng
Phật giáo với tiền Phật hậu Thánh, tiền Thánh hậu Phật. Sự đa dạng của
Đạo giáo là các ngôi đền, điện thờ đức Thánh Trần, công đồng tam, tứ
phủ cùng chư vị Thánh mẫu v.v… đã được hiện vật ấn tín chứng minh.
Những ấn dấu lớn về Trần Hưng Đạo như Cửu thiên vũ đế Trần triều Hưng
Đạo đại vương chi ấn, Trần Hưng Đạo vương ấn. Về Điện súy Phạm Ngũ Lão
như Trần triều điện súy, Trần triều điện súy thượng tướng quân quan nội
hầu chi ấn. Về công đồng như Tam phủ công đồng ấn và Nam tào bắc đẩu,
Thiên lôi thần tướng v.v… Tất cả đã vẽ nên bức tranh tôn giáo tín
ngưỡng sinh động, đượm màu sắc văn hóa dân gian Việt Nam tồn tại qua
bao thế kỷ.
Có thể nói rằng sự đa dạng phong phú của ấn tín tự do trong các lĩnh
vực thương mại, văn hóa nghệ thuật và tôn giáo tín ngưỡng thục sự sẽ
trở thành mảng đề tài không nhỏ trong ấn chương học. Nhìn từ góc độ
khoa học xã hội và văn hóa nói chung thì công tác nghiên cứu ấn chương
cũng như một số lĩnh vực khác như bia ký, minh văn v.v… đòi hỏi ở mỗi
người nghiên cứu một tri thức liên ngành. Ngoài gốc cơ bản chữ Hán Nôm,
những tri thức rất cần thiết bên cạnh ngữ văn học là lịch sử, triết
học, tôn giáo, văn hóa dân gian và cả khảo cổ học nữa. Nghiên cứu ấn
chương Việt Nam cũng góp phần chứng minh cho công tác Hán Nôm - Một
khoa học liên ngành, một dạng văn hóa học trong nền tảng khoa học và
văn hóa của dân tộc Việt Nam. IV. Hình thức và tính chất các loại hình ấn và dấu Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX
A. CÁC LOẠI HÌNH VÀ CÁC KIỂU HÌNH THỂ ẤN CHUƠNG
1. Tên gọi các loại hình ấn chương
Theo thống kê thì có các loại hình ấn chương sau: Tỷ, Bảo, ấn, Kiềm ấn,
Chương và Tín chương, Quan phòng, Đồ ký, Kiềm ký, Tín ký, Ký, Ký triện
hay Triện. Ở đây chúng tôi xin trình bày một cách khái quát, có hệ
thống và định nghĩa sơ lược mỗi loại hình ấn chương từ Kim ngọc Bảo Tỷ
của Hoàng đế xuống đến Ký triện của Tổng, Lý cấp tổng, xã.
* Kim ngọc Bảo Tỷ 金玉寶璽
Kim ngọc Bảo Tỷ là những ấn của nhà vua dùng với ý nghĩa quốc gia trọng
đại. Ấn được làm bằng ngọc gọi là “Ngọc Tỷ”, được đúc bằng vàng, bạc
gọi là “Kim Bảo Tỷ”.
* Ấn 印
Ấn là ấn lớn của cơ quan từ trung ương xuống đến địa phương cấp huyện,
châu và trong quân đội một số tướng lĩnh cũng được sử dụng loại ấn này.
Phân biệt từ “ấn” ở đây là danh từ riêng chỉ loại hình ấn lớn mà cơ
quan dùng. Ấn ở đây cũng như “Tỷ”, “Bảo” là chữ đứng cuối cùng ở dòng
chữ trong dấu, khác với từ “ấn” 印 là danh từ chung chỉ tất cả những
loại hình ấn khác nhau.
* Kiềm ấn 鈐印
Là ấn nhỏ của cơ quan, đi liền cặp với ấn lớn của cơ quan và Quan phòng
lớn của các quan chức lãnh đạo, thường gọi là bộ ấn kiềm. Kiềm ấn còn
gọi là kiềm hay dấu kiềm chỉ loại ấn rất nhỏ, khác với Kiềm ký.
* Chương 章 và Tín chương 信章
Chương và Tín chương là ấn dùng cho quan đứng đầu cấp doanh, trấn, đạo
(tức chính quyền địa phương cấp tỉnh, dưới tỉnh) và một số đơn vị chức
vụ tương đương tồn tại từ trước đời Gia Long đến Minh Mệnh thứ 13
(1802-1832).
* Quan phòng 關防
Quan phòng là ấn chức vụ của các quan chức, tướng lĩnh, thường gọi là
Quan phòng chức vụ. Quan phòng chức vụ bắt đầu dùng từ thời Nguyễn.
* Đồ ký 圖記
Đồ ký là ấn dùng cho các quan dưới chức quan lớn chính ngạch, thường là
các quan nhỏ phụ trách phân phủ, phụ trách giáo dục ở phủ, huyện v.v…
Trưởng quan các Ty, Sở và sĩ quan đứng đầu các Vệ, Cơ, Thuyền của quân
đội. Đồ ký ra đời và sử dụng ở thời Nguyễn.
* Kiềm ký 鈐記
Kiềm ký là ấn dùng cho chức chỉ huy ở cửa thành, cửa khẩu, cửa biển, đồn trạm v.v… những đơn vị nhỏ có tính chất riêng biệt.
* Tín ký 信記
Tín ký là ấn riêng cho tất cả các quan viên, văn, võ trong triều ngoài kinh từ đại thần, vương công đến hàng bát, cửu phẩm.
* Ký 記
Ký là loại ấn nhỏ dùng cho các lại thuộc ở cơ quan như Thư lại, Vị nhập
lưu thư lại, những người chưa có phẩm hàm hoặc phẩm hàm thuộc hàng thấp
nhất.
* Triện 篆 hay Ký triện 記篆
Triện hay Ký triện là loại ấn nhỏ của Cai tổng (Chánh tổng) và Lý
trưởng - những người đại diện cho chính quyền địa phương ở cấp thấp
nhất.
* Ấn tín tư nhân 私印
Ấn tín tư nhân là tất cả những quả ấn của cá nhân dùng với tính chất tự
do trên mọi lĩnh vực trong xã hội. Thường gọi là “Tư ấn” (私印) để phân
biệt với “Quan ấn” (官印). 2. Hình thể các loại hình ấn chương
Hình thể các loại hình ấn chương từ Bảo Tỷ của Hoàng đế đến Triện của
Tổng, Lý rất đa dạng phong phú và được làm theo đúng quy chế mà vua ban
hành.
* Bảo, Tỷ
Những Bảo, Tỷ của vua dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại núm thường
làm theo hình rồng với những kiểu dáng khác nhau: Rồng cuốn, rồng ngồi,
rồng đứng, rồng đi. Có ấn lại làm hai con rồng cuốn nhau. Số ít Bảo Tỷ
dùng ngoài ý nghĩa quốc gia trọng đại thì làm theo hình kỳ lân.
* Ấn
Ấn lớn thì có ngoại hình đa dạng hơn. Đa số ấn của các triều đại đều
làm kiểu núm chuôi vồ. Riêng triều Nguyễn ấn Đình thần Đình thần chi ấn
núm được chạm con rồng có sừng. Ấn ở lục Bộ và Tôn nhân phủ núm chạm kỳ
lân. Ấn tướng lĩnh cao cấp, ấn trường thi và ấn các doanh, trấn núm
chạm hình hổ hoặc hình sư tử, ấn có núm hình lạc đà là ấn của một viện
hoặc ấn gia phong cho các nước Vạn Tượng, Cao Miên. Ấn lưu kinh làm
theo hình núi. Ấn ở lục Tự, chư nha, ấn quan Bố chánh, Án sát và cấp
phủ, huyện, châu được làm theo kiểu chuôi vồ (núm thẳng).
* Quan phòng
Quan phòng chức vụ các cấp ngành có hình thể không kém phần đa dạng.
Quan phòng của Đại học sĩ, Thượng thư, lục Bộ, Tả hữu Đô ngự sử núm
chạm hình lạc đà. Các tướng lĩnh chức Đô thống, Đô thống chế, Thống
chế, các Tào (cấp thành), Quản lý Thương thuyền và Quốc tử giám đều có
Quan phòng núm hình sư tử. Quan phòng của Kinh lược, Tham tán, Khâm
sai, Khâm phái đại thần, Thanh tra và Tham tri, Thị lang lục Bộ, Tổng
đốc, Tuần phủ, Đề đốc, Lãnh binh, Thị vệ có núm hình chuôi vồ. Quan
phòng của Thái y viện, Văn thư phòng chạm hình rau tảo. Quan phòng của
Nội các lại có núm hình tay quai (vòng tròn).
* Đồ ký, Kiềm ký, Tín ký, Ký, Triện và Ký triện
Các loại hình ấn này đều có hình thể đơn giản. Đồ Ký cấp Cơ, Vệ trong
quân đội và cấp Phân phủ thì núm làm hình tay quai còn tất cả các loại
ấn còn lại có núm chuôi vồ, dài hoặc ngắn tùy theo chức vụ.
* Kiềm ấn
Có ngoại hình đơn giản nhất theo kiểu hình tháp bằng đầu.
* Ấn tín tự do trong dân gian tùy tiện nhưng không kém phần rực rỡ. Có
ấn làm rất cầu kỳ (lĩnh vực nghệ thuật), có loại rất đơn giản (trong
thương trường).
Hình thể ấn chương các loại rất đa dạng phong phú, không chỉ phần núm
chuôi ấn được chạm khắc mà dưới mặt dấu ở viền vòng ngoài cũng được
khắc rất tinh xảo. Là hình lưỡng long chầu nhật, nguyệt, hình họa tiết
hoa lá, hình môtíp uốn khúc kiểu cung đình. Đặc biệt là những Ngọc Tỷ
của Hoàng đế triều Nguyễn được những nghệ nhân đương thời trổ hết tâm
lực, giũa khắc hình rồng, lân ở nhiều thế khác nhau. Tiêu biểu là Ngọc
Tỷ Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ với hình rồng uốn khúc
cao hơn 4 tấc được coi là một trong những báu vật truyền quốc quý nhất
triều Nguyễn.
Kỹ thuật đúc Bảo Tỷ, ấn, Chương bằng vàng, bạc và đồng cũng như việc
chạm khắc ấn bằng chất liệu đá quý, ngà và gỗ là chứng minh sống động
cho sự đa dạng và phong phú của mỹ thuật điêu khắc chạm trổ Việt Nam từ
thế kỷ XV đến XIX.
Theo thống kê thì trọng lượng và thể tích của ấn chương tỷ lệ thuận với
cơ quan, đơn vị, chức vụ quan lại các cấp. Hình thể Bảo Tỷ của vua đa
phần có khối lượng và trọng lượng lớn hơn các loại hình ấn khác. 3. Chất liệu của các loại ấn chương
Chất liệu để làm ra Kim ngọc Bảo Tỷ và tất cả các loại ấn từ thời Lê sơ
đến thời Nguyễn đều phải theo quy chế của Hoàng đế và triều đình. Những
quy chế này mang tính kế thừa, rập khuôn các vương triều trước đồng
thời mô phỏng theo quy chế ấn chương của Trung Quốc. Những chất liệu đó
là ngọc, vàng, bạc, ngà quý và ngà thường, đá quý, cẩm thạch, gỗ quý và
thuỷ tinh.
Tỷ của Hoàng đế bao giờ cũng được làm bằng ngọc, cho nên loại hình này
có tên là Ngọc Tỷ. Có loại ngọc thường, có loại ngọc tốt, thường là hai
loại ngọc xanh và ngọc trắng. Loại Ngọc Tỷ chủ yếu được làm từ thời
Nguyễn sơ, vì chất liệu quý hiếm nên số Ngọc Tỷ ít hơn nhiều so với Kim
Bảo Tỷ.
Những hòn ngọc lớn và đẹp thường được các Hoàng đế coi trọng và chọn
làm Ngọc Tỷ quý giá nhất. Như vua Thiệu Trị được dâng ngọc quý làm
thành Ngọc Tỷ Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ. Có khi không
có ngọc phải đúc ấn vàng và khắc chữ “Tỷ” 璽 lên mặt ấn vàng.
Kim Bảo Tỷ của Hoàng đế được đúc bằng vàng, bằng bạc. Qua thư tịch Hán
Nôm, chúng tôi thống kê triều Nguyễn có tới hàng trăm quả, có quả nặng
tới 395 lượng vàng như Kim Bảo Sắc mệnh chi bảo.
Bên cạnh số ít Ngọc Tỷ quý, tất cả Bảo Tỷ của Hoàng đế dùng với ý nghĩa
quốc gia trọng đại được đúc bằng vàng. Ngoài ra những lễ tấn phong cho
Hoàng Thái hậu, lễ sách lập Hoàng hậu, Thái tử đều được ban ấn đúc bằng
vàng, bằng bạc. Tuổi của vàng đúc mỗi loại ấn cũng được quy định rõ
ràng.
Những Bảo ấn dùng ngoài ý nghĩa quốc gia trọng đại ghi ý riêng của vua,
hoặc ban cho các cung, điện, lâu, tạ v.v… làm bằng ngà quý; ấn sách
phong cho Hoàng thân, chư công, Hoàng tử, Hoàng tôn được đúc bằng bạc
dát vàng. Tư chương hoặc Nhàn chương của vua khắc những câu, ý thánh
hiền v.v… đều làm bằng cẩm thạch và bằng ngà.
Đại thần, tướng lĩnh, chức quan cao cấp như Thượng thư v.v… được dùng
ấn, Quan phòng, Kiềm ấn có chất liệu bằng bạc; chức vụ phẩm hàm kém hơn
một vài bậc nữa như Thị lang, Thống chế v.v… thì ấn, Quan phòng được
làm bằng ngà tốt và bằng đồng pha; chức vụ phẩm hàm thấp nữa của một số
đơn vị, cơ quan thì Quan phòng, Đồ ký, Kiềm ấn làm bằng ngà thường và
bằng đồng.
Ấn cơ quan, Chương và Tín chương, Quan phòng chức vụ, Đồ ký, Kiềm ký
được đúc bằng đồng chiếm tỷ lệ cao trong số lượng ấn chương. Hình thể,
trọng lượng, thể tích mỗi hạng khác nhau để phân biệt chức vụ, cấp bậc
cao thấp.
Quan lại cấp thấp như Giáo thụ, Huấn đạo sử dụng Đồ ký và hầu hết Kiềm
ký đều dùng loại gỗ tốt để làm. Những Kiềm ấn của các quan nhỏ cũng làm
bằng gỗ.
Triện hay Ký triện của Tổng, Lý cấp tổng xã bao giờ cũng được làm bằng gỗ.
Riêng loại Kiềm ký hay Ký thì làm theo nhiều loại chất liệu, nhất là từ
thời Nguyễn Gia Long trở về trước khi quy chế chưa ổn định. Kiềm ký hay
Ký làm bằng ngà, đá, đồng, gỗ, tùy theo chức tước phẩm cấp quan lại.
Nói chung các quan lớn thì dùng chất liệu quý hơn, các lại thuộc thường
dùng gỗ làm Ký.
Chất liệu làm ấn ít được dùng nhất là thủy tinh. Cũng như Bảo ấn bằng
cẩm thạch, ấn thủy tinh có số lượng rất ít với nội dung ý đẹp lời hay
kiểu “Ký thọ vĩnh xương”.
Riêng loại hình ấn tư nhân, vì là ấn tự do nên không theo quy định
chung, ai thích làm chất liệu gì thì làm. Tuy nhiên cũng tạm phân loại
ấn ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật thì chất liệu tốt hơn như ngà, đá,
đồng, còn thương nhân dùng ngà và chủ yếu là gỗ, các thầy pháp dùng ấn
bằng gỗ cho công việc của mình. B. CÁC KIỂU HÌNH DẤU, CÁC DẠNG DẤU QUA BỐ CỤC CHỮ TRONG DẤU
1. Các kiểu hình dấu
Hình ấn dấu cũng đa dạng phong phú không kém hình thể của ấn chương,
gồm hình: vuông, tròn, chữ nhật, lục giác, bát giác và bầu dục, chủ yếu
là tập trung vào hình vuông và hình chữ nhật.
* Dấu hình vuông
Tất cả các Bảo Tỷ của Hoàng đế, ấn lớn của quan, kiềm ấn nhỏ, Chương và
Tín chương, một số Tín ký mặt dấu đều làm theo hình vuông. Chỉ có một
số Bảo Tỷ viền vòng ngoài dấu mới khắc họa tiết như lưỡng long chầu
nhật nguyệt v.v… còn tất cả viền ngoài đều trơn.
* Dấu hình chữ nhật
Tất cả những Quan phòng, Đồ ký, Kiềm ký, Triện hay Ký triện, một số Tín
ký mặt dấu được làm theo hình chữ nhật. Ngoại trừ một số ít Bảo ấn dùng
ngoài ý nghĩa trọng đại cũng được làm hình chữ nhật.
* Dấu hình tròn
Số ít Bảo ấn của vua dùng ngoài ý nghĩa quốc gia trọng đại, Bảo sách
phong cho Hậu, Hoàng tử, thân vương hoặc ấn ban cho các cung điện, lâu,
tạ trong nội cung, hoặc ấn tín tự do dấu mới làm theo hình tròn. Viền
vòng ngoài thường khắc hình lưỡng long chầu nhật, nguyệt.
* Dấu hình bát giác
Dấu làm khuôn kiểu hình thoi có 6 cạnh vuông góc, 2 cạnh ở giữa lõm
hình vòng cung, viền ngoài có đường họa tiết uốn theo hình dấu. Loại
hình này chủ yếu thấy ở Ký của các lại điển trong các cơ quan. Một số
hậu, phi, quan lớn làm ấn tín tự do cũng làm theo hình này.
* Dấu hình bầu dục
Hình bầu dục hiếm thấy trong ấn chương Việt Nam. Riêng thời Nguyễn cũng
chỉ có một vài ấn như Bảo ấn Ngự tiền chi bảo có hình bầu dục. 2. Các dạng dấu qua bố cục chữ trong dấu
a. Dấu hình vuông

Loại 4 chữ: Xếp theo chiều vương góc của hình dấu. Một số Bảo Tỷ của
vua - và ấn cơ quan đều thuộc dạng này. Đây là loại dấu có số lượng
nhiều nhất trong các loại hình dấu.
a2. Loại 4 chữ: Xếp theo kiểu chữ “Thập” 十 với 2 dạng sau:


a3. Loại 5 chữ: Xếp theo hình dấu nhân X với 2 dạng sau:

a4. Loại 2 chữ: Loại kiềm ấn duy nhất thuộc dạng này

a5. Loại nhiều chữ: Xếp theo 2, 3 hoặc 4 cột dọc

b. Dấu hình chữ nhật
b1. Loại xếp theo 2 hoặc 3 cột dọc:

Loại này là Quan phòng chức vụ và Đồ ký, có số lượng nhiều sau ấn cơ quan.

b2. Loại phần nhỏ chữ xếp chiều ngang, phần dưới xếp theo 2 hoặc 3 cột dọc:
Loại này chỉ có trong Đồ ký và Kiềm ký.
c. Dấu hình tròn và hình bầu dục
Chữ đều xếp theo cột dọc và theo khuôn hình bầu dục hay hình tròn của dấu. Số ít Bảo ấn và ấn tư có dạng dấu này.
c1. Dấu hình tròn:

c2. Dấu hình bầu dục

* Dấu hình bầu dục lõm cạnh

d. Dấu hình bát giác
d1. Xếp theo 1 cột dọc

d2. Xếp theo 2 cột dọc

Dấu của lại điển và số ít quan lại dùng tùy tiện.
e. Loại dấu 1 chữ

Loại dấu này rất hiếm thấy, cùng xếp vào loại Kiềm ấn nhỏ nhất, như dấu chữ Tín.
g. Loại dấu nhiều chữ
Dấu có từ 12 chữ trở lên tạm xếp vào loại nhiều chữ, số lượng dấu ở
dạng này cũng rất ít, chỉ nằm trong loại dấu hình vuông, hình tròn, và
hình chữ nhật.

Tóm lại, việc phân chia các dạng hình dấu ấn là việc làm cần thiết, chỉ
cần nhìn qua văn bản có dạng hình dấu gì ta có thể biết tổng thể ngay
loại văn bản đó như thế nào, quan trọng hay không quan trọng. Hình dấu
Bảo Tỷ của vua sẽ phải khác hẳn dấu Triện của Lý trưởng cả về hình thức
màu sắc và giá trị của dấu đó. Đối với công cuộc cải cách tổ chức hành
chính các cấp thì quy chế về việc phân loại kiểu dạng hình dấu có giá
trị thực tiễn cao hơn nhiều lần so với quy định về hình thể và chất
liệu của ấn. |