Tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê về bán đảo Ả Rập, chương III.
[B][CENTER]Phần thứ nhì ĐẾ QUỐC CỦA HỒI GIÁO
(Từ thế kỷ thứ VII tới Thế chiến thứ I)[/CENTER][/B]
[B]CHƯƠNG III: MOHAMED VÀ HỒI GIÁO MOHAMED SÁNG LẬP HỒI GIÁO[/B]
Trong khi tại phía bắc bán đảo mấy nền văn minh chiếu ra rực rỡ thì
lòng bán đảo vẫn thiêm thiếp ngủ dưới ánh nắng gay gắt của sa mạc. Lâu
lâu một thương nhân từ Ấn Độ chở ngà voi, hương liệu, đồ vàng chạm trổ
lại Tyr hoặc Byblos, tả cảnh các vương quốc họ đi qua, các thị trấn nấp
sau các đồi cát cho thổ dân nghe. Các nhà bác học Ai Cập, Hy Lạp vội
vàng ghi chép lại, và trong bộ Địa lý của Ptolémée, ta thấy ông bảo
miền "Ả Rập sung sướng" (Arabie heureuse) có 170 thành lũy, 6 thủ đô, 5
thị trấn...
Hoàng đế Auguste muốn biết cho rõ hơn, phái một viên tướng đem quân vào
sâu trong bán đảo, chiếm các thành lũy, thị trấn đó (năm 24 TCN.). Đạo
quân đó chết mất bộn vì thiếu nước uống, chiu nóng không nổi, phơi thây
trên sa mạc, làm mồi cho kên kên; còn một số trở về được, kể lại rằng
chỉ thấy toàn là cát với vài bộ lạc dã man, không ra hình con người. Từ
đó La Mã bỏ cái ý làm chủ bán đảo, mà dân tộc Ả Rập nhờ được sa mạc che
chở, yên ổn sống, tuy cực khổ, nhưng tự do, quá tự do, đến nỗi hóa ra
rời rạc, vô kỷ luật.
Họ là dân du mục dắt một bầy súc vật đi lang thang kiếm cỏ, thường đánh
phá các vùng lân cận hoặc cướp giựt các thương đội. Một số ít quây quần
chung quanh một cái giếng ở giữa một ốc đảo hay ở bờ biển, cất chòi,
trồng chà là hoặc kê, lúa.
Đến đầu thế kỷ thứ VII SCN, họ chưa thành một lực lượng đáng kể. Trên
các con đường chánh các thương đội thường qua lại, họ dựng những thị
trấn vào cỡ trung bình, lớn nhất là Médine (15.000 người) và La Mecque
(25.000 người), cả hai đều ở trên đường từ Hồng Hải qua châu Á.
Họ vốn theo đạo đa thần, mỗi bộ lạc thờ một vị thần khác nhau, nhưng
tất cả đều coi thành La Mecque là chỗ lễ bái chung. Tại đây có một ngôi
đền cũ gọi là Kaaba làm toàn bằng đá đen, trong đó thờ một mảnh vẫn
thiết (một mảnh tinh tú trên không rơi xuống). Mảnh vẫn thiết ấy được
coi là vị thần tối cao đứng đầu các thần Ả Rập. Đền Kaaba do một họ có
uy thế nhất, họ Coréischite canh giữ. Mohamed[3], vị sáng lập Hồi giáo
thuộc dòng họ đó.
Mohamed, thuộc dòng dõi Abdallah, sanh năm 570 ở quanh vùng La Mecque,
trong một gia đình nghèo[4]. Thuở nhỏ ông chăn cừu rồi làm hướng đạo
cho các thương đội qua sa mạc, đi khắp nơi này nơi khác. Về sau giúp
việc cho một quả phụ giàu có, buôn bán lớn, và may mắn được cô chủ để ý
tới, thế là nghiễm nhiên thành ông chủ. Từ đó ông chấm dứt cuộc phiêu
lưu, nhưng vẫn sống tầm thường như mọi người, chưa tỏ ra dấu hiệu gì
siêu quần.
Mãi tới bốn mươi tuổi, ông mới có những cử chỉ khác thường và đề xướng
một tôn giáo thờ một thần duy nhất. Ông có ý thống nhất dân tộc Ả Rập,
mà muốn vậy thì bước đầu phải thuyết phục các bộ lạc cùng thờ chung một
vị thần, cùng tuân lời một vị giáo chủ thôi. Tôn giáo trong tay ông sẽ
là chất hồ gắn các bộ lạc rời rạc lại thành một khối. Luôn trong mười
năm, ông bỏ công việc làm ăn buôn bán mà lo thực hiện mộng đó, đi khắp
nơi thuyết phục đồng bào. Bọn phú hào La Mecque thấy ông gây được ảnh
hưởng trong đám dân nghèo, có ý lo sợ, biết ông giảng đạo ở đâu thì sai
người phá đám, chửi mắng, hành hung nữa. Lúc ấy tình hình thị trấn
Médine không được yên, các cuộc xung đột thường xảy ra. Dân chúng, khi
đến hành lễ ở La Mecque, nghe ông thuyết, muốn theo ông, bỏ lối thờ
cúng đa thần và mời ông tới Médine.
Ông không đi vội, luôn trong hai năm chỉ phái tín đồ tới thôi. Hồi nhỏ,
vì dân thương đội qua SYRIE, ông gặp một giáo sỹ Ki Tô và theo đạo này;
khi tới Médine, gần người Do Thái, ông chịu thêm ảnh hưởng của đạo Do
Thái. Thành thử Hồi giáo là sự hỗn hợp của hai đạo Ki Tô và Do Thái,
cũng thờ một vị thần duy nhất mà ông gọi là Allah. Giáo điều căn bản
tóm tắt trong câu này: Chỉ có một đức Chúa duy nhất là Allah và một vị
tiên tri của Ngài là Mohamed, tức chính ông.
Tín đồ phải phục tùng ý muốn của Allah, sự phục tùng ấy gọi là Islam,
cho nên Hồi giáo có tên là lslam. Khi chết, con người chịu sự phán
quyết của Allah.
Giáo lý Hồi giáo gồm nhiều cuộc đàm thoại của ông do tín đồ chép lại
trong thánh kinh Coran. Kinh này không những giảng về đức tin, mà còn
dạy về khoa học, luật pháp và vệ sinh nữa.
Cách cúng tế cũng giản dị như giáo điều. Tín đồ chỉ cần theo bốn điều:
mỗi ngày cầu nguyện năm lần; phải tắm rửa trước khi cầu nguyện (ở sa
mạc không có nước thì tắm bằng cát); trong đời ít nhất phải hành hương
ở La Mecque một lần; phải cữ rượu và thịt heo. Điều đặc biệt nhất, trái
hẳn với Ki Tô giáo, nhưng rất giống Do Thái giáo là điều này: người nào
chịu chiến đấu vì Allah thì được lên Thiên đàng.
Đây, ta thử so sánh ít đoạn trong kinh Coran và trong Cựu Ước
Kinh Coran, lời Mohamed:
"Ta sẽ gieo khủng bố vào lòng những kẻ không thừa nhận (tôn giáo ta) vì
những kẻ ấy gán cho Chúa (Allah) những ý xấu mà họ không đưa ra được
bằng chứng...".[5]
- "Từ nay ta sẽ sống và chết với các ngươi (tức đồ đệ của Mohamed), đời
ta là đời của các ngươi, máu của các người là máu của ta, các ngươi
thua là ta thua, các ngươi thắng là ta thắng".
- và "hễ tụi dị giáo tấn công các ngươi thì các ngươi sẽ tắm trong máu của chúng".[6]
CỰU UỚC
- "Ngươi phải diệt tất cả các dân tộc mà Jahvé, Đức Chúa Trời sắp giao
cho ngươi, mắt ngươi đừng đoái thương chúng và người đừng phụng sự các
thần của chúng".
(Sách Luật lệ ký[7], chương 17, tiết 16)
- khi Jahvé, Đức Chúa Trời của ngươi đã dẫn ngươi vô cái xứ mà ngươi sẽ
làm chủ, và đuổi khỏi trước mặt ngươi nhiều dân tộc, tức những dân tộc
Hê Tít, GHi Rê Ga Sít, A Mô Nít, Ca Na An, Phê Rê Sít, Hê Vít và và Giê
Bu Sít, hết thảy bảy dân tộc đông và mạnh hơn ngươi; khi Jahvé, Đức
Chúa Trời đã giao phó những dân tộc đó cho ngươi và ngươi đã đánh bại
chúng, thì ngươi phải diệt chúng hết đi, đừng kết liên với chúng mà
cũng đừng thương xót chúng. Ngươi đừng kết sui với chúng, đừng gả con
gái cho con trai chúng, đừng cưới con gái chúng cho con trai mình, vì
chúng sẽ dụ con trai ngươi lìa bỏ ta, mà phụng sự các thần khác, mà cơn
thịnh nộ của Chúa Trời sẽ bùng lên mà diệt ngươi trong nháy mắt đấy.
Trái lại, ngươi phải đối với bọn chúng như vầy: lật đổ bàn thờ của
chúng đi, đập tan tượng thần của chúng đi, hạ các ngẫu tượng của chúng
xuống, đốt những hình chạm của chúng cho hết.
"Vì đối với Jahvé, Đức Chúa Trời, thì người là một dân tộc thánh; Ngài
đã lựa ngươi làm một dân tộc thuộc riêng về Ngài trong số tất cả các
dân tộc trên mặt đất...".
(Sách Luật lệ ký - Chương 17)
Mohamed rất hiểu tâm lý đồng bào của ông. Đời sống cực khổ, phóng
khoáng trong sa mạc, khí hậu có những lúc tương phản nhau quá mạnh đã
tạo cho họ một tinh thần chiến đấu, hung hăng, và một quan niệm rất đơn
sơ về sự vật. Chỉ có phải và trái, tin và không tin, sùng bái hay không
sùng bái. Chỉ có trắng với đen, không có cái gì mờ mờ xam xám.
Cho nên ông phân biệt hai hạng người cho họ nhận định: một hạng là
người Ả Rập thờ Allah, được Allah khải thị, một hạng là bọn không thờ
Allah. Bổn phận của hạng người thứ nhất là phải thuyết phục hạng thứ
nhì cải giáo mà thờ Allah, nếu không thì diệt cho hết chứ đừng thương
xót. Đồng bào ông vốn chất phác, thuyết lý cao xa với họ thì khó có
công hiệu, chỉ cần giảng cho họ đạo thường ngày, thực tế; nhưng trước
hết muốn cho họ tin Allah, phải cho họ thấy rằng thờ phụng Allah thì sẽ
thắng trận, rằng quân lính của Allah sẽ bách chiến bách thắng.
Moĩse xưa cũng đã nghĩ như vậy, cũng muốn cho dân tộc Hébreu chinh phục
được khắp miền Tây Á, từ sông Nil tới hai con sông Tigre và Euphrate,
nhưng ông và các người kế vị ông chỉ thắng được vài bộ lạc nhỏ mà làm
chủ được Canaan (tức Palestine), rồi thì vong quốc. Nguyên do có lẽ tại
dân tộc Hébreu chưa đủ lực lượng mà các dân tộc Assyrie, Chaldée lại
mạnh quá. Cũng có thể do ông không biết tổ chức quân đội. Mohamed chịu
ảnh hưởng của ông, và khéo tổ chức hơn, gặp thời cơ thuận tiện hơn nên
thành công. Mohamed bảo tín đồ ràng cầm khí giới diệt ngoại đạo là một
bổn phận thiêng liêng đối với Allah. Chỉ trừ đàn bà, con nít còn thì
hết thảy phải ra trận, dù đui mù, tàn tật cũng không được miễn. Mà đàn
bà cũng không được miễn hẳn nữa, cũng phải cầm gươm chực sẵn, hễ thấy
một tín đồ nào đào tẩu thì phải đâm cho lòi ruột ra. Vì trong tất cả
các tội, không tội nào nặng bằng tội đào tẩu. Kinh Coran đã bảo: "Thiên
đường ở trước mặt các người, mà Địa ngục ở sau lưng các ngươi."
Cứ xông tới chiến đấu với địch, nếu thắng thì sẽ chiếm được đất cát,
vườn tược, dê bò, vợ con của địch, mà được hưởng ngay cảnh Thiên đường
trên hạ giới; nếu bị địch giết thì sẽ được hưởng cảnh Thiên đường ở bên
cạnh Allah, còn sướng hơn tất cả những cảnh trên hạ giới nữa: sữa thì
ngọt, mật thì thơm, hoa quả không thiếu thứ gì mà các nàng tiên thì mắt
đen lay láy, môi như san hô, yểu điệu thướt tha trong những chiếc áo
long lanh vàng ngọc, nửa kín nửa hở, trông mà mê hồn. Tiến tới phía
trước thì sẽ sung sướng như vậy, mà lùi lại phía sau thì nhất định là
không đứt đầu cũng lủng ruột mà thây sẽ liệng cho kên kên, cả nhà đều
mang tiếng nhục.
Cái tài của Mohamed không phải chỉ tìm ra được câu bất hủ: “Thiên đường
ở trước mặt, Địa ngục ở sau lưng" mà còn ở chỗ tổ chức tỷ mỉ, đi thẳng
vào thực tế, đặt ra một đạo luật cho chiến sỹ thấy cái Thiên đường ở
trước mặt đó sẽ ra sao: chiến lợi phẩm sẽ chia làm năm phần: bốn phần
dành cho chiến sỹ, một phần cho các thi sỹ, luân lý gia, giáo viên nào
có công ca tụng chiến công anh dũng của sỹ tốt, khơi lòng căm thù quân
ngoại đạo, nung lòng hy sinh tất cả cho Chúa. Ông lại định rõ kỷ luật
trong trại: binh sỹ tuyệt nhiên không được đánh bạc, chơi phiếm, nói
chuyện tầm phào. Lúc nào không chiến đấu thì tụng kinh Coran. Ăn uống
kham khổ, dĩ nhiên không được uống rượu. Khi nhập ngũ, mỗi kị binh phải
dắt theo ngựa của mình, đem theo khí giới của mình và lương thực cũng
của nhà mình, đủ ăn trong một tuần. Vì nhập ngũ là một vinh dự, những
kẻ nào bê bối, thiếu tinh thần hy sinh sẽ bị gạt bỏ:
"Quân kỳ của chúng ta phải rực rỡ, không có một vết dơ!". Vì nó là lá cờ truyền đạo Allah. [B]MOHAMED THỐNG NHẤT Ả RẬP[/B]
Sau mười năm hô hào thánh chiến, năm 621, đã ngoài ngũ tuần, ông mới
bắt đầu thực hiện mục tiêu. Ông họp các đệ tử ở tỉnh Akaba, hỏi ý kiến
họ, họ thề sẽ trung thành với ông và chiến đấu tới chết để truyền bá
đạo.
Ông bảo họ:
- "Từ nay ta sẽ sống chết với các ngươi. Ai chết vì ta thì sẽ được lên Thiên đường".
Khoảng bốn chục đệ tử thành lập một "Ikwan", một đoàn chiến sỹ sống chết có nhau. Lần lần số chiến sỹ tăng lên hai trăm.
Hồi đó các bộ lạc Ả Rập đã có khuynh hướng thống nhất rồi. Trước
Mohamed, một vọng tộc ở Hedjaz, trong bộ lạc Coréischite, đã bắt đầu
thực hiện được một chút thống nhất về chính trị, tổ chức sự cai trị và
sự tế tự ở La Mequec, nắm được nhiều địa vị quan trọng trong xứ nhờ một
chính sách ôn hòa có tính cách ngoại giao nhiều hơn là chiến đấu: cho
mọi bộ lạc tự ý dựng tượng thần ở Kaaba, tự do thờ phụng, giúp đỡ tiền
bạc, phân phối chức tước cho họ.
Mohamed ngược lại, bảo rằng chỉ có một vị thần chung cho mọi người Ả
Rập, và chỉ có mỗi một vị tiên tri là ông. Bộ lạc Coréschite nổi lên
định thủ tiêu ông, ông phải trốn khỏi La Mecque đúng cái đêm thích
khách lại ám sát ông.
Người Hồi giáo gọi sự bôn tẩu này là Hégire và dùng năm đó, năm 622 để
mở đầu kỷ nguyên Hồi giáo. Hiện nay lịch của họ vẫn còn dùng kỷ nguyên
ấy.
Hai năm sau, thấy đạo quân của mình đã đủ mạnh, ông dắt 311 bộ binh và
3 kị binh thình lình tấn công bộ lạc Coréischite và toàn thắng ở
Beder[8]. Chiến thắng đầu tiên đó làm cho tín đồ càng tin ông, và nhiều
người trước kia do dự, nay tình nguyện theo ông, chỉ trong ít tháng ông
có được 1.500 kị binh.
Để trả đũa, bộ lạc Coréschite liên kết với 12 bộ lạc khác, đem mười
ngàn quân tới bao vây Médine. Mohamed không nghinh chiến, mà xây thành
đào hào để cố thủ. Lối phòng thủ ấy quân La Mecque cho là hèn nhát. Họ
ngày ngày lại dưới chân thành chửi bới nhục mạ thậm tệ, Mohamed nhẫn
nhục chịu đựng. Mùa mưa tới, địch không có chỗ ẩn náu; lương thực cạn
dần, nấu nướng lại khó. Mọi người đều ngã lòng, ý kiến lại xung đột.
Không bao lâu 10.000 quân ô hợp của La Mecque tự tan rã như cát bay
trong cơn lốc (năm 627).
Họ rút lui hết rồi, Mohamed mới kéo quân tới mấy thị trấn nhỏ gần
Médine, kể tội dân Do Thái ở đó đã theo địch; ông giết hết 900 người
đàn ông, còn đàn bà trẻ con thì bán làm nô lệ.
Ông ký kết một cuộc ngưng chiến là mười năm với bộ lạc Coréischite rồi
tấn công các thương đội Do Thái, chiếm Khaibar, Fadac, Wadil Cora,
Taima. Thấy được Allah phù hộ, ông dắt theo hai ngàn kị binh hiên ngang
hành hương ở La Mecque. Danh ông vang lừng khắp miền Hedjaz. Các bộ lạc
ở Nedjd nhận ông làm "lãnh tụ Ả Rập", xin được theo ông trong các chiến
dịch.
Bộ lạc Coréischite thấy vậy càng tức, phá hiệp ước đình chiến; ông đem
mười ngàn kị binh tới chân thành La Mecque. Một số đông dân cư trong
thành hoảng sợ, bỏ trốn ra ngoài, còn quân lính giữ thành do Abou
Sophian chỉ huy không chiến đấu mà đầu hàng (630). Abou Sophian còn xin
dâng một người con trai để làm đệ tử Mohamed. Chính người con đó,
Moawiah, sau thành một danh tướng trong đạo quân Hồi giáo và sáng lập
giòng vua Ommeyade.
Nhận sự đầu hàng của Abou Sophian rồi, ông vào đền, lật đổ hết các
tượng thần, phá hủy hết các bàn thờ dị giáo, bảo: "Ánh sáng đã hiện thì
bóng tối phải lui!". Uy tín ông lúc này càng tăng, quân đội càng hăng
hái chiến đấu vì tin rằng quả thực Allah che chở ông. Ngay bộ lạc
Coréỉschite cũng theo Hồi giáo.
Từ khắp nơi trong bán đảo, các bộ lạc lại La Mecque để tỏ lòng trung
thành với Giáo chủ. Các tù trưởng Taif, Hadramaout, Oman, Hasa Banrein,
Hail đều nguyện theo đúng kinh Coran, gởi binh sỹ lại để gia nhập đạo
quân Ikwan. Bộ lạc Yemen còn trù trừ, Mohamed phái một tướng đem quân
tới trừng phạt.
Tới cuối năm 631, danh vọng ông tới tột đỉnh, quyền hành lan khắp bán
đảo, kinh Coran được truyền bá khắp nơi. Mọi người sợ ông như sợ Chúa
Allah. Chưa bao giờ ở Ả Rập một quốc vương được tôn sùng như ông.
Sở dĩ ông thành công là nhờ xã hội Ả Rập lúc ấy đã tới một trình độ mà
tôn giáo đa thần không thích hợp với sự tiến hóa nữa. Các giống dân du
mục đã bắt đầu định cư và ranh giới giữa các bộ lạc đã bắt đầu bị xóa
bỏ; các giống dân phải hòa hợp với nhau để tạo thành một quốc gia mạnh
hơn có một nền kinh tế thống nhất, một đạo quân hùng cường chống nổi
ngoại xâm.
Ngoài lý do xã hội và lịch sử ấy, ta có thể kể thêm tính cách chiến đấu
mạnh mẽ của quân lkwan, họ nhất quyết đánh ngã đối phương bằng mọi
phương tiện, kể cả phương tiện khủng bố.
Tính cách đó, chính Mohamed tạo ra cho họ.
Lý do thứ ba là tính tình của vị giáo chủ Mohamed vừa có tài ngoại
giao, vừa có nhiều thủ đoạn, biết tùy lúc dùng võ lực hay điều đình,
tấn công hay nhượng bộ; nghĩa là có đủ tư cách của "một quốc vương Ả
Rập".
Đối với sỹ tốt, ông dùng thuật tâm lý, những lời lẽ bóng bảy, để kích
thích óc tưởng tượng và lòng tin của họ. Ngồi một chiếc ghế thô sơ,
dưới gốc một cây chà là, ông thân mật giảng kinh Coran cho họ rồi bảo:
- Khi ta bị vây ở Médine, đích thân ta cầm cái cuốc để đào hào. Lưỡi
cuốc làm tóe ra ba tia lửa: tia lửa thứ nhất báo rằng Yemen sẽ thần
phục ta; tia thứ nhì báo rằng Ba Tư và phương Đông sẽ bị xâm chiếm; tia
thứ ba sẽ ứng vào Ai Cập và phương Tây. Biết bao chiến thắng vẻ vang
chờ đợi các binh sỹ của ta.
Yemen đã chiếm được một cách rất dễ dàng thì ai mà không tin ràng hai
điều sau sẽ ứng nốt. Ở giữa sa mạc khô cháy mà tưởng tượng cái ngày vào
Damas, Bagdad chiếm những của cải tích luỹ ở đó cả ngàn năm, bắt cóc
các nàng tiên trong các vườn hồng, vườn cam thì lòng ai mà chẳng phấn
khởi.
Ông sai thảo các bức thư gởi cho các "quốc vương trên mặt đất ", bảo họ
có muốn khỏi bị tiêu diệt thì mau mau theo Hồi giáo đi. Nhưng các sứ
giả của ông bị coi thường. Tên tù trưởng Ả Rập nào mà dám ăn nói lỗ
mãng như vậy kìa? Nó chưa ra khỏi sa mạc, chưa biết Quốc vương Ba Tư ra
sao mà! Chosróè II, vua Ba Tư, xé bức thư của Mohamed. Mohamed quát:
"Vương quốc của nó sẽ tan tành cho mà coi?". Quốc vương Damas cũng đáp bằng một giọng khinh bỉ, bảo có gan thì cứ kéo quân tới.
Ông lại hành hương ở La Mecque lần cuối cùng rồi trở về Médine, gom tất
cả quân đội, được 140.000 người, tính kéo tới Syrie thì bị bệnh và mất
năm 632.
Trước khi lâm chung một năm ông đã rót vào lòng tín đồ những lời dạy
bảo nhân từ mà nghiêm của một vi giáo chủ luôn luôn lo lắng cho cái
trật tự xã hội mà mình mới dựng lên, cần phải củng cố trong một thời
gian lâu
Ông bảo họ:
"Hỡi thần dân, các con hãy nhớ kỹ lời của ta đây, vì không biết năm tới
ta còn sống với các con nữa không. Các con phải biết coi sinh mệnh, tài
sản của đồng loại là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.
"Kẻ làm con thuộc quyền sở hữu của kẻ làm cha. Ai xâm phạm đến luật hôn phối sẽ bị trừng trị.
"Ai nhìn nhận kẻ khác làm cha, coi kẻ khác làm thầy sẽ bị Chúa, bị các thiên thần và bị nhân loại trừng phạt.
"Hỡi thần dân của ta, đàn ông có quyền tuyệt đối với đàn bà và đàn bà
cũng có quyền với đàn ông. Đàn bà không được phạm luật hôn phối, làm
những việc dâm ô. Nếu đàn bà phạm tội, các con có quyển giam họ trong
phòng riêng dùng roi da mà đánh, song đừng đánh mạnh quá. Nếu họ biết
giữ mình thì nên cho họ ăn mặc đầy đủ. Con nên trọng đãi vợ của con, vì
họ là kẻ bị giam cầm trong tay con; họ không có quyền hành gì cả trong
những việc không liên quan đến họ. Con tin lời Chúa mà cưới họ, con
dùng lời Chúa mà ràng buộc họ với con.
"Đối với nô lệ, con dùng thức ăn gì thì cho họ dùng thức ấy; con mặc
thứ vải gì thì cho họ mặc thứ vải ấy. Nếu họ phạm một tội lỗi không thể
tha thứ được thì con nên đem bán họ đi, vì họ là nô lệ của Chúa, con
không nên làm khổ họ".
Không một thánh kinh nào mà thực tế như kinh Coran. Không một giáo chủ
nào mà tổ chức đời sống tín đồ tỷ mỉ như Mohamed, một quốc vương kiêm
quân sự gia, luật gia. Trong xã hội hắc ám thời Trung cổ, loài người
chỉ chực ám hại lẫn nhau, dân tộc này coi dân tộc kia là thù địch,
những lời tầm thường, giản dị mà chân thành đó của ông được dân chúng Ả
Rập rất tin phục. Họ thấy đức chúa tể Allah ông dạy cho họ thờ phụng
tuy đáng sợ mà cũng công bình, bác ái, khác hẳn các vị thần tạp nhạp
trước kia họ cúng vái.
Mohamed trước khi chết giao lại cho các tướng lãnh trách nhiệm "truyền
bá lời dạy của Chúa tới chân trời góc bể". Ông để lại cho họ một xứ Ả
Rập thống nhất, một đạo quân cuồng tín, đã có mười năm kinh nghiệm.
Ước vọng được lên Thiên đường hun đúc trong lòng họ, làm cho nhiệt
huyết của họ bừng bừng, và mười mấy vạn quân đó chỉ đợi lệnh của chủ
tướng để xông tới chinh phục thế giới. |