Tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê về bán đảo Ả Rập, chương V.
CHƯƠNG V: CON BỆNH THỔ VÀ CÁC BÁC SỸ TÂY PHƯƠNG VỚI MUSTAPHA KÉMAL
NAPOLEON có công đánh thức dân tộc Ả Rập không?
Một số học giả Pháp như Henri Jego trong L’Empire arabe troième grand?
(Au fil d’Ariane – 1963), Jacques C.Risler trong L’Islam moderne (Payot
-1963) cho rằng Napoleon đã có công đánh thức dân tộc Ả Rập trong khi
họ đương thiêm thiếp ngủ ở đầu thế kỷ XIX.
Jacques C.Risler đưa ra chứng cứ Bonaparte chỉ ở Ai Cập một thời gian
ngắn mà đã tổ chức được ở đó một nền hành chính tỉnh, một cơ quan tài
chính và nhiều hội đồng dân cử để dân Ai Cập quen với lề lối đại diện.
Ông ta lại lo đến vấn đề giáo dục, khuyến khích dân bản xứ mở nhà in,
sáng lập một nhật báo, tờ Le Courrier d’ Egypte, một tạp chí, tờ La
Décade Egyptienne. Về phương diện kinh tế, ông cho nghiên cứu kế hoạch
dẫn thủy nhập điền “để cho không một giọt nước nào của sông Nil chảy
phí ra biển”.
Hơn nữa, sau chiến dịch Kim tự tháp mấy tuần, ông ta còn thành lập viện
khoa học và nghệ thuật. viện hoạt động đều đều trong ba năm, nhờ các
bác học Pháp: Monge, Bertholler, Fournier, Geoffroy Saint hilaire,
Desgenettes.
Và cũng theo Risler, khi Bonaparte rút quân về rồi, Méhémet Ali được
vua Thổ cử làm thống đốc Ai Cập (hồi đó Ai Cập tuy là thuộc địa của Thổ
nhưng được tương đối tự trị) tiếp tục công việc của Pháp, canh tân quốc
gia theo kiểu châu Âu, dùng các giáo sư và kỹ sư Pháp, thoát li lần lần
ảnh hưởng của Thổ mà gây tinh thần quốc gia, dân tộc tại Ai Cập, tinh
thần mà khối Hồi giáo chưa hề biết.
Dù viết về Ả Rập hay về Trung Hoa, Việt Nam, nhiều học giả Âu Tây đã có
luận điểm như vậy: chính người phương Tây đem cái tinh thần quốc gia,
dân tộc dạy cho người phương Đông, nghĩa là trước khi người phương Tây
tới khai hoá người phương Đông như họ nói, thì người phương Đông không
biết ái quốc, không có tinh thần dân tộc, có lẽ chỉ có vài cái tinh
thần trung quân hoặc tinh thần tôn giáo thôi. Có vẻ như họ muốn bảo:
“Mình khai hóa cho họ để họ chống lại mình, quân vong ân bội nghĩa”.
Riêng về Việt Nam, tôi đã bác luận điểm đó trong bài “Cụ Phan và lòng
dân” trong tập Kỷ niệm 100 năm năm sinh Phan Bội Châu (nhà Trình bày -
1967). Về Ả Rập, tôi xin nhắc các học giả đó rằng Abdul Wahab sinh
trước Napoleon ít gì cũng một thế kỷ, nổi lên chống Thổ từ giữa thế kỷ
XVIII, như vậy thì tinh thần quốc gia, dân tộc của ông ta được người Âu
truyền cho? Không thể bảo ông ta chống Thổ vì tinh thần trung quân vì
lúc đó Ả Rập đâu còn vua, hoặc vì tinh thần tôn giáo vì Thổ cũng theo
Hồi giáo.
Sở dĩ các nhà học giả Âu tây đó có luận điệu trên là vì họ chỉ nhìn
thấy cái bề ngoài. Hễ người phương Tây đặt chân tới miền nào ở phương
Đông là luôn luôn tìm cách thôn tính; hiểu dã tâm đó của họ, người
phương Đông luôn luôn phản ứng lại mạnh mẽ, do đó tinh thần quốc gia,
dân tộc cố hữu – tôi nhắc lại: cố hữu – bùng lên, mạnh hơn bao giờ hết;
và người phương Tây thấy mình tới một tí lâu rồi nó bùng lên, cái tinh
thần đó cho dân phương Đông. Họ ngây thơ như một em bé thổi vào một cục
than đương âm ỉ có lớp tro ở ngoài, thấy nó đỏ rực lên, vỗ tay reo rằng
mình đã tạo lửa.
Rishler dẫn chứng ở trên rằng Napoleon muốn khai hóa dân tộc Ai Cập.
Chúng ta không chối cãi điều đó. Nhưng chính Napoleon cũng đã nói: “Ở
Châu Âu không còn gì để làm nữa cả, muốn dựng sự nghiệp lớn thì phải
qua phương Đông”. Sự nghiệp đó sự nghiệp gì ? Là chặn con đường của Anh
qua Ấn độ, nghĩa là chiếm cả Ai Cập và Tây Á. Khi bị đày ở đảo Thánh
Hélène, ông ta còn tâm sự với Las Cases: “Đáng lý ra tôi phải cùng với
Nga chia đôi đế quốc Thổ. Tôi đã mấy lần bàn với Alexander (tức hoàng
đế Nga). Nhưng Constantinople đã luôn luôn cứu nước Thổ. Kinh đô đó làm
cho mọi người lúng túng... Nga muốn chiếm nó. Tôi không thể để cho họ
chiếm nó được. Chiếc chìa khoá quý giá. Một mình nó cũng bằng cả một đế
quốc rồi. Nước nào chiếm được nó thì có thể làm chủ thế giới”. Sự thực,
trong hiệp ước Tilsitt ký với Nga, Napoleon đã nhường cho Nga vài thuộc
địa của Thổ ở châu Âu, nhờ vậy mà Nga mới lui binh, không đánh Napoleon
nữa.
Vậy Napoleon, hay đúng hơn, châu Âu đã đánh thức Ả Rập để diệt Thổ mà
mình khỏi tốn nhiều sức; và khi diệt Thổ rồi thì Châu Âu sẽ chia nhau
đế quốc của Thổ, trong đó có Ả Rập; Ả Rập mà nghe họ thì chỉ là mắc mưu
họ rút cổ ra khỏi tròng của Thổ để chui vào cái tròng của châu Âu. Cái
tròng của Thổ tuy nặng nhưng còn lỏng lẻo, cái tròng của châu Âu mới là
đáng sợ. Trong lịch sử nhân loại, thực dân Âu ở thế kỷ trước (Anh,
Pháp, Hà Lan, Đức…) thâm Hiểm hơn thực dân Trung Hoa, La Mã, Ả Rập, Thổ
thời xưa nhiều lắm.
Chính vì hiểu vậy, hoặc cảm thấy vậy trong tiềm thức, nên các dân tộc
Hồi giáo sau này hăng hái duy tân (Thổ trước hết rồi tới Iran, Ai Cập)
có khi lại theo Nga nữa để chống lại thực dân Âu. Về điểm đó, lịch sự
của Tây Á, cũng y như lịch sử của Đông Á (Nhật, Trung Hoa, Việt Nam…)
Vậy chúng ta nên sửa lại nhan đề một chương trong lịch sử Pháp:
Napoleon không đánh thức tinh thần quốc gia của dân tộc Ả Rập, ông ta
chỉ mở đầu một giai đoạn lịch sử thực dân Âu, giai đoạn mà các cường
quốc Âu: Nga, Pháp. Anh, Đức lúc thì vào hùa với nhau, lúc thì xô bẩy
nhau chung quanh con bệnh Thổ, mới đầu không muốn cho nó chết vì còn
gườm nhau, và khi đã quyết tậm hạ nó rồi thì tranh giành nhau chia xẻ
đế quốc của nó, tức các quốc gia Hồi giáo ở Tây và Trung Á. CON BỆNH THỔ
Từ thế kỷ XVIII, Thổ đã thành một con bệnh, y như Trung Hoa ở thế kỷ
XIX. Họ suy lẫn, thua ở Vienne (Áo), mất Budapest (Hung), lần lượt phải
nhường cho Đức xứ Hung và xứ Transylvanie, cho Nga hải cảng Azov, cho
Ba lan tây bộ Ukraine và Hồi giáo mà Thổ tiếp nhận của Ả Rập bắt đầu bị
đạo Ki Tô lấn áp; ảnh hưởng của họ ở Âu châu gần như mất hẳn. Qua thế
kỷ XIX tình hình còn trầm trọng hơn. Đất đai mênh mông, địa thế lại rất
quan trọng: nằm ngay ngã ba, chỗ tiếp xúc của Âu, Á, Phi; nhưng nó càng
mênh mông, càng quan trọng, thì lại càng bị các quốc gia châu Âu dòm
ngó. Mà trong nước thì loạn lạc, vua chúa yếu hèn, triều đình không có
kỷ cương, quần thần chiếm mỗi người mỗi nơi, quan lại tham nhũng, quân
lính chuyên môn ăn cướp.
Thừa cơ đó, Hy Lạp vốn là thuộc địa của Thổ, tuyên bố độc lập, Pháp
viện cớ là sứ thần của mình bị nhục (bị vua Algeri cầm quạt đánh) đổ bộ
chiếm Algeri (1830-1837), Thổ chỉ chống cự lại một cách rất yếu ớt, và
Nga Hoàng Nicolas I tặng cho Thổ cái tên là “con bệnh của châu Âu”. Một
bức hí họa đương thời vẽ vua Thổ thiêm thiếp trên giường bệnh, thần
chết Nga hiện lên muốn bắt Thổ đi, bên cạnh là 2 bác sỹ Anh và Pháp
đương bàn phương cứu chữa.
Chẳng phải Anh, Pháp thương gì Thổ; chỉ vì miếng mồi lớn quá, không để
cho Nga nuốt trọn. Coi bản đồ, ta hiểu được tại sao Nga chỉ lăm le
chiếm Thổ. Hồi đó chưa có phi cơ, biến có địa vị quan trọng hơn bây giờ
nhiều. Nước nào dù mênh mông tới mấy mà không giáp biển thì cũng không
phải là hạng đại cường. Cho nên Nga kiếm đường thông ra biển. Nhưng Bắc
Băng Dương suốt năm đầy băng và tuyết hoàn toàn vô dụng. Trên biển
Baltique, có hạm đội của Đức, Nauy, Thụy điển, Đan mạch, Phần lan, Nga
khó lan ra được; dẫu có được tới Bắc Hải cũng đụng đầu với hải quân Anh
mạnh nhất thế giới. Vậy Nga bị vây hãm, chỉ còn hai đường thoát ra
ngoài: một là tiến qua đông, chiếm trọn Tây bá lợi á, vươn tới Thái
Bình Dương, đường đó xa quá mà lại chạm trán với Nhật, dù có thắng Nhật
thì cũng chỉ có ảnh hưởng ở Đông Á, chứ vẫn bị lép vế ở châu Âu; hai là
do Hải Bắc thông qua Địa Trung Hải, đường này rất tiện, nhưng cửa ngõ
Constantinople do Thổ gác, nên Nga chỉ tìm cách diệt Thổ.
Anh không chịu vậy, vì nếu Nga chiếm Constantinople thì hạm đội Nga
tung hoành trên Địa trung hải mà con đường của Anh qua Ấn sẽ lâm nguy.
Pháp ngay từ hồi Napoleon cũng không muốn cho Nga nắm “chìa khóa” của
thế giới đó vì Pháp đương muốn chiếm Bắc Phi, Tây Á, cản đường Anh qua
Ấn độ. Vì thế Anh, Pháp chống Nga mà bênh Thổ, thà để Constantinople
cho Thổ, vì Thổ yếu không làm hại mình được chứ không chịu để cho Nga.
Rốt cuộc, sau chiến tranh Crimée (1854-1856), Nga thua, Thổ giữ được
Constantinople nhưng đã kiệt sức, và Anh, Pháp mừng rằng chính sách “để
cho Thổ suy mà đừng bắt Thổ chết” đã thực hành đúng.
Thổ cứ lịm dần, tình cảnh còn tệ hơn Trung Hoa nữa. Ngân khố rỗng
không. Thổ phải vay mượn của Anh, Pháp, Đức, Áo. Riêng của Pháp, đã vay
một tỷ rưỡi quan. Vay thì phải có gì bảo đảm, và Thổ đem những nguồn
lợi và thuế khóa trong nước ra bảo đảm, y như Trung Hoa. Thế là Pháp
buộc Thổ phải nhường cho mình quan quản thuốc lá, rồi bến tài, các kho
chứa hàng ở Constantinople, Smyrne, Salonique; bấy nhiên cũng chưa đủ,
Thổ phải nhường thêm các cảng ở Héraclée, ở Selenitza và nhiều đường xe
lửa nữa. Như vậy Thổ mất một phần lợi tức, không đủ chi tiêu, lại phải
vay mượn thêm, vay thêm hoài, cho tới lúc mà thuế má chỉ đủ để trả lãi
cho các nước châu Âu.
Tình cảnh y như một số công chức của ta, vừa lãnh lương ra là phải nộp
hết cho chủ nợ đã chực sẵn ở cửa sổ. Tôi không hiểu các công chức đó
xoay xở cách nào để sống, chứ vua Thổ thì có cách rất hay là thôi không
trả lương cho quan lại; và quan lại Thổ không có lương thì đập vào đầu
dân đen, bắt dân đen nuôi, nghĩa là họ ăn hối lộ. Như vậy dân đen phải
nộp hai lần thuế, thuế cho triều đình, rồi thuế cho quan lại. Và đế
quốc Thổ mênh mông như vậy chỉ sống để đúng sáu tháng một kỳ trả đều
đều cho các chủ nợ Anh, Pháp, Đức... “Các cường quốc đại văn minh theo
đạo Kito đó như bầy kên kên đói khát, bu chung quanh một con bệnh bất
tỉnh và kiên nhẫn đợi. Họ sợ lẫn nhau, ghen tị dò xét nhau và sẵn sàng
để xâu xé nhau. Không một nước nào dám ra tay trước. Và nhờ vậy mà đế
quốc Thổ tiếp tục thoi thóp”.
Trong khi chờ đợi, họ đâu có ở không. Muốn cho địa vị của mình thêm
vững, họ dùng chính sách cổ điển, truyền thống của họ là bệnh vực thiểu
số Ki Tô giáo, y như ở Việt Nam và Trung Hoa. Riêng Anh lại còn lên mặt
nghĩa hiệp, bênh vực dân Kurde (dân tộc thiểu số ở miền rừng núi, vốn
ghét Thổ) và dân Ả Rập, ngoài miệng nói là vì tự do nhân đạo mà sự thực
chỉ là để bảo vệ con đường qua Ấn Độ của họ. Đức cũng xin Thổ cho cất
đường xe lửa qua Bagdad, làm cho Anh, Pháp đâm hoảng, vội vàng liên kết
với Nga.
Đúng như Norbert de Bischoff đã nói: Không phải các cường quốc châu Âu
đánh thức tinh thần quốc gia của Kurde, của Ả Rập, họ nuôi tinh thần
đó, xúi các dân tộc Kurde, Ả Rập đòi độc lập để hạ Thổ rồi họ chia phần
với nhau, cũng như thời nào ở nước mình, thực dân xúi các đồng bào
Thượng chống chính quyền Việt Nam vậy. PHÁP ĐÀO KÊNH SUEZ – ANH, PHÁP NGOẠM LẦN ĐẾ QUỐC THỔ
Napoleon đã muốn đặt chân lên Ai Cập và đã gây được chút ảnh hưởng ở
đó. Tới đời cháu ông ta, Napoleon III, Pháp tiến thêm được một bước nữa.
Từ thời thượng cổ, vua Ai Cập đã đào một con kênh nối liền con sông Nil
với Hồng Hài (thế kỷ thứ VII TCN). Kênh đó mấy lần bị cát lấp, phải đào
lại, tới thế kỷ thứ VIII SCN thì bị lấp luôn. Bonaparte trong chiến
dịch Ai Cập muốn đào một con kênh khác, nhưng phải đợi đến năm 1859
công việc mới bắt đầu, và mười năm sau nữa, công việc mới hoàn thành.
Khánh thành năm 1869 (triều Napoleon III) do Hoàng hậu Eugénie chủ toạ,
kênh Suez mới đầu là công trình riêng của Pháp và Ai Cập, người Anh
không dự gì tới cả. Kênh thuộc địa phận Ai Cập; một người Pháp tên là
Ferdinand de Lesseps, được sự thỏa thuận của Thổ thôi (hồi đó còn là
thuộc địa của Thổ) và Ai Cập, lập đồ án rồi chỉ huy công việc đào kênh.
Kênh dài 168 cây số, nối liền Port Said với Suez, làm cho con đường từ
London tới Ấn độ ngắn đi được 44%, từ Marseille tới Ấn độ ngắn trên 50%.
Mới đầu Anh tìm mọi cách phá công việc của Lesseps vì ngại rằng kênh
đào xong, ảnh hưởng của Pháp ở Ai Cập sẽ lớn, chặn con đường giao thông
của mình qua Ấn độ. Một mặt Anh xúi Ai Cập không cho phép đào, mặt khác
Anh ngầm ép Thổ không chấp nhận sự nhường đất của Ai Cập cho Pháp.
Nhưng rồi Lesseps cũng thắng được mọi khó khăn, đề nghị với Anh hùn cổ
phần; Anh không chịu, tin chắc rằng thiếu vốn, thiếu nhân công, Lesseps
sẽ phải bỏ dở công việc.
Kênh đào xong, Anh đâm hoảng; một chính khách Anh Palmerston tuyên bố
rằng sớm muộn gì Anh cũng phải chiếm Ai Cập và trong khi chưa chiếm
được thì phải tìm cách dự vào việc quản lý con kênh.
Chính một sử gia Pháp, Ernest Renan cũng đã bảo Lesseps: “Một eo biển
Bosphore cũng đủ gây rối cho thế giới rồi, nay ông lại tạo thêm một eo
biển quan trọng hơn nhiều nữa, rồi đây vô số trận giao chiến lớn lao sẽ
xảy ra ở đó". Đến ngay thi sỹ Larmatine cũng nhận thấy rằng: “Nếu cần
chiến đấu với chúng ta – tức Pháp – và với mọi nước khác trọn một thế
kỷ trên Địa trung hải thì Anh cũng sẵn sàng chiến đấu chứ không chịu để
cho chìa khóa kênh Suez lọt vào tay một nước khác”.
Năm 1873, Anh đòi công ty Pháp – Ai Cập đánh thuế nhè nhẹ xuống một
chút. Pháp tất nhiên không chịu. Anh đổi chiến lược, làm bộ vị tha,
bênh vực tất cả các quốc gia có tàu đi trên kênh, họ họp lại, đồng tình
ép vua Thổ phải xét lại bản hợp đồng nhượng con kênh cho Pháp. Thổ đành
phải nghe lời, mời Pháp dự một hội nghị ở Constantinope để giải quyết
vấn đề đánh thuế các tàu đi trên kênh, Pháp không thèm lại dự.
Dùng ngoại giao và sức mạnh không xong, Anh tính cách bỏ tiền ra mua cổ
phần của Công ty. Nhằm lúc Pháp túng tiền vì mỗi năm phải bồi thường
chiến tranh 1870 cho Đức năm tì quan, Anh đề nghị mua lại phần hùn của
Pháp. Pháp nổi giận. Nghèo thì nghèo chứ chưa đến nỗi vậy. Anh xoay qua
đề nghị với Ai Cập và Ai Cập chịu bán hết 176.602 cổ phần với giá là
bốn tỷ Anh bảng (1875). Công việc tính toán với nhau chỉ trong một đêm
là xong, sáng hôm sau công ty Pháp – Ai Cập hóa ra công ty Pháp – Anh.
Có chân trong công ty rồi, Anh lần lần chiếm địa vị quản lý. Nhân vụ
lộn xộn ở Ai Cập, Anh đem hạm đội lại bắn phá Alexandrie rồi chiếm luôn
miền kênh Suez, tạ khẩu rằng “để bảo đảm sinh mạng và quyền lợi của dân
chúng”. Lúc này Anh hung hăng muốn hất chân Pháp để một mình làm chủ
nhân ông. Pháp thấy nguy, tự xét không chống nổi với bọn "hải khấu" đó,
xin quốc tế hóa con kênh, điều mà 12 năm trước, Anh đã đề nghị, nhưng
Pháp từ chối. Anh phản kháng nhưng rốt cuộc phải miễn cưỡng ký hiệp
định lưu thông tự do, tức hiệp định 1888. Theo hiệp định đó, thời chiến
cũng như thời bình, thương thuyền và chiến thuyền của bất kỳ quốc gia
nào cũng được phép qua kênh. Ai Cập không được mời ký hiệp ước, vì Ai
Cập đã mất chủ quyền và cũng chẳng còn cổ phần nào cả.
Ai Cập mất chủ quyền, đúng hơn là đổi chủ từ 1882, trước kia là một
tỉnh tự trị của Thổ, nay thành một thuộc địa của Anh. Cũng vẫn cái
chính sách cổ điển của thực dân: một số người Ai Cập bất bình, giết vài
người Anh, Anh nắm ngay cơ hội, mới đầu tuyên bố tạm chiếm đóng Ai Cập
để lập lại trật tự rồi thì chiếm luôn. Thổ lúc đó thoi thóp, đâu dám
phản kháng, cũng như Trung Hoa thời đó đâu dám phản kháng Pháp ở Việt
Nam. Lời tiên đoán của Palmerston đã đúng.
Duy có Pháp thấy Anh phỗng tay trên, cự nự. Anh khôn ngoan, tươi cười
bảo Pháp: Cần gì phải tranh nhau. Đế quốc Thổ còn mênh mông. Bác cứ tự
do xâm chiếm Tunisi, tôi sẽ không phản kháng đâu. Chiếm Tunisi rồi,
Pháp chiếm luôn Maroc lúc đó không thuộc Thổ.
Cứ thế hai con kên kên đó rỉa lần đế quốc Thổ. Khi đã có hai tên ăn
cướp thông lưng với nhau thì luôn luôn có kẻ thứ ba nữa nhảy vào chia
phần: Đức không chịu cho Pháp chiếm Ma-roc, muốn phá đám. Anh, Pháp lại
phải đấu dịu, để cho Đức chiếm Congo, nhưng Congo không thuộc khối Ả
Rập, cho nên chúng tôi không bàn tới.
Chúng ta hãy trở về phương Đông. Ba Tư ở xen vào giữa Thổ và Ấn Độ. Ba
Tư là một nước Hồi giáo lúc đó độc lập nhưng lạc hậu. Nga muốn vươn tới
Ba Tư, Anh khôn ngoan, không cản trở, đề nghị chia ăn. Bề ngoài Ba Tư
vẫn độc lập, nhưng nửa phía Bắc, Nga vui lòng khai thác giùm, còn nửa
phía Nam, Anh sẳn sàng trông nom hộ. Luôn luôn Anh chia được những phần
ngon.
Rốt cuộc tới đầu thế kỷ XX, các cường quốc Âu châu bao vây được Thổ,
tỉa được non nửa đế quốc Thổ, chỉ còn miền ở Bắc bán đảo Ả Rập, từ
Palestine tới Mésopotamie là chưa ngoạm được. ANH TÌM ĐUỢC DẦU LỬA Ở BA TƯ
Rồi họ gặp thêm được một may mắn lạ thường nữa. Năm 1909 Anh khai được
mỏ dầu ở Ba Tư, đúng vào lúc xe hơi bắt đầu phát triển và máy bay cũng
mới ra đời. Từ thời thượng cổ, người Chaldée đã biết dùng dầu lửa để
làm hồ cất nhà, người Ai Cập dùng để ướp xác. Họ không biết lọc, để
nguyên chất mà dùng. Tới giữa thế kỷ XIX, một đại tá Mỹ tên là Drake,
đào một cái giếng ở Titusville (miền Pennsylvanie) thấy dầu phọt lên,
đen ngòm, lọc qua loa để đốt và trị vài thứ mụn ghẻ lở.
Tới đầu thế kỷ XX người ta mới nghĩ cách lọc nó để chạy máy thì người
Anh William Knox d' Arcy kiếm được mỏ dầu ở Ba Tư, và năm 1909, công ty
Pernian Oil thành lập. Bốn năm sau, năm 1913, "chiến tranh dầu lửa" mở
màn ở trên đế quốc Thổ. Launay viết một cuốn sách bảo rằng trong khu
vực Thổ có những mỏ dầu nằm từ Kirkuk tới Suse, dài tới 700 cây số.
Người ta ùa nhau lại kiếm. Công ty Đức Bagdadbahn xin phép Thổ khai
thác miền Mossoul (bắc Iraq). Mỹ cũng nhào vô, tự nguyện xây đường xe
lửa cho Thổ để Thổ cho phép tìm dầu, Thổ từ chối. Anh và Đức mau chân
hơn cả, hợp tác với Thổ, thành lập công ty Turkish Petroleum: 50% cổ
phần về một công ty Anh, 45% nữa về một công ty Đức - Anh, và một ngân
hàng Đức, còn 5% về một người Arméie (Thổ) tên là Gulbenkian, do đó mà
ông này được cái biệt danh là "ông năm phần trăm".
Sau Ba Tư, Mésopotamie, Anh tinh ranh bậc nhất, tìm mọi cách chiếm luôn
Koweit, Bahrein, Quata, mà chỉ phải bồi thường cho Thổ rất ít. Các miền
này ở trên bán đảo Ả Rập, ngay bờ vịnh Ba Tư là nơi nhiều dầu lửa nhất
thế giới, hồi đó vua Thổ không ngờ mà tất cả thế giới cũng không ngờ.
Vì kênh Suez mà Ai Cập mất chủ quyền, thì bây giờ vì những mỏ dầu lửa
mà đế quốc Thổ sẽ phải cáo chung. Các bác sỹ Âu châu cho con bệnh Thổ
sống dai dẳng như vậy kể đã lâu quá rồi. HIỆP ƯỚC SÈVRES - ANH PHÁP CHIA CẮT THỔ
Nó cáo chung năm 1920.
Trong đại chiến thứ nhất, Thổ đứng về phe Đức, có lẽ tưởng rằng Đức sẽ
thắng. Các sử gia châu Âu bảo đó là lỗi lầm lớn của Thổ; nếu Thổ đứng
về phe Đồng minh từ sau chiến tranh, Anh Pháp không chia xẻ Thổ đâu.
Lời đó không tin được. Thổ đứng về phe Đức, chỉ là một cái cớ cho họ dễ
"xử" với Thổ thôi, chứ trước sau gì con bệnh Thổ cũng không sống nổi.
Đức thua, hiệp ước Versailles ký xong, Anh Pháp mới hỏi tội Thổ: Hồi
trước chúng tôi giúp chú trong chiến tranh Crimée, nếu không chú đã bị
Nga đè bẹp rồi; chú thiếu tiền, chúng tôi cho vay; chú thiếu súng ống
để dẹp phiến loạn thì chúng tôi cung cấp, mà rồi chú trả ơn chúng tôi
như vậy đó, theo tụi Đức để đập chúng tôi. Được lắm. Lần này thì chúng
tôi xóa tên chú trên bản đồ". Rồi họ họp nhau ở Sèvres năm 1920 để cắt
xẻ đế quốc Thổ, chia hai miếng ở phía Tây, (miền Thrace và miền chung
quanh Smyrne) cho Hy Lạp; một miếng ở phía Tây Nam trên bờ Địa Trung
Hải, ngó ra đảo Chypre cho Ý; cắt một miếng ở Tây Bắc (miền Arménie)
cho độc lập, thành nước Cộng hòa Arménie; một miếng nữa ở phía Nam
miếng đó, thành một xứ tự trị của dân tộc Kurde; còn hai miếng, miếng
Malatie ở bắc SYRIE dành cho Pháp vì Pháp đã chiếm SYRIE; với miếng
Iraq giáp với Ba Tư dành cho Anh.
Thế là đế quốc Thổ bị cắt xén gần hết, chỉ còn một mảnh đồi núi khô
cháy ở bờ biển phía Nam Hắc Hải, rộng khoảng 120.000 cây số vuông. Ngay
trong khu vực còn lại đó, chủ quyền của Thổ cũng mất: đời sống dân Thổ
do ngoại quốc sử dụng, tài nguyên trong nước do ngoại quốc khai thác để
nuôi bọn quân chiếm đóng, mà quân đội Thổ bị giải tán, chỉ còn giữ một
đội binh cảnh sát, tới nền giáo dục cũng bị ngoại quốc kiểm soát nữa.
Nhưng còn Nga, không được chia phần ư? Đầu chiến tranh cuối năm 1914,
Anh và Pháp cũng đã chia nhau trước "da con gấu" với Nga rồi, hứa để
Nga chiếm Constantinople, còn Anh Pháp chiếm những miền khác, Nga còn
làm cao đòi thêm miền Ergeroum, Trebizonde và xứ Kurde nữa. Nhưng đến
năm 1917 tình thế xoay ngược hẳn lại. Cách mạng Nga thành công. Đảng
Bolchevik ký hòa ước với Đức; Anh, Pháp phản đối nhưng vô hiệu; vì vậy
mà Nga chẳng có công lao gì cả. Vả lại ngày 17- 12-1917, Lênin tuyên bố
rằng chính phủ Cộng hòa Nga chống lại chính sách chiếm đất của ngoại
quốc; Constantinople và eo biển Dardanelles phải thuộc về dân tộc theo
Hồi giáo. Nghĩa là ông long trọng bỏ hẳn đường lối của các Nga Hoàng
trong mấy thế kỷ trước. Nhưng giả thử Lênin có đòi Constantinople thì
Anh, Pháp cũng không cho. Năm 1918, Lloyd George (Anh) thú thật với
Bremond (Pháp): "Nga Hoàng bị truất ngôi, thực dễ xử cho chúng mình.
Ông ta mà còn thì cũng không khi nào chúng mình để ông ta chiếm
Constantinople". Nghĩa là ngay từ cuối năm 1914, khi hứa với Nga, họ đã
có ý nuốt lời hứa rồi. Họ chỉ hứa càn để Nga Hoàng đứng về phe họ, thế
thôi.
Người ta tưởng vua Thổ Mehemet VI không chịu ký hiệp ước Sèvres. Nó
nhục nhã quá, khác gì bán nước để làm tôi tớ cho Anh, Pháp. Nhưng người
ta lầm, ông ta chịu ký, dân Thổ nổi lên phản đối và một vị anh hùng
Mustapha Kémal đứng ra cứu Thổ. MUSTAPHA KÉMAL VÀ CUỘC CÁCH MANG THỐ
Mustapha hồi đó 39 tuổi. ông sinh trong một gia đình trung lưu ở
Salonique, cha làm tiểu công chức ở nha Quan thuế, sau nghỉ việc về
buôn gỗ, nhưng không phát đạt.
Coi hình ông, ta nhận ra ngay một người hoạt động, cương quyết tàn bạo:
trán cao, môi mỏng mà mím lại, lưỡng quyền nhô ra, lông mày rậm, nhất
là cặp mắt sắc, dữ.
Mồ côi cha sớm. Mười hai tuổi đã hướng về nghề võ. Ham chính trị, ưa
đọc sách cách mạng, thông tiếng Pháp và Đức. Trong đại chiến, ông làm
sỹ quan chủ trương khác chính quyền, không muốn đứng về phe Đức, cho
nên mỗi khi phải hợp tác với sỹ quan Đức ông rất bực mình, cố giành
việc chỉ huy về mình. Ông có tài, bộ tham mưu Đức đành để ông chỉ huy
mặt trận Dardanelles và ba lần ông chặn đứng được liên quân Anh - Pháp.
Anh, Pháp phải nhận rằng đem nửa triệu quân qua Dadanelles mà chẳng có
kết quả gì cả, cuối năm 1915 không tấn công Thổ nữa. Trận đó rất lớn:
mỗi bên thiệt khoảng 250.000 sỹ tốt. Anh, Pháp mất mát mà danh tiếng
Mustapha Kémal nổi lên như cồn. Rồi Đức thua. Mustapha Kémal đau lòng
nhìn Anh chiếm cứ Dardanelles và Bosphore, Pháp chiếm Stamboul, Ý đóng
ở Pera. Ông vào yết kiến Mehemet VI bàn cách cứu vãn. Mchemet VI hèn
nhát chỉ cố bám lấy địa vị. Ông thất vọng, cùng với một số đồng chí hô
hào quốc dân tự cứu lấy mình, đừng trông cậy gì ở triều đình nữa. Khi
vua Thổ hạ bút ký hiệp ước Sèvres, toàn dân Thổ nổi lên, đứng sau lưng
Mustapha Kémal. Như vậy là một mặt ông phải chống với triều đình, một
mặt phải chống với Anh, Pháp, Ý. Hùng tâm thật.
Dân chúng phẫn uất, nên từ thành thị đến thôn quê, đến thâm sơn cùng
cốc, đến cả những phòng khuê kín mít, già trẻ, trai gái đều nghiến răng
hướng về Constantinople nơi quân đồng minh đương chiếm đóng, rồi tự
động dắt nhau từng đoàn đến Angora tình nguyện nhập ngũ.
Tàu Nga chở khí giới tới bờ Hắc Hải tiếp tế cho họ. Tàu vừa ghé là dân
chúng bu lại, trai gái tự động khiêng vác súng ống, đạn dược, chuyển
qua làng bên, cứ như vậy mà tới Angora. Một thiếu phụ buộc con trên
lưng đẩy một chiếc xe hai bánh chở trái phá. Trời đổ mưa. Nàng không do
dự, lấy chiếc khăn choàng của con mà phủ lên trái phá!
Anh, Pháp, Ý gần kiệt quệ sau chiến tranh với Đức, nay ngại không muốn
đeo đuổi một chiến tranh với Thổ và Nga nữa. Hy Lạp cựu thuộc địa của
Thổ, nhảy ra tình nguyện diệt Thổ, để trả cái thù cũ, và cũng để chia
phần vì Anh Pháp hứa cứ thắng đi rồi muốn gì cũng được.
Lực lượng Hy Lạp gấp đôi lực lượng Thổ mà rốt cuộc Hy Lạp thua liên
tiếp mấy trận. Mustapha cứu được kinh đô Angora, nên được mỹ hiệu là
Gazi (vị chiến thắng). Năm 1922, ông thắng được trận cuối cùng, bắt
sống tổng tư lệnh và tham mưu trưởng Hy Lạp.
Sau trận đó, quân đội Hy Lạp quy tụ ở Thrace để đợi lệnh trên. Mustapha
nhất định đuổi họ ra khỏi Thrace, nhưng muốn tới Thrace thì phải qua
Chanak mà quân đội Anh hiện đương đóng ở Chanak. Mustapha dùng một
thuật táo bạo.
Ông kêu hai đội quân thiện chiến lại, giảng cho họ hiểu mục đích của
ông rồi ra lệnh cho họ tiến về phía quân đội Anh, họng súng chĩa xuống
đất, dù quân Anh ra lệnh ngừng thì cũng không ngừng, cứ yên lặng tiến,
nhất định không được nổ một phát súng. Như vậy, hai đội quân đó phải
bình tĩnh, gan dạ và có kỷ luật phi thường.
Sáng ngày 29 tháng 9 năm 1922, họ khởi hành. Trong một cảnh yên lặng
lạnh lẽo kinh khủng, người ta chỉ nghe thấy tiếng giày rộp rộp của họ.
Họ đã tới gần Chanak, đã trông thấy trại quân Anh ở Chanak. Thần kinh
họ căng thẳng như gần muốn đứt. Chỉ một kẻ nào đó hoảng hốt, đưa bậy
cây súng lên hay bỏ chạy là chiến tranh với Anh sẽ nổ và Thổ sẽ mất
nước.
Về phía Anh, tổng tư lệnh Charles Harington ra lệnh không cho quân đội
Thổ qua, nhưng cũng không được nổ súng đầu tiên. Quân đội Thổ đã trông
thấy hàng ngũ Anh. Họ vẫn im lặng tiến, họng súng chĩa xuống đất. Họ
không ngừng mà cũng không tấn công. Mỗi phút dài bằng một năm. Rộp rộp,
rộp rộp! Sỹ quan Anh không biết xử trí ra sao, tinh thần rối loạn, mà
họ thì vẫn rộp rộp tiến tới. Không khí hừng hừng như trong cơn dông.
Hai bên chỉ còn cách nhau vài chục thước.
Một sỹ quan Anh ra lệnh:
- Nhắm!
Người ta nghe một tiếng "cắc", họng súng chĩa cả về phía Thổ. Quân Thổ vẫn rộp rộp tiến.
Vừa đúng lúc đó, một người cưỡi xe máy dầu phất một cây cờ chạy tới, ngừng trước viên đại tá Anh.
Sĩ quan Anh bèn ra lệnh :
- Hạ súng!
Đồng thời sỹ quan Thổ cũng ra lệnh :
- Ngừng!
Nhờ nghị lực phi thường, Thổ đã thắng. Charles Harington phải nhường
bước. Thực ra cũng do công của Franklin Bouillon, người đại điện cho
chính phủ Pháp. Pháp không muốn cho châu Âu bị vùi trong cơn binh hỏa
một lần nữa, nên Bouillon đã điều đình với Anh, Ý để buộc Hy Lạp phải
rút quân ra khỏi Thrace, trả lại Thrace cho Thổ. Mustapha bằng lòng rút
quân về.
Con bệnh Thổ đã hồi sinh nhờ công của Mustapha Kémal. Thực ra chỉ triều
đình Thổ mới là con bệnh, chứ dân tộc Thổ vẫn còn nhiều sinh lực.
Ít ngày sau - ngày 1 tháng 11 - dân tộc đó truất ngôi Mehemet VI. Tháng
8 năm sau, 1923, Anh, Pháp, Ý ký hiệp ước Lausanne với Thổ: quân đội họ
phải rút về hết, Thổ thu lại hết đất đai, không phải bồi thường một
chút gì cả.
Thành công đó làm cho thế giới ngạc nhiên, các quốc gia ở Tây Á và
Trung Á bừng tỉnh, hướng cả về vị anh hùng Thổ, yêu cầu ông cầm đầu một
phong trào chỉ huy thánh chiến để Hồi giáo chống lại Ki Tô giáo, phương
Đông chống lại phương Tây. Ông đã đóng cái vai của Nhật sau khi thắng
Nga năm 1905. Nhưng ông biết chưa đủ sức, lo canh tân quốc gia đã. Tuần
tự và cương quyết, ông thực hành trong sáu năm liền nhiều cuộc cách
mạng làm cho Thổ từ một nước hủ lậu nhất thế giới biến thành một nước
tân tiến gần theo kịp châu Âu.
Trước hết ông thành lập chính thể Cộng hòa, hủy bỏ vương quyền
(Sultanat) rồi hủy bỏ luôn cả giáo quyền (Califat) nữa. Ông giảng cho
quốc dân rằng giáo quyền là di tích thời cổ, thời mà dân tộc Ả Rập bị
dân tộc Thổ đánh bại, muốn lợi dụng tôn giáo đề ngấm ngầm ảnh hưởng đến
tâm hồn Thổ rồi đến chính trị của Thổ. Quốc hội nghe ông, biểu quyết
một đạo luật bãi bỏ giáo quyền, dẹp Bộ Tôn giáo, dẹp các tòa án tôn
giáo và dẹp luôn cả các trường học thuộc về Giáo hội trong đó ngoài
kinh Coran ra người ta không dạy học sinh một môn nào khác, việc thứ
nhì là thống nhất dân tộc. Thổ gồm nhiều dân tộc quá: tính ra có tới
hơn một chục giống người: Ả Rập, Ba Tư, Maroc. Nga, Hy Lạp, Lỗ..., trừ
Thổ ra, đông nhất là Ả Rập và Hy Lạp. ông buộc hai triệu người Hy Lạp
lập nghiệp trên đất Thổ phải trở về xứ họ, ngược lại người Thổ lập
nghiệp ở Hy Lạp cũng phải trở về Thổ. Chính sách đó tàn bạo quá, phi
ông không ai dám làm, nhưng đứng về phương diện quốc gia, phải nhận
ràng có lợi. Còn đối với các người phương Đông như Ả Rập, Ba Tư, SYRIE,
Ai Cập... cùng theo Hồi giáo, gần như cùng lối sống, cùng phong tục thì
ông chỉ tìm cách phân biệt họ thôi: người Thổ và người ngoại quốc nhập
tịch Thổ phải bỏ cái nón phê (fez) cho khỏi lẫn lộn với những người
khác. Ông đi quá trớn, gây nhiều bất bình trong dân chúng.
Trừ hai cải cách đó ra, những cải cách khác đều chỉ có lợi cho dân Thổ.
Ông bỏ kỷ nguyên Hồi giáo (bắt đầu từ năm 622) mà dùng tây lịch.
Ông cho soạn ngay một bộ luật mới mà luật gia Âu châu nhận là rất tiến
bộ: châm chước dân luật của Thụy sỹ , hình luật của Ý, thương luật của
Đức. Địa vị phụ nữ được nâng cao; mà tội nhân được cải hóa: nếu mới
phạm tội lần đầu, dù tội nặng, cũng được giam riêng, không phải sống
lẫn lộn với những kẻ phạm tội nhiều lần; tội nhân nào cũng được dạy dỗ.
Hiện nay nước ta vẫn chưa có một đạo luật như vậy.
Ông cách mạng văn tự Thổ, bỏ văn tự Ả Rập, dùng chữ La tinh, nhờ vậy
chỉ trong một năm, số người mù chữ giảm xuống quá nửa. Rồi ông cho dịch
kinh Coran ra tiếng Thổ, bãi bỏ hệ thống đo lường cũ, áp dụng hệ thống
mét như châu Âu, giải phóng phụ nữ...
Công việc kiến thiết quốc gia phát triển rất mau: diện tích canh tác
trong 13 năm, từ 1925 đến 1938, tăng lên gấp bốn; kỹ nghệ chế tạo
đường, xi măng, dệt vải tiến mau nhất.
Đáng phục nhất là Thổ năm 1923, sau mười năm chiến tranh, gần như kiệt
quệ, dân số chỉ còn mười triệu người, quốc khố rỗng không, vậy mà không
cần vay của ngoại quốc, không thèm nhận viện trợ của một quốc gia nào,
tự lực thực hiện được chương trình kinh tế đó. Các cường quốc châu Âu
ve vãn Thổ, các nhà kinh tế đều bảo phải mượn vốn mới phát triển kinh
tế được, không còn giải pháp nào khác, ông nhất định không chịu. Ông
thấy quá rõ rồi, triều đình Thổ trước kia đã chịu bao nhiêu nhục nhã,
đã bị các cường quốc châu Âu hút biết bao nhiêu máu mủ chỉ vì vay tiền
của họ mà đã làm tôi tớ cho họ, đưa cổ cho họ bóp, nên ông nhắc đi nhắc
lại rằng :"Muốn mất độc lập thì không gì bằng nhận tiền của kẻ khác".
Phải tự túc! Có bao nhiêu, chỉ tiêu bấy nhiêu, có phải chịu cực khổ
hàng chục năm thì cũng ráng mà chịu. Theo thống kê thì lợi tức quốc gia
của Thổ tính theo đầu người năm 1952-54, vào khoảng 250 Mỹ kim, trên Hy
Lạp, Mể Tây Cơ, bằng Tây Ban Nha và bỏ xa Pêru, Brésil, Ai Cập, Mã Lai,
Thái Lan...
Bài học duy tân của Thổ dễ theo và nhiều nước Ả Rập đã theo, tuy không
mạnh bạo bằng. Còn bài học tự túc của Thổ thì chưa có nước Á, Phi nào
theo nổi, cho nên cái nạn "thực-dân- mới" mới hoành hành mạnh như ngày
nay, gây biết bao cuộc đổ máu trên thế giới. Bán đảo Ả Rập hết là nơi
tranh giành ảnh hưởng của Anh Pháp sau Thế chiến thứ nhất, thành nơi
tranh giành giữa Anh và Mỹ cuối Thế chiến thứ nhì, rồi trên 10 năm nay
thành nơi tranh giành giữa Mỹ và Nga, một phần lớn cũng chỉ tại người
ta không theo được bài học tự túc của Mustapha Kémal. Chỉ có mỗi lý do
này miễn cưỡng biện hộ cho họ được thôi: thời của Kémal dễ dàng hơn
thời nay vì thực dân thời đó chưa nham hiểm, quỷ quyệt như thời nay.
|