Tài liệu nghiên cứu về ấn chương học Viêt Nam, phần thứ nhất.
PHẦN THỨ NHẤT
ẤN CHUƠNG VIỆT NAM TỪ THỜI LÊ SƠ (1428-1527) ĐẾN THỜI TÂY SƠN (1778-1802)
CHƯƠNG I
ẤN CHƯƠNG VIỆT NAM THỜI LÊ SƠ - MẠC (1428 - 1592)
I. Ấn chương Việt Nam thời Lê sơ (1428 - 1527)
1. Bối cảnh lịch sử
Sau khi chiến thắng quân Minh năm 1428 Lê Lợi lên ngôi hoàng đế ở Đông
Kinh[24], cải niên hiệu là Thuận Thiên, đặt quốc hiệu là Đại Việt, đại
xá cho thiên hạ, đóng đô ở Đông Kinh. Trước đó ông đã cho đại hội các
tướng và các quan văn võ để xét công phong thưởng theo từng thứ bậc
khác nhau, lấy Thừa chỉ Nguyễn Trãi làm Quan phục hầu, Tư đồ Trần
Nguyên Hãn làm Tả Tướng quốc, Khu mật đại sứ Phạm Văn Xảo làm Thái bảo…
Đối với các địa phương, Lê Lợi áp dụng chế độ quân quản, chia nước làm
năm đạo, đạo đặt vệ quân, vệ đặt chức Tổng quản đứng đầu; ở mỗi đạo còn
đặt thêm chức Hành khiển để giữ sổ sách ghi chép cả về quân sự và dân
sự. Những năm sau đó việc phong chức đặt quan vẫn được tiến hành rải
rác đối với từng người và từng cấp đơn vị, địa phương khác nhau. Đồng
thời với việc xây dựng chính quyền trung ương, địa phương, đặt quan,
phong chức tước cấp bậc thường là việc làm và ban cấp ấn tín. Song vấn
đề này đời Lê Lợi không thấy chính sử ghi chép cụ thể.
Việc đúc ấn vàng, ấn bạc dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại thời Lê sơ
chính thức được bắt đầu từ triều Lê Thái Tông. Sự kiện này đã được
chính sử ghi vào năm Thiệu Bình thứ 2 (1435) đã hoàn thành việc chế tác
sáu quả ấn quý.
“Tháng 3 ngày mồng 6 ấn báu đã đúc xong. Sai bọn Hữu Bật Lê Văn
Linh[25] đến Thái miếu làm lễ tấu cáo. Sáu ấn đều làm bằng vàng bạc. Ấn
Thuận thiên thừa vận chi bảo 順天承運之寶 thì cất đi không dùng, chỉ khi nào
truyền ngôi mới dùng. Ấn Đại thiên hành hóa chi bảo 大天行化之寶 khi nào đi
đánh dẹp mới dùng. ấn Chế cáo chi bảo 制告之寶 thì dùng khi ban chế chiếu.
Ấn Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶 thì dùng khi có sắc dụ và hiệu lệnh thưởng
phạt, cùng các việc lớn. Ấn Ngự tiền chi bảo 御前之寶 thì dùng đóng vào
giấy tờ sổ sách. Ấn Ngự tiền tiểu bảo 御前小寶 thì dùng khi có việc cơ mật.
Nhưng chính sự thì còn dùng ấn bằng ngà, chưa dùng đến ấn mới đúc”[26].
Nhìn từ góc độ lịch sử cho thấy Lê Thái Tông đã tiến hành củng cố và
xây dựng chính quyền từ trung ương đến địa phương với những cố gắng
tích cực, được sách sử đánh giá cao: “Vua tư chất sáng suốt… trọng đạo,
chuộng Nho, đặt khoa thi chọn kẻ sĩ, chế lễ nhạc, rõ chính hình; văn
vật rực rỡ đủ cả, đáng khen là vua hiền”[27]. Ông còn cho tổ chức thi
Hương (ở các đạo) và thi Hội (ở Kinh) và dựng bia ghi tên các Tiến sĩ
v.v… Việc cho đúc các Bảo ấn vàng để dùng với ý nghĩa quốc gia trọng
đại cũng nằm trong “chính hình rõ ràng” của Thái Tông khi ông lên ngôi
mới được hai năm.
Trong 6 bảo ấn vàng mà chính sử nêu thì chứng tích còn lại ngày nay chỉ
tìm thấy ở các ấn Sắc mệnh chi bảo in trên sắc phong và Ngự tiền chi
bảo còn khắc in trên bia đá, những ấn khác không còn dấu tích gì. Về ấn
Thuận thiên thừa vận chi bảo sau này được nhắc tới trong một vài cuốn
sách với mục đích để nâng cao vai trò vị trí của ấn quý, gươm báu của
một vương triều có công đuổi xâm lược giành lại đất nước.
Triều đình Lê sơ từ Lê Thái Tổ (1428-1433) bắt đầu xây dựng chính
quyền, đến đời Lê Thái Tông (1433-1442), Lê Nhân Tông (1442-1459) rồi
Lê Nghi Dân (1459-1460) đã tiếp tục xây dựng và củng cố chính quyền. Mô
phỏng thể chế phong kiến Lý - Trần, tham bác thể chế nhà Đường - Tống
Trung Quốc, nhà Lê sơ đặt Tể tướng[28], lập tam Sảnh[29] gồm Thượng thư
sảnh, Trung thư sảnh và Môn hạ sảnh. Đây là những cơ quan cao nhất có
quyền hạn rất lớn, có tổ chức và ấn tín riêng. Nhà Lê sơ còn đặt cơ
quan Hoàng môn sảnh là nơi giữ Bảo ấn của vua và phụ giúp Môn hạ sảnh,
đồng thời còn đặt cơ quan kiểm sát gồm lục Khoa và Ngự sử đài[30] cùng
Nội mật viện[31], nhưng cơ cấu chính quyền trung ương giai đoạn này
không đặt hệ thống lục Bộ. Lê Thái Tổ chỉ đặt ra 3 Bộ là bộ Lại, bộ Lễ
và bộ Dân (tức bộ Hộ), trải đến đời Lê Nghi Dân (1460) mới lập lục Bộ
là: bộ Lại, bộ Hộ, bộ Lễ, bộ Binh, bộ Hình, bộ Công và đặt chức Thượng
thư đứng đầu mỗi Bộ.
Tổ chức chính quyền địa phương giai đoạn này cũng được coi trọng, cả
nước được chia làm 5 đạo, 6 trấn và 14 lộ. Được cấp đạo, trấn là chính
quyền cấp lộ, dưới lộ là châu, dưới châu là huyện và cấp cơ sở dưới
huyện là xã. Giai đoạn này chế độ hành chính đã dần dần thay thế chế độ
quân quản: Văn bản cổ có niên đại năm Đại Hòa thứ 7 (1449) đời Lê Nhân
Tông có ghi tên chức quan Tán trị thừa Chánh sứ ty của châu Hóa, lộ
Thuận Hóa có hình dấu kiềm được giới thiệu ở mục sau là tư liệu quý
hiếm nói về giai đoạn đầu Lê sơ.
Năm 1460 Lê Thánh Tông lên ngôi bắt đầu cho một triều đại thịnh trị của
giai đoạn phong kiến Lê sơ. Với công cuộc cải cách hành chính quy mô và
đồng bộ từ trung ương xuống địa phương, từ lực lượng quân đội đến các
cơ quan dân sự, nhà nước trung ương tập quyền vương triều này đạt đến
mức hoàn bị. Về lập pháp, đây là triều đại cho ra đời bộ luật Hồng Đức
nổi tiếng có nhiều điểm tiến bộ nhất trong lịch sử luật pháp thời phong
kiến nước ta.
Không như các vị Hoàng đế khác, Lê Thánh Tông đã mạnh dạn phê phán một
số chủ trương đường lối ngay cả của các tiên đế mình, lời dụ của ông có
câu rằng: “… Đến Lê Thái Tông đề cao Tể tướng, trọng Cơ mật viện cho
gồm cả lục Khoa, đặt tam Sảnh mà bỏ cả lục Bộ…”[32].
Công cuộc cải cách có liên quan đến việc chế tác, thay đổi bổ sung,
hoàn thiện ấn chương cho các cấp các ngành, cả với Bảo ấn dùng với ý
nghĩa quốc gia trọng đại. Năm Bính Tuất niên hiệu Quang Thuận thứ 7
(1466) Lê Thánh Tông sai đúc tiếp ấn vàng lớn khắc sáu chữ Triện mặt
dấu là Hoàng đế thụ mệnh chi bảo 皇帝受命之寶 để dùng vào các việc trọng đại.
Sự kiện này đã được chính sử ghi lại: “Ngày 16 đem việc khắc ấn Hoàng
đế thụ mệnh chi bảo tấu cáo Thái miếu, ngày hôm ấy mưa gió to…” và “…
ấn báu đúc xong sai Thái sư Đinh Liệt tấu cáo Thái Miếu…”[33].
Lê Thánh Tông đã sai phong khóa Bảo ấn Thuận thiên thừa vận chi bảo coi
đó là biểu tượng của các Bảo ấn, là ấn truyền quốc của nhà Lê sơ. Bảo
ấn Hoàng đế thụ mệnh chi bảo được mang ra dùng thay cho Bảo ấn Thuận
thiên thừa vận chi bảo được cất lưu.
Lê Thánh Tông cho tổ chức lại toàn bộ hệ thống hành chính từ trung ương
xuống địa phương bắt đầu từ những cơ quan văn phòng bên cạnh Hoàng đế
gồm có Hàn lâm viện[34], Đông các[35], Trung thư giám[36], Hoàng môn
sảnh và Bí thư giám[37]. Điểm nổi bật là nhà vua đã bãi bỏ chức Tướng
quốc (Tể tướng) thân chinh nắm quyền cai trị điều khiển triều đình. Chế
độ tam Sảnh vẫn tồn tại nhưng vai trò quan trọng đã giảm dần, chỉ còn
chức năng văn phòng Hoàng đế bên cạnh Hàn lâm viện và tòa Đông các.
Hoàng môn sảnh từ thời Lê Thánh Tông vẫn là cơ quan chuyên trách giữ
Bảo ấn của nhà vua, do Hoàng môn Thị lang đứng đầu và không phải kiêm
nhiệm chức năng phụ giúp Môn hạ sảnh như trước nữa.
Dưới thời Lê Thánh Tông hệ thống lục Bộ được chú ý đặc biệt, năm Quang
Thuận thứ 6 (1465) ông cho đổi lục Bộ làm lục Viện và một năm sau (năm
1466) ông lại đổi lại lục Viện thành lục Bộ. Đứng đầu mỗi Bộ là chức
Thượng thư rồi đến Tả, Hữu Thị lang, dưới có các chức Lang trung và
Viên Ngoại lang phụ trách Thanh lại ty, là cơ quan chuyên trách của mỗi
Bộ.
Song song với việc lập lục Bộ, Thánh Tông cho chế tác và ban cấp ấn tín
cho mỗi Bộ. Sử cũ ghi lại việc tháng 4 năm Quang Thuận thứ 7 (1466)
thiết lập hệ thống lục Bộ đặt chức Thượng thư đứng đầu mỗi Bộ, dưới là
chức Tả, Hữu Thị lang… và đến tháng 10 (năm 1466) việc chế tác ấn tín
mới xong, Lê Thánh Tông mới lệnh ban cấp ấn tín cho các Bộ[38]. Bản sắc
chỉ còn in hình dấu Lại bộ chi ấn có niên đại năm Hồng Đức thứ 19
(1488) được giới thiệu ở mục 2 dưới đây sẽ minh chứng cho ấn dấu cấp Bộ
thời Lê Thánh Tông.
Ở hệ thống lục Bộ, thì bộ Lễ ngoài các chức năng nhiệm vụ khác thì phải
chịu trách nhiệm chế tác các loại ấn tín. Mỗi loại ấn từ ngoại hình
kích cỡ cao thấp, to nhỏ, kiểu hình núm ấn, họa tiết viền ngoài đến thể
thức kiểu viết khắc chữ Triện… Bộ Lễ phải thực hiện theo đúng quy chế,
quản lý việc đúc và sử dụng ấn nghiêm cẩn theo luật định, không để việc
đúc và dùng ấn tùy tiện. Ngoài ra, bộ Lễ còn chịu trách nhiệm tổ chức
lễ phong khóa Bảo ấn, lễ khai ấn, lễ giao và tiếp nhận ấn đối với các
ấn tín quan trọng của cơ quan lớn và ấn tướng quân trong lực lượng quân
đội.
Năm Quang Thuận thứ 7 (1466) Lê Thánh Tông thiết lập lục Tự gồm Đại lý
tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Hồng lô tự, Thượng bảo tự và Thái bộc
tự với chức năng nhiệm vụ là thừa hành công việc của hệ thống lục Bộ
giao cho. Trong đó Thượng bảo tự là cơ quan chịu trách nhiệm đóng dấu
Hội thí và quyển thi của các thí sinh dự kỳ thi Hội do triều đình mở.
Đối với hệ thống kiểm sát ngay từ tháng 8 năm 1465 Lê Thánh Tông đã
tiến hành cải cách. Ở lục Khoa, ông cho đổi Trung thư khoa làm Lại
khoa, Hải khoa làm Hộ khoa, Đông khoa làm Binh khoa, Tây khoa làm Hình
khoa, Bắc khoa làm Công khoa và Nam khoa làm Lễ khoa.
Tiến hành cải cách chính quyền địa phương, tháng 6 năm 1466 Lê Thánh
Tông chia nước làm 12 đạo Thừa tuyên là Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa,
Thiên Trường, Nam Sách, Bắc Giang, Quốc Oai, An Bang, Tuyên Quang, Hưng
Hóa, Lạng Sơn và Thái Nguyên. Đồng thời nhà vua cho đổi lộ thành phủ và
trấn làm châu[39]; song song là việc thay đổi bổ nhiệm chức quan địa
phương cùng việc ban cấp ấn tín. Sử ghi: “Tháng 6 năm 1466 Lê Thánh
Tông lại cho đặt 12 đạo Thừa tuyên… rồi cho đổi lộ thành phủ, trấn làm
châu, Chuyển vận sứ làm Tri huyện, Tuần sát làm Huyện thừa, Xã quan làm
Xã trưởng… Ban ra ấn Tri phủ, bỏ không cấp ấn An phủ nữa…”[40].
Năm Hồng Đức nguyên niên (1470) vua Chiêm Thành là Trà Toàn phản nghịch
mang quân cướp phá đất Hóa Châu - Thuận Hóa. Lê Thánh Tông hạ chiếu
điều động tướng soái, huy động 26 vạn quân thân đi chinh phạt Chiêm
Thành. Trong quá trình chinh phạt, Lê Thánh Tông có lệnh ban sắc phong
cho một số tướng soái chỉ huy các đạo quân Nam tiến. Trong đó có sắc
phong cho phụ chính Tham tướng Phạm Như Tăng làm Trung quân Đô thống
tạm quyền lãnh ấn tiên phong chỉ huy mười đạo binh tiến đánh Chiêm
Thành. Trên sắc phong đó có đóng dấu Kim Bảo Sắc mệnh chi bảo lưu ở
dòng ghi niên hiệu Hồng Đức năm thứ 2 (1471)[41]. Quân Lê sơ tiến đến
thủ phủ Chiêm Thành công phá thành Đồ Bàn[42], bắt sống Trà Toàn. Việc
bình Chiêm thành công[43], Lê Thánh Tông hạ chiếu lấy vùng đất mới Nam
Trung bộ lập ra Thừa tuyên Quảng Nam đặt quan tướng cai trị, sáp nhập
vào lãnh thổ nước ta thành 13 đạo Thừa tuyên. Đến tháng 4 năm Hồng Đức
thứ 21 (1490) Thánh Tông đổi Thừa tuyên làm Xứ và đặt thêm một xứ trực
thuộc Kinh sư (tức phủ Phụng Thiên) gọi là Trung đô.
Về tổ chức quân sự thời Lê Thánh Tông, quân đội toàn quốc được đặt dưới
quyền thống lĩnh của 5 phủ là Trung quân phủ, Đông quân phủ, Tây quân
phủ, Nam quân phủ và Bắc quân phủ. Tổng tư lệnh quân đội là Thái úy
nhưng trực tiếp chỉ huy là chức Tả, Hữu Đô đốc Ngũ phủ. Mỗi phủ đặt 6
Vệ, một Vệ có 5 hoặc 6 Sở, mỗi Sở có 400 quân chia làm nhiều Ngũ. Mỗi
Phủ đặt chức Tả, Hữu Đô đốc, Đô đốc Đồng tri và Đô đốc Thiêm sự. Cấp Vệ
đặt chức Tổng tri, Đồng Tổng tri và Thiêm Tổng tri. Cấp Sở đặt chức
Quản lãnh, Chánh Võ úy và Phó Võ úy. Mỗi Ngũ đặt một chức Tổng kỳ. Quân
ngũ ở Kinh sư được chia làm nhiều Vệ, mỗi Vệ lại có khoảng 5 Sở hoặc
Ty, dưới cấp Sở, Ty là Đội. Trong đó có các Vệ chính là Cẩm Y, Kim Ngô,
Điện Tiền và Kim Quan lực sĩ mà các vệ dưới có biên chế quân ngũ theo.
Ví dụ như Cẩm Y vệ có 4 vệ Thuần tượng là Tiền vệ, Tả vệ, Hữu vệ và Hậu
vệ; mỗi Vệ này quản 5 Sở. Ngoài ra Cẩm Y vệ còn có một vệ Mã Nhàn chỉ
huy 5 Sở nữa. Mỗi một Sở đều có tên riêng như Hậu vệ có 5 sở là Tựu
Lăng, Cầm Chí, Thành Nhạc, Cảng Hà và Bào Lâm. Đứng đầu mỗi Vệ dưới là
chức Chỉ huy sứ có các chức chỉ huy Đồng tri và Chỉ huy Thiêm sự làm
phó. Mỗi một chức đứng đầu từ cấp Sở trở lên đều được ban cấp ấn tín sử
dụng. Ví dụ như chỉ huy sở Bào Lâm Hậu vệ được ban ấn khắc là Thuần
tượng hậu vệ bào lâm hậu sở ấn (Ví dụ này sẽ được giới thiệu ở mục 2
tiếp sau).
Thời Lê sơ mỗi đạo Thừa tuyên đặt một Đô ty để quản lý quân vụ, đứng
đầu là Đô Tổng binh sứ, phó Tổng binh Đồng tri, Tổng binh Thiêm sự. Mỗi
Đô ty có một số Vệ, đứng đầu là chức Chỉ huy sứ và phó là Chỉ huy sứ
Đồng tri và Chỉ huy sứ Thiêm sự. Mỗi Vệ lại chia làm 5 sở Thiên hộ, mỗi
sở Thiên hộ lại quản 10 sở Nhất bách hộ v.v…
Những quy định về việc sử dụng ấn tín thời Lê sơ không chỉ thực hiện ở
những ấn quý dùng với việc trọng đại, mà mỗi loại ấn đều phải được dùng
cho một cấp, ngành hoặc đơn vị riêng biệt, trên một số văn bản quy
định. Như tháng 3 năm 1468 Lê Thánh Tông sắc chỉ cho các Nha môn: “Nếu
tâu về việc công thì cho đóng ấn ở bản Nha môn, nếu là bản tâu của các
quan viên quân sắc không có ấn tín thì đều do Ty Thông chánh sứ xét
đóng dấu kiềm vào chỗ giáp phùng”[44]…2. Thực trạng về ấn chương thời Lê sơ
a. Hiện vật ấn chương
Hiện nay chúng ta còn giữ được rất ít những quả ấn đồng mang niên đại
thời Lê sơ. Ngược dòng lịch sử đến cuối giai đoạn nhà Trần, chúng tôi
đã tìm thấy hiện vật ấn chương có liên quan đến nhà Lê sau đó. Việc
giới thiệu quả ấn đồng thời Trần Duệ Tông dưới đây, là mắt xích nối ấn
chương giữa hai giai đoạn Trần - Lê, và cũng là điểm nối lịch sử của
hai giai đoạn có tổ chức hành chính quan chế giống nhau, nhưng đã bắt
đầu thay đổi từ triều Lê Thánh Tông với công cuộc cải cách hành chính
quy mô và đồng bộ.
Trong số hiện vật ấn chương còn lưu giữ được tới ngày nay tại các cơ
quan Bảo tàng ở Việt Nam thì quả ấn đồng có tên gọi Môn hạ sảnh ấn ở
Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội được coi là quả ấn đồng cổ
nhất có niên đại rõ ràng ở nước ta[45].
Ấn có chất liệu bằng đồng, núm ấn làm theo hình mặt bia đá có đế tam
cấp. Ấn có chiều cao 8cm, phần rộng nhất tức là phần đế ấn là 7,3cm.
Núm cầm trên rộng 3,7 cm và dày 1,2 cm. Mặt ấn có hai dòng chữ Hán khắc
ở hai bên thành ấn ngay bậc thứ nhất. Bên phải là bốn chữ Môn hạ sảnh
ấn 門下省印, chữ thứ ba tuy khá mờ nhưng có thể xác định rõ là chữ “sảnh”.
Bên trái là dòng chữ Hán có chữ đầu và ba chữ khác bị sứt mờ rất khó
đọc. Sau khi nghiên cứu, chúng tôi cho rằng đây là các chữ Long Khánh
ngũ niên ngũ nguyệt nhị thập tam nhật tạo 隆 慶 五 年 五 月 二 十 三 日 造.
Mặt dấu hình vuông có kích thước 7,3x7,3cm, văn khắc mặt dấu là bốn chữ
Triện, nét khắc uốn nhiều lần. Đó là bốn chữ Môn hạ sảnh ấn 門下省印 (H.20
a, b, c, d).
Như vậy niên đại của ấn được xác định rõ, ấn được đúc vào ngày 23 tháng
5 năm Long Khánh thứ 5 đời Trần Duệ Tông (1377). Dòng chữ khắc trên mặt
ấn và hình dấu Môn hạ sảnh ấn đã cho chúng ta biết đây là con dấu của
một chức quan thời Trần. Nhưng “Môn hạ sảnh” là cơ quan gì, chức năng
nhiệm vụ của nó như thế nào, ai là chủ sở hữu của quả ấn, đó là những
điều nan giải khi tài liệu thời Trần liên quan đến các vấn đề này cho
đến nay còn quá sơ sài, khiến chúng ta phải tìm từ cội nguồn của “Môn
hạ sảnh”.
Môn hạ sảnh là một cơ quan trung ương nằm trong bộ ba “Tam Sảnh” là
Thượng thư sảnh, Trung thư sảnh và Môn hạ sảnh, ba cơ quan cao nhất ở
triều đình phong kiến thời cổ. Ở Trung Quốc ba cơ quan riêng biệt được
hình thành từ thời Đông Hán. Ban đầu lấy Thượng thư thay Thừa tướng,
tiếp đó lấy Trung thư thay thế Thượng thư, cuối cùng lấy Môn hạ để chia
quyền với Trung thư. Đến thời Tùy - Đường mới phát triển thành chế độ
Tam Sảnh. Từ Hải giải nghĩa “Tam Sảnh” theo sách Tân Đường thư, Bách
quan chí 1: “Thời Tùy - Đường, Tam sảnh là cơ quan cao nhất, trong đó
tòa Trung thư đóng vai trò quyết sách, tòa Môn hạ giữ vai trò thẩm
nghị, tòa Thượng thư có trách nhiệm chấp hành; trên thực tế, ba vị quan
đứng đầu ba tòa này cùng nhau phụ trách công việc của Trung khu”[46].
Ở Việt Nam nhà Trần xếp đặt quan chức chủ yếu dựa vào phép đặt quan của
nhà Lý, đồng thời có tham bác và mô phỏng theo quan chức chế của nhà
Đường - Tống Trung Quốc. Nhà Trần các vương công tôn thất đều ở phủ đệ
riêng nơi thôn dã, đến kỳ triều kiến thì mới vào Kinh. Khi nhậm chức
thì họ cũng chỉ nắm giữ những cái chính còn thực quyền thì nằm trong
tay quan Hành khiển. Nhà Trần thiết lập Thượng thư sảnh và Môn hạ sảnh.
Thượng thư sảnh có nhiệm vụ giúp Tể tướng quản lý các việc có liên quan
đến quan chức, chức Hành khiển Thượng thư đứng đầu. Môn hạ sảnh là cơ
quan thân cận của vua, có nhiệm vụ giữ Bảo ấn, chuyển lệnh của vua tới
các quan, nhận lời tấu lên vua và các công việc lễ nghi trong cung;
chức chưởng đều gắn với chức Hành khiển. Hành khiển là chức rất lớn,
bao trùm các chức Lệnh Thị lang, Tả Hữu ty, Lang trung[47].
Chức quan ở Môn hạ sảnh thời Trần đều do những đại thần tài giỏi đảm
nhiệm, như năm Khai Thái thứ 6 (1329) Trần Minh Tông phong Vũ Nghiêu Tá
làm Nhập nội Hành khiển Môn hạ Hữu ty Lang trung. Năm Khai Hựu thứ 11
(1339) Trần Hiến Tông lấy Trương Hán Siêu làm Môn hạ Hữu ty Lang trung
rồi sai Trương Hán Siêu cùng Nguyễn Trung Ngạn biên soạn bộ Hoàng triều
đại điển và khảo đính bộ Hình thư để ban hành[48]. Những thay đổi về
danh xưng ở Ty Hành khiển cũng không làm nó thay đổi về chức năng nhiệm
vụ, như năm Thiệu Phong thứ 4 (1344) Trần Dụ Tông đổi Thánh từ Hành
khiển ty làm Thượng thư sảnh, và Hành khiển ty vẫn để là Môn hạ sảnh
như cũ.
Các đại thần tài giỏi tuy đã làm ở Sảnh rồi vẫn được kiêm nhiệm chức vụ
khác, như Hành khiển Phạm Sư Mạnh năm Đại Trị thứ 5 (1362) được Trần Dụ
Tông phong thêm chức Tri khu mật viện sự. Cũng có người không vì tài
cao nhưng vì có công đối với nhà vua nên cũng được giữ chức Hành khiển
như Nguyễn Nhiên năm Thiệu Khánh thứ 1 (1370) được Trần Nghệ Tông trả
ơn cho làm Hành khiển Tả Tham tri chính sự. Sự kiện này về sau đã bị sử
thần Ngô Sĩ Liên phê phán ở chính sử.

Trở lại quả ấn đồng Môn hạ sảnh ấn, nó được đúc vào năm 1377 và được
dùng đóng trên những văn bản hành chính quan trọng từ đời Trần Phế Đế
về sau. Đáng tiếc về vấn đề này, như trên đã nói, không còn một văn bản
Hán Nôm thời Trần nào còn sót lại, cho nên việc tìm lại tên họ những
đại thần có gắn bó với quả Môn hạ sảnh ấn này may chăng là việc làm có
ý nghĩa.
Năm Thiệu Khánh thứ 3 (1372) Trần Nghệ Tông cho Đỗ Tử Bình làm Hành
khiển tham mưu quân sự, trải qua đời Duệ Tông đến thời Trần Phế Đế năm
Xương Phù thứ 2 (1378) Đỗ Tử Bình vẫn giữ chức Hành khiển như cũ. Đến
năm Xương Phù thứ 4 (1380) Đỗ Tử Bình lại được thêm chức Nhập nội Hành
khiển Tả Tham tri chính sự lãnh chức Kinh lược sứ Lạng Giang[49].
Sách Đại Việt sử ký tiền biên còn ghi rõ tên họ, năm tháng những đại
thần giữ chức Hành khiển: “Năm Xương Phù 5 (1381) cho Đào Sư Tích làm
Nhập nội Hành khiển Hữu ty Lang trung”. “Năm Xương Phù 8 (1384) sai
Hành khiển ty là Trần Nghiêu Dụ đốc thúc Vận sứ của các Lộ vận chuyển
lương đến đầu huyện Thủy Vĩ cấp cho quân…”. “Năm Xương Phù 12 (1388)
cho Nhập nội Hành khiển Tả ty là Vương Hữu Chu về hưu trí”[50].
Trong số những đại thần trên thì Trần Nghiêu Dụ mới có thể là người
quản lý và sử dụng Môn hạ sảnh ấn, vì Môn hạ sảnh chính là Hành khiển
ty, còn các chức Hành khiển khác thì chỉ liên quan đến Môn hạ sảnh
thôi. Quả ấn này được chế tác năm 1377 nhưng mãi đến năm 1384 thì Trần
Nghiêu Dụ mới được bổ nhiệm đóng dấu Môn hạ sảnh, còn trước năm 1384 và
sau Trần Nghiêu Dụ là ai thì chúng tôi cũng chưa tìm ra được.
Đầu thời Lê sơ, vua Lê Thái Tông mô phỏng quan chức chế nhà Trần để đặt
ra tam Sảnh. Thượng thư sảnh giữ sự vụ quan chức, Trung thư sảnh giữ
việc thượng lượng, bàn bạc mọi việc trọng đại của quốc gia. Môn hạ sảnh
giữ quyền thẩm tra kiểm duyệt mọi việc sau đó mới được ban bố thi hành.
Chế độ tam Sảnh đó còn mãi trong giai đoạn Lê sơ và ấn Môn hạ sảnh ấn
vẫn được sử dụng trong công vụ của cơ quan Môn hạ sảnh.
Đến đời Hồng Đức thứ 2 (1471) Lê Thánh Tông đã bãi bỏ chức vụ Tể
tướng[51] để quyền hành tập trung vào tay Hoàng đế. Với công cuộc cải
cách hành chính quy mô, Thánh Tông đã giảm dần quyền lực của tam Sảnh,
tam Sảnh thuần túy chỉ là chức năng văn phòng của Hoàng đế, rồi đặt
chức của chính quan các Sảnh này nằm dưới Thượng thư lục Bộ[52].
Hiện vật ấn chương thời Lê sơ được giới thiệu tiếp trong phần mục này
là ba quả ấn đồng được tìm thấy ở ba địa điểm khác nhau, hiện được lưu
giữ ở các cơ quan Bảo tàng khác nhau, chúng đều có chất liệu đồng, có
niên đại vào cuối thời Lê sơ và cùng là loại ấn của tướng lĩnh quân đội.
Quả ấn thứ nhất được tìm thấy ngay ở thôn Hào Nam thuộc quận Đống Đa Hà
Nội vào năm 1974[53]. Ngoại hình ấn làm kiểu núm chuôi vồ hình bầu dục
cao 8,2cm. Mặt ấn làm theo hình vuông dày 1,3cm. Cộng toàn chiều cao
của ấn là 9,5cm. Lưng ấn khắc hai dòng chữ Hán kiểu Chân thư, bên phải
là 9 chữ Thuần tượng hậu vệ bào lâm hậu sở ấn 馴象後衞跑林後所印, và chữ Thượng
bảo ty tạo 尚寶司造. Bên trái là 8 chữ Hồng Đức nhị thập tứ niên nguyệt
nhật 洪德二十四年月日. Mặt dấu hình vuông khắc 9 chữ Triện khuôn theo hình khối
vuông, là 9 chữ Thuần tượng hậu vệ bào lâm hậu sở ấn. 9 chữ Triện này
trùng với 9 chữ Chân khắc trên lưng ấn. Đây là ấn của chức chỉ huy đơn
vị Hậu sở Bào Lâm thuộc Hậu vệ Thuần tượng thuộc Cẩm y vệ, lực lượng
quân đội bảo vệ Hoàng cung ở Kinh thành Thăng Long lúc đó. Sở Bào Lâm
là 1 trong 5 sở ở Hậu vệ, một trong 4 vệ thuộc vệ Thuần tượng, đây là
đơn vị quản lý voi chịu sự chỉ đạo của các chức Chỉ huy sứ và phụ tá là
Chỉ huy sứ Đồng tri cùng Chỉ huy sứ Thiêm sự đứng đầu vệ Thuần tượng.
(H.21).
Quả ấn này là minh chứng quan trọng trong việc nghiên cứu binh chế quan
chức chế thời Lê sơ, nó khẳng định sở thứ 5 thuộc Hậu vệ Thuần tượng
tên là sở Bào Lâm chứ không phải là Quy Lâm như có sách đã biên
soạn[54].
Trở lại dòng chữ Hán khắc trên lưng ấn, ngoài 9 chữ Thuần tượng hậu vệ
bào lâm hậu sở ấn như đã nêu, bốn chữ Thượng bảo ty tạo có ý nghĩa
riêng biệt, nó chỉ cơ quan đã chế tác nên quả ấn, Ty Thượng bảo là nơi
chế tạo ra quả ấn này. Chúng ta còn tìm thấy dòng chữ khắc tên Ty
Thượng bảo trên những quả ấn đồng giai đoạn sau đó và trên một số cổ
vật thời Lê sơ và Mạc.

Dòng chữ bên trái lưng ấn đã giúp ta biết được thời gian tạo tác quả
ấn, nó được làm năm Hồng Đức thứ 24 triều vua Lê Thánh Tông (1493).
Gần đây chúng tôi được ông Nguyễn Quốc Toàn ở Quảng Bình cung cấp tư
liệu về một quả ấn đồng có niên đại từ triều vua Lê Tương Dực thời Lê
sơ. Quả ấn này được phát hiện từ năm 1982 tại nhà ông Phi Tân ở thôn
Hoành Phổ, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, hiện được lưu giữ tại Bảo
tàng Quảng Bình đã 18 năm.
Ấn có chất liệu bằng đồng, hình thể tay cầm ấn hình con nghê đúc theo
khuôn đế hình vuông. Không tính thân nghê, ấn có chiều dày 2,5cm và
nặng 3,6kg. Kích thước phần đế ấn là 11x11cm. Một góc ấn có dấu chặt do
người sưu tầm đồ cổ thử ấn là vàng hay đồng đen.
Mặt trên ấn thân nghê có hai dòng chữ Hán khắc chìm.
Dòng thứ nhất: Hồng Thuận lục niên thập nhất nguyệt thập lục nhật tạo (洪順六年十一月十六日造).
Dòng thứ hai: Phụng mệnh tuần phủ đô tướng quân ấn (奉命巡撫都將軍印):

Mặt dấu hình vuông, kích thước 11x11cm, viền ngoài để cỡ 1cm. Bên trong
là 8 chữ Triện xếp theo 3 hàng dọc, hai chữ hàng giữa dài gấp rưỡi 6
chữ hai hàng bên để cân đối với bố cục dấu. Đó là 8 chữ Phụng mệnh tuần
phủ đô tướng quân ấn.
Dòng chữ Hán thứ nhất trên thân nghê đã cho ta biết được niên đại của
ấn, ấn được đúc ngày 16 tháng 11 năm Hồng Thuận thứ 6 (1514) đời vua Lê
Tương Dực thời Lê sơ. (H.22).
Việc Chân hóa chữ Triện trong con dấu khá dễ dàng, những việc giải
nghĩa chức vụ của viên quan tướng trong con dấu này khá là khó khăn.
Hiện nay chúng ta vẫn chưa có được các từ điển, sách ghi về quan chức
chế Việt Nam thật đầy đủ qua các triều đại nhất là từ thời Lê sơ trở về
trước ngoài cuốn Từ điển chức quan Việt Nam của Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Văn
Ninh. Một số sách sử ghi về thời Lê sơ cũng không thấy nói đến chức
“Tuần phủ Đô tướng quân”, tuy nhiên chức Đô tướng là chức võ quan đã có
từ thời Lý và tồn tại mãi đến thời Lê sơ[55]. Theo Từ điển chức quan
Việt Nam thì tháng 11 năm Tân Tỵ (1161) Tô Hiến Thành đã nhận chức Đô
tướng, Đỗ An Di làm phó…, và theo Trung Quốc quan chế đại từ điển, Đô
tướng là chức võ quan do nhà Kim lập, thuộc Vũ vệ quân Đô chỉ huy sứ
ty[56]. Vua Lê Tương Dực cũng đã phong chức Đô tướng cho hai ông Trịnh
Duy Sản và Lê Phong. Theo tổ chức quân ngũ ở ngoài các đạo (xứ) thời Lê
sơ thì mỗi xứ đặt một Đô ty trông coi toàn thể quân vụ trong xứ đó, có
quan Đô Tổng binh sứ đứng đầu và các quan giúp việc là Tổng binh Đồng
tri, Tổng binh Thiêm sự, phải chăng chức Đô Tổng binh sứ của Đô ty này
có liên quan đến chức Đô tướng (?).
Hai chữ “Tuần phủ” ở đây cũng nên hiểu là một chức vụ, nó khác hẳn chức
Tuần phủ (Tỉnh trưởng) được đặt ra ở thời Minh Mệnh thứ 12 (1531) khi
Minh Mệnh cho đổi các trấn làm tỉnh và đặt các chức Tổng đốc hoặc Tuần
phủ đứng đầu Liên tỉnh hoặc một tỉnh. Chức Tuần phủ ở quả ấn này đi
liền với chữ “Phụng mệnh” nên có thể hiểu đây là một chức không cố định
và rất ít được sử dụng, dành cho các quan tướng khâm sai, khâm phái,
một chức tạm thời đi thi hành công vụ.
Quả ấn thứ ba được tìm thấy ở xã Thiện Thuật huyện Bình Gia, tỉnh Lạng
Sơn và hiện nay được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà
Nội. Hình thức ấn với núm cầm có hình con nghê được làm toàn thân khá
đẹp. Thân nghê cao 6,10cm, dài 9,1cm. Đế ấn dày 2,5cm và đúc theo khuôn
hình vuông. Mặt trên đế cạnh con nghê khắc hai hàng chữ Hán Đề thống
tướng quân chi ấn và Hồng Thuận lục niên thập nhất nguyệt thập lục nhật
tạo, nghĩa là ấn của Đề thống tướng quân, đúc ngày 16 tháng 11 năm Hồng
Thuận thứ 5, đời vua Lê Tương Dực (1515)[57]. Mặt con dấu hình vuông cỡ
11x11cm, viền ngoài cỡ 1cm, bên trong khắc sáu chữ triện nét khắc nổi
là 6 chữ Đề thống tướng quân chi ấn 提統將軍之印. Nội dung Triện văn trùng
với dòng chữ Hán khắc trên lưng ấn. Đây là ấn dấu của chức Đề thống
tướng quân (H.23 a,b,c,d).

Tuy nhiên tham khảo nhiều tài liệu sách vở giai đoạn này chúng tôi cũng
không tìm thấy chức Đề thống tướng quân, chỉ thấy ghi rằng theo tổ chức
quân đội thời Lê Thánh Tông thì lực lượng quân đội trú phòng ở các Đô
ty ngoài các đạo thuộc vào các Vệ, các Sở Thiên hộ, Nhất bách hộ đều có
thể là quân chiến đấu khi có chiến tranh, và lúc đó những vị quan võ
được phong hàm Tam thái, Tam cô, Thái úy hoặc Tả hữu Đô đốc Ngũ phủ sẽ
được lựa chọn giữ chức vụ Tướng quân hoặc Đại tướng quân để chỉ huy
quân đội chiến đấu. Như “Năm Hồng Đức nguyên niên (1470) khi vua thân
chinh đi đánh Chiêm Thành đã ra lệnh cho Thái sư Đinh Liệt và Thái bảo
Lê Niệm làm Chinh lỗ tướng quân thống lĩnh quân thủy trong các vệ thuộc
ba phủ Đông, Nam và Bắc[58]. Đến khi chiến tranh chấm dứt thì các vị
Tướng quân hay Đại tướng quân cũng chấm dứt luôn nhiệm vụ điều khiển
quân đội theo hệ thống chiến thuật trở lại chức vụ hành chính”[59].
Đôi khi một số võ quan giữ chức vụ tạm thời ở những nơi xung yếu như
cửa tấn, quan, thành, cảng, trại, những chức lớn đều gọi chung là Tổng
binh hay Trấn thủ, có người còn được phong thêm danh hiệu Tướng quân.
Như vậy, Tướng quân chỉ là danh từ chung dành cho các tướng lĩnh cao
cấp trong chiến đấu hay trong công vụ quan trọng, đặc biệt. Đề thống
tướng quân và Tuần phủ Đô tướng quân có lẽ cũng là danh hiệu phong tạm
cho viên tướng lớn có tính chất như khâm sai, khâm phái của lĩnh vực
hành chính chứ không phải là chức vụ, cấp bậc đẳng ngạch của binh chức
chế quân đội thời Lê sơ. b. Dấu ấn trên văn bản Hán Nôm
Chuyến công tác vào Huế gần đây chúng tôi được tiếp xúc một văn bản có
từ đầu thời Lê sơ. Văn bản này đã được ông Nguyễn Thế giới thiệu trong
Hội nghị về Di sản văn hóa Hán Nôm tại Huế năm 2003 và đã được xuất
bản. Đây được coi là văn bản Hán Nôm xưa nhất được tìm thấy ở Thừa
Thiên Huế. Tác giả đã trình bày chi tiết về đặc điểm và nội dung văn
bản, trong đó có cả phần phiên âm dịch nghĩa; đồng thời có những nhận
xét về hoàn cảnh nơi phát hiện văn bản và những giá trị về mặt nghiên
cứu lịch sử, nhận xét có tính thuyết phục.
Văn bản được viết trên giấy dó, khổ rộng 42x26,5cm. Mặt sau được dán
bồi thêm một lớp giấy khác có khổ rộng và dày hơn bản gốc. Phần nếp gấp
ở giữa bản gốc bị rách nên mất một số chữ và nét chữ, chỗ đó người đời
sau viết lại trên giấy bồi. Phần dưới văn bản chữ bị vết ố hơi khó đọc.
Phần chính văn có 20 dòng, 3 chữ “Hữu cấp phó” 右給付 ở đầu dòng thứ 20
được viết rất lớn, nét bút đại tự. Bên dòng đầu phần chính văn có 4 chữ
“Khám cấp Ma Nê” 勘給痲泥 có kiểu chữ, nét bút khác thể chữ trên văn bản.
Cách ngang dòng cuối 5cm là dòng ghi niên đại có 8 chữ Thái Hòa cửu
niên thập nhị nguyệt sơ bát nhật. Ở khoảng trống này có hình một dấu
nhỏ, dấu bầu đục lõm cạnh. Phía trên dấu có 2 chữ Hán viết theo lối
Thảo thư cách nhau 5cm. Toàn văn bản được viết bằng chữ Hán lối Chân
thư dễ đọc, hơi giống kiểu các văn bản do các thư lại thời Hậu Lê viết.
Một số địa danh và tên người được viết bằng chữ Nôm. (H. 24).

Xin tóm lược phần dịch và nhận xét của tác giả Nguyễn Thế:
“Lộ Thuận Hóa, châu Hóa Tán trị Thừa chánh sứ ty khám cấp ruộng hoang lậu bãi nổi.
Ngày 5 tháng Chạp năm Đại Hòa thứ 7 (1449) căn cứ vào tờ trình của xã
trưởng xã Đa Cảm, huyện Trà Kệ, châu Hóa lộ Thuận Hóa là Lê Cạnh cùng
một số người khác xin được khẩn hoang canh tác ở xứ đồng Ma Nê khoảng
hơn trăm mẫu và nhận nộp thuế. Huyện quan huyện Trà Kệ đã chấp thuận và
phê duyệt.
Đến ngày 10 tháng 8 năm Đại Hòa thứ 9 (1451), Lê Cạnh cùng một số người
khác lại có tờ trình, quan Thừa ty và huyện quan đích thân đến xứ Ma Nê
xem xét đo đạc rồi phê chuẩn làm văn bản số ruộng đất này. Cấp cho nhóm
Lê Cạnh được quyền canh tác và được đăng ký vào sổ điền bạ của xã, được
quyền để lại cho con cháu canh tác, nộp thuế như lệ định. Kèm kê khai
diện tích số ruộng theo phân định mốc giới đông tây nam bắc.
Ngày thảo văn bản này là ngày 8 tháng 12 năm Đại Hòa thứ 9 (1451), người chứng nhận tên là Trần Thăng chức Đối đồng lại.
Văn bản được phát hiện cùng một số văn tự, khế ước… khác (có niên đại
từ trên 2-3 trăm năm) tại nhà thờ họ Lê Văn, làng Mỹ Xuyên, xã Phong
Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đây là văn bản Hán Nôm xưa nhất được tìm thấy ở Thừa Thiên - Huế, niên
đại của văn bản được làm ngày 8 tháng 12 năm Đại Hòa thứ 9 (1451) cách
nay 552 năm. Điểm đặc biệt văn bản là niên hiệu vua Lê Nhân Tông được
ghi là Đại Hòa chứ không phải là Thái Hòa như các biên niên và sử liệu
ghi.
Lộ Thuận Hóa được đặt từ đầu thời Lê sơ đến năm 1466 mới đổi làm Thừa
Tuyên Thuận Hóa. Huyện Trà Kệ là một trong 7 huyện được đặt đầu tiên ở
châu Thuận Hóa, thời thuộc Minh năm Vĩnh Lạc thứ 2 (1404) đã thấy
ghi[60].
Xã Đa Cảm có tên từ thời Trần, thời Lê Trung hưng đổi làm Dũng Xuyên
rồi Dũng Cảm. Đến thời Nguyễn Gia Long đổi làm Mỹ Xuyên, tên Nôm là
Làng Hói. Ma Nê: Địa danh chính mà những người xã Đa Cảm do Lê Cạnh
đứng đầu đến khẩn hoang, đến nay địa danh này vẫn không thay đổi gọi là
làng Ma Nê, tên Nôm gọi là Kẻ Né. Số ruộng khai hoang trên trở thành
ruộng Kỳ tại của làng Mỹ Xuyên, từ xưa đến nay dân làng Mỹ Xuyên vẫn
đến canh tác.
Khởi sự việc khẩn hoang ở Ma Nê là từ ông Lê Cá (ông xã Gánh) cha của
xã trưởng Lê Cạnh. 24 người đứng tên đơn cùng Lê Cạnh thuộc 8 dòng họ:
Lê, Bùi, Đoàn, Võ, Nguyễn, Hồ, Phùng , Trần, Phan…”[61].
Trở lại vấn đề văn bản thì đây là một bản chứng nhận của một người tên
là Trần Thăng giữ chức Đối đồng lại thuộc Tán trị Thừa chánh sứ ty của
châu Hóa, lộ Thuận Hóa cấp cho xã trưởng Lê Cạnh (cùng một số người
tham gia) được quyền canh tác trên hai trăm mẫu ruộng ở xứ đồng Ma Nê,
được phép đăng ký vào sổ điền bạ xã và được quyền để lại cho con cháu
cày cấy nộp thuế. Văn bản này là giấy cấp làm bằng. Ông Trần Thăng viết
tên đóng dấu. Vì hình dấu quá mờ nên chúng tôi không đọc được, chỉ đoán
chữ dưới có thể là chữ “ký” 記 (?) Vị trí đóng dấu lại không đóng ở dòng
ghi niên hiệu mà đóng ở khoảng trống ngay dưới chữ nhật. Dấu có cỡ nhỏ,
lõm cạnh giống các dấu kiềm ở các thời kỳ sau. Cộng với tên chức có chữ
lại “吏” ở cuối, chúng tôi cho rằng đây là chức nhỏ phụ thuộc nha môn
không phải là chính quan. Có thể khẳng định đây là dấu Kiềm của chức
Đối đồng phụ trách bộ phận xem xét chứng thực về vấn đề ruộng đất - một
trong các nha môn của Thừa chánh sứ ty của châu Hóa, lộ Thuận Hóa đầu
thời Lê sơ. Chữ “Khám cấp Ma Nê” viết ở đầu văn bản với chữ “nê” 泥 viết
có bộ chấm thủy , còn chữ “nê” ở chính văn không có bộ thủy. Bốn chữ
này đã được viết thêm vào sau cùng với thời gian lời phê duyệt (viết
thảo) và đóng dấu, chứ không phải viết cùng loại chữ của phần chính văn
(chữ của thư lại).
Ba chữ “Hữu cấp phó” (cấp giao cho) ở dòng cuối là chữ đại tự nét đậm
chứng tỏ kiểu dùng chữ nhấn mạnh mang tính pháp lý mệnh lệnh theo quy
định đối với những văn bản chứng nhận làm bằng về vấn đề ruộng đất thời
Lê sơ.
Văn bản cổ thứ 2 là một bản sắc phong có niên đại Hồng Đức (1471) là
chứng tích của sự kiện lịch sử vua Lê Thánh Tông chinh phạt Chiêm Thành
năm 1470 - 1471. Bản sắc phong này là của Lê Thánh Tông phong cho phụ
chính Tham tướng Phạm Như Tăng tạm quyền lãnh ấn Tiên phong chỉ huy 10
đạo tinh binh tiến đánh Chiêm Thành. Con cháu nhiều đời Phạm Như Tăng
coi bản sắc phong này là của gia bảo truyền đời giữ gìn cẩn trọng. Đến
trước năm 1963 nó được lưu giữ ở Quế Sơn, Quảng Nam và đã được các nhà
khảo cổ Nam Bộ chụp ảnh nguyên bản lưu tại Viện Khảo cổ Sài Gòn. Năm
1963 Giáo sư Lê Kim Ngân đã công bố văn bản này trong Tổ chức chính
quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông có cả ảnh chụp sắc phong cùng
phần phiên âm và dịch nghĩa. Vì thời gian và qua chụp, in lại nên bản
sắc phong chữ Hán bị mờ; hình dấu Kim Bảo không được rõ. Tuy nhiên xem
kỹ văn bản này qua một số tiêu chí xác định văn bản như kiểu chữ, bố
cục chữ và bố cục văn bản, hình dấu vuông lớn dòng niên đại; chúng tôi
thấy việc khẳng định đây là bản sắc phong thời Hồng Đức là có cơ sở.
Nhưng ở dòng niên đại phần phiên âm ghi là Hồng Đức nhị niên tam nguyệt
thập bát nhật là đúng còn phần dịch lại ghi là “tháng 8” là nhầm. Còn ở
dòng cuối cả phần phiên âm và dịch nghĩa ghi tên hình con dấu là Chế
mạng chi bảo là đọc sai chữ “chế”. Thực ra nó là dấu Sắc mệnh chi bảo
敕命之寶. Kim bảo Sắc mệnh chi bảo được làm từ năm 1435 đời Lê Thái Tông và
chuyên dùng đóng trên sắc dụ và hiệu lệnh thưởng phạt. Chữ “Sắc” viết
theo kiểu Triện thư trông rất giống chữ “chế” 制, do đó đọc nhầm là
chuyện bình thường. Dưới đây chúng tôi xin được đăng nguyên văn công bố
trang có hình dấu của Giáo sư Lê Kim Ngân để cùng tham khảo[62]. (H. 25)
Hiện nay tại Cục Lưu trữ Nhà nước tại Hà Nội còn giữ được một bản sắc
chỉ đời Lê Thánh Tông. Văn bản này đã được ông Võ Văn Sạch phiên âm,
dịch nghĩa, giới thiệu trên Tạp chí Văn thư lưu trữ năm 1988[63]. Tuy
nhiên tác giả chưa đi sâu mô tả kỹ văn bản và phân tích các hình con
dấu trên văn bản. Ở đây chúng tôi muốn nói rõ hơn về vấn đề này.

Văn bản này có kích thước 60x61cm, chất liệu giấy dó đã cũ, vệt gập đôi
ngang có bị rách mép ngoài nhưng không bị mất chữ nào. Xung quanh vẽ
khung đường viền họa tiết hình sóng nước. Chữ Hán viết Chân, kiểu chữ
hành chính công văn của thư lại có nét ngang, mác, sổ kéo dài. Phần
chính văn có 11 dòng chữ Hán (kể cả dòng chữ viết nhỏ), với dòng đầu
ghi 6 chữ 吏部爲試官事 Lại bộ vi thí quan sự. Dòng niên đại có 12 chữ
洪德十九年十一月二十一日 Hồng Đức thập cửu niên thập nhất nguyệt nhị thập nhất
nhật. Dưới chữ nhật có 6 chữ Đô lại Nguyễn Duy Ba thừa. Đầu dòng niên
đại có một dấu hình vuông, bên trong là 4 chữ Triện Lại bộ chi ấn 吏部之印
(ấn của bộ Lại). Dấu có màu son đỏ, vị trí dấu được đóng mép trên đè
lên nửa chữ “Hồng” (洪).
Giữa sắc chỉ song song với hình con dấu trên là nửa hình dấu được đóng
quay nghiêng, nên trông thành hình tam giác. Xem xét nửa chữ Triện còn
lại với nửa chữ “bộ” 部 và nửa chữ “chi” 之 cùng chữ “ấn” 印 còn trọn vẹn
trong đó. Chúng tôi khẳng định nửa hình dấu trên là một nửa của dấu Lại
bộ chi ấn được đóng ra từ một quả ấn của bộ Lại. Hình thức của nửa hình
dấu này chúng tôi ít gặp ở các văn bản Hán Nôm có hình dấu ở các triều
đại sau. Nó giống như kiểu đóng dấu hiện nay, cơ quan chỉ có một con
dấu đóng cả chỗ giáp trang, chỗ sửa chữa và đóng ghép vào tờ văn bản
khác để lưu chiểu dùng đối chiếu làm tin sau này.
Trên bên trái góc văn bản cạnh dòng ghi niên đại có một dấu chữ Bộ 部,
kiểu chữ rất lớn. Trông bình thường như một đại tự, nhưng thực ra nó
cũng là hình một con dấu đóng trên văn bản. Dưới dấu chữ Bộ còn có hai
hình dấu hoa giáp khác, những dấu này chúng tôi tạm gọi là những dấu
phụ, với chức năng đánh dấu loại hình văn bản cấp bộ, phân biệt với các
loại hình văn bản khác trong công tác hành chính. Dấu chữ Bộ và hai dấu
hoa giáp trên có màu mực đen.
Nội dung văn bản:
Bộ Lại cấp bằng chứng cho việc thí quan.
Ngày 15 tháng 11 năm Hồng Đức thứ 19 (1488) bọn thần là Nguyễn Đôn chức
Hữu Giám thừa ty lễ giám vâng sắc mệnh, theo luật bộ Lại phụng chọn
Phạm Nam tạm chức Phòng ngự Thiêm sự Phòng ngụ sứ ty[64], để lo việc
coi giữ quân dân tại châu Tàm, phủ Thanh Đô. Khâm thử.
Phụng giao sắc chỉ đến bộ Lại ngày 22 tháng 11 cùng năm. Quan bản bộ đã
tới cửa điện Kính Thiên tâu đầy đủ việc này lên vua, điền vào chữ thí
quan này chữ số 6548, ban cấp bằng Khám hợp và giao cho bản quan làm
bằng cớ thi hành.
(ghi tiểu sử Phạm Nam và xuất xứ việc này).
Trên đây cấp bằng và giao tạm chức Phòng ngự Thiêm sự, Phạm Nam chuẩn theo thi hành.
Ngày 21 tháng 11 năm Hồng Đức thứ 19 (1488).
Đô lại Nguyễn Duy Ba vâng lệnh thảo.

Qua nội dung văn bản ta biết được đây là một bản sắc phong thuộc quyền
của bộ Lại xét cấp phong tạm chức Phòng ngự Thiêm sự cho Phạm Nam. Văn
bản ghi rõ là “bằng Khám hợp”, từ đó cho ta hiểu rõ về nửa hình dấu in
trên văn bản. Thời đó “bằng Khám hợp” là loại văn bản hành chính bằng,
sắc mà cơ quan thảo văn bản phải ghi vào hai văn bản, một gửi đi một
lưu chiểu. Hai văn bản này được xếp liền và đóng một dấu chung, mỗi văn
bản lưu một nửa hình dấu. Khi kiểm tra đối chiếu ghép hai văn bản khớp
chung một hình dấu thì mới được coi là đúng. Vấn đề này cho ta suy nghĩ
có thể thời Lê sơ chưa sử dụng dấu Kiềm đi liền cặp với ấn lớn cơ quan
như thời Nguyễn sau này.
Đây là một trong những văn bản cổ nhất có hình dấu ấn còn giữ nguyên
vẹn đến nay ở nước ta. Dưới góc độ nghiên cứu ấn chương và một số tiêu
chí khác trong xác định văn bản, chúng tôi khẳng định văn bản này hoàn
toàn là văn bản gốc với hình dấu ấn thật, khác hẳn với một số sắc phong
giả có hình con dấu được vẽ hoặc in vào sau này[65]. (H. 26). II. Ấn chương Việt Nam thời Mạc (1527 - 1592)
1. Bối cảnh lịch sử
Triều Mạc chính thức được thiết lập năm 1527 do Mạc Đăng Dung phế lật
được nhà Lê sơ để rồi bắt đầu cho thời kỳ nội chiến kéo dài. Tuy tồn
tại đến 150 năm, nhưng thực chất triều Mạc chỉ đóng đô được ở Thăng
Long hơn 60 năm, thời gian còn lại chiếm cứ Cao Bằng cho đến khi bị
tiêu diệt. Triều Lê Trung hưng đã coi nhà Mạc là “Ngụy triều” nên đã
không có một bộ sử nào chính thức được thực hiện riêng về nhà Mạc. Đồng
thời mấy thế kỷ qua với bao cuộc chiến cùng thiên tai đã chôn vùi hết
các hiện vật ấn triện và thư tịch tài liệu về nhà Mạc; do đó viết về ấn
chương triều Mạc chúng tôi chỉ căn cứ vào rất ít hiện vật và văn bản có
in hình dấu giai đoạn này.
Tiếp thu tinh thần của các triều đại phong kiến Trung Quốc và Việt Nam
quốc gia là phải có Bảo Tỷ, nên ngay từ khi mới lên ngôi Mạc Đăng Dung
đã cho tìm và lấy ngay 6 ấn Kim Bảo từ thời Lê Thánh Tông là Thuận
thiên thừa vận chi bảo, Đại thiên hành hóa chi bảo, Chế cáo chi bảo,
Sắc mệnh chi bảo, Ngự tiền chi bảo và Ngự tiền tiểu bảo. Việc này không
thấy một sách sử nào ghi lại. Những vấn đề đại sự quốc gia được ban bố
ra quốc dân thiên hạ như chiếu, chỉ, cáo, sắc v.v… thì nhà Mạc vẫn dùng
theo cách của nhà Lê sơ, các văn bản này đều được đóng dấu Kim Bảo.
Việc Mạc Đăng Dung lên ngôi năm 1527 ở Thăng Long phải chăng đã có tờ
chiếu nhường ngôi được đóng dấu Kim Bảo Thuận thiên thừa vận chi bảo để
ra mắt thiên hạ (?) Tiếp theo là Mạc Đăng Doanh và những người kế
nghiệp vẫn dùng các loại văn bản có đóng dấu Kim Bảo Sắc mệnh chi bảo
được ban bố đến các địa phương. Chính sự lưu truyền rộng rãi trong dân
gian các loại hình sắc phong đã giữ lại được cho chúng ta đến ngày nay
chứng tích về dấu Kim Bảo này thời Mạc. Tại hai điểm di tích ở hai tỉnh
khác nhau thuộc đồng bằng Bắc Bộ hiện còn lưu giữ được các sắc phong có
niên đại năm Minh Đức nguyên niên (1527) đời Mạc Đăng Dung, Quảng Hòa
năm đầu (1540) đời Mạc Đăng Doanh và năm Sùng Khang thứ 9 (1574) đời
Mạc Mậu Hợp. Đó là những minh chứng cho việc Mạc Đăng Dung đã lấy được
một số Kim Bảo ngay từ khi lên ngôi để sử dụng.
Chính quyền nhà Mạc về cơ bản vẫn duy trì tổ chức hành chính giống thời
Lê sơ. Hệ thống lục Bộ là cơ quan hành chính quan trọng nhất trong
chính quyền trung ương với các chức Thượng thư, Tả, Hữu Thị lang đứng
đầu mỗi Bộ. Hệ thống Giám sát với Ngự sử đài và cơ quan Giám sát có các
chức Đô Ngự sử, Phó Đô ngự sử, Thiêm Đô ngự sử, Giám sát Ngự sử các Đạo
và Cấp sự trung lục Khoa kết hợp cùng lục Bộ. Hàn lâm viện và tòa Đông
các là những cơ quan thiết yếu gần cạnh Hoàng đế thường là do các chức
Thượng thư, Tả Hữu Thị lang kiêm nhiệm. Ở Hàn lâm viện là các chức
Chưởng Hàn lâm viện, Thị độc, Thị thư, Đãi chế, Kiểm thảo. Ở Đông các
người đứng đầu là Đại học sĩ tiếp đến Học sĩ rồi Hiệu thư. Nhà Mạc cũng
lập Tôn nhân phủ và Quốc tử giám với cơ cấu tổ chức và hoạt động giống
nhà Lê sơ. Sự hoạt động của các cơ quan trung ương thời Mạc gắn liền
với ấn tín cùng các văn bản phải đóng dấu. Tòa Đông các tiếp nhận
chương sớ, nhận cáo sắc đóng dấu, truyền lưu hoặc tấu lên vua. Những
văn thư quan trọng phải đóng Kim Bảo thì phải có một Hội đồng gồm đại
diện bộ Lễ, Giám sát Ngự sử, Đông các và Thị vệ cùng thực thi đóng dấu.
Mỗi cơ quan trung ương đều được ban cấp ấn tín riêng để sử dụng. Sáu Bộ
phải có sáu ấn khác nhau của riêng Bộ mình do Thượng thư quản. Các chức
Ngự sử và đứng đầu Khoa, Đạo ở hệ thống Giám sát đều có ấn tín riêng
của cơ quan mình, các cấp dưới được dùng tín ký riêng trong cả việc
công và việc tư.
Tổ chức chính quyền địa phương thời Mạc về cơ bản vẫn duy trì giống
thời Lê sơ. Ngay năm lên ngôi Mạc Đăng Dung đã chia nước thành 13 đạo
Thừa tuyên là các đạo Kinh Bắc, Sơn Nam, Sơn Tây, Hải Dương, Lạng Sơn,
Ninh Sóc, Tuyên Quang, Hưng Hóa, An Bang, Thanh Hoa, Nghệ An, Thuận Hóa
và Quảng Nam. Mỗi đạo gồm ba bộ phận gọi là tam Ty: Thừa tuyên sứ ty
(Thừa ty), Hiến sát sứ ty (Hiến ty), Đô chỉ huy sứ ty (Đô ty). Trong đó
Thừa ty với chức Thừa chánh sứ đứng đầu là quan trọng hơn cả, có hai
chức phó là Tham chính và Tham nghị phụ giúp. Đô ty có chức Đô chỉ huy
sứ và Đồng tri, Thiêm sự. Đây là lực lượng quân sự địa phương của mỗi
đạo có biên chế và tổ chức chặt chẽ.
Thời Mạc cấp phủ là đơn vị hành chính dưới đạo quản các huyện, châu.
Tri phủ là chức đứng đầu một phủ và có Đồng Tri phủ làm phó phụ giúp.
Dưới phủ là huyện có các chức Tri huyện cùng Huyện thừa cai quản. Châu
cũng như huyện có chức Tri châu và Đồng Tri châu làm phó. Dưới huyện,
châu là cấp phường xã mà ở châu còn có thêm cấp cơ sở động, sách. Ở mỗi
đạo, các ty đều được phát công ấn để dùng, các chức phó cũng có các ấn
nhỏ tín ký riêng. Các phủ, châu, huyện, mỗi cấp được ban ấn cơ quan sử
dụng.
Phải nói rằng thời Mạc là giai đoạn chiến tranh khốc liệt giữa hai tập
đoàn phong kiến Mạc - Lê Trung hưng mà sử cũ gọi là chiến tranh Nam -
Bắc triều. Nhà Mạc thống trị vùng Bắc Bộ gọi là Bắc triều, nhà Lê -
Trịnh chiếm cứ từ Thanh Hoa trở vào gọi là Nam triều. Chính vì vậy lực
lượng quân đội nhà Mạc thời kỳ này được chú trọng đặc biệt. Quân đội
được chia theo năm khu vực địa phương gọi là Ngũ phủ hay Ngũ quân: Đông
quân, Tây quân, Nam quân, Bắc quân và Trung quân. Lấy kinh đô Thăng
Long làm trung tâm, nhà Mạc đặt Trung quân, còn bốn trấn quanh kinh đô
là Hải Dương, Sơn Tây, Sơn Nam và Kinh Bắc đặt bốn quân còn lại lấy tên
theo phương vị. Người đứng đầu Ngũ phủ (Ngũ quan) cũng tức là tổng chỉ
huy quân đội nhà Mạc đều do các tước vương tài giỏi họ Mạc như Khiêm
vương Mạc Kính Điển đảm nhiệm v.v… Đứng đầu mỗi Quân là một viên Tả Đô
đốc, đều giao cho các đại tướng tâm phúc xuất chúng đảm nhận như Lê Bá
Li Tả Đô đốc Nam quân, Mạc Ngọc Liễn Tả Đô đốc Tây quân v.v…
Triều Mạc dưới cấp Quân là cấp Vệ, Sở; Trung quân ở kinh đô được coi
trọng hơn, đặt bốn Vệ lớn là Hưng Quốc, Chiêu Vũ, Cẩm Y và Kim Ngô.
Dưới cấp Vệ lại có nhiều đơn vị Ty hợp thành, như vệ Cẩm Y có tới 18 Ty
với tên gọi khác nhau như ty Phục Ba v.v… Bốn quân thuộc bốn trấn nằm
trong Ngũ phủ cũng được lập các đơn vị Vệ, Sở, Ty chia các quan tướng
coi giữ. Sử cũ ghi: “Đăng Dung sai bàn định phép binh, đặt bốn vệ: Hưng
Quốc, Chiêu Vũ, Cẩm Y, Kim Ngô; các Vệ, Sở nội ngoại trong Ngũ
phủ…”[66].
Ở các đạo ngoài Ngũ phủ nhà Mạc lập Đô ty, lực lượng quân sự địa phương
này cũng gắn bó chặt chẽ với tổ chức quân sự chung của chính quyền Mạc.
Mỗi Đô ty quản một số Vệ như Đô ty Tuyên Quang năm 1537 có ba Vệ là
Tuyên Quang, Định Tây và Thanh Tây[67]…
Điều khác biệt trong quân đội triều Mạc là cấp Đô ty ở mỗi đạo chỉ
ngang cấp Vệ thuộc Ngũ phủ. Chức đứng đầu Đô ty cũng giống chức đứng
đầu cấp Vệ ở Ngũ quân là Đô chỉ huy sứ. Như vậy có hai loại đơn vị cấp
Vệ, cấp Vệ lớn thuộc lực lượng quân đội Ngũ quân (Ngũ phủ) và cấp Vệ
nhỏ thuộc lực lượng quân sự địa phương thuộc Đô ty ở các đạo khác. Nó
tương đương cấp ty ở Ngũ quân có một viên Chỉ huy sứ đứng đầu, còn ở
các Vệ thuộc Đô ty thì lại đặt chức Tổng tri và Đồng Tổng tri đứng đầu.
Mỗi Đô ty, dưới cấp Vệ là cấp Sở, thường một Vệ có ba Sở đặt các chức
Thống lãnh, Võ úy và Phó Võ úy cai quản. Mỗi cấp Vệ hay Sở đều đặt tên
riêng cũng giống các Vệ lớn và Ty ở Ngũ phủ.
Hiện nay tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội còn lưu giữ được
3 quả ấn đồng thời Mạc, đó là những hiện vật quý giá trong việc nghiên
cứu triều đại này. Quả ấn có văn khắc là Khuông trị vệ lăng xuyên tiền
sở chi ấn có niên đại năm 1564 đã minh chứng cho một số sách sử tản mạn
về tổ chức quân đội của nhà Mạc, đồng thời cũng khẳng định rằng hầu hết
các đơn vị Sở đều nằm dưới sự quản lý chỉ huy của cấp Vệ.
Hai quả ấn đồng còn lại có tên gọi là Hoành hải hậu sở chi ấn có niên
đại năm 1534 và Thanh tái tả sở chi ấn có niên đại năm 1549 lại chứng
minh cho tính độc lập của đơn vị cấp Sở. Đây là ấn tín của một viên
Thống lãnh, Võ úy của đơn vị cấp Sở nào nằm ngoài Ngũ phủ (?) Hay phải
chăng các vùng trọng yếu miền duyên hải, biên tái nhà Mạc phải đặt các
đơn vị đặc nhiệm. Ví như trấn Cao Bằng, đạo Ninh Sóc thời đó họ Mạc đã
đặt các viên Tổng binh sứ, Tổng binh Đồng tri và Tổng binh Thiêm sự
trấn giữ[68].
Các chức Đô chỉ huy sứ ở kinh đô và thuộc Ngũ phủ đều được gia chức
phẩm khá cao như Đại tướng quân, Thượng tướng quân v.v… Những Đô ty ở
các miền biên viễn, giáp ranh chiến lược trọng yếu cũng được giao cho
các tướng giỏi có chức tước cao đảm nhận. Như chức Đô Tổng binh sứ ty
đạo Ninh Sóc do Nguyễn Văn Trạch, chức Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng
quân, tước Thuần Lương hầu đảm nhận. Một số Đô ty phía bắc có các võ
quan chỉ huy đều được phong tước bá, tước thuộc về các võ quan ở hàng
tam phẩm v.v…[69] 2. Thực trạng về ấn chương thời Mạc
Việc tìm thấy một số ấn đồng hiếm hoi thời Mạc phải kể đến công lao của
các nhà Khảo cổ học và các cán bộ Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Ba
quả ấn thời Mạc hiện được lưu giữ tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
tại Hà Nội, được đánh số ký hiệu riêng biệt và bảo quản cẩn thận.
Ba quả ấn này đều có chất liệu đồng, ngoại hình tương đối giống nhau
với núm ấn làm kiểu chuôi vồ và khuôn mặt ấn được đúc theo hình vuông.

Ấn thứ nhất mang ký hiệu LSb 2529, ngoại hình cán chuôi vồ dẹt, cao 9cm
dày 0,8cm. Trên ấn phía bên trái khắc 6 chữ Đại chính ngũ niên nguyệt
nhật 大正五年月日. Bên phải khắc 2 dòng chữ liền nhau, dòng ngoài mờ chữ đầu,
còn 5 chữ: Hải hậu sở chi ấn 海後所之印. Dòng bên khắc 4 chữ Thượng bảo ty
tạo 尚寶司造 dấu hình vuông kích thước 7,5x7,5cm, chữ Triện xếp theo chiều
dọc 3 hàng 6 chữ. Như vậy niên đại của ấn đã được ghi rõ là năm Đại
Chính thứ 5 (1534) đời Mạc Đăng Doanh. Đọc chữ Triện trên hình dấu
chúng tôi khẳng định chữ đầu là chữ “hoành” 橫, văn khắc trên dấu là 6
chữ Hoành hải hậu sở chi ấn 橫海後所之印. Những chữ khắc trên núm ấn cũng
giúp cho việc đọc chữ Triện được chính xác và việc đọc chữ Triện cũng
giúp cho việc tìm ra chữ bị mờ và đối chiếu chữ được chuẩn xác. Tạm
dịch là ấn của viên tướng Hậu sở Hoành Hải. (H. 27 a,b,c).
Theo sách Thiên Nam dư hạ tập phần Quan chế[70] chép về quan chế thời
Lê có ghi Hậu sở Hoành Hải là một sở của vệ Nghiêm Dũng nằm trong phủ
Tây Quân thuộc biên chế quân đội Ngũ quân thời Lê. Hậu sở Hoành Hải ở
quả ấn này lại thuộc quân đội thời Mạc. Có thể nhà Mạc tổ chức vệ, sở ở
Ngũ quân giống như nhà Lê, song Hậu sở Hoành Hải nếu xếp vào biên chế
phủ Tây quân thì lại không phù hợp với tên gọi của của nó.
Hậu sở Hoành Hải cũng có thể nằm trong biên chế của Đông quân thuộc đạo
Hải Dương quản một số huyện duyên hải như Vĩnh Lại, An Lão, Nghi Dương
và Đông Triều đều thuộc phủ Kinh Môn. Chức chỉ huy Hậu sở Hoành hải có
thể là một viên Thống lãnh, Võ úy cùng Phó Võ úy nào đó đảm nhiệm? Việc
giới thiệu quả ấn này cũng như ấn thứ 2 dưới đây xin được coi như một
tài liệu tham khảo[71].
Quả ấn thứ hai có ký hiệu LSb 2531, ngoại hình cán chuôi vồ dẹt, cao
9cm và dày 0,7cm. Núm ấn bên trái khắc 6 chữ Hán Cảnh Lịch nhị niên
nguyệt nhật 景歷二年月日. Bên phải dòng ngoài khắc 6 chữ Thanh tái tả sở chi
ấn, dòng bên cũng khắc 4 chữ Thượng bảo ty tạo. Dấu hình vuông có kích
thước 7,7x7,7cm, chữ Triện xếp theo chiều dọc 3 hàng 6 chữ. Sau khi
chân hóa chữ Triện và đối chiếu, chúng tôi khẳng định đây là 6 chữ
Thanh tái tả sở chi ấn 清塞左所之印. (H. 28 a, h, c , d).
Cũng theo sách Thiên Nam dư hạ tập[72] phần chép về quan chế có ghi Tả
sở Thanh Tái là một trong năm sở của Vệ Tuyên Quang thuộc Đô ty Tuyên
Quang là lực lượng quân sự địa phương thời Lê. Tả sở Thanh Tái ở quả ấn
này thuộc quân đội thời Mạc. Đối chiếu với sách ghi về tổ chức quân đội
chính quyền thời Mạc, chúng tôi thấy có ghi Đô ty Tuyên Quang nằm trong
hệ thống quân sự địa phương và vệ Tuyên Quang là một trong các vệ thuộc
Đô ty Tuyên Quang, nhà Mạc lập các vệ sở trực thuộc các Đô ty cũng
giống như thời Lê. Như vậy Tả sở Thanh Tái có thể là một trong các sở
của vệ Tuyên Quang do một viên Võ úy cùng Phó Võ úy nào đó chỉ huy.

Cùng với sử liệu thời Mạc, hai quả ấn trên là những tư liệu cho ta thấy
lực lượng quân đội nhà Mạc có hai loại đơn vị cấp Sở. Loại cấp Sở nằm
trong biên chế cấp Vệ thuộc lực lượng quân đội Ngũ quân (Ngũ phủ); loại
cấp Sở thuộc lực lượng quân sự địa phương được cấp Vệ ở Đô ty, chức
năng và quyền hạn của cấp sở thuộc Ngũ quân lớn hơn cấp Sở ở Đô ty.
Việc giới thiệu quả ấn đồng dưới đây sẽ giúp thêm cứ liệu trong nghiên
cứu vấn đề này.
Ấn thứ ba có ký hiệu LSb 2530 cán chuôi vồ tròn cao 9cm và dầy 0,6cm.
Núm ấn phía bên trái khắc dòng chữ niên đại 6 chữ Hán Thuần Phúc tam
niên nguyệt nhật 淳福三年月日. Bên phải khắc 9 chữ Hán, chữ rất mờ, riêng chữ
thứ 7 mờ hết nét: Khuông trị vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn. Dòng bên
cạnh khắc 4 chữ Thượng bảo ty tạo. Dấu hình vuông cỡ 8x8cm, chữ Triện
xếp theo chiều dọc 3 hàng 9 chữ. Những chữ ở núm ấn tuy bị mờ nhưng
cũng giúp cho việc Chân hóa chữ Triện được chính xác và việc Chân hóa
cũng giúp ta khẳng định những chữ bị mờ và tìm ra chữ bị mờ hết nét là
chữ “sở”. Như vậy 9 chữ ở núm ấn trùng với 9 chữ Triện trong hình dấu
là Khuông trị vệ lăng xuyên tiền sở chi ấn 匡治衛淩川前所之印. Quả ấn này được
đúc năm Thuần Phúc thứ 3 (1564) đời Mạc Mậu Hợp, do ty Thượng bảo tạo
đúc; là ấn của viên tướng Tiền sở Lăng Xuyên thuộc vệ Khuông Trị. (H.29
a,b,c,d).

Đây là đơn vị cấp Sở nằm trong vệ Khuông Trị. Những đơn vị Sở trong
quân đội thời Mạc có không ít, không biết nó nằm trong lực lượng quân
đội Mạc ở Ngũ phủ hay thuộc Đô ty của một đạo nào (?) Lăng Xuyên là tên
một Sở và Khuông Trị là tên một Vệ cụ thể không phải lấy tên theo địa
phương, tương tự như cách đặt tên vệ Chiêu Vũ, Cẩm Y v.v… vậy. Điều này
khác biệt với hai quả ấn cấp Sở mà chúng tôi đã trình bày ở trên. Tuy
nhiên việc phân tích tên gọi của đơn vị cấp Sở, Vệ của ba quả ấn trên
chúng tôi tạm dừng lại ở đây và không coi đó là ý kiến khẳng định; mong
rằng đây là những tư liệu hiện vật cung cấp thêm cho công tác nghiên
cứu giới thiệu về lịch sử triều Mạc.
Việc trên mặt núm của cả ba quả ấn đều ghi Thượng bảo ty tạo đã chứng
minh rằng nhà Mạc đã lập ty Thượng bảo để tạo đúc vật dụng kim loại,
chủ yếu chế tác từ nguyên liệu đồng. Hầu hết các ấn tín thời Mạc đều
được sản xuất từ ty Thượng bảo. Nhà Mạc lập ty Thượng bảo theo cơ cấu
tổ chức của nhà Lê sơ mô phỏng theo tổ chức của nhà Minh Trung Quốc.
Khi bắt đầu việc đặt quan ở các cấp chính quyền trung ương hoặc địa
phương và phong chức tướng tá cho các đơn vị quân đội, nhà Mạc giao ấn
tín cho các quan tướng đó mỗi cấp, mỗi đơn vị một bộ ấn đồng dùng theo
luật định. Những ấn đồng này đã được làm ở ty Thượng bảo theo mẫu mã
nhất định. So sánh với những ấn đồng của các triều đại trước và sau nhà
Mạc, chúng tôi thấy cách tạo tác núm ấn, khuôn dấu, viền ngoài và văn
khắc nét chữ nhà Mạc làm khá đơn giản, sơ sài, không đều và không đẹp.
Chứng tích về hình dấu trên văn bản Hán Nôm thời Mạc hiện nay đáng tiếc
là không còn, ngoại trừ trường hợp loại hình sắc phong thần còn lưu
hình dấu Kim Bảo có niên đại thời Mạc ở hai điểm di tích thuộc đồng
bằng Bắc Bộ. Tại đền Quang Lãng[73], xã Thụy Hải, Kiến Thụy, Thái Bình
còn giữ được nhiều đạo sắc phong trong đó có các sắc ghi niên đại năm
Minh Đức nguyên niên (1527) đời Mạc Đăng Dung, Quảng Hòa sơ niên (1540)
đời Mạc Đăng Doanh và Cảnh Lịch sơ niên (1548) đời Mạc Phúc Nguyên.
Trên dòng ghi niên hiệu của các tờ sắc trên có hình dấu son với 4 chữ
Triện Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶.




Đạo sắc đời Cảnh Lịch hầu như rách hết phần chính và chỉ còn lại dòng
niên đại Cảnh Lịch sơ niên tứ nguyệt nhị thập bát nhật (景歷初年四月二十八日)
(Ngày 18 tháng 4 năm Cảnh Lịch sơ niên [1548]). Đạo sắc đời Minh Đức
cũng bị rách gần hết chỉ còn dòng niên hiệu ghi Minh Đức nguyên niên
thập nhị nguyệt sơ ngũ nhật (明德元年十二月初五日) (Ngày 5 tháng 12 năm Minh Đức
nguyên niên [1527]). Đạo sắc Quảng Hòa còn giữ được lành lặn hơn với
dòng niên đại ghi là Quảng Hòa sơ niên lục nguyệt sơ thập nhật
(廣和初年六月初十日) (Ngày 10 tháng 6 năm Quảng Hòa sơ niên [1540]). Chữ Hán ở
các đạo sắc này viết lối Chân rõ ràng, nét chữ, khoảng cách chữ bố cục
khác với chữ trên sắc phong thời Lê Trung hưng sau này. (H. 30, 31, 32).
Về hình dấu trên các sắc phong này có kích thước, bố cục chữ và kiểu
chữ Triện giống nhau, là bốn chữ Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶. Riêng nét chữ
Triện ở thời Minh Đức có khác nét chữ của 2 dấu kia một chút, đồng thời
mầu mực son ở dấu đời Minh Đức này cùng nhạt và khác màu mực son của 2
dấu đời Cảnh Lịch và Quảng Hòa. Vị trí đóng dấu mép trên dấu của cả 3
hình dấu trên đều đóng đè lên chữ thứ nhất dòng niên hiệu, nó khác với
vị trí đóng dấu của các sắc phong từ thời Lê Trung hưng trở về sau là
đóng đè lên từ chữ thứ 2 của dòng ghi niên hiệu.
Xem xét đạo sắc phong thời Mạc khác ở đình làng Tử Dương, huyện Thường
Tín, Hà Tây chúng tôi thấy nó cũng có những đặc điểm văn bản tương tự
như ba đạo sắc trên. Một phần chính văn đã bị rách nát, riêng dòng niên
đại ghi rõ Sùng Khang cửu niên thập nhất nguyệt sơ lục nhật 崇康九年十一月初六日.
Tức ngày 6 tháng 11 năm Sùng Khang thứ 9 (1547) đời Mạc Mậu Hợp. Hình
dấu trên dòng niên hiệu về kích thước, bố cục, bốn chữ Triện trong dấu,
và vị trí giống như 3 hình dấu ở đạo sắc phong trên. Riêng nét chữ
Triện và mầu mực giống như 2 dấu đời Cảnh Lịch và Quảng Hòa. (H. 33)
Việc khẳng định hoàn toàn đây có phải là những sắc phong thời Mạc hay
không đòi hỏi chúng ta phải đưa vào nhiều tiêu chí, trong đó phải phân
tích chất giấy, dùng kính xem xét kỹ hình vẽ rồng mây hoa văn trang
trí, màu sắc nhũ, kiểu chữ viết và bố cục chữ, lối hành văn dùng mỹ tự,
màu mực v.v… Những vấn đề này đòi hỏi phải có những chuyên gia riêng
biệt và hội đồng thẩm định xem xét trực tiếp văn bản. Những năm gần đây
xuất hiện không ít các sắc phong giả, nên việc giới thiệu các sắc phong
thời Mạc trên chúng tôi cũng chỉ xin dừng lại ở việc mô tả sơ bộ văn
bản, còn việc khẳng định bình xét tính chân ngụy xin dành cho các
chuyên gia nghiên cứu sau này.
CHƯƠNG II ẤN CHƯƠNG VIỆT NAM THỜI LÊ TRUNG HƯNG (1533-1788)
I. Bối cảnh lịch sử
Triều đình Lê Trung hưng có đặc thù riêng khác các vương triều trước là
sự hình hành tổ chức chế độ nhà Chúa, tính từ Trịnh Tùng với chức Đô
nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phụ tước Bình An vương. Trịnh Tùng
thâu tóm quyền hành bên cạnh vua Lê, bắt đầu cho một thời kỳ mới mà hậu
thế gọi là thời vua Lê - chúa Trịnh. Từ đây trở đi con cái chúa Trịnh
cũng được quyền thế tập, cũng được lập làm Thế tử. Trịnh Tùng cho lập
phủ liêu riêng gồm đủ cả lục Phiên tương đương với hệ thống lục Bộ v.v…
Phủ chúa toàn quyền đặt quan, thu thuế, bắt lính, kiểm duyệt, phong
thưởng v.v… vua Lê chỉ có mặt trong các dịp lễ tiết và tiếp sứ giả mà
thôi. Chính vì thế mà những chứng tích ấn chương còn đến ngày nay trên
tư liệu, hiện vật và thư tịch văn bản chủ yếu là những chứng tích của
nhà chúa, ít mang dấu ấn của các vua Lê, trừ một vài loại hình như sắc
phong và văn bản hành chính địa phương.
Việc tấn phong và phong tước vị, chức vụ cao cấp cho các chúa Trịnh
cùng các tuớng lĩnh đại thần họ Trịnh đã được chính sử ghi lại và được
coi là những sự kiện trọng đại. Phần nhiều việc tấn phong hoặc phong
trên đều có ban kèm sách vàng ấn vàng hay sách bạc ấn bạc.
Bắt đầu phải kể đến công lao to lớn của Trịnh Tùng trong sự nghiệp
Trung hưng lập nên nhà Hậu Lê, đã được lịch sử ghi nhận. Tháng 4 năm Kỷ
Hợi (1599) vua Lê tấn phong Trịnh Tùng làm Đô nguyên súy Tổng quốc
chính Thượng phụ Bình An vương, ban cho ông sách vàng ấn báu cùng ruộng
đất phong ấp. Tỷ ấn Bình An vương tỷ đã được ra đời trong thời gian
này, dùng đóng trên các bản lệnh chỉ, lệnh dụ mà Trịnh Tùng ban xuống.
Hình thức khắc ấn tỷ này đã được triều đình Lê - Trịnh coi là mẫu cơ
bản cho việc chế tác, khắc và sử dụng tỷ ấn của các chúa Trịnh từ năm
1599 đến hết thời Hậu Lê, tuy nội dung văn khắc của một số tỷ ấn có
khác nhau.
Chứng tích về Tỷ ấn Bình An vương tỷ ngày nay còn lưu lại trong cuốn
sách Bình An vương lệnh chỉ, nó được coi là văn bản cổ nhất trong kho
thư tịch ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, có niên đại năm Quang Hưng thứ 22
(1599), với hình dấu son Bình An vương tỷ còn in rõ ở dòng ghi niên
hiệu.
Thời Hậu Lê nhiều sự kiện lịch sử, trong đó có chi tiết ghi về việc tấn
phong, phong, ban, cấp sách ấn cho các chúa Trịnh được chính sử ghi lại
khá rõ: “Năm 1623 tấn phong vương thế tử Thái phó Hiệp mưu đồng đức
công thần Đô tướng Tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh kiêm quản Bình
chương quân quốc trọng sự Thanh Quận công Trịnh Tráng làm Thái úy Thanh
Quốc công… Mùa đông tháng 11 sách phong Tiết chế Thái úy Thanh Quốc
công Trịnh Tráng làm Nguyên súy Thống quốc chính Thanh Đô vương”[74].
Mùa đông tháng 10 năm 1629 vua Lê lại tấn phong Thanh Đô vương lên tước
vị cao hơn ban kèm sách vàng ấn báu. Lời kinh sách ghi rằng: “Đặc sai
quan mang phù tiết, sách vàng, ấn tước vương tấn phong [Trịnh Tráng]
làm Hiệp mưu công thần Đại nguyên súy Thống quốc chính sư phụ Thanh
vương…”[75]. Tỷ ấn này cũng giống như mẫu Tỷ ấn của Trịnh Tùng.
Trịnh Tráng lên nắm quyền bắt đầu cho một thời kỳ lịch sử nội chiến
Trịnh - Nguyễn, chúa Trịnh Đàng Ngoài và họ Nguyễn Đàng Trong. Giai
đoạn này Trịnh Tráng đã thành công trong ngoại giao với nhà Minh từ chỗ
chỉ phong tước An Nam Đô thống sứ cho các vua Lê Trung hưng, đến đây họ
đã chịu phong cho Lê Thần Tông làm An Nam Quốc vương. Sử cũ ghi: “Bính
Tuất năm thứ 4 (1646)… vua Minh sai bọn Hàn Lâm Phan Kỳ mang sắc thư
cáo mệnh và ấn bạc tráng vàng sang nước ta phong cho Thái Thượng hoàng
làm An Nam Quốc vương”[76]. Đến tháng 10 năm 1651 nhà Minh lại sai quan
mang sắc và ấn sang nước ta phong Thanh Đô vương Trịnh Tráng làm Phó
quốc vương.
Trịnh Tạc người kế tục sự nghiệp của Trịnh Tráng cũng được tấn phong từ
Tây Quốc công lên Tây Định vương đi liền với việc phong sách vàng ấn
vàng mà sử cũ ghi lại với lời trịnh trọng: “Năm 1652… Đặc sai Lễ bộ
Thượng thư Tri kinh diên sự kiêm Quốc tử giám Tế tửu Thiếu bảo Dương
Quận công Nguyễn Nghi cầm phù tiết mang sách vàng ấn vàng vinh phong
[Trịnh Tạc] làm Nguyên súy chưởng quốc chính Tây Định vương…”[77].
Ngay khi Trịnh Tạc đương nhiệm ngôi chúa vẫn được vua Lê tấn tôn phong
thêm nữa. Vào năm 1659 nhà vua sai Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu
Nguyễn Hậu Quyến cầm phù tiết mang sách vàng ấn báu tấn tôn [Trịnh Tạc]
làm Dực vận Tán trị Công thần Đại nguyên súy chưởng quốc chính Thượng
sư Tây vương.
Vua Lê chúa Trịnh rất chú trọng trong việc phong chức tước cho các
vương công họ Trịnh và bao giờ cũng đi kèm việc phong sách ấn. Như năm
1632 thời Trịnh Tráng “Sai bọn Lễ bộ Thượng thư Thiếu úy Lan Quận công
Nguyễn Thực cầm phù tiết mang sách vàng ấn bạc phong Tả tiệp quân dinh
Thái phó Sùng Quận công Trịnh Kiều làm Khâm sai tiết chế các xứ thủy bộ
chư dinh kiêm Tổng nội ngoại Bình chương quân quốc trọng sự phó chưởng
quốc chính Thái úy Sùng Quốc công, mở phủ gọi là phủ Hùng Uy. Lại chia
sai quan cầm phù tiết mang sách bạc và ấn phong Hiệp nghĩa dinh Thái úy
Trung Quận công Trịnh Vân làm Trung Nhạc công…, phong Phù Nghĩa dinh
Thái úy Dũng Quận công Trịnh Khải làm Dũng Lễ công”[78].
Những tướng lĩnh cao cấp là công hầu người họ Trịnh khi mở Dinh quân
đều được ban cấp ấn cho Dinh đó. Như Tả Đô đốc Ninh Quận công Trịnh
Toàn năm Ất Mùi 1655 có công đánh giặc được phong chức Thiếu bảo, được
mở dinh gọi là “Tả dực nội quân” và được ban ấn Tả dực nội quân tướng
ấn. Năm Bính Thân 1656 phong Thế tử của Tây Định vương là Trịnh Căn làm
Phó Đô tướng Thái bảo Phú Quận công, mở dinh gọi là “Tả Quốc dinh” được
ban ấn Tả Quốc tướng quân ấn. Em Trịnh Căn là Trịnh Đống được phong là
Thiếu phó Vũ Quận công, mở dinh gọi là “Trung Khuông quân dinh” cũng
được ban ấn Trung Khuông tướng quân ấn. Riêng Trịnh Căn đến năm Canh Tý
1660 được phong làm Khâm sai tiết chế các xứ thủy bộ chư dinh kiêm Tổng
chính binh Thái úy Nghi Quốc công, được mở phủ gọi là phủ “Lý Quốc”
được ban sách vàng ấn bạc. Đến năm Giáp Dần 1674 Trịnh Căn được vua Lê
Gia Tông sai Đại thần Phạm Công Trứ mang sách vàng ấn báu tấn phong làm
Nguyên súy điển quốc chính Định Nam vương. Ấn được khắc 4 chữ Định nam
vương tỷ với quy thức như Tỷ ấn của Bình An vương Trịnh Tùng.
Những tướng lĩnh cao cấp không mang họ Trịnh nhưng có công lao đánh
giặc cũng được vua Lê chúa Trịnh phong chức, cho mở dinh và ban cấp ấn
tín. Năm Kỷ Hợi 1659 xét công thắng trận phong Đốc suất Đào Quang Nhiêu
làm Phó tướng Thiếu úy, cho mở dinh gọi là “Tả dinh quân” và ban ấn Tả
dinh tướng quân ấn. Năm Tân Sửu 1661 xét công dẹp giặc chiếm lại đất cũ
của Lê Thì Hiến thăng lên làm Phó tướng Thiếu úy, cho mở dinh gọi là
“Tả trung quân” ban ấn Tả trung tướng quân ấn.
Việc phong chức tước cho các tướng lĩnh quan lại khác cũng đi kèm với
việc ban ấn chuyển giao nhận ấn tín. Năm 1661 xét công trạng phong
Hoàng Nghĩa Giao làm Phó tướng Tả Đô đốc, Trần Văn Tuyển làm Ngự sử đài
phó Đô Ngự sử, Phan Kiêm Toàn làm Lại bộ Hữu Thị lang, Lê Sĩ Triệt làm
Hộ bộ Tả Thị lang v.v… Năm 1663 lấy Nguyễn Công Bích làm Tham chính xứ
Kinh Bắc, Nguyễn Danh Thực làm Đô Cấp sự trung Hình khoa, Lê Công Triều
làm Giám sát Ngự sử đạo Thanh Hoa, Đô đốc Đồng tri Đinh Văn Tả làm Đô
Tổng binh xứ Yên Quảng v.v…
Việc đặt, chuyển, hoàn thiện tổ chức quan lại cấp trung ương được chính
quyền Lê - Trịnh chú trọng như việc hoàn thiện từ chức lãnh đạo ở hệ
thống lục Bộ vào năm Giáp Thìn 1664 cho đặt đủ số Thượng thư ở lục Bộ.
Lấy Tham tụng Phạm Công Trứ làm Thượng thư bộ Lại, Bồi tụng Trần Hợp
Tuyển làm Thượng thư bộ Hộ, Nguyễn Năng Thiện làm Thượng thư bộ Lễ, Vũ
Duy Chí làm Thượng thư bộ Binh, Phan Kiên Toàn làm Thượng thư bộ Hình,
lấy Hữu Thị lang Lễ bộ Lê Hiệu làm Thượng thư bộ Công. Các chức Thượng
thư trên đều được ban cấp ấn bộ, văn khắc trên ấn là (Mỗ) bộ đường chi
ấn. Ấn này vẫn theo mẫu cũ v.v… Dưới chức Thượng thư là chức Tả, Hữu
Thị lang, Lang trung, Viên ngoại lang v.v… cũng được đặt theo quy định.
Các cơ quan trung ương khác như hệ thống Giám sát (các chức Đô ngự sử,
Phó Đô ngự sử, Thiêm Đô ngự sử, Giám sát Ngự sử các Đạo, Đô cấp sự
trung ở các Khoa), lục Tự, Điện các, Quốc tử giám, Hàn lâm viện, Thái y
viện và các Nha môn sở thuộc về tổ chức và hoạt động cũng được thực
hiện theo quy chế cũ Lê sơ có chỉnh lý đôi chút. Mỗi một cơ quan trên
đều sử dụng ấn tín trong hoạt động công vụ.
Đầu thời Trung hưng việc phong chức đặt quan được coi là không kỹ, cho
đến năm 1726 chế độ Văn quan mới được quy định lại chặt chẽ hơn, điều
này chính sử chỉ nhắc đến nhưng không ghi chi tiết cụ thể.
Tổ chức quân đội thời Lê Trung hưng vẫn mô phỏng theo binh chế quân đội
thời Lê sơ. Cấp Quân là cấp cao nhất gồm năm Quân (Đông quân, Tây quân,
Nam quan, Bắc quân và Trung quân). Mỗi Quân đều do một tướng lĩnh cao
cấp đứng đầu và thường là người họ Trịnh. Dưới nữa thì có các cấp
Doanh, Vệ, Sở rồi đến Cơ, Đội v.v… Việc phong chức đặt tướng cũng được
sử sách ghi lại, như năm Giáp Thìn 1664 đặt quan chưởng và Thự Ngũ phủ,
cho Thái phó Trịnh Trượng làm Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng
phủ sự. Thái phó Trịnh Đống làm Đông quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Chưởng
phủ sự. Thiếu úy Trịnh Kiều làm Nam quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Thự phủ
sự. Thiếu úy Lê Thì Hiến làm Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Thự phủ sự.
Thiếu phó Trịnh Ác làm Bắc quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Thự phủ sự. Các
chức này đều được ban cấp ấn tín dùng trong việc quân.
Cấp Doanh dưới Quân cũng là những đơn vị lớn và quan trọng với tên gọi
khá hùng tráng như đời Trịnh Cương ở Trung quân đặt sáu Doanh là doanh
Trung Dực, Trung Uy, Trung Thắng, Trung Khuông, Trung Nhuệ và Trung
Tiệp. Mỗi Doanh gồm 800 quân do chức Đô đốc đứng đầu. Các Đô đốc đều
được nhận lĩnh ấn tín tên Doanh của mình.
Việc kiêm nhiệm chức vụ thời Lê Trung hưng cũng có như Dương Quận công
Đào Quang Nhiêu trải thờ mấy đời vua giữ các chức Trấn thủ xứ Nghệ An,
kiêm trấn châu Bố Chính, Thống suất quan Tả Khuông quân doanh phó
tướng, Thiếu úy - một lúc giữ mấy loại ấn tín khác nhau v.v…II. Thực trạng ấn chương thời Lê Trung hưng
1. Hiện vật ấn chương
Cũng như nhà Mạc, nhà Lê - Trịnh tồn tại trong suốt thời kỳ chiến tranh
Lê - Mạc rồi Trịnh - Nguyễn, cho đến nay, thiên tai và nạn binh hỏa đã
chôn vùi hầu hết hiện vật ấn chương giai đoạn này.
Hiện nay số hiện vật ấn thời Lê Trung hưng mà chúng tôi trực tiếp xem
xét in chụp lại còn quá ít. Ngoại trừ vài quả ấn đồng cấp phủ, huyện có
niên đại rõ ràng, còn số ít ấn gỗ không ghi niên đại và thuộc lĩnh vực
tôn giáo.
Hiện nay tại gia đình ông Nguyễn Khắc Bảo ở thị xã Bắc Ninh - người say
mê sưu tầm cổ vật và nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ được một quả ấn
đồng khá nguyên vẹn. Ấn có trọng lượng 900 gram, núm hình chuôi vồ cao
6,2cm, khuôn ấn dày 1cm. Mặt trên ấn khắc hai dòng chữ Hán, bên phải là
4 chữ Thiên trường phủ ấn 天長府印, bên trái là 5 chữ Vĩnh Tộ thập niên tạo
永祚十年造.
Mặt dấu hình vuông, kích thước 8x8cm, viền ngoài để cỡ 0,8cm bên trong
là 4 chữ Triện khắc theo khuôn chữ vuông. Đó là 4 chữ Thiên Trường phủ
ấn. Bốn chữ Triện trong dấu trùng với bốn chữ khắc ở bên phải mặt núm
ấn. Đây là ấn của viên Tri phủ đứng đầu phủ Thiên Trường thuộc đạo Sơn
Nam đầu thời Lê Trung hưng[79]. Dòng chữ bên trái mặt núm ấn đã ghi rõ
ấn được tạo đúc vào năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời Lê Thần Tông (H. 34
a,b,c).
Tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội hiện còn lưu giữ nhiều ấn
đồng cổ, nhưng ấn thời Lê Trung hưng thì chỉ có một quả. Ấn mang ký
hiệu LSb 2527 cán chuôi vồ dẹt dưới to trên nhỏ dần. Ấn cao 8,5cm và đế
dầy 1cm. Trên ấn phía bên trái đề 6 chữ, chữ đầu bị mờ, 5 chữ sau là …
Đức tứ niên nguyệt nhật. Qua nét chữ còn lại cộng với việc xác định 15
trường hợp niên đại có chữ thứ hai là chữ “Đức” 德 trong niên biểu ghi
niên hiệu các đời vua của các triều đại phong kiến Việt Nam, chúng tôi
khẳng định chữ bị mờ là chữ “Thịnh” 盛. Như vậy dòng ghi niên hiệu sẽ là
Thịnh Đức tứ niên nguyệt nhật 盛德四年月日. Năm Thịnh Đức thứ 4 là năm 1658
đời Lê Thần Tông.
Mặt trên ấn phía bên phải dòng ngoài chữ khắc đã mờ hết không đọc được,
dòng trong khắc 4 chữ Thượng bảo ty tạo 尚寶司造. Ty Thượng bảo tạo đúc ra
quả ấn này. Ty thượng bảo có từ thời Lê sơ, nhà Mạc lên nắm chính quyền
cũng lập ty Thượng bảo duy trì như thời Lê sơ, đấy là nơi tạo đúc vật
dụng kim loại dùng với tính chất quan trọng như ấn tín. Đến khi nhà Lê
Trung hưng đánh tan quân Mạc, chiếm lại Thăng Long thì cho tổ chức lại
ty Thượng bảo như cũ.
Mặt dấu hình vuông kích thước 6,5x6,5cm, viền ngoài để cỡ 0,5cm, 4 chữ
Triện khắc vuông vức rõ nét, là 4 chữ Bình Nguyên châu ấn 平原州印. Đây là
ấn của viên Tri châu châu Bình Nguyên[80]. (H. 35 a,b,c,d).
Tại một ngôi điện thờ ở Phú Xuyên, Hà Tây cách Hà Nội hơn 30km còn lưu
giữ được khá nhiều ấn gỗ. Đạo sĩ Trần[81] cho tôi xem một lá bùa và 28
quả ấn gỗ khác nhau mà dòng họ ông đã tạo ra và gìn giữ ngót hai thế kỷ
nay. Trong số 28 quả ấn gỗ, chúng tôi chỉ đọc được nội dung của 24 quả
có văn khắc theo thể Triện thư. Số ấn đều có chất liệu bằng gỗ, theo
lời của ông Trần thì ấn được làm chủ yếu bằng gỗ đào và lê. Núm ấn đều
được khắc đơn giản theo kiểu có núm cầm và một số quả được quét sơn ta
cẩn thận. Có 3 quả ấn mặt núm có khắc chữ Hán kiểu Chân thư, số ấn còn
lại đều để trơn. Mặt dấu làm theo hình vuông và hình chữ nhật, viền
ngoài thường khắc nổi một đường viền, có 6 chiếc khắc họa tiết cung
đình. Trước hết xin được giới thiệu số ấn có khắc tên tước vương của
Trần Quốc Tuấn và tên Điện súy Phạm Ngũ Lão theo hình dấu của mỗi quả
ấn khác nhau.
- Ấn thứ nhất để mộc, núm cầm nhỏ, mặt đế và dấu hình vuông có kích
thước 6,5x6,5cm, viền ngoài khắc họa tiết, 4 chữ Triện trong dấu là
Trần triều Hưng Đạo 陳朝興道. Đây là dấu ấn của Hưng Đạo vương triều Trần.
(H. 36 a,b,c)
- Ấn thứ hai, núm cầm rộng, thấp khắc chữ thượng, trên ấn khắc họa
tiết, toàn thân quét sơn ta. Đế ấn và mặt dấu hình vuông có kích thước
8,7x8,7cm, viền ngoài dày 1,8cm, trong dấu là 4 chữ Triện Trần Hưng Đạo
ấn 陳興道印:
- Ấn thứ ba, núm cầm vừa phải, mặt đế ấn và dấu bốn góc hơi uốn, hình
hơi chữ nhật có kích thước 6,8x7,3cm, viền ngoài dày 1cm, trong là 5
chữ Triện Trần Hưng Đạo vương ấn 陳興道王印: ấn dấu của Hưng Đạo vương triều
Trần. (H. 38 a,b)
- Ấn thứ tư, núm nhỏ khắc chữ thượng, mặt trên làm thuôn mái hình vòng
cung. Mặt đế ấn và dấu làm hình chữ nhật có kích thước 5,8x9,0cm khắc 8
chữ Chân (chia làm 2 hàng dọc) Trần triều hưng đạo y hứa thánh tử
陳朝興道依許聖子: Hưng Đạo vương triều Trần chuẩn y cho các thánh tử. (H. 39
a,b,c)
- Ấn thứ năm, núm vừa phải, loe trên, mặt đế và dấu hình vuông có kích
thước 6,5x6,5cm, khắc họa tiết viền ngoài và bên trong là 4 chữ Triện
Trần triều điện súy 陳朝殿帥: ấn dấu của Điện súy triều Trần. (H. 40 a,b)
- Ấn thứ sáu, thân ấn mỏng, núm mỏng và rộng, mặt đế và dấu hình vuông
có kích thước 7x7cm khắc 12 chữ Triện (xếp làm 3 hàng dọc) Trần triều
điện súy thượng tướng quân quan nội hầu chi ấn 陳朝殿帥上將軍關内侯之印: ấn dấu của
quan nội hầu Thượng tướng quân Điện súy triều Trần[82]. (H. 41 a,b)
Ấn thứ bẩy để mộc, làm đơn giản và thuộc loại nhỏ, đế ấn và mặt dấu
hình vuông có kích thước là 4,5x4,5cm, 4 chữ Triện khắc vuông vức là
Bảo Linh điện ấn 寶靈殿印: ấn dấu của điện Bảo Linh. (H. 42 a,b,c).
Việc xác định niên đại của 7 quả ấn trên cũng như toàn bộ số ấn gỗ của
ngôi điện thật khó khăn. Xem xét kỹ từng quả ấn với chất liệu gỗ, kỹ
thuật gọt đẽo và độ sơn phủ trên núm ấn gần giống một số đồ thờ và nội
thất ngôi điện. Theo lời kể của đạo sĩ Trần, số ấn này được làm ra từ
thời lập điện thờ và bắt đầu nghiệp đạo sĩ của các cụ tổ nhà ông cuối
thời Hậu Lê. Đồng thời xem xét một số sắc phong của ngôi điện, chúng
tôi thấy sắc phong thời Lê Cảnh Hưng có thêm hình dấu của Trần Hưng
Đạo, còn đạo sĩ Trần khẳng định rằng tổ tiên mình xưa kia khi tiếp nhận
tờ sắc phong đã dùng luôn con dấu của bản điện đóng vào tờ sắc đó. Ở
trường hợp này cái khó không phải là việc đọc hiểu rõ chữ Triện trong
con dấu mà là việc xác định được thời gian con dấu đó in trên văn bản
có cùng niên đại thảo văn bản đó hay không (?) Việc lập điện thờ đức
Thánh Trần để thờ phụng và hành nghề đạo sĩ phải có những con dấu của
đức Thánh Trần đóng trên bùa chú là việc tất yếu, phải chăng là lập
luận có sức thuyết phục trong việc xác định niên đại của số ấn dấu trên
(?) Từ đó chúng tôi cho rằng những quả ấn trên có khả năng được làm ra
từ thời Lê Trung hưng.
Năm 1999, PGS. TS. Đỗ Thị Hảo đã cung cấp cho chúng tôi một ấn dấu nhỏ.
Ấn bằng đồng, núm cầm kiểu chuôi vồ ngắn, đế ấn phần khuôn dấu hình
vuông. Mặt trên ấn phần núm khắc dòng ghi niên đại chữ Hán lối Chân thư
Vĩnh Hựu tứ niên Mậu Ngọ tứ nguyệt 永祐四年戊午四月. Mặt dấu hình vuông kích
thước 8,1x8,1cm, gốc hơi uốn, nét viền để mảnh. Văn khắc là 6 chữ Chứng
thu mễ thuế chi ấn 証收米稅之印 (ấn chứng thực việc thu thuế gạo). Dòng niên
đại khắc trên mặt ấn khẳng định quả ấn này được làm năm Mậu Ngọ niên
hiệu Vĩnh Hựu thứ 4 tức năm 1738 đời vua Lê Ý Tông.
Hệ thống lục Bộ thời Lê Trung hưng vẫn được duy trì theo cơ cấu tổ chức
từ thời Lê sơ. Bộ Hộ có nhiệm vụ trông coi ruộng đất hộ khẩu, tài
chính, tô thuế, kho tàng, thóc gạo tiền lương. Cơ quan chuyên trách của
bộ Hộ là Độ chi Thanh lại ty và Bản tịch Thanh lại ty. Nhiệm vụ của Độ
chi Thanh lại ty là phân bổ tô thuế trong toàn quốc, đánh thuế đối với
lương thực, sản vật các loại ở mỗi địa phương khác nhau, định mức tô
thuế cho công bằng, xem xét việc xuất nhập tiền tài thuế má, thu chi
v.v… Trưởng quan của Độ chi Thanh lại ty là chức Lang trung có hai Viên
ngoại lang phụ tá. Ấn Chứng thu mễ thuế chi ấn này là ấn tín của một
chức quan nhỏ chuyên thu thuế thóc gạo ở các địa phương, nó nằm trong
hệ thống ấn tín thu tô thuế, thu mua các sản vật của Độ chi Thanh lại
ty trên. Đây là ấn dấu duy nhất về lĩnh vực thuế khóa mà chúng tôi sưu
tầm được, xin được giới thiệu bổ sung cho số hiện vật ấn tín thời Lê
Trung hưng. (H. 43)
 2. Hình dấu trên văn bản Hán Nôm
Văn bản Hán Nôm có niên đại rất sớm đầu thời Lê Trung hưng có xuất xứ ở
khu vực Nam Trung Bộ đã được ông Trần Viết Ngạc công bố trong Nghiên
cứu Huế năm 1999[83]. Đây là một bản công văn hành chính chữ Hán còn
được giữ khá nguyên vẹn, có niên đại từ năm Quang Hưng thứ 20 (1596).
Chính văn có 4 dòng 97 chữ và một dòng ghi niên đại, chữ Hán viết Chân,
khuôn chữ bè ngang giống chữ trên các văn bản hành chính thời Lê Trung
hưng mà chúng tôi đã gặp. Đặc biệt trên dòng niên đại có in một dấu lớn
hình vuông màu son đỏ. Cuối văn bản còn hình dấu chữ “Thị” và dấu hoa
giáp khá lớn để đánh dấu loại hình văn bản.
Nội dung văn bản là một bản công văn của chức Tổng trấn (Thuận Quảng)
lệnh cho Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh đang quyền quản huyện Tuy Viễn,
trấn An Biên đem số dân xã Ba Thi cùng lưu dân bản huyện vào khai hoang
vùng đất từ Cù Mông, Bà Đài, Ba Điền, Đà Miễu…[84] các xứ từ thượng
nguồn đến cửa biển, dựng nhà lập ấp, khẩn hoang trồng trọt ổn định thu
hoạch thì nạp thuế theo lệ. Nếu như vì việc mà nhũng nhiễu dân thì sẽ
bị xử tội.
Dòng niên đại ghi rõ 10 chữ Quang Hưng nhị thập niên nhị nguyệt sơ lục
nhật (光興二十年二月初六日) tức ngày 6 tháng 2 năm Quang Hưng thứ 20 (1597) đời
Lê Thế Tông.
Trở lại với hình dấu ở dòng niên đại. Dấu hơi có hình chữ nhật đứng,
khuôn viền để rộng. Văn khắc là 6 chữ Triện chia làm 3 hàng, chữ cũng
có khuôn hình chữ nhật đứng, nét chắc ngắn dễ đọc. Đó là 6 chữ Tổng
trấn tướng quân chi ấn 總鎭將軍之印 (ấn của Tổng trấn tướng quân). (H. 44 a,
b).
Dấu chữ “thị” và dấu hoa giáp cũng là những tiêu chí phụ khẳng định độ xác thực của văn bản này.
Thời gian của văn bản này nằm trong thời kỳ cuối của chiến tranh Nam -
Bắc triều, có niên hiệu nhà Lê và chức Tổng trấn tướng quân. Giở lại
lịch sử thì chức Tổng trấn quản lãnh khu vực Trung Bộ và Nam Trung Bộ
lúc đó là chức Tổng trấn Thuận - Quảng. Viên Tổng trấn này chính là
nhân vật lịch sử Nguyễn Hoàng. Nguyễn Hoàng khi 21 tuổi cha là Nguyễn
Kim mất được tập phong tước Hạ Khê hầu. Sau đó đời Lê Trang Tông được
tấn phong tước Đoan Quận công. Tháng 10 năm Mậu Ngọ (1558) chủ mưu lánh
nạn, Nguyễn Hoàng được làm Tiết chế vào Trấn thủ Thuận Hóa[85]. Tháng
Giêng năm Canh Ngọ (1570) Nguyễn Hoàng được phong làm Tổng trấn kiêm
lãnh hai xứ Thuận Hóa - Quảng Nam[86]. Chính sử ghi về ông “vỗ về dân
chúng, thu dùng hào kiệt, giảm nhẹ tô thuế, rất được lòng người. Người
bấy giờ gọi ông là chúa Tiên” và “Đoan Quốc công là người có uy lược,
cai trị hơn 40 năm, chính sự khoan hòa, việc gì cũng chú ý ban ân huệ
cho dân, răn đe quân mình, ngăn cấm hung bạo, dân đều tin phục, cổng
ngoài không phải đóng, hàng năm nộp tô thuế về triều, là chỗ dựa của
triều đình”[87].
Khi được phong là Tổng trấn Thuận - Quảng, Nguyễn Hoàng đã nhận ấn Tổng
trấn tướng quân chi ấn. Điều này nói rõ chức của ông là Tống trấn tướng
quân chứ không phải chỉ là chức Tổng trấn thôi. Thời kỳ chiến tranh đầu
Trung hưng tất cả các chức đứng đầu chính quyền địa phương đều do các
tướng tài đảm nhiệm, nguyên tắc này còn duy trì mãi đến chế độ quân
quản về sau.
Năm Quý Tỵ (1593) quân Mạc đại bại, vua Lê trở lại Đông Đô, Nguyễn
Hoàng đem quân yết kiến được vua Lê phong chức Trung quân Đô đốc phủ,
Tả Đô đốc chưởng phủ sự, Thái úy Quốc công. Tám năm ở Đông Đô ông nhiều
lần đánh dẹp thành công tàn quân Mạc, tuy vậy việc điều hành chính
quyền Thuận - Quảng phía Nam vẫn được ông chú trọng.
Một số văn bản quan trọng đã được ông thực hiện và đóng dấu Tổng trấn
tướng quân chi ấn từ Đông Đô (Hà Nội) gửi về Nam chỉ đạo các quan tướng
thực thi theo chủ trương chính sách của ông mở mang bờ cõi, khai phá
đất hoang, lập làng dựng chính quyền các cấp, vỗ yên dân chúng, đảm bảo
trị an xã hội và kỷ luật quân đội, quan trường. Chính sách đúng đắn của
ông đã thành công, một dải từ đèo Cù Mông tới núi đá Bia đã thuộc về
Tổng trấn Nguyễn Hoàng và phủ Phú Yên chính thức thành lập năm 1611.
Lãnh thổ Việt Nam khi ấy đã được mở rộng xuống phía Nam rất nhiều phải
kể đến công lao to lớn của Nguyễn Hoàng và các thuộc tướng của ông
trong đó có Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh.
Lương Văn Chánh, một tùy tướng theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa từ buổi
sơ khai có nhiều công lao giúp Nguyễn Hoàng trong khẩn hoang mở ấp vùng
Nam Trung Bộ và đặc biệt vùng đất thuộc tỉnh Phú Yên. Ông Trần Viết
Ngạc đã nghiên cứu về nhân vật này và có những ý kiến giá trị: “Các tư
liệu điền dã khác như gia phổ, tộc phổ, văn tế, di tích về Lương Văn
Chánh đều tỏ ra phù hợp với bản văn nói trên và nhờ bản văn nói trên mà
tính cách xác thực của các tư liệu được kiểm chứng”[88].
Cuốn sách mỏng Bình An vương lệnh chỉ có kí hiệu VHv.2489 hiện nằm
trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm mà Thạc sĩ Nguyễn Hữu Mùi -
cán bộ phòng Bảo quản đưa cho tôi với lời khẳng định: “Đây là văn bản
Hán Nôm cổ nhất trong số thư tịch ở kho sách này”. Văn bản đóng thành
sách gồm 4 trang, khổ 34x21cm, chữ Hán chép tay theo thể Khải thư, viết
trên giấy bản đã cũ. Đường mép giấy bị rách mờ đã được bồi dán lại. Hai
trang đầu với 19 dòng chữ Hán kể cả dòng cuối trang nhất đã bị mờ. Nội
dung là Lệnh chỉ của Đô Nguyên soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An
vương Trịnh Tùng chuẩn cấp cho xã Vũ Liệt, huyện Thanh Chương (Nghệ An)
21 người được miễn phu phen tạp dịch, để trông nom giữ gìn và thờ cúng
ngôi đền thờ thần Đô Thiên đại đế Long vương ở bản xã, sau cùng là tên
họ của 21 người ghi ở cuối trang nhất và trang thứ hai.
Trang thứ 3 là dòng ghi niên hiệu với 12 chữ Hán Quang Hưng nhị thập
nhị niên ngũ nguyệt nhị thập thất nhật. Dưới chữ Quang Hưng là hình một
dấu son đỏ hình vuông có kích thước 4,8x4,8cm. Bốn chữ Triện trong dấu
có nét khắc vuông vức. Mỗi chữ có nét uốn khuôn theo hình vuông, là 4
chữ Bình An vương tỷ 平安王璽. Đây là dấu Tỷ ấn của Bình An vương Trịnh
Tùng được đóng trên bản Lệnh chỉ ghi niên đại ngày 27 tháng 5 năm Quang
Hưng thứ 22 (1599). Giữa trang 2 và trang 3 còn có một hình dấu Bình An
vương tỷ nữa đóng chỗ giáp lai ở phần dưới sách. Điều này chứng tỏ bản
Lệnh chỉ này được làm nhiều trang giấy, khác với sắc phong là loại văn
bản được làm bằng một tờ giấy khổ rộng.
Trang thứ tư ta thấy rõ hai chữ “Lệnh chỉ” rất to dính liền nhau ở phần
trên giữa trang giấy. Thực ra đây cũng là một hình dấu, loại dấu này
với chức năng là đánh dấu phân biệt đối với các loại hình văn bản hành
chính khác nhau như Lệnh chỉ, Lệnh dụ, Truyền, Sai v.v… Hai chữ “Lệnh
chỉ” được khắc trên mặt ấn với tự dạng chữ Khải, các nét rất đậm và
lớn, dấu không có khung viền ngoài, do đó khi đóng xuống giấy sẽ cho ra
đời hai chữ “Lệnh chỉ” rất lớn. Ở văn bản này dấu “Lệnh chỉ” có kích
thước 7,3x7,8cm dấu có màu mực đen đậm. Với chức năng riêng biệt như
vậy nên chúng tôi không xếp loại dấu này vào trong những loại hình ấn
chương như Đồ ký, Kiềm ký, Tín ký v.v… (H. 45)
Nội dung bản Lệnh chỉ xem qua cũng không thấy có gì đặc biệt, nhưng ở
đây chúng tôi muốn nói tới ý nghĩa của hình dấu. Theo điển chế của các
triều đại trước Lê Thế Tông thì chỉ có Hoàng đế mới được dùng Bảo, Tỷ
đóng trên các Chiếu văn, Sắc phong, dụ, chỉ. Ở đây chúa Trịnh Tùng đã
được dùng Tỷ ấn đóng lên bản Lệnh chỉ của mình ban xuống, việc này mang
một ý nghĩa lịch sử quan trọng trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Bắt
đầu cho một thời kỳ thống trị mới của triều đình thời Lê Trung hưng:
tồn tại cả vua và chúa mà thực trạng quyền hành nằm trong tay nhà chúa.
Cũng phải kể đến Trịnh Tùng - người mở đầu cho giai đoạn phong kiến mới
ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII qua sự nghiệp và
những chiếu lệnh trước bản Lệnh chỉ năm 1599 của ông. Trịnh Tùng sinh
năm 1550, là con Thái sư Lạc Quốc công Trịnh Kiểm và bà Ngọc Bảo[89]
quê làng Sóc Sơn, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Năm 1570 Trịnh Kiểm chết, qua
bao thăng trầm, Trịnh Tùng được vua Lê sắc phong làm Trưởng Quận công
Tiết chế Thủy bộ chư doanh, sau lại gia thêm chức Tả tướng Tiết chế
Trưởng Quốc công. Năm 1572, nội bộ lục đục, Trịnh Tùng cùng bề tôi lập
Hoàng tử Duy Đàm lên ngôi vua - tức vua Lê Thế Tông sau này. Trịnh Tùng
đã giúp vua Lê ban ra chiếu mệnh đúng đắn trong thời kỳ chiến tranh Lê
- Mạc mà chính sử còn ghi lại. 1. Người dân nào bị nạn binh lửa mà
không có hằng sản đều tha tạp dịch. 2. Dân nghèo xiêu dạt cho về bản
quán, tha cho thuế dịch…[90]
Sau khi dồn tàn quân Mạc lên miền thượng du, năm 1595 Trịnh Tùng vào
Thăng Long tiến hành tổ chức bộ máy chính quyền theo mô hình vương
triều cũ nhà Lê với đầy đủ các ban bệ.
Tháng 4 năm Kỷ Hợi (1599) vua Lê tấn phong Trịnh Tùng làm Đô nguyên
soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An vương, ban cho sách vàng ấn báu
cùng ruộng đất phong ấp. Tỷ ấn Bình An vương tỷ đã được ra đời trong
thời gian này, dùng đóng trên những bản Lệnh chỉ, Lệnh dụ mà Trịnh Tùng
ban xuống. Trịnh Tùng có công lớn giúp vua Lê giành lại chính quyền,
giữ yên xã hội với một số chính sách tiến bộ hợp lòng dân. Việc mở khoa
thi Hội và thi Đình từ khoa Canh Thìn (1580) đến khoa Quý Hợi (1623)
mang ý nghĩa tích cực. Hàng trăm tiến sĩ của hàng chục khoa thi là
những cánh tay đắc lực góp phần không nhỏ trong công cuộc Trung hưng
của tập đoàn Lê - Trịnh. Tiêu biểu như Ngự sử đài Đô ngự sử Nguyễn Văn
Giai đỗ Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn (1580), Hữu Thị lang bộ Hộ
Nguyễn Đăng đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Dần (1602) v.v…
Khi được phong là Bình An vương, Trịnh Tùng đã ban hành nhiều Lệnh chỉ
ở nhiều lĩnh vực với ý nghĩa khác nhau. Từ những việc đại sự trong quân
đội như bản Lệnh chỉ ngày 6 tháng 8 năm 1599 về việc thăng chức vụ cấp
bậc cho các đơn vị quân đội cấp quân, doanh, đến việc bình thường như
bản Lệnh chỉ ban cho xã Vũ Liệt, huyện Thanh Chương mà chúng tôi đã
trình bày. Ở Lệnh chỉ nào cũng có hình dấu Bình An vương tỷ đóng trên
dòng ghi niên hiệu. Bản Lệnh chỉ ban cho xã Vũ Liệt - Thanh Chương tuy
nội dung không có gì đặc biệt nhưng về ý nghĩa và giá trị văn hóa đối
với chúng ta ngày nay thì lại không nhỏ. Ngoài việc khẳng định giá trị
đây là một văn bản Hán Nôm có niên đại xưa nhất trong số thư tịch tài
liệu ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nó còn thể hiện giá trị lịch sử cao
trong việc nghiên cứu, đánh giá về sự kiện và nhân vật trong lịch sử
phong kiến Việt Nam giai đoạn đầu thời Lê Trung hưng. Bản Lệnh chỉ có
hình dấu Bình An vương tỷ là cái mốc đánh dấu sự kiện thời gian Trịnh
Tùng được phong là Bình An vương trước thời gian mà bản Lệnh chỉ ra đời
hơn 1 tháng. Kể từ đây bắt đầu một thời kỳ mới trong thể chế quân chủ
phong kiến Việt Nam: Thời kỳ “vua Lê - chúa Trịnh”, từ đây trở đi con
cái chúa Trịnh cũng được quyền thế tập, cũng được lập làm Thế tử.
Ngoài lệnh chỉ của chúa Trịnh Tùng, Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ
được Lệnh chỉ của vị chúa kế tiếp là Trịnh Tráng 鄭壯 có tên gọi Thanh Đô
vương lệnh chỉ 清都王令旨. Văn bản này có 2 trang khổ 26x24cm, KH. VHv. 2490
chữ Hán viết theo lối Khải thư. Trang đầu bị mòn rách phần trên. Thanh
Đô vương lệnh chỉ có nội dung gần giống như nội dung bản Lệnh chỉ của
Trịnh Tùng. Đây là Lệnh chỉ của Trịnh Tráng chuẩn cấp cho 12 người
thuộc xã Vũ Liệt huyện Thanh Chương, Nghệ An được miễn tạp dịch để
trông coi đền thờ Trung đẳng thần Đô Thiên đại đế Long vương ở địa
phương. Trang thứ 2 chỉ có một dòng ghi niên hiệu, phần trên tờ giấy bị rách
nên chữ đầu bị mất chỉ còn lại 8 chữ Tộ thập niên nhị nguyệt thập bát
nhật. Dưới chữ Tộ là hình một dấu vuông kích thước 4,8x4,8cm; bốn chữ
Triện trong dấu có nét khắc vuông vức là 4 chữ Thanh Đô vương tỷ 清都王璽:
Tỷ ấn của Thanh Đô vương. Việc Chân hóa chữ Triện xác định con dấu cùng
một số tiêu chí khác đã giúp cho việc khẳng định chữ bị mất là chữ
“Vĩnh” 永. Dòng niên đại trọn vẹn 9 chữ là Vĩnh Tộ thập niên nhị nguyệt
thập bát nhật 永祚十年二月十八日 (Ngày 18 tháng 2 năm Vĩnh Tộ thứ 10 [1628]).
Phía trên bên trái cạnh dòng niên hiệu có hình dấu 2 chữ đại tự “Lệnh
chỉ” 令旨 có kích thước lớn, cỡ và kiểu chữ dấu này giống như dấu chữ
Lệnh chỉ ở văn bản của chúa Trịnh Tùng. Điều khác biệt là dấu chữ Lệnh
chỉ này lại in ở trang có dòng ghi niên hiệu, còn dấu chữ Lệnh chỉ
trong Bình An vương lệnh chỉ lại in riêng ở trang cuối cùng (tr.4) khác
trang ghi niên hiệu (tr.3). Các bản Lệnh chỉ, Lệnh dụ mà chúng tôi sưu
tập sau này đều có dấu chữ Lệnh chỉ hoặc Lệnh dụ, vị trí in giống như
bản lệnh chỉ của Thanh Đô vương Trịnh Tráng, tức là khác bản của Bình
An vương Trịnh Tùng.
Dấu Thanh Đô vương tỷ tức là Tỷ ấn của Thanh Đô vương Trịnh Tráng, ông
là con của Trịnh Tùng và đã được chọn lập làm Thế tử, đầu năm 1623 được
tấn phong là Thái úy Thanh Quốc công. Đến tháng 11 năm 1623 lại được
sắc phong làm Nguyên súy Thống quốc chính Thanh Đô vương. Lễ tấn phong,
sách phong tước vương cho các chúa Trịnh thường ban kèm sách vàng, ấn
báu. Mặc dù chính sử nhiều khi không ghi chi tiết nhưng thực tế ở đây
cho ta thấy tháng 11 năm 1623 Trịnh Tráng đã nhận sách phong và Tỷ ấn
Thanh Đô vương tỷ: Tỷ ấn này được sử dụng từ đây đến trước tháng 10 năm
1629.
Đọc tiếp chính sử ta lại thấy Trịnh Tráng cũng như một số chúa Trịnh
sau khi lên ngôi chúa còn được tôn phong một lần nữa ở ngôi vị cao
nhất; và như vậy họ đã được nhận và sử dụng hai loại Tỷ ấn khác nhau.
Sách sử ghi: “Mùa đông tháng 10… [Vua Lê] đặc sai quan mang phù tiết,
sách vàng, ấn tước vương đến phong [Trịnh Tráng] làm Hiệp mưu công thần
Đại nguyên súy Thống quốc chính sư phụ Thanh vương…”[91]. Rõ ràng sau
Tỷ ấn Thanh Đô vương tỷ trên, khi được tấn phong là Thanh vương, Trịnh
Tráng đã được nhận ấn quý mới có khắc chữ “… Thanh vương” 清王 chứ không
dùng chữ Thanh Đô vương nữa. Tuy nhiên hiện nay chúng tôi không sưu tầm
được chứng tích của Tỷ ấn này, và việc giới thiệu dấu Tỷ ấn của Tây
vương Trịnh Tạc dưới đây sẽ lý giải cho vấn đề này (H. 46).
Sau Lệnh chỉ của Thanh Đô vương Trịnh Tráng chúng tôi còn in chụp được
một số Lệnh chỉ và Lệnh dụ của các chúa Trịnh khác. Trên những văn bản
Hán Nôm đó là những dòng niên đại khác nhau ghi chứng tích của một số
chúa Trịnh. Đặc biệt là các hình dấu Tỷ ấn in trên văn bản; có dấu còn
rõ, có dấu bị mờ nhưng nội dung chữ Triện trong dấu đã chứng minh cho
chức tước của các chúa Trịnh, đồng thời cũng nói lên được sự khác biệt
trong cách dùng Tỷ ấn của họ.
Giống như Lệnh chỉ của chúa Trịnh Tùng, những Lệnh chỉ, Lệnh dụ này
được đóng thành quyển mỏng hai hoặc ba tờ, chứ không phải là một văn
bản có kích thước lớn như sắc phong. Thực tế sưu tầm in chụp có những
Lệnh chỉ, Lệnh dụ không còn trọn vẹn mà chỉ giữ được tờ cuối có ghi
niên đại và hình dấu. Đồng thời phạm vi nghiên cứu con dấu của chúng
tôi chỉ chủ yếu tập trung vào việc phân tích trang có dòng ghi niên đại
và lưu hình dấu, bên cạnh có tham khảo thêm những văn bản và tư liệu
liên quan. Cho nên những trang mất, rách ngoài trang có hình dấu và
niên đại cũng không gây ảnh hưởng nhiều.

Nguồn gốc một số Lệnh chỉ, Lệnh dụ này còn lưu giữ ở Từ đường họ Lê
Hiểm - dòng họ khai quốc công thần thời Lê ở Thanh Hóa. Gần 30 năm
trước đây hậu duệ họ Lê này đã nhờ GS. Phan Huy Lê và GS. Phan Đại Doãn
xem xét giúp đỡ. Năm 1980 hai Giáo sư đã cho ban Hán Nôm mượn sao chụp
nguyên bản[92].
Các văn bản này hầu hết giống nhau về mặt hình thức. Giấy bản cũ, các
mép góc đã bị mòn sờn nhiều, nhất là ở phần trên, nên có văn bản chữ
đầu tiên ghi niên hiệu bị mất nửa chữ. Chữ Hán viết theo lối Khải, nét
ngang kéo dài hất ngược kiểu chữ ghi trên sắc, chỉ, dụ và một số văn
bản hành chính đầu thời Lê Trung hưng.
Bắt đầu từ Lệnh dụ của Tây vương Trịnh Tạc niên hiệu năm Vĩnh Trị thứ 5
(1680); Lệnh chỉ của An Đô vương Trịnh Cương năm Vĩnh Thịnh thứ 5
(1709); Lệnh chỉ của Uy Nam vương Trịnh Giang năm Vĩnh Khánh thứ 2
(1730); Lệnh chỉ của Minh vương Trịnh Doanh Cảnh Hưng thứ 3 (1742);
Lệnh chỉ của Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm năm Cảnh Hưng thứ 28 (1768), cuối
cùng là Lệnh chỉ của Đoan vương Trịnh Tông năm Cảnh Hưng thứ 46 (1785).
Sơ lược nội dung một số Lệnh dụ, Lệnh chỉ trên là: Thái bảo Hùng Quốc
công Lê Hiểm là khai quốc công thần đã được vua Lê phong cấp ruộng đất,
con cháu được quyền thừa tự ruộng đất ở các xứ Thanh Hóa để thờ cúng,
cộng 160 mẫu. Sau đó có người tranh chiếm. Cháu chắt Lê Hiểm thưa kiện,
các chúa Trịnh đã ban Lệnh dụ, Lệnh chỉ bắt kẻ chiếm đất phải trả lại
cho họ. Các Lệnh chỉ lặp đi lặp lại việc xác nhận quyền sở hữu 160 mẫu
ruộng ở các xứ Thanh Hóa là của con cháu công thần Lê Hiểm.
Văn bản thứ nhất là Lệnh dụ của Tây vương Trịnh Tạc. Dòng ghi niên hiệu
có 9 chữ Vĩnh Trị ngũ niên cửu nguyệt thập nhị nhật 永治五年九月十二日 (Ngày 12
tháng 9 năm Vĩnh Trị thứ 5 [1680] ). Một dấu hình vuông đóng ở dòng
niên hiệu từ chữ thứ 2 đến chữ thứ 5, một dấu hình vuông nữa ở phía
dưới bên phải chỗ giáp hai trang giấy[93]. Hai dấu này có hình thức và
nội dung số lượng Triện văn giống nhau. 12 chữ Triện trong dấu xếp theo
3 hàng, mỗi hàng 4 chữ, nét khắc xếp liền khó đọc hơn dấu Bình An vương
tỷ của Trịnh Tùng. Đó là 12 chữ Thượng sư thái phụ đức công minh thánh
tây vương chi tỷ 尚師太父德公明聖西王之璽 (Tỷ ấn của Thượng sư thái phụ đức công
minh thánh Tây vương). Phía trên bên trái cạnh dấu ở dòng niên hiệu có
một hình dấu với hai chữ “Lệnh dụ” 令諭 khá lớn giống như hai đại tự viết
liền nhau theo kiểu chữ Khải. Đây cũng chính là một hình dấu gọi là dấu
Lệnh dụ chuyên dùng đóng trên những bản Lệnh dụ của chúa để phân biệt
với những bản Lệnh chỉ và văn bản hành chính khác.
Tỷ ấn của Tây vương tức là Tỷ ấn của Tây vương Trịnh Tạc. Sách sử đã
ghi lại rõ về các lễ tấn phong, tôn phong đối với Trịnh Tạc. Năm 1652
ông được tấn phong làm Nguyên súy Chưởng quốc chính Tây Định vương. Năm
1659 ông được tôn phong làm Dực vận tán trị công thần Đại nguyên súy
Chưởng quốc chính Thượng sư Tây vương. Năm 1660 Trịnh Tạc được tôn
phong làm Đại nguyên súy Chưởng quốc chính Thượng sư thái phụ đức công
nhân uy minh thánh Tây vương.
Lễ tấn phong hoặc tôn phong đối với các chúa Trịnh khá trọng thể. Mỗi
lần có lễ này, các vua Lê đều lệnh cho đại thần cẩm phù tiết mang sách
vàng ấn vàng vinh phong cho các chúa Trịnh. Trong sách sử lễ tấn tôn
thường ghi là sách vàng ấn báu; đồng thời xem xét tất cả hình dấu của
một số chúa Trịnh, văn khắc chữ Triện đều ghi là “Tỷ” 璽 mà không ghi là
“Bảo” 寶. Do đó chúng tôi cho rằng đây là quy định phân biệt việc sử
dụng Bảo, Tỷ của vua Lê - Chúa Trịnh thời Hậu Lê. Không phải Tỷ của các
chúa Trịnh đều được làm bằng ngọc, mà chủ yếu là đúc bằng vàng rồi khắc
chữ Tỷ lên dấu, điều này giống như việc làm và sử dụng một số kim ngọc
Bảo Tỷ của các vua Nguyễn sau này. Cho nên đối với hình dấu của các
chúa Trịnh chúng tôi dùng chữ Tỷ ấn để cho phù hợp.
Việc khẳng định bản Lệnh dụ và hình dấu Tỷ ấn trên là của Tây vương
Trịnh Tạc là hoàn toàn chính xác. Đây là hình dấu có nội dung số lượng
Triện văn nhiều nhất trong những hình dấu của các chúa Trịnh, nó khác
hẳn dấu Tỷ ấn của Bình An vương Trịnh Tùng, Thanh Đô vương Trịnh Tráng
và các chúa Trịnh sau này. Nó cũng thể hiện sự khác biệt của con dấu
đóng trên Lệnh dụ khác với con dấu đóng trên Lệnh chỉ. (H. 47)
 Tiếp theo xin giới thiệu hình dấu trên Lệnh chỉ của chúa Trịnh Cương có
dòng ghi niên hiệu với 10 chữ Hán Vĩnh Thịnh ngũ niên thập nhị nguyệt
thập ngũ nhật 永盛五年十二月十五日(Ngày 15 tháng 12 năm Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709).
Chữ Vĩnh 永 bị rách phần đầu. Dấu hình vuông đóng trên chữ Thịnh ngũ
niên. Dấu có 4 chữ Triện xếp theo 2 hàng khuôn nét chữ xếp gần liền
nhau không để cách. Đó là 4 chữ An đô vương tỷ 安都王璽 (Tỷ ấn của An Đô
vương). Cạnh dòng niên đại phía bên trái có hình dấu hai chữ “Lệnh chỉ”
令旨. Hình thức và tính chất của dấu Lệnh chỉ này cũng giống như bản Lệnh
chỉ của các chúa Trịnh đã giới thiệu, riêng vị trí dấu đóng trên văn
bản thì khác vị trí đóng dấu ở bản Lệnh chỉ của Trịnh Tùng.
Dấu An Đô vương tỷ, tức là tỷ ấn của An Đô vương Trịnh Cương. Sách
ĐVSKTT cũng đã ghi thời gian mà Trịnh Cương được tấn phong làm Khâm sai
Tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh tước An Quốc công là năm Chính Hòa
thứ 24 (1703). Tháng 9 năm Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709) ông được tấn phong
làm Nguyên soái Tổng quốc chính An Đô vương[94]. Ông nhận sách vàng ấn
báu: Khoảng 3 tháng sau đó tức ngày 15 tháng 2 năm Vĩnh Thịnh thứ 5
(1709) bản Lệnh chỉ trên của Trịnh Cương được thực hiện và có đóng dấu
Tỷ ấn An Đô vương tỷ. Đối chiếu hình dấu Tỷ ấn trên văn bản Lệnh chỉ
với sự kiện sách sử ghi trên cho phép khẳng định tính xác thực của văn
bản cũng như hình dấu. (H. 48)

Sau lệnh chỉ và hình dấu của Trịnh Cương là Lệnh chỉ có dòng niên đại
ghi Vĩnh Khánh nhị niên thập nhị nguyệt sơ nhị nhật 永慶二年十二月初二日. Trên
dòng niên đại có in hình một dấu vuông có hình thức kích thước tương tự
như dấu Tỷ ấn của chúa Trịnh Cương. Nhưng chữ Triện trong dấu có tự
dạng khác; bốn chữ Triện trong dấu này là Uy Nam vương tỷ 威南王璽 (Tỷ ấn
của Uy Nam vương). Một dấu hình hai chữ Lệnh chỉ 令旨 cũng nằm ở phía bên
trái dòng ghi niên đại, nó cũng chứng minh rằng văn bản Hán Nôm này là
một bản Lệnh chỉ và đây là trang cuối của Lệnh chỉ. Dòng niên đại ghi
rõ là văn bản được làm vào ngày 2 tháng 12 năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1780).
Dấu Uy Nam vương tỷ tức là Tỷ ấn của Uy Nam vương Trịnh Giang. Năm 1727
khi còn là Thế tử Trịnh Giang đã được vua Lê phong là Khâm sai Tiết chế
các xứ thủy bộ chư doanh tước Uy Quận công kiêm nắm chính sự cơ mật.
Năm 1730 Trịnh Giang tự tấn phong làm Nguyên soái Thống quốc chính Uy
Nam vương, đồng thời cho đúc Tỷ ấn vàng. Tỷ ấn Uy Nam vương tỷ bắt đầu
được sử dụng năm 1730 và đã được dùng đóng lên bản lệnh chỉ mà chúng
tôi đã giới thiệu trên. (H. 49)
Lệnh chỉ tiếp theo cũng thuộc loại hình văn bản giống như các bản lệnh
chỉ trên về hình thức, tính chất và nội dung; riêng niên đại văn bản và
hình dấu có khác biệt. Dòng niên đại có 9 chữ Cảnh Hưng tam niên tứ
nguyệt sơ ngũ nhật 景興三年四月初五日 (Ngày 5 tháng 4 năm Cảnh Hưng thứ 3
[1742]).


Dấu hình vuông in trên dòng ghi niên hiệu có kích thước, hình thức và
số lượng chữ Triện trong dấu khác với dấu Tỷ ấn của các chúa Trịnh
khác. 6 chữ Triện trong dấu xếp theo 3 hàng, mỗi hàng 2 chữ đó là 6 chữ
Thượng sư Minh vương chi tỷ 尚師明王之璽 (Tỷ ấn của Thượng sư Minh vương).
Một dấu hình hai chữ Lệnh chỉ cạnh dòng niên đại, có hình thức tính
chất giống như dấu chữ Lệnh chỉ của các văn bản đã giới thiệu trước.
Thượng sư Minh vương tức là Trịnh Doanh, là con thứ ba của An Đô vương
Trịnh Cương. Năm 1736 khi mới 17 tuổi Trịnh Doanh được phong làm Tiết
chế các xứ thủy bộ chư doanh, Thái úy tước Ân Quốc công. Năm 1740 sau
khi tiêu diệt phe cánh Hoàng Công Phụ, Trịnh Doanh thay quyền ngôi
chúa, lên ngôi vương lấy hiệu là Minh Đô vương và tiến tôn Trịnh Giang
làm Thái thượng vương. Năm Ất Hợi (1755) vua Lê tấn tôn phong Trịnh
Doanh làm Thượng sư thượng phụ anh đoán văn trị võ công Minh vương.
Trên thực tế sau khi lên ngôi chúa với hiệu là Minh Đô vương không lâu
Trịnh Doanh đã tôn xưng là Minh vương và dùng Tỷ ấn Thượng sư minh
vương chi tỷ. Tỷ ấn này của Trịnh Doanh hơi giống với Tỷ ấn của Tây
vương Trịnh Tạc và khác với Tỷ ấn của các chúa Trịnh khác. Đồng thời
gian này Thái thượng vương Trịnh Giang vẫn còn tồn tại, xã hội không ổn
định phải chăng cũng tác động đến việc thay đổi xưng vương, dùng Tỷ ấn
của Trịnh Doanh (?) Hình dấu Tỷ ấn này đã thêm một tư liệu cho việc
nghiên cứu Tỷ ấn của các chúa Trịnh. (H. 50)
Tiếp theo xin được giới thiệu trang cuối của bản Lệnh chỉ cũng có niên
hiệu Cảnh Hưng nhưng có dấu Tỷ ấn của một vị chúa khác. Văn bản tuy đã
cũ nhưng chữ Hán và hình dấu còn rất rõ. Dòng ghi niên đại có 12 chữ là
Cảnh Hưng nhị thập bát niên thập nguyệt nhị thập nhị nhật 景興二十八年十月二十二日
(Ngày 22 tháng 10 năm Cảnh Hưng thứ 28 [1768]). Một hình dấu vuông đóng
dưới chữ “Cảnh Hưng”, dấu có hình thức kích thước, số lượng và bố cục
chữ Triện giống như hình dấu của Bình An vương Trịnh Tùng, Thanh đô
vương Trịnh Tráng, An Đô vương Trịnh Cương và Uy Nam vương Trịnh Giang.
Bốn chữ Triện trong dấu là Tĩnh đô vương tỷ 靖都王璽 (Tỷ ấn của Tĩnh Đô
vương).
Cạnh bên trái dòng niên hiệu là hình dấu hai chữ Lệnh chỉ 令旨có hình
thức, tự dạng giống như dấu chữ Lệnh chỉ của các văn bản đã nêu.
Dấu Tĩnh Đô vương tỷ là Tỷ ấn của Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm. Trịnh Sâm là
con trưởng của Trịnh Doanh, năm 1745 được lập làm Thế tử. Năm 1758 được
phong làm Tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh Thái úy, Tĩnh Quốc công.
Năm Đinh Hợi (1767) Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm lên ngôi chúa, được tấn
phong là Nguyên soái Tổng quốc chính Tĩnh Đô vương, được nhận ấn vàng.
Một năm sau, năm 1768 bản Lệnh chỉ trên ra đời có lưu hình dấu Tỷ ấn
này và chúng ta mới biết được tên của Tỷ ấn là Tĩnh Đô vương tỷ. (H. 51)

Hình dấu cuối cùng in trên Lệnh chỉ được giới thiệu dưới đây được in
trên dòng ghi niên hiệu chữ Hán có 12 chữ: Cảnh Hưng tứ thập lục niên
bát nguyệt sơ tứ nhật 景興四十六年八月初四日 (Ngày 4 tháng 2 năm Cảnh Hưng thứ 46
[1785]).
Dấu hình vuông có hình thức, kích thước, số lượng và bố cục chữ Triện
khác Tỷ ấn của các chúa Trịnh khác. 6 chữ Triện trong dấu được chia làm
3 hàng mỗi hàng 2 chữ. Là 6 chữ Sư thượng đoan vương chi tỷ 師上端王之璽 (Tỷ
ấn của Sư thượng Đoan vương).
Dấu hai chữ Lệnh chỉ bên cạnh dấu Tỷ ấn cũng có hình thức kích thước
giống như dấu chữ Lệnh chỉ ở các văn bản mà chúng tôi đã trình bày.
Sư thượng Đoan vương ở đây tức chúa Trịnh Tông. Trịnh Tông còn có tên
là Trịnh Khải, là con của Trịnh Sâm. Năm Tân Sửu (1781) kiêu binh Tam
phủ nổi loạn phế Trịnh Cán rước Trịnh Tông lên ngôi vương làm Nguyên
soái Tổng quốc chính Đoan Nam vương. Đây là thời kỳ kinh thành Thăng
Long rối loạn, nhưng công tác hành chính vẫn được duy trì, một số văn
bản vẫn được thảo và sử dụng Tỷ ấn của chúa. Bản Lệnh chỉ có dấu Tỷ ấn
trên là ví dụ minh chứng. Trịnh Tông và những người phò giúp cũng mô
phỏng theo cách dùng Tỷ ấn của cha ông để làm Tỷ ấn này. Nhưng việc
dùng chữ “Sư thượng” 師上 trong dấu cũng có sự khác biệt. Tỷ ấn của Tây
vương Trịnh Tạc và Minh vương Trịnh Doanh dùng hai chữ đầu là “Thượng
sư” 尚師, còn dấu Tỷ ấn trên có hai chữ đầu là “Sư thượng” 師上. Cách dùng
chữ khác trên Tỷ ấn của Trịnh Tông đã chứng minh cho việc Trịnh Tông tự
tấn phong mình làm Thượng sư thượng phụ Đoan vương 尚師上父端王 rồi làm Tỷ ấn
khắc 6 chữ Sư thượng đoan vương chi tỷ để dùng. Hình dấu Tỷ ấn này đã
làm phong phú thêm cho số lượng Tỷ ấn của các chúa Trịnh nói riêng và
ấn chương thời Lê Trung hưng nói chung (H. 52).
 Dấu tích của chúa Trịnh Sâm còn khắc in trên ma nhai ở động Tuyết Sơn,
chùa Hương, Hà Tây. Cuối bài thơ Đăng Tuyết sơn hữu hứng Trịnh Sâm cho
khắc hai hình dấu xếp theo chiều dọc. Dấu hình vuông không khắc họa
tiết. Dấu ở trên lớn hơn một chút khắc 2 chữ Ngự bút 御筆, dấu ở dưới nhỏ
hơn khắc chữ Vạn cơ thanh hạ 萬幾清暇. Bài thơ này đã được nhiều nhà nghiên
cứu công bố và khẳng định đây là bút tích của chúa Trịnh Sâm. Ông là vị
chúa hay chữ thường du ngoạn ở các danh thắng của đất nước và lưu lại
bút tích. Hai hình dấu trên càng khẳng định rõ thêm bài thơ được khắc ở
động Tuyết Sơn này là của Trịnh Sâm. (H. 53 a, b).
Sắc phong là loại hình văn bản được nhân dân địa phương giữ gìn cẩn
trọng nhất. Sắc phong thời Lê Trung hưng hiện nay còn bảo lưu ở rất
nhiều điểm di tích từ Trung Bộ trở ra Bắc. Tính riêng một ngôi đền
Quang Lãng xã Thụy Khải, Kiến Thụy, Thái Bình, trong số 32 sắc phong
thần thì có hàng chục sắc phong thời Lê Trung hưng. Gồm có các niên
hiệu sau: Vĩnh Tộ thứ 8 (1626) và Dương Hòa thứ 8 (1642) ở đời Lê Thần
Tông, Phúc Thái thứ 3 (1645) đời Lê Chân Tông, Thịnh Đức thứ 4 (1656)
đời Lê Thần Tông, Cảnh Trị thứ 8 (1670) và Dương Đức thứ 3 (1674) đời
Lê Gia Tông, Chính Hòa thứ 4 (1683) đời Lê Hy Tông, Vĩnh Khánh thứ 2
(1730) đời Lê Duy Phường, Cảnh Hưng nguyên niên (1741) đời Lê Hiến
Tông. (H. 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63).











Trên sắc phong thời Lê Trung hưng chỉ duy nhất có một loại dấu, đó là
dấu Kim Bảo Sắc mệnh chi bảo được làm từ thời Lê sơ, mà các vua thời Lê
Trung hưng sau này vẫn sử dụng đóng trên sắc phong theo quy định của
các bậc tiên đế. Dấu hình vuông kích thước 11x11cm, 4 chữ Triện trong
dấu là Sắc mệnh chi bảo 敕命之寶, dấu đóng trên chữ thứ hai dòng ghi niên
đại.
Ấn chương không chỉ in hình trên tư liệu giấy, lụa mà còn lưu tích trên
các tư liệu hiện vật như bia đá, ma nhai. Ngoài hình dấu của Trịnh Sâm
ở động Tuyết Sơn, trên hình tấm bia “Thư bút ngự tứ” hiện còn nằm ở xã
Phương Triện huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh nổi bật một hình dấu vuông
với bốn chữ Triện Ngự tiền chi bảo 御前之寶 khắc dưới dòng chính văn có
niên đại thời Cảnh Hưng (không ghi rõ năm nào). Đây là một trong 6 bảo
ấn được làm ra từ thời Lê Thái Tông năm Thiệu Bình thứ 2 (1435), mà mãi
sau này đến đời Lê Cảnh Hưng vẫn được dùng làm biểu tượng khắc trên tấm
bia này. (H. 64)

Trên tấm bia đá lớn “Sắc kiến Ninh Phúc thiền tự bi ký” hiện còn giữ
được ở xã Phù Chẩn, Từ Sơn, Bắc Ninh còn lưu tích 3 hình dấu[95]. Dấu
được khắc lối chữ Triện ở góc bên phải bia cạnh dưới dòng ghi niên đại
năm Phúc Thái thứ 5 (1647) đời Lê Chân Tông.
Cả 3 dấu đều hình vuông, xếp theo chiều dọc từ nhỏ đến lớn. Dấu nhỏ
trên cùng khắc hai chữ Minh hạnh 明行 là tên pháp hiệu của hòa thượng
Thích Minh Hạnh người soạn văn bia ở ngôi chùa này. Dấu tiếp theo được
khắc 4 chữ Ninh phúc chủ nhân 寧福主人 chỉ chủ nhân chùa Ninh Phúc. Dấu
cuối khắc 4 chữ Thiên chủ thánh cổ 天主聖古, chữ thứ 3 chứng tôi tạm đọc là
chữ Thánh (?) (H. 65).
Ấn dấu quan lại ở cơ quan trung ương thời Lê Trung hưng cũng được tìm
thấy trong một bản sắc chỉ của bộ Lại gửi cho quan viên cấp dưới. Trên
dòng niên hiệu ghi năm Cảnh Hưng thứ 4 (1785) có in hình dấu vuông,
kích thước 9x9cm, bên trong là 4 chữ Triện Lại bộ chi ấn 吏部之印, dấu đóng
trên dòng ghi niên hiệu ngày tháng. Đây là dấu của Thượng thư bộ Lại ở
cuối đời Lê Cảnh Hưng.
Hình dấu còn lưu lại trên văn bản ghi về cấp chính quyền địa phương
thời Lê Trung hưng là một dấu cấp huyện trên văn bản gửi lên cấp trên
của huyện Thanh Chương, trấn Nghệ An. Ở dòng niên đại ghi năm Chính Hòa
thứ 11 (1690) có in hình dấu vuông, 4 chữ Triện trong dấu là Thanh
Chương huyện ấn 清章縣印. Đây là dấu của viên Tri huyện huyện Thanh Chương
thuộc trấn Nghệ An. (H. 66)


Văn bản cuối cùng được giới thiệu trong chương này có niên đại cuối đời
Lê Cảnh Hưng. Đây là một văn bản gốc có dấu son đỏ mà chúng tôi đã chụp
từ nguyên bản. Văn bản này còn khá nguyên vẹn, chữ Hán viết Chân rất
đẹp, ngoài dòng đầu, phần chính văn có 3 dòng. Dòng niên đại có 11 chữ
là Cảnh Hưng tứ thập nhất niên tam nguyệt thập cửu nhật 景興四十一年三月十九日.
Khẳng định văn bản đã được viết ngày 19 tháng 3 năm Cảnh Hưng thứ 11
(1780).

Xuất xứ văn bản có liên quan đến La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, nguyên là
Tri huyện huyện Thanh Chương, Nghệ An, lúc này cụ đã cáo quan về ở ẩn,
nhưng tiếng tăm vẫn được nhà chúa biết đến. Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm
truyền cho Trấn thủ Nghệ An Vũ Tá Côn đưa cụ vào kinh, Vũ Tá Côn mới
viết một bức thư mời Nguyễn Thiếp. Văn bản này chính là bức thư của Côn
Lĩnh hầu Vũ Tá Côn viết năm 1780. Nội dung tóm lược là Côn Lĩnh hầu tạm
quyền Trấn thủ Nghệ An xứ vâng lời sai (của chúa) mời cựu Tri huyện
Thanh Chương lên kinh, khi đi qua đồn Sa Nam để cùng bàn và cấp phát
kinh phí rồi để cho trấn binh đi hộ vệ.
Điều quan trọng ở đây là dấu son đỏ in trên dòng ghi niên hiệu. Dấu
hình vuông kích thước 8x8cm. Tám chữ Triện trong dấu xếp theo 2 hàng là
8 chữ Trấn thủ Nghệ An địa phương chi ấn 鎭守乂安地方之印. Ấn của chức Trấn thủ
địa phương Nghệ An.
Ở nhiều con dấu cấp chính quyền địa phương mà chúng tôi sưu tầm được
không thấy có chữ địa phương đứng đằng sau địa danh, và tên chức vụ
không đứng trước tên địa danh. Thường là Địa danh + Chức vụ + 2 chữ chi
ấn (hoặc chương). Hoặc Địa danh + tên cấp chính quyển + 2 chữ chi ấn
(hoặc chương). Đây là trường hợp đặc biệt của ấn chương cuối thời Lê
Trung hưng và cũng không có trong ấn chương các thời kỳ khác. (H. 67).
CHƯƠNG III
ẤN CHƯƠNG VIỆT NAM THỜI TÂY SƠN (1788 - 1802)
I. Đặc điểm lịch sử của ấn chương Việt Nam thời Tây Sơn
1. Đặc điểm lịch sử
Vào đầu thập niên thứ 7 của thế kỷ XVIII, xã hội Đàng Trong của chúa
Nguyễn Phúc cực kỳ rối ren, quyền thần Trương Phúc Loan nắm quyền vô
đạo, kinh tế suy sụp và lòng dân ly tán. Năm Quý Tỵ (1773) ba anh em
Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ[96] cùng với Nguyễn Thung và Huyền
Khê[97] từ ấp Tây Sơn dấy quân chiếm cứ hai huyện Phù Ly và Bồng
Sơn[98], kí một giao ước với nữ chúa Chiêm Thành[99] chống lại chính
quyền Đàng Trong mở đầu cho một giai đoạn lịch sử mới - giai đoạn Tây
Sơn.
Tuy ngắn ngủi nhưng giai đoạn Tây Sơn đã để lại nhiều sự kiện lịch sử
trọng đại mà những hiện vật ấn chương và hình dấu ấn trên văn bản Hán
Nôm còn lưu lại đến ngày nay là những minh chứng rõ nét và sống động.
Ngay từ thời kỳ đầu khởi nghĩa những người lãnh đạo Tây Sơn đã nêu cao
khẩu hiệu “Phụng thiên phạt bạo Nguyễn Phúc” quyết tâm lật đổ chính
quyền chúa Nguyễn Phúc Thuần. Để thể hiện rõ tinh thần của khẩu hiệu
trên, họ đã cho làm một quả ấn gỗ khắc 7 chữ Hán Phụng thiên phạt bạo
nguyễn phúc 奉天伐暴阮福 dùng đóng trên các bản hiệu triệu, cáo thư, từ gửi
đi và đóng trên các tờ quân lệnh. Con dấu này đã được dùng khá lâu, cả
trong thời gian quân Tây Sơn đánh miền Bắc tiêu diệt quân Trịnh, Nguyễn
Huệ đã dùng đóng trên các bản công văn quân lệnh. Tư liệu này đã được
Bùi Dương Lịch ghi lại trong Nghệ An ký: “… Duy quân lệnh của Tây Sơn
thì dùng riêng dấu Phụng thiên phạt bạo Nguyễn Phúc…”[100]. Đây được
coi là ấn dấu đầu tiên thời Tây Sơn và là minh chứng khá rõ về mục đích
ý nghĩa của phong trào Tây Sơn. Đáng tiếc vì chiến tranh binh hỏa,
thiên tai đã chôn vùi tất cả ấn dấu thời Tây Sơn, trong đó có ấn dấu
này.
Mùa xuân năm Bính Thân 1776 Nguyễn Nhạc chuyển quân đóng bản doanh ở
chùa Thập Tháp phía Bắc thành Đồ Bàn[101] rồi cho đắp lại thành này và
xưng là Thiên vương, phong Nguyễn Lữ làm Thiếu phó và Nguyễn Huệ làm
phụ chính. Tại đây Nguyễn Nhạc đã cho đúc ấn vàng lớn, nhưng cứ đúc là
bị sứt, phải ba lần mới hoàn thành[102].
Cũng như các vua chúa phong kiến Việt Nam trước Tây Sơn, khi lên ngôi,
đặt hoặc đổi niên hiệu, họ thường cho đúc những quả ấn lớn bằng vàng sử
dụng với ý nghĩa quốc gia trọng đại, dùng đóng trên các bản chiếu, chỉ,
dụ, chế cáo, sắc phong. Ở đây Nguyễn Nhạc cũng làm như vậy. Nghiên cứu
ấn chương thời Tây Sơn với những quả ấn lớn còn chứng tích tới ngày nay
như ấn Quảng vận chi bảo dùng đóng trên các đạo chiếu đồ… Sắc mệnh chi
bảo và Tiên nhu chi bảo dùng đóng trên các đạo sắc phong và Triều đường
chi ấn đóng trên tờ truyền. Chúng tôi thấy các ấn dấu Sắc mệnh chi bảo,
Tiên nhu chi bảo và Triều đường chi ấn đều có niên đại sau thời Thái
Đức. Vả lại khá nhiều văn bản chữ Hán ghi rõ Nguyễn Huệ khi còn là
Chính Bình vương dùng niên hiệu Thái Đức đều được đóng dấu Quảng vận
chi bảo… Do đó việc khẳng định ấn dấu Quảng vận chi bảo được làm ra từ
năm 1776 là có cơ sở. Quả ấn này buổi đầu làm ra khi vương triều tây
Sơn còn quá non trẻ và quá ít ấn dấu, nên với tác dụng đa năng Quảng
vận chi bảo còn được đóng trên nhiều loại hình văn bản khác nhau như
những bức thư quan trọng sẽ được trình bày dưới đây.
Sử cũ ghi: “Năm 1778 Nguyễn Nhạc tự lập làm Minh Đức Hoàng đế, đặt ngụy
hiệu là Thái Đức nguyên niên, cho đổi thành Đồ Bàn làm thành Hoàng đế,
lấy Lữ làm Tiết chế và Huệ làm Long Nhương tướng quân lại sai bọn Tổng
đốc Chu, Tư khấu Uy, Hộ giá Phạm Ngạn đem thuỷ quân lấn cướp vùng ven
biển Trấn biên…”[103]. Chính thức từ đây lịch sử phong kiến Việt Nam
thêm một vương triều mới, Nguyễn Nhạc xưng đế, đặt niên hiệu, phong
chức cho các quan tướng… Tương tự như các triều đại mới thành lập, song
song với việc đặt quan phong tướng là việc làm và ban cấp ấn tín. Triều
đại Tây Sơn chắc chắn cũng thực hiện như vậy, thực trạng ấn chương giai
đoạn này còn lại rất ít, nên chúng tôi chỉ có thể giới thiệu một cách
khái quát sơ bộ và đôi khi chỉ là những tư liệu dẫn.
Năm 1786 được Nguyễn Hữu Chỉnh hiến kế, Nguyễn Nhạc phong Nguyễn Huệ
làm Tiết chế các quân thủy bộ, Nguyễn Hữu Chỉnh[104] làm Hữu quân Đô
đốc, Vũ Văn Nhậm[105] làm Tả quân Đô đốc tiến đánh Phú Xuân. Dùng kế ly
gián Nguyễn Huệ mật sai Hữu Chỉnh đem bức thư bọc sáp, tức là dùng sáp
đốt cháy niêm phong bức thư, khi sáp còn nóng thì đóng dấu niêm đè lên
trên. Nội dung thư hẹn Trần Đình Thể làm nội ứng, nhưng Nguyễn Hữu
Chỉnh lại cố ý đưa nhầm cho Phạm Ngộ Cầu[106]. Ngộ Cầu xem thư thấy có
dấu niêm phong nghiêm chỉnh, tin bức thư là thực, mang lòng nghi Trần
Đình Thể. Kết cục kế ly gián thành công, Nguyễn Huệ chiếm được Phú Xuân
còn Ngộ Cầu và Đình Thể đều bị giết. Như chúng tôi đã trình bày ở khái
luận về ấn chương thì một trong chức năng của con dấu là khẳng định
tính chân thực (Authentifie). Ở trường hợp này Nguyễn Huệ và Nguyễn Hữu
Chỉnh đã lợi dụng khai thác chức năng tín thực của con dấu trong công
tác tình báo phản gián quân sự, lấy cái thực (con dấu thực) để làm việc
giả (thư giả) đánh lừa được tướng địch để giành được thắng lợi. Bức thư
có đóng dấu niêm phong trên sáp ngày nay chắc chắn không còn, nhưng sự
việc này là chi tiết khá lý thú về ấn chương ở giai đoạn đầu thời Tây
Sơn cũng đã được Đại Nam chính biên liệt truyện ghi lại[107].
Sau chiến thắng Phú Xuân, Nguyễn Huệ thừa thắng tiến đánh Bắc Hà, chiếm
thành Thăng Long. Nguyễn Nhạc ra Bắc phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình
vương trấn giữ từ Phú Xuân (Huế) trở ra Bắc và phong cho Nguyễn Lữ làm
Đông Định vương trấn giữ đất Gia Định. Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung
ương Hoàng đế cai quản từ Đà Nẵng đến giáp Gia Định.
Bắc Hà một miền đất đai rộng lớn, dân cư đông đúc và nhân tâm chưa
phục, Nguyễn Huệ thực hiện một loạt chính sách biện pháp nhằm ổn định
tình hình và tăng cường củng cố lực lượng. Bắt đầu bằng việc mời các
nhân tài Bắc Hà ra làm việc. Nguyễn Huệ lúc đầu (1786) xưng là An Nam
Đại Nguyên súy, năm 1787 xưng là Đại Nguyên súy Tổng quốc Chính Bình
vương và bắt đầu đặt các chức quan Đại Tư mã cho Ngô Văn Sở, quan Nội
hầu cho Nguyễn Văn Lân. Đồng thời viết thư mời La Sơn phu tử Nguyễn
Thiếp ra hợp tác, đến ba lần mới thành. Cho đến mùa thu năm 1788 Nguyễn
Huệ đã thu phục được nhiều văn quan và sĩ phu Bắc Hà và phong chức cho
họ như Ngô Thì Nhậm giữ chức Tả Thị lang bộ Lại. Phan Huy ích và Nguyễn
Gia Phan làm Thị trung Ngự sử, Ngô Vi Quý và Đoàn Nguyễn Tuấn sung Hàn
lâm viện. Những sự kiện này đã được sách sử ghi lại[108] và điều may
mắn chúng tôi đã có trong tay ảnh chụp những bức thư Nguyễn Huệ gửi La
Sơn phu tử Nguyễn Thiếp. Đó là những văn bản chữ Hán mà dòng niên hiệu
Thái Đức có đóng dấu son đỏ Quảng vận chi bảo cùng nhiều kiểu dấu khác,
sẽ được trình bày kỹ dưới đây.
Cuối năm 1788 Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu Quang Trung
và cất đại quân đánh giặc Thanh, chỉ một trận tiêu diệt 20 vạn quân
Thanh. Quân lệnh nghiêm minh đã giúp cho chiến dịch thành công, phải
chăng có sự đóng góp của các phù tiết, hổ phù và ấn tín tướng lĩnh -
những biểu tượng của pháp quyền quân lệnh Tây Sơn lúc đó.
Sau chiến thắng, Nguyễn Huệ cấp tốc xây dựng và củng cố chính quyền từ
trung ương xuống địa phương. Tham bác cơ cấu tổ chức chính quyền nhà
Hậu Lê, Nguyễn Huệ đặt Trung thư phủ phong Trần Văn Kỷ[109] chức Trung
thư lệnh là mô phỏng theo chế độ tam Sảnh cũ đặc biệt là Trung thư
sảnh. Trung thư lệnh với chức năng Bí thư của Hoàng đế là người thân
tín phụ tá đắc lực của Nguyễn Huệ trong việc tư vấn đường lối chiến
lược. Với văn tài thao lược Bí thư Trần Văn Kỷ đã giúp Quang Trung được
rất nhiều trong việc hoạch định kế sách, thu phục nhân tài như Nguyễn
Thiếp, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích. Bút tích và hình dấu Trung thư lệnh
chi chương của Trần Văn Kỷ đã chứng minh rõ sự kiện này và còn khẳng
định thêm tước vị Kỷ Thiện hầu của Trần Văn Kỷ.
Năm 1789 Ngô Thì Nhậm được giao thêm chức Từ lệnh. Ông cùng Phan Huy
Ích soạn thảo công văn thư từ giao thiệp với nhà Thanh, năm 1790 ông
được thăng Binh bộ Thượng thư, và năm 1791 thăng Thị lang Đại học sĩ.
Năm Quang Trung thứ 3 (1790), Nguyễn Huệ củng cố hệ thống lục Bộ và
phong chức tước cho những người có tài năng như Ngô Thì Nhậm làm Binh
bộ Thượng thư tước Tình Phái hầu, Vũ Duy Tấn giữ chức Công bộ Đãi chiếu
Thượng thư… Việc lập Sùng Chính viện và phong La Sơn phu tử Nguyễn
Thiếp chức Viện trưởng cũng như việc nhắc nhở công việc về văn hóa,
giáo dục nói lên được nhãn quan chính trị đúng đắn trọng đạo học và trí
thức của Nguyễn Huệ.
Việc phong chức Đại Tư mã cho Ngô Văn Sở, quan Nội hầu cho Nguyễn Văn
Lân và các tướng lĩnh khác là sự chuẩn bị cho việc xây dựng một chính
quyền trung ương riêng biệt của Nguyễn Huệ. Đồng thời là việc xây dựng
và củng cố chính quyền địa phương, ở miền Bắc Nguyễn Huệ đổi thành
Thăng Long làm Bắc thành và quản lý theo chế độ quân quản. Các trấn vẫn
duy trì như cũ, riêng trấn Sơn Nam được đưa ra làm Sơn Nam thượng và
Sơn Nam hạ, mỗi trấn đặt chức Trấn thủ đứng đầu và Hiệp trấn phụ tá.
Những trấn quan trọng như Nghệ An, Thanh Hóa anh em Nguyễn Nhạc đều để
tướng tài tâm phúc trấn giữ. Trấn Nghệ An được giao cho Nguyễn Văn
Thận, để thực hiện nhiệm vụ quan trọng là việc chuẩn bị cho công tác
xây dựng kinh đô ở Vĩnh (tức Vinh) thuộc Nghệ An. Sự kiện này có liên
quan đến việc Nguyễn Thận giao thiệp với La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp -
theo lệnh của Nguyễn Huệ nhờ xem đất xây dựng hành cung của kinh đô
mới. Bức thư này chúng tôi có được từ bộ sưu tầm của cố Giáo sư Hoàng
Xuân Hãn. Văn bản chữ Hán này còn lưu hình dấu son Nghệ An trấn phủ
chương in trên dòng niên hiệu ghi Thái Đức năm thứ 11, sẽ trình bày
dưới đây là cứ liệu minh chứng cho việc nhà Tây Sơn ban cấp ấn tín song
song với việc bổ nhiệm chức quan ở cấp chính quyền địa phương giai đoạn
đầu. Xây dựng và củng cố chính quyền địa phương cấp phủ, huyện, năm
1788 Nguyễn Huệ mới đặt chức quan ở cấp huyện với hai chức vụ là Tả
quản lý và Hữu quản lý. Chúng tôi đã tìm được một quả ấn đồng cấp huyện
triều Quang Trung ở huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc. Ngoài giá trị là hiện vật
ấn chương nó còn chứng minh thêm cho việc kỵ húy chữ “Bình” thời Tây
Sơn.
Cấp cơ sở thấp nhất của chính quyền địa phương là tổng, xã vẫn được nhà
Tây Sơn duy trì theo nhà Hậu Lê ở Đàng ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng
Trong. Tổng có Cai tổng và Phó tổng đứng đầu, xã có Xã trưởng hay Lý
trưởng quản lý. Từ cấp cơ sở thấp nhất này trở lên đến các quan lại
chính quyền cấp trấn, doanh, đạo đều được nhà Tây Sơn ban cấp ấn tín
dùng trong việc công với nhiều chức vụ, cấp bậc khác nhau. Mỗi một loại
hình ấn đều có những quy định rõ ràng về kích cỡ, chất liệu, văn khắc
trên ấn và mầu mực sử dụng. Hiện vật ấn chương và những hình dấu in
trên văn bản Hán Nôm giai đoạn này sẽ được trình bày chi tiết trong
chuyên mục sau.
Ngay từ năm 1773 khi cờ hiệu Tây Sơn mới dựng, đội quân Tây Sơn đã được
tổ chức nghiêm chỉnh với 5 Quân: Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu. Ngày một
lớn mạnh, từ một đội quân đã trở thành một lực lượng quân đội có quy mô
và tổ chức cao, về cơ bản vẫn theo nguyên tắc ngũ chế, là năm quân
Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu cùng với Tả Bật, Hữu Bật v.v… chia các đạo
Càn Thanh, Thiên Can, Thiên Trường, Thiên Sách, Hổ Bí, Hổ Hầu, Thị
Thân, Thị Loan v.v…[110] hoặc “quân sự thì Đạo thống lĩnh Cơ, Cơ thống
lĩnh đội…”[111]. Nói chung một số sách sử chỉ ghi về tổ chức quân đội
Tây Sơn với nét khái quát như vậy. Ba quả ấn tướng lĩnh còn giữ được
đến ngày nay đã bổ sung thêm cho việc nghiên cứu quân đội Tây Sơn với
các đơn vị cấp Vệ, Hiệu và chức Suất ở mỗi một cấp khác nhau.
Quan chế thời Tây Sơn, cả văn quan và võ quan không có bộ chính sử nào
ghi trọn vẹn, chỉ thấy rải rác trong các sách dã sử, tạp ký như: “Tam
công, Tam thiếu, Đại Trung tể, Đại Tư mã, Đại Tư không, Đại Tư hội, Đại
Tư lệ, Thái úy, Ngự úy, Đại Tổng quản, Đại Tổng lý, Đại Đô hộ, Đại Đô
đốc, Đô đốc, Nội hầu, Hộ giá, Kiểm điểm, Chỉ huy sứ, Đô ty, Đô úy,
Trung úy, Vệ úy, Quản quân, Tham đốc, Tham lĩnh, Trung thư sảnh, Trung
thư lệnh, Phụng chính, Thị trung Đại học sĩ, Hiệp biện Đại học sĩ, Thị
trung Ngự sử, lục Bộ Thượng thư, Tả Hữu Đồng nghị, Tả Hữu Phụng nghị,
Thị lang, Tư vụ, Hàn lâm…, các chức danh khác còn nhiều, không thể kể
hết ra được”[112]. Ghi chép về quy chế thời Tây Sơn tuy tản mạn, nhưng
cũng cho ta thấy được tổ chức chính quyền và quân đội giai đoạn này khá
hoàn chỉnh.
Tổ chức chính quyền và quân đội thời Tây Sơn song song với việc phong
chức, cấp là việc ban cấp ấn tín cho quan lại và tương lĩnh, có bao
nhiêu chức vụ thì có bấy nhiêu ấn tín, thậm chí số ấn tín còn nhiều hơn
vì có nhiều chức vụ còn phải thêm kiềm ấn nhỏ đi kèm với ấn lớn. Lý
thuyết là như vậy, nhưng thực trạng ấn dấu thời Tây Sơn còn lại cho đến
ngày nay thì quá ít ỏi, quá khó khăn cho việc dựng lại cả một hệ thống
ấn chương thời đó. Tuy nhiên những quả ấn và hình dấu trên văn bản Hán
Nôm, trên văn khắc Hán Nôm mà chúng tôi sẽ trình bày ít nhiều cũng khắc
họa lại không chỉ ấn chương thời Tây Sơn mà gần như một phần bức tranh
lịch sử, xã hội giai đoạn này.
Về mặt kinh tế, ngay từ khi thu phục được Bắc Hà, Quang Trung Nguyễn
Huệ đã có ý tưởng xây dựng nền kinh tế độc lập. Chiếu khuyến nông năm
1789 chứng tỏ Quang Trung thấy được vai trò quan trọng của nền kinh tế
nông nghiệp. Việc lập sổ đinh, sổ điền chia ra các hạng, đẳng, ngạch để
cân đối với việc thu tô thuế thời Quang Trung là tương đối mạch
lạc[113]. Tham khảo luật kinh tế nhà Hậu Lê và các chúa Nguyễn, nhà Tây
Sơn còn thiết lập mô hình Bản đường quan với chức năng thu tô thuế, dân
đinh, kiểm tra mọi lĩnh vực ở mỗi địa phương. Chức danh của các quan
lại lớn nhỏ ở lĩnh vực này đã được thể hiện trong dấu ấn. Những hình
dấu như Ký phủ 記府 in trên văn bản Hán Nôm có niên hiệu Quang Trung thứ
5 (1792) đã minh chứng cho chức danh Ký phủ, Ký lục, trong hệ thống Bản
đường quan của nhà Tây Sơn.
Năm 1792, từ sông Gianh trở ra Bắc, nhà Tây Sơn còn lập sổ Dân bạ, mỗi
người dân đều được cấp một chiếc thẻ gọi là “Tín bài” (Thẻ làm tin).
Tín bài này làm bằng gỗ ngoài viền bông hoa. Trên thẻ ghi tên họ, quán
chỉ, dấu điểm chỉ ở ngón tay trỏ, giữa thẻ in 4 chữ Triện lớn Thiên hạ
đại tín 天下大信 có ký tên và đóng dấu. Những kẻ buôn bán phải đeo thẻ này
dưới cổ làm tin[114]. Đáng tiếc rằng hiện nay chúng tôi không tìm được
một thẻ Tín bài nào thời Tây Sơn để minh chứng cho vai trò của hình dấu
làm tin trong thẻ tín bài này.
Năm Canh Tuất 1790 - niên hiệu Quang Trung thứ 3, Quang Trung lệnh cho
Thái tử Nguyễn Quang Toản tuần tra Bắc Thành kiểm tra sổ sách và dân
tình[115]. Một bản lệnh chỉ gửi cho các xã ở huyện Thanh Trì phủ Thường
Tín xứ Sơn Nam thượng có đóng dấu lớn Hoàng thái tử chi bảo trên dòng
niên hiệu Quang Trung thứ 3 được trình bày trong mục II là cứ liệu quan
trọng giúp cho việc nghiên cứu tình hình kinh tế nông nghiệp thời Quang
Trung2. Giới thiệu ấn dấu trên văn bản Hán Nôm thời Tây Sơn - Giai đoạn trước triều đại Quang Trung
Giai đoạn trước triều Quang Trung là triều Thái Đức mà Nguyễn Nhạc là
Hoàng đế tính từ 1778 và trước đó khi Nguyễn Nhạc mới xưng là Thiên
vương (1776). Xếp niên biểu lịch sử thời Tây Sơn ta sẽ thấy triều Thái
Đức tồn tại song song với triều Lê Chiêu Thống nhà Lê ở Bắc Hà. Riêng
giai đoạn nửa cuối và cuối thì tồn tại song song với triều Quang Trung
và Cảnh Thịnh.
Niên hiệu Thái Đức:
+ Từ năm 1778 đến năm 1793 tồn tại cùng niên hiệu Lê Chiêu Thống.
+ Từ năm 1788 đến năm 1792 tồn tại cùng niên hiệu Quang Trung.
+ 1793 tồn tại cùng niên hiệu Cảnh Thịnh.
Như chúng tôi đã trình bày ấn vàng Quảng vận chi bảo được đúc ra từ năm
1776, dùng đóng trên các văn bản quan trọng. Điều may mắn là ngày nay
chúng tôi có một số ảnh chụp từ văn bản chữ Hán gốc thời Thái Đức,
những văn bản này còn in rõ hình dấu Quảng vận chi bảo trên dòng niên
hiệu và những dấu kiềm nhỏ ở phần chính văn: Có 3 văn bản có cùng niên
hiệu Thái Đức thứ 11 (1788) và 1 văn bản niên hiệu Thái Đức thứ 12
(1789). Đây là những văn bản mà nội dung có liên quan đến việc giao
thiệp giữa nhà Tây Sơn mà chủ yếu là Nguyễn Huệ cùng những người tâm
phúc với La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp[116].
Về xuất xứ một số văn bản chữ Hán thời Tây Sơn điều đầu tiên phải kể
đến công lao của cố GS. Hoàng Xuân Hãn. Năm 1939, Giáo sư từ Paris về
Việt Nam trở lại thăm quê Nghệ An tới nhà thờ họ La Sơn phu tử, được
cháu chắt của Nguyễn Thiếp tặng cho Giáo sư một số văn bản chữ Hán gồm
các loại chiếu, chỉ, thư, truyền, sắc phong thời Tây Sơn. Trên cơ sở
đó, năm 1952 GS. Hoàng đã cho ra mắt cuốn La Sơn phu tử để công bố một
số văn bản trên. Sau đó Giáo sư đã tặng lại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt
Nam tất cả những văn bản này. Cách đây gần mười năm, khi nghiên cứu ấn
chương tôi đã chụp ảnh được nguyên bản những văn bản chữ Hán trên. Đồng
thời dựa vào một số tư liệu Hán Nôm khác đã sưu tầm, bước đầu xin được
giới thiệu ấn dấu thời Tây Sơn trên văn bản Hán Nôm qua các triều đại
Thái Đức, Quang Trung, Cảnh Thịnh và Bảo Hưng.
Văn bản thứ nhất với dòng chữ Hán đầu tiên là Đại nguyên súy tổng quốc
chính bình vương 大元帥總國政平王 chính văn gồm 13 dòng khoảng gần 40 chữ. Dòng
cuối ghi niên hiệu Thái Đức thập niên cửu nguyệt thập tam nhật
泰德十年九月十三日(Ngày 13 tháng 9 năm Thái Đức thứ 10 [/787]) một dấu son lớn
hình vuông, viền ngoài không khắc họa tiết đóng ở dưới chữ “Thái Đức”.
Dấu có kích thước 11,5x11,5cm.
Ba hình dấu Kiềm nhỏ giống nhau đóng ở đầu và cuối phần chính văn và trên chữ “Nhật” ở dòng niên hiệu. (H. 68)

Đây là bức thư mà Nguyễn Huệ gửi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp có xuất xứ
nội dung như sau. Vào năm 1786 Nguyễn Huệ chiếm Thăng Long muốn thu
phục nhân tâm Bắc Hà tìm người tài phò giúp. Được Trần Văn Kỷ cố vấn
Nguyễn Huệ viết thư rồi mang lễ vật mời Nguyễn Thiếp ra hợp tác, nhưng
Nguyễn Thiếp từ chối. Đến ngày 10/8/1787 Nguyễn Huệ mời lần thứ hai
cũng không thành. Hai bức thư này chúng tôi không có. Đây là bức thư
thứ 3 được viết ngày 13/9/1787 mà Nguyễn Huệ xưng là Đại Nguyên súy
Tổng quốc Chính Bình vương, thư này Nguyễn Huệ từ Phú Xuân sai quan
Hình bộ Thượng thư Thuyên Quang hầu Hồ Công Thuyên mang tới mời Nguyễn
Thiếp ở Nghệ An.
Sơ lược nội dung bức thư Nguyễn Huệ xưng là Đại Nguyên súy Tổng quốc
Chính Bình vương kính thư tới La Sơn phu tử. Nguyễn Huệ kể ra ba lẽ mà
Nguyễn Thiếp coi đó là lý do để từ chối không ra hợp tác với Tây Sơn
rồi bày tỏ sự tình về lực lượng Tây Sơn rất cần người hiền tài như
Nguyễn Thiếp ra giúp đỡ, mong phu tử xem xét…
Bức thư này đã được cố GS. Hoàng Xuân Hãn dịch, chú giải và công bố ảnh
minh hoạ[117]. Ở đây chúng tôi không dịch, chú lại mà chỉ tóm tắt sơ
lược nội dung và hướng việc nghiên cứu trọng tâm vào các hình dấu ấn;
Việc làm này sẽ được thực hiện với tất cả những văn bản Hán Nôm có hình
dấu thời Tây Sơn đã được cố GS. Hoàng giới thiệu.
Dòng ghi niên đại của bức thư có hình dấu son lớn, hình vuông, kích
thước 11,5x11,5cm, Triện văn trong dấu gồm 4 chữ Quảng vận chi bảo
廣運之寶[118]. Trong LSPT, GS. Hoàng Xuân Hãn cũng đã khẳng định về dấu này.
Ba hình dấu Kiềm nhỏ đóng ở ba vị trí khác nhau trên văn bản thực chất
là từ một dấu Kiềm đóng ra. Dấu hình bầu dục lõm cạnh có cỡ 2,2x3,0cm,
Triện văn bên trong gồm 2 chữ với nét chữ được khắc uốn nhiều nét và
khuôn theo hình dấu nên rất khó đọc. Theo GS. Hoàng thì 2 chữ Triện
trong dấu kiềm này đọc là “Kiềm ấn” 鈐印 và khắc ngược nên dấu có hình
ngược là [119]. Xem xét kỹ hình dấu Kiềm này trên văn bản gốc và so
sánh với các con dấu tương tự in trên các văn bản gốc khác, chúng tôi
khẳng định 2 chữ Triện khắc trong dấu là 2 chữ “Tín ấn” (信印).Về ngữ
nghĩa của chữ trong dấu như vậy mới đúng và hợp lôgic. Triện văn được
khắc đúng từ trên xuống, chứ không phải khắc ngược như GS. Hoàng đã nêu.
Một văn bản Hán Nôm nữa, là một tờ chiếu gửi La Sơn phu tử nhờ xem đất
để Tây Sơn Nguyễn Huệ xây dựng Kinh đô ở Phù Thạch. Trước đây Nguyễn
Huệ đã viết thư nhờ cụ xem đất, chọn hướng ở Phù Thạch để khởi công,
nhưng Nguyễn Thiếp cứ chần chừ không làm, nên Nguyễn Huệ mới gửi tiếp
chiếu này. Tờ chiếu là 1 tờ giấy bản cũ chữ Hán viết phần lối Chân đầu
trên bị rách mủn do giấy bị cuộn lâu ngày, nhưng nội dung văn bản vẫn
còn nguyên văn. Chính văn gồm sáu dòng chữ Hán, hai chữ “Chiếu” 詔 ở đầu
và cuối viết chồi lên một chút. Dòng niên hiệu ghi Thái Đức thập nhất
niên lục nguyệt thập cửu nhật (泰德十一年六月十九日).
Một hình dấu son đỏ đóng trên dòng niên hiệu dưới chữ “Đức” 德. Dấu hình
vuông cỡ 11,5x11,5cm, Triện văn là 4 chữ Quảng vận chi bảo 廣運之寶. Hình
dấu và nét chữ Triện giống y như dấu Quảng vận chi bảo ở bức thư của
Chính Bình vương gửi La Sơn phu tử đã nêu trên. Qua dòng niên hiệu và
hình dấu Quảng vận chi bảo đã khẳng định được văn bản chữ Hán này được
làm vào ngày 19 tháng 6 năm Thái Đức thứ 11 (1788).
Dòng đầu tiên có 1 hình dấu chữ nhật dài đóng đè lên 5 chữ “Chiếu La
Sơn phu tử” (詔羅山夫子)[120]. Dấu chữ nhật đứng có 4 góc uốn, viền mép
đứng, kích thước 3,2x6,2cm hai bên viền ngoài là hình 2 con rồng nhỏ
nét mảnh. Bốn chữ Triện xếp dọc 1 dòng từ trên xuống là 4 chữ Ngự dụng
chi bảo (御用之寶) Bảo của Hoàng đế dùng.

Dưới dấu Quảng vận chi bảo in trên dòng niên hiệu là một hình dấu kiềm
nhỏ nữa đóng trên chữ “Cửu nhật” (九日) dấu kiềm này có hình bầu dục lõm
cạnh. Dấu tuy đóng bị mờ song qua ngoại hình, kích thước mực dấu và
những nét chữ còn đọc được, cùng vị trí đóng của dấu chúng tôi khẳng
định đây là dấu “Tín ấn” (信印) giống như dấu Tín ấn đã trình bày ở trên
(H. 69).
Văn bản chữ Hán thứ 3 được viết trên giấy bản cũ đã được bồi vá lại gồm
15 dòng chữ Hán, dòng giữa đã bị rách toàn bộ. Đó là một tờ chiếu của
Quang Trung gửi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, ghi niên hiệu Thái Đức thập
nhất niên cửu nguyệt sơ tam nhật (Ngày 3 tháng 9 năm Thái Đức thứ 11
[1788]). Dòng đầu trên chữ “La Sơn tiên sinh Nguyễn Thiếp”[121] có hình
dấu chữ nhật đứng, dấu Quảng vận chi bảo lớn đóng trên dòng niên hiệu.
Ba dấu Kiềm nhỏ hình bầu dục lõm cạnh in ở cuối phần chính văn và dòng
niên đại.
Tờ chiếu này GS. Hoàng Xuân Hãn đã công bố trên cuốn La Sơn phu
tử[122], ảnh minh họa (ảnh 24-C13) chỉ có phần chính văn 14 dòng chữ
Hán với 3 hình dấu Kiềm nét mờ không đọc được, và không có phần ghi
niên đại cũng như dấu lớn Quảng vận chi bảo cùng 1 dấu Kiềm nhỏ nữa.
Chúng tôi xin được giới thiệu ảnh chụp trọn vẹn tờ chiếu này để bổ sung
cho phần minh họa của GS. Hoàng. (H. 70)
Nội dung tờ chiếu là việc Quang Trung nhờ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp
xem phong thủy chọn đất để xây dựng kinh đô ở Yên Trường[123], (xin xem
chi tiết phần dịch trong LSPT[124]). Ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu qua
các hình dấu trên văn bản để củng cố thêm cho luận cứ về ấn triện giai
đoạn trước thời Quang Trung. Hình dấu lớn Quảng vận chi bảo trên dòng
niên hiệu có kích thước tự dạng giống y như 2 hình dấu chúng tôi đã
giới thiệu ở các văn bản trên. Dấu chữ nhật đứng chính là dấu Ngự dụng
chi bảo (御用之寶) cũng đã được giới thiệu ở văn bản thứ 2 trên. Còn 3 dấu
Kiềm nhỏ cũng chính là 3 dấu Kiềm “Tín ấn” (信印) đã giới thiệu ở văn bản
thứ nhất.

Ngoài những văn bản trên chúng tôi còn có văn bản Hán Nôm nữa là lá thư
của Nguyễn Huệ khi còn là Chính Bình vương mời La Sơn phu tử Nguyễn
Thiếp đến hội kiến ở Phù Thạch. Phần niên đại cũng có hình dấu Quảng
vận chi bảo và không có hình dấu kiềm (ảnh minh họa 20-C9 của GS. Hoàng
trong LSPT không có hình dấu nào[125]).

Nghệ An một trấn quan trọng được Nguyễn Huệ giao cho Nguyễn Văn Thận
trọng nhậm và trong việc giao thiệp với La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp thì
Nguyễn Văn Thận được giao nhiệm vụ trực tiếp. Xin giới thiệu 1 bức thư
của Nguyễn Văn Thận gửi Nguyễn Thiếp theo lệnh của Quang Trung có niên
đại năm Thái Đức thứ 11 (1788).
Văn bản là một bức thư (詞) còn khá nguyên vẹn, dòng đầu là 8 chữ Hán
Khâm sai trấn thủ quan thận trực hầu (欽差鎭守官慎直侯)[126]. Chính văn gồm 3
dòng, nội dung là lời thư của quan khâm sai Trấn thủ Nguyễn Văn Thận
vâng chiếu chỉ dựng kinh đô, truyền cho các huyện xã tập trung phu xây
dựng, kính mới phu tử đến xem tính đất để kịp xây dựng…
Bức thư được viết ngày 4 tháng 7 năm Thái Đức thứ 11 (1788), trên dòng
niên hiệu có in hình dấu son. Dấu hình vuông, cỡ 6,8x6,8cm. Năm chữ
Triện bên trong xếp theo vị trí chữ thứ 3 ở giữa dài gấp đôi các chữ
khác đó là 5 chữ Nghệ An trấn phủ chương 乂安鎭撫章 (Ấn chương của Trấn thủ
Nghệ An). (H.71)
Chức Trấn thủ ở mỗi trấn thời Tây Sơn đều được giao cho các đại thần có
năng lực cai quản, họ vừa là một khâm sai đại thần ở một trấn vừa là
quan đứng đầu trấn đó cũng như chức Tổng đốc thời Nguyễn sau này.
Nguyễn Văn Thận giữ chức “Trấn thủ” (鎭守) nhưng ở con dấu lại khắc ghi
là Trấn phủ (鎭撫) đây là điều đặc biệt khác với con dấu của chức Trấn
thủ (cùng quản một trấn) ở thời Hậu Lê và Nguyễn (từ Gia Long - Minh
Mệnh 13). “Chương” 章 ở đây cũng như “ấn” (印) của Tổng đốc, Tuần phủ
thời Nguyễn - là minh chứng thêm tư liệu cho việc dùng Chương 章 thời
Tây Sơn… Chúng ta sẽ gặp lại hình dấu này trong một văn bản có niên
hiệu Quang Trung thứ 2 (1789) sẽ được trình bày ở phần mục sau với
những so sánh nhất định. II. Ấn chương Việt Nam triều Quang Trung
1. Thực trạng về hiện vật ấn chương triều Quang Trung
Triều đại Quang Trung với 5 năm ngắn ngủi, nhưng thực chất nó đã hình
thành từ năm 1787 khi Nguyễn Huệ xưng là Đại Nguyên súy Tổng quốc Chính
Bình vương và tổ chức quân đội lúc này cũng được Nguyễn Huệ trực tiếp
sắp xếp bổ nhiệm. Khi lên ngôi Nguyễn Huệ ra sức xây dựng và cùng cố
lực lượng quân đội cũng như chính quyền các cấp. Song song với việc bổ
nhiệm tướng lĩnh, quan chức là việc ban cấp ấn tín cho mỗi quan tướng
để sử dụng. Rất nhiều ấn tín đã ra đời ở giai đoạn này, nhưng nạn binh
hỏa và chính sách khốc liệt của nhà Nguyễn từ triều Gia Long về việc
thu hủy ấn triện, văn bản Hán Nôm thời Tây Sơn, khiến cho việc sưu tầm
và nghiên cứu hiện vật ấn chương triều Quang Trung nói riêng và Tây Sơn
nói chung hiện nay gặp rất nhiều khó khăn. Số hiện vật ấn chương mà
chúng tôi sưu tầm được thật quá ít ỏi và không được toàn diện, nhưng
cũng phần nào nói lên được tổ chức quân đội, chức vụ tướng lĩnh và
chính quyền địa phương giai đoạn này.
Trước tiên xin được giới thiệu về hai quả ấn đồng hiện được lưu giữ tại
Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội mà năm 1987 chúng tôi đã trực
tiếp in chụp và công bố trên Tạp chí Khảo cổ học số 1 năm 1989[127].
Ấn thứ nhất ký hiệu LSb 2525 làm theo kiểu chuôi vồ, cán thấp to và
thắt đáy. Ấn có chiều cao 4,5cm, dầy 0,9cm. Khuôn ấn làm theo dạng hình
chữ nhật. Mặt trên ấn phía bên phải khắc 5 chữ Hán Tân Hợi niên đông
tạo 辛亥年冬造, phía bên phải khắc 10 chữ Hán Suất trung lương nhị vệ tam
hiệu trung lang tướng (率中良二衛三校中郎將).
Nét chữ rõ ràng dễ đọc. Dấu hình chữ nhật có kích thước 9,6x6,2cm viền
ngoài để cỡ 0,7cm. Văn khắc là 10 chữ Triện xếp theo 3 hàng, nét chữ
uốn theo hình chữ nhật đứng, 4 chữ hàng giữa và 6 chữ chia đều hai hàng
bên, chữ hai hàng bên. Mười chữ Triện trong dấu chính là 10 chữ khắc
phía trên ấn Suất trung lương nhị vệ tam hiệu trung lang tướng. Đây là
dấu của viên Trung lang tướng ở Hiệu quân thứ ba, Vệ thứ hai suất Trung
lương. (H.72 a, b, c, d)
Ấn thứ hai ký hiệu DI 63 - 79, núm chuôi vồ thấp, to, tròn và thắt phía
dưới. Ấn có chiều cao 5cm và dầy 1cm. Trên ấn phía bên phải cũng khắc 5
chữ Hán Tân Hợi niên đông tạo như ấn LSb 2525, bên trái khắc 9 chữ Hán
Suất hùng cự khai vệ ngũ hiệu đô ty (率雄拒開衛五校都司). Chữ rõ nét dễ đọc và
nét chữ rất giống quả ấn thứ nhất.

Dấu hình chữ nhật có kích thước 10x6,8cm, viền ngoài để cỡ 0,8cm. Chín
chữ Triện xếp theo hai hàng, 5 chữ hàng đầu mỏng hơn 4 chữ hàng hai;
nét chữ uốn theo hình chữ nhật nằm. 9 chữ Triện trong dấu cũng chính là
9 chữ Hán khắc phía trên ấn Suất hùng cự khai vệ ngũ hiệu đô ty. Đây là
ấn của viên tướng chức Đô ty ở Hiệu quân thứ năm, Vệ tiên phong, Suất
Hùng cự. (H.73 a, b, c, d)

Trên mặt của hai quả ấn đều không ghi niên hiệu mà chỉ ghi năm can chi
tạo ấn là năm Tân Hợi. Vậy đây là năm Tân Hợi nào (?) So sánh chữ Triện
ở hai ấn đồng này với chữ Triện trong ấn chương thời Nguyễn mà chúng
tôi đã nghiên cứu, cộng với việc xác định ngoại hình, chất liệu ấn,
chúng tôi cho rằng hai quả ấn này không phải là ấn thời Nguyễn.
Đây là hai quả ấn của chức võ tướng trong đơn vị quân đội. Xét biên chế
cấp Vệ và Hiệu, chúng ta biết rằng từ đời Lê Thánh Tông mới đặt cấp Vệ,
Sở trong quân lữ. Nếu kể từ thời Lê Thánh Tông đến trước thời Nguyễn là
Quang Trung, ta sẽ có 6 năm Tân Hợi, là năm 1491 (Hồng Đức thứ 22), năm
1551 (Thuận Bình thứ 3), năm 1611 (Hoằng Định thứ 12), năm 1671 (Cảnh
Trị thứ 9), năm 1731 (Vĩnh Khánh thứ 3) và năm 1791 (Quang Trung thứ 4).
Theo những tư liệu chúng tôi được biết thì hầu hết những ấn đồng thời
Lê sơ - Mạc và Lê Trung hưng trên ấn thường khắc bốn chữ Thượng bảo ty
tạo (尚寶司造). Ty Thượng bảo là nơi sản xuất ra những ấn đồng mà hai quả
ấn trên không thấy khắc bốn chữ này. Mặt khác, xét về biên chế quân đội
Lê, từ đời Lê Thánh Tông về sau, quân đội được biên chế theo hình thức
ngũ chế. Mỗi bậc chia làm 5: Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu. Thời đầu đặt
bậc Vệ, Sở làm cao; cấp Cơ, Đội, Thuyền, Quản quân ở dưới. Nhiều cấp
riêng biệt như Thân quân trong Nội phủ, cấp Hiệu thì có Nhưng và Kiệu
và mười Bộ là Thị bộ, Thị thủy. Quân Lê - Trịnh về sau phân theo bậc
Doanh, Đạo, Cơ, Đội, Thuyền. Ngoài ra vẫn duy trì cấp Vệ, Hiệu ở một số
đơn vị riêng biệt[128]. Nhiều sách khác cũng nói về biên chế quân đội
nhà Lê, nhưng ta không thấy đâu nhắc đến chức Suất hoặc cấp Suất.
Biên chế quân đội Nguyễn cũng theo ngũ Ngũ chế. Cấp Quân là cao nhất,
có binh chủng đặt Doanh không đặt Quân. Dưới Quân, Doanh là Vệ hoặc Cơ.
Dưới Vệ, Cơ là Đội, Thuyền. Mãi sau này đời Minh Mệnh mới nhắc đến chức
Suất đội, Suất thập ở cấp nhỏ nhất. Trước đó cũng không thấy nói đến
cấp Suất hoặc chức Suất ở hoặc trên cấp Vệ[129].
Nếu xét về tổ chức, biên chế quân đội nhà Mạc, chúng ta cũng không tìm thấy chức Suất hoặc cấp Suất[130].
Tổ chức quân đội Tây Sơn về cơ bản vẫn theo nguyên tắc ngũ Ngũ chế,
nhưng cũng có những điểm mới. Sách Lê Quý dật sử ghi lại vào tháng 12
năm Kỷ Dậu niên hiệu Quang Trung thứ 2 (1789) “Tây Sơn định lại việc
đặt quan chức, hàng quan văn có Phân tri, hàng quan võ có Phân suất…
Quân sự thì Đạo thống lĩnh Cơ, Cơ thống lĩnh Đội, đều có viên Phân suất
cai quản huấn luyện”[131]. Như vậy ta có thể nói chức Suất đã được đưa
vào biên chế quân đội Tây Sơn một cách rộng rãi. Mỗi một chức đều có
chức Suất và thường có tên gọi kèm theo: Suất Trung lương, Suất Hùng cự
v.v… Suất có khi đứng độc lập, có khi do chức khác kiêm quản.
Vì vậy theo chúng tôi hai quả ấn trên là ấn thời Tây Sơn và năm Tân Hợi
được khắc trên ấn là năm thứ tư niên hiệu Quang Trung thứ 4 (1791). Hai
quả ấn này được đúc vào mùa đông năm 1791, trước ngày mất của Nguyễn
Huệ gần một năm.
Năm 1997 chúng tôi đã được nhà giáo Nguyễn Văn Cương ở xã Đại Lãnh,
huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam cung cấp gián tiếp tư liệu về một quả ấn
đồng thời Tây Sơn[132]. Ấn được làm kiểu chuôi vồ, núm cao 3,5cm, thắt
đáy phía dưới. Khuôn ấn hình chữ nhật có kích thước 9,8x6,6cm, và dầy
1cm. Mặt trên ấn phía bên phải khắc 5 chữ Hán Tân Hợi niên đông tạo
(辛亥年冬造), phía bên trái khắc một dòng 13 chữ Hán Tây kỳ phủ trung tín
nhất vệ hộ quân sứ vinh hoa hầu.
Dấu hình chữ nhật có kích thước 9,8x6,6cm, viền ngoài để cỡ 0,7cm. Văn
khắc là 13 chữ Triện xếp theo hai hàng, hàng bên phải 7 chữ, bên trái 6
chữ hoàn toàn giống 13 chữ Hán khắc trên lưng ấn: Tây kỳ phủ trung tín
nhất vệ hộ quân sứ vinh hoa hầu 西岐府忠信一衛護軍使榮華候. (H.74 a.b)

Việc xác định niên đại và Chân hóa chữ Triện trong dấu của quả ấn này
tương đối thuận lợi. So sánh ấn dấu này với hai quả ấn ở Viện Bảo tàng
Lịch sử trên chúng tôi thấy có rất nhiều điểm tương đồng. Chúng đều có
chất liệu bằng đồng; hình thể gần giống nhau: khuôn ấn hình chữ nhật,
núm chuôi vồ to, tròn, thắt đáy. Mặt trên ấn phía bên phải đều khắc 5
chữ Hán: Tân Hợi niên đông tạo, bên trái khắc dòng chữ Hán giống như
dòng chữ trên mặt dấu. Dấu đều hình chữ nhật, để viền ngoài rộng và
kiểu chữ Triện mặt dấu trong dấu rất giống nhau. Chúng gần như được đúc
ra từ một khuôn vậy. Đây đều là ấn dấu của các chức võ tướng cấp Vệ,
Hiệu cũng là những cấp cao trong quân đội thời phong kiến. Từ đó chúng
tôi khẳng định năm Tân Hợi được khắc trên quả ấn ở Đại Lãnh, Quảng Nam
cũng chính là năm Tân Hợi niên hiệu Quang Trung thứ 4 (1791). Quả ấn
này được làm ra từ mùa đông năm Tân Hội 1791 triều Quang Trung thời Tây
Sơn.
Giải nghĩa chữ Triện trong con dấu Quảng Nam thì đây là ấn dấu của viên
tướng Vinh Hoa hầu chức Hộ quân sứ thuộc Vệ thứ nhất Trung Tín phủ Tây
Kỳ. Trung Tín ở dấu này cũng như Trung lương và Hùng cự của hai ấn dấu
trên đều là tên đơn vị trong biên chế quân đội Tây Sơn. Tây Kỳ phủ là
tên địa danh cũ thuộc đất Bình Định, nơi phát tích phong trào Tây Sơn,
sang đời Gia Long thời Nguyễn bị xóa bỏ đổi tên. Những điều trên càng
chứng tỏ việc khẳng định quả ấn này thuộc triều Quang Trung thời Tây
Sơn là chính xác.
Sách Lê Quý dật sử cũng như nhiều sách sử khác chỉ nói chung chung biên
chế quân đội Tây Sơn ở cấp Doanh, Đạo, Cơ, Đội. Ba quả ấn trên đã chứng
minh cho việc Quang Trung Nguyễn Huệ đặt cấp Vệ và cấp Hiệu vào biên
chế quân đội, dưới nữa là cấp Đội, Thuyền. Ngoài việc phân theo Ngũ
chế, Quang Trung còn đặt Vệ, Hiệu theo số thứ tự như “Nhất Vệ”, “Nhị
Vệ”, “Tam Hiệu”, “Ngũ Hiệu”, “Khai Vệ”có lẽ là Vệ đầu tiên, mở đường,
là Vệ tiên phong.
Về chức danh cấp bậc ghi trong ấn dấu ta thấy đây là ba quả ấn của ba
võ tướng có chức danh khác nhau: Chức Trung lang tướng, chức Đô ty và
chức Hộ quân sứ. Theo nghiên cứu ấn chương thì chức vụ cấp bậc càng cao
thì ấn dấu càng lớn. Nếu đem so sánh các ấn này với nhau, ta thấy ấn
của viên tướng Đô ty có kích thước khuôn dấu 10x6,8cm và chiều cao là
5cm, ấn của viên tướng Hộ quân sứ cỡ 9,8x6,6cm và chiều cao 4,5cm, ấn
của viên Trung lang tướng cỡ 9,6x6,2cm và chiều cao là 4,5cm. Như vậy
khả năng viên tướng Đô ty có chức vụ cao hơn và chức năng nhiệm vụ chắc
chắn cũng quan trọng hơn hai viên tướng kia. Thời Tây Sơn, chức Đô ty
thường được phân giữ những nơi xung yếu quan trọng, chức này phải chọn
những viên tướng giỏi và tâm phúc cho trấn nhậm. Vì viên tướng Đô ty
này lại lãnh Vệ tiên phong, nên giả thiết nêu trên có khả năng là đúng.
Về việc tìm lại tên tuổi của ba viên tướng qua những ấn dấu này quả
thực là khó khăn. Tư liệu chữ Hán thời Tây Sơn bị mất gần như toàn bộ,
chỉ dựa vào một số sách sử và một số văn bản hành chính còn lưu lại
chúng tôi không thấy nhắc đến tên tuổi viên Trung lang tướng, viên
tướng Đô ty hay Hộ quân sứ nào (!) Còn việc phong tước “Hầu” cho các
quan tướng thời Tây Sơn, với nhiều tên họ khác nhau như Nội hầu Nguyễn
Văn Lân, Kỷ Thiện hầu Trần Văn Kỷ, Thận Trực hầu Nguyễn Văn Thận v.v…
cũng đã có tư liệu nói tới. Do đó tên tuổi của viên tướng Hộ quân sứ
Vinh Hoa hầu hy vọng sẽ được các sử gia tìm thấy trong tương lai trên
cơ sở tư liệu từ ấn dấu này.
Công tác điền dã sưu tầm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm thật đa dạng và
rất có hiệu quả, không có nó chắc chắn chúng tôi cũng không thể tìm
thấy một quả ấn đồng nữa thời Tây Sơn ở một làng quê Trung du Bắc Bộ.
Tại một gia đình họ Đèo (họ Ngô) ở xã Viên Sơn, huyện Mê Linh hiện còn
lưu giữ một quả ấn đồng cổ. Núm ấn hình chuôi vồ tròn, có đường kính
1cm chiều cao tính cả đế ấn là 3,5cm. Mặt ấn được đúc theo hình chữ
nhật có kích thước 5,6x8,5cm và đầy 1cm. Mặt trên ấn phía bên phải khắc
5 chữ Hán: Tân Hợi niên đông tạo (辛亥年冬造), phía bên trái khắc 5 chữ Hán
Bằng Tuyền huyện quản lý (憑泉縣管理). Nét chữ viết theo lối Chân thư dễ
đọc. Dấu hình chữ nhật có kích thước 9,8x6,6cm viền ngoài để cỡ 0,5cm.
Văn khắc là năm chữ Triện xếp theo hai hàng dọc, hàng bên phải là ba
chữ Bằng Tuyền huyện 憑泉縣, hàng bên trái là hai chữ Quản lý 管理, kích
thước của hai chữ “Quản lý” cao bằng ba chữ “Bằng Tuyền huyện”. (H.75
a, b)

Việc xác định niên đại và Chân hóa chữ Triện của dấu ấn này cũng thuận
lợi vì đã có được việc xác định niên đại và nội dung văn khắc của ba
quả ấn trên. So sánh chất liệu hình thể, khuôn dấu tự dạng chữ Chân và
Triện thư… đặc biệt là năm chữ Tân Hợi niên đông tạo của ấn đồng này
với ba quả ấn trên chúng tôi khẳng định đây là quả ấn được làm ra từ
mùa đông năm Tân Hợi niên hiệu Quang Trung thứ 4 (1791). Chính việc xác
định niên đại này cũng giúp cho việc Chân hóa chữ Triện và giải nghĩa
cho nội dung văn khắc của dấu. Năm chữ Triện “Bằng Tuyền huyện quản lý”
trong dấu cho ta khẳng định đây là ấn dấu của chức Quản lý huyện Bằng
Tuyền.
Trước hết xin nói về ba chữ “Bằng Tuyền huyện”. Theo sách Các trấn tổng
xã danh bị lãm[133] được soạn thảo giữa triều Gia Long (1810-1813) thì
Bình Tuyền 平泉 là tên một huyện thuộc phủ Phú Bình, xứ Thái Nguyên.
Huyện có 7 tổng 27 xã, thôn, trang trại, và địa danh này đã có từ lâu
đời. Xem xét địa danh phủ, huyện toàn miền Bắc từ Nghệ Tĩnh trở ra ở
thời kì Tây Sơn và từ thời Nguyễn chúng tôi không thấy có tên huyện
Bằng Tuyền hoặc Bình Tuyền nào khác. Như vậy huyện Bằng Tuyền này chính
là huyện Bình Tuyền ghi trong quả ấn mà triều Quang Trung đã kiêng húy
tên tục của Nguyễn Huệ là Bình nên mới đổi chữ Bình 平 làm chữ Bằng 憑 và
hai chữ Bình Tuyền 平泉 được đổi thành Bằng Tuyền 憑泉. PGS. TS. Ngô Đức
Thọ cũng đã viết về lý do kiêng húy chữ “Bình”, việc thời Tây Sơn đổi
tên các địa danh có chữ Bình như đã nêu trên xác nhận vua Quang Trung
Nguyễn Huệ còn có một tên khác là Nguyễn Quang Bình 阮光平 như Hoàng Lê
nhất thống chí đã chép. Bình cũng được dùng làm tên tước tự xưng của
Nguyễn Huệ[134]… Do đó các địa danh như Cao Bình 高平 được đổi làm Cao
Bằng 高憑, Lộc Bình 祿平 được đổi làm Lộc Bằng 祿憑[135]. Tên huyện Bình
Tuyền được đổi làm Bằng Tuyền ở quả ấn này là một minh chứng nữa cho
việc kiêng húy chữ Bình thời Tây Sơn. Khi Gia Long lên ngôi thì tất cả
địa danh và nhân danh có liên quan đến nhà Tây Sơn đều bị xóa bỏ, như
ấp Tây Sơn được đổi thành An Tây, tên Cảnh Thịnh, Quang Trung khắc trên
hiện vật đều bị đục và những địa danh kiêng húy thời Tây Sơn hầu hết
được đổi lại tên như cũ… Vì vậy khi soạn thảo bộ Các trấn tổng xã danh
bị lãm thời Gia Long, nhóm biên soạn đã viết tên huyện Bình Tuyền (平泉)
như cũ để từ đó không ai được viết hoặc nhắc lại cái tên Bằng Tuyền
(憑泉) được đặt ra dưới triều Quang Trung nữa.
Trở lại hai chữ “Quản lý” 管理 được khắc trên ấn, đây là một tên chức
quan quản lý cấp huyện triều Quang Trung. Khi lên ngôi năm 1788 Quang
Trung Nguyễn Huệ đã chú ý xây dựng và củng cố chính quyền địa phương.
Mô phỏng chế độ tổ chức huyện quan thời Hậu Lê với hai chức quan huyện
trong một huyện[136], Nguyễn Huệ mới đặt chức quan ở cấp huyện với hai
chức Tả Quản lý và Hữu Quản lý. “Tả Quản lý thì coi việc hình luật,
kiện tụng. Hữu Quản lý thì coi về quân đội binh tình. Lại dùng người
giàu có và thế lực ở địa phương làm Huyện trưởng đốc suất việc lương
thực cho quân đội”[137].
Sách sử ghi như vậy nhưng trên thực tế chức Quản lý khắc trên ấn chúng
tôi không thấy có chữ Tả Quản lý hay Hữu Quản lý. Có thể chức Quản lý
đây là chức kiêm quan cả hai chức Tả và Hữu Quản lý của huyện Bằng
Tuyền (?) Tuy nhiên quả ấn này cũng là một hiện vật quý hiếm giúp cho
việc nghiên cứu thời Tây Sơn và cần được đưa về lưu giữ tại các cơ quan
hữu trách.
Xem xét hai dòng chữ khắc ở mặt trên ấn đặc biệt là niên đại Tân Hợi
niên đông tạo với bố cục, kiểu chữ, độ nét tương tự nhau, chúng tôi
khẳng định đây là những quả ấn được đúc cùng một thời gian, đợt đúc ấn
năm Tân Hợi (1791) này theo lệnh của Quang Trung là đợt đúc ấn lớn và
có qui mô nhất trong thời Tây Sơn. Nó khẳng định về một vương triều non
trẻ nhưng cũng khá hoàn chỉnh trong việc xây dựng một thể chế pháp
luật, tổ chức quân đội, chính quyền địa phương và cả về lĩnh vực công
nghệ đúc đồng chạm khắc trong giai đoạn chiến tranh còn ác liệt… 2. Dấu ấn trên văn bản Hán Nôm triều Quang Trung
Văn bản Hán Nôm triều đại Quang Trung còn lưu lại đến ngày nay tuy
không hiếm hoi như hiện vật ấn chương nhưng còn lại cũng rất ít và lại
càng ít hơn đối với những văn bản có đóng dấu ấn. Hiện nay những văn
bản này còn nằm tản mát ở một số cơ quan thuộc nhiều địa phương khác
nhau. Riêng số sắc phong có in hình dấu thì còn khá nhiều và nằm rải
rác ở các di tích văn hóa lịch sử trên phạm vi toàn quốc. Loại hình sắc
phong tuy nhiều nhưng đều có chung điển hình một loại dấu riêng biệt
nên cũng chỉ được giới thiệu vài ba sắc phong mà thôi. Giá trị nhất là
những văn bản gốc mà cố GS. Hoàng Xuân Hãn đã tặng lại Bộ Văn hóa mà
Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội đang lưu giữ. Chúng tôi sẽ
chọn lọc và giới thiệu những văn bản này bên cạnh những văn bản điển
hình khác ở triều Quang Trung. Trong phần giới thiệu chúng tôi không
trình bày theo thời gian niên đại và nội dung văn bản mà chủ yếu giới
thiệu về hình con dấu các loại trên mỗi văn bản khác nhau, mục đích để
việc giới thiệu con dấu có một hệ thống và gắn với phần mục trên.
Trước hết xin được giới thiệu một tờ chiếu của Quang Trung gửi La Sơn
phu tử Nguyễn Thiếp hiện được lưu giữ ở Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
tại Hà Nội. Bản chiếu này còn khá nguyên vẹn. Chính văn gồm 7 dòng chữ
Hán viết Chân với khoảng 200 chữ. Dòng niên đại có 9 chữ Quang Trung
nhị niên thập nguyệt sơ ngũ nhật 光中二年十月初五日. Một hình dấu lớn màu son đỏ
đóng ở dòng niên hiệu dưới chữ Quang Trung. Dấu hình vuông, kích thước
lớn, 4 chữ Triện trong dấu là Quảng vận chi bảo 廣運之寶.
Dòng đầu là 9 chữ Chiếu dụ La Sơn Nguyệt Ao Nguyễn tiên sinh 詔諭羅山月澳阮先生
có hình dấu chữ nhật đóng trên các chữ La Sơn Nguyệt Ao Nguyễn. Họa
tiết viền ngoài là hình hai con rồng nét mảnh, bốn chữ Triện bên trong
xếp theo một hàng dọc là 4 chữ Ngự dụng chi ấn 御用之印.
Hai hình dấu Kiềm giống nhau được đóng trên chữ Khâm tai 欽哉 dòng cuối
phần chính văn và trên chữ “Ngũ nhật” 五日 dòng niên đại. Kiểu dấu đều có
hình bầu dục lõm cạnh, chữ Triện được khắc trong dấu là 2 chữ Tín ấn
信印. (H. 76)
Văn bản này được làm vào ngày 5 tháng 10 năm Quang Trung thứ 2 (1789)
và là văn bản gốc có 3 loại hình dấu son chứng thực. Nội dung bài Chiếu
là lời Quang Trung trách Nguyễn Thiếp từ chối bổng lộc một xã mà Quang
Trung đặc ban cho làm lễ ưu lão. Bức thư cũng còn chứng thực việc xây
dựng kinh đô ở Nghệ An đã hoàn thành[138].
Ba loại hình dấu trên trùng lặp với 3 loại dấu in trên các văn bản thời
Thái Đức mà chúng tôi đã trình bày. Ở đây nó đã chứng minh cho việc sử
dụng dấu trên chiếu dụ thời Quang Trung cũng giống như việc dùng dấu
trên chiếu dụ đời Thái Đức và càng khẳng định vai trò của Quang Trung
Nguyễn Huệ trong phong trào Tây Sơn. Ngay trước khi lên ngôi vua Nguyễn
Huệ đã dùng những con dấu này trong những văn bản quan trọng với tính
chất như một nhà lãnh đạo số một. Lời văn thảo bức thư thật uyên bác
chứng tỏ Quang Trung biết sử dụng những người tài giỏi bên cạnh mình.
Xin giới thiệu tờ chiếu thứ hai mà Quang Trung gửi La Sơn Nguyễn Thiếp.
Văn bản đã bị rách mảng giữa, chính văn gồm 5 dòng chữ Hán, dòng cuối
chỉ còn lại 4 chữ. Dòng niên đại có 9 chữ Quang Trung tứ niên thất
nguyệt sơ thập nhật 光中四年七月初十日, chữ “Quang” bị mất gần hết chữ. Hình dấu
lớn Quảng vận chi bảo đóng trước dòng niên đại, dấu Ngự dụng chi bảo
đóng trên 5 chữ “La Sơn tiên sinh Nguyễn” ở dòng đầu. Hai dấu Kiềm Tín
ấn được đóng trên chữ “Khâm tai” ở đoạn cuối văn và chữ thập ở dòng
niên hiệu. Văn bản này được làm ngày 10 tháng 7 năm Quang Trung thứ 4
(1791).
Nội dung bản chiếu là lời mời La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp vào Phú Xuân
(Huế) để hội kiến với Quang Trung. Bài chiếu đã được cố GS. Hoàng Xuân
Hãn dịch giới thiệu trong cuốn La Sơn phu tử[139], nhưng trong phần ảnh
minh họa (ảnh) Giáo sư chỉ giới thiệu phần chính văn là một nửa văn bản
mà không có phần ghi niên đại và hình dấu ấn. Chúng tôi xin được giới
thiệu toàn văn bản với đủ ba loại hình dấu trên để bạn đọc tham khảo.
(H. 77)
Tờ chiếu dụ thứ ba cũng của Quang Trung gửi La Sơn Nguyễn Thiếp với
phần chính văn là 8 dòng chữ Hán, những chữ đầu và cuối của dòng đầu đã
bị rách mất. Dòng niên đại có 9 chữ Quang Trung ngũ niên lục nguyệt sơ
nhất nhật 光中五年六月初一日. Dấu lớn Quảng vận chi bảo 廣運之寶 in trên dòng niên
đại. Dấu Ngự dụng chi bảo đóng trên chữ “Tiên sinh Nguyễn Khải Xuyên”
先生阮啓耑. Năm hình dấu kiềm giống nhau được đóng trên chữ ghi số thứ tự,
chữ “Khâm tai “ ở phần chính văn và chữ nhất nhật ở dòng niên đại. Đó
là Kiềm dấu Tín ấn 信印.
So sánh loại hình, kích cỡ, viền hoa văn, chữ Triện của ba loại hình
dấu này giống y như ba loại dấu chúng tôi đã trình bày ở hai văn bản
trên. Đây là văn bản được viết ngày mồng 1 tháng 6 năm Quang Trung thứ
5 (1792) có nội dung là lời khen của vua Quang Trung đối với Sùng Chính
viện Viện trưởng La Sơn phu tử Nguyễn Khải Xuyên về việc dịch
sách[140]. Văn bản đã được GS. Hoàng Xuân Hãn giới thiệu và dịch trong
cuốn La Sơn phu tử[141], riêng phần ảnh minh họa thì các hình dấu Kiềm
quá mờ không thể đọc được. (H. 78)
Văn bản chữ Hán ở triều Quang Trung, ngoài những bản chiếu dụ có in các
hình dấu Quảng vận chi bảo, Ngự dụng chi bảo và Tín ấn như đã nói ở
trên, chúng tôi còn chụp được nguyên bản hai tờ “Truyền” 傳 của Triều
đường Quang Trung. Mỗi văn bản đều có in hình dấu lớn của Triều đường
đóng ở dòng niên đại và một loại Kiềm dấu nhỏ khác nữa đóng ở nhiều chỗ
nhấn mạnh trong phần chính văn.
Bản “Truyền” thứ nhất còn giữ được nguyên vẹn, duy độ nét có bị mờ đi
nhiều. Dòng đầu là 4 chữ Triều đường quan đẳng 朝堂官等 phần chính văn gồm
5 dòng chữ Hán khoảng hơn 100 chữ. Dòng niên đại với 10 chữ Quang Trung
ngũ niên nhuận tứ nguyệt thập tứ nhật 光中五年閏四月十四日 (Ngày 14 tháng 4 nhuận
năm Quang Trung thứ 5 [1792]).
Dấu lớn hình vuông màu son đỏ gạch, kích thước 11,3x11,3cm đóng ở dòng
niên hiệu dưới chữ Quang Trung, 4 chữ Triện trong dấu là Triều đường
chi ấn 朝堂之印 (ấn của Triều Đường). Bốn hình dấu kiềm nhỏ hình vuông cỡ
1,4x1,4cm đóng ở 4 điểm phần chính văn, trên chữ “Khâm truyền” và “Sùng
chính viện Viện trưởng”. Hai chữ Triện trong dấu Kiềm là Tiểu ấn 小印.
(H. 79)
Như vậy văn bản này đã được viết ngày 14 tháng 4 nhuận năm Quang Trung
thứ 5 (1792). Nội dung văn bản là tờ Truyền của Triều đường Quang Trung
cho Viện trưởng Viện Sùng Chính là La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp trách về
việc dịch sách. Văn bản cũng đã được GS. Hoàng Xuân Hãn dịch, giới
thiệu trong sách La Sơn phu tử, nhưng phần ảnh minh họa thì hình con
dấu bị mờ hoàn toàn không thể đọc được.
Bản “Truyền” đã cho ta thấy được tổ chức chính quyền trung ương thời
Quang Trung có hình thức tổ chức Triều đường. Triều đường ở đây tức là
triều đình mà đại diện là một số đại thần văn quan võ tướng số một của
chính quyền Quang Trung, chủ yếu là những văn quan tài giỏi thay mặt
vua giải quyết những vấn đề quan trọng, ra một số văn bản chỉ định. Tổ
chức này giống như tổ chức Đình thần (hay Công đồng) ở thời Nguyễn sơ
sau này. Quang Trung đã thu phục và sử dụng được nhiều văn thần tài
giỏi như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích v.v…, họ đã thay mặt Quang Trung
giải quyết nhiều việc quan trọng về đối nội cũng như đối ngoại. Ấn dấu
Triều đường chi ấn cũng không phải là ấn dấu của một tổ chức, một cơ
quan trung ương riêng biệt nào trong chính quyền Quang Trung và phải
chăng mô hình ấn dấu Đình thần chi ấn, Công đồng chi ấn, với chức năng
tương tự ở thời Nguyễn sơ sau này có nhiều điểm tương đồng (?).
Tờ “Truyền” thứ hai cũng còn nguyên vẹn và giữ được mới, có độ nét hơn
tờ trên. Dòng đầu cũng có 4 chữ Triều đường quan đẳng, phần chính văn
có 7 dòng chữ Hán khoảng 150 chữ. Dòng niên đại có 9 chữ Quang Trung
ngũ niên lục nguyệt sơ tứ nhật. Dấu lớn hình vuông có 4 chữ Triện là
Triều đường chi ấn (朝堂之印) (ấn của Triều Đường), 4 dấu Kiềm nhỏ hình
vuông đóng trên chữ “Khâm truyền”, chỗ ghi số thứ tự và chữ Tứ nhật ở
cuối dòng niên đại. Dấu Kiềm được xác định là dấu Tiểu ấn 小印. (H. 80)
Như vậy tờ “Truyền” này đã được làm ngày 4 tháng 6 năm Quang Trung thứ
5 (1792). Nội dung tờ “Truyền” gửi Viện trưởng Viện Sùng Chính là La
Sơn phu tử Nguyễn Khai Xuyên về việc dịch và chú ba bộ kinh là kinh
Thi, kinh Thư và kinh Dịch… GS. Hoàng Xuân Hãn cũng đã dịch và giới
thiệu trong La Sĩ phu tử[142].
Tờ Truyền này càng khẳng định thêm về việc ấn dấu Triều đường chi ấn và
Kiềm dấu Tiểu ấn được chuyên dùng trong các loại hình công văn như
Truyền (傳) , Sai (差), đó là những văn bản hành chính quan trọng chỉ
đứng dưới chiếu, chỉ, dụ, cáo, sắc của Hoàng đế.
Mùa xuân năm 1789 Quang Trung đại phá quân Thanh, trước đó Nguyễn Huệ
đã nghe La Sơn phu tử bày mưu dự đoán rất đúng nên Nguyễn Huệ rất khen
và cũng muốn nài phu tử làm quân sư. Do đó tháng 3 năm 1789 khi quay về
Nam đến Nghệ An, Quang Trung mở hội nghị quốc sự đã lệnh cho Trấn thủ
Nghệ An Nguyễn Văn Thận viết thư mời. Bức thư này hiện nay vẫn còn lưu
giữ ở Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội mà chúng tôi may mắn
chụp được nguyên bản. Bức thư viết bằng giấy bản còn khá nguyên vẹn,
toàn văn có hơn 50 chữ Hán viết ngắn gọn có dòng đầu 10 chữ “Khâm sai
Nghệ An trấn thủ quan Thận Trực hầu” (欽差乂安鎭守官慎直侯). Dòng thứ hai với 3
chữ “Túc từ vu” (肅詞于) và có 1 hình dấu chữ nhật in trên chữ “Từ vu”,
dấu có kích thước 3,4x1,8cm bên trong là 4 chữ Triện Nghệ an trấn ký
(乂安鎭記) dấu Tín ký của Trấn thủ Nghệ An (?).
Dòng niên đại với 9 chữ Hán Quang Trung nhị niên tam nguyệt sơ thập
nhật (光中二年三月初十日). Một hình dấu son in đè lên đoạn chữ “nhị niên tam
nguyệt”, dấu hình vuông kích thước 6,8x6,8cm viền ngoài để đậm 1cm, bên
trong là 5 chữ Triện Nghệ An trấn phủ chương (乂安鎭撫章). Đây là chương ấn
của chức Trấn phủ trấn Nghệ An.
Hai hình dấu Kiềm nhỏ giống nhau, một in ở trên chữ “từ” cuối phần
chính văn, một in ở dưới dấu lớn Nghệ An trấn phủ chương ở dòng niên
đại. Dấu thuôn theo dạng hình thoi bằng đầu có 8 cạnh, có khắc viền
trong, hai chữ Triện xếp theo hàng dọc là 2 chữ “Nghệ An” (乂安). (H. 81)
Nội dung bức thư ngắn gọn nên chúng tôi theo lời dịch của GS. Hoàng Xuân Hãn.
“Khâm sai trấn thủ Nghệ An Thận Trực hầu kính thư cho La Sơn tiên sinh
xét rõ, nay tôi vâng chiếu truyền cho ngài tới bàn quốc sự cho nên có
thư này. Tiên sinh tạm dời gót ngọc đến Vĩnh Doanh để mà hội nghị.
Nay kính thư
Quang Trung năm thứ 2 ngày 10 tháng 3 (1789)”
Nội dung khá rõ và đơn giản, chúng tôi xin được trở lại với các hình dấu của chức quan trấn Nghệ An trên.
So sánh văn bản này với văn bản của Khâm sai trấn thủ quan Thận Trực
hầu gửi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp có niên đại Thái Đức thứ 11 (1788)
mà chúng tôi đã trình bày ở trên, chúng tôi thấy có một số điểm giống
và khác nhau giữa các hình dấu ở hai văn bản.
- Về dấu lớn Nghệ An trấn phủ chương ở hai văn bản đều có kích thước,
viền ngoài dấu, bố cục và kiểu chữ Triện giống nhau. Nhưng nét chữ
Triện ở 2 chữ “trấn” và chữ “chương” thì khác nhau.
- Dấu nhỡ hình chữ nhật Nghệ An trấn ký hoàn toàn giống nhau, nhưng vị trí đóng dấu ở 2 văn bản khác nhau.
Ở văn bản Quang Trung có thêm 2 hình dấu Kiềm 8 cạnh đóng ở cuối phần chính văn và dưới dấu lớn Nghệ An trấn phủ chương.
Qua đó có thể thấy rằng cùng một chức quan (Trấn thủ) trong cùng một
con người (Nguyễn Văn Thận) ở thời điểm gần nhau 1788 - 1789, nhưng
dưới hai triều khác nhau Thái Đức và Quang Trung thì việc sử dụng ấn
dấu trên văn bản cũng có sự khác nhau. Quang Trung lên ngôi vẫn để
Nguyễn Văn Thận làm Trấn thủ Nghệ An, nhưng dấu ấn tín có thay đổi. Ấn
Nghệ An trấn phủ chương làm lại khắc nét chữ khác, đồng thời làm thêm
Kiềm ấn Nghệ An để đóng vào cuối phần chính văn và cuối dòng ghi niên
hiệu.
Xin giới thiệu tiếp 1 văn bản đời Quang Trung. Văn bản đã có các mép đã
bị rách sờn hiện được lưu tại một gia đình họ Nguyễn ở thị xã Quy Nhơn
- Bình Định, chuyến công tác gần đây chúng tôi đã chụp lại được nguyên
bản.
Đây là một bức thư chữ Hán có 5 dòng nội dung và một dòng ghi niên đại.
Hai chữ ở hai dòng đầu bị rách mờ mất gần hết chữ, chữ áp chót đầu cũng
bị mờ mất một nửa. Văn bản này đã được cố GS. Hoàng Xuân Hãn công bố
trong cuốn La Sơn phu tử. Ảnh chụp của Giáo sư còn giữ được nguyên vẹn
không bị mờ mất 3 chữ dòng đầu và dòng thứ 2 như bức ảnh này. GS. Hoàng
đã giới thiệu bản dịch (không phiên âm) và cũng khẳng định rằng đây là
bút tích của Trần Văn Kỷ. Ở đây chúng tôi muốn chứng minh rõ hơn về vấn
đề này qua một số tiêu chí được đặt ra trong công tác văn bản.
Kể cả dòng ghi niên đại toàn văn bản có 99 chữ. Dòng đầu với 14 chữ là
“Trung thư lệnh kỷ thiện hầu Trần Văn Kỷ tái bái cẩn thư vu”. Cuối phần
chính văn bản là 2 chữ “Cẩn thư”. Trên 3 chữ “cẩn thư vu” (ở trên) và
cẩn thư (ở dưới) là một hình dấu Kiềm nhỏ. Hai hình dấu này đều được
đóng từ một quả ấn ra. Dòng ghi niên đại có 10 chữ Quang Trung nhị niên
cửu nguyệt nhị thập tứ nhật (光中二年九月十四日).
hình dấu có màu mực tím đen in ngay ngắn, bên trong là 5 chữ Triện xếp
theo bố cục với chữ ở giữa lớn gấp đôi các chữ khác. Việc xác định con
dấu cũng là một trong những tiêu chí quan trọng để khẳng định bút tích
của Trần Văn Kỷ.
Dịch nghĩa:
Trung thư lệnh Kỷ Thiện hầu Trần Văn Kỷ lạy hai lạy kính cẩn dâng thư trình La Sơn đại lão tiên sinh.
Tôi biết là nhục quế rất cay không thể điều dụng được, vì từ lúc tạm
biệt ở trấn doanh, tôi nghĩ đến ngài đã dặn về việc ấy nên không dám bỏ
qua. Tôi bèn chọn Khánh Thọ quế bẩy phiến cân được ba lạng đóng gói
lại, đánh dấu rồi bỏ vào và nhờ ông Hàn lâm viện Thừa chỉ kiêm Công
khoa Đô cấp sự trung Ôn Đình Bá chuyển đệ.
Rất mong tiên sinh xem xét nhận cho.
Nay kính thư
Quang Trung năm thứ 2 ngày 24 tháng 9 (1789)
Điều quan trọng ở đây là các hình dấu in trên bức thư, một hình dấu
chính ở cuối dòng ghi niên đại và hai hình dấu kiềm nhỏ. Dấu chính hình
vuông bên trong là năm chữ Triện xếp theo bố cục 3 hàng. Đó là 5 chữ
Trung thư lệnh chi chương (中書令之章) ấn chương của chức Trung thư lệnh.
Chữ “thư” ở đây được khắc kiểu cắt đôi xếp theo chiều ngang từ trái qua
phải, điều này ít thấy trong các chữ Triện ở các con dấu.
Hai dấu Kiềm in trên văn bản có cùng một nội dung với 4 chữ. Do chữ
trong dấu mờ và bị lấp nên chúng tôi chỉ có thể tạm đọc là 4 chữ Trung
thư phủ chính (中書府政) (?)
Dấu đóng có màu mực đen khác với các hình dấu trên nhiều văn bản thời
Tây Sơn như dấu của Triều đường, dấu của Trấn quan, của Khâm sai, của
Thái tử đều có màu mực son đỏ. (H. 82)
Trong bức thư này ghi rõ Trần Văn Kỷ giữ chức Trung thư lệnh ở Viện
Trung thư, gần như văn phòng của Hoàng đế, với chức năng như một viên
Bí thư thứ nhất rất quan trọng bên cạnh Quang Trung. Những hình dấu
trên văn bản khẳng định là hình dấu của Trần Văn Kỷ, cùng nội dung bức
thư với lời lẽ kính cẩn chân tình có xuất xứ rõ ràng như đã nêu, chúng
tôi khẳng định đây là bút tích mà Trung thư lệnh Trần Văn Kỷ viết vào
ngày 24 tháng 9 năm Quang Trung thứ 2 (1789).
 Dấu ấn thời Quang Trung còn lưu tích trên loại hình sắc phong. Cũng
giống vương triều Lê trước đó, thời Tây Sơn mà chủ yếu là triều Quang
Trung và Cảnh Thịnh có ban hành sắc phong thần cho các vị thần được dân
gian thờ phụng, và sắc phong cho các quan lại và tướng lĩnh có công lao
lớn. Thời Tây Sơn có khác thời Lê và các vương triều khác là việc dùng
con dấu trên sắc phong. Ở thời Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng và Nguyễn sau
này trên sắc phong thần đều dùng dấu Sắc mệnh chi bảo; còn ở thời Tây
Sơn lại dùng con dấu Tiên nhu chi bảo đóng trên sắc phong thần.
Xin mô tả dấu in trên sắc do vua Quang Trung phong cho thần thôn Yên
Việt xã Nam Phù Liệt, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam
thượng[143]. Dấu hình vuông, kích thước khá lớn, cỡ 15,2x15,2cm, viền
ngoài để đậm 2,2cm không khắc họa tiết, bên trong là 4 chữ Triện Tiên
nhu chi bảo (秈柔之寶), ý nghĩa là các vị thần phù trợ cho mưa thuận gió
hoà, mầm lúa mọc tươi tốt. Dấu đóng ở dòng ghi niên hiệu ngày tháng
Quang Trung tam niên thập nguyệt nhị nhật (ngày 2 tháng 10 năm Quang
Trung thứ 3 [1790]). (H. 83)


Chứng tích về dấu trên sắc phong cho người có công thời Tây Sơn hiện
nay còn lại thật hiếm thấy. Tư liệu về dấu Sắc mệnh chi bảo thời Quang
Trung đã được cụ Hoa Bằng sao ghi lại rồi tặng cho một cán bộ ở Viện
Nghiên cứu Hán Nôm. Đó là bản sao lại hình dấu Sắc mệnh chi bảo (敕命之寶)
in trong đạo sắc mà vua Quang Trung sắc phong cho Phan Huy Ích chức Đặc
tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Thị trung Ngự sử, tước Thụy Nham hầu.
Niên đại của sắc phong ghi ngày 18 tháng 4 nhuận niên hiệu Quang Trung
thứ 5 (1792). Trên tờ tư liệu này còn ghi bút tích chữ Quốc ngữ của cụ
Hoa Bằng ghi ngày 11 tháng 12 năm 1949: “Chính tôi biết rõ cái sử liệu
này là đúng chắc nhưng hiện nay không còn, vì nạn binh cách sau hồi
tháng Chạp 1946 - Kính tặng những bạn yêu người anh hùng áo vải ở trại
Tây Sơn”. (H. 84)
Xin được giới thiệu tiếp bản Lệnh chỉ hiện được lưu giữ tại Viện Bảo
tàng Lịch sử Việt Nam tại Hà Nội. Lệnh chỉ viết trên giấy bản đã bị
rách ố xung quanh. Chữ Hán viết Chân gồm 9 dòng kể cả 2 dòng kê khai ở
cuối văn bản. Dòng niên đại có 9 chữ Quang Trung tam niên ngũ nguyệt
thập ngũ nhật (光中三年五月十五日) (Ngày 15 tháng 5 năm Quang Trung thứ 3
[1790]). Văn bản có 2 loại con dấu. Một dấu lớn hình vuông đóng dưới
chữ “Quang Trung” (光中) ở dòng niên hiệu. Mười một hình dấu Kiềm giống
nhau đóng trên chữ “Lệnh chỉ” (令旨) đóng trên chữ “Thập ngũ” (十五) ở dòng
niên hiệu, đóng chỗ xuống dòng cuối văn bản và đóng kín ở 2 dòng kê
khai số lượng ruộng đất.
Dấu lớn hình vuông cỡ 11,3 x11,3cm, các góc vuông uốn hình vòng cung.
Viền ngoài để đậm 1,2cm. Bên trong là 5 chữ Triện, chia làm 3 hàng, 4
chữ ở hai hàng và ở giữa. Chữ ở giữa cao gấp hai lần mỗi chữ hai bên.
Nét chữ đậm 0,3cm khắc hơi uốn lượn, gần với tự dạng chữ Triện trong
dấu triều Nguyễn sau này. Đó là 5 chữ Hoàng thái tử chi bảo (皇太子之寶) Bảo
ấn của Hoàng thái tử. Dấu đóng ở dòng ghi niên hiệu ngày tháng. (H 85)

Có nhiều điểm đáng chú ý ở con dấu này. Theo quy định truyền thống các
triều đại, thì sắc, chiếu, chỉ dụ là do vua ban ra, còn Lệnh chỉ là
loại văn bản hành chính dành riêng cho nhà chúa hoặc Hoàng thái tử. Ở
bản Lệnh chỉ trên hình dấu Hoàng thái tử chi bảo đã khẳng định cho điều
này.
Lê Quý dật sử chép vào tháng 12 năm Kỷ Dậu niên hiệu Quang Trung thứ 2
(1789): “Tây Sơn Nguyễn Huệ lập con trưởng là Quang Toản làm Hoàng thái
tử và phong tước cho các con: Con thứ là Nguyễn Thùy làm Khang công
quản lãnh miền Bắc, lãnh chức Tiết chế thủy bộ chư quân…”[144].
Các triều đại trước Tây Sơn và triều Nguyễn sau này, khi phong cho con
làm Hoàng thái tử, thường đặt thêm chức khá quan trọng. Như nhà Nguyễn
khi Gia Long còn sống phong Phúc Đảm (Minh Mệnh) làm Hoàng thái tử và
cho đứng đầu Tôn nhân phủ[145], Phúc Đảm được ban ấn khắc 5 chữ triện
Hoàng thái tứ thủ tín[146].
Ở đây ấn Hoàng thái tử chi bảo là ấn của Hoàng thái tử Nguyễn Quang
Toản. Như vậy là thời Tây Sơn Quang Toản đã được dùng ấn có chữ “Bảo”.
Lê Quý dật sử ghi lại, vào năm Nhâm Tý niên hiệu Quang Trung thứ 5
(1792): “Ngày 30 tháng 7 vua Tây Sơn mất, tôn miếu hiệu Thái tổ Vũ
hoàng đế. Thái tử là Nguyễn Quang Toản mới được 10 tuổi (tên tục là Kỷ)
nối ngôi…”. Như vậy ta thấy Quang Toản lúc đóng dấu lệnh chỉ trên mới 8
tuổi.
Ngoài ra, Viện Bảo tàng Lịch sử vẫn giữ những Lệnh chỉ khác, như Lệnh
chỉ về việc thu thuế ruộng đất đối với các địa phương thuộc trấn Hưng
Hóa và một số vùng ở miền Bắc. Ngày tháng trong Lệnh chỉ cũng là Quang
Trung tam niên ngũ nguyệt thập ngũ nhật (Ngày 15 tháng 5 năm Quang
Trung thứ 3 [1790]). Con dấu đóng trên Lệnh chỉ này cũng giống như dấu
Hoàng thái tử chi bảo của Lệnh chỉ nói trên. Đó là dấu của Hoàng thái
tử Quang Toản.
Về 11 hình dấu Kiềm bầu dục trên văn bản, đây là loại dấu có kích thước
nhỏ, cỡ 3,5x2,5cm hai bên cạnh lõm vào một ít theo hình vòng cung. Bên
trong khắc hình hai chữ Triện, xếp theo hàng dọc. Nét chữ rõ ràng,
những nét bên ngoài uốn theo khuôn dấu. Đó là hai chữ Quang hầu (光侯).
Chữ “hầu” ở đây chỉ ông vua nhỏ dưới mệnh lệnh ông thiên tử. Đây là
Kiềm nhỏ của Hoàng thái tử Nguyễn Quang Toản. Kiềm ấn này được dùng
đóng vào chỗ ghi ngày ở cuối dòng niên hiệu và những chỗ quan trọng
được nhấn mạnh trong bản Lệnh chỉ này. Các bản lệnh chỉ khác có dấu
Hoàng thái tử chi bảo thì các dấu Kiềm trên văn bản cũng chính là Kiềm
dấu Quang hầu giống như bản Lệnh chỉ chúng tôi đã nêu trên.
Nội dung đơn giản là Lệnh chỉ cho sắc mục xã trưởng xã Vĩnh Hưng Đặng,
tổng Vĩnh Hưng, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, xứ Sơn Nam Thượng[147]
về vấn đề ruộng đất canh tác các hạng tương ứng với sổ sách biên chép,
cùng việc thu miễn tô thuế kèm kê khai số lượng diện tích đất canh tác
ở cuối văn bản. III. Ấn chương Việt Nam triều Cảnh Thịnh - Bảo Hưng
1. Hình dấu trên văn bản Hán Nôm triều Cảnh Thịnh
Năm 1792 Nguyễn Huệ mất đột ngột, Hoàng thái tử Quang Toản lên ngôi
Hoàng đế và đổi niên hiệu là Cảnh Thịnh. Sự kiện trọng đại này dẫn đến
một sự thay đổi và biến động trong triều đình Tây Sơn như việc ban bố
ra các chiếu, chỉ, sắc, dụ v.v… Việc Thái sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền
cách biếm Trần Văn Kỷ, việc kiến tạo xây dựng, trùng tu, đúc chuông ở
một số di tích ở đồng bằng Bắc Bộ v.v… Trong đó có không ít việc có
liên quan đến ấn triện.
Số lượng hiện vật ấn triện và tài liệu có in hình dấu thời Cảnh Thịnh
cũng khá phong phú, nhưng vì chiến tranh ác liệt và cuối cùng là sự
thất bại của Tây Sơn nên tư liệu ấn triện giai đoạn này không còn. Cụ
thể như năm 1801 Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú Xuân, Quang Toản thua chạy,
quân Nguyễn Ánh đã thu được không ít ấn tín sách vở. Sử cũ đã ghi: “…
Quang Toản đã mang đồ báu bỏ thành chạy trước ra Bắc. Xa giá vào thành,
xem khắp các nơi cung điện, thu được 13 quả ấn ngụy và 33 bản sách
ngụy[148]. Niêm phong kho tàng, tịch biên của cải vật phẩm…”[149].
Một số văn bản chữ Hán có hình con dấu thời Cảnh Thịnh được giới thiệu
dưới đây là những văn bản may mắn còn sót lại trong dân gian mà chúng
tôi chụp từ nguyên bản gốc tại đất Quy Nhơn, Bình Định. Đầu tiên phải
kể đến văn bản có dấu tích của Khang công Nguyễn Quang Thùy - người con
của vua Quang Trung và người chiến sĩ của phong trào Tây Sơn.
Văn bản là những dòng chữ Hán viết trên giấy bản đã cũ, hai mép trên và
dưới bị rách mờ vài chỗ. Chữ Hán viết chân phương, dòng đầu là 20 chữ
“Đặc sai bắc biên tiết chế bộ thuỷ chư doanh kiểm tổng binh dân thứ vụ
hoàng đệ Khang công”. Chính văn gồm 8 dòng khoảng hơn 200 chữ mà phần
dưới có chữ đã bị mất do giấy bị rách. Dòng niên đại với 10 chữ Cảnh
Thịnh ngũ niên ngũ nguyệt nhị thập tứ nhật. Một dấu son lớn hình vuông
in dưới đoạn ngày tháng dòng ghi niên hiệu và 6 hình dấu Kiềm nhỏ giống
nhau in ở 6 vị trí khác nhau trên tờ văn bản. Như vậy, niên đại văn bản
đã được xác định là ngày 24 tháng 5 năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1796).

Nội dung văn bản là một bản Phó giao cho các sắc mục ở một số thôn xã
thuộc hai huyện Thanh Trì và Thanh Oai về công việc nông vụ dẫn nước
tưới tiêu, ruộng đất canh tác ở các địa phương đó. Đây là một văn bản
chữ Hán nội dung không có gì đặc biệt, nhưng điểm nổi bật ở đây là hình
dấu của Khang công Nguyễn Quang Thùy. Dấu hình vuông có 12 chữ Khâm sai
tiết chế Hữu Khang kiêm dân thứ vụ chi ấn (欽差節制佑康兼民庶務之印) (ấn của Khâm
sai tiết chế kiêm dân thứ vụ Hữu Khang). (H. 86)
Những dòng chữ trong con dấu này cho ta thấy Nguyễn Quang Thùy còn có
tên là Nguyễn Hữu Khang, cũng như các con khác của Nguyễn Huệ là Quang
Toản còn có tên là Trát và Kỷ. Có lẽ vì thế sau khi lên ngôi Hoàng đế,
Quang Trung Nguyễn Huệ đã phong tước cho các con và Quang Thùy được
phong tước “công” nên gọi là Khang công. Một số văn bản chữ Hán khác
thời Quang Trung cũng ghi rõ Quang Thùy là Khang công và thời Cảnh
Thịnh ghi Quang Thùy là Hoàng đệ Khang công.
Những dấu Kiềm nhỏ có hình bầu dục hai cạnh lõm vào một ít theo hình
vòng cung, hai chữ Triện trong dấu xếp theo hình dọc, những nét chữ bên
ngoài uốn theo khuôn dấu. Đó là hai chữ “Quang hầu” (光侯). Chữ “hầu” ở
đây chỉ ông vua nhỏ dưới mệnh lệnh Thiên tử Hoàng đế. Điều này đã chứng
tỏ vai trò quan trọng của Quang Thùy trong vương triều Tây Sơn ở giai
đoạn chiến tranh ác liệt nhất như thế nào. Dấu “Quang hầu” được đóng
trên chữ “phó” (付) ở đầu và cuối phần chính văn và trên chữ tên các xã
trong văn bản.
Trở lại lịch sử, khi bắt đầu khởi binh (khoảng năm 1771 - 1773) Nguyễn
Huệ đã lấy vợ, bà tên là Phạm Thị Liên người ấp Phú Phong, huyện Tuy
Viễn, Bình Định và sinh được 2 con trai, trưởng tử là Nguyễn Quang Thùy
còn thứ là Nguyễn Quang Bàn. Về sau bà Liên ốm chết và khoảng năm 1782
Nguyễn Huệ lấy vợ kế là bà Bùi Thị Nhạn người ở ấp Xuân Hòa, huyện Tuy
Viễn. Bà sinh được 3 trai 2 gái, người con đầu là Nguyễn Quang Toản và
hai em trai là Nguyễn Quang Thiệu và Nguyễn Quang Hưng. Còn Nguyễn
Quang Khanh và Nguyễn Quang Duy mà chính sử ghi là con người vợ thứ nữa
của Nguyễn Huệ.
Như vậy Quang Thùy phải hơn Quang Toản khoảng hơn 10 tuổi và phải chăng
bà Phạm Thị Liên là vợ đích của Quang Trung (?) còn Quang Thùy là con
đích của người anh hùng áo vải Tây Sơn này?
Năm 1788 Nguyễn Huệ lên ngôi vua và cũng định lập Quang Thùy làm Thế
tử. Chính vì thế mà khi nhà Thanh đòi Quang Trung sang chầu, Nguyễn Huệ
xin cho Quang Thùy sang thay nhưng họ không chịu và đoàn sứ giả vương
Phạm Công Trị phải sang Trung Quốc. Sau vụ này vua Thanh đã sắc phong
cho Nguyễn Quang Thùy làm An Nam Quốc vương thế tử. Thực tế lúc này
Quang Thùy đã đến tuổi thành niên và cũng từng trải, còn Nguyễn Quang
Toản lúc này mới được 6-7 tuổi. Nhưng rồi đến tháng 12 năm Kỷ Dậu 1789
Nguyễn Huệ quyết định phong Quang Toản làm Hoàng thái tử và phong Quang
Thùy làm Khang công lãnh chức Tiết chế thuỷ bộ chư doanh cho quản lĩnh
miền Bắc và lại gọi Quang Toản là con trưởng và Quang Thùy là con thứ
(?) Vua Thanh khi được thông báo lại cũng đổi phong Quang Toản làm An
Nam Quốc vương thế tử.
Trong tập Lê triều vinh phong huân thần chế văn[150] ghi rõ Biểu văn
Khang công Quang Thùy mừng cha lên ngôi niên hiệu Quang Trung và biểu
văn mừng Hoàng hậu triều Tây Sơn. Điều đó càng chứng tỏ sự khẳng định
chững chạc của Quang Thùy ở giai đoạn này. Phải chăng việc phong Hoàng
thái tử cho Quang Toản và để Quang Thùy quản lĩnh Bắc Hà cũng nằm trong
ý đồ chiến lược của Quang Trung (?) Lúc này đất nước còn rối ren, nhân
tâm Bắc Hà chưa phục, Quang Toản còn nhỏ tuổi chưa thể đảm đương được
trọng trách ở miền Bắc. Tuy rằng những sĩ phu đã theo về với Tây Sơn
như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích là những văn thần tài giỏi, nhưng người
quyết định vẫn phải là Quang Thùy thi hành theo đường lối của Quang
Trung ở Phú Xuân.
Năm 1792 Nguyễn Huệ mất, Quang Toản lên ngôi vẫn đóng đô ở Phú Xuân và
phong Quang Thùy là Khâm sai Bắc biên Tiết chế thủy bộ chư doanh kiêm
Tổng binh dân thứ vụ. Bắc Hà - một miền đất đai rộng lớn, dân cư đông
đúc và trị an chưa ổn định. Được sự giúp đỡ của các văn thần người Bắc,
Quang Thùy đã làm được một số việc đáng kể mà chính sử nhà Nguyễn không
ghi lại. Mặt kinh tế nông nghiệp rất được chú trọng, chính sách ruộng
đất được ban hành ở hầu hết các tỉnh, khắc phục cảnh ruộng hoang, làm
thủy lợi dẫn nước tưới tiêu, động viên và phấn đấu tăng sản lượng nông
nghiệp v.v… văn bản chữ Hán đã nói ở trên và một số tờ lệnh chỉ thời
Tây Sơn còn giữ được đã chứng minh điều này. Về mặt văn hóa, việc sửa
sang đình chùa, đúc chuông, dựng bia thời Tây Sơn không chỉ có ý nghĩa
về mặt văn hóa mà thể hiện rõ quan điểm của chính quyền Tây Sơn về lĩnh
vực tôn giáo tín ngưỡng, đó cũng chính là đường lối chính trị đúng đắn
của nhà Tây Sơn trong giai đoạn này.
Con dấu thời Cảnh Thịnh còn lưu lại trên loại hình sắc phong thần và
sắc phong cho tướng lĩnh có công lớn đương thời. Hiện nay ở một số điểm
di tích ở đồng bằng Bắc Bộ còn lưu giữ sắc phong triều Cảnh Thịnh, trên
sắc phong ở dòng ghi niên đại có hình dấu son lớn hình vuông, kích
thước 15,2x15,2cm, bên trong là 4 chữ Triện Tiên nhu chi bảo (秈柔之寶)
viền ngoài dấu để đậm 2,2cm. Ở bản sắc phong thần thôn Yên Việt, xã Nam
Phù Liệt, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam thượng, trên
dòng ghi niên hiệu ngày tháng Cảnh Thịnh tứ niên ngũ nguyệt nhị thập
nhất nhật (Ngày 21 tháng 5 năm Cảnh Thịnh thứ 4 [1795]) có hình dấu son
Tiên nhu chi bảo. So sánh với dấu Tiên nhu chi bảo ở sắc phong triều
Quang Trung trên chúng tôi thấy dấu có kích thước, bố cục, tự dạng và
nội dung giống nhau. Chúng được đóng ra từ một quả ấn. Đối chiếu dấu ở
sắc phong này với các hình dấu ở nhiều bản sắc phong triều Quang Trung,
Cảnh Thịnh và Bảo Hưng, chúng tôi khẳng định rằng dấu Tiên nhu chi bảo
là con dấu chuyên đóng trên sắc phong thần thời Tây Sơn. (H. 87)

Hiện nay tại Bảo tàng Quang Trung, Bình Định còn giữ được một số tài
liệu thời Tây Sơn trong đó có sắc phong cho tướng lĩnh có công lao. Các
văn bản này đã bị rách ố, nhưng vẫn giữ được cơ bản phần nội dung chữ
Hán và phần quan trọng là dòng ghi niên đại và hình dấu. Văn bản thứ
nhất, chất liệu giấy dó cũ, chữ Hán viết chân đã bị rách phần đầu và
dưới chân văn bản. Những chữ cuối cùng phần chính văn là “Khâm tai cố
sắc”( 欽哉故敕) đã chứng tỏ đây là một bản sắc phong. Dòng niên đại có 10
chữ Cảnh Thịnh tứ niên nhị nguyệt nhị thập tứ nhật (景盛四年二月二十四日) (Ngày
24 tháng 2 năm Cảnh Thịnh thứ 4 [1795]). Một hình dấu son đỏ đóng ở
dòng niên hiệu. Dấu hình vuông. Bốn chữ Triện trong dấu là Sắc mệnh chi
bảo (敕命之寶). Những chữ còn lại trên văn bản cho ta thấy đây là một bản
sắc phong cho viên quan chỉ huy vệ thứ ba đạo Hổ dực là Nguyễn Đăng Lâm
làm chức Hộ quân sứ tước Phú Nhuận hầu năm Cảnh Thịnh thứ 4 (1795). (H.
88 a,b)

Văn bản này là cứ liệu chứng minh cho tư liệu của cụ Hoa Bằng đã nói
trên là sắc phong cho Phan Huy Ích triều Quang Trung có dùng dấu Sắc
mệnh chi bảo là hoàn toàn chính xác. Thời Tây Sơn (triều Quang Trung và
Cảnh Thịnh) dùng ấn Sắc mệnh chi bảo đóng trên sắc phong cho quan lại
tướng lĩnh có công. Đồng thời xem xét một số tài liệu còn lại ở Bào
tàng Quang Trung, Bình Định qua ảnh chụp chúng tôi thấy có hai văn bản
liên quan đến việc phong chức cho quan tướng thời Tây Sơn.
Văn bản thứ nhất giấy dó đã ố vàng, bị rách xung quanh, chính văn có 4
dòng chữ Hán và dòng đầu có 5 chữ viết rất to là Thống soái thiếu
truyền công (統帥少傳公) (chức Thống soái tước Thiếu Truyền công). Dòng niên
đại có 10 chữ Cảnh Thịnh bát niên tứ nguyệt nhị thập nhị nhật
(景盛八年四月二十二日) (Ngày 22 tháng 4 năm Cảnh Thịnh thứ 8 [1799]). Đoạn ghi
ngày tháng có hình một dấu son lớn hình vuông, bên trong là 4 chữ
Triện, nét chữ kéo dài nhiều nét gấp khúc. Đó là 4 chữ Thiếu truyền chi
ấn (少傳之印) (ấn của Thiếu Truyền công). Trên văn bản còn các hình dấu
Kiềm khác gồm 2 hình dấu kiềm bầu dục lõm cạnh giống nhau đóng trên 2
chữ “Khâm phó” (欽付) ở đầu và cuối phần chính văn. Một dấu Kiềm chữ nhật
đứng đóng chỗ tên chức tước, một dấu kiềm bầu dục đóng chỗ xuống dòng.
Vì văn bản bị ố mờ còn các hình dấu Kiềm bị quá mờ và nhỏ (ảnh chụp)
nên chúng tôi không thể chân hóa được chữ Triện trong dấu. Nội dung tạm
gọi đây là bản “Khâm phó” (欽付) của một viên Thống soái tước Thiếu
Truyền công khâm mệnh trao phong tước cho viên tướng Nguyễn Đăng Lâm
chức Đô ty (都司), tước Phú Lộc hầu (富祿侯) vì có nhiều công lao trong
chiến trận… Nguyễn Đăng Lâm năm Cảnh Thịnh thứ 4 (1795) đã được phong
chức Hộ quân sứ, tước Phú Nhuận hầu. (H. 89)

Văn bản thứ 2 giấy dó ố vàng bị rách thủng nhiều chỗ, chính văn có 5
dòng chữ Hán với dòng đầu cũng viết 5 chữ Thống soái thiếu truyền công
(統帥少傳公) (chức Thống soái tước Thiếu Truyền công). Dòng niên đại có 10
chữ Cảnh Thịnh cửu niên ngũ nguyệt nhị thập nhị nhật (景盛九年五月二十二日) (Ngày
22 tháng 5 năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1800). Đoạn ghi ngày tháng có dấu son
hình vuông giống như văn bản trên, với 4 chữ Triện trong dấu là Thiếu
truyền chi ấn (少傳之印) (ấn của Thiếu Truyền công). Trên văn bản còn có 5
hình dấu Kiềm khác đóng ra từ 3 Kiềm ấn ở vị trí ghi tên riêng, tên
chức vụ, chữ “Khâm phó” và cuối dòng. Cũng vì các dấu Kiềm quá mờ và
nhỏ nên chúng tôi cũng không thể chân hóa được chỉ thấy hình thức của 5
dấu Kiềm này cũng giống như các dấu Kiềm ở văn bản trên. Nội dung cũng
tương tự văn bản trên, đây là bản “Khâm phó” của viên Thống soái tước
Thiếu Truyền công khâm mệnh trao phong chức cho viên Điển sự[151] Trần
Bá Hữu chức Tư vụ (司務)[152] ở bộ Hộ vì đã đóng góp nhiều công sức trong
công vụ (H. 90)

Ở hai văn bản này dòng đầu đều có 5 chữ “Thống soái Thiếu Truyền công”,
cỡ chữ viết lớn hơn phần chính văn. Hai hình dấu lớn trên hai văn bản
có hình thức, kích cỡ, bố cục và tự dạng chữ Triện trong dấu giống nhau
hoàn toàn là 4 chữ Thiếu truyền chi ấn. Ngoài ra vị trí đóng dấu và màu
mực của hai con dấu trên cũng giống nhau. Đây là con dấu của viên Thống
soái Thiếu Truyền công in trên văn bản thăng chức cho thuộc hạ cấp
dưới. Con dấu này không ghi chức vụ mà lại ghi tước vị, đó là trường
hợp ít thấy trong hệ thống ấn triện của các triều đại phong kiến Việt
Nam. Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cũng gặp một số trường hợp
ghi tước vị trong dấu nhưng thường là ghi đầy đủ cả chữ công hoặc hầu
chứ không ghi tắt như ấn dấu trên. Tài liệu ghi việc chức tước thời Tây
Sơn không có, nên việc tra tìm viên Thống soái Thiếu truyền công trên
là ai ? Chức năng nhiệm vụ như thế nào ? v.v… là vấn đề còn bỏ ngỏ. Ở
đây chỉ cho ta thông tin thêm về tên quan chức tướng lĩnh và tước vị
đời Cảnh Thịnh nói riêng và thời Tây Sơn nói chung. 2. Hình dấu trên văn bản Hán Nôm triều Bảo Hưng
Hình dấu cuối cùng trên văn bản Hán Nôm thời Tây Sơn được trình bày
dưới đây có niên đại Bảo Hưng năm thứ 2. Tài liệu này được viết bằng
chữ Hán lối Chân trên giấy bản cũ, dòng đầu đã bị rách hẳn, phần dưới
văn bản cũng bị rách nên có 4 dòng bị mất những chữ cuối. Toàn văn có 7
dòng, khoảng trên dưới 100 chữ. Dòng niên đại có 9 chữ Bảo Hưng nhị
niên nhị nguyệt thập tứ nhật 寶興二年二月十四日(Ngày 14 tháng 2 năm Bảo Hưng thứ
2 [1802]). Dưới chữ niên đại là một hình dấu son hình vuông. Trong dấu
là 5 chữ Triện xếp theo bố cục 2 hàng, hàng đầu 3 chữ, hàng 2 có 2 chữ.
Bố cục chữ Triện ở con dấu này chúng tôi ít thấy có trong dấu của các
vương triều trước và sau thời Cảnh Thịnh - Tây Sơn. Năm chữ Triện trong
dấu là Đại tư mã chi ấn (大司馬之印) (ấn của chức Đại Tư mã).
Chính văn có hình 4 dấu Kiềm cỡ nhỏ và 1 dấu Kiềm rất nhỏ, chúng đều có
hình bầu dục. Vị trí 4 dấu Kiềm nhỏ đóng trên chỗ viết tước vị (Tây
Lĩnh hầu), tên địa danh (Thanh Hoa nội), trên 2 chữ “Từ phó” ở cuối văn
bản và trên giữa trang giấy (giáp phùng). Dấu Kiềm rất nhỏ đóng ở chữ
cuối cùng…

Vì văn bản chụp lại rất nhỏ nên các dấu Kiềm trên có kích thước nhỏ,
nét chữ Triện nhỏ và mờ nên việc chân hoá khó khăn. Tuy nhiên qua kính
phóng, ghép nét chữ chúng tôi khẳng định chữ Triện trong dấu Kiềm rất
nhỏ là chữ “Tín” (信). Còn 4 dấu Kiềm nhỏ cũng được khẳng định là đóng
ra từ 1 con dấu và 2 chữ Triện trong dấu là 2 chữ “Tín chương” (信章) xếp
theo bố cục chiều dọc trên xuống dưới. (H. 91)
Nội dung văn bản là lời kêu gọi những dân phiêu tán trước đây vì nạn
binh hỏa nghèo đói phải bỏ ruộng đồng quê quán, nay nên quay về với
làng quê ruộng vườn. Đồng thời hô hào các đinh tráng còn sức đến đầu
quân ở Thanh Hoa nội trấn gắng sức lập công. Hình dấu Đại tư mã chi ấn
trên dòng niên đại chứng tỏ đây là ấn tín của chức Đại Tư mã, một chức
vụ lớn thời Tây Sơn. Qua đối chiếu hình dấu, nội dung văn bản với sách
sử chúng tôi đã tìm được chủ nhân của con dấu này. Sử ghi rằng năm 1801
sau khi bị mất Phú Xuân, Quang Toản chạy ra Bắc cùng Quang Thùy và các
tướng lĩnh tập trung lực lượng đồng thời ổn định lại tình hình Bắc Hà.
Cuối năm 1801, Quang Toản phong Phan Huy Ích làm Thượng thư bộ Lễ,
Nguyễn Thế Lịch làm Thượng thư bộ Lại và sai Đại Tư mã Nguyễn Văn Tứ hô
hào thu nạp thêm nghĩa binh, lương thảo…[153] Nguyễn Văn Tứ đã gửi văn
bản xuống các địa phương thuộc trấn Thanh Hoa, trên văn bản có đóng dấu
Đại tư mã chi ấn. May mắn là văn bản này còn được cất giữ trong dân
gian không bị tiêu hủy, nó là tài liệu cuối cùng ghi về vương triều Tây
Sơn với niên hiệu cuối cùng Bảo Hưng.
Nguyễn Văn Tứ trước đời Cảnh Thịnh còn giữ chức quan thấp, khi Quang
Toản lên ngôi, một số đại thần tướng lĩnh đã chết như Trần Văn Kỷ… hoặc
bỏ Tây Sơn theo Nguyễn Ánh như Ngô Văn Sở, Lê Chất… Riêng Nguyễn Văn Tứ
có lòng trung, Quang Toản cất nhắc tin dùng cho giúp Quang Thùy coi Bắc
Hà. Sau thăng làm Đại Tư mã trấn giữ Thanh Hóa Cuối đời Bảo Hưng được
Quang Toản phong làm Tứ Quận công. Khi Nguyễn Ánh đánh đến Thanh Hóa,
Nguyễn Văn Tứ chống không nổi thua chạy rồi bị bắt và bị giết.
|