Ấn chương Việt Nam_Phần thứ hai PDF Print E-mail
Written by lichsuvn.info   
Monday, 27 October 2008
Tài liệu nghiên cứu về ấn chương học Việt Nam, phần thứ hai.
PHẦN THỨ HAI

ẤN CHUƠNG VIỆT NAM THỜI NGUYỄN (1802-1945)

CHƯƠNG I

KIM NGỌC BẢO TỶ CỦA HOÀNG ĐẾ VÀ ẤN CHƯƠNG TRONG HOÀNG TỘC THỜI NGUYỄN


I. Kim ngọc Bảo Tỷ của Hoàng đế thời Nguyễn

Vương triều Nguyễn bắt đầu từ thời Gia Long Nguyễn Ánh (1802-1820) đến Hoàng đế cuối cùng Bảo Đại Nguyễn Vĩnh Thụy (1926-1945). Ngôi vị Hoàng đế đều kế thừa mô hình quân chủ chuyên chế cha truyền con nối của các nước Đông phương, mà các triều đại phong kiến Việt Nam trước thời Nguyễn đã thực hiện. Lễ đăng quang nhận kiếm báu, ấn vàng truyền quốc của các vua Nguyễn diễn ra hết sức trọng thể và mang mầu sắc chính trị rõ rệt.

Hoàng đế Nguyễn cũng như các vua chúa phong kiến Việt Nam trước đó đều lấy Kim ngọc Bảo Tỷ để biểu thị cho quyền lực tối cao của mình và cả vương triều. Kim ngọc Bảo Tỷ là những ấn của nhà vua dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại. Ấn được làm bằng ngọc gọi là Ngọc Tỷ 玉璽 , ấn được đúc bằng vàng, bằng bạc gọi là Kim Bảo Tỷ 金寶璽. Có thể nói Bảo Tỷ là báu vật của quốc gia và tượng trưng cho đế quyền.

1. Giới thiệu các Kim ngọc Bảo Tỷ thời Nguyễn

Theo thống kê tương đối đầy đủ thì có hàng trăm Bảo Tỷ bằng ngọc, bằng vàng và bạc được làm ra từ thời Nguyễn, do chiến tranh binh hỏa triền miên nên các hiện vật quí báu đó hầu hết đã bị thất lạc. Hiện nay các cơ quan chức năng của chúng ta đang giữ vài ba quả ấn vàng là những Bảo Tỷ của các vua Nguyễn, vì điều kiện khó khăn phức tạp nên chúng tôi không thể in chụp được. Ở Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội và Trung tâm Quản lý di tích cố đô Huế còn giữ được số ít Bảo ấn, nhưng là những ấn bình thường với chất liệu bằng đồng, bằng ngà và đá đẹp. Do đó việc giới thiệu Kim ngọc Bảo Tỷ chúng tôi chỉ căn cứ vào những hình dấu trên văn bản Hán Nôm còn lưu lại trong Châu bản triều Nguyễn ở Cục Lưu trữ, ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm và trong dân gian. Đồng thời trên cơ sở tài liệu, thư tịch bằng chữ Hán và các bộ chính sử đã dịch, đặc biệt qua cuốn Cơ mật viện túc trình[154] chúng tôi tạm hệ thống sơ lược về Kim ngọc Bảo Tỷ thời Nguyễn.

Bảo Tỷ nhà Nguyễn gồm hai loại chính bằng vàng và bằng ngọc. Các Bảo Tỷ dùng ngoài ý nghĩa quốc gia trọng đại thì làm bằng đồng dát bạc, bằng ngà, bằng đá quí và bằng gỗ thơm. Bảo Tỷ cũng như các trọng khí khác của các vua Nguyễn thường lấy hình rồng và kỳ lân (hai trong tứ linh) làm biểu tượng. Hình rồng và hình kỳ lân trên mỗi Bảo Tỷ cũng được cách điệu khác nhau: thế cuốn, thế đứng, thế ngồi, thế đi bay.

Trọng lượng và thể tích của Bảo Tỷ thường lớn hơn nhiều so với các loại hình dấu khác, nó có thể lớn gấp đôi, gấp ba lần ấn Quan phòng, lớn gấp năm hoặc gần chục lần Tín ký và Triện. Mặt dấu của Bảo Tỷ thường làm theo hình vuông, số ít làm theo hình tròn và các hình khác, viền vòng ngoài chữ Triện hay khắc hình lưỡng long chầu nhật nguyệt, càn khôn.

a. Kim Bảo Tỷ

Trừ một vài ấn được làm từ thời chúa Nguyễn, nói chung các Kim Bảo Tỷ được làm từ thời Nguyễn sơ (1802-1847), những Bảo Tỷ ở giai đoạn sau là những Bảo Tỷ làm ra để thay cho cái cũ hoặc dùng về thường sự. Kim Bảo có niên đại sớm nhất của triều Nguyễn còn giữ lại được đến đời Bảo Đại là Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo. Kim Bảo này được làm từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725). Chính sứ ghi: “Năm Canh Tý (1780) vua (Nguyễn Ánh) mới theo, lên ngôi vương ở Sài Gòn. Văn thư đưa xuống gọi là chỉ truyền, sai phái gọi là chỉ sai, dùng ấn Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo. Ấn này do Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế chế, nay dùng làm của báu truyền ngôi”[155]. Hiện nay trên tấm bia đá rất lớn ở chùa Thiên Mụ (Huế) có khắc hình dấu Kim Bảo này. Đợt công tác tại Huế năm 1989 chúng tôi đã in rập được nguyên bản hình dấu Kim Bảo nói trên. Dấu hình vuông, kích thước 11x11cm viền ngoài để rộng 1,1cm, 9 chữ Triện bên trong xếp thành 3 hàng dọc, mỗi hàng 3 chữ. Lối Triện tự viết theo kiểu thời Lê - Trịnh, nét chữ vuông vức uốn nhiều nét. Đó là 9 chữ Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo 大越國阮主永鎭之寶 (Bảo của chúa Nguyễn nước Đại Việt trấn giữ lâu dài). Hình dấu khắc đè lên dòng chữ ghi niên đại lập bia Vĩnh Thịnh thập nhất niên tuế thứ ất mùi sơ đông chi cát đán lập 永盛十一年歲次乙未初冬之吉旦立. Cách dưới chữ “lập” 3cm là hình một dấu hình tròn có đường kính 6,8cm khắc hình lưỡng long chầu vào một dòng chữ Triện ở giữa. Đó là 4 chữ Hiệp nhất chúa nhân 協一主人 (Bậc chúa nhân thu hợp tất cả)[156]. Như vậy dấu Bảo ấn Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo cùng 3 dấu khác trên bia được khắc vào ngày tốt đầu đông năm Ất Mùi niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715) nhà Lê. Niên đại của dấu cùng với niên đại của tấm bia, chúa Nguyễn Phức Chu đã cho lập bia đá, khắc chữ và dấu[157]. (H. 92, 93, 94)

Kim Bảo Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo là của báu truyền ngôi của các chúa Nguyễn kế vị, nên được các vua Nguyễn giữ gìn rất cẩn trọng.

Khi mới lên ngôi Hoàng đế, Gia Long đã ra ngay sắc lệnh dùng vàng để đúc ấn Bảo Tỷ. Sử cũ ghi lại “Đức Hoàng khảo Thế tổ Cao Hoàng đế ta, dựng thành quy chế, lập ra pháp luật, trăm chế độ đều mới cả, ra sắc lệnh đúc các loại ấn như Chế cáo chi bảo, Ngự tiền chi bảo, Mệnh đức chi bảo…“[158].





Tiếp xúc với những văn bản chữ Hán tập 2, 3, 4, 5 - Gia Long trong Châu bản triều Nguyễn, chúng tôi thấy một số hình dấu trên như Quốc gia tín bảo, Ngự tiền chi bảo, ngoài ra còn những dấu Bảo Tỷ khác mà trong các bộ chính sử của ta không thấy ghi như dấu Văn lý mật sát, Thú tín thiên hạ văn vũ quyền hành.

Theo chỉ dụ của Hoàng đế thì mỗi một Bảo Tỷ đều theo cách sử dụng riêng và phải dùng một loại văn thư chỉ định. Dưới đây xin liệt kê những Kim Bảo Tỷ có từ thời Gia Long.

* Chế cáo chi bảo 制誥之寶: Bằng vàng. Dùng đóng trên tờ huân giới, sắc, chiếu lệnh sai phái các quan văn võ cùng chiếu văn thăng giáp cấp bậc, răn dạy quan tướng.

* Quốc gia tín bảo 國家信寶: Bằng vàng. Dùng đóng trên các văn kiện triệu tập các tướng lĩnh, phát động binh sĩ trưng binh nhập ngũ.

* Sắc chính vạn dân chi bảo 敕正萬民之寶: Bằng vàng. Đóng trên các đạo sắc văn, khuyến giới dân chúng tứ phương, nêu gương các nhân vật tiết nghĩa hiếu hạnh.

* Thảo tội an dân chi bảo 討罪安民之寶: Bằng vàng. Dùng đóng trên tờ chiếu văn sai phái các tướng mang quân đi đánh dẹp giặc giã trong và ngoài nước.

* Ngự tiền chi bảo 御前之寶: Đúc hai chiếc một vàng một bạc. Dùng đóng trên các tờ dụ, chương sớ, sổ sách thuộc về thường sự.

* Mệnh đức chi bảo 命德之寶: Bằng vàng. Đóng trên các bản văn ban thưởng các quan viên có công lao lớn, có thành tích đặc biệt hay trung thành.

* Văn lý mật sát 文理密察: Đúc bằng bạc. Đóng trên những bản dụ, chỉ, chương sớ, sổ sách thuộc về thường sự. Bảo Văn lý mật sát chức năng như một Kiềm Bảo trong loại hình Kim Ngọc Bảo Tỷ.

* Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành 守信天下文武權行: Đúc hai chiếc một vàng, một bạc. Dùng đóng trên đầu tờ giấy trong các đạo chiếu văn.

* Phong tặng chi bảo 封贈之寶: Đúc bằng vàng. Dùng đóng trên các đạo sắc, cáo phong tặng các quan văn võ, công thần hay thần nhân.

* Trị lịch minh thời chi bảo 治曆明時之寶: Đúc bằng bạc. Dùng đóng trên các bản lịch, bản chính sóc.

Xin giới thiệu dấu Chế cáo chi bảo in trên văn bản Hán Nôm. Đây là một bản sắc phong kích thước 3,4x5,4cm, chữ Hán viết chân[159]. Nội dung văn bản là bản sắc phong chức và tước cho một người Pháp tên là Michel Đức Chaigneau có công lao giúp Gia Long Nguyễn Ánh trong cuộc chiến chống Tây Sơn. Ông được Gia Long phong chức Khâm sai thuộc nội Cai cơ, Chánh quản hai đội Kiên thủy tàu đồng Long Phi thuộc Trung quân, tước Thắng Toàn hầu với tên Việt Nam là Nguyễn Văn Thắng. Dòng niên đại ghi trên văn bản có 11 chữ Gia Long nguyên niên thập nhất nguyệt nhị thập ngũ nhật (Ngày 25 tháng 11 niên hiệu đầu Gia Long [1802]). Hình một dấu son in dưới chữ “Long”. Dấu hình vuông kích thước 10,5x10,5cm, bốn chữ Triện trong dấu xếp theo hai hàng, nét khắc ngắn đơn giản. Đó là 4 chữ Chế cáo chi bảo 制誥之寶[160]. Hai chữ cố sắc 故敕 ở cuối phần chính văn càng khẳng định đây là bản sắc phong cho quan tướng cao cấp. Văn bản này đã cho ta biết Kim Bảo Chế cáo chi bảo được làm ra trước Kim Bảo Phong tặng chi bảo và Sắc mệnh chi bảo (thời Minh Mệnh) là những Bảo ấn chuyên dùng đóng trên sắc phong thời Nguyễn. (H. 95)

 
Về dấu Quốc gia chi bảo còn chứng tích trong tờ chiếu đời Gia Long và trong Châu bản triều Nguyễn dưới đây. Bài Tờ chiếu của vua Gia Long phong cho Nguyễn Du tước Du Đức hầu trong Tạp chí Hán Nôm số 3-1997 có giới thiệu bản sao tờ chiếu của vua Gia Long phong chức Hữu Tham tri bộ Lễ và tước Du Đức hầu cho Nguyễn Du, tác giả cho rằng dòng niên đại ghi trong tờ chiếu là Gia Long thập tứ niên ngũ nguyệt thập cửu nhật tức ngày 19 tháng 5 năm Ất Hợi niên hiệu Gia Long thứ 14 (1815). Bức ảnh chụp tờ chiếu của vua Gia Long có ghi xuất xứ, khổ 5,5x6cm cho thấy phần trên và bên trái văn bản đã bị rách, giấy ố nhăn nhưng toàn văn chữ Hán dòng niên đại và hình con dấu còn nguyên tuy có bị nhòe, mờ. Dấu hình vuông mép trên in bên dưới chữ Long, mép dưới in trên chữ thập. Bên trong viền dấu là bốn chữ xếp theo chiều dọc, hai chữ ở hàng hai tuy có bị nhòe mờ gần hết nhưng chúng tôi vẫn khẳng định được đây là 4 chữ Quốc gia tín bảo 國家信寶[161].

Kim bảo Quốc gia tín bảo được làm từ năm Gia Long thứ 1 (1802), giai đoạn này mọi quy chế chưa ổn định, số lượng Kim Bảo rất ít nên Quốc gia tín bảo còn được dùng đóng trên một số loại văn kiện hành chính quan trọng khác nhau. Dấu Quốc gia tín bảo in trên tờ chiếu này đã chứng minh cho chức năng sử dụng của nó trên chiếu thăng chức tước cho quan tướng chứ không chỉ riêng có chức năng dùng đóng trên văn kiện “Trưng phát quân lính tuyên triệu tướng súy” như trong lời dụ của vua Minh Mệnh năm thứ 9 (1828) mà chính sử đã ghi[162]. Sau cải cách đời Minh Mệnh đất nước đã tương đối ổn định, việc binh nhung thường dùng ấn Duệ vũ chi tỷ 曳武之璽. Quốc gia tín bảo ít được dùng nhưng vẫn được giữ gìn đến đời vua Bảo Đại. (H. 96)



Xem xét Châu bản triều Nguyễn đời Gia Long chúng tôi đã tìm thấy dấu Quốc gia tín bảo ở dòng ghi niên hiệu, đồng thời cũng đã đo được chính xác kích thước của dấu và đồ họa lại rõ chữ hình dấu mà ở văn bản trên bị mờ nhòe. Dấu hình vuông kích thước 11,3x11,3cm, viền ngoài để cỡ 1cm. Bốn chữ Triện Quốc gia tín bảo 國家信寶 khắc theo khuôn hình vuông viền ngoài để cỡ 1cm, nét chữ ngắn, dễ đọc. (H. 97)



Xin giới thiệu tiếp một số hình dấu Kim Bảo hiện còn lưu giữ trong Châu bản. Kim Bảo Ngự tiền chi bảo 御前之寶 được làm hai cái một bằng vàng, một bằng bạc, núm ấn đều được đúc hình rồng. Ấn bằng vàng mặt dấu đúc theo hình bầu dục, ấn bằng bạc mặt dấu đúc theo hình lục giác. Hai Kim Bảo này về chất liệu và hình thể có khác nhau, nhưng tự dạng trong dấu có cùng một kiểu. Dấu Ngự tiền chi bảo bằng vàng hình bầu dục có kích thước 2,5x3cm, viền ngoài cỡ 0,5cm và có khắc họa tiết. Điều đặc biệt ở đây là tất cả các Kim Ngọc Bảo Tỷ tự dạng dấu đều khắc theo kiểu chữ Triện, riêng ấn Ngự tiền chi bảo và một vài ấn nữa, mặt dấu khắc theo lối Chân thư, nét chữ khắc đậm nhạt như chữ viết trên giấy. Vị trí đóng dấu trên các văn bản, nếu ở những chữ bản phiến, phiếu, chỉ dụ thì dấu Ngự tiền chi bảo được đóng ở phần trên dòng ghi niên hiệu năm tháng; nếu ở những bản sớ hay tấu tập thì dấu Ngự tiền chi bảo được đóng trên mặt chữ “Khâm thử” ở cuối bản. (H.98)

 
Kim Bảo Văn lý mật sát 文理密察 được đúc bằng vàng, đóng vai trò một Kiềm Bảo trong đội ngũ Kim Ngọc Bảo Tỷ. Mặt dấu hình vuông, kích thước 2,6x2,6cm, bốn chữ Triện xếp hai hàng, nét chữ khắc vuông vức. Vị trí đóng ở những chỗ tẩy xóa, sửa chữa, viết thêm và những nơi giáp trang. Trong các tập Châu bản triều Nguyễn giai đoạn Nguyễn sơ xuất hiện rất nhiều hình dấu Văn lý mật sát, còn các tập từ thời Tự Đức trở đi ít thấy xuất hiện. (H. 99)



Kim Bảo Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành 守信天下文武權行 có từ thời chúa Nguyễn được coi là ấn truyền quốc, đương thời và về sau gọi là Tiểu long bảo 小龍寶. Kim Bảo này được đúc làm hai chiếc một bằng vàng và một bằng bạc có hình thức như nhau, với núm hình con rồng thế như bay. Dấu có hình chữ nhật đứng cỡ 3,4x4,9cm, viền ngoài để rộng 0,6cm và khắc hai con rồng nhỏ nét mảnh (Có lẽ vì ấn có hình thể như vậy nên triều Nguyễn gọi là Tiểu long bảo). Chữ Triện xếp theo chiều dọc 2 hàng, mỗi hàng 4 chữ, đó là 8 chữ Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành. (H. 100)



Bảo ấn Tiểu long bảo dùng đóng trên đầu tờ giấy trong những đạo chiếu văn, đến đời Minh Mệnh thứ 9 (1828) nhà vua thấy ý nghĩa của dấu ấn này chỉ nặng về hình thức nên bỏ không dùng. Lời dụ của Minh Mệnh đã ghi “Còn như các chiếu văn việc cũ dùng ấn Tiểu long đóng trên đầu tờ giấy đều phải đình chỉ…“[163].

Khi lên ngôi với ước vọng xây dựng đất nước thành một quốc gia hùng cường vua Minh Mệnh đã tiến hành công cuộc cải cách hành chính từ trung ương đến địa phương, trong đó vấn đề hoàn thiện các loại Bảo Tỷ, ấn triện được Minh Mệnh đặc biệt chú trọng. Sau này khi Minh Mệnh đổi quốc hiệu là Đại Nam để sánh với nhà Đại Thanh Trung Quốc thì hai chữ “Đại Nam” từ đó được khắc trên một số Bảo Tỷ.

Ngay từ năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) nhà vua đã cho đúc Kim Bảo Hoàng đế chi bảo bằng vàng mười, hình thể hai tầng, núm hình rồng ngồi xổm, vuông 3 tấc 2 phân, dày 5 phân. Lại dùng vàng tám tuổi đúc Kim Bảo Minh Mệnh thần hàn hình thể cũng làm núm hình rồng.

Đến Minh Mệnh thứ 8 (1827) bộ Lễ cùng phủ Nội vụ, ty Vũ khố nhận chỉ dụ đúc 5 quả Kim Bảo bằng vàng: Bảo Sắc mệnh chi bảo hình thể hai đài chồng núm chạm hình rồng ngồi xổm, vuông 3 tấc 2 phân dày 2 ly. Bảo Hoàng đế tôn thân chi bảo vuông 3 tấc 2 phân dày 3 phân 6 ly. Kim Bảo Trị lịch minh thời chi bảo bằng vàng, vuông 2 tấc 6 phân 1 ly để thay cho quả bằng bạc làm từ thời Gia Long.

Sử cũ ghi lại ý thức của vua Minh Mệnh trong việc làm và dùng ấn Bảo Tỷ, chi tiết đến cả chữ kiêng húy trong dấu. Lời dụ năm Minh Mệnh thứ 9 (1828) chép rằng “Ấn báu của Nhà nước là để làm việc tuyên bố mệnh lệnh, chỉ bảo rõ ràng những việc phải làm, về khí cụ thì cực kỳ quan trọng, về điển lệ thì cực kỳ to lớn… đức Hoàng khảo Thế tổ Cao Hoàng đế ta định chế độ lập pháp luật, trăm việc đều mới, nhiều lần ban sắc lấy vàng đúc các quả ấn như là ấn Chế cáo chi bảo, ấn Quốc gia tín bảo, ấn Sắc chính vạn dân chi bảo, ấn Thảo tội an dân chi bảo, và ấn Mệnh đức chi bảo. Từ trước đến nay đã kính thi hành, song là lúc mới làm chưa được mười phần chu đáo. Ta vâng nối ngôi báu, may gặp thái bình, những mong làm cho quy mô trước thêm rực rỡ, để tỏ rõ cho đời sau, cũng dùng vàng tốt đúc thêm ấn Hoàng đế chi bảo, Sắc mệnh chi bảo và Trị lịch minh thời chi bảo. Chữ “Thời” là trọng nhưng phải viết chữ “Nhật” sang bên phải và chữ “Tự” sang bên trái, hiện đã lần lượt đúc xong”[164].

Việc định lệ dùng ấn cũng được làm ngay khi đã hoàn thành việc đúc ấn, mỗi Bảo Tỷ được đúc ra cũng đều có cách sử dụng riêng và dùng cho một loại văn thư chỉ định, những định lệ này thực hiện theo chỉ dụ của vua Minh Mệnh ban năm 1828. Tiếp theo xin giới thiệu những Kim Bảo Tỷ được đúc bằng vàng có từ đời Minh Mệnh.

* Hoàng đế tôn thân chi bảo 皇帝尊親之寶: Dùng đóng trên các bản văn tiến dâng húy hiệu hay thụy hiệu.

* Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶: Dùng đóng trên các sắc cáo cho các quan văn võ công thần, phong tặng các nhân thần.

* Hoàng đế chi bảo 皇帝之寶: Dùng đóng trên các bản về khánh tiết ban ơn, đại xá thiên hạ, ban sắc thư với ngoại quốc, khi đi tuần thú các địa phương, và trên các bản cáo dụ ban xuống cho các bậc huân thần và quan lại cao cấp.

* Khâm văn chi tỷ 欽文之璽: Đóng trên các văn kiện về vấn đề văn hóa, dựng việc học, mở khoa thi, cầu hiền sĩ, làm sách, mọi việc về bên văn.

* Duệ vũ chi tỷ 曳武之璽: Đóng trên các văn kiện liên quan đến việc binh nhung, cáo văn cho binh sĩ, huấn luyện quân binh, mở khoa võ thí, những việc võ bị.

* Trị lịch minh thời chi bảo 治曆明時之寶: Được đúc bằng vàng thay cho ấn cũ bằng bạc. (Chữ “Thời” viết kiêng húy). Dùng đóng trên các bản lịch, bản chính sóc.

* Đại Nam hiệp kỷ lịch chi bảo 大南協紀曆之寶, như kim bảo Trị lịch minh thời chi bảo dùng đóng trên các bản lịch, bản chính sóc.

* Minh Mệnh thần hàn 明命宸翰: Đóng trên những bài văn thơ vua làm, chữ son vua viết. Những khi trong cung có thưởng phạt, ban hành các chỉ dụ đều mượn dấu Minh Mệnh thần hàn.

Năm 1828 sau khi đúc ấn Tề gia chi bảo, Minh Mệnh lại cho đúc hai quả ấn vàng đều khắc chữ Minh Mệnh đồ thư, 1 quả hình vuông 1 tấc 2 phân 3 ly cao 9 phân rưỡi, một quả hình tròn đường kính 1 tấc dày 2 phân 3 ly cao 8 phân 1 ly. Hai ấn này đều khắc núm hình rồng.

Trong số những Bảo ấn trên thì Hoàng đế tôn thân chi bảo còn giữ được chứng tích hiện vật. Chính sử đã ghi về việc chế tác và sử dụng Bảo ấn này: “Minh Mạng năm thứ 8, xuống chỉ cho bộ Lễ chọn ngày tốt, hội đồng với phủ Nội vụ, ty Vũ khố kính cẩn đúc một quả Hoàng đế tôn thân chi bảo, vuông 3 tấc 2 phân, dày 3 phân 6 ly… núm chạm rồng ngồi xổm… làm bằng vàng mười”[165].

“Ấn Hoàng đế tôn thân chi bảo núm hình con rồng cuốn, phàm có việc kính cẩn dâng húy hiệu thì đóng ấn này…”[166].
 
Năm 1994, từ tư liệu gián tiếp ở Huế chúng tôi có được bản chụp hiện vật và hình dấu của Hoàng đế tôn thân chi bảo đời Minh Mệnh. Ảnh cho thấy rõ núm ấn là hình rồng cuốn, đầu rồng ngắn, sừng có ngạnh. Thân rồng uốn theo hình số 8 quanh đầu rồng, thế vươn cổ ngẩng đầu. Mặt trên ấn hình vuông, có hàng chữ Hán khắc hai bên chân rồng. Bên phải là 9 chữ Minh Mệnh bát niên thập nguyệt cát nhật tạo 明命八年十月吉日造 (ngày tốt tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 8 [1827]) Bên trái là 14 chữ Thập tuế kim trọng nhị bách tam thập tứ lượng tứ tiền tam phân 拾歲金重貳百叁拾肆兩肆錢叁分 (vàng mười tuổi nặng 234 lạng 4 tiền 3 phân). Mặt đế ấn hình vuông, không để viền ngoài, 6 chữ Triện khắc chìm kiểu “Bạch văn” xếp theo 3 hàng, nét chữ khắc ra gần mép ấn. Đây là hiện tượng ít thấy trong Kim Ngọc Bảo Tỷ và các ấn chương quan trọng khác. Triện văn ở đây là 6 chữ Hoàng đế tôn thân chi bảo 皇帝尊親之寶. (H. 101 a,b,c,d)

Hiện nay Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh đang lưu giữ một chiếc ấn giống Kim Bảo Hoàng đế tôn thân chi bảo. Năm 1995 hai nhà Bảo tàng học Đặng Văn Thắng và Phạm Hữu Công đã đăng bài Về chiếc ấn Hoàng đế tôn thân chi bảo trong Những phát hiện mới về khảo cổ học 1995. Dưới góc độ khảo cổ học hai tác giả đã mô tả chi tiết hình thức quả ấn này và so sánh với quả ấn Hoàng đế tôn thân chi bảo được ghi trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ. Từ đó có những kết luận về sự khác nhau của hai quả ấn cùng tên này. Quả ấn hiện còn ở Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh có kích thước nhỏ hơn, chất liệu bằng ngà voi chỉ nặng 275 gram chứ không phải 234 lạng vàng mười tuổi (8,8452 kg). Đồng thời hai tác giả cho rằng quả ấn ngà có thể được tái tạo ở thời Tự Đức khoảng thập kỷ 60 của thế kỷ XIX.



Năm 1998 chúng tôi đã vào Nam trực tiếp xem xét chụp ảnh ấn Hoàng đế tôn thân chi bảo tại Bảo tàng Lịch sử tại thành phố Hồ Chí Minh. Đúng như mô tả của hai tác giả Đặng Văn Thắng và Phạm Hữu Công. Ấn có chất liệu bằng ngà, thân ấn là một khối hình trụ vuông cạnh 6,1cm. Núm ấn là hình rồng cuốn (ngồi xổm), cao từ mặt ấn đến đầu rồng 11,1cm, từ mặt ấn đến đuôi rồng 11,2cm. Phần bệ rồng có kích thước 4,6x4,4x0,5cm. Từ bệ lên đầu rồng cao 3,6cm, từ bệ lên đuôi rồng cao 3,7cm, từ đầu rồng đến đuôi dài 5,1cm. Đầu rồng ngắn, trán vồ, mũi hỉnh, mắt lồi, sừng có một ngạnh. Miệng rồng ngậm ngọc, mở thấy 2 răng nanh hàm trên và 12 răng nanh hàm dưới. Thân rồng uốn lượn hình số 8 bẻ cong lên, đuôi cặp bên cổ trái, thân có vẩy cá, kỳ nổi răng cưa, cổ có 6 khoang. Bốn chân rồng mỗi chân có 4 móng, đuôi rồng xoắn có 11 tia. Ấn gồm bốn phần gắn lại, mặt ấn có 4 ốc vít nhỏ ở 4 góc trong phần khắc lõm gắn vào thân ấn, một ốc vít nữa đặt ở giữa cạnh phía đuôi rồng. Các ốc vít này được bắt lõm xuống gắn chặt mặt ấn và thân ấn. Phần rồng và bệ được bắt dính liền trên mặt ấn.

Mặt trên ấn hình hơi chữ nhật có kích thước 5,8x6,0x0,4cm, cao 6,1cm dày bằng mặt đế ấn. Trên có khắc hai hàng chữ Hán, nhưng chữ được khắc ngược, bên phải là 9 chữ Minh Mệnh bát niên thập nguyệt cát nhật tạo (Ngày tốt tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 8 [1827]). Bên trái là 10 chữ Thập tuế kim trọng nhị bách tam thập tứ lượng (Vàng mười tuổi nặng 234 lạng).

Mặt đế ấn hình hơi chữ nhật kích thước 5,8x6,0x0,4cm bằng cỡ mặt trên ấn. Viền ngoài đế cỡ 0,6cm. Văn khắc bên trong là 6 chữ Triện khắc ngược xếp theo ba hàng dọc từ trái sang phải, là 6 chữ Hoàng đế tôn thân chi bảo. Hình dấu có hình thức kích cỡ giống như mặt đế ấn với 6 chữ Triện Hoàng đế tôn thân chi bảo 皇帝尊親之寶 xếp từ phải sang trái[167]. (H.102 a,b,c,d)



So sánh ảnh chụp của hai quả ấn cùng tên trên, chúng tôi thấy có nhiều điềm khác biệt ngoài ý kiến của hai nhà Bảo tàng học đã nêu ra về kích thước, trọng lượng và chất liệu quả ấn.

Về núm ấn hình rồng ở quả ấn đời Minh Mệnh cổ rồng dài hơn; chiều uốn của bờm và vây, thế cuốn của thân rồng và thế móng hai chân sau khác với hình rồng ở quả ấn ở Báo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh.

Hàng chữ bên trái khắc trên mặt ấn đời Minh Mệnh có 14 chữ là Thập tuế kim trọng nhị bách tam thập tứ lượng tứ tiền tam phân khác với hàng chữ trên ấn ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chỉ có 10 chữ.

Mặt đế ấn đời Minh Mệnh không để viền ngoài (rìa cạnh), văn khắc chìm khác với ấn ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam để rìa cạnh 0,6cm và văn khắc chữ nổi. 4 chữ Triện Hoàng đế tôn thân 皇帝尊親 ở hai quả ấn này có nét chữ cách điệu khác nhau rõ rệt.

Chất liệu ấn đời Minh Mệnh bằng vàng mười nặng 234 lạng 4 tiền 3 phân khác với ấn kia có chất liệu bằng ngà và chỉ nặng 275 gram. Kích thước quả ấn vàng lớn hơn quả ấn ngà.

Về niên đại của ấn ngà Hoàng đế tôn thân chi bảo chúng tôi cho rằng nó có thể được tái tạo sau biến cố 1885 khi kinh đô Huế thất thủ, điều này có thể thấy rõ hơn ở cuối tiểu mục này.

Những Kim Bảo Tỷ được đúc ở đời Minh Mệnh, ngoài những cái mới dùng cho các loại văn thư riêng biệt mới mẻ, ở đây còn có những Kim Bảo Tỷ được làm ra dùng thay cho Kim Bảo cũ, như Kim Bảo Sắc mệnh chi bảo được đúc để thay cho Kim Bảo Phong tặng chi bảo. Chính sử đã ghi lại vào năm Minh Mệnh thứ 1 (1820) “Người Thanh Hoa là Trần Hữu Bảo đào được một cái ấn bằng đồng có chữ Sắc mệnh chi bảo (Sau lưng khắc Nguyên Hòa ngũ niên tạo, Nguyên Hòa là niên hiệu của vua Lê Trang Tông)[168].

Người Quảng Đức là Hồ Quang đào được một cái ấn ngọc, trong có chữ Trung hòa vị dục. Đều do quan địa phương dâng lên. Vua sai thưởng bạc theo bực khác nhau”[169]. 8 năm sau (1828) vua Minh Mệnh cho đúc Kim Bảo Sắc mệnh chi bảo bằng vàng để thay cho Phong tặng chi bảo. Lời dụ của Minh Mệnh năm 1828 về việc này: “Từ trước đến nay phong tặng các thần kỳ cùng văn võ quan phẩm, thì đều dùng ấn Phong tặng chi bảo. Nay mới đúc ấn Sắc mệnh chi bảo, từ nay phàm có ban cấp cho văn võ phong tặng cho thần dân đều cho dùng…“[170].

Xem xét một loại sắc phong, chỉ có một loại dấu Phong tặng chi bảo. Xin giới thiệu dấu Phong tặng chi bảo trên sắc phong thần ở thôn Đoài xã Phù Xá huyện Kim Anh tỉnh Bắc Ninh. Dấu hình vuông kích thước 10,5x10,5cm, viền ngoài để đậm 1,3cm. 4 chữ Triện Phong tặng chi bảo 封贈之寶 xếp theo hình vuông. Dấu đóng đè trên đoạn năm tháng của dòng niên hiệu Minh Mệnh nhị niên thất nguyệt nhị thập nhất nhật 明命二年七月二十一日. Như vậy dấu Phong tặng chi bảo được đóng vào ngày 21 tháng 7 năm Minh Mệnh thứ 2 (1821). (H. 103)



Từ năm Minh Mệnh thứ 9 (1828) trở đi, trên sắc phong không thấy hình dấu Phong tặng chi bảo nữa, thay thế nó là dấu Sắc mệnh chi bảo có kích thước lớn hơn. Xin giới thiệu tiếp hình dấu này trên sắc phong thần cũng ở thôn Đoài xã Phù Xá huyện Kim Anh tỉnh Bắc Ninh. Dấu có hình vuông kích thước 13,5x13,5cm. Viền ngoài để cỡ 1,3cm, 4 chữ Triện Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶 khắc theo hình vuông, dấu đóng ở đoạn năm tháng dòng ghi niên hiệu Tự Đức tam niên thất nguyệt sơ tam nhật 嗣德叁年柒月初叁日. Dấu Sắc mệnh chi bảo này được đóng vào ngày 3 tháng 7 năm Tự Đức thứ 3 (1849). (H.104)

So sánh dấu Sắc mệnh chi bảo thời Lê, chúng tôi thấy dấu thời Lê có kích thước nhỏ hơn, cỡ 11,5x11,5cm, viền ngoài để khuôn nhỏ hơn cỡ 0,8cm, nét chữ cũng nhỏ hơn một chút. Dấu được đóng trên đoạn ngày tháng dòng ghi niên hiệu Chiêu Thống nguyên niên lục nguyệt nhị thập nhị nhật, tức là ngày 22 tháng 6 năm Chiêu Thống thứ 1 (1788)[171]. (H. 105)

Theo tài liệu cung cấp ở Huế chúng tôi được biết ấn Sắc mệnh chi bảo triều Nguyễn nặng tới 395 lượng vàng, một võ quan khỏe mạnh rất vất vả vì sức nặng của ấn khi phụ giúp việc đóng dấu[172]. Những hình dấu Sắc mệnh chi bảo chứng minh điều đó, đây là hình dấu có kích thước lớn nhất trong tất cả dấu ấn thời Nguyễn.




Quy định dùng Sắc mệnh chi bảo trong chính sử còn ghi thêm: “Người quyền thự chức hàm tuy chưa được cấp sắc, nhưng đối với người tầm thường sai phái có khác biệt thì chiếu văn, thăng chức quyền thự cũng chuẩn cho dùng ấn sắc mệnh”[173].

Về dấu Minh Mệnh thần hàn 明命宸翰 được khắc in trên Kim sách chép Đế hệ thi và 20 chữ thuộc bộ nhật (日). Dấu có hình hơi vuông, viền ngoài có 2 dòng, 4 chữ Triện khắc nét ngắn. Dấu có vị trí gần dòng ghi niên hiệu Minh Mệnh thứ 4 (1823). (H. 106)



Ta còn thấy dấu Minh Mệnh thần hàn in dưới dấu Thể thiên hành kiện 體天行键 trong sách in đời Minh Mệnh. (H.107)



Kim Bảo Tỷ nói chung đáng lưu ý là những trường hợp vì kiêng tên húy nên Bảo đã sử dụng rồi lại phải đúc ấn mới thay thế. Như Bảo Trị lịch minh thời chi bảo đời Gia Long đúc bằng bạc dùng cho đến năm Minh Mệnh thứ 9 (1828) đổi đúc lại bằng vàng, khắc lại chữ “Thời” vì kiêng húy cho sử dụng, còn Kim Bảo cũ bằng bạc không được sử dụng nữa.
 
b. Ngọc Tỷ

Ngọc Tỷ là loại ấn được làm bằng ngọc với các mầu loại khác nhau, thường là bạch ngọc và bích ngọc. Ngọc Tỷ thời Nguyễn chủ yếu được làm ở đời Minh Mệnh và Thiệu Trị, vì chất liệu quí hiếm nên số lượng Ngọc Tỷ ít hơn Kim Bảo Tỷ nhiều lần.

Không chỉ những hiện vật mà tư liệu Hán Nôm có đóng dấu Ngọc Tỷ thời Nguyễn cho đến nay còn lại quá ít, kho Châu bản triều Nguyễn phong phú đa dạng như vậy mà cũng không có hình dấu Ngọc Tỷ nào. Do đó việc giới thiệu Ngọc Tỷ chúng tôi chỉ căn cứ trên các bộ chính sử, một số tư liệu có ghi về Kim ngọc Bảo Tỷ và chủ yếu dựa vào cuốn Cơ mật viện túc trình, và bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ.

Ngọc Tỷ được coi là cổ nhất thời Nguyễn mà thực chất nó được làm từ thời vương triều trước là Vạn thọ vô cương 萬壽無彊. Đây là Ngọc Tỷ rất đẹp sắc xanh biếc, mặt dấu khắc 4 chữ Triện Vạn thọ vô cương. Ngọc Tỷ này do một người đào đất đụng phải đem dâng vua, Minh Mệnh cùng triều thần mừng rỡ, lập tức xuống chỉ cho dùng Ngọc Tỷ này đóng trên các ân chiếu cáo văn khánh tiết trong dịp lễ Vạn thọ, đồng thời cũng là nhân dịp lễ mừng thọ của nhà vua.

Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) nhà vua cho chạm khắc ấn ngọc khác bằng ngọc trắng với hình thể núm cầm hình hai con rồng, cao 9 phân vuông 2 tấc 1 phân, dày 1 tấc, mặt dấu khắc 4 chữ Triện Hoàng đế chi tỷ 皇帝之璽 (Ngọc Tỷ của Hoàng đế). Ngọc Tỷ này dùng đóng trên các chiếu văn ban trong dịp cải niên hiệu, đại xá thiên hạ, ban ơn nhân ngày lễ lớn cho toàn dân và ra ơn ban sắc thư cho ấn quan trong kinh ngoài tỉnh.

Năm Minh Mệnh thứ 18 (1837) nhân lại có ngọc trắng, Minh Mệnh sai làm Ngọc Tỷ, núm chạm hình con rồng cuốn, cao 1 tấc 7 phân 1 ly, vuông 2 tấc 3 phân, dày 3 phân. Mặt dấu khắc 4 chữ Triện Hành tại chi tỷ 行在之璽 (Ngọc tỷ của nơi hành tại vua) dùng đóng trên các bài huấn dụ hoặc sắc thư trong thời kỳ tuần thú các địa phương ở hành tại của vua.

Vào năm Minh Mệnh thứ 20 (1839) khi đổi quốc hiệu là “Đại Nam” lại được ngọc biếc quý vua Minh Mệnh xuống dụ cho khắc ấn ngọc, núm chạm hình rồng, cao 2 tấc 4 phân vuông 2 tấc 9 phân, dày 1 tấc 2 phân 3 ly. Mặt dấu khắc 6 chữ Triện Đại Nam thiên tử chi tỷ 大南天子之璽 (Ngọc Tỷ của Thiên tử nước Đại Nam). Ngọc Tỷ này dùng đóng trên các văn kiện ban sắc thư cho người nước ngoài, và khi vua đi tuần thú xem xét các địa phương.

Năm 1841 Thiệu Trị lên ngôi, tuân thủ triệt để quy chế về Kim Ngọc Bảo Tỷ của vua cha. Ngay năm này vào mùa đông tháng 11 nhà vua sai đúc Kim Bảo bằng vàng mười, cao 1 tấc 4 ly, dày 3 phân 1 ly, núm ấn đúc hình rồng cuốn, khuôn dấu hình tròn. Đường kính dấu 1 tấc 4 ly, khắc 4 chữ Triện Thiệu trị thần hàn 紹治宸翰 (Văn từ ở cung vua Thiệu Trị). Kim Bảo này dùng đóng trên các chỉ dụ của vua viết bằng son.

Ba năm sau tức năm 1844, nhân có hai viên ngọc biếu Thiệu Trị cho chạm khắc 2 Ngọc Tỷ đều núm hình 2 con rồng cuốn. Quả lớn cao hai tấc dầy 1 tấc, dấu hình vuông 2 tấc 4 phân bên trong khắc 6 chữ Triện Đại Nam hoàng đế chi tỷ 大南皇帝之璽. Ngọc Tỷ này dùng đóng trên các văn kiện ban sắc thư cho người nước ngoài và khi vua đi tuần thú xem xét các địa phương.

Quả thứ hai nhỏ hơn, cao 1 tấc 6 phân 5 ly, dầy 8 phân, dấu vuông 1 tấc 8 phân 9 ly, khắc 4 chữ Triện Thần hàn chi tỷ 宸翰之璽 y như Kim Bảo Thiệu Trị thần hàn ở trên, những văn bản và chỉ dụ của vua viết bằng chữ son đều dùng Ngọc Tỷ này.

Ngọc Tỷ quí và lớn nhất triều Nguyễn là Tỷ Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ 大南受天永命傳國璽. Sử cũ ghi lại năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) có người dâng vua một viên ngọc cực lớn, nó là sản vật của núi ngọc huyện Hòa Điền vùng đất Quảng. Thiệu Trị mừng rỡ sai quan Hữu tư giũa thành Ngọc Tỷ, một năm sau thì xong. Núm ấn làm theo hình rồng uốn khúc, cao hơn 3 tấc 2 phân, vuông 2 tấc 1 phân, tổng số vuông cao làm thành quy tắc tượng trưng về thiên thành địa bình. Sau đó việc khắc chữ Triện vào Ngọc Tỷ cũng phải theo nghi lễ: chọn ngày tốt (15 tháng 3) vua Thiệu Trị thân làm lễ Đại tự và khắc 9 chữ Triện: Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ[174] lên mặt ấn ngọc. Lời dụ sau của Thiệu Trị năm 1847 cho ta thấy được sự tồn tại của Ngọc Tỷ gắn bó mật thiết với vương triều Nguyễn mang tính chất truyền quốc kế thừa:

“… Nay gặp tiết Vạn thọ, Ngọc Tỷ đã làm xong, kính lấy mồng 1 tháng này sắm sửa lễ nghi ta thân nâng Ngọc Tỷ kính cáo tổ miếu, rồi kính để ở cung Càn thành, cùng ấn truyền quốc đều long trọng, kéo dài cơ nghiệp mở mang khó nhọc, giữ gìn cũng không phải là dễ. Phải nghĩ lo theo, cố công tiếp nối. Phải cẩn thận từ trước để trọn vẹn về sau, nên giữ đầy đặn mà được yên ổn, may ra sự nghiệp lớn lao giữ được mãi mãi, mà truyền cho con cháu muôn đời thì tốt lắm !…”[175].

Ngọc Tỷ này được dùng đóng trên những bản sắc mệnh ban cho các nước như chư hầu, những việc ban bố cho thiên hạ, nó được coi trọng và bảo vệ như Kim Bảo truyền quốc Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo.

Xin giới thiệu hình dấu một Ngọc Tỷ trên văn bản Hán Nôm còn lưu giữ đến nay. Đó là bản phúc thư của vua Tự Đức gửi cho Hoàng đế Pháp vào ngày 28 tháng 11 năm Tự Đức thứ 12 (1859)[176]. Phần đầu trang giấy có 2 chữ “Túc phục” 肅復 nghĩa là kính phúc đáp. Dưới sát chữ “phục” là dấu Ngọc Tỷ hình vuông, bên trong dấu là 6 chữ Triện chia làm 3 hàng Đại Nam hoàng đế chi tỷ 大南皇帝之璽 (Ngọc Tỷ của Hoàng đế Đại Nam). Tiếp bên dấu là các dòng chữ “Đại Nam quốc hoàng đế - Túc phục - Đại phú lãng sa quốc hoàng đế…“ (Hoàng đế nước Đại Nam kính phúc đáp Hoàng đế nước Đại Pháp…). (H.108 a, b)



Ngoài số Ngọc Tỷ quí trình bày ở trên, triều Nguyễn còn làm ra một số Ngọc Tỷ khác dùng ngoài ý nghĩa quốc gia trọng đại, số Ngọc Tỷ này được ghi trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ và Cơ mật viện túc trình:

Ấn ngọc biếc có 3 cái: Phong cương vạn cổ túy ngọc tỷ, Thiên địa tâm, Ký thọ vĩnh xương. Ấn ngọc trắng có 4 cái là: Khâm minh văn tứ, Thể thiên hành kiện, Tuân triết văn minh và Khuê bích lưu quang. 6 ấn ngọc tốt là: Cửu đạo hóa thành, Tân hựu nhật tân, Kỷ vương tứ phương và Vân hán chương thiên[177].

Sách Cơ mật viện túc trình còn bổ sung số lượng Ngọc Tỷ mà chính sử không ghi. Đó là hai Ngọc Tỷ của Hoàng đế Khải Định Khải Định hoàng đế ngọc tỷ 啓定皇帝玉璽, Khải Định hoàng đế chi tỷ 啓定皇帝之璽.

Đời Thiệu Trị có một quả ấn tuy không phải là ấn ngọc ấn vàng, nhưng lại có ý nghĩa về mặt lịch sử, đó là Bảo ấn Hoan phụng ngũ đại đồng đường nhất thống Thiệu Trị chi bảo. Hiện nay Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội còn lưu giữ được nguyên vẹn Bảo ấn ngà này. Ấn có ký hiệu Lsb - 62 - 78 chất liệu bằng ngà, núm trên chạm hình con rồng ở thế đứng, thân rồng cuộn lẫn mây, nửa non phần dưới ấn làm theo khuôn tròn. Dấu hình tròn có đường kính 10,8cm, viền vòng ngoài rộng 5cm khắc hình lưỡng long chầu nhật nguyệt. Vòng trong gồm 12 chữ Triện Hoan phụng ngũ đại đồng đường nhất thống thiệu trị chi bảo 歡奉五大同堂一統紹治之寶. Nhân lễ ngũ đại đồng đường năm 1846-1847, Thiệu Trị cho làm Bảo ấn này để ghi lại niềm vui của nhà vua và cả vương triều. (H. 109 a,b)


Tự Đức lên ngôi cuối năm 1847 vẫn giữ nguyên qui chế về Kim Ngọc Bảo Tỷ của cha ông mình. Ngay thời gian này nhà vua cho đúc ấn vàng Đại Nam hiệp kỷ lịch chi bảo 大南協紀曆之寶[178] có hình thể hai đài chồng, núm hình rồng bò xổm, vuông 2 tấc 6 phân 1 ly, dày 3 phân 2 ly làm theo mẫu ấn dấu làm lịch trước. Kim Bảo này dùng đóng trên các bản lịch, bản chính sóc của vương triều.

Ở ngôi Hoàng đế, Tự Đức còn làm thêm một số Bảo ấn khác cũng được coi là có giá trị bổ sung cho số lượng Kim Ngọc Bảo Tỷ thời Nguyễn, tiêu biểu là 2 Bảo ấn Tự Đức ngự lãm chi bảo và Tự Đức thần hàn.

Chuyến công tác vào Huế năm 1989 chúng tôi được Ban Quản lý di tích Huế cho tham quan chụp ảnh, in rập lại số ấn triện ở các lăng tẩm và di tích cố đô. Tại lăng Tự Đức còn giữ được một số ấn và hộp đựng ấn, đặc biệt là ấn Tự Đức ngự lãm chi bảo vẫn còn bảo quản được nguyên vẹn. Chất liệu ấn bằng ngà quí, núm ấn hình rồng đứng, mặt dấu hình chữ nhật, toàn chiều cao là 6,8cm. Dấu hình chữ nhật cỡ 6,0x7,5cm, viền ngoài khắc họa tiết lưỡng long chầu nguyệt, 6 chữ Triện bên trong: Tự Đức ngự lãm chi bảo 嗣德御覽之寶 xếp theo 3 hàng (Bảo của vua Tự Đức ngự lãm). Bảo ấn này dùng đóng trên các văn bản mà Nội các dâng trình vua trực tiếp xem xét. (H. 110 a,b)

 
Bảo ấn Tự Đức thần hàn, trong cuốn Cơ mật viện túc trình ghi rõ chất liệu Bảo ấn này bằng vàng, núm ấn hình rồng. Mặt dưới phần dấu làm theo khuôn hình vuông, nhưng dấu lại có hình hơi chữ nhật, kích thước 8,0x8,3cm. Viền ngoài không khắc họa tiết, bên trong là 4 chữ Triện Tự Đức thần hàn (Văn từ ở cung vua Tự Đức).

Năm 1996, chúng tôi được ông Nguyễn Hữu Tưởng cung cấp một bản Ngự chế có bút tích và dấu ấn của vua Tự Đức[179]. Tờ ngự chế này có họa tiết hình rồng mây xung quanh, bút tích mực son của vua Tự Đức theo thể Thảo thư. Dòng đầu dưới chữ “Ngự chế” 御制 là hai dấu kiềm như hình vuông đều có cỡ 3x3cm, mỗi dấu có hai chữ khác nhau và kiểu khắc cũng khác nhau. Dấu chữ nét chìm nằm ở trên với hai chữ Triện “Hoàng đại” 皇大. Dấu nét nổi là 2 chữ “Thần tảo” 宸藻.

Dòng cuối ghi niên đại Tự Đức bát niên thất nguyệt sơ thất nhật. Dấu Tự Đức thần hàn 嗣德宸翰 có cỡ 8,0x8,3cm đóng ở đoạn năm tháng của dòng niên đại. Như vậy dấu ấn ở văn bản trên mà chúng tôi đã có rất phù hợp với quy chế dùng Bảo Tỷ của các vua Nguyễn: Kim Bảo có chữ “Thần hàn” dùng đóng trên những bài văn, thơ và chỉ dụ của vua viết bằng son. Dấu Tự Đức thần hàn ở đây được đóng trên một bản “châm” có chữ son của vua Tự Đức viết vào ngày 7 tháng 7 năm Tự Đức thứ 8 (1855). (H. 111)



Cũng tại Khiêm Lăng đến nay vẫn lưu giữ một số ấn ngà có hình thức và kích thước giống nhau. Đó là những Tư chương của Tự Đức, một Nhà thơ - Hoàng đế trọng văn tài, đề cao bút nghiên, ngợi ca chữ tâm, chữ hiếu. Ông đã cho khắc lên mặt ấn những dòng chữ Triện mang chủ đề đó như những lời nhắc nhở về quan niệm sống đối với quan lại và nho sỹ đương thời. Các Tư chương này có khuôn dấu hình tròn đều có đường kính 6,5cm. Họa tiết vòng ngoài khắc hình lưỡng long chầu nhật nguyệt. Vòng trong là hình 4 chữ Triện xếp theo bố cục khác nhau. Dấu Tâm chính bút chính 心正筆正 có bố cục vuông góc (H. 112 a,b). Dấu Hiền ư tâm hảo 賢於心好 lại có bố cục chữ thập. Cho dù nét khắc họa tiết và nội dung văn khắc có khác nhau nhưng tựu chung vẫn là ý tưởng của một tác giả. (H. 113)




Tại Bảo tàng Huế ngày nay, bên cạnh các cổ vật quý là số ít ấn tín bằng đồng, bằng ngà và đá quý. Đáng chú ý là chiếc ấn ngọc hình bầu dục có núm hình núi. Mặt dấu hình bầu dục có kích thước 5,5x6,5cm, họa tiết khắc hình lưỡng long chầu càn khôn. Ở giữa là 4 chữ Triện xếp theo kiểu chữ thập, là 4 chữ Văn hành hóa thành 文行化成. Đây cũng là một Tư chương của một trong các vua Nguyễn với nội dung văn khắc có chủ đề như Tư chương của vua Tự Đức trên. (H. 114)

Năm 1883 Hàm Nghi lên ngôi, biến cố đã xảy ra bằng cuộc chiến giữa người Pháp và triều đình Nguyễn. Năm 1885 kinh đô Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi rời bỏ kinh thành, khi đi mang theo một số Kim ngọc Bảo Tỷ như Ngự tiền chi bảo, Văn lý mật sát v.v… và nhiều báu vật khác. Chiếu cần vương và nhiều văn bản có đóng dấu Ngự Bảo của Hàm Nghi sau này đã bị tiêu hủy hầu hết. Người Pháp và phái chủ hòa đã dựng Đồng Khánh lên ngôi, Đồng Khánh chú trọng ngay đến việc làm Bảo Tỷ để thay thế cho số Bảo ấn bị Tôn Thất Thuyết mang đi, cùng những ấn khác khi đánh nhau bị thất lạc. Sử cũ chép cuối năm Đồng Khánh Ất Đậu (1885): “… Sai làm hai ấn Ngự tiền chi bảo và Văn lý mật sát, cùng là ấn, phòng (Quan phòng), kiềm bài ở các nha có bỏ mất, đều cho làm ra để dùng”[180].



Bảo ấn Ngự tiền chi bảo trước đúc bằng vàng hình bầu dục. Đồng Khánh cho rằng nếu đúc theo khuôn cũ sẽ nhầm với Bảo ấn cũ mà Tôn Thất Thuyết giữ. Nên mới sai làm Bảo Ngự tiền chi bảo, Văn lý mật sát mới theo hình bát giác, còn tất cả ấn khác đều theo khuôn cũ. Vì không đủ điều kiện nên Đồng Khánh cho làm tạm Bảo ấn bằng ngà voi, mấy tháng sau năm Đồng Khánh thứ 1 (1886), khi mọi việc tạm yên Đồng Khánh sai lấy vàng đúc lại hai Bảo ấn Ngự tiền chi bảo và Văn lý mật sát. Núm của hai ấn đều đúc theo hình rồng. Bảo Ngự tiền chi bảo mặt dưới theo hình bát giác dài 8 phân 5 ly rộng 7 phân 5 ly, khắc chữ chân phương như ấn cũ. Kiềm Bảo Văn lý mật sát, mặt dưới hình hơi chữ nhật dài 90 phân rộng 8 phân, khắc chữ Triện như ấn cũ và quy định dùng 2 Bảo ấn trên vẫn theo quy chế xưa không thay đổi.

Tháng 12 năm Đồng Khánh thứ 2 (1887) triều đình Pháp tặng Đồng Khánh và triều đình Nguyễn một ấn ngọc khắc 4 chữ Triện Triều đình lập tín 朝廷立信. Hai nước quy định những công văn, văn kiện có tính chất thông báo với nước Pháp thì nhà Nguyễn đóng ấn này làm tin. Như vậy người Pháp cũng như vua tôi Đồng Khánh vô hình trung phủ nhận quy chế một số Bảo Tỷ của tiền nhân họ. Những Bảo Tỷ như Hoàng đế chi bảo, Đại Nam hoàng đế chi tỷ v.v… (Dùng đóng trên sắc thư và văn kiện gửi đi nước ngoài) chúng tôi cũng không hiểu rằng lúc này còn hay mất, nếu còn thì Đồng Khánh sử dụng chúng như thế nào (?) Vì nhiều lẽ nên ấn ngọc Triều đình lập tín không được nhà Nguyễn xếp vào hàng ngũ Kim ngọc Bảo Tỷ, và sách Cơ mật viện túc trình đời Bảo Đại cũng không ghi.



Giai đoạn tiếp theo từ Thành Thái đến Bảo Đại (1889-1945). Đây là thời kỳ mà thể chế quân chủ Việt Nam không còn chuyên chế nữa, vua và triều đình chỉ là bù nhìn trước sức mạnh của người Pháp. Chữ Hán mất dần vai trò quốc ngữ, quy chế được thay đổi, do đó một số Bảo Tỷ bỏ không dùng hoặc ít được sử dụng hơn. Nhưng các vua Nguyễn như Khải Định vẫn làm thêm những Bảo Tỷ mới như hai Ngọc Tỷ đã nêu là Khải Định hoàng đế ngọc tỷ, Khải Định hoàng đế chi tỷ. Kim Bảo bằng bạc dát vàng nặng 51 lượng là Khải Định thần hàn 啓定宸翰 và Khải Định thần khuê 啓定宸奎 có chất liệu bằng ngà. Tuy nhiên những Bảo Tỷ này chỉ nặng về mặt hình thức, còn giá trị của chúng thì chẳng được là bao. Bảo ấn Khải Định thần khuê vẫn còn giữ được cho đến nay tại Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội. Ấn ngà này có ký hiệu 62-77, núm hình kỳ lân ở thế đứng, khuôn dấu hình bầu dục, chữ mặt dấu khắc theo thể Chân thư. (H. 115 a,b)

Ngoài số Kim ngọc Bảo Tỷ chúng tôi đã trình bầy ở trên nhà Nguyễn còn làm ra nhiều ấn khác với chất liệu bằng cẩm thạch, bằng ngà voi, bằng gỗ đàn hương và bằng thuỷ tinh. Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ đã xếp số lượng loại ấn này vào mục “Đồ thư văn bảo”[181], với tính chất riêng biệt, mượn những lời hay ý đẹp trong cổ thư Trung Quốc v.v… khắc lên mặt ấn, nhất là ông vua thi gia như Tự Đức rất tâm đắc ở việc này.

Ở đây chúng tôi xin giới thiệu thêm việc có ấn tất phải có hòm đựng ấn, khay đựng ấn như đầu đời Minh Mệnh, hòm đựng Bảo Tỷ của vua được làm bằng gỗ hoa lê chạm rồng mây, 4 góc bịt vàng, khóa cũng bằng vàng, hộp đựng son bằng bạc. Hiện nay tại Bảo tàng và một số lăng ở Huế còn giữ số ít hòm và khay đựng ấn được trưng bầy cùng hiện vật ấn triện. (H. 116 a1,a2,b)


 
2. Quy cách sử dụng các Kim ngọc Bảo Tỷ

Việc đúc Kim Bảo Tỷ phải được tiến hành theo đúng chỉ dụ của vua ban xuống. Sử cũ ghi: “Phàm khi có đúc ấn bằng vàng, thì trước đó bộ Lễ tư cho Khâm thiên giám chọn ngày tốt, phủ Thừa Thiên sắm sửa lễ vật. Đến ngày đã định Hữu tư kính cáo với thần tư công. Rồi Bộ hội đồng với kho Vũ khố, phủ Nội vụ kính cẩn giám thị, theo như quy thức chế tạo, khi đúc xong dâng lên”[182].

Việc làm Ngọc Tỷ, nhất là khi được ngọc quí vua chuẩn định làm ấn ngọc thì phải qua nhiều nghi lễ, như quá trình làm Ngọc Tỷ Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh tuyền quốc tỷ chúng tôi đã trình bày.

Về quy cách sử dụng các Kim ngọc Bảo Tỷ, ngay từ thời Gia Long đã có những quy định dùng Bảo Tỷ, những quy chế này được hoàn thiện trong thời Nguyễn sơ và tồn tại đến năm 1945.

Kim Ngọc Bảo Tỷ đều được cất giữ ở điện Trung Hòa, mỗi khi Nội các dùng đến Bảo Tỷ nào thì Bảo Tỷ ấy do các cung giám phụng đưa ra. Những Bảo Tỷ thường dùng như Sắc mệnh chi bảo, Ngự tiền chi bảo, Văn lý mật sát mỗi khi được dùng thì các quan Nội các phải họp nhất trí với Bộ quan đương trực đặt một cái án giữa tả vu của điện Cần Chánh để “hầu Bảo” (tức đóng dấu). Cung giám bưng hòm ấn từ cửa giữa điện Cần Chánh đi ra kính cẩn đặt lên bàn ở giữa gian tả nhất, quan văn võ đại thần đương trực mỗi ban một người, một viên Sung biện Nội các, một viên thuộc Các đều mặc phẩm phục hội đồng kính cẩn “hầu Bảo”. Bảo ấn Ngự tiền chi bảo đóng trên mặt chữ “Khâm thử”. Những tập sớ tấu có chữ châu phê thì đóng ở chỗ giấy bỏ không cuối tập. Những sách tâu của các thành, doanh, trấn (sau này là tỉnh) cùng nha môn các nơi ấy - Nếu là bản Giáp 甲 mà có châu phê thì đóng Ngự tiền chi bảo ở dòng ghi niên hiệu. Bản Ất 乙 là phụ thì đóng dấu triện, Quan phòng, Đồ ký của nha môn trên chỗ tháng “mỗ” ở dòng ghi niên hiệu.

Tất cả các sách tâu ở kinh, các sớ tâu ở trong kinh ngoài tỉnh nếu có chỗ tẩy xóa, bổ sung và chỗ giáp trang thì đóng Kiềm Bảo Văn lý mật sát để kiểm giáp.

Những khi có công việc quan trọng cần phải dùng đến những Bảo Tỷ đặc biệt như Hoàng đế chi bảo, Hoàng đế chi tỷ là những Bảo Tỷ ít dùng hơn các Kim Bảo trên thì phải theo nghi thức riêng. Đầu tiên cơ quan hữu trách làm phiến tấu trình Hoàng đế, những phiến tấu, phiếu nghĩ lấy hạn trong 3 ngày.

Bộ Lại trong khi chờ chiếu văn, thì trước một ngày phải làm phiếu xin “hầu Bảo”, nội dung phiếu trình bầy sơ lược về số mục và đem bản thảo các đạo chiếu sắc các năm cần dùng giao cho Nội các sát hạch trước đề phòng sai sót nhầm lẫn. Ngày “hầu Bảo” phải đặt hương án ở gian thứ nhất bên tả điện Cần Chánh. Quan Nội các kính cẩn bưng ấn báu để lên án. Hai bên có hai viên quản vệ đầu đội mũ đầu hổ, áo thụng thêu hình mãng xà, cầm gươm tuốt trần đứng chầu. Quan Nội các, quan Thị vệ, Khoa đạo cùng trực thần mặc phẩm phục màu xanh bước vào chiếu mở tráp… Quan Nội các niêm phong, rồi Nội thần nhận lấy kính cẩn bưng cất vào chỗ cũ. Mỗi lần dùng ấn vào công việc gì hội đồng phải lập biên bản ghi vào sổ, hòm chìa khóa phải dâng vào Đại nội trước khi ra về.

Việc “hầu Bảo” và kiểm duyệt “hầu Bảo”[183] không được hoàn thiện thì tất cả các quan ở hệ thống Giám sát, Bộ quan đương trực và Nội các đều bị khép tội.
 
3. Lệ phong khóa Bảo Tỷ và lễ Phất thức

Phong khóa Báo Tỷ tức là niêm phong khóa kín hòm ấn Bảo Tỷ. Khi các Kim Ngọc Bảo Tỷ dùng xong thì các Trực thần dùng hai mảnh giấy có chữ viết của vua dán niêm phong vào mặt trước rồi lấy the vàng che mặt chữ. Tiếp theo là dán hai mảnh giấy niêm phong vào hai bên có chữ ghi của Bộ quan, trực thần. Rồi đóng ấn Quan phòng của Cơ mật đại thần vào bìa khóa hòm niêm phong làm bằng chứng. Cơ mật viện hội đồng cùng quan Thị vệ dán niêm phong và chịu trách nhiệm giữ chìa khóa và mảnh giấy vua viết niêm phong. Biên bản ngày hôm đó ghi rõ có bao nhiêu loại hình giấy tờ và số lượng giấy tờ được đóng ấn Bảo Tỷ. Cuối tờ biên bản có chữ ký của các thành viên trong hội đồng cùng dấu Quan phòng các cấp. Thời Gia Long và đầu Minh Mệnh, Tam nội viện và sau là Thượng Bảo tào coi giữ chìa khóa hòm Bảo Tỷ, đến đời Minh Mệnh thứ 11 (1830) chuyển cho Cơ mật đại thần giữ.

Với Kim ngọc Bảo Tỷ còn một nghi thức quan trọng nữa mà chúng tôi được biết qua chuyến công tác tại Huế năm 1989: Lễ “Phất thức”[184] 拂拭. Nghi lễ này bắt đầu có từ năm 1837 và tồn tại cho đến năm 1945 khi Bảo Đạt thoái vị. Lễ “Phất thức” gắn liền với lệ phong ấn, nhưng ở lễ “Phất thức” mỗi năm chỉ diễn ra một lần.

Cứ vào hạ tuần tháng Chạp hàng năm lễ “Phất thức” được cử hành long trọng tại điện Cần Chánh. Trước ngày hành lễ, Nội các dâng trình nhà vua bản danh sách các Hoàng tử, văn võ đại thần trật nhất phẩm cùng các trưởng quan ở Nội các và Cơ mật viện. Trên cơ sở đó, nhà vua chọn lựa những người được dự lễ. Đúng ngày lễ, Trực quan đặt hương án giữa điện Cần Chánh. Các Hoàng tử cùng các quan văn võ trong danh sách đều mặc lễ phục đứng dàn hàng. Khi nội thần bưng các hòm Bảo Tỷ ra chia đặt trên các bàn ở gian giữa điện Cần Chánh, Hoàng tử và các quan bước vào kiểm thị rồi dùng lụa đỏ để lau và dùng nước hương thang chùi các ấn. Riêng hòm ấn truyền quốc Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo và Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ thì chỉ được kiểm tra niêm phong và khóa mà thôi, không được mở ra. Khi việc lau chùi đã xong các hòm ấy lại được niêm phong cẩn thận. Hòm truyền quốc cũng được dán niêm phong mới có chữ của vua, xong xuôi nội thần lại bưng Kim Ngọc Bảo Tỷ cất vào chỗ cũ. Ngày làm lễ “Phất thức” trên cũng là ngày giờ đầu năm sau triều đình lựa ngày tốt làm lễ khai ấn rồi mới được dùng lại.
 
4. Vài nét về Bảo ấn của Thái hoàng thái hậu, Hoàng thái hậu và một số cung trong kinh thành Huế

Nói đến Kim ngọc Bảo Tỷ của Hoàng đế thời Nguyễn cũng cần phải nói tới các Bảo ấn của Thái hoàng thái hậu, Hoàng thái hậu, Quốc mẫu, Thái phi và một số cung trong kinh thành Huế.

Định lệ nhà Nguyễn có lễ tấn tôn Hoàng thái hậu dâng sách vàng, ấn vàng. Bảo làm bằng vàng mười tuổi, vuông 2 tấc 4 phân, dầy 4 phân, núm rồng phủ phục, cao 1 tấc 5 phân. Mặt dấu khắc 4 chữ Triện Hoàng thái hậu bảo 皇太后寶 (Bảo ấn của Hoàng thái hậu).

Nhà Nguyễn cũng có định lệ sách lập Hoàng hậu ban sách vàng ấn vàng. Nhưng trên thực tế các vua Nguyễn từ Minh Mệnh trở đi đã bỏ định lệ này. Cuốn Cơ mật viện túc trình đã cung cấp cho chúng tôi tư liệu chính xác về loại Bảo ấn này. Vì điều kiện khuôn khổ có hạn, chúng tôi xin liệt kê số lượng tên gọi một số Bảo ấn nói trên để tiện tham khảo.

* Hoàng thái hậu bảo 皇太后寶 - bằng vàng.

* Hoàng thái hậu chi bảo 皇太后之寶 - bằng bạc.

* Thái hậu chi bảo 太后之寶 - bằng vàng.

* Quốc mẫu chi bảo 國母之寶 - bằng bạc.

* Chánh hậu chi bảo 正后之寶 - bằng vàng.

* Hoàng thái phi bảo 皇太妃寶 - bằng bạc.

* Nhân tuyên từ khánh Hoàng thái hậu chi bảo 仁宣慈慶皇太后之寶 - bằng vàng.

* Nhân tuyên từ khánh Thái hoàng thái hậu chi bảo 仁宣慈慶太皇太后之寶 - bằng vàng.

* Gia Thọ cung Hoàng thái hậu chi bảo 嘉壽宮皇太后之寶 - bằng vàng.

* Gia Thọ cung Từ DũThái hoàng thái hậu chi bảo 嘉壽宮慈裕太皇太后之寶 - bằng vàng.

* Gia Thọ cung Từ Dũ bác huệ Thái hoàng thái hậu chi bảo 嘉壽宮慈裕博惠太皇太后之寶 - bằng vàng.

* Gia Thọ cung Từ Dũ bác huệ khang thọ Thái hoàng thái hậu chi bảo 嘉壽宮慈裕博惠康壽太皇太后之寶 - bằng vàng.

* Trang ý Hoàng thái hậu kim bảo 莊懿皇太后金寶 - bằng vàng.

* Khôn nghi xương đức Thái hoàng thái hậu chi bảo 坤儀昌德太皇太后之寶 - mạ vàng.

* Trang ý thuận hiếu Thái hoàng thái hậu kim bảo 莊懿順孝太皇太后金寶 - bằng vàng.

* Diên Thọ cung bảo 延壽宮寶 - bằng vàng.

* Trường Sinh cung bảo 長生宮寶 - bằng vàng.

* Khánh Ninh cung bảo 慶寧宮寶 - bằng ngà.

Xin được giới thiệu Bảo ấn của một Thái hoàng thái hậu cuối thời Nguyễn. Quả ấn này hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội. Ấn có chất liệu bằng đồng, mạ vàng ta. Núm ấn được đúc hình rồng thế phủ phục, thân bằng đầu. Đế ấn làm theo khuôn hình vuông kích thước 10,5x10,5cm. Mặt trên núm ấn không khắc chữ Hán ghi niên đại, trọng lượng hay nội dung ấn. Mặt dấu hình vuông, kích thước bằng mặt đế ấn, viền ngoài để trơn 1cm không khắc họa tiết. Bên trong là 10 chữ Triện vuông vức chia làm 3 hàng, 2 chữ hàng giữa dài gấp đôi 8 chữ hàng bên. Đó là 10 chữ Khôn nghi xương đức thái hoàng thái hậu chi bảo 坤儀昌德太皇太后之寶.




Qua nghiên cứu chúng tôi khẳng định Bảo ấn này được tạo tác khoảng đầu năm 1933 và chủ nhân của nó là Thái hoàng thái hậu Dương Thị Thục. Bà sinh năm Mậu Thìn 1868 là con gái Phú Lộc Quận công là mẹ vua Khải Định và là bà nội vua Bảo Đại. Năm 1916 bà được phong Khôn nghi Hoàng thái hậu. Ngày 25 tháng 2 năm Quý Dậu (1933) vua Bảo Đại tấn tôn phong bà làm Khôn nghi xương đức Thái hoàng thái hậu và ban cho Kim sách Bảo ấn này. Bà mất ngày 2 tháng 8 năm Giáp Thân (1944) táng ở Tư Thông lăng và được dâng tôn thụy là Hựu thiên tương thánh Khôn nghi xương đức khoan hậu từ hòa thọ khang trang túc Thuần hoàng hậu. (H. 117 a,b)

Cuối phần mục này chúng tôi sẽ nói về Bảo ấn của một cung điện trong kinh thành Huế. Đó là cung Khánh Ninh mà hiện vật ấn chương còn lưu giữ tại Bảo tàng Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh[185]. Ấn có chất liệu bằng ngà, núm cầm kiểu hình Tam sơn, đế hình tròn đường kính 6,5cm. Mặt dấu hình tròn đường kính bằng mặt đế ấn, viền ngoài để rộng cỡ 1,4cm khắc hình lưỡng long chầu nhật nguyệt. Bốn chữ Triện trong dấu khắc theo bố cục chữ thập là 4 chữ Khánh Ninh cung bảo 慶寧宮寶 (Bảo ấn cung Khánh Ninh).

Qua tư liệu Huế từ nhà nghiên cứu Phan Thuận An thì cung Khánh Ninh được xây dựng từ năm 1825 triều Minh Mệnh. Đó là một hệ thống cung điện được làm khá quy mô ở bờ bắc Ngự Hà trong kinh thành Huế, phạm vi ngoài Đại nội, tổng cộng khoảng hơn 100 công trình lớn nhỏ. Cung Khánh Ninh là cung vua Minh Mệnh trực tiếp chuẩn bị cho lễ Diễn canh hàng năm, và là nơi ông thường ra nghỉ ngơi thư giãn. Ở gần cung Khánh Ninh, Minh Mệnh còn cho làm một chiếc cầu và đặt tên là Khánh Ninh kiều. Sau khi ông qua đời bài vị của ông được đưa vào thờ ở cung Khánh Ninh ngoài những nơi thờ khác như lăng Minh Mạng, Thế miếu và điện Phụng Thiên. (H. 118 a,b,c)
 
II. Ấn chương ở phủ Tôn nhân thời Nguyễn

1. Đặc điểm bộ ấn kiềm ở phủ Tôn nhân thời Nguyễn


Phủ Tôn nhân 宗人府 là cơ quan quản lý hoàng tộc tồn tại từ các vương triều trước nhà Nguyễn. Khi Gia Long lên ngôi chính thức lập ra phủ Tôn nhân triều Nguyễn.

Người đứng đầu phủ Tôn nhân do nhà vua trực tiếp đặt cử, Tôn nhân lệnh là chức cao nhất, được coi trọng hơn cả đại thần trật nhất phẩm, dưới là chức Tả và Hữu Tôn nhân hàm chánh nhị phẩm, tiếp đến Tả và Hữu Tôn khanh lấy một văn một võ hàm tam phẩm trong tôn thất. Dưới nữa là chức Tả, Hữu Tá lý đều lấy chức Lang trung ở bộ Lại và bộ Lễ là người Tôn thất kiêm giữ, các chức Tư giáo, Tộc trưởng, Thừa biện ty mỗi hệ một người giúp việc ở phủ.

Thời vua Minh Mệnh, Hoàng tử Nguyễn Miên Tông (Tức vua Thiệu Trị sau này) được vua cha cho đứng đầu quản lãnh phủ Tôn nhân.

Chức năng của phủ Tôn nhân là phân biệt trật tự hàng chiêu mục, ghi chép họ hàng ai gần ai xa, nuôi nấng chu cấp trẻ em mồ côi, thưởng cấp cưới xin ma chay v.v… trong họ nhà vua. Những dịp lễ, tết hàng năm Tôn nhân phủ phải thực hiện theo đúng quy định đã ban hành về nghi thức, nhân sự, trang phục v.v… việc phụng mệnh biên soạn Ngọc diệp tôn phả và mọi nghi thức khác trong Hoàng tộc đều do phủ Tôn nhân đảm nhiệm.

Chủ trương “Thân thân” của các vua Nguyễn thể hiện rõ ở sự ưu đãi đặc biệt trong Hoàng tộc. Hoàng tử, Hoàng thân và người trong Hoàng tộc đều hưởng chế độ riêng biệt, từ việc đặt tên, phong cấp, phong tước, ban lộc nhất nhất đều được Hoàng đế quan tâm và phủ Tôn nhân thực hiện. Hầu hết người trong Hoàng tộc đều nắm những trọng trách chủ yếu ở lục Bộ, lục Tự, chư nha, hệ thống giám sát, ở chính quyền cấp tỉnh và hệ thống kế cận nhà vua.

Ấn chương ở phủ Tôn nhân triều Nguyễn có những nét đặc thù riêng không giống các cơ quan khác, phủ Tôn nhân được ban cấp một bộ ấn kiềm dùng cho cả Hoàng tộc. Khi làm tờ khải, biểu lên Hoàng đế, hoặc công việc với các cơ quan ngang hàng hoặc công văn truyền xuống cấp dưới, tức là tất cả các việc công hay những việc trong Hoàng tộc, phủ Tôn nhân đều sử dụng bộ ấn kiềm Tôn nhân phủ ấn. Điểm đặc biệt là các Hoàng tử, Hoàng thân, chư công trong phủ Tôn nhân khi được phong tước, tập tước mỗi người đều được ban ấn riêng cùng cặp và sách phong. Hoặc cá biệt Hoàng tử, Hoàng thân được ban ấn riêng ngoài lệ chung,những ấn tín này đại diện cho mỗi phủ đệ riêng của Hoàng tử, Hoàng thân, chư công trong văn bản giấy tờ ở tất cả các công việc riêng và chung.

Ngay từ thời Gia Long phủ Tôn nhân đã được ban cấp bộ ấn kiềm Tôn nhân phủ ấn, các đời vua Nguyễn sau đó còn làm tiếp những ấn gần như ấn cũ để lưu giữ, hoặc ban thêm cho phủ Tôn nhân ấn mới loại nhỏ để dùng vào công việc khác. Sử cũ ghi: “Năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) dụ chuẩn: Lấy giờ tốt đúc chế một quả ấn bằng bạc cho Tôn nhân phủ 2 tầng, núm chạm con kỳ lân, vuông 2 tấc 1 phân, dày 3 phân 6 ly. Một dấu kiềm cũng bằng bạc… khi đúc xong vẫn giao cho Nội các cất giữ, đợi sau ban cấp sử dụng”[186]. Hay đời Thiệu Trị năm đầu vua cũng sai nha Hữu tư theo kiểu mẫu làm cho phủ Tôn nhân một ấn và kiềm nhỏ bằng ngà để khi đi theo hộ giá tuần hạnh vài ba ngày trở lên, viên quan của phủ Tôn nhân mang theo để dùng, khi về lại phong khóa cất một nơi[187].

Trên các văn bản chữ Hán trong Châu bản triều Nguyễn chúng tôi thấy xuất hiện rất nhiều hình dấu lớn Tôn nhân phủ ấn và kiềm nhỏ Tôn nhân trong các tập sách khác nhau, qua nhiều đời vua thời Nguyễn khác nhau. Chúng tôi thấy những con dấu này có sự thay đổi, không phải thay đổi về ngoại hình, hoa văn, … mà điều đặc biệt ở đây là sự thay đổi hoàn toàn chữ “Tôn” trong dấu: Hai chữ “Tôn” khác nhau đồng âm những khác tự dạng. Trong Châu bản triều Nguyễn, tính từ đời Gia Long đến trước đời Đồng Khánh, dấu của phủ Tôn nhân có hình vuông, mặt dấu có kích thước 9x9cm, viền vòng ngoài để cỡ 0,7cm. 4 chữ Triện bên trong xếp vuông góc cỡ 3x3cm, đó là 4 chữ Tôn nhân phủ ấn 宗人府印 (ấn của phủ Tôn nhân). (H. 119)



Hình dấu Kiềm của phủ Tôn nhân cùng đi liền với dấu lớn trên. Dấu kiềm hình vuông, kích thước 2x2cm, bên trong khắc 2 chữ Triện vuông theo hình chữ nhật để cân đối với bố cục dấu hình vuông, đó là hai chữ Tôn nhân 宗人[188]. (H. 120)



Ở quyển 2 - Đồng Khánh trong Châu bản triều Nguyễn lại thấy xuất hiện dấu Tôn nhân phủ ấn mới. Ở con dấu này bố cục chữ không thay đổi, nhưng chữ “Tôn” 宗 đã được thay thế bằng chữ “Tôn” 尊. Bốn chữ trong dấu đời Đồng Khánh là Tôn nhân phủ ấn 尊人府印. (H. 121)



Ở dấu kiềm cũng có thay đổi, Kiềm dấu đời Đồng Khánh có kích thước nhỏ hơn dấu đời trước, và điều khác biệt là chữ “Tôn” 宗 trong dấu cũng được thay bằng chữ “Tôn” 尊. Hai chữ trong dấu kiềm đời Đồng Khánh là Tôn nhân 尊人. (H. 122)



Như vậy chúng ta thấy ý nghĩa 2 chữ “Tôn” khác hẳn nhau: Chữ “Tôn” 宗 nghĩa là tông tộc; còn chữ “Tôn” 尊 nghĩa là tôn kính. Sức khác nhau rõ rệt của hai hình dấu này, phải chăng là sự khác biệt về quan điểm, lập trường chính trị của vua Đồng Khánh và những ông vua Nguyễn trước đó, trước biến cố của xã hội Việt Nam đương thời, khi người Pháp đã thôn tính gần xong nước Đại Nam của các vua Nguyễn? Năm 1895 khi ra đi vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết có mang theo một số ấn triện quí như Ngự tiền chi bảo v.v… Do vậy dưới sức ép của người Pháp, khi tổ chức lại chính quyền, thay đổi ít nhiều thang quan chế, Đồng Khánh có làm lại và thay đổi một số ấn triện. Cho nên không chỉ một ấn Tôn nhân phủ ấn có thay đổi mà một số ấn triện khác cũng có thay đổi theo.

Lật giở những trang chữ Hán đời Thành Thái trong Châu bản triều Nguyễn, chúng tôi lại thấy xuất hiện một loạt dấu lớn Tôn nhân phủ ấn và Kiềm dấu Tôn nhân. Những dấu này có kích thước 7,2x7,2cm, còn tự dạng thì tất cả giống y như dấu Tôn nhân phủ ấn và Kiềm dấu Tôn nhân ở các đời vua trước đời Đồng Khánh. Như vậy vua Thành Thái đã dùng chữ “Tôn” 宗 của tiên đế mình và bỏ chữ “Tôn” 尊 của đời Đồng Khánh trong dấu Tôn nhân phủ ấn và Kiềm dấu Tôn nhân[189]. Như chúng ta đã biết ấn triện có gắn bó mật thiết với tổ chúc hành chính quan chế triều Nguyễn, do vậy suy ngược lại vấn đề thì việc tổ chức, quan chế đời Thành Thái cũng có ít nhiều thay đồi (?) Ở đây chúng tôi chỉ xin cung cấp một số cứ liệu và những nhận định chung như vậy, còn việc đánh giá, khẳng định v.v… xin dành cho các nhà viết sử.
 
2. Lệ phong ấn cho Hoàng thái tử, Hoàng tử, Hoàng tôn và Hoàng thân ở phủ Tôn nhân triều Nguyễn

Ngay từ thời Gia Long đã có lệ dùng sách ấn vàng tấn phong tước cho các Hoàng tử, Hoàng tôn, Hoàng thân tước công trở lên. Lễ sách lập Hoàng thái tử diễn ra với nghi lễ hết sức long trọng. Hoàng thái tử cùng đại thần văn võ, Hoàng tử, Hoàng thân phủ Tôn nhân quỳ lạy nghe chiếu, rồi Hoàng thái tử làm lễ nhận sách vàng, ấn vàng và ngồi vào vị trí của người kế vị sau này. Sử cũ ghi lại: “Gia Long năm thứ 15 (1816) có chỉ: Chuẩn cho làm sách tấn phong cho Hoàng thái tử thì dùng vàng 5 tờ… ấn làm bằng vàng, núm đúc hình con rồng ngồi, vuông 2 tấc 4 phân dày 3 phân 2 ly”[190].

Ngoài lễ tấn phong sách vàng ấn vàng cho Hoàng thái tử theo lệ chung, còn có trường hợp Hoàng thái tử được ban ấn tín riêng. Đó là việc cuối đời Gia Long không được thực hiện việc truyền ngôi kế thừa theo dòng trưởng, lẽ ra Gia Long phải truyền ngôi cho con trai Hoàng tử Cảnh là Hoàng Tôn Đán, nhưng với một nhãn quan chính trị đúng đắn, ông đã đặt giang sơn vào tay Nguyễn Phúc Đảm là người con thứ (tức vua Minh Mệnh sau này), bất chấp sự bất đồng của một số đại thần. Việc vua Gia Long ban thêm ấn Hoàng thái tử thủ tín cho Hoàng thái tử Phúc Đảm cũng nằm trong định hướng này. Chính sử ghi (Gia Long) năm thứ 19 (1820) có chỉ: “Chuẩn cho đúc ấn Thủ tín nhỏ và vuông bằng bạc cho Hoàng thái tử (vuông 6 phân 7 ly, dày 3 phân) núm đúc con rồng ngồi, trong khắc 5 chữ Triện Hoàng thái tứ thủ tín”[191]. Như vậy trước khi lên ngôi, Minh Mệnh đã được dùng ấn riêng có giá trị rất cao về mặt pháp lệnh, hơn hẳn những ấn được phong cùng với sách vàng.



Trên những văn bản chữ Hán - Kho Châu bản triều Nguyễn còn in lại nhiều ấn Hoàng thái tử thủ tín. Dấu hình vuông có kích thước 3,2x3,2cm, bên trong khắc 5 chữ Triện Hoàng thái tử thủ tín 皇太子守信 chữ “Tử” 子 dài gấp đôi các chữ khác để cân đối với bố cục dấu hình vuông. Xem xét những văn bản có đóng dấu Hoàng thái tử thủ tín thì đều là những văn bản quan trọng, điều này chứng tỏ cho luận cứ chúng tôi nêu trên[192]. (H. 123)

Lễ phong sách ấn cho Hoàng tử, Hoàng tôn cũng diễn ra nghi thức gần bằng lễ tấn phong Hoàng thái tử. Sách sử ghi: “… Hoàng tử, Hoàng tôn được phong tước công… ban ấn bằng vàng mạ, núm ấn đúc hình rồng, vuông 2 tấc 3 phân 4 ly, dày 2 phân 7 ly. Hoàng tử, Hoàng tôn được ban sách mạ vàng mười, ấn mạ vàng mười… núm ấn hình rồng của mỗi chiếc ấn vuông 2 tấc 3 phân 4 ly dày 2 phân 4 ly”[193].

Đối với những Hoàng tử, Hoàng tôn tuổi còn nhỏ quá thì sách vàng vẫn ban phong, duy có ấn thì chưa trao cho vội, sợ rằng trẻ nhỏ chưa phân biệt rõ mọi việc, dùng ấn tín có sự lầm lỡ, đợi đến khi nào Hoàng tử, Hoàng tôn đó lớn thì phủ Tôn nhân mới theo lệnh vua cấp cho để dùng.

Đối với Hoàng thân công, việc phong sách ấn cũng được Tôn nhân phủ thực hiện theo đúng quy chế, nghi thức lễ phong cũng giống như lễ phong sách ấn cho Hoàng tử. Ngay từ năm Gia Long thứ 16 (1817) đã quy định lễ sách phong cho Hoàng thân công đều làm sách ấn nền bạc mạ vàng, nhưng trên thực tế các Hoàng thân có lúc được ban ấn bằng gỗ thơm chứ không phải là vàng mạ cả. Như trường hợp Thiệu Hóa Quận vương năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) được ban sách bạc mạ vàng, 1 ấn bằng gỗ thơm, núm ấn hình rồng vuông 2 tấc 3 phân 4 ly, dày 2 phân 7 ly. Con trai của Thiệu Hóa Quận vương lại được ban ấn bạc, sách chép rằng “Năm Minh Mệnh thứ 16 có nghị chuẩn cho Thiệu Khê là con trưởng của Thiệu Hóa Quận vương đã quá cố được tập phong làm Thiệu Hóa Quận công… 1 quả ấn bạc núm hình kỳ lân, vuông 2 tấc 7 ly, dày 2 phân 7 ly”[194].

Các Hoàng thân sau khi được phong sách ấn, nếu làm tờ khải lên Hoàng đế thì xưng là thần và ấn dấu được phong quy định phải đóng ở dưới chữ niên hiệu, nếu có công văn truyền xuống dưới thì dùng chữ “giáo” ở trên chữ “truyền sai” còn ấn dấu chỉ được đóng ở dưới chữ hoàng hiệu thôi.

Ấn chương của Hoàng tử, Hoàng thân công tuy ở mỗi phủ đệ riêng biệt nhưng vẫn phải tuân thủ theo quy chế của phủ Tôn nhân cũng như Hoàng đế ban hành: về việc cất giữ, niêm phong hòm ấn, chìa khóa hòm ấn phải chính người được phong cất giữ. Mọi công việc ở phủ nào thì đóng dấu Hoàng tử, vương công phủ ấy, những quan hệ giữa các Hoàng tử, Hoàng thân đối với chư nha, lục Bộ v.v… trong vấn đề văn bản giấy tờ, đóng dấu cũng phải thực hiện đúng như quy định.

Năm 1990 trong đợt công tác ở các tỉnh phía Nam chúng tôi đã in chụp được một số ấn triện tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh. Trong số ấn triện đó có một quả ấn bằng đồng lớn của một vương công thuộc Hoàng tộc triều Nguyễn, xin được giới thiệu quả ấn đồng đó ở cuối đề mục này.

Ấn có ký hiệu BTLS 1262 chất liệu bằng đồng, hình thể quả ấn đúc hình con kỳ lân ở thể đứng hơi khụy chân sau, đầu và thân kỳ lân tròn có chạm hình xoáy dáng nét rất đơn giản hơn nhiều so với Bảo Tỷ hình rồng triều Nguyễn. Trên thành bệ con lân phía bên trái khắc 5 chữ Hán Trọng tam cân ngũ lượng, phía bên phải khắc 6 chữ Hán Hoài Đức Quận vương chi ấn. Mặt ấn không thấy khắc dòng ghi niên đại. Mặt dấu của ấn hình vuông có kích thước 7,8x7,8cm, viền ngoài dấu để nét đậm cỡ 1,3cm. Bên trong khắc 6 chữ Triện xếp theo 3 hàng, mỗi hàng 2 chữ, đó là sáu chữ Hoài Đức quận vương chi ấn 懷德郡王之印. Đây là ấn dấu của Hoài Đức Quận vương. (H. 124 a,b)

Việc xác định niên đại quả ấn là cần thiết vì mặt trên ấn chỉ ghi trọng lượng nặng 3 cân 3 lạng mà không ghi năm chế tạo ấn, đồng thời chúng tôi cũng muốn xác định một cách chính xác về chủ sở hữu của quả ấn này.

Từ thời Gia Long đã có việc phong tước lấy địa đanh để đặt tên như thân vương thì lấy tên tỉnh đặt, quận vương, thân công, quận công thì lấy tên phủ đặt; huyện công, huyện hầu thì lấy tên huyện đặt; hương công, hương hầu, đình hầu thì lấy tên xã đặt. Hoài Đức Quận vương là vị Quận vương thời Nguyễn được phong tước lấy tên phủ Hoài Đức để đặt[195].



Qua phả hệ của các vua Nguyễn, chúng tôi được biết Hoài Đức Quận công Miên Lâm là con thứ 57 của Thánh tổ Nhân Hoàng đế, sinh năm Minh Mệnh thứ 12 (1833), từ nhỏ đã thông minh hiếu học, giỏi kinh sử. Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) được tấn phong làm Hoài Đức Quận công, năm Kiến Phúc thứ 1 (1884) được thăng chức Tôn nhân phủ Tả Tôn nhân, sung Phụ chính thân thần. Nước loạn ông một lòng trung quân ái quốc được Hàm Nghi phong là Lạc Quốc công, sau đổi phong là Hoài Đức công. Đời Đồng Khánh ông giữ chức Tôn nhân phủ Hữu Tôn chính. Đời Thành Thái thứ 1 (1889) sung làm Phụ chính thân thần, đến mùa thu năm 1894 ông được tấn phong làm Hoài Đức Quận vương. Năm Thành Thái thứ 9 (1897) ông qua đời thọ 67 tuổi thụy là Đoan Cung, có đền thờ ở phường thứ 6 thuộc huyện Hương Trà, Huế. Ông tính trời trung hậu, khiêm tốn, giữ lễ độ, có công dạy con em trong Hoàng tộc được các triều vua hậu đãi. Ông vừa là một đại thần vừa là người thân tín của mấy đời vua Nguyễn lúc đó. Như vậy quả ấn đồng Hoài Đức Quận vương chi ấn trên đã được xác định rõ ràng. Chủ nhân của nó là Hoài Đức Quận vương Miên Lâm, và ấn đã được làm ra vào mùa thu năm Thành Thái thứ 6 (1894) thời gian mà Miên Lâm được tấn phong làm Hoài Đức Quận vương.
 
CHƯƠNG II

ẤN CHUƠNG Ở MỘT SỐ CƠ QUAN TRUNG UƠNG VÀ TRONG BINH CHẾ QUÂN ĐỘI THỜI NGUYỄN


I. Ấn chương ở một số cơ quan trung ương thời Nguyễn

Tổ chức hành chính trung ương thời Nguyễn gồm các hệ thống lục Bộ, lục Tự, chư nha, Giám sát trong đó có rất nhiều các cơ quan khác nhau.

Ở đây chúng tôi chỉ trình bày những cơ quan có liên hệ mật thiết đến ấn triện như lục Bộ, Nội các; vì điều kiện không cho phép nên việc trình bày ở đây chỉ mang tính chất giới thiệu để công trình đảm bảo được tính hệ thống.

1. Nội các với chức năng gắn liền với Kim ngọc Bảo Tỷ và các loại hình ấn chương khác

Tiền thân của Nội các là Tam nội viện tức Văn phòng của Hoàng đế được lập từ năm Gia Long thứ 1 (1802). Chức Thượng bảo khanh được đặt ra là nơi coi giữ các Bảo Tỷ, ấn triện và chịu trách nhiệm “hầu Bảo” khi cần thiết. Năm 1820 khi lên ngôi, vua Minh Mệnh đã tinh giảm tổ chức Tam nội viện đổi làm Văn thư phòng. Văn thư phòng không dùng ấn quan mà dùng Quan phòng chức vụ trong giấy tờ văn bản. Ngay năm này nhà vua đã cho đúc ấn Quan phòng bằng đồng cho Văn thư phòng. Núm ấn chạm hình rau tảo, dây đeo màu đen. Mặt ấn hình chữ nhật, dài 1 tấc ngang 7 phân 2 ly, dày 2 phân 2 ly, khắc 5 chữ Triện Văn thư phòng quan phòng.

Xem xét văn bản chữ Hán trong kho Châu bản triều Nguyễn, chúng tôi thấy hình dấu Văn thư phòng quan phòng đóng trong một bản tấu có niên đại năm Minh Mệnh thứ 7 (1826). Dấu hình chữ nhật, kích thước 3,2 x4,2cm. Năm chữ Triện chia 3 hàng, chữ “Phòng” ở giữa dài gấp đôi chữ khác, đó là 5 chữ Văn thư phòng quan phòng 文書防關防. Là ấn Quan phòng của Văn thư phòng[196]. (H. 125)



Năm Minh Mệnh thứ 10 (1829) Văn thư phòng được đổi làm Nội các với biên chế lớn hơn và chức năng cũng quan trọng hơn trước. Bốn tào Thượng bảo, Ký chú, Đồ thư và Biểu bạ được hoàn thiện, trong đó Thượng bảo tào (có từ năm 1821) là nơi coi giữ các loại Bảo Tỷ cùng Quan phòng, ấn kiềm, Đồ ký của các nha môn. Những văn bản chữ Hán như các bản thảo chiếu biểu, bản phó dụ, châu dụ cũng được Thượng bảo tào coi giữ. Khi những chiếu, chỉ dụ đã được phân định hoặc những bản chương sớ, sách đã được vua xem xét ưng thuận thì Thượng bảo tào cùng với các cơ quan hữu trách họp thống nhất và tiến hành “hầu Bảo”. Khi đổi làm Nội các thì ấn Quan phòng cũng được thay đổi, ấn Văn thư phòng quan phòng cũ được bộ Lễ thu hồi không dùng nữa và thay vào đó là Quan phòng mới khắc 8 chữ Triện Sung biện nội các sự vụ quan phòng 充辨內閣事務關防. Trong Châu bản triều Nguyễn còn lưu giữ một số hình dấu này, dấu có kích thước 3,2x4,2cm, 8 chữ Triện chia 3 hàng, 2 chữ hàng giữa cao bằng 2/3 mỗi chữ hàng bên[197]. Đây là Quan phòng các chức quan được sung làm công việc Nội các[198]. Dấu Quan phòng trên khi đóng trên văn bản được gọi là Quan phòng của người phụng dụ (ở đầu bài) đóng đối diện mỗi tên người (khi có nhiều người phụng dụ ở các cơ quan khác nhau cùng chung một văn bản). Hoặc đóng dưới tên mình (khi chỉ có một người phụng dụ). Đây là bản phụng dụ Thiện bản, tức là bản sao thị thực của phiếu nghĩ phụng dụ, ở những bài dụ khi đến khâu “phê phụng” người ta lập thêm một bản sạch sẽ để lưu chiểu nên gọi là “Thiện bản”. Giá trị của bản sao này cao hơn bản thảo vì nó có dấu Quan phòng của người phụng dụ. (H. 126)



Những bản có chữ vua phê thì quan Nội các họp cùng trực quan khác để duyệt, việc thuộc Bộ nào thì Nội các sao ra rồi đóng ấn Quan phòng Sung biện nội các sự vụ quan phòng đưa cho Bộ ấy thực hiện. Bản chính Nội các lưu giữ, những bản thảo dụ chỉ vua phê ban xuống, Nội các cùng trực quan duyệt và quan Nội các viết ra tập khác, nếu viết nhầm phải tẩy sửa thì những chỗ sửa đó phải đóng ấn Quan phòng của Nội các. Đời Đồng Khánh sau này, những chỗ sửa chữa đóng dấu kiềm có 2 chữ “Nội các”.

Khi quan Nội các được phê phụng lời chỉ dụ thì sau này cũng phải đóng dấu Quan phòng Nội các vào đầu trang trước dòng ghi niên hiệu và phải ghi tên họ viên Nội các phê phụng. Khi vua có ban lời dụ chỉ cho nha môn nào thì đường quan của nha môn ấy trực tiếp hầu duyệt, sau đó giao bản cam kết và Quan phòng ấn triện của đường quan ấy lưu tại Nội các tâu lại, viết rõ rồi đóng ấn Quan phòng của nha môn và cả của Nội các vào các văn bản đó.

Những tập tấu hoặc sắc văn có Châu phê, Châu cải, Châu khuyên hoặc Châu điểm thì Nội các lấy ngay bản phụ ấy, hoặc giấy khác viết theo đúng mẫu trên. Phần cuối viết rõ chữ “Nội các kính sao” rồi đóng ấn Quan phòng Sung biện nội các sự vụ quan phòng và phát xuống trực ty tuân nhận. Những bản chính dụ chỉ có Châu phê xuống các địa phương thì Nội các nhận sao lại rồi viết rõ năm tháng ngày truy sao và kí tên đóng ấn Quan phòng Nội các làm bằng cứ đối chiếu.

Tất cả những văn bản phải đóng ấn Bảo Tỷ đều được Nội các cùng trực quan, lục Bộ, Khoa đạo thực hiện hết sức nghiêm cẩn, phạm lỗi nhẹ cũng bị tội. Năm Minh Mệnh thứ 20 (1839) chỉ vì giấy niêm vàng phiếu nghĩ bộ Binh chưa được Châu điểm mà Bộ, Ty không xem kỹ đã vội chuyển cho Nội các đóng ấn Kim Bảo. Lỗi bị phát hiện, lập tức chức Đãi chiếu ở Nội các và các viên Tư vụ, thư lại ở bộ Binh đều bị phạt 100 trượng và cách bãi. Viên Nội các trực cùng Khoa đạo thời điểm đó bị giáng một cấp. Đường quan bộ Binh chính tay phê phụng và trực thần Nội các đều bị giáng 3 cấp.

Xem xét những tập tiếp theo trong Châu bản triều Nguyễn từ cuối năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) trở đi, chúng tôi phát hiện thấy dấu Quan phòng Sung biện nội các sự vụ quan phòng có sự thay đổi về kích thước, nội dung, bố cục và loại chữ của dấu không thay đổi, nhưng cách viết nét chữ Triện của 2 dấu ở hai thời kỳ trên hoàn toàn khác nhau về kiểu chữ. (H. 127)



Sách chính sử có ghi về vấn đề này. Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) nhà Nguyễn lại có sự cải tổ đối với Nội các, Thượng bảo tào được đổi làm Thượng bảo sở, Bí thư tào đổi thành Ty luân sở và Biểu bạ tào đổi làm Bản chương sở. Quan phòng Sung biện nội các sự vụ quan phòng cũng được khắc lại với hình thức, nội dung như cũ, chỉ khác về kiểu nét chữ Triện. Cuộc cải tổ này mặc dù đúng theo nguyên tắc cũ nhưng chức năng của Nội các với những việc được phân chia rõ rệt hơn trước, hình dấu Sung biện nội các sự vụ quan phòng đánh dấu cho cuộc cải tổ này.

Chức năng của Thượng bảo sở có trọng trách hơn Thượng bảo tào, phụng giữ chiếu, chỉ, châu thư, kim phượng đồng, Kim ngọc Bảo Tỷ, ấn kiềm, Quan phòng, Đồ ký, Kiềm ký của Nội các và các nha môn trong kinh ngoài tỉnh, phụ trách viết chiếu dụ để “hầu Bảo”, và nhiều việc khác.

Cùng với lục Bộ và Khoa đạo, Nội các đóng vai trò quan trọng của bộ ba để thực hiện chức năng Văn phòng của Hoàng đế, việc “hầu Bảo” đã thực hiện rõ chức năng này. Khi phải dùng đến Bảo Tỷ Ngự tiền chi bảo, Văn lý mật sát hoặc Sắc mệnh chi bảo thì nghi thức “hầu Bảo” diễn ra như đã trình bầy ở mục 3 “Quy cách sử dụng các Kim Ngọc Bảo Tỷ” đã nói ở phần trên.

Đời Đồng Khánh đã tinh giản chức quan và lại thuộc ở Nội các làm hai lần: Đợt 1 - năm Đồng Khánh thứ 1 (1886) và đợt 2 - năm Đồng Khánh thứ 2 (1887). Từ đây trở đi Nội các giảm bớt vai trò trung tâm hành chính.

Năm Đồng Khánh nguyên niên (1885), các quan ở Nội các vì thấy ấn Quan phòng Sung biện nội các sự vụ quan phòng hình thức chỉ đơn giản làm kiểm tay quai, thế nhỏ và xấu, nét chữ Triện khắc mỏng và thời điểm này kiêng húy chữ “biện”, nên tâu xin cho đúc Quan phòng mới bằng đồng, hình thể đẹp hơn, núm hình sư tử ngồi, mặt dấu khắc 8 chữ Triện Sung lý nội các sự vụ quan phòng 充理內閣事務關防. Đồng thời Nội các lại xin làm 1 kiềm nhỏ khắc 2 chữ Nội các 內閣. Sau đó các ấn đã được đúc và sử dụng.

Chúng tôi cũng đã in được dấu kiềm Nội các trong Châu bản triều Nguyễn ở tập đời Đồng Khánh nguyên niên, dấu hình vuông kích thước 2,2x2,2cm, khắc 2 chữ Triện Nội các, được đóng ở nơi giáp trang và chỗ sửa chữa[199]. (H. 128)



Đến giữa năm Đồng Khánh thứ 1 (1886) các đại thần ở Viện cơ mật tâu hạch tội của Nội các về việc làm trên cho rằng Nội các cố tình làm trái lệ cũ về hình thức của ấn, và lại đúc thêm kiềm nhỏ, như vậy khi phê phụng không biết dùng thế nào. Dấu Quan phòng của Nội các chỉ dùng cho nha môn ở các tỉnh. Họ yêu cầu thu lại Quan phòng Sung lý nội các sự vụ quan phòng và Kiềm nhỏ Nội các để hủy, theo mẫu cũ làm lại như xưa. Đồng Khánh đã nhất trí với các đại thần Cơ mật viện và phạt 3 viên quan Nội các là Cao Đệ, Phạm Phú Lâm và Nguyễn Văn Trung 9 tháng lương.

Những chi tiết này đã giải quyết cho chúng tôi điều thắc mắc về sự vắng mặt của dấu Sung lý nội các sự vụ quan phòng trong bảng sưu tập. Như vậy chúng ta thấy rõ quy chế về việc làm và sử dụng ấn triện đến đời Đồng Khánh đã bị vi phạm song song với việc Đồng Khánh tinh giảm chức quan và lại điển không riêng gì ở Nội các.

Ngày 2 tháng 5 năm 1935 Nội các đã được thay thế bằng Ngự tiền Văn phòng do Bảo Đại thiết lập, chấm dứt 104 năm hoạt động.
 
2. Ấn chương ở hệ thống lục Bộ

Lục Bộ 六部 gồm có 6 Bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công. Lục Bộ là hệ thống quan trọng và lớn nhất trong các hệ thống cơ quan trung ương thời Nguyễn, do đó việc giới thiệu ấn chương ở hệ thống lục Bộ là việc làm cần thiết. Việc giới thiệu sẽ không riêng ra từng Bộ mà trình bày chung để đảm bảo tính thống nhất của ấn chương trong hệ thống này.

Năm 1804 khi mới thành lập lục Bộ, Gia Long mô phỏng theo cơ cấu tổ chức tên hiệu, chức danh, phẩm trật của lục Bộ thời trước. Đứng đầu mỗi Bộ là chức Thượng thư rồi đến Tham tri, Thiêm sự, Câu kê, Thủ hợp. Thuộc viên gọi là Lệnh sử ty, Bản ty. Từ tháng 2 năm 1804 Gia Long đã đặt quốc hiệu là Việt Nam, đồng thời cho đúc ấn 6 Bộ. Ấn khắc 5 chữ Triện (Mỗ) bộ đường chi ấn (Ví dụ ấn của bộ Lễ là Lễ bộ đường chi ấn). Các Kiềm ấn của mỗi Bộ khắc 4 chữ Triện là Khâm ty (Bộ mỗ) chính, riêng bộ Lễ Kiềm ấn khắc 4 chữ Khâm ty lễ điển.

Hiện nay trong Châu bản triều Nguyễn đời Gia Long còn lưu giữ một số ấn các Bộ. Trong bản công văn đề niên hiệu Gia Long chúng tôi đã sao lại được hình dấu của bộ Lễ. Dấu có kích thước 9,2x9,2cm. Viền ngoài để khuôn rộng 1cm, 5 chữ Triện bên trong xếp 3 hàng, chữ “Đường” 堂 ở giữa to gấp đôi các chữ khác, là 5 chữ Lễ bộ đường chi ấn 禮部堂之印 (ấn của bộ Lễ)[200]. (H. 129)



Dấu đóng ở đoạn chữ “Nguyệt” 月 dòng ghi niên hiệu đời Gia Long thứ 5 (1806). Mặt trước trang có dấu ghi dòng chữ Hán: Lễ bộ Thượng thư nguyên thự lại bộ thần Nguyễn Đăng Hưng. Đây là ấn dấu của Thượng thư bộ Lễ Nguyễn Đăng Hưng, nguyên giữ chức quyền thự bộ Lại. Thực chất đây là ấn dấu của Thượng thư bộ Lễ. Thời đầu Gia Long, tổ chức trung ương mới hình thành, số văn quan vừa có tài vừa có công trạng không nhiều, nên việc kiêm nhiệm chức vụ là việc tất yếu.

Khi mới lên ngôi, Minh Mệnh đã tiến hành cải cách chính quyền trung ương, trong đó có lục Bộ. Đến năm 1827, tổ chức hàng ngũ lãnh đạo cấp Bộ mới được hoàn thiện, chức Thượng thư và Tham tri vẫn giữ nguyên. Tiếp theo là việc bổ nhiệm các chức Thị lang, Lang trung, Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ và các Lại điển. Việc thay đổi chức vụ quan chế cấp Bộ cũng dẫn đến việc thay đổi ấn triện cho từng chức vụ để phù hợp với thực tại, nhưng phải đến cuối năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), việc thay đổi ấn kiềm và cấp ấn kiềm trong cấp Bộ mới được hoàn thiện.

Trong việc thay đổi ấn triện cấp Bộ, thì những ấn kiềm cũng được thu hồi không dùng nữa, thay vào đó là ấn mới trang trọng hơn. Ấn mới bằng bạc trắng đúc hình con kỳ lân, vuông 2 tấc 1 phân, dày 3 phân 6 ly, khuôn dấu dưới hình vuông có kích thước 9x9cm, khắc 4 chữ Triện (Mỗ) bộ chi ấn. Như vậy chữ “Đường” 堂 trong ấn dấu cũ đã được lược bỏ đi, đồng thời đúc các kiềm bằng ngà cho lục Bộ để thay thế kiềm cũ. Kiềm mới làm theo hình tháp bằng đầu, khuôn dấu hình vuông 2,7x2,7cm, khắc 2 chữ Triện (Mỗ) bộ. Tự dạng ở ấn lớn và kiềm nhỏ được khắc chung một kiểu chữ.

Vua Minh Mệnh rất chú trọng hệ thống lục Bộ, Thượng thư ở mỗi Bộ được coi là chức quan cao nhất trong hàng ngũ văn quan, nên hình thức ấn cấp Bộ được làm theo hình kỳ lân, chỉ sau Kim ngọc Bảo Tỷ của Hoàng đế. Ở tập Công văn cổ chỉ trong tờ “Tư di” (Công văn chuyển di) có hình con dấu kích thước 9x9cm, viền ngoài đậm 1cm, 4 chữ Triện Hình bộ chi ấn 刑部之印 (ấn của bộ Hình) khắc vuông vức. Dấu đóng trên chữ “Nguyệt” dòng ghi niên hiệu: Minh Mệnh thập tam niên chính nguyệt thập ngũ nhật (Ngày 15 tháng 1 năm Minh Mệnh thứ 13 [1832]). Bên cạnh là dòng chữ Hán Thừa Thiên phủ dĩ bắc chí Hà Nội chư địa phương quan. Đây là bản công văn chuyển đi cho các địa phương quan từ phủ Thừa Thiên ra Bắc đến Hà Nội. Phần giáp trang ở phía dưới của văn bản này có hình dấu kiềm, đóng 2 chữ Triện Hình bộ. Kích thước 2,7x2,7cm, kiểu chữ giống ấn lớn Hình bộ chi ấn trên. Đây là dấu kiềm của bộ Hình cùng cặp với ấn lớn, chuyên dùng đóng chỗ tẩy xóa và nơi giáp trang trên các văn bản chữ Hán của Bộ. (H. 130)

Bên cạnh ấn kiềm của cơ quan Bộ thì từ Thượng thư trở xuống đến Tả, Hữu Thị lang, Biện lý của lục Bộ đều được sử dụng ấn Quan phòng chức vụ. Năm 1820 Minh Mệnh đã cho làm Quan phòng chức vụ của Thượng thư lục Bộ, chất liệu bằng bạc, núm ấn hình sư tử, dài 9 phân, ngang 6 phân 3 ly, dầy 2 phân 7 ly, dây đeo ấn mầu vàng. Quan phòng của Tham tri, Thị lang, Biện lý lục Bộ chất liệu bằng ngà, núm ấn hình chuôi vồ dài 8 phân 4 ly, ngang 5 phân 4 ly.

Một số tập trong Châu bản triều Nguyễn còn lưu giữ nhiều hình dấu Quan phòng chức vụ của Thượng thư, Tả, Hữu Tham tri, Tả, Hữu Thị lang, Biện lý ở lục Bộ và một số Quan phòng chức vụ của các quan chức khác. Những hình dấu này đóng trên tập biên bản ghi về hội nghị Công đồng của triều đình Nguyễn. Hội nghị Công đồng[201] là đại hội công nghị một tháng họp một lần 4 ngày liền, vua tham khảo ý kiến đình thần để quyết định những việc trọng đại. Biên bản ghi nội dung hội nghị, đoạn ghi ngày tháng của dòng niên hiệu được đóng ấn lớn Công đồng chi ấn. Ví dụ một văn bản trong có dòng niên hiệu ghi Gia Long tứ niên cửu nguyệt thập cửu nhật (Ngày 19 tháng 9 năm Gia Long thứ 4 [1805]), có lưu hình dấu đóng dưới chữ cửu nhật. Dấu hình vuông kích thước 9,6x9,6cm, bốn chữ Triện bên trong chia 2 hàng là 4 chữ Công đồng chi ấn 公同之印. (H. 131)

Đây là ấn của Sở Công đồng. Phía dưới dấu Công đồng thường có một loạt Quan phòng nhỏ đại diện cho mỗi Bộ hoặc một cơ quan, binh chủng được dự họp.

Trong quyển 18 - Chư bộ Nha - Minh Mệnh thứ 7, Châu bản triều Nguyễn hiện lưu giữ nhiều hình dấu Quan phòng chức vụ của các chức quan cấp Bộ dưới đây.

- Dấu của Thượng thư bộ Lại có cỡ 2,5x3,8cm, 6 chữ Triện bên trong chia làm 3 hàng là chữ Lại bộ thượng thư quan phòng 吏部尚書關防, dấu đóng dưới dòng chữ Hán Lại bộ thượng thư kiêm quản tào chính sự vụ thần Trần Lợi Trinh. Đây là dấu Quan phòng của đại thần Trần Lợi Trinh giữ chức Thượng thư bộ Lại kiêm Quản Tào chính sự vụ. (H. 132)





- Dấu Hình bộ thượng thư quan phòng 刑部尚書關防 đóng dưới dòng chữ Thự hình bộ thượng thư thần Hoàng Kim Xán. Là dấu Quan phòng của đại thần Hoàng Kim Xán giữ chức quyền Thượng thư bộ Hình. Dấu có kích thước bằng dấu của bộ Lại. (H. 133)



- Dấu Công bộ thượng thư quan phòng 工部尚書關防 đóng dưới dòng chữ Công bộ thượng thư thần Trần Văn Tính. Là dấu Quan phòng của Thượng thư bộ Công Trần Văn Tính. Dấu có kích thước bằng hai dấu trên. (H. 134)



- Dấu Lễ bộ tả tham tri quan phòng 禮部左參知關防 có kích thước 2,1x3,3cm đóng dưới dòng chữ Lễ bộ tả tham tri thần Nguyễn Đăng Tuân. Là dấu Quan phòng của Nguyễn Đăng Tuân giữ chức Tả Tham tri bộ Lễ. (H. 135)

- Dấu Hộ bộ hữu tham tri quan phòng 戶部右參知關防 đóng dưới dòng chữ Thự hộ bộ hữu tham tri thần Hoàng Văn Diễn. Có kích thước 2,1x3,3cm. Đây là dấu Quan phòng của quyền Hữu Tham tri bộ Hộ Hoàng Văn Diễn. (H. 136)


 
- Dấu Công bộ tả tham tri quan phòng 工部左參知關防 có kích thước 2,1x3,3cm. Đóng dưới dòng chữ Thự công bộ tả tham tri thần Bùi Đức Cẩn. Là dấu Quan phòng của Bùi Đức Cẩn giữ chức quyền Tả Tham tri bộ Công (H. 137)



- Dấu Binh bộ hữu tham tri quan phòng 兵部右參知關防 có kích thước 2,1x3,3cm. Đóng dưới chữ Thự binh bộ hữu tham tri Hoàng Văn Quyền, là dấu Quan phòng của Hoàng Văn Quyền giữ chức quyền Hữu Tham tri bộ Binh. (H. 138)



- Dấu Biện lý hộ bộ quan phòng 辨理戶部關防 có kích thước 2,1x3.3cm. Đóng dưới chữ Cai bạ[202] biện lý hộ bộ sự vụ thần Nguyễn Đức Hội. Là dấu Quan phòng của chức Cai bạ kiêm Biện lý sự vụ ở bộ Hộ tên là Nguyễn Đức Hội. (H. 139)



- Dấu Biện lý binh bộ quan phòng 辨理兵部關防 có kích thước 2,1x3,3cm, đóng dưới dòng chữ Cai bạ biện lý binh bộ sự vụ thần Đặng Văn Hòa. Là dấu Quan phòng của chức Cai bạ kiêm Biện lý sự vụ bộ Binh tên là Đặng Văn Hòa. (H. 140)
- Dấu Biện lý hình bộ quan phòng 辨理刑部關防 có kích thước 2,1x3,3cm, đóng dưới dòng chữ Hiệp trấn[203] biện lý hình bộ sự vụ thần Nguyễn Kim Bảng. Là dấu Quan phòng của Nguyễn Kim Bảng, giữ chức Hiệp trấn kiêm Biện lý sự vụ bộ Hình. (H. 141)



- Dấu Lại bộ hữu thị lang quan phòng 吏部右侍郎關防 có kích thước 2,1x3,3cm, đóng dưới dòng chữ Lại bộ hữu thị lang thần Doãn Uẩn. Là dấu Quan phòng của Hữu Thị lang bộ Lại Doãn Uẩn. (H. 142)



Qua 11 hình dấu được dẫn chứng trên[204] chúng tôi thấy:

- Dấu Quan phòng chức vụ của Thượng thư các Bộ có cùng kích thước và lớn hơn ấn dấu các chức khác.

- Người quyền thự chức, tuy văn bản có ghi rõ là “Thự” (Tạm quyền) nhưng ở dấu lớn vẫn giữ nguyên chính thức, không có chữ “Thự” 署 trong dấu.

- Tỷ lệ kiêm chức ở cấp Bộ tương đối nhiều như viên Thượng thư bộ Lại Trần Lợi Trinh kiêm quản cả Tào chính sự vụ.

- Thời Gia Long cho đến đầu Minh Mệnh, chức Biện lý ở các Bộ đều do các chức Phó quan ở chính quyền địa phương cấp tỉnh kiêm quản, như viên Hiệp trấn Nguyễn Kim Bảng kiêm nhiệm cả chức Biện lý bộ Hình. Hai viên Biện lý ở bộ Hộ là Nguyễn Đức Hội, bộ Binh là Đặng Văn Hòa đều đương nhiệm chức Cai bạ.

Ở hệ thống lục Bộ còn một loại ấn kiềm nữa được làm ngay từ đầu đời vua Minh Mệnh. Sử cũ ghi lại: “… Chế tạo ấn bằng ngà dùng những lúc xuất hành cho bộ Binh, nay chuẩn cho quan Hữu tư theo kiểu mẫu chế thêm cho các bộ Lại, Hộ, Lễ, Hình, Công mỗi bộ đều một quả ấn dùng lúc hành quân và 6 Bộ đều một dấu kiềm bằng ngà. Sau đây phàm ngày đi tuần hạnh, viên nào là đường quan ở Bộ nào sử dụng đi Hộ giá thì lĩnh ấn dùng đi đường, còn viên nào lưu ở Bộ làm việc, vẫn giữ ấn Bộ dùng thường lệ”[205].

Trong quyển 17 - Thiệu Trị thứ 2[206], chúng tôi đã tìm thấy hình dấu của loại ấn này. Dấu hình vuông, kích thước 4,2x4,2cm. Bốn chữ Triện chia 2 hàng, mỗi chữ xếp theo hình vuông 1x1cm là chữ Binh bộ hành ấn 兵部行印. Dấu được đóng dưới dòng chữ ghi niên hiệu ngày tháng, vào ngày 13 tháng 8 Thiệu Trị thứ 2 (1842). (H. 143)



Như vậy 5 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công đều có ấn dấu riêng cùng kích thước và kiểu loại như dấu Binh bộ hành ấn trên. Loại ấn này dùng khi việc Hộ giá tuần hạnh xong đến ngày hồi loan, thì viên đường quan theo Hộ giá ấy mang ấn kiềm này nộp cho Nội các cất đi, khi nào có việc xuất hành thì đến Nội các nhận mang theo sử dụng.

Trong hàng văn quan, Thượng thư là chức quan cao nhất, nhưng phẩm trật cũng chỉ là Chánh nhị phẩm. Triều Minh Mệnh còn đặt ra những chức hàm Đại học sĩ: Cần chánh, Đông các, Võ hiển, Văn minh và Hiệp biện đều có phẩm trật cao hơn Thượng thư. Chức Thượng thư có khi được gia phong hàm chức Đại học sĩ với trật phẩm cao nhất, thực ra đó chỉ là vinh hàm để tăng thêm uy lực của các Thượng thư, thậm chí có người kiêm nhiệm nhiều chức vụ như Trương Đăng Quế là Thượng thư bộ Binh triều Tự Đức.

Trong quyển 119 - Tự Đức[207], chúng tôi in lại được hình dấu của đại thần Trương Đăng Quế. Dấu hình chữ nhật có cỡ 3x4cm lớn hơn dấu Thượng thư, 3 hàng 8 chữ Triện Cần chánh điện đại học sĩ quan phòng 勤政殿大學士關防 (Quan phòng của Cần chánh điện Đại học sĩ). Dấu đóng ở mấy dòng chữ Hán Thái bảo Cần Chánh điện đại học sĩ quản lý binh bộ sự vụ sung cơ mật viện đại thần sung kinh diên giảng quan kiêm lãnh khâm thiên giám sung sử quản tổng tài tuy thịnh quận công thần Trương Đăng Quế - Niên đại của văn bản có hình dấu này ghi năm Tự Đức thứ 13 (1860) - Tuy Thịnh Quận công Trương Đăng Quế với chức hàm Thái bảo Cần Chánh điện Đại học sĩ, là Thượng thư bộ Binh và một đại thần của Viện cơ mật, sung kinh diên giảng quan, quan lãnh cả Khâm thiên giám và là Tổng tài của Quốc sử quán. Nhiều chức vụ như vậy nhưng điểm nổi bật của Trương Đăng Quế là một đại thần với chức Thượng thư bộ Binh trong giai đoạn lực lượng quân đội được coi trọng. (H. 144)



Về chức năng của một vài Bộ có liên quan đến ấn dấu, như bộ Lại gồm 5 Ty, trong đó Ty Lại ấn 吏印司 do các ty lần lượt phái nhân viên phụng giữ ấn của Bộ, tiếp nhận chương sớ và tờ tư, trình Đường quan rồi chuyển giao cho các Ty chiếu biện, cứ 1 tháng thì hết hạn luân phiên.

Ty Lại trực 吏直司 do các Ty lần lượt phái chuyên viên viết bài trình tiến và viết tinh tả phiếu nghĩ để trực hầu đóng dấu ấn vàng.

Bộ Lễ là Bộ có liên hệ mật thiết nhất với Bảo Tỷ của Hoàng đế và việc phong sách ấn cho Hoàng thái hậu, đến các vương công Hoàng tộc và các loại hình ấn triện khác. Các định lệ về việc đúc ấn vàng, chế tạo các ấn kiềm, Quan phòng, Đồ ký, Kiềm ký và Triện đều do bộ Lễ phân chia từng loại tâu lên, nhà vua phê chuẩn rồi tư cho các nơi thi hành. Sử cũ còn ghi: “Phàm khi có đúc ấn bằng bạc, Quan phòng bằng bạc, ấn đồng, Quan phòng, Ký Triện bằng đồng hoặc khi chế Quan phòng bằng ngà, Ký Triện bằng gỗ bộ Lễ tư cho Hữu tư theo đúng kiểu thức mà chế tạo. Chế xong bộ trình lên giao cho Nội các cất giữ đợi ban cấp. Nếu lâu ngày bị hao mòn, tùy ấn đó bằng bạc, đồng hay ngà, căn cứ khai báo, bộ tâu xin cấp thay con dấu khác… Nếu là ấn gỗ thì ở kinh đô ngành văn do bộ Lại, ngành võ do bộ Binh, ở ngoài do quan Thượng ty các hạt theo y thể thức chế ra mà cấp và thu hồi tiêu hủy ấn cũ, không cần tâu xin”[208].
 
II. Ấn chương trong binh chế quân đội thời Nguyễn

1. Tổ chức quân đội và ấn dấu của một số danh tướng đầu thời Nguyễn


Quân đội nhà Nguyễn có tiền thân từ thời các chúa Nguyễn. Trong thời kỳ chiến tranh với nhà Tây Sơn, quân đội là lực lượng căn bản để thành lập nhà Nguyễn, và sau này khi nhà Nguyễn đã giành được quyền thống trị thì quân đội trở thành một bộ phận quan trọng của nhà nước phong kiến Việt Nam đương thời.

Khi Nguyễn Phúc Ánh xưng vương ở Sài Gòn (năm 1780) thì quân đội nhà Nguyễn đã được tổ chức và trang bị tương đối đầy đủ. Biên chế quân đội Nguyễn theo hình thức Ngũ chế, mỗi bậc chia làm năm: Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu. Cấp Quân là cấp cao nhất và được chia làm năm Quân: Trung quân, Tiền quân, Tả quân, Hữu quân và Hậu quân. Mỗi Quân có một viên Chưởng phủ sự hay một chức Đô thống đứng đầu, thường được ghi là Đô thống phủ chưởng phủ sự. Có binh chủng đặt Doanh không đặt Quân, cấp Doanh nhỏ hơn cấp Quân, mỗi Doanh có 5 Vệ đều do một chức Đô thống hay một quan Thống chế chỉ huy, dưới cấp Quân, Doanh là cấp Vệ hoặc Cơ, dưới Vệ, Cơ là cấp Đội, Thuyền.

Sau này khi chiến tranh chấm dứt, nhà Nguyễn đặt riêng lực lượng quân đội ở kinh gồm ba loại: Thân binh, Cấm binh và Tinh binh. Mỗi Binh chia làm các Doanh, Vệ hoặc Viện, thuộc cấp có các Đội, Ban. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) đặt cấp tỉnh, đứng đầu quân binh ở tỉnh là chức Đề đốc hoặc Lãnh binh, Phó Lãnh binh, tùy từng tỉnh lớn hay nhỏ mà đặt cấp số Vệ, Cơ, Đội nhất định.

Hàng ngũ tướng tá trong quân đội, từ Đại tướng đứng đầu Quân cho đến Viên chỉ huy ở cấp Đội, Thuyền đều được ban cấp ấn kiềm, Quan phòng hoặc Đồ ký để dùng trong việc quân binh. Mặt ấn dấu thường khắc tên đơn vị, tên chức vụ, hoặc cả tên đơn vị và tên chức vụ trong một quả ấn.

Thời Gia Long Nguyễn Ánh cho đến giai đoạn đầu triều Minh Mệnh, tướng lĩnh trong quân đội giữ vị trí then chốt trong chính quyền. Hầu hết các Đại tướng đứng đầu năm Quân đều là những đại thần quan trọng của triều đình. Chức vụ và quyền hạn của tướng lĩnh hơn hẳn các văn quan mặc dầu phẩm trật có ngang nhau. Sự biến đổi từ những đại tướng cầm quân trong chiến trận trở thành viên quan cai trị về mặt hành chính các cấp là đặc trưng nổi bật của tổ chức hành chính quan chế đầu thời Nguyễn.

Nhiều tướng tài theo giúp Nguyễn Ánh, nhưng khi chiến tranh chấm dứt chỉ còn lại số ít tướng lĩnh có tên tuổi như Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Nhân, Lê Văn Duyệt v.v… Họ đều là những Đại tướng đứng đầu một trong các Quân, khi được phong chức các tướng trên đều được nhận ấn tín. Ấn tín ở đây biểu thị cho quyền lực của viên tướng và pháp lệnh của vương triều đối với quân đội và cả dân chúng. Sử liệu đã giúp ta biết được ấn của năm tướng ở năm Quân đều được làm bằng đồng, phần núm ấn đúc hình kỳ lân, mặt dấu hình vuông, kích thước 2 tấc, 1 phân 6 ly, trọng lượng và thể tích rất lớn chỉ sau một số Bảo Tỷ của Hoàng đế Nguyễn. Những hiện vật ấn tín này đáng tiếc cho đến nay hầu hết không còn giữ được.

Hiện vật tuy đã mất nhưng dấu tích vẫn còn. Trong tập Công văn cựu chỉ còn lưu giữ hình dấu của Tiền quân Nguyễn Văn Thành, dấu hình vuông cỡ 9,3x9,3cm, bốn chữ Triện vuông vức xếp theo hai hàng là 4 chữ Tiền quân chi ấn 前軍之印 (ấn của Tiền quân). Dấu được đóng ở dưới dòng ghi niên hiệu Gia Long nguyên niên bát nguyệt sơ thất nhật. Trước trang có hình dấu là trang có dòng chữ Hán Khâm sai chưởng tiền quân bình tây đại tướng quân quận công. (H. 145)

Việc khẳng định con dấu này là của Nguyễn Văn Thành là chính xác. Sử cũ ghi: “… Cho Khâm sai chưởng Tiền quân Bình tây Đại tướng quân điều bát chư đạo Bộ binh Quận công”[209]. Con dấu Tiền quân chi ấn của Nguyễn Văn Thành được đóng vào ngày 7 tháng 8 năm Gia Long thứ 1 (1802) trong một văn bản chữ Hán ngắn gọn nói về huyện Lạc Thổ, phủ Thiên Quan, xứ Thanh Hoa ngoại.



Châu bản triều Nguyễn đã giúp chúng tôi tìm được dấu tích của những tướng lĩnh khác ngoài Nguyễn Văn Thành. Trong quyển 2 trang 239 đời Gia Long có hình dấu vuông cỡ lớn màu son, kích cỡ, bố cục, tự dạng đều giống như dấu Tiền quân chi ấn chỉ khác bốn chữ Triện bên trong là Hữu quân chi ấn 右軍之印 (ấn của Hữu quân). Trang bên còn ghi rõ dòng chữ Hán Khâm sai chưởng hữu quân thần Nguyễn Văn Nhân. Sử cũ ghi lại khi theo Nguyễn Ánh thì Nguyễn Văn Nhân mới là Cai đội, khi chiến tranh chấm dứt Nguyễn Văn Nhân được thăng là Khâm sai chưởng Hữu quân Bình Tây tướng quân. (H. 146)



Gần đây trong bài Chủ nhân ấn đồng năm 1802 ? hai tác giả Nguyễn Hữu Thông và Nguyễn Văn Đăng đã giới thiệu quả ấn Tả quân chi ấn mà họ đã tìm được ở Huế năm 1992. Xin được trích dẫn bài viết trên.

“Ấn được đúc bằng đồng thau. Hình thể quả ấn gồm 2 phần:

Phần núm đúc hình con kỳ lân, miệng ngậm hạt châu, đầu to ngẩng cao, thân tròn, đuôi đài vượt quá phần thân. Hai bên hông từ chân đến lưng có 4 dải trang trí đao lửa đúc nổi; sống lưng chạm vân thủy ba. Dáng nét tinh xảo, bề thế. Toàn bộ chiều cao của núm ấn (con lân) và thân ấn là 7,2cm.

Phần thân ấn (hay bệ ấn) dày 2,1cm, phần dưới cao 1,45cm, 4 rìa cạnh phần mặt trên của thân ấn được vát xiên, mép vát, rộng 1,25cm. Mặt trên thành thân ấn, phía trái con lân khảm 4 chữ Hán, kiểu chữ chân: Tả quân chi ấn. Phía phải khảm 8 chữ Hán cùng kiểu Nhâm Tuất trọng xuân cát nhật giám tạo (Tu tạo vào ngày tốt tháng 2 năm Nhâm Tuất). Trọng lượng ấn như một số loạt ấn khác cân được 1,82kg. Cả hai dòng chữ trên đều được khảm bạc sắc nét, trải qua bao sự biến vết khảm vẫn còn khá nguyên vẹn.

Mặt dấu của ấn hình vuông có kích thước 9,25x9,25cm. Bốn chữ Triện xếp theo hai hàng, nét khắc sâu đậm. Nét nổi và nét khắc rất đều và cân xứng nhau, mỗi nét rộng 0,025cm. Đó là 4 chữ Tả quân chi ấn”[210]. (H. 147)

Qua xem xét đối chiếu và dựa trên các bộ chính sử thời Nguyễn, hai tác giả đã có những nhận định xác đáng về niên đại đúc ấn và khẳng định chủ nhân của chiếc ấn trên là Tả quân Lê Văn Duyệt.



Cũng trong tập Châu bản triều Nguyễn trên, chúng tôi đã tìm thấy hình dấu của Tả quân Lê Văn Duyệt, dấu có kích cỡ, bố cục tự dạng như hai dấu của Tiền quân Nguyễn Văn Thành và Hữu quân Nguyễn Văn Nhân, chỉ khác bốn chữ Triện bên trong là Tả quân chi ấn 左軍之印 (ấn của Tả quân). Sách sử đã ghi lại, Lê Văn Duyệt là một thái giám trẻ, theo phò Nguyễn Ánh lập nhiều công trạng. Trong chiến tranh, Duyệt giữ chức Đô Thống chế Tả dinh quân Thần sách. Năm 1802 ông được phong làm Khâm sai chương Tả quân Bình tây tướng quân. (H. 148)



Những danh tướng trên, khi chiến tranh chấm dứt lập tức phải nhận trọng trách mới là công việc tổ chức quản lý hành chính. Những công văn tấu sớ gửi về kinh với hình dấu quân đội mà nội dung nhiều khi là việc dân sự. Đây là giai đoạn chuyển tiếp, mặt tổ chức hành chính quan chức chế được thay đổi và tất yếu xuất hiện một loại ấn triện mới để phù hợp với thực tại, do đó có sự biến đổi từ những tướng lĩnh cầm quân trở thành đại quan cai trị về mặt hành chính các cấp, đó là đặc trưng nổi bật của tổ chức hành chính quan chế đầu thời Nguyễn. Tháng 9 năm 1802 Nguyễn Văn Thành được phong làm Tổng trấn Bắc thành và sử dụng bộ ấn kiềm mới Bắc thành tổng trấn chi ấn. Tháng 9 năm 1808 Nguyễn Văn Nhân được phong làm Tổng trấn Gia Định thành và dùng bộ ấn kiềm Gia Định thành tổng trấn chi ấn. Còn Lê Văn Duyệt đến mùa thu năm 1820 lĩnh chức Tổng trấn Gia Định thành thay Nguyễn Văn Nhân và nhận lại bộ ấn kiềm mới của thành Gia Định. Trên thực tế lúc bấy giờ ngoài cấp thành, quan chức đứng đầu cấp trấn, doanh, đạo hầu hết đều do các võ quan đảm nhiệm.
 
2. Những quy định làm ấn, kiềm, Quan phòng, Đồ ký của tướng tá quân đội thời Nguyễn

Ấn, kiềm, Quan Phòng, Đồ ký của các tướng tá quân đội Nguyễn được làm ra trên cơ sở những quy chế chung về chất liệu hình thể, kích cỡ, kiểu chữ khắc và quyền sử dụng. Những quy chế này được ban hành và thực thi chủ yếu ở đời Minh Mệnh và Thiệu Trị. Giai đoạn này và tiếp sau đó, binh chế quân đội vẫn giữ nguyên cơ cấu cũ nên quy chế về ấn triện tương đối ổn định.

Khi lên ngôi Minh Mệnh rất chú trọng đến việc đúc ấn và sử dụng ấn trong quân đội. Sử cũ ghi: “Minh Mệnh năm đầu chỉ dụ: Chuẩn cho đúc các quả ấn bằng đồng cho: Tả Thống chế quân Thị trung, Hữu Thống chế quân Thị trung, Thống chế dinh Thần cơ quân Thị nội, Thống chế dinh Huyền vũ quân Thị nội đều vuông 1 tấc 7 phân 6 ly, dầy 3 phân 2 ly, núm chạm con sư tử, dây đeo ấn màu xanh”[211].

Một loạt ấn, Quan phòng được làm tiếp theo - Chức Giám Thần sách quân, Chưởng Tượng quân, Chưởng Hậu quân được cấp Quan phòng bằng bạc núm hình kì lân. Thống chế Ngũ dinh, phó tướng Ngũ quân, Thống chế Kinh tượng dùng ấn chứ không dùng Quan phòng chức vụ. Quan phòng của năm dinh Thần sách, Đô thống chế và Thống chế 4 dinh: Thần cơ, Tiên phong, Long vũ, Hổ oai cùng Quan phòng của Tả Hữu Đô thống quân Vũ lâm đều làm núm hình sư tử. Chức Tả, Hữu Thống chế, Chưởng Trung quân, Tiền quân, chưởng Thủy quân, Thống chế các quân, các dinh: Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu dùng Quan phòng như trên. Chức quyền thự như “Thống chế thự tướng quân” thì dùng Quan phòng bằng ngà, kích thước bằng dấu của chức Chưởng Tiền quân v.v…

Năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) nhà vua lại cho đúc ấn đồng cho Phó tướng Ngũ quân: Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu núm ấn làm hình con hổ, khắc 6 chữ Triện (Mỗ) quân phó tướng chi ấn và ban cấp một kiềm ấn bằng ngà. Đồng thời chế tiếp Quan phòng chức vụ cho các Phó tướng trên, cũng khắc 6 chữ Triện: (Mỗ) quân phó tướng quan phòng. Sau đó đúc Quan phòng bằng đồng, kiềm ấn bằng ngà cho các đơn vị Hùng cự, Ngũ kích, các vệ cơ Tượng binh.

Năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) nhà vua lệnh chọn ngày tốt để đúc ấn cho tướng lĩnh cao cấp. Ấn Thảo nghịch đại tướng quân vuông 2 tấc 3 phân, dầy 6 phân 3 ly, ấn Thảo nghịch hữu tướng quân, ấn Thảo nghịch tả tướng quân, ấn Bình nam tướng quân, các ấn Trấn tây, An viễn và Phủ biên tướng quân đều làm hai tầng, núm đúc hình con hổ, vuông 2 tấc 1 phân, dầy 5 phân 4 ly. Mỗi ấn kèm một Kiềm ấn bằng ngà. Riêng ấn Trấn tây tướng quân, ấn An viễn tướng quân và Phủ biên tướng quân đến năm Minh Mệnh thứ 15 (1834) được đúc một ấn nữa bằng bạc, hình thức như cũ, cùng kiềm ấn giao cho Nội các giữ phòng sử dụng[212].

Từ năm Minh Mệnh thứ 9 (1828) đến hết triều Minh Mệnh nhà Nguyễn đã nhiều đợt cho chế tác ấn kiềm, Quan phòng cho tướng tá các đơn vị như Thống chế bốn dinh, Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu, Đô thống ngũ quân; Đề đốc, Lãnh binh, Phó Lãnh binh các tỉnh; Kinh kỳ Thủy sư Đô thống và Kinh kỳ Thủy sư Đô đốc v.v…

Đời Thiệu Trị có bổ sung thêm số ít ấn triện, Quan phòng như việc đặt chức chuyên viên Thống quản của dinh Kỳ vũ và ban cấp cho một ấn Quan phòng bằng đồng, một Kiềm ấn ngà để dùng. Chức Thống quản cho xứ Thị vệ dùng ấn Quan phòng bằng bạc khắc Thống quản thị vệ quan phòng.

Những đơn vị cấp cơ sở của quân đội như các Vệ nhỏ thuộc quân Thần sách và hơn 100 Cơ chính quy cùng Vệ, Cơ của các quân ở kinh, thành, dinh, trấn, (tỉnh) đều được cấp một Đồ ký bằng đồng, núm ấn hình tay quai (Vòng tròn) một kiềm ấn bằng gỗ để dùng. Các hiệu Thuyền của Thủy quân như Nam Hưng, Phấn Bằng, được cấp Đồ ký bằng ngà, khắc chữ Triện. Còn hiệu Thuyền Ba Hải thì dùng Đồ ký ngà, khắc chữ Chân.

Hiện tượng hai kiểu chữ Hán (Chữ Triện và chữ Chân) cũng được khắc trong một quả ấn. Đó là Đồ ký của các Vệ thuộc Kinh tượng và các ban Túc trực, Thường trực của Cẩm y vệ, Đồ ký làm bằng đồng mẫu giống như các Vệ, Cơ trên.

Quả ấn duy nhất thuộc quân binh còn lưu giữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội. Ấn có ký hiệu LSb 2524 bằng đồng, cán chuôi vồ thắt đáy, cao 7cm, dầy 1,2cm, mặt ấn có ghi niên đại tạo ấn vào năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) và trọng lượng ấn nặng 12 lượng. Dấu ấn hình chữ nhật cỡ 7,8x4,8cm, 8 chữ Triện khắc rõ nét: Hưng Hóa phó lãnh binh quan quan phòng 興化副領兵官關防 chữ xếp theo chiều dọc 3 hàng, hàng giữa dài gấp rưỡi chữ hàng bên. Đó là Quan phòng của quan Phó Lãnh binh tỉnh Hưng Hóa. (H. 149 a,b,c)

 
3. Giới thiệu một số ấn dấu của tướng lĩnh quân đội Nguyễn trên văn bản Hán Nôm

Những dấu tích về ấn triện quân đội thời Nguyễn chủ yếu nằm ở kho Châu bản triều Nguyễn. Trong các tập đời Minh Mệnh, Thiệu Trị, chúng tôi đã in sao được một số hình dấu của các tướng tá ở nhiều đơn vị, binh chủng và khu vực khác nhau.

Dấu Trấn tây tướng quân chi ấn[213] 鎭西將軍之印 (ấn của Trấn tây tướng quân) có kích thước 9x9cm, sáu chữ Triện chia làm ba hàng. Dấu đóng đè lên chữ “nguyệt” dòng ghi niên hiệu Minh Mệnh thập cửu niên cửu nguyệt thất nhật. Trang trước ghi tên họ các quan tướng ở Trấn tây: Trương Minh Giảng, Nguyễn Văn Trọng, Dương Văn Phong. Đây là bản tấu trình gửi về kinh của các quan tướng ở thành Trấn tây có đóng ấn của Trấn tây tướng quân vào ngày mồng 7 tháng 9 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838). (H. 150)



Hai dấu Thảo nghịch tả tướng quân chi ấn 討逆左將軍之印 (ấn của Thảo nghịch Tả tướng quân) và Thảo nghịch hữu tướng quân chi ấn 討逆右將軍之印 (ấn của Thảo nghịch Hữu tướng quân)[214], đều hình vuông có cỡ 8,3x8,3cm. Trên văn bản hai dấu đóng dính liền nhau đoạn ngày tháng của dòng niên đại nằm giữa hai dấu (niên đại ghi năm Minh Mệnh thứ 16 [1835]), đây là dấu của hai tướng ở quân thứ Gia Định đóng trên một bản Tấu. Xin minh họa một hình dấu Thảo nghịch hữu tướng quân chi ấn. (H. 151)



Trong Châu bản triều Nguyễn số lượng dấu Quan phòng chức vụ nhiều hơn hẳn dấu ấn quan, riêng hai trang ở quyển 18 chúng tôi đã in sao được 5 dấu Quan phòng khác nhau[215].

Dấu Chưởng trung quân quan phòng 掌中軍關防 (Quan phòng của chưởng Trung quân) có cỡ 3,0x4,2cm, năm chữ Triện chia ba hàng. Dấu đóng ở dưới dòng chữ Hán Chưởng doanh thự trung quân ấn vụ kiêm quản thương thuyền thần Tống Phúc Lương (Bề tôi Tống Phúc Lương chức chưởng Doanh quyền Trung quân ấn vụ kiêm quản thương thuyền). (H. 152)



Dấu Thần sách hữu doanh quan phòng 神策右營關防 (Quan phòng của Hữu doanh Thần sách) có cỡ 2,5x3,8cm, sáu chữ Triện chia ba hàng. Dấu đóng dưới dòng chữ Thần sách quân hữu doanh đô thống chế thần Tôn Thất Trạch (Bề tôi Tôn Thất Trạch chức Đô Thống chế Hữu doanh quân Thần sách). (H. 153)



Dấu Hữu thống chế quan phòng 右統制關防 (Quan phòng của Hữu thống chế) cỡ 2,5x3,8cm, năm chữ Triện chia ba hàng. Dấu đóng dưới dòng chữ Thị trung hữu thống chế thần Trần Văn Cường (Bề tôi Trần Văn Cường chức Hữu Thống chế quân Thị trung) (H. 154)



Dấu Long vũ đô thống chế quan phòng 龍武都統制關防 (Quan phòng của Đô thống chế doanh Long Vũ) cỡ 2,5x3,8cm, bảy chữ Triện chia ba hàng. Dấu đóng dưới dòng chữ Thị nội long vũ đô thống chế thần Phan Văn Thúy (Bề tôi Phan Văn Thúy chức Đô Thống chế doanh Long Vũ quân Thị nội). (H. 155)



Dấu Thị tượng thự thống chế quan phòng 侍象署統制關防 (Quan phòng của quyền Thống chế vệ Thị tượng) cỡ 2,2x3,4cm, bẩy chữ Triện chia làm ba hàng. Dấu đóng dưới dòng chữ Thự tượng quân thống chế chuyên quản thị tượng cai tham vệ thần Phạm Văn Điển (Bề tôi Phạm Văn Điển quyền Thống chế quân Tượng chuyên quản Cai tham vệ Thị tượng). (H. 156)

Những hình dấu trên đóng trong một văn bản chữ Hán ghi về cuộc họp Công đồng thường kỳ mà chúng tôi đã mô tả ở phần “lục Bộ”. Dòng ghi niên đại năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) được đóng ấn lớn Công đồng chi ấn. Phía dưới và sang cả trang sau là các dòng chức vụ tên họ của những người dự hội nghị, dưới mỗi dòng đều có hình dấu Quan phòng, các dấu trên là đại diện cho hàng võ quan tham dự họp.



Trong quyển 5 đời Thiệu Trị nguyên niên xuất hiện nhiều Quan phòng của chức Đô thống phủ ở Ngũ quân.

Dấu Tiền quân đô thống phủ quan phòng (Quan phòng của Đô thống phủ Tiền quân), dấu Trung quân đô thống phủ quan phòng (Quan phòng của Đô thống phủ Trung quân), dấu Hữu quân đô thống phủ quan phòng (Quan phòng của Đô thống phủ Hữu quân), và Hậu quân đô thống phủ quan phòng (Quan phòng của Đô thống phủ Hậu quân). Các dấu đều có kích thước 3,0x4,2cm, bảy chữ Triện chia ba hàng[216].

Mỗi dấu Tiền quân, Trung quân, Hữu quân và Hậu quân đều đóng ở dưới mỗi dòng chữ ghi tên họ chức tước khác nhau. Ví dụ dấu Tiền quân đô thống phủ quan phòng 前軍都統府關防 đóng dưới dòng chữ Tiền quân đô thống phủ đô thống chưởng phủ sự tân phúc hầu thần Phạn Hữu Tâm (Bề tôi Phạm Hữu Tâm, tước Tân phúc hầu, chức Đô thống phủ Đô thống chưởng phủ sự Tiền quân). (H. 157)



Vũ Văn Giải, một trong bốn đại thần quan trọng đời Thiệu Trị và Tự Đức, ông kiêm quản nhiều chức vụ, trong đó có chức quyền thự Thống chế doanh Hổ oai (đời Thiệu Trị) mà hình dấu sau này là minh chứng.

Dấu Hổ oai thống chế quan phòng[217] 虎威統制關防 (Quan phòng của Thống chế doanh Hổ oai) có cỡ 2,5x3,8cm, sáu chữ Triện chia ba hàng. Dấu được đóng ở dòng chữ Thự hổ oai doanh thống chế kiêm quản thị vệ tổng quản thái giám thần Vũ Văn Giải (Bề tôi Vũ Văn Giải quyền Thống chế doanh Hổ oai kiêm quản Thị vệ Tổng quản Thái giám). (H. 158)



Văn bản lưu giữ ghi về cuộc kháng chiến chống Pháp của triều đình Huế và nhân dân Nam Bộ đời Tự Đức là những tập tấu có đóng dấu son. Ở quyển 119 - Tự Đức chúng tôi gặp hai hình dấu đóng liền nhau ở đoạn chữ “nguyệt” của dòng ghi niên đại Tự Đức thập tam niên sơ nguyệt nhị thập bát nhật nằm ở giữa hai dấu.

Dấu Thống đốc tiễu bổ quân vụ quan phòng[218] 統督勦捕軍務關防 (Quan phòng của Thống đốc Tiễu bổ quân vụ), có cỡ 5,5x7,7cm, 8 chữ Triện đều nhau chia hai hàng. Dấu đóng phía trái dòng ghi niên đại, phía dưới là dòng chữ Hán Quảng Nam quân thứ thống đốc cách lưu thần Nguyễn Tri Phương (Bề tôi Nguyễn Tri Phương chức Thống đốc (thời hạn) cách lưu ở quân thứ Quảng Nam). (H. 159)



Dấu Tham tán quân vụ quan phòng[219] 參贊軍務關防 (Quan phòng của chức Tham tán quân vụ) có cỡ 5x7,3cm, sáu chữ Triện chia làm hai hàng. Dấu đóng phía phải dòng ghi niên đại, bên dưới là dòng chữ Hán Tham tán quân vụ thần Phạm Thế Hiển (Bề tôi là Phạm Thế Hiển chức Tham tán quân vụ). (H. 160)



Đây là bản Tấu của hai viên tướng gửi về Kinh báo cáo tình hình phòng thủ, chiến sự ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Hai con dấu đóng liền nhau có cùng thời gian: ngày 28 tháng giêng năm Tự Đức thứ 13 (1860) trên cùng một văn bản, thể hiện sự quan trọng và thống nhất của công việc. Trường hợp chỉ có một dấu đóng thì ý nghĩa của văn bản sẽ khác đi.

Chỉ huy quân đội ở các tỉnh là chức Đề đốc hoặc Lãnh binh, ấn dấu thường khắc 6 chữ Triện, ví dụ dấu Gia Định đề đốc quan phòng[220] 嘉定提督關防 (Quan phòng của Đề đốc tỉnh Gia Định) có cỡ 4,6x6,2cm. Đây là quy định chung về ấn Quan phòng của Đề đốc các tỉnh. (H. 161)



Trong quyển 119 đời Tự Đức chúng tôi thấy xuất hiện hình dấu Đề đốc tiễu bổ quân vụ quan phòng[221] 提督勦捕軍務關防 (Quan phòng của Đề đốc Tiễu bổ quân vụ) có kích thước lớn cỡ 5,5x7,7cm. Dấu đóng ở đoạn chữ “nguyệt” dòng niên hiệu Tự Đức thứ 13 (1855), trang trước có dòng chữ Hán Đề đốc tiễu bổ quân vụ thần Tôn Thất Hàn (Bề tôi là Tôn Thất Hàn chức Đề đốc Tiễu bổ quân vụ) cũng trong tập tấu gửi về Kinh của Tôn Thất Hàn trong việc quân. Cùng với hình dấu của Nguyễn Tri Phương, Phạm Thế Hiển trên, hình dấu này đã chứng tỏ trong chiến tranh (thời Tự Đức) có những chức vụ, cấp bậc về việc binh được đặt ra thêm, hoặc gắn thêm chức cho một chức đã có sẵn (ví dụ trên) mà trong quy chế chức vụ cấp bậc của bộ Binh thời Nguyễn không thấy ghi. (H. 162)



Không chỉ tướng lĩnh cấp cao, mà hàng ngũ sĩ quan cấp Vệ, Cơ nhỏ cấp Đội, Thuyền và những đơn vị ở kinh cũng dùng loại ấn dấu Đồ ký. Đồ ký chỉ dùng cho các đơn vị quân đội và các cơ quan dân sự cấp thấp, trong quyển 53 - đời Minh Mệnh thứ 19 có một số hình dấu Đồ ký.

Dấu Loan giá vệ đồ ký[222] 鑾駕衛圖記 (Đồ ký của Vệ Loan giá) có cỡ 4,4x5,8cm, năm chữ Triện chia ba hàng, dấu đóng ở đoạn ngày tháng của dòng ghi niên hiệu Minh Mệnh thứ 19 (1838). Đây là bản trình tấu của chức Loan giá khanh coi Vệ Loan giá do Tôn Thất Tường chỉ huy. (H. 163)



Các đơn vị Vệ Cẩm y, Vệ Kim ngô đều sử dụng Đồ ký có hình thức và tính chất như Vệ Loan giá, chỉ khác về tên chữ trong dấu.

Quy định về vị trí đóng dấu Đồ ký được ghi trong chính sử: “Từ nay về sau Đồ ký của Thị trung, Thị nội và Dinh vệ các quân do quan cấp cho, phàm gặp những công việc như tấu, sớ, tờ tư sổ sách, tiền lương và trình báo đều chuẩn cho đóng lên chữ “Tháng mỗ” còn tất cả các việc riêng đều không được dùng”[223].

Các đơn vị hải thuyền được gọi là Thuyền 船 biên chế theo từng chiến thuyền và dùng Đồ ký có kích thước nhỏ hơn các đơn vị Cơ, Vệ. Xin ví dụ một dấu Đồ ký của đơn vị Thuyền.

Dấu Nam hưng đồ ký[224] 南興圖記 (Đồ ký thuyền Nam Hưng) có cỡ 4x5,3cm, bốn chữ Triện chia hai hàng. Dấu đóng trên chữ “nguyệt” dòng ghi niên đại Minh Mệnh thứ 19 (1838), phía dưới có dòng chữ Hán với nội dung là bản trình báo của các sĩ quan thuyền Nam Hưng khi đi công cán trở về. (H. 164)



Hiện tượng có hai kiểu chữ (Triện thư và Chân thư) trong cùng một con dấu cũng trong loại hình Đồ ký. Hai hình dấu của ví dụ dưới đây sẽ kết thúc dẫn chứng của mục: “Ấn chương trong binh chế quân đội thời Nguyễn”.

Dấu Kinh tượng nhất vệ đồ ký[225] 京象壹衛圖記 (Đồ ký của Vệ thứ nhất Kinh tượng), có cỡ 4,0x5,4cm. Chiều dài dấu 5,4cm được chia làm hai phần bằng một đường kẻ ngang, phần trên nhỏ cỡ 1,2x4,0cm trong là hai chữ “Kinh tượng” 京象, kiểu chữ Chân xếp theo hàng ngang, phần dưới cỡ chữ 4,0x4,2cm là bốn chữ Triện “Nhất vệ đồ ký” 壹衛圖記 xếp theo hai hàng dọc. Dấu đóng ở đoạn chữ “nguyệt” dòng niên hiệu ghi năm Minh Mệnh thứ 16 (1835). Trang trước có dòng chữ Hán ghi rõ chức tước của viên chỉ huy là Lê Văn Thụy tước Thông cương nam ở Vệ thứ nhất Kinh tượng thuộc Tượng binh. (H. 165)



Dấu Cẩm y túc trực đồ ký 錦衣肅直圖記 (Đồ ký của ban Túc trực Vệ cẩm y) có cỡ 4,0x5,4cm, cũng được chia làm hai phần giống như dấu trên. Phần trên là hai chữ Chân “Cẩm y” 錦衣 phần dưới là bốn chữ Triện “Túc trực đồ ký” 肅直圖記, dấu cũng đóng ở dòng niên hiệu ghi năm Minh Mệnh thứ 16 (1835). Đây là dấu của viên sĩ quan chỉ huy ban Túc trực vệ Cẩm y thuộc Thân binh bảo vệ Hoàng thành. (H. 166)



Đời Đồng Khánh binh chế quân đội vẫn giữ nguyên như cũ, có điều chỉnh lại đôi chút, giảm biên chế, dồn hai Dực tả, hữu Doanh Vũ lâm quân Cấm binh làm 4 Vệ, dồn 2 Doanh tả, hữu Thủy sư làm hai Vệ, số quân linh tinh ở các Doanh, Vệ: Tiền phong, Long vũ, Hổ oai v.v… dồn thành một Vệ.

Về ấn, Kiềm Quan phòng, Đồ ký đời Đồng Khánh không thay đổi lớn, chủ yếu vẫn duy trì các loại hình ấn triện cũ, bỏ một số Quan phòng, Đồ ký những đơn vị giảm biên chế, đồng thời đúc lại những ấn triện bị mất. Trên thực tế ở các sách chữ Hán đời Đồng Khánh chúng tôi thấy xuất hiện rất ít ấn dấu quân đội, chỉ có thưa thớt hình dấu kiềm Thống soái, Loan giá với nét chữ Triện xấu và đơn giản hơn do chất liệu xấu và kỹ thuật làm ấn triện kém hơn trước.

Ấn triện trong quân đội nhiều khi được hưởng chế độ ưu tiên riêng ngoài quy định chung. Như lệ phong, khai ấn thì đều dùng cho tất cả các loại hình ấn triện ở mọi ngành, riêng ấn triện trong quân đội ở thời kỳ và những khu vực có chiến tranh giặc giã, quân binh xuất chinh, nếu quân vụ chưa xong thì các quan tướng ở nơi đó vẫn giữ nguyên ấn triện, Quan phòng, Đồ ký và miễn lệ phong ấn, khai ấn.
 
CHƯƠNG III

ẤN CHUƠNG TRONG CÁC CẤP CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHUƠNG THỜI NGUYỄN


Sau chiến tranh, Gia Long bắt tay vào việc xây dựng và củng cố chính quyền từ trung ương đến địa phương, họ Nguyễn áp dụng chính sách tản quyền chia lãnh thổ thành ba khu vực Bắc, Trung và Nam, đồng thời thiết lập các cấp chính quyền từ cấp thành xuống phủ, huyện.

Năm 1820 Minh Mệnh lên ngôi đã chuẩn bị cho công cuộc cải cách hành chính từ trung ương xuống tới địa phương. Đến năm 1832 bãi bỏ cấp thành và các trấn được đổi hết là tỉnh, giai đoạn tản quyền chấm dứt và bắt đầu thời kỳ mới: Trung ương tập quyền tồn tại đến hết vương triều Nguyễn.

Chính sách cũng như công cuộc cải cách hành chính ở địa phương của Gia Long và Minh Mệnh đã làm thay đổi trực tiếp đến việc sử dụng và thay đổi ấn chương trong các cấp chính quyền địa phương, thời kỳ tản quyền và tập quyền được coi là điểm mốc để việc trình bày về ấn chương có trình tự và theo hệ thống lịch sử từ đầu đến cuối.

I. Ấn, Chương và Tín chương trong tổ chức hành chính cấp thành, trấn, doanh, đạo

1. Ấn và Chương trong tổ chức hành chính cấp thành, trấn, doanh


Dưới triều Nguyễn, Chương chỉ xuất hiện và tồn tại từ thời Gia Long cho đến năm 1832 triều Minh Mệnh. Do mối liên hệ giữa ấn chương và tổ chức hành chính quan chế triều Nguyễn, nên cần phải tìm hiểu sự phân chia khu vực hành chính của Việt Nam đầu thời Nguyễn. Khi lên ngôi, Gia Long chia nước thành ba khu vực: Bắc, Trung và Nam. Bắc thành ở miền Bắc quản 11 trấn và các đạo phủ lẻ; Gia Định thành ở miền Nam quản 5 trấn; Trung phần từ Thanh Hoa trở vào đến Bình Thuận gồm 3 trấn và 9 Doanh thì trực thuộc thẳng triều đình (Kinh đô Huế). Tháng 9 năm 1802 Gia Long đặt Bắc thành và phong Khâm sai chưởng Tiền quân Bình tây Đại tướng quân Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn. Sử cũ chép: “Lấy Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bắc thành, ban cho sắc ấn, 11 trấn nội ngoại đều lệ thuộc, phàm những việc cất bãi quan lại, xử quyết kiện tụng đều được tùy tiện mà làm rồi sau đó mới tâu lên”[226]. Tổng trấn Nguyễn Văn Thành được nhận lãnh bộ ấn kiềm Bắc thành tổng trấn chi ấn, ấn bạc núm hình sư tử.

Trong Châu bản đời Gia Long chúng tôi tìm thấy hình dấu Bắc thành tổng trấn chi ấn 北城總鎭之印 (ấn của Tổng trấn Bắc thành). Dấu hình vuông, kích thước 8,8x8,8cm, sáu chữ Triện chia 3 hàng nét vuông vức[227]. Dấu đóng cuối dòng ghi niên hiệu ngày tháng năm Gia Long thứ 17 (1818), cạnh dấu có dòng chữ ghi tên viên Tổng trấn và Hiệp Tổng trấn là Lê Tông Chất và Lê Văn Phong[228]. (H. 167)



Trong tập Công văn cổ chỉ chúng tôi tìm thấy 2 dấu kiềm hình vuông, kích thước 2,7x2,7cm trong khắc 2 chữ Triện Bắc thành[229] 北城 dòng niên đại bị rách 2 chữ đầu chỉ đọc được 10 chữ Hán Thập nhất niên thập nguyệt thập cửu nhật. Phía dưới là dòng 5 chữ Hán lớn Nhị thập tứ nhật đáo (Đến ngày 24), hình dấu kiềm Bắc Thành đóng đè lên chữ Tứ nhật. Bên phải dòng niên hiệu có 3 chữ lớn Phó duyệt trình (trao cho duyệt trình lên trên) và dưới là hình dấu kiềm Bắc thành nữa. Qua 2 dấu kiềm Bắc thành chúng tôi đã xác định chính xác 2 chữ bị mất là “Minh Mệnh” và dòng ghi niên đại đầy đủ là Minh Mệnh thập nhất niên thập nguyệt thập cửu nhật (Ngày 19 tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 11 [1830]). Bởi vì dấu kiềm Bắc Thành chỉ tồn tại đến năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) thì triều Nguyễn xóa bỏ cấp thành và đổi trấn thành tỉnh, các ấn kiềm (trong đó có Kiềm Bắc thành) được thu hồi không dùng và thay vào đó là loại ấn triện mới. Bốn góc (ở vị trí bốn góc dấu lớn) của đoạn ghi ngày tháng dòng niên đại của văn bản có 4 chữ Tuyên Quang trấn ấn đã giúp chúng tôi khẳng định đây là một bản sao có đóng dấu kiềm của Bắc thành (cấp chính quyền chủ quản của trấn Tuyên Quang). Bản sao y bản chính này được thay thế cho bản gốc lưu lại hồ sơ làm bằng chứng, và như vậy nó được coi là một văn bản mang tính pháp quy có giá trị như bản gốc chính. (H. 168)



Năm Gia Long thứ 7 (1808) Gia Long thấy địa thế Gia Định rộng lớn nên đổi Gia Định trấn làm Gia Định thành cho quản lý 5 trấn, sử cũ ghi: “Đến tháng 9 năm 1808 bắt đầu đặt chức Tổng trấn Gia Định thành, lấy Nguyễn Văn Nhân[230] làm Tổng trấn, Trịnh Hoài Đức[231] làm Hiệp Tổng trấn. Ban ấn Tổng trấn thành Gia Định (ấn bạc núm hình sư tử)”[232]. Như vậy Nguyễn Văn Nhân được sử dụng bộ ấn Kiềm Gia Định thành tổng trấn chi ấn. Đến mùa thu năm Minh Mệnh thứ 1 (1820) Lê Văn Duyệt[233] lĩnh chức Tổng trấn Gia Định thành thay Nguyễn Văn Nhân, Lê Văn Duyệt đã nhận lại bộ ấn kiềm Gia Định từ tay Nguyễn Văn Nhân.

Trong Châu bản triều Nguyễn còn lưu giữ hình dấu Gia Định thành tổng trấn chi ấn 嘉定城總鎭之印 (ấn của Tổng trấn thành Gia Định) có hình thức kích cỡ giống như ấn Bắc Thành tổng trấn chi ấn, 7 chữ Triện chia 3 hàng, vị trí có khác là đóng ở đoạn ngày tháng dòng ghi niên hiệu, ghi năm Minh Mệnh thứ 7 (1826). Đây là ấn dấu của Lê Văn Duyệt trong một bản truyền sai về địa phận Gia Định[234]. (H. 169)



Đời Gia Long đến đầu Minh Mệnh, các cấp trấn, doanh, đạo đều dùng một loại ấn chất liệu bằng đồng, núm khắc con hổ, vuông hai tấc, ở vị trí cuối cùng dòng chữ trong dấu khắc chữ “Chương” 章. Ví dụ, 1 dấu có chữ chương áp trên văn bản tập Công văn cựu chỉ. Dấu hình vuông cỡ 8,4x8,4cm, 6 chữ Triện xếp thành 3 hàng, kiểu chữ khắc vuông vức, đó là 6 chữ Thanh Hoa trấn thủ chi chương[235] 清華鎭守之章 (Chương của chức Trấn thủ trấn Thanh Hoa). Dấu được đóng dưới chữ “nhật” phía dưới dòng ghi niên đại Gia Long tam niên thập nguyệt nhị thập ngũ nhật (Ngày 25 tháng 10 năm Gia Long thứ 3 [1804]). Trong văn bản ghi rõ chức quan của con dấu này là Khâm sai chưởng Hữu doanh Đô thống chế lãnh Thanh Hoa trấn. Thời Gia Long đến đầu Minh Mệnh, đứng đầu các trấn vẫn là các võ quan, bên cạnh có các chức Hiệp trấn, Tham hiệp phụ giúp. (H. 170)



Các doanh ở Trung kỳ dùng ấn chương, như dấu Quảng Nam doanh chi chương[236] 廣南營之章 (chương của doanh Quảng Nam) có kích cỡ giống như dấu Thanh Hoa trấn thủ chi chương, chữ “Doanh” 營 ở giữa dài gấp đôi hai chữ hàng bên. Vị trí dấu cũng đóng dưới chữ “nhật” của dòng ghi niên đại năm Minh Mệnh thứ 7 (1826). Đứng đầu mỗi doanh là chức Lưu thủ, có các chức Cai bạ và Ký lục phụ tá. (H. 171)



Lật giở chính sử chúng tôi thấy những điểm không khớp giữa chính sách và thực tiễn về ấn chương thời Nguyễn. Sử cũ ghi vào năm Tân Tị Minh Mệnh thứ 2 (1821): “Đúc… ấn đồng cho các doanh, trấn, đạo, phủ, châu, huyện (Trước thì ấn triện có các doanh, trấn, đạo đều khắc 5 chữ Triện: Mỗ doanh, Mỗ trấn, Mỗ đạo chi chương). Đến nay đúc ấn triện cho các doanh, trấn, đạo đều khắc 4 chữ Triện Mỗ doanh ấn, hoặc Mỗ trấn ấn, hoặc Mỗ đạo ấn”[237].

Có những cấp dùng ấn chương thay đổi đúng như quy chế là việc đổi “chương” thành “ấn” như trấn Thanh Hoa. Trong Châu bản triều Nguyễn xuất hiện dấu Thanh Hóa trấn ấn[238] 清華鎭印 (ấn của trấn Thanh Hóa), có kích cỡ bằng “chương” cũ, nhưng viền ngoài dấu nhỏ hơn cỡ: 0,7cm. Dấu có 4 chữ Triện nên khuôn chữ to hơn, kiểu chữ khác hơn, vị trí dấu đã thay đổi, đóng vào trên chữ “nguyệt” của dòng ghi niên hiệu năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) (H. 172). Nhưng có những doanh cho đến năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) vẫn dùng chương như dấu Quảng Nam doanh chi chương mà chúng tôi đã giới thiệu ở trên.



Tính chất phức tạp của ấn dấu thể hiện rõ trong giai đoạn này. Trên cùng một tập công văn có cùng dạng văn bản như nhau (Niên đại ghi cùng một thời gian, có cấp đơn vị ngang nhau, ở cùng một khu vực Trung kỳ) lại xuất hiện 2 hình dấu khác nhau hoàn toàn về tên cấp hành chính và tên ấn, mà trước đó không lâu chúng có tên cấp hành chính và tên ấn như nhau. Hai dấu Quảng Nam doanh chi chương và Bình Định trấn ấn 平定鎭印 (ấn của trấn Bình Định) cùng đóng trong một tập với cùng niên đại ghi trên văn bản là Minh Mệnh thứ 7 (1826)[239]. Nếu theo quy định cũ, Bình Định vẫn là doanh thuộc Trung kỳ như Quảng Nam. Sự thay đổi doanh thành trấn phải được tiến hành đồng bộ cùng một lúc? Việc dùng ấn cũng phải được thực hiện cùng một lúc (?) (H. 173)



Những trên thực tế lúc này - Minh Mệnh thứ 7 (1826), vua Minh Mệnh đang tiến hành phân chia lại khu vực, thay đổi điều chỉnh phẩm cấp quan chức, tên gọi các cấp, thực chất mới tiến hành sơ bộ bước đầu một số nơi, chưa triệt để đồng bộ trong thời gian ngắn, nên tạm thời cùng một lúc công nhận hai loại ấn triện trên. Đến năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), doanh được đổi hết làm trấn và tất cả các “chương” được bộ Lễ thu hồi. Tới năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) ở miền Bắc và năm Mệnh Mệnh thứ 13 (1832) ở miền Nam, bãi bỏ cấp thành (Tổng trấn) và tất cả các trấn được đổi làm tỉnh trực thuộc thẳng triều đình, giai đoạn tản quyền đến đây chấm dứt.
 
2. Tín chương

Công việc tiếp xúc với văn bản đã giúp ta hiểu thêm rằng đời Gia Long và đầu Minh Mệnh mọi quy chế chưa thực ổn định, chính sử sau này cũng không nói tới. Ngoài Chương ra, thời gian đầu Nguyễn sơ còn xuất hiện loại ấn nữa có tên là Tín chương 信章.

Tín chương được dùng cho các viên quan Khâm sai, Khâm phái ở đơn vị hành chính dưới cấp doanh, trấn và trên cấp huyện. Quản đạo là quan đứng đầu một đạo được dùng ấn Tín chương.

Chúng tôi xin giới thiệu một Tín chưcmg áp trên văn bản chữ Hán. Dấu hình vuông cỡ 7,4x7,4cm, chữ Triện khắc vuông vức với 4 chữ Khâm mệnh tín chương 欽命信章 (Tín chương của quan khâm sai). Dấu được đóng dưới chữ “nhật” 日 về bên phải dưới dòng ghi niên hiệu Gia Long thập tứ niên tam nguyệt sơ tứ nhật (Ngày mồng 4 tháng 3 năm Gia Long thứ 14 [1815])[240]. Trước trang có hình dấu của bản “Phó” này là trang ghi chủ nhân của hình dấu là Quản đạo đạo Thanh Bình, tước Thành Tín hầu trong công văn nói về phủ Thiên Quan đạo Thanh Bình[241]. (H. 174)



Cũng như Chương, Tín chương chỉ tồn tại đến đầu đời Minh Mệnh, sự phân cấp khu vực, đổi tên các đơn vị hành chính, thay đổi thang quan chế bước đầu của vua Minh Mệnh đã đổi đạo Thanh Bình thành đạo Ninh Bình[242]. Giống như Chương của các doanh, trấn, Tín chương được đổi làm ấn theo chỉ dụ của vua từ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), nhưng mãi mấy năm sau việc thực hiện mới xong. Tín chương được thu hồi không dùng nữa, thay thế bằng ấn mới có khắc chữ “ấn” ở vị trí chỗ chữ “chương”. Trên văn bản năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), dấu Ninh Bình đạo ấn 寧平道印 (ấn của đạo Ninh Bình) xuất hiện với cỡ dấu bằng dấu Khâm mệnh tín chương. Dấu được áp trên văn bản có ghi niên đại Minh Mệnh ngũ niên thập nguyệt sơ lục nhật. Ngày 6 tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 5 (1824)[243], vị trí của dấu có khác hơn là đóng vào chữ “nguyệt” ở dòng ghi niên đại. Hình thức dấu với 4 chữ Triện khác nhau và nét chữ cũng khác nhau, thực chất đây là dấu thay thế dấu cũ mang tính chất ổn định và rõ ràng hơn. (H. 175)

Chương và Tín chương là hai loại hình ấn xuất hiện và tồn tại trong khoảng thời gian ngắn so với các loại hình ấn khác, nhất là nó lại ở thời kỳ đầu triều Nguyễn, lúc mà mọi quy chế chưa ổn định. Do vậy việc tìm hiểu chúng gặp không ít khó khăn, chúng tôi bước đầu chỉ giới thiệu một cách khái quát sơ bộ như vậy.

 
II. Quan phòng và ấn kiềm với việc thành lập và cố định cấp tỉnh

1. Quan phòng chức vụ và kiềm ấn của Tổng đốc, Tuần phủ ở cấp tỉnh và liên tỉnh


Giai đoạn tản quyền chấm dứt vào tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), triều đình Nguyễn thiết lập tỉnh thay cho trấn, trừ phủ Thừa Thiên toàn quốc được chia làm 30 tỉnh. Theo nguyên tắc tổ chức hành chính mới ở địa phương cấp tỉnh phải có một chức quan cao cấp lãnh đạo, nhưng vì địa thế một số tỉnh xa trung ương, đồng thời để thuận lợi cho việc quản lý nên Minh Mệnh đã ghép 30 tỉnh thành 14 liên tỉnh, trừ tỉnh Thanh Hoa là đất phát tích. Tất cả quan chức cấp tỉnh đều được ban ấn kiềm, Quan phòng mới để sử dụng.

Triều Nguyễn Minh Mệnh đặt chức Tổng đốc đứng đầu mỗi liên tỉnh, Tổng đốc vừa là chức quan cao nhất ở địa phương vừa là một Khâm sai đại thần tại địa phương đó. Phẩm hàm của Tổng đốc ngang với chức Thượng thư ở mỗi Bộ, quản hạt của Tổng đốc không có danh xưng mà chỉ dùng tên địa phương để gọi. Tổng đốc ở tỉnh nào thì kiêm luôn chức Tuần phủ ở tỉnh đó, những liên tỉnh nhỏ hoặc không quan trọng thì đặt Tuần phủ chứ không đặt Tổng đốc.

Sử cũ ghi: “Năm (Minh Mệnh) 12 (1831) chuẩn nghị: Chia ra từng hạt đặt ra quan, từ Quảng Trị ra Bắc chia làm 18 tỉnh, Quảng Nam trở vào phía Nam chia làm 12 tỉnh, đều chuẩn kiêm hạt đặt ra một Tổng đốc, chia hạt đặt 1 Tuần phủ, vậy nên đúc ấn Quan phòng bằng bạc cấp cho mỗi tỉnh một, đều núm thẳng, dài 2 tấc 2 phân, ngang 1 tấc 4 phân, dầy 2 phân 3 ly. Dấu kiềm bằng ngà đều mỗi tỉnh một,…”[244].

Như vậy Tổng đốc, Tuần phủ không dùng ấn quan mà sử dụng Quan phòng chức vụ và kiềm nhỏ hình vuông. Quan phòng của Tổng đốc khắc tên địa phương (liên tỉnh) mà viên Tổng đốc đó quản hạt.

Việc đóng dấu Quan phòng trên văn bản của Tổng đốc, Tuần phủ cũng được quy định trong Đại Nam điển lệ: “Lệ năm Minh Mệnh 13 (1832) định: Quan Tổng đốc Tuần phủ ở các tỉnh ấn Quan phòng… đều dùng hộp son đóng trên chữ “nguyệt” ở dòng niên hiệu”[245]. Xin giới thiệu một dấu Quan phòng và dấu kiềm của Tổng đốc một liên tỉnh. Dấu hình chữ nhật có kích thước 6,0x9,3cm, viền ngoài 0,8cm, 8 chữ Triện chia 3 hàng, hai chữ ở giữa dài gấp rưỡi chữ hàng bên, là 8 chữ Quảng Nam Quảng Ngãi tổng đốc quan phòng 廣南廣義總督關防 ( Quan phòng của Tổng đốc liên tỉnh Quảng Nam Quảng Ngãi). Dấu đóng trên chữ “nguyệt” dòng ghi niên hiệu Tự Đức thập thất niên lục nguyệt thập thất nhật (Ngày 17 tháng 6 năm Tự Đức thứ 17 [1864]). Bên phải có dấu kiềm hình vuông cỡ 2,6x2,6cm, 2 hàng với 4 chữ Triện trong dấu là: Nam Ngãi tổng đốc 南義總督 (Tổng đốc liên tỉnh Nam Ngãi). Kiểu chữ giống như chữ ở Quan phòng lớn trên, dấu kiềm được đóng dưới 2 chữ “Y lệnh” 依令. phía dưới dấu Quan phòng lớn là dòng chữ Hán “Lý trưởng Nguyễn Văn Vinh ký” tiếp dưới là hình dấu triện rách nhòe không đọc được[246].



Cũng trong tập Công văn cựu chỉ[247] dấu hình chữ nhật cỡ 6,0x9,3cm, viền ngoài nét đậm cỡ 0,4cm, 6 chữ Triện xếp theo chiều dọc 2 hàng, kiểu chữ vuông thẳng, là 6 chữ Ninh Bình tuần phủ quan phòng 寧平巡撫關防 (Quan phòng của Tuần phủ tỉnh Ninh Bình). Dấu áp trên chữ “nguyệt” dòng niên đại Minh Mệnh thập tam niên nhị nguyệt sơ thập nhật. Đây là dấu Quan phòng chức vụ của quan Tuần phủ tỉnh Ninh Bình, đóng vào ngày 10 tháng 2 năm Minh Mệnh thứ 13 (1832). Bên cạnh dấu Quan phòng lớn này có hình dấu kiềm nhỏ đóng nơi giáp trang, dấu kiềm hình vuông cỡ 2,4x2,4cm, hai hàng với 4 chữ Triện Ninh Bình tuần phủ (Tuần phủ tỉnh Ninh Bình). (H.177)

Cũng trong tập Công văn cựu chỉ[248] chúng tôi thấy xuất hiện dấu Ninh Bình tuần phủ quan phòng khác có kích cỡ, vị trí của dấu, 6 chữ Triện y như dấu trên. Nhưng nhìn kỹ thì thấy dấu thứ hai này có hai đường viền và nét chữ Triện mềm cong và ít nét hơn. Dấu đóng trên chữ “nguyệt” dòng ghi niên đại Tự Đức tam thập niên thập nhị nguyệt nhị thập bát nhật (Ngày 28 tháng 12 năm Tự Đức thứ 30 [1877]). Phía dưới dấu là 2 dòng chữ ghi tên họ của viên Thư lại và viên Thông phán ở Phiên ty. (H. 178)


 
2. Bố chính sứ và án sát sứ với việc dùng ấn kiềm

Ở mỗi tỉnh nhà Nguyễn đặt ra hai ty trực thuộc sự cai quản của Tuần phủ hay Tổng đốc.

Ty Bố chính sứ (hay Phiên ty) trông coi việc đinh điền, đê điều thuế khóa, tài chính, hộ tịch. Đặt chức Bố chính sứ đảm nhiệm.

Ty án sát sứ (hay Niết ty) coi việc hình án, phong hóa kỷ cương, trừng thanh quan lại, giao thông trạm dịch. Do chức Án sát sứ đảm nhiệm.

Bố chính sứ và Án sát sứ không dùng Quan phòng chức vụ như Tổng đốc, Tuần phủ mà sử dụng bộ ấn kiềm của một ty có chủ quản trực tiếp. Sử cũ ghi: “Năm thứ 12 (1831) nghị chuẩn: lần này đã phân hạt đặt quan, mỗi hạt đặt một Bố chính sứ, một Án sát sứ, nghĩ nên đúc ấn đồng núm thẳng, vuông 1 tấc 8 phân và chế con dấu kiềm bằng ngà mỗi hạt Bố chính, Án sát đều cấp cho một để dùng”.

Tại Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội còn giữ được mấy quả ấn thời Nguyễn. Quả ấn ký hiệu LSb 2528 có núm hình chuôi vồ thắt đáy, cao 7cm và dầy 1,2cm. Trên mặt phần núm ấn khắc 2 dòng chữ Hán. Dòng bên phải ghi: Minh Mệnh thập nhị niên (Minh Mệnh thứ 12 [1831]), bên trái ghi: Trọng thập nhị lượng ngũ tiền tam phân (Nặng 12 lượng 5 tiền 3 phân), dấu hình vuông cỡ 7,5x7,5cm, 8 chữ Triện xếp theo 4 hàng là 8 chữ Hưng Hóa bố chính sứ ty chi ấn 興化布正使司之印 nét chữ cong mềm, khuôn chữ nhỏ và dài để cân đối với bố cục dấu hình vuông. Đây là ấn của ty Bố chính sứ tỉnh Hưng Hóa. (H. 179 a,b,c,d)

Quả ấn ngà duy nhất thuộc thời Nguyễn ở Viện Bào tàng Lịch sử có ký hiệu LSb 463/GI 253, ngoại hình kiểu hình tháp bằng đầu, mặt trên không ghi niên đại, dấu hình vuông cỡ 2,5x2,5cm, bốn chữ Triện chia hai hàng Hưng Hoá án sát 興化按察. Đây là Kiềm ấn của viên Án sát sứ tỉnh Hưng Hóa, đi cùng cặp với ấn lớn Hưng Hóa án sát sứ ty chi ấn. Nhưng ấn lớn đã bị mất, tại địa phương này, người ta chỉ tìm thấy một ấn lớn của Bố chính sứ và một kiềm nhỏ của Án sát sứ Hưng Hóa. (H. 180)




Cũng như các loại hình ấn khác, những chứng tích ấn dấu của Bố chính, Án sát đến nay chỉ còn lại trên văn bản chữ Hán, xin giới thiệu dấu ấn - kiềm của Bố chính sứ Ninh Bình. Dấu hình vuông cỡ 7,5x7,5cm, 8 chữ Triện chia 4 hàng, nét chữ mềm cong là 8 chữ Ninh Bình bố chính sứ ty chi ấn 寧平布正使司之印 (ấn của Ty bố chính sứ tỉnh Ninh Bình). Dấu đóng trên chữ “nguyệt” dòng ghi niên hiệu Thiệu Trị nhị niên thập nhị nguyệt thập thất nhật (Ngày 17 tháng 12 năm Thiệu Trị thứ 2 [1842]).

Phía dưới dấu lớn về bên trái là dấu kiềm với 4 chữ Triện Ninh Bình bố chính 寧平布正 đóng dưới chữ “chấp bằng” - chứng thực của bản phó[249]. Dấu hình vuông cỡ 2,5x2,5cm, 2 chữ “Ninh Bình” nét chữ có khác 2 chữ “Ninh Bình” ở dấu lớn trên. Điều này cho thấy không phải bất cứ tự dạng của một dấu kiềm nào cũng phải giống tự dạng của ấn. Quan phòng lớn cùng cặp[250]. Phía bên phải là dòng chữ Hán ghi tên họ của viên Lý trưởng và một dòng khác ghi tên họ của viên Vị nhập lưu thư lại ở Phiên ty. (H. 181)



Xin giới thiệu tiếp dấu ấn của ty Án sát sứ Hà Nội. Dấu hình vuông cỡ 7,5x7,5cm, 8 chữ Triện trong dấu Hà Nội án sát sứ ty chi ấn 河內按察使司之印 (ấn của ty Án sát sứ tỉnh Hà Nội ). Dấu đóng trên chữ “nguyệt” dòng ghi niên đại Minh Mệnh thập lục niên nhuận lục nguyệt thập nhị nhật bên trái là dòng chữ Hán kê khai việc hình phạm ở địa phương. Có hình 4 dấu Kiềm đóng đè trên chữ tên họ người, dấu Kiềm hình vuông cỡ 2,5x2,5cm, 4 chữ Triện Hà Nội án sát 河內按察 có nét khắc vuông vức hơn nét chữ ở dấu lớn trên. Dấn ấn của viên Án sát sứ tỉnh Hà Nội này đóng vào ngày 12 tháng 6 nhuận năm Minh Mệnh thứ 16 (1835). (H.182)

Ở các tỉnh khi mà chức Tổng đốc, Tuần phủ đi vắng; hoặc tỉnh vẫn khuyết chân Tuần phủ, nếu có việc cơ mật quan Bố chính phải họp với quan Án sát sứ. Công văn tấu trình lên phải đóng liền hai dấu của Bố chính sứ và Án sát sứ trên đoạn ngày tháng dòng ghi niên hiệu (Hai dấu đóng dính nhau với dòng ghi niên hiệu ở giữa).

Lệ về ấn, Quan phòng đối với các chức quan cấp tỉnh được chính sử ghi: “Lệ năm Minh Mệnh 14 (1833) định rằng phàm hạt nào gồm các quan Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, Án sát cùng một tỉnh, khi gặp có khuyết một trong bốn chức nói trên thì ấn triện của quan Tổng đốc chuẩn giao cho quan Tuần phủ tạm giữ; ấn triện của quan Tuần phủ chuẩn giao cho quan Tổng đốc; ấn triện của quan Bố chính hay Án sát đều chuẩn giao cho quan Tổng đốc. Nếu khi ấy không có quan Tổng đốc thì giao cho quan Tuần phủ. Hạt nào chức hàm Tổng đốc mà lĩnh Tuần phủ, hay hàm Tuần phủ mà thự Tổng đốc quan phòng cùng với quan Bố hay Án một tỉnh, khi khuyết chức nào thì ấn triện của quan Bố hay quan Án đều giao cho quan Tổng đốc hay Tuần phủ tạm giữ… “[251].



Các ngạch khác ở cấp tỉnh cũng được sử dụng Quan phòng chức vụ riêng như chức Đề đốc, Lãnh binh, Phó lãnh binh được dùng Quan phòng bằng đồng, Kiềm bằng ngà hoặc bằng gỗ, Nha Học chính dùng Quan phòng bằng đồng và dấu kiềm bằng gỗ.

Nạn giặc giã, chiến tranh ở một số tỉnh thuộc hai khu vực Nam kỳ và Bắc kỳ thời Nguyễn tương đối nhiều. Do đó ấn triện bị thất lạc không ít, nên từ thời Minh Mệnh thứ 14 (1833) đã có chỉ dụ về việc đổi cấp ấn triện khác thay cho những cái đã bị mất. Sau loạn Nam kỳ năm 1833 vua Minh Mệnh ra chỉ dụ: “… Nay chuẩn y theo kiểu chế tạo quan hàng Tổng đốc định liệu ấn Quan phòng Tuần phủ Gia Định, ấn triện Bố chính Án sát… Các quan viên trên này đều một ấn triện Quan phòng dấu Kiềm ký và ấn triện phủ huyện sáu tỉnh ấy hơi khác đi 1, 2 nét chữ nhằm có thể phân biệt thật giả để tiện giao cho viên mới bổ nhiệm, sử dụng. Còn những quả ấn Quan phòng, ấn triện dấu Kiềm trước, chuẩn đợi sau tra rõ xem thất lạc vào đâu, nếu có còn để phải nộp về Bộ để hội đồng tiêu hủy đi”[252].
 
III. Ấn, Đồ ký ở cấp phủ, phân phủ, huyện, châu

Ngay từ thời Gia Long đến đầu Minh Mệnh đã phân cấp phủ, huyện, châu và đặt các chức Tri phủ đứng đầu một phủ và Tri huyện quản lãnh một huyện. Thời kỳ này phủ đặt hai viên Tri phủ, mỗi huyện đặt hai viên Tri huyện gọi là Đông đường và Tây đường. Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) vua xuống chỉ chuẩn cho các phủ, huyện, châu đều được sử dụng ấn bằng đồng. Tới năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) quy định về ấn triện cụ thể hơn: “ … Phàm các phủ thuộc về Trực lệ[253] ấn bằng đồng, vuông một tấc 6 phân 7 ly, trong khắc 4 chữ Triện Mỗ phủ ấn. Các huyện thuộc về Trực lệ, ấn bằng đồng vuông 1 tấc 5 phân 3 ly, trong khắc chữ Triện Mỗ huyện ấn. Các phủ thuộc các thành, trấn ấn bằng đồng vuông 1 tấc 6 phân 2 ly, trong khắc 4 chữ Triện Mỗ phủ ấn. Các huyện, châu thuộc các thành, trấn ấn bằng đồng vuông 1 tấc 4 phân, trong khắc 4 chữ Triện Mỗ huyện ấn”[254].

Thời gian này nhà Nguyễn chú ý nhiều đến cấp phủ, huyện châu. Thống kê cả nước có 37 phủ và 127 huyện, châu. Tổng cộng 164 phủ, huyện, châu đều được ban cấp ấn bằng đồng và kiềm gỗ, có quy định cả về mực đóng dấu và dây đeo ấn của mỗi loại. Đến năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) nhà vua xuống chỉ cho phủ huyện ở các thành, doanh, trấn giảm một viên Tri phủ ở mỗi phủ và một viên Tri huyện ở mỗi huyện, nên việc sử dụng ấn triện ở cấp phủ, huyện được ổn định hơn.

Công cuộc cải cách hành chính ở địa phương với việc bãi bỏ cấp thành và các trấn được đổi làm tỉnh vào năm 1831 - 1832 đã làm thay đổi không ít đến cấp phủ, huyện, châu. Cấp phân phủ với chức Đồng tri phủ ra đời và được ban cấp ấn Đồ ký. Sử cũ ghi: “Phủ huyện các địa phương trong đó có phủ rất trọng yếu hay trọng yếu mà thiếu người làm việc, nơi nào bốn huyện trở lên đặt một viên Đồng tri phủ cấp thêm một phân phủ Đồ ký bằng đồng và một Kiềm bằng gỗ (Đồ ký dài 1 tấc 4 ly ngang 1 tấc 8 ly, núm vòng tròn, trong khắc chữ Triện: Mỗ phân phủ đồ ký)”[255].

Đồ ký đồ dùng cho các quan nhỏ ở cấp dưới mới đặt, hoặc đã có nhưng để phân biệt với ấn triện của các chức quan ở cấp tương đương hoặc gần tương đương. Các chức Huyện thừa, Giáo thụ, Huấn đạo, Trưởng quan các ty v.v… đều sử dụng Đồ ký. Đây là việc làm khoa học của triều Nguyễn - Minh Mệnh trong việc kiện toàn tổ chức hành chính địa phương với gần 200 đơn vị phủ, phân phủ, huyện, châu. Rõ ràng sự phức tạp trong công tác quản lý của cấp tỉnh và cả trung ương đối với cấp phủ, huyện (và các cấp tương đương) sẽ giảm hơn so với trước, đồng thời nó là mực thước cho các vua Nguyễn sau này noi theo.

Việc đóng dấu ấn, Đồ ký cùng Kiềm ấn của các cấp phủ phân phủ, huyện, châu được quy định rõ. Ấn, Đồ ký phải đóng trên chữ tháng “mỗ” ở dòng chữ niên hiệu, kiềm ấn đóng ở chỗ tẩy xóa, sửa chữa và chỗ giáp trang.

Xin giới thiệu một dấu cấp phủ trong tập Công văn cổ chỉ[256]. Dấu hình vuông, cỡ 6,9x6,9cm. Bốn chữ Triện khắc vuông vức chia hai hàng, là 4 chữ Quốc Oai phủ ấn 國威府印 (Ấn của phủ Quốc Oai). Dấu đóng trên chữ “nguyệt” dòng ghi niên hiệu Minh Mệnh thập niên lục nguyệt sơ cửu nhật. Đây là ấn dấu của viên Tri phủ phủ Quốc Oai trong một bản tấu đóng vào ngày 9 tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 10 (1829). Bên trái dấu Tri phủ trên là hai dòng chữ Hán ghi tên tuổi của bốn người có kiềm dấu rất nhỏ đóng dưới mỗi tên, vì mờ nhòe nên không đọc được. Tuy nhiên qua ngoại hình và nét nhòe của dấu chúng tôi khẳng định đây không phải là dấu kiềm phủ Quốc Oai, cũng không phải là kiềm dấu có chữ Tín, loại Kiềm dấu này hiếm thấy trong các văn bản chữ Hán thời Nguyễn. (H. 183)

Xin giới thiệu tiếp dấu Đồ ký của một phân phủ trong tập Công văn cổ chỉ[257]. Dấu hình chữ nhật cỡ 4,6x4,6cm, sáu chữ Triện chia hai hàng. Nét chữ mềm cong rõ nét là 6 chữ Ứng Hòa phân phủ đồ ký 應和分府圖記 (Đồ ký của phân phủ Ứng Hòa). Dấu đóng trên chữ “nguyệt” dòng ghi niên hiệu Minh Mệnh thập bát niên lục nguyệt nhị thập tứ nhật. Đây là dấu của chức quan Đồng Tri phủ phụ trách phân phủ Ứng Hòa đóng vào ngày 24 tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 18 (1837). (H. 184)

Việc thay đổi cấp phủ, phân phủ, huyện, châu thời Nguyễn không chỉ diễn ra một lần, mà lẻ tẻ qua nhiều đợt khác nhau. Những điểm này chính sử không ghi lại - nhưng trên thực tế văn bản chữ Hán chúng tôi thấy được qua sự thay đổi khác biệt của dấu ấn. Trong cuốn Công văn tập xuất hiện hình dấu Quốc Oai phân phủ đồ ký 國威分府圖記 (Đồ ký của phân phủ Quốc Oai). Dấu hình chữ nhật có cỡ 4,2x6,2cm và đóng ở dòng ghi niên hiệu ghi năm Minh Mệnh thứ 21 (1840). (H. 185)





Như vậy ta gặp lại hình dấu của địa danh Quốc Oai, nhưng không phải là cấp phủ với dấu ấn vuông như cũ nữa, mà là hình dấu Đồ ký có hình chữ nhật với tên gọi mới ở cấp phân phủ do chức Đồng Tri phủ quản lãnh.

Theo thống kê đầu thời Minh Mệnh: Cả nước có 127 huyện, châu (sau này có thay đổi điều chỉnh đôi chút), chắc chắn phải có ít nhất 254 quả ấn, kiềm cấp phát cho tất cả các Tri huyện, Tri châu, nhưng cho đến nay, những hiện vật này hầu như đã bị chôn vùi. Viện Bảo tàng Lịch sử Hà Nội may mắn còn giữ lại được 3 quả ấn (trong đó có một kiềm nhỏ) của hai viên Tri huyện và một quả của chức Huyện thừa.

Quả ấn có ký hiệu LSb 2526 chất liệu bằng đồng cán chuôi vồ, trên to dưới thuôn, cao 6,5cm và dầy 1,5cm. Phần trên ấn khắc hai dòng chữ Hán ở hai bên Minh Mệnh tam niên và Vũ khố phụng tạo. Mặt dấu hình vuông cỡ 6x6cm, bốn chữ Triện chia hai hàng là 4 chữ An lập huyện ấn 安立縣印 (Ấn của huyện An Lập). Đây là quả ấn của viên Tri huyện huyện An Lập được xưởng Vũ khố đúc vào năm Minh Mệnh thứ 3 (1822). (H. 186 a,b,c,d)



Kiềm ấn cùng bằng đồng có ký hiệu LSb 2521, hình tháp bằng đầu, cao 2,2cm, mặt dấu hình vuông cỡ 1,9x1,9cm, hai chữ Triện An lập (huyện An Lập) xếp theo chiều ngang. Đây là kiềm ấn cùng cặp với ấn lớn trên, chắc chắn có niên đại từ năm 1822. (H. 187 a,b,c)



Quả ấn thứ ba có ký hiệu LSb 2418, cán chuôi vồ thắt đáy cao 7cm dày 1,3cm. Phần trên khắc hai dòng chữ Hán Thiệu Trị nhất niên và Trọng thập nhị lượng, bốn chữ Triện ở mặt dấu Thất Khê huyện ấn 七溪縣印 (Ấn của huyện Thất Khê). Đây là quả ấn của viên Tri huyện huyện Thất Khê được đúc vào năm Thiệu Trị thứ 1 (1841), ấn nặng 12 lượng. (H. 188 a,b,c,d)



Ấn thứ 4 có ký hiệu LSb 2522. Đây là quả ấn đồng duy nhất có cán kiểu tay quai, cao 3,5cm dầy 1,2cm. Niên đại khắc ở dấu ghi năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), trọng lượng ghi 7 lượng, 3 tiền 6 phân. Dấu hình chữ nhật có kích thước 4,3x5,8cm, 5 chữ Triện trong dấu là Kỳ sơn vệ đồ ký 祈山衛圖記 là Đồ ký của vệ Kỳ Sơn. Có người lại cho rằng là 5 chữ Kỳ Sơn thừa đồ ký 祈山承圖記. Đồ ký của Huyện thừa huyện Kỳ Sơn? (H. 189 a,b)



Các hình dấu cấp huyện còn giữ được nhiều vì điều kiện có hạn nên chúng tôi chỉ đơn cử một vài ví dụ dưới đây:

Trong tập Công văn cựu chỉ xuất hiện hình dấu Lạc An huyện ấn 樂安縣印 (Ấn của huyện Lạc An). Dấu hình vuông cỡ 6x6cm, 4 chữ Triện Lạc An huyện ấn chia hai hàng, dấu được đóng ở hai vị trí khác nhau, ở hai đời vua khác nhau.

Quyển 1[258], dấu đóng ở đoạn dưới 2 dòng chữ Hán song song ở dưới trang giấy, phía phải của dòng ghi niên đại Minh Mệnh nhị thập niên ngũ nguyệt nhị thập cửu nhật. Chỗ giáp trang có dấu kiềm hình vuông cỡ 1,8x1,8cm mặt dấu hình hai chữ Triện Lạc An 樂安 (Huyện Lạc An). Đây là dấu ấn và kiềm của Tri huyện Lạc An đóng vào ngày 29 tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 20 (1839). (H. 190)

Ở quyển 4[259], chúng tôi lại thấy xuất hiện dấu Lạc An huyện ấn có hình thức tự dạng giống y như hình dấu trên, nhưng lại đóng ở đoạn chữ “nguyệt” dòng ghi niên hiệu Tự Đức nguyên niên thập nguyệt thập ngũ nhật (Ngày 15 tháng 10 năm Tự Đức nguyên niên [1847]). Bên trái có 2 hình dấu kiềm Lạc An樂安 (H. 191)




Như vậy cùng một con dấu của cùng một chức quan đóng trong cùng một dạng công văn ở thời điểm gần nhau, lại có sự khác biệt về vị trí hình dấu. Hình dấu ở đời Tự Đức là hình dấu đóng bình thường đúng theo quy định ở dòng ghi niên hiệu, còn hình dấu đóng ở đời Minh Mệnh là dấu trong một bản sao từ nguyên bản chính của Tri huyện huyện Lạc An. Dòng ghi niên đại không có dấu của cấp chủ quản hoặc dấu huyện Lạc An càng chứng tỏ đây là một bản sao gốc, văn bản chính hoàn thiện đã được gửi đi không nằm trong tập công văn này.

Công cuộc cải cách của vua Minh Mệnh năm 1827 cũng làm thay đổi bộ mặt ở các vùng dân tộc thiểu số. Các chức Tuyên úy sứ, Chiêu thảo sứ, Phòng ngự sứ v.v… của thổ quan miền núi bị xóa bỏ, thay vào đó là những chức quan nói trên, đồng thời với việc ban cấp ấn triện cho họ. Các chức quan này được sử dụng Đồ ký bằng đồng và Kiềm bằng gỗ, mặt dấu khắc 4 chữ (Mỗ) thổ huyện đồ ký, (Mỗ) thổ châu đồ ký dùng mực màu tía để đóng dấu.

Những hiện vật và ngay cả hình dấu trên văn bản của loại Đồ ký này ngày nay không còn giữ được. Nhiều năm nghiên cứu chúng tôi chỉ tìm thấy một hình dấu duy nhất của dấu Đồ ký này, nhân chuyến đi công tác vào kho Châu bản triều Nguyễn ở Tp. Hồ Chí Minh năm 1990. Dấu hình chữ nhật có kích thước 4,0x5,5cm, 6 chữ Triện chia 3 hàng, chữ thuôn dài, nét khắc đơn giản, là 6 chữ Nà Bôn thổ châu đồ ký 那賁土州圖記 (Đồ ký của Thổ châu châu Nà Bôn)[260]. (H. 192)



Dấu đóng trên văn bản bằng giấy viết hoàn toàn bằng chữ dân tộc thiểu số. Đây là hình dấu ấn của viên thổ Tri châu châu Nà Bôn, trên văn bản bằng chữ dân tộc, được đóng ở quyển 2 đời Hàm Nghi, nên chúng tôi cho rằng dấu có niên đại khoảng đời Hàm Nghi. Việc xác định con dấu góp thêm tư liệu cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa các dân tộc Việt Nam thời Nguyễn.

Thuộc quan ở cấp phủ, huyện, châu như ngành giáo dục cũng được sử dụng ấn triện riêng, chức Giáo thụ, Huấn đạo dùng ấn Đồ ký. Quy chế này đã ghi trong chính sử: “… ấn của viên Giáo thụ, Huấn đạo dài 1 tấc 3 phân, ngang 8 phân 1 ly… Dùng hộp son đóng trên chữ “nguyệt” ở dòng ghi niên hiệu”[261].

Xin miêu tả một Đồ ký của chức Huấn đạo còn tồn tại trong dân gian. Ấn có chất liệu bằng đồng, làm theo hình núm thắt đáy loe lên. Dầy khoảng 1cm và cao khoảng 2,5cm. Dấu hình chữ nhật cỡ 3,1x5,4cm, 6 chữ Triện chia 2 hàng, nét chữ rõ ràng vuông vức là 6 chữ Quỳnh Côi huấn đạo đồ ký[262] 瓊瑰訓道圖記. Đây là ấn Đồ ký của viên Huấn đạo phụ trách việc Giáo dục ở huyện Quỳnh Côi phủ Thái Bình[263]. Trên ấn không ghi niên đại nhưng qua hình dấu, tự dạng chữ Triện chúng tôi khẳng định đây là Đồ ký thời Nguyễn. (H. 193 a,b).

 
IV. Kiềm ký

Một loại hình ấn hiện nữa tuy xuất hiện với số lượng rất ít, nhưng cũng phải được xếp vào danh mục các loại hình ấn triện ngang hàng với ấn, Chương, Quan phòng, Đồ ký: đó là Kiềm ký 鈐記. Kiềm ký là loại ấn dùng cho các chức chỉ huy các cửa thành, cửa biển, cửa khẩu, đài quan sát, trạm, đồn, đèo ải, các thuyền nhỏ và các sở tuần ty v.v…

Kiềm ký là hai chữ cuối cùng trong dấu cũng như Đồ ký hay Quan phòng trong một con dấu. Ở đây ta phải chú ý phân biệt sự khác nhau hoàn toàn giữa Kiềm ký và Kiềm ấn. Kiềm ấn là loại ấn nhỏ hình vuông đi cùng cặp với những ấn lớn như ấn cơ quan, Quan phòng; chữ khắc trong Kiềm ấn thường rút gọn, có cùng nội dung với ấn lớn cùng cặp. Còn Kiềm ký mang ý nghĩa pháp lệnh riêng biệt của các chức quan cấp thấp dùng cho các đơn vị như đã nêu trên.

Những chỉ dụ dưới đây của Minh Mệnh được coi là định lệ bất di bất dịch của loại Kiềm ký này.

Lời dụ năm Minh Mệnh thứ 8 (1827): “Chế tạo cho 9 cửa Cung thành, 5 cửa Hoàng thành, 10 cửa Kinh thành, cầu Thủy quan… 1 dấu Kiềm bằng gỗ và 1 cái hộp bằng thiếc đựng dầu tía để đóng dấu, cấp cho viên Thủ hộ để phòng lúc tâu báo và gặp việc quan trọng chuẩn cho sử dụng. Dấu kiềm mỗi cái dài 1 tấc 1 phân 7 ly, ngang 5 phân 4 ly. Tầng trên khắc 2 chữ chân phương Mỗ thành, tầng dưới khắc 2 chữ chân phương Mỗ môn hoặc Quan viên kiềm ký.

… Cửa Thuận An, Tư Hiền thuộc phủ Thừa Thiên, các cửa Đà Nẵng, Đại Chiêm, Đại An thuộc tỉnh Quảng Nam… chuẩn cho chế và cấp đều một dấu Kiềm bằng gỗ và một cái hộp bằng thiếc đựng dầu tía để đóng dấu”[264].

Chỉ dụ của Minh Mệnh năm 1828: “Chế cấp cho đài Trấn Hải, Điện Hải một dấu Kiềm bằng gỗ, dài 1 tấc 2 phân 6 ly, ngang 5 phân 4 ly, chuẩn cho đóng dấu son đỏ…”[265].

Chỉ dụ năm Minh Mệnh thứ 10 (1829): “Chế cấp cho cửa bể Văn Uyên, cửa bể Du Thân, mỗi nơi đều một dấu Kiềm bằng đồng, dài 1 tấc 2 phân 6 ly, ngang 7 phân 6 ly…

… Các hiệu thuyền Ba hải chiểu theo kiểu mẫu dấu Kiềm ký thuyền Tĩnh ba số 4, chất ngà khắc chữ chân phương, dài 1 tấc 8 phân ngang 9 phân, ban cho sử dụng để thống nhất”[266].

Qua những trích dẫn trên ta thấy Kiềm ký được làm với nhiều chất liệu khác nhau: bằng ngà, bằng đồng và bằng gỗ. Kích thước của Kiềm ký ở mỗi đơn vị cũng khác nhau, chất liệu tốt hơn có kích thước lớn hơn sẽ tỷ lệ thuận với cấp bậc chức vụ của viên chỉ huy đơn vị. Điều đáng chú ý là tất cả các dấu Kiềm ký đều khắc chân phương, không dùng chữ Triện như các loại hình ấn khác.



Xin giới thiệu một số dấu Kiềm ký đã in sao được ở Châu bản triều Nguyễn. Một dấu thuộc loại cửa thành có hình chữ nhật kích thước 3,4x5cm. Dấu chia hai phần bằng một nét ngang, phần trên là 1/5 diện tích dấu khắc 3 chữ chân Đại quan môn 大官門 (Cửa Đại quan) xếp theo hàng ngang từ trái sang phải. Phần dưới còn lại khắc 4 chữ Chân xếp theo 2 hàng dọc là 4 chữ Thủ hộ kiềm ký 守護鈐記 (Kiềm ký của chức Thủ hộ). Dấu đóng trên chữ nguyệt dòng ghi niên hiệu Minh Mênh thập cửu niên tam nguyệt sơ nhị nhật (Ngày 2 tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 9 [1838]). Trước trang có dấu là trang có dòng chữ Hán Đương trực thần Trần Văn Trí và Vũ Đức Khuê thủ hộ đại quan môn (Bầy tôi Trần Văn Trí và Vũ Đức Khuê chức Thủ hộ cửa Đại quan đương trực)[267]. (H. 194)



Dấu Kiềm ký ở cửa biển có hình chữ nhật 3,3x5,3cm, 8 chữ Hán kiểu Chân thư chia làm hai hàng dọc, là 8 chữ Cần Giờ hải khẩu tấn thủ kiềm ký 芹除海口汛守鈐記 (Kiềm ký của đồn binh canh giữ cửa biển Cần Giờ). Dấu đóng trên chữ “nguyệt” dòng ghi niên hiệu Minh Mệnh thập cửu niên tam nguyệt sơ ngũ nhật (Ngày 5 tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 19 [1838]). Trước trang hình dấu là trang có dòng chữ Hán Cần Giờ tấn thủ thủ ngự thần Phạm Văn Lễ (Bầy tôi Phạm Văn Lễ chức Thủ ngự đồn binh canh giữ cửa biển Cần Giờ)[268]. (H 195)
 
V. Ký Triện hay Triện của tổng lý cấp tổng xã

Loại hình ấn triện cuối cùng của cấp chính quyền địa phương được giới thiệu trong chương này là Ký Triện 記篆 hay còn gọi là Triện 篆. Ký Triện hay Triện là ấn dấu của Cai tổng (tức Chánh tổng) và Lý trưởng - những người đại diện cho chính quyền cấp tổng, xã là đơn vị hành chính thấp nhất ở Việt Nam.

Lệ nhà Nguyễn quy định mỗi tổng đặt một Cai tổng, tổng nào ruộng đất nhiều hoặc đường đi xa đến hai ba ngày thì đặt một Cai tổng và một Phó tổng. Khi có khuyết thì viên Tri phủ, Tri huyện tuyển chọn nhân viên trong hạt, đề bạt lên. Bộ Lại duyệt, tâu cho cấp văn bằng làm Cai tổng thí sai đủ 3 năm sát hạch, đúng là người mẫn cán, thanh liêm mới cho thực thụ. Cai tổng thực thụ làm việc tốt thì được thăng Chánh bát phẩm, thâm niên có thành tích được thăng hơn nữa. Tổng có nhiều xã, mỗi xã đặt một viên Lý trưởng, làm đủ 9 năm mẫn cán được thưởng hàm Cửu phẩm.

Tìm hiểu tổ chức chính quyền trung ương và địa phương thời Nguyễn chúng tôi thấy đơn vị hành chính căn bản của Việt Nam là tổng, xã được hưởng một chế độ tự trị khá rộng rãi. Cai Tổng, Lý trưởng đại diện cho hội đồng tổng xã hương đảng, được quyền định đoạt tài sản của mỗi gia đình nông dân, quyết định số phận của mỗi người dân lao động. Một trong những biểu tượng chính cho quyền lực của Tổng, Lý là dấu Triện.

Tuy là cấp thấp nhất, nhưng Triện của Cai tổng Lý trưởng vẫn được làm theo nguyên tắc nhất định. Sử cũ ghi: “Lệ Minh Mệnh 13 định… Triện của Cai tổng dài 1 tấc ngang 5 phân. Triện của Lý trưởng dài 8 phân, ngang 4 phân, đều dùng hộp mực, ở nửa trang dưới dòng chữ niên hiệu, ký tên rồi đóng dưới tên ký…”[269].

Triện thời Nguyễn sơ làm nhỏ, viền ngoài dấu để nét mảnh, 6 chữ Triện chia hai hàng. Thường là tên địa phương (Tổng, xã) + chức (Cai tổng, Lý trưởng) + ký.

Triện nhà Nguyễn sau này (khi Pháp đã vào nước ta) có cỡ to hơn, viền khung để rộng hơn ghi chữ Pháp hoặc chữ Quốc ngữ, bên trong vòng khung mới có chữ Triện hoặc chữ Hán Chân thư. Điều này thể hiện 2 hoặc 3 dạng văn tự trong cùng một con dấu.

Giới thiệu hai con dấu của Cai tổng và Lý trưởng cùng một địa phương đóng trong cùng một tập địa bạ tổng Đồng Xuân[270]. Triện Cai tổng hình chữ nhật cỡ 1,9x4cm, 6 chữ Triện xếp theo hai hàng, là 6 chữ Đồng Xuân tổng cai tổng ký 同春總該總記 (Ký Triện của Cai tổng tổng Đồng Xuân). (H. 196)

Triện Lý trưởng hình chữ nhật, cỡ 1,6x3,5cm, sáu chữ Triện xếp theo hai hàng là 6 chữ Đồng Xuân phường lý trưởng ký 同春坊里長記 (Ký Triện của Lý trưởng phường Đồng Xuân). Dấu này đóng dưới dòng chữ Hán ghi tên họ, chức vụ viên lý trưởng phường Đồng Xuân (H. 197)




Đời Đồng Khánh thứ 1 (1886) vì kiêng tên húy cha đẻ của mình là Kiên Thái vương Hồng Cai, nên Đồng Khánh thay chữ “Cai” 該 tổng bằng “Chánh” 正 tổng. Lệ này được duy trì cho đến hết vương triều Nguyễn năm 1945, và dấu Triện của Cai tổng từ năm 1886 trở đi cũng được thay chữ “Chánh tổng” vào vị trí chữ “Cai tổng” cũ.

Sau đời Đồng Khánh, làng xã Việt Nam còn đẻ ra những loại Triện nữa. Những dấu Triện này không thấy ghi thành quy định như Triện hay các loại hình ấn khác, nhưng trên thực tế chúng tôi đã thấy dấu Triện của Chưởng bạ, Hộ tịch làng xã. Dấu có hình thức khá đặc biệt và khắc hai loại văn tự: chữ Quốc ngữ và chữ Hán trong dấu. Thường là viền ngoài dấu là chữ Quốc ngữ và khung trong là chữ Hán lối Chân thư, như dấu Hộ tịch Vĩnh Chân xã Vĩnh Chân tổng Hạ Hòa huyện Phú Thọ tỉnh 永眞社永眞總戶籍夏和縣富壽省 (Hộ tịch xã Vĩnh Chân, tổng Vĩnh Chân, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ), hai chữ “Hộ tịch” lớn hơn và nằm ở giữa dấu có hai đường kẻ ngang[271]. (H. 198)

 
CHƯƠNG IV TÍN KÝ, KÝ VÀ ẤN TƯ NHÂN THỜI NGUYỄN


I. Tín Ký và Ký với dấu tên riêng

Sự đa dạng của ấn chương còn thể hiện trong loại hình ấn triện nhỏ mà chúng tôi tạm đặt là Tín Ký 信記 và Ký 記.

Ngay từ thời Gia Long, tất cả các quan tướng lớn nhỏ trong triều ngoài kinh ai cũng được phép tự chế tạo một quả ấn nhỏ cho riêng mình. Việc tạo ấn này mang tính tự do giống với ấn tư nhân trên mọi lĩnh vực ngoài xã hội. Chưa có quy định cụ thể về vấn đề này, dẫn đến ảnh hưởng trong việc quản lý của chính quyền từ trung ương xuống địa phương. Đến năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) quy chế về Tín Ký bắt đầu được chú ý. Sử cũ chép: “Đình thần tâu: Trước nay các quan viên trong triều ngoài quận được giao cho ấn, triện, Quan phòng đều đã có phép nhất định. Duy có việc dùng Ký Triện riêng tự ý chế tạo, thể thức chế khác nhau, chưa đủ để phân biệt tôn ty mà tín nhiệm được, xin định cho cách thức thể chế”[272].

Theo thống kê của chúng tôi, chữ Triện khắc trên tất cả các ấn riêng của các quan viên này thường là: TÍNH DANH + TÍN KÝ, hoặc TÍNH DANH + KÝ, có rất ít chức danh không Tín Ký. Còn Ký Triện là từ dành cho cấp tổng, xã, đầu đời Minh Mệnh chưa có quy chế về loại hình ấn này, nên ở Minh Mệnh chính yếu gọi Ký Triện riêng (hoặc cách gọi của người dịch). Theo chúng tôi phải đặt loại ấn tên riêng này là loại TÍN KÝ hoặc KÝ mới đúng.

Cũng vào năm 1826, quy chế về loạt hình Tín Ký và Ký chính thức ban hành: “Năm thứ 7, phúc chuẩn cho quan viên văn vũ từ Tứ phẩm trở lên được chế riêng một quả ấn triện vuông ngà hay gỗ tùy ý, Triện khắc chữ Tên họ mỗ tín ký. Nhất, Nhị phẩm dài 1 tấc 4 phân, ngang 1 tấc 3 phân, Tam, Tứ phẩm dài 1 tấc 2 phân, ngang 1 tấc 1 phân đều cho đóng dấu son… những việc riêng, chuẩn cho dùng Triện riêng mới chế, đóng vào bên dưới chữ ngày mỗ trong dòng niên hiệu, còn từ Ngũ phẩm trở xuống, vẫn cho dùng Ký Triện bằng mực như trước”[273].

1. Tín Ký

Tín Ký là ấn dấu chứng nhận cho một số văn bản mang tính chất khu vực, có giá trị lớn đối với địa phương mà chức quan đó quản hạt, cũng như có hiệu lực đối với quan lại và thuộc viên cấp dưới. Nhưng đối với công vụ, những việc tấu trình lên trên, thì giá trị của Tín Ký không được công nhận, ngoài sự công nhận ấn, Quan phòng, Đồ ký và Kiềm ký.

Giới thiệu một dấu Tín Ký áp trên văn bản Hán Nôm. Dấu hình chữ nhật đứng, cỡ 4,7x5,1cm, năm chữ Triện xếp theo 3 hàng, 4 chữ chia hai hàng bên, đó là 5 chữ Trần Lễ Nghi tín ký 陳禮儀信記 (Tín ký của Trần Lễ Nghi)[274]. Trang có hình dấu không có dòng ghi niên hiệu, mà dấu chỉ đóng dưới dòng chữ Hán ghi chức danh của tên người trong dấu là Lãnh binh tỉnh Ninh Bình trên một văn bản gửi xuống cho thuộc quan cấp dưới tới tận xã thôn. Dấu được đóng vào năm Minh Mệnh thứ 13 (1832). (H. 199)

Bố cục chữ Tín Ký khắc trên dấu: Nếu tính danh có tên đệm thì họ được viết ở giữa và 2 chữ Tín Ký xếp cùng một hàng. Nếu tính danh không có tên đệm thì 4 chữ Triện dấu được chia hai hàng và 2 chữ Tín Ký cũng xếp cùng 1 hàng, hoặc Tín Ký được xếp ở 2 bên theo kiểu chữ “thập” ở những Tín Ký hình vuông.

Xin giới thiệu một hiện vật Tín Ký còn giữ được đến ngày nay, có chất liệu bằng ngà màu tía nhạt, làm theo 4 cạnh hình tháp bằng đầu. Mặt dấu cũng có hình bát giác, 2 cạnh ở giữa lõm hình vòng cung, viền ngoài khắc họa tiết rất đẹp. Đường viền hình chữ nhật trong có kích thước 1,3x2,5cm, 4 chữ Triện xếp ở trong chia theo 2 hàng dọc là 4 chữ Phạm Tôn tín ký 范宗信記 (Tín ký của Phạm Tôn). Việc xác định chủ nhân của ấn tín này chưa thành công, chỉ dám khẳng định đây là Tín Ký thời Nguyễn qua việc so sánh một số hình dấu loại này trên văn bản Hán Nôm. (H. 200 a,b,c)


 
2. Ký

Cùng hàng với Tín Ký còn có Ký thường dùng cho các Lại thuộc ở các cơ quan (Thư lại, Vị nhập lưu thư lại), những người có phẩm hàm thấp nhất, hoặc chưa có phẩm hàm thấp.

Ký ở đây có sự đồng hàng về danh xưng lẫn với Ký Triện của Tổng, Lý, vì Cai tổng có phẩm hàm ngang với Thư lại. Nhưng về ngoại hình ấn dấu của Ký cũng tương tự như Tín Ký. Do đó chúng tôi xếp Ký ngang hàng với Tín Ký và đặt ở cùng chương mục, tách hẳn với Ký Triện của cấp tổng, xã. Trên thực tế số lượng thư lại rất nhiều, nhưng kiểu dấu ký cùng một loại.

Những dấu Ký có hình thức giống như dấu Phạm Tôn tín ký (Đã mô tả ở mục 1), chỉ khác là dấu Ký thuôn nhỏ hơn, khuôn hình chữ nhật trong dấu nhỏ hơn vì chỉ 1 dòng chữ Triện bên trong xếp theo hàng dọc: Họ + Tên + Ký.

Tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh còn giữ mấy quả ấn thuộc loại hình Ký. Đáng chú ý là quả ấn có chất liệu bằng ngà, núm ấn khắc hình con sư tử miệng há rộng, đuôi vểnh, thế nhún chân. Phần đế ấn chính là bệ chân sư tử mà phần dưới làm theo hình bát giác lõm hai cạnh giữa ấn. Mặt dấu hình bát giác, 2 cạnh giữa lõm hình vòng cung, viền ngoài khắc họa tiết. Đường viền giữa hình chữ nhật có kích thước 1,5x4,0cm, ba chữ Triện trong dấu xếp theo hàng dọc 3 chữ Nguyễn Chính ký 阮正記. Đây là dấu ký của một vị thư lại tên là Nguyễn Chính (H. 201 a,b,c)

Giới thiệu một dấu Ký có hình lục giác, viền ngoài có họa tiết, khuôn hình vuông kích thước 1x2,2cm, trong có 3 chữ Triện Trần Tố ký 陳做記.Đây là dấu Ký cửa ông Trần Đình Tố, là Vị nhập lưu thư lại. Dấu áp trên bản công văn mà chính tay ông viết trong tập Công văn cổ chỉ[275]. (H. 202)





Ở đây xin lưu ý một chi tiết là dấu Ký khác hẳn với chữ Ký của các quan lại chức dịch ngày xưa là chữ thay cho chữ ký như ngày nay ta thường dùng.

Ngoài Tín Ký và Ký ra còn có loại dấu, chức danh không Tín Ký hoặc chức danh không Ký. Thậm chí có người còn đang ở thời kỳ Hậu bổ cũng dùng chữ Hậu bổ[276] 候補 khắc vào dấu cùng tên họ riêng như dấu Hậu bổ Hồ Trọng Phiên 候補胡仲番 mà chúng tôi sao lại được trong tập Công văn cựu chỉ[277]. (H. 203)
 
II. Ấn tư nhân trong xã hội thời Nguyễn

Khác với quan ấn trên, “Tư ấn” 私印 là ấn tư nhân ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong xã hội thời Nguyễn, tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực thương mại, văn hóa nghệ thuật và tôn giáo tín ngưỡng. Vì điều kiện có hạn, chúng tôi chỉ giới thiệu một cách khái quát, sơ lược ấn dấu tư nhân trong lĩnh vực này. Ở đây chúng tôi dùng từ “Ấn tín” 印信 để cho phù hợp với tính chất của loại hình ấn này.

1. Ấn tín trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật thời Nguyễn

Lĩnh vực văn hóa nghệ thuật bao giờ cũng đa dạng phong phú và phức tạp, nên ấn tín tư nhân trong văn hóa nghệ thuật cũng khá đa dạng và phức tạp.

Xã hội đầu thời Nguyễn xuất hiện những nhà tàng bản hoàn thiện hơn thời Hậu Lê, trên những ấn bản có đóng hình con dấu vuông vức rõ ràng khắc tên nhà tàng bản. Ví dụ nhà tàng bản Đa Văn đường thời Tự Đức còn để lại hình dấu trong cuốn Tứ lục sao[278], dấu hình vuông, cỡ 2,8x2,8cm, 3 chữ Triện bên trong xếp theo hàng ngang, nét chữ uốn lượn là 3 chữ Đa văn đường 多文堂, niên đại của sách chép năm Tự Đức thứ 11 (1858). (H. 204)



Các dòng họ như Ngô gia văn phái, Phan Huy, v.v… đều có những kho thư viện sách riêng để khỏi lẫn với các dòng họ khác.

Dòng Ngô gia văn phái với dấu Danh gia tàng thư 名家藏書 có hình vuông, kích thước 2,6x2,6cm, 4 chữ Triện bên trong khắc vuông vức đẹp đẽ, dấu được in trong cuốn Ngô gia văn phái[279]. (H. 205)

Dòng họ nổi tiếng Bùi Huy Bích cũng sử dụng dấu ấn riêng trên sách của họ. Trong cuốn Hoàng Việt thi tuyển[280], dòng chữ “Tồn Am gia tàng” viết ngay ngắn và bên cạnh là hình dấu Danh gia hội tuyển 名家會選, dấu hình vuông kích cỡ 3,4x3,4cm, bốn chữ Triện trong dấu có nét khắc khác hẳn dấu của họ Ngô trên. (H. 206)




Những cổ vật ngày nay còn lại khá nhiều. Trên các đồ gốm, sứ, đồng v.v… và những bức tranh, thơ cổ có nhiều hình dấu khác nhau, ở những bức tranh, dưới những bài thơ cổ thường là dấu tên hiệu các họa sĩ, thi gia. Việc xác định chính xác đó là tranh cổ Việt Nam hay Trung Quốc và thuộc thời nào, đồng thời xác định rõ hình dấu trên đó là một việc làm khó khăn, chỉ có các họa sĩ, thi gia lão thành và các nhà nghiên cứu tranh, thơ cổ chuyên nghiệp mới giải đáp được.

Đồ gốm, sứ, đồng thời Nguyễn khá phong phú. Các cổ vật Trung Quốc đã trộn hòa cùng tồn tại với gốm Bát Tràng, Thanh Hóa trên đất Việt. Những hiện vật dân tộc thường không khắc ấn dấu, chúng tôi chỉ thấy những dòng ghi niên hiệu như “Gia Long niên chế” v.v… ở mặt đỉnh lư hương và dưới trôn đĩa, lọ, bình.



Từ thời chúa Nguyễn về sau, ngoài những đồ Ngự dụng được đặt làm ở Trung Quốc, một số quan lại và phú thương sành chơi thường mua hoặc đặt làm những đồ gốm sứ Trung Quốc về dùng, trên những cổ vật này mới có những hình dấu ấn. Chuyến công tác vào Sài Gòn trước đây chúng tôi được một đệ tử của cụ Vương Hồng Sển cung cấp ít tư liệu có ảnh hiện vật về ấn dấu. Trong đó có ảnh một chiếc đĩa mà đường kính thực ngoài là 15,5cm, mặt đĩa vẽ cảnh vật không in hình chữ Hán. Mặt trôn đĩa có in một dấu hình vuông cỡ 4x4cm, 4 Triện trong dấu viết đậm nét, cỡ chữ không đều nhau, là 4 chữ Thái lai thanh ngoạn 泰來清玩. Đây là đĩa nhà Thanh Trung Quốc có niên đại tương đương đầu thời Nguyễn. Chiếc đĩa này được dùng ở vùng kinh đô Huế thời Nguyễn mà sau này cụ Vương Hồng Sển đã mua lại và xếp vào loại đồ gốm sứ ở cố đô Huế. (H 207)



Tại Viện Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi đã chụp ảnh và in được một số quả ấn và hình dấu thuộc lĩnh vực này. Ấn có ký hiệu BTLS 1202 bằng đá, cao 16,8cm, chiều ngang 6,2cm, khắc hình con nghê mẹ cõng nghê con đứng trên một khối hình chữ nhật. Mặt dấu hình chữ nhật đứng cỡ 2,4x6,2cm, hai chữ bên trong xếp theo chiều dọc là 2 chữ Lan sương 蘭霜. Dấu ghi tên hiệu người là Lan Sương. (H 208 a, b)

Ngoài ra còn một số hình dấu ghi lời hay ý đẹp như Ca vịnh thái bình 歌詠太平 theo hình elíp, có cỡ 2,2x3,3cm, 4 chữ Triện khắc nổi xếp theo hình chữ thập, hai chữ “ca” và “vịnh” nằm giữa và rộng gấp đôi hai chữ ở hai bên[281]. (H 209)



Những quan lại và văn nhân giỏi thường khắc ấn tín riêng ghi tên hiệu của mình, như dấu Tùng tuyết trai 松雪齋 có kiểu chữ Triện thật lạ mắt và độc đáo[282]. (H. 210)

Mô típ dấu chữ Phúc 福 Lộc 祿 Thọ 壽 theo lối chữ Triện có trên rất nhiều hiện vật chất liệu khác nhau, và chạm khắc nhiều ở đình, đền, chùa trong dân gian. Mỗi một chữ loại này có rất nhiều kiểu khác nhau, ở đây thể hiện sự phong phú mang tính sáng tạo về thể loại chữ Triện của những người sáng tác và cả các nghệ nhân điêu khắc. (H. 211)





Những người chơi ấn thường tạo ra những quả ấn rất nhỏ, mặt dấu làm theo hình trái cây, hoa lá, khắc tên hiệu, hoặc khắc những mỹ tự mà họ thích. Trong dấu dùng chữ Triện như dấu Thuận cát[283] 順吉 (H. 212) hoặc khắc lối Chân thư như dấu Tường hợp[284] 祥合. (H .213)
 
2. Ấn tín trong lĩnh vực thương mại thời Nguyễn

Công cuộc cải cách của vua Minh Mệnh ít nhiều đã thúc đẩy sự đi lên của nền kinh tế đất nước. Nông nghiệp, thủy lợi được chú trọng, việc khai thác mỏ vàng, kim loại, đá quí phát triển, nghề kim hoàn khôi phục trở lại, hàng năm vàng bạc đá quí và một số mặt hàng khác được tập trung đến thương cảng Hội An tỏa đi các nước.

Hội An là khu vực lý tưởng của giới thương mại lúc đó, số lượng người Hoa, Nhật Bản ở Hội An ngày một tăng. Đây được coi là trung tâm cộng đồng Hoa kiều ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á trong thời nhà Nguyễn.

Các cửa hàng mọc lên xung quanh các hội quán, với những cửa hàng kim hoàn, lụa tơ tằm, vải vóc, đồ sành, sứ, dược phẩm, v.v… bán sỉ và bán lẻ. Để đảm bảo sự tín thực, chắc chắn và ổn định lâu dài trong công việc làm ăn, mỗi chủ hiệu đều sử dụng ấn tín riêng. Ấn thường được làm bằng gỗ, bằng xương, bằng ngà và đá đẹp, hình thước kích cỡ ấn tùy theo sở thích của mỗi người, mặt dấu được khắc chữ Triện hay đơn giản theo lối Chân thư. Chuyến công tác vào Hội An năm 1989 chúng tôi đã được một thương nhân người Việt gốc Hoa cho xem các ấn tín của tiền nhân họ và bạn buôn thời đó[285].

Những quả ấn ở đây đều có ngoại hình làm đơn giản kiểu hình tháp bằng đầu và kiểu có núm cầm, kích cỡ to nhỏ khác nhau. Mặt dấu của mỗi quả ấn cũng hoàn toàn khác nhau, cái hình chữ nhật, cái hình vuông hoặc hình tròn. Bên trong dấu là những dòng chữ Triện hoặc Chân thư, kích thước họa tiết của dấu được làm theo ý muốn chủ nhân của chúng. Trong các loại hình ấn triện, đây là loại ấn có kích thước và hình dấu vào loại nhỏ, nét khắc chữ Triện rất đẹp và công phu. Đây thường là dấu tên họ của chủ hiệu và tên mặt hàng, hoặc chỉ khắc tên chủ hiệu không thôi. Đó là đặc trưng nổi bật về tính tự do của ấn tín tư nhân trong lĩnh vực thương mại thời Nguyễn.

Xin giới thiệu một số hình dấu ấn mà chúng tôi đã in rập được ở Hội An. Hai quả ấn nhỏ, dấu khắc chữ Triện đóng chữ Ấn và chữ Chương. Dấu thứ nhất có hình vuông kích thước 1,15x1,15cm, bốn chữ Triện khắc vuông vức chia làm hai hàng là 4 chữ Diệp Khải Minh ấn 葉啓明印. Đây là ấn dấu tên riêng của một thương nhân tên là Diệp Khải Minh. (H. 214)

Ấn dấu thứ hai có hình vuông, kích thước 1x1cm, bốn chữ Triện khắc vuông vức rất đẹp xếp hai hàng là bốn chữ Diệp Truyền Anh chương 葉傳英章. Đây cũng là ấn dấu của một tư thương gọi là Diệp Truyền Anh. (H. 215)



Các cửa hàng lớn họ thường dùng mấy loại ấn dấu khác nhau. Ngoài ấn tên riêng còn có ấn lớn tên bản hiệu và ấn hóa đơn riêng. Những ấn dấu này thường khắc theo thể Chân thư và có kích thước lớn hơn dấu tên riêng rất nhiều. Điều đặc biệt ở đây là loại dấu này ít làm đường viền vòng ngoài mặt dấu, do đó khi áp lên giấy sẽ cho một, hai hoặc ba dòng chữ Hán bình thường. Nếu không tự tay cầm ấn đóng trên văn bản, mà chỉ xem dấu chữ Chân trên giấy như những dòng chữ Hán in, thì có lẽ chúng tôi cũng chưa dám khẳng định đây là những hình dấu trong lĩnh vực thương mại. Tất cả ấn loại này đều được làm bằng gỗ, có núm cầm, theo thể hình chữ nhật hoặc gần chữ nhật. Như dấu Diệp Đồng Xuân 葉同春 có kích thước 2,5x7,5cm. Ba chữ Hán xếp theo hàng dọc, kiểu Chân thư chữ lớn rất rõ ràng, đây là dấu hiệu cửa hàng gọi là Diệp Đồng Xuân. (H. 216)

Có khi hai loại ấn dấu của một cửa hàng (một dấu tên hiệu và một dấu hóa đơn) có cùng một hình thức, kích cỡ, kiểu chữ và cách bố cục văn tự ở dấu. Trên dòng chữ dấu khắc hai chữ Chân Hội An 會安 xếp ngang, cỡ nhỏ bằng nửa chữ của dòng dấu, như dấu Hội An Diệp Đồng Nguyên hiệu thư đông 會安葉同源號書東 có kích thước 1,2x7,2cm. Đây là dấu cho hiệu sách Diệp Đồng Nguyên ở Hội An. (H. 217)

Và dấu Hội An Diệp Đồng Nguyên phát hóa đơn 會安葉同源發貨單. Đây là dấu hóa đơn của hiệu Diệp Đồng Nguyên trên (H. 218)

Cửa hàng kim hoàn và dược phẩm của người Hoa ở Hội An lại sử dụng ấn dấu có hình thể khác biệt. Khi đóng dấu trên giấy sẽ thành 3 dòng chữ Hán: dòng giữa chữ lớn gấp đôi chữ của hai dòng bên. Như dấu của cửa hiệu kim hoàn gốc người tỉnh Quảng Đông có kích thước 3x5cm, chữ khắc ở dấu theo thể Chân thư. Năm dòng chữ ở giữa là Quảng Đông di xương âm 廣東怡昌陰, bốn chữ dòng bên trái là Bản hiệu đại thụ 本校大售, bốn chữ dòng bên phải là Thập túc kim diệp 十足金葉. (H. 219)

Đây là ấn dấu của cửa hàng kim hoàn vào loại lớn lúc bây giờ, tên hiệu gắn liền với địa danh quê hương của họ. Điều này cũng nói lên được sự tín thực, đảm bảo trong việc buôn bán làm ăn, nhất lại là đối với loại hàng là vàng, bạc phải sử dụng loại cân tiểu ly. Việc khẳng định loại vàng lá đủ mười tuổi (thập túc kim diệp) trong hình dấu, nó có giá trị hơn nhiều về lòng tin so với chiếc cân tiểu ly của bản tiệm đối với khách hàng đến mua và bán. Ngày nay các tiệm kim hoàn của ta vẫn sử dụng ấn riêng trên vàng bạc và hóa đơn, nhưng là chữ Quốc ngữ và số La Mã.




Con dấu chữ Chân duy nhất có đường viền mà chúng tôi in rập được ở Hội An là ấn dấu của cửa hàng bông vải xưa. Ấn bằng gỗ có núm ấn ngắn, mặt dấu có kích thước 2,5x3,9cm, chữ trong dấu theo thể Chân thư. Phía trên là hai chữ Hội An 會安 viết ngang, dưới là ba dòng chữ Hán xếp theo hàng dọc. Hai chữ Miên xương 綿昌 ở giữa viết lớn gấp đôi các chữ khác, là tên bản hiệu, bốn chữ bên trái là Phát hóa đồ chương 發貨圖章, bốn chữ bên phải là Chi thủ bất chuẩn 支取不准. (H. 220)




Chữ “Chương” cũng như chữ “ấn” 印, ở đây chỉ loại ấn dấu của cửa hiệu bán hàng này, và dòng chữ trên như là một khẩu hiệu không chỉ đối với những người mua hàng mà đối với những thành viên của bản hiệu bán hàng nữa.



Những cửa hàng dược ở Hội An mà ngày nay cháu chắt vẫn duy trì được nghề nghiệp của tổ tiên họ, còn hàng hóa thì có mặt ở khắp mọi nơi trên đất nước. Như hiệu Nhị Thiên đường có gốc gác từ tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, xuất hiện ở nước ta từ thời Nguyễn sơ và còn tồn tại cho đến bây giờ, không ai là không biết đến hiệu dầu Nhị Thiên đường. Con dấu Quảng Đông nhị thiên đường 廣東二天堂 có từ thời Nguyễn còn lưu giữ được ở thị xã Hội An là minh chứng. (H. 221)



Sự phong phú của ấn tín tư nhân trong thương mại thời Nguyễn không chỉ ở Hội An - Đà Nẵng, mà còn tiềm ẩn ở Bắc kỳ với thành Hà Nội cổ kính và ở Nam bộ một vùng Sài Gòn - Chợ Lớn sầm uất. Tại Viện Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi đã in chụp được một số ấn dấu của thương nhân thời Nguyễn, xin nêu một ví dụ cuối cùng của mục này, ấn có ký hiệu BTLS 1368 bằng ngà, cao 4,2cm, chiều ngang 2,5cm, hình một con vật đứng trên khối hình chữ nhật. Mặt dấu hình chữ nhật đứng cỡ 0,8x2,5cm, bốn chữ Triện xếp theo một hàng là bốn chữ Mỹ ánh thảo đường 美映艸堂. Đây là ấn dấu của một bản hiệu ở Sài Gòn - Chợ Lớn có tên là Mỹ ánh thảo đường. (H. 222a&b).
 
3. Ấn tín trong lĩnh vực Tôn giáo tín ngưỡng thời Nguyễn

Xã hội phong kiến thời Nguyễn rập khuôn hoàn toàn theo khuôn mẫu của xã hội phong kiến Việt Nam trước nó. Tư tưởng Tam giáo (Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo) đã ăn sâu cắm rễ vào con người Việt Nam qua nhiều thế hệ. Ở một xã hội phong kiến nghèo nàn lạc hậu, bế tắc chồng chất khiến con người luôn tìm đến tôn giáo tín ngưỡng, hy vọng một sự giải thoát hữu hiệu. Tâm linh họ đến cửa Phật, thánh, thần, ông hoàng, bà chúa v.v… một tấm lòng thành những mong được bình an và giải hạn. Lời thỉnh cầu của họ được gửi gắm vào lá sớ hóa cùng vàng mã, vào lá bùa dùng để trấn yểm v.v… Trên những lá sớ, lá bùa đó thường có in hình con dấu riêng biệt đặc trưng cho loại hình sớ và từng loại bùa khác nhau.

Không như là sớ được lưu hành rộng rãi tự do, lá bùa chỉ có ở các thầy cúng, thầy phù thủy. Khi gia chủ yêu cầu về việc gì thì thầy sẽ cho đạo bùa đúng yêu cầu đó. Những người dựng nhà mới, dù đất có dữ hay không, nhưng lễ “Nhập trạch” họ thường mời thầy hành lễ và đặt bùa “Trấn trạch” ở nhiều chỗ trong ngôi nhà. Trên lá bùa, ngoài những dòng ghi chữ Hán, những nét bùa chú còn in một hoặc hai ba hình ấn dấu. Không chỉ có một mà có vài ba loại bùa “Trấn trạch” khác nhau. Hình dấu ở mỗi loại cũng hoàn toàn khác nhau, cái hình vuông, cái hình chữ nhật, cái to, cái nhỏ v.v… Những gia đình có người mới mất bị phạm vào ngày giờ trùng tang, trùng phục hay nhất Sa, nhị Sa, tam Sa v.v…, gia chủ mời thầy về hành lễ. Thầy cho nhiều bùa khác nhau. Ngoài các lọ bùa yếm ở mả, ở cổng ngõ, tám góc trên dưới trong nhà, các cửa, bùa cuốn vào tay người mất, và dán trong áo quan, lá bùa to đắp vào mặt người mất, và dán trên các cửa ra vào v.v… Ngoài bùa trấn trạch và bùa tang ma ra còn nhiều loại bùa khác nữa có các nét tróc, phọc và những nét vẽ, viết loằng ngoằng cực kỳ khó hiểu. Ở một số loại bùa thường có in hình con dấu khác nhau, những hình dấu này đều được đóng từ mỗi quả ấn ở chùa, đền hay điện thờ.

Qua những chuyến công tác đến nhiều chùa, đền, điện thờ khác nhau chúng tôi đã in chụp được một số hiện vật ấn tín bằng gỗ. Số ấn này được làm theo nhiều kiểu khác nhau, nhưng đều có điểm chung là hình thể đơn giản, núm cầm thấp, đế ấn mỏng, văn khắc theo thể chữ Triện và cùng có chất liệu từ gỗ đào, gỗ lê. Theo lời kể của những người giữ ấn và xem xét cụ thể từng quả ấn, chúng tôi chỉ có thể xác định những ấn này có niên đại khoảng trên dưới 100 năm, tức là vào giai đoạn cuối thời Nguyễn. Trong số đó có ấn được quét sơn ta màu đỏ, có ấn thì để mộc.

Đầu tiên xin nói đến quả ấn dùng đóng trên sớ ở một ngôi chùa ở Thường Tín, Hà Tây. Ấn hình vuông thuôn theo hình tháp thấp, núm nhỏ có khắc chữ Thượng 上. Dấu hình vuông kích thước 7x7cm, viền ngoài khắc họa tiết, bên trong là 4 chữ Triện Phật pháp tăng bảo 佛法僧寶 (Bảo ấn của Phật - pháp - tăng, còn có nghĩa là Tam bảo). Dấu Phật pháp tăng bảo chuyên dùng đóng trên lá sớ. Hiện nay ở nhiều chùa, đền còn lưu giữ ấn gỗ có nội dung văn khắc giống như quả ấn này. (H. 223 a,b,c)



Năm 1998 chúng tôi được một cán bộ văn hóa tỉnh Lai Châu cung cấp bản chụp và dấu của một quả ấn đồng mà ông đã chụp từ hiện vật được lưu ở một ngôi đền cổ thuộc Lai Châu. Ấn có núm cầm hình một con thú ngồi vươn cổ ngẩng đầu, chống chân trước, chiều cao ấn là 7,5cm, đế ấn hình vuông kích thước 5,3x5,3cm. Mặt dấu hình vuông bằng cỡ mặt đế ấn, viền ngoài khắc họa tiết, bên trong là 4 chữ khắc theo lối Chân, là 4 chữ Phật pháp tăng bảo, hai chữ Phật, pháp được khắc theo kiểu phồn thể 灋僧寶. Đây là quả ấn đồng có hình thể lạ và văn khắc khác với kiểu chữ thường dùng trong ấn chương. (H. 224 a,b,c)




Ngoài số ít ấn tín có nội dung trùng lặp ở Phật giáo, còn lại hầu hết là những ấn tín thuộc Đạo giáo. Số ấn này hiện được lưu giữ ở nhiều ngôi đền, điện thờ đức Thánh Trần Hưng Đạo, tam, tứ phủ công đồng, Ngọc hoàng thượng đế, chư vị Thánh mẫu cùng các đệ tử bà chúa, ông hoàng v.v… Xin được giới thiệu một số ấn bằng gỗ tiêu biểu. Những quả ấn này có hình thức khác nhau, núm ấn chiếc nào làm đơn giản thì để mộc, chiếc nào đẽo gọt cẩn thận thì quét sơn ta. Mặt đế ấn khắc viền để rìa cạnh, chữ Triện khắc vuông vức và rõ nét. Ấn thứ nhất làm theo kiểu hình tháp bằng đầu, ngoài phủ lớp sơn ta đã cũ, cao 4,8cm. Mặt đế hình vuông cỡ 3,3x3,3cm có khắc chữ Thượng (上). Mặt trên hình vuông cỡ 4,2x4,2cm. Mặt dấu hình vuông bằng cỡ mặt đế ấn, đế viền ngoài 0,5cm, bên trong là 4 chữ Triện Kiếp Bạc linh phù 劫泊靈符. Đây là phù ấn đóng trên các đạo bùa ở đền Kiếp Bạc. (H. 225 a,b,c)

Các ấn tiếp theo dưới đây đều có chung hình thức là núm cầm ngắn, gần như không có chiều cao của ấn, phần độ dầy của đế ấn gắn liền với núm cầm. Quả ấn có phần mặt ấn khắc đường gờ lượn góc, núm cầm thấp nhưng rộng và cạnh uốn hình sóng nước, trên mặt khắc chữ Chính (正) Mặt đế ấn hình vuông kích thước 5,5x5,5cm. Mặt dấu hình vuông bằng cỡ đế ấn, để viền ngoài 0,8cm, bên trong là 4 chữ Triện Tam phủ công đồng (三府公同). Đây là ấn dấu ở ban Tam phủ công đồng. Theo quan niệm Đạo giáo “Tam phủ” tức là ba phủ “Thiên phủ”, “Địa phủ” và “Thủy phủ”. Ở Đạo giáo nước ta, Tam phủ công đồng là ban thờ lớn ở chính thất thờ chư vị Thánh mẫu. Đệ nhất Thượng thiên (Tượng là mẫu Liễu Hạnh), Đệ nhị Thượng ngàn (Mẫu Thượng ngàn) và Đệ tam Thoải phủ (Mẫu Thoải - tức mẫu Thuỷ phủ). Về sau này một số đền, điện thờ ở ban Tam phủ công đồng còn thờ thêm nhiều hình tượng khác, bố cục xếp đặt cũng không được thống nhất, đó là sự biến tướng khá phức tạp của Đạo giáo Việt Nam. (H. 226 a,b)




Một quả ấn khác có toàn thân để mộc, núm ngắn đơn giản, đế ấn mỏng hình chữ nhật, kích thước 6,9x8,3cm. Mặt đế ấn lại khắc khuôn dấu hình lá đề đứng, kích thước 6,7x8,1cm khắc hai đường viền rìa cạnh cỡ 0,5cm. Bốn chữ Triện trong dấu xếp theo bố cục . Nét chữ uốn nhiều nét theo hình lá nên tương đối khó đọc, là 4 chữ Ngọc hoàng thượng đế 玉皇上帝 đây là ấn của Ngọc Hoàng Thượng đế (H. 227 a,b,c)

Theo quan niệm của Đạo giáo thì Ngọc Hoàng Thượng đế là vị Đế cao nhất của các Đế và thần thánh, cùng muôn loài ở cả ba cõi thiên đình, trần gian, âm phủ. Không chỉ Đạo giáo mà nhiều giáo phái khác trên thế giới từ xưa đến nay cũng tôn sùng và thờ phụng Ngọc Hoàng Thượng đế.

Tiếp theo là quả ấn cũng có toàn thân để mộc, núm cầm nhỏ, đế ấn hơi dày làm theo hình vuông, kích thước 5,7x5,7cm, bốn chữ Triện khắc vuông vức, chữ Hán thứ 2 có nét uốn kéo dài, là 4 chữ Bắc đẩu namtào 北斗南曹. Đây là ấn dấu của Nam Tào Bắc Đẩu (H. 228 a,b,c)

Theo quan niệm của Đạo giáo thì Nam Tào, Bắc Đẩu là hai bên tả, hữu của Ngọc Hoàng Thượng đế. Tả Nam Tào Diên thọ tinh quân được đặt bên trái Ngọc hoàng, coi sóc về tuổi thọ của chúng sinh. Hữu Bắc Đẩu Giải ách tinh quân đặt ở bên phải Ngọc Hoàng, trông coi về sức khoẻ và bệnh tật của chúng sinh.

Một quả ấn nữa có độ dày và núm cầm trung bình, toàn bộ ấn được quét sơn ta màu đỏ. Mặt đế ấn hình vuông kích thước 6,5x6,5cm, dấu hình vuông kích thước bằng mặt đế ấn, viền ngoài đế cỡ 1cm. Bốn chữ Triện khắc nét ngắn là 4 chữ Ngũ hổ đại tướng 五虎大將. Đây là ấn của năm đại tướng hổ (H. 229 a, b, c)




Theo quan niệm của Đạo giáo thì Ngũ hổ tượng trưng cho năm thần tướng trấn giữ 5 phương (Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung ương). Năm hổ với năm màu sắc khác nhau được định theo màu sắc của ngũ hành phương vị là hổ đen, hổ đỏ, hổ xanh, hổ trắng và hổ vàng. Hổ vàng bao giờ cũng được đặt ở giữa (trung ương thổ). Đền và điện thờ nào của Đạo giáo Việt Nam cùng có am thờ Ngũ hổ hoặc độc hổ. Cũng có nhiều ấn dấu hình độc hổ, loại con dấu này có khắc hình một con hổ, bốn góc quanh hổ khắc 4 chữ kim 金, mộc 木, thủy 水, hỏa 火và bụng hổ là chữ thổ 土. Nó tượng trưng cho ngũ hổ ở 5 phương 4 hướng khác nhau. (H. 230)



Ngoài ấn ngũ hổ và độc hổ trên còn có ấn Ngũ hổ tướng ấn 五虎將印 có hình thức ấn và chức năng, nội dung văn khắc có ý nghĩa tương tự ấn Ngũ hổ đại tướng. Riêng kích thước mặt đế ấn (tức mặt dấu) có nhỏ hơn một chút, nó có cỡ 5,7x5,7cm. (H. 231)



Ở một số điện, đền thờ có ban thờ Ngọc Hoàng Thượng đế còn thấy tượng Thiên lôi thần tướng. Hình tượng Thiên lôi thần tướng cũng được thể hiện qua phù ấn với hình dấu có 4 chữ Triện Thiên lôi thần tướng 天雷神將. (H. 232)



Theo các đạo sĩ, thầy pháp thì những con dấu trên được dùng đóng vào lá bùa, lá sớ mà họ đã có bản khắc in sẵn, hoặc là những bản cần viết tay. Trước khi tín chủ đến cầu cúng xin bùa, sớ về nhà thì những lá sớ, lá bùa có đóng hình dấu đó được dâng lên điện thờ để thầy hành lễ, kêu cầu sao cho được linh nghiệm. Ở đây thể hiện rõ sự gắn bó giữa điện thờ và con dấu của bản điện, hay nói một cách khác đó là sự gắn bó mật thiết giữa phù ấn và hình tượng thánh thần được tôn thờ.

Nói về Đạo giáo Việt Nam là nói đến đức Thánh Trần với bao ngôi đền thờ, điện thờ, ban thờ Trần Hưng Dạo trên khắp đất nước ta. Rất nhiều điểm di tích này còn lưu giữ ấn tín và văn bản Hán Nôm có lưu hình dấu về Trần Hưng Đạo. Một số ấn có niên đại khá cao như số ấn gỗ mà chúng tôi đã giới thiệu ở mục “Thực trạng ấn chương thời Lê trung hưng” trong Phần I. Còn hầu hết ấn có niên đại vào khoảng cuối thời Nguyễn. Những quả ấn này có nội dung văn khắc giống nhau như Trần Hưng Đạo ấn, Trần triều Hưng Đạo, Trần Hưng Đạo vương ấn. Phần cuối này xin được giới thiệu một quả ấn lớn có nội dung văn khắc khá đặc biệt nói về vị thánh linh thiêng của chúng ta.

Ấn hiện nay được bảo quản ở Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội. Có ký hiệu LSB1425/245, niên đại ấn được tạo tác khoảng cuối thời Nguyễn. Ấn có chất liệu gỗ, hình thể đơn giản núm cầm ngắn liền đế. Mặt đế ấn hình dấu có kích thước 10,3x11,5cm, viền ngoài để rộng và khắc họa tiết. Văn khắc có 12 chữ Triện xếp theo 3 hàng dọc, là 12 chữ Cửu thiên vũ đế Trần triều Hưng Đạo đại vương chi ấn 九天武帝陳朝興道大王之印 tức ấn của Cửu thiên Vũ đế Hưng Đạo Đại vương triều Trần[286]. (H. 233)



Trần Hưng Đạo khi mất được vua Trần truy tặng là Thái sư Thượng phụ Thượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo đại vương. Nhiều tư liệu chữ Hán và một số ấn gỗ còn giữ đến ngày nay cũng chỉ ghi là Hưng Đạo đại vương, riêng quả ấn này thì lại ghi thêm mấy chữ “Cửu thiên Vũ đế”. Trong tín ngưỡng của Đạo giáo Việt Nam, các bậc thánh thần như Tản Viên Sơn thánh, Cao Sơn v.v… cũng chỉ được phong là Đại Vương, không vị nào được xưng “Đế” cả. Ấn dấu này đã chứng minh cho việc Trần Hưng Đạo, một vị tôn thần duy nhất của nước ta được phong là “Cửu thiên Vũ đế”. Tại sao một con người bằng xương bằng thịt như Trần Hưng Đạo ở thời Trần lại được tôn sùng như một vị thánh, vị đế cao nhất trong thế giới tâm linh của người dân Việt Nam như vậy (?)

Trần Quốc Tuấn sinh ngày 10 tháng 12 năm Bính tuất niên hiệu Kiến Trung thứ 2 (1226) thời Trần[287]. Ông là con An Sinh Vương Trần Liễu và Thuận Thiên Công chúa Lý Thị Nguyệt. Đại Việt sử ký tiền biên ghi về ông: “… Khi mới sinh ra có người xem tướng trông thấy bảo rằng: “Người này ngày sau có thể cứu nước giúp đời”, đến khi lớn lên dung mạo khôi ngô thông minh hơn người, đọc rộng các sách, có tài văn võ…”[288]. Sau này ông đã trở thành một vị tướng tài ba và năm Thiệu Bảo thứ 5 (1283) ông được tiến phong làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh chư quân. Trần Quốc Tuấn đã làm nên trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam với chiến công oanh liệt ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông.

Năm Trùng Hưng thứ 5 (1289) khi triều đình xét công trạng, ông được tiến phong làm Hưng Đạo Đại vương, được người đời tôn làm anh hùng dân tộc và hậu thế coi như một “người Trời” xuống giúp nước cứu đời.

“Sinh vi tướng tử vi thần”, sinh ra làm tướng giúp dân giúp nước, mất đi cũng làm thần giúp dân giúp nước. Khi qua đời, tương truyền Trần Hưng Đạo đã thành thần, thành thánh hiển linh cứu giúp chúng sinh, được đương thời và hậu thế tôn thờ, đó là tâm linh tôn giáo của nhân dân ta mà biết bao điện, đền thờ đức thánh Trần còn tồn tại đến nay như một minh chứng sinh động. Theo tư liệu dân gian do nhà nghiên cứu Hán Nôm Hoàng Giáp sưu tầm được thì sau khi mất, Trần Hưng Đạo đã “lên thiên đình nhận lệnh chỉ của Ngọc Hoàng Thượng đế làm Cửu thiên Vũ đế. Đế có nhiệm vụ trừ đạo khắp cả ba cõi là Thượng giới (thiên đình), Trung giới (trần gian) và Hạ giới (âm phủ)… Cửu thiên Vũ đế luôn hiển hóa ở cõi trời Nam để giúp dân giúp nước”.
 
< Prev   Next >
Trang chủ Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam