Tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê về bán đảo Ả Rập, chương VI.
Phần thứ ba
ĐẾ QUỐC CỦA DẦU LỬA MÀN NHẤT: ANH PHÁP
(Từ Thế chiến I tới Thế chiến II)
CHƯƠNG VI: ANH PHÁP CHIA NHAU BÁN ĐẢO Ả RẬP
BA TƯ VÀ AFGHANISTAN CANH TÂN
Công cuộc cách mạng và duy tân của Mustapha Kémal làm rung động cả
Trung Á. Ngày 21 tháng hai năm 1921 một đảng quốc gia do một quân nhân,
Riza Khan, lãnh đạo, lật đổ triều đình Ba Tư(1) và năm ngày sau ký một
hiệp ước thân ái với Nga Xô. Riza Khan hứa không để một ngoại quốc nào
dùng Ba Tư làm "căn cứ hoạt động" và Nga Xô bằng lòng từ bỏ các đặc
quyền từ thời Nga Hoàng. Chính sách của Anh là luôn luôn giữ một số
quốc gia làm trái độn giữa Nga và Ấn Độ, nay thấy Nga chịu rút ra khỏi
Ba Tư, cũng bằng lòng rút hết quân đội gồm mười hai ngàn người về "mẫu
quốc".
Vậy là Riza Khan nhờ Moscow mà cởi được cái ách của Anh. Nhưng mới cởi
được cái ách đó thì lại bực mình về thái độ kể ơn và hống hách của
Moscow. Tình thân ái bị sứt mẻ: hai bên gây gổ nhau về vấn đề đánh cá
trên biển Caspienne ở biên giới Nga và Ba Tư. Cáo già Anh vẫn rình ở
bên, liền nắm lấy cơ hội, ve vãn Riza Khan, hứa giúp đỡ; Riza Khan đáp
lại, cho công ty dầu lửa Anh - Ba Tư hoạt động dễ dàng. Moscow vội vàng
tỏ vẻ hòa hảo với Riza Khan. Nhờ vậy Ba Tư giữ được thế gần như trung
lập, hơi thiên Anh. Anh không đòi hỏi gì hơn.
Ít năm sau, Afghanistan theo chính sách Ba Tư vì thấy nó có kết quả.
Quốc vương Amanullah có óc tiến bộ, muốn canh tân quốc gia như Kémal,
năm 1927 ký một hiệp ước thân ái với Nga, nhờ Nga giúp kỹ thuật gia và
sỹ quan. Nhưng ông ta đi hơi quá lố nên mất ngôi, và Nadir Khan lên
thay ông, tuyệt giao với Nga, ngưng công cuộc duy tân, nhưng cũng không
liên kết chặt chẽ với Anh. Anh cũng không cầu gì hơn.
VẤN ĐỀ HỒI GIÁO Ớ NGA SAU CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI
Vậy Nga Xô có vẻ không hung hăng, cố tranh ăn với các đế quốc Tây
phương như thời Nga Hoàng. Nguyên do một phần cũng tại còn phải giải
quyết nhiều vấn đề ở ngay trong nước: vấn đề các nhóm đối lập, vấn đề
kinh tế, vấn đề các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các dân tộc Hồi giáo.
Năm 1917, Nga có mười sáu triệu dân gốc Thổ theo Hồi giáo và Nga Hoàng
luôn luôn phải đối phó với họ. Sau cuộc Cách Mạng Tháng Mười, họ nổi
dậy, hoặc đứng về phe cựu hoàng, hoặc đứng về phe Menchevik (phe nghịch
với Bolchevik đương cầm quyền, và ôn hòa hơn), đòi lập một quốc gia tự
trị ở Azerbaidjan, Arménie và Géorgie. Lênin lập lại được trật tự ở
Azerbaìdjan, một tỉnh rất quan trọng vì có mỏ dầu lửa Bakou. Rồi ông ta
xúi dân theo Ki Tô giáo ở Arménie xung đột với dân theo Hồi giáo.
Còn nhiều vụ rắc rối đại loại như vậy, kể hết thì rườm quá. Ngay một số
người Hồi giáo theo Staline, như Ali Ogli, gốc Tartare ở miền Kazan -
thường tự xưng là Hoàng đế Galiev (Sultan Galiev) - cũng chống lại
chính sách của Staline, cho rằng Staline đã lầm lẫn, quá chú ý tới
phong trào cách mạng ở Tây Âu, ở những xứ kỹ nghệ đã phát triển, và
chịu thất bại ở Đức, ở Hung; mà không phát động, ủng hộ những phong
trào cách mạng ở phương Đông, nơi mà cách mạng dễ thành công hơn vì
chính những người Hồi giáo mới thực là vô sản hơn giai cấp vô sản ở Tây
Âu. Ông ta bảo sự xung đột quan trọng không phải là giữa giai cấp tiểu
tư sản và giai cấp vô sản, mà là giữa các quốc gia kỹ nghệ hóa và các
quốc gia kém phát triển.
Và ông ta đề nghị thành lập một quốc gia Cộng sản Hồi giáo ở Nga, trên
trung lưu sông Volga gồm tất cả các dân tộc Hồi giáo ở Nga; các dân tộc
Hồi giáo này sẽ truyền bá chủ nghĩa Cộng sản qua phương Đông; rồi các
quốc gia thuộc địa hoặc bán thuộc địa ở châu Á sẽ liên kết với nhau
chống các quốc gia thực dân châu Âu.
Staline không chấp nhận chính sách đó, và Galiev bị "thanh trừng" năm
1937. Phải đợi tới hết Thế chiến thứ nhì, Nga Xô mới theo đường lối của
Galiev. Giữa hai Thế chiến họ không thể nghĩ tới đường lối đó được, chỉ
lo củng cố nội bộ, khuếch trương kỹ nghệ đã.CHÍNH SÁCH MÂU THUẪN CỦA ANH Ở Ả RẬP - MẬT ƯỚC SYKES - PICOT
Vì vậy mà chúng ta hiểu tại sao trong số bốn cường quốc châu Âu lăm le
chia cắt đế quốc Thổ ở thế kỷ trước và đầu thế kỷ này tức Nga, Đức,
Anh, Pháp, từ sau Thế chiến thứ nhất chỉ còn lại có Anh, Pháp là tung
hoành ở bán đảo Ả Rập, vừa thông lưng với nhau mà vừa phản ngầm nhau.
Đầu Thế chiến thứ nhất cũng như đầu Thế chiến thứ nhì, khí thế của quân
Đức mạnh như vũ bão, tháng tám năm 1914 đánh tan liên quân Pháp, Bỉ,
Anh (quân đội Anh lúc đó mới gởi qua) ở mặt trận Bỉ rồi tiến vào đất
Pháp. Anh, Pháp lúng túng, phải dồn gần hết lực lượng vào mặt trận Tây
Âu.
Thổ thấy vậy, tin rằng Đức sẽ thắng, đứng về phe Đức. Dĩ nhiên Đức cùng
với Thổ tìm cách cắt đứt đường giao thông của Anh qua Ấn Độ, muốn vậy
thì phải chiếm bán đảo Ả Rập, tới Ai Cập.
Chính sách của Anh là dùng nhiều quân thuộc địa hoặc quân bản xứ rồi
chỉ huy họ để họ chiến đấu trên các mặt trận ngoài Châu Âu. Cho nên
ngay từ đầu, chính quyền Anh ở Ai Cập đã ve vãn một thân hào Ả Rập tên
là Hussein. Hussein vẫn khoe rằng mình thuộc dòng dõi giáo chủ Mohamed,
vì ông tổ của mình cưới một ái nữ của giáo chủ tên là Fatima. Do đó,
ông thuộc một trong hai gia tộc có uy tín nhất ở La Mecque, gia tộc
Hachémite, còn gia tộc kia là Aoun.
Vua Thổ cũng đã để ý tới ông ta từ lâu, ngờ ông ta có ý làm phản, nên
mời lại giam lỏng ở Constantinople, phong cho một chức tựa như Thủ lãnh
các tín đồ, hễ ông ta ngoan ngoãn thì thôi, còn như giở trò gì thì sẽ
thủ tiêu. Hussein ở Constantinople hai chục năm, mong từng ngày một cái
lúc được về quê hương. Năm 1911, người ta cho ông về xứ với bốn người
con. Nghĩ tới cái thời bị nhốt trong lồng son, ông ta uất ức, lần này
thì nuôi cái ý làm phản thật. Ngay từ tháng tư năm 1914, ông ta đã cho
một người con trai là Abdallah lại tiếp xúc với Kitchener, viên thống
đốc Anh ở Ai Cập, đề nghị này nọ, người Anh cho là mơ hồ, không nghe.
Ít tháng sau, chiến tranh nổ, Hussein ráng tránh né, không đứng về phe
Đức, Thổ, đợi xem tình hình ra sao. Mùa hè năm 1915, ông ta lại sai
người tiếp xúc với Mac Mahon, người thay thế Kitchener. Mac Mahon do dự
rồi sau nhận sự hợp tác của Hussein, hứa hết chiến tranh, Anh sẽ để Ả
Rập được độc lập.
Ông ta hứa hơi vội quá vì cũng lúc đó, ở London, đại diện của Anh là
Mac Sykes và đại diện của Pháp là Georges Picot đã thỏa thuận với nhau
về việc chia phần ở Tây Á và Trung Á. Theo hiệp ước mật của họ, Pháp sẽ
thôn tính miền từ Damas tới Mossoul, Anh sẽ thôn tính miền từ Bagdad
tới Gaza, những đất đó sẽ thành thuộc địa của họ; ngoài ra còn mấy khu
vực ủy trị nữa, cũng tức như bảo hộ, dưới sự kiểm soát của Hội Vạn
quốc: Pháp sẽ ủy trị Liban và Cilicie, Anh sẽ ủy trị Iraq, Palestine và
Jérusalem sẽ được quốc tế hóa. Tóm lại, họ chia nhau hết cả khu màu mỡ
nhất và có mỏ dầu ở bắc bán đảo Ả Rập và miền Mésopotamie.
Vậy Anh một mặt hứa cho Ả Rập độc lập, một mặt lại định cắt làm thuộc
địa, là nghĩa làm sao? Họ xảo trá chăng? Có lẽ không phải. Chỉ tại
chính sách của họ không được thống nhất. Điều đó sẽ gây ra nhiều chuyện
rắc rối sau này làm cho dân tộc Ả Rập gớm cái mặt của Anh. Nguyên do là
tại anh chàng Lawrence. LAWRENCE MUỐN LẬP SỰ NGHIỆP ở Ả RẬP
Thomas Edward Lawrence (1888 - 1935) một con người nhỏ thó, đứng chỉ
tới cổ các tướng lãnh Anh, có vẻ một chàng thư ký nhà buôn, mà làm chấn
động ở châu Âu và miền Tây Á trong hai chục năm. Rất can đảm, bí mật,
khó hiểu và mưu mô. Một người Anh, Richard Adhngton, đã dẫn nhiều chứng
cớ chắc chắn chứng tỏ rằng nhân vật Lawrence đã được một ký giả Mỹ
Lowell Thomas "tạo" ra để thế giới chú ý tới vai trò của Anh trong
chiến tranh diệt Thổ ở bán đảo Ả Rập mà quên vai trò của các sỹ quan
Pháp. Chính tướng Brémond của Pháp cũng đã nói vậy trong tập Hồi Ký của
ông ta, nhưng ngay người Pháp cũng không tin Brémond, cho rằng ông ta
bất tài mà ganh tị với Lawrence. Và ai cũng phải nhận rằng Lawrence đã
có một ảnh hưởng lớn lao về ngoại giao cũng như về quân sự tới những
biến cố ở bán đảo Ả Rập trong Thế chiến thứ nhất.
Bộ tổng tham mưu Anh ở Ai Cập đồng ý với Brémond, nghĩ rằng muốn đánh
Thổ, phải dùng những quân gốc gác ở nơi khác: Lawrence trái lại chủ
trương có thể lợi dụng tinh thần ái quốc của người Ả Rập để họ tự chống
lại với Thổ, như vậy Đồng minh chỉ cần gọi một số cố vấn, tướng tá và
cung cấp khí giới mà tiết kiệm được lực lượng để dùng ở mặt trận Châu
Âu. Sáng kiến của Lawrence ở đó, và không ai chối cãi được công của ông
với Đồng minh; ngay người Ả Rập cũng phục ông, coi ông như một quốc
vương không ngôi của họ.
Ông ta sinh ngày 15-8-1888 ở xứ Galles (Anh) trong một gia đình quý
phái, nền nếp, nhờ sự giáo dục của mẹ mà có một nghị lực gang thép, một
lương tâm ngay thẳng, một lối sống khắc khổ, một lòng ham biết mọi sự.
Ông thông minh sớm - năm tuổi đã biết đọc và viết - nhưng không phải
vào hạng kỳ đồng. Óc mẫn tiệp, nhớ mau và dai; nhất là có một sức chịu
đựng rất bền: năm 21 tuổi có hồi cưỡi lạc đà đi trong sa mạc Ả Rập luôn
ba ngày, mỗi ngày đi được 180 cây số; cũng vào khoảng đó, ông đi bộ hơn
hai tháng ở Syne, được gần 1.800 cây số.
Năm 1896, ông lại học ở châu thành Oxford rồi năm 1908 vào trường Jesus
College để chuyên về sử. Rất ham đọc sách, trên giường bày la liệt sách
vở, nằm đọc tới khi buồn ngủ thì gục đầu trên sách mà ngủ, tỉnh dậy lại
tiếp tục đọc. Mới 13 tuổi ông đã thích tìm hiểu về kiến trúc cổ, đạp xe
máy một mình đi khắp nước Anh để coi các di tích. Ông có thể đạp một
ngày 180 cây số. Ai cũng phục ông là một lực sỹ tí hon vì ông nhỏ
người, thấp mà sức rất mạnh. Năm 1908 ông du lịch qua Pháp, tới Baux ở
miền Nam, lần đầu tiên thấy Địa Trung Hải lấp lánh sau một hàng cây như
một phiến ngọc lam rực rỡ, ông cảm xúc mãnh liệt, tưởng chừng như trong
không khí phảng phất có mùi hương liệu từ phương Đông bay qua và văng
vẳng có những tiếng náo nhiệt của những đô thị thời Trung cổ vọng lại:
Smyrne Constam- nople, Tyr, Si don, Beyrouth, Tripoli..., những thanh
âm du dương đó đưa ông vào cõi mộng và ông mơ tưởng tới ngày được qua
phương Đông huyền bí, cái phương trời chói lọi ánh nắng ở bờ bên kia
Địa Trung Hải nó đã thu hút ông từ khi ông đọc sử Hy Lạp, sử La Mã, sử
Thập Tự quân, nhất là đọc cuốn Travels in Arabia Deserta (Du lịch trong
sa mạc Ả Rập) của Ch. Doughty.
Từ đó ông đã tìm thấy con đường cho đời ông. Ông nhất định qua phương
Đông. Và ít tháng sau ông tìm được một cơ hội để đi Beyrouth. Trước khi
đi, ông học ít tiếng Ả Rập với một mục sư ở Oxford gốc gác SYRIE. Ông
mang theo một máy ảnh, ít quần áo, ít tiền rồi xuống tàu. Trong khoảng
hơn hai tháng ông đi bộ non 1.800 cây số để coi các lâu đài, thành
quách ở Nazareth, Haifa, Acre, Tyz, Siđon, Beyrouth, Alep... Ở SYRIE,
Liban, Palestine, nơi chứa nhiều di tích nhất miền Tây Á. Ông đi du
lịch một mình, tới đâu xin ngủ trọ đó, ăn như người Ả Rập, sống theo
lối Ả Rập, tập nói tiếng Ả Rập. Nhờ vậy ông bắt đầu hiểu người Ả Rập,
rồi yêu họ.
Ông chen vai thích cánh với những người Ả Rập áo dài lụng thụng đi chân
không trong những ngõ hẻm thăm thẳm ở Beyrouth, Damas; ông leo lên núi
nhìn bãi biển cát đỏ chạy dài tới Tripoli; ông tắm trên bờ suối Adonis,
trong ánh sáng cuồn cuộn của phương Đông. Ông say mê sống chung với dân
bản xứ, gõ cửa những căn nhà tồi tàn nhất để xin tá túc; giỡn với những
đứa nhỏ mắt đen lay láy, bên cạnh những bầy gà và dê; ông cũng ngồi xổm
trên mặt đất uống sữa dê với chúng; cũng rút một tia nước nhỏ trong một
cái bình sành để rửa mặt, rồi đêm tới cũng nằm lăn trên đất ngủ chung
với thổ dân, cũng đắp chung một chiếc mền đầy rận với họ.
Cảnh những đoàn lạc đà chậm rãi bước trên sa mạc, những thiếu nữ Ả Rập
phủ khăn choàng, đầu đội một cái vò lại giếng để lấy nước; cảnh đêm
trăng tịch mịch, xa xa vẳng lên tiếng hát buồn rười rượi của nghìn xưa,
cảnh mặt trời lặn sau đồi cát, rực rỡ như xà cừ, những cảnh đó làm ông
say mê, quên cả quê hương, quên cả gia đình. Tiền thân ông chắc sinh ở
đâu đây, trên bán đảo Ả Rập này?
Tháng chín năm đó (1911) ông về xứ, tự hẹn sau này sẽ trở lại. Năm
1911, ông theo một phái đoàn của viện Tàng cổ Anh qua đào di tích ở
Carchemish, trên bờ sông Euphrate. Lần này ông ở luôn ba năm rưỡi, nói
thông thạo tiếng Ả Rập, được nhiều người Ả Rập coi như bạn thân, bày tỏ
tâm sự, nguyện vọng với ông.
Lần lần ông hiểu cách suy nghĩ và tâm lý của họ, thấy họ muốn vùng vẫy
để gỡ cái ách của Thổ. Đâu đâu họ cũng mong mỏi được tự do, độc lập. Họ
tin cậy ông, hỏi ý kiến ông về cách hành động. Ông không dám xúi họ bạo
động vì không có quyền hành gì trong tay mà cũng ngại gây nhiều sự khó
khăn trong sự bang giao giữa Anh và Thổ, gây nhiều sự nghi ngờ cho các
quốc gia khác như Pháp, Đức, Ý. Nhưng trong thâm tâm ông vẫn mong có cơ
hội giúp họ thoát được cái ách của Thổ.
Ông biết đế quốc Thổ như một con bệnh hấp hối, không sao tồn tại được
lâu và ông tự hỏi khi nó sụp đổ thì nó sẽ thuộc về nước nào? Nga, Đức
hay Pháp? Pháp có ưu thế hơn cả vì văn hóa Pháp được truyền bá từ mấy
thế kỷ nay ở Beyrouth, Damas. Nhưng để Ả Rập sống chung với Pháp, họ
khó mà mạnh được vì dân tộc Pháp không có tinh thần tổ chức, mạo hiểm
bằng Anh - ông nghĩ vậy - mà như vậy thiệt cho Anh. Rốt cuộc ông nghĩ
Anh nên lãnh cái nhiệm vụ "giải thoát Ả Rập" và khi giải thoát rồi thì
cho Ả Rập được độc lập mà liên kết với Anh. Ông nghĩ tới Anh mà thực ra
ông nghĩ tới chính ông. Ông sẽ đóng một vai anh hùng nghĩa hiệp trong
việc giải phóng đó, vừa có công lớn với Anh vừa là ân nhân của Ả Rập.
Tháng 5 năm 1914 ông về Anh, chưa đầy một tháng thì Thế chiến thứ nhất
nổ. Ông tin rằng thời của ông đã tới, dân chúng Ả Rập thế nào cũng nổi
dậy đuổi Thổ đi mà chỉ có ông là giúp họ thành công được thôi. CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA Ả RẬP
Hussein lúc đó có uy quyền nhất ở La Mecque, thánh địa Hồi giáo, mà lại
không ưa Thổ. Lawrence bèn đề nghị với nhà cầm quyền Anh liên lạc với
Hussein. Anh có hai cơ quan coi về phương Đông: cơ quan Indian Office,
trụ sở Bombay (Ấn Độ) do Sang John Philby chỉ huy và trực thuộc chính
quyền Anh ở Ấn Độ; cơ quan Arabia Office do Allenby chỉ huy, trực thuộc
bộ ngoại giao ở London. Hai cơ quan ấy không liên lạc với nhau, có
chính sách riêng mà chính sách đôi khi tương phản nhau.
Indian Office lo bảo vệ con đường bộ từ Ấn Độ tới Âu, cho nên chú trọng
tới miền Mésopotamie và muốn che chở các quốc vương Ả Rập ở phía vịnh
Ba Tư như Mubarrak, quốc vương xứ Koweit và Ibn Séoud, quốc vương xứ
Hasa và Nedjd.
Arabia Office trái lại lo bảo vệ kinh Suez tức con đường biển từ Ấn Độ
qua Anh, nên tìm cách liên lạc với các quốc vương Ả Rập ở bên bờ Hồng
Hải mà trong số những quốc vương này, Lawrence để ý tới Hussein nhất.
Hussein vô tài mà tham bỉ nhưng hai người con trai của ông ta, Abdallah
và Faycal có nhiều khả năng.
Khoảng giữa năm 1915, nghe lời khuyên của Lawrence, bộ Ngoại giao Anh
lựa Hussein, hứa với Hussein rằng nếu đuổi được Thổ ra khỏi bán đảo Ả
Rập thì sẽ vận động với các cường quốc cho Ả Rập độc lập.
Hussein tin lời, kêu gọi nghĩa quân chống lại Thổ, bắt một số quân nhân
Thổ ở La Mecque làm tù binh. Anh giúp bốn chiếc tiểu liên và 8.000 súng
thường, nhờ vậy Ả Rập thắng Thổ ở Rabegh, Yanbo và Taif, chỉ trong có
vài tháng bắt được 5.000 lính Thổ.
Nhưng Hussein không tiến thêm được nữa, không chiếm được Médine. Kế đó
Anh, Pháp thất bại ở Dardanelles trước sự chống cự mãnh liệt của
Mustapha Kémal, rồi một vạn quân Ấn do tướng Anh Towshend chỉ huy bị
Thổ vây ở Kut-El-Amara, gần Bassorah (Mésopotamie). Anh không làm sao
phá vòng vây được, chỉ còn cách đầu hàng nếu không thì bị tiêu diệt.
Thấy tình hình quá nguy, bộ Tham mưu ở Le Caire phải vời Lawrence tới vấn kế.
Lawrence chỉ trích bộ máy chiến tranh của Anh là quá nặng nề, không hợp
với hoàn cảnh: sỹ quan Anh quá nhiễm thói quan liêu, hành quân ở sa mạc
mà mang theo đồ chơi golf và quần vợt! Vì vậy tiến thoái rất chậm, bị
Thổ bủa vây. Ông bảo họ phải dùng chiến thuật uyển chuyển, lưu động mới
thắng được.
Sứ mạng của ông là thương thuyết với tướng Thổ, xin nạp một số tiền để
Thổ giải vây cho Towshend. Thổ không chịu. Ông nghĩ cách hô hào dân Ả
Rập khởi nghĩa để phá Thổ ở hậu tuyến, bắt Thổ phải rút binh ở
Kut-El-Amara mà đối phó với Ả Rập. Nhưng muốn hô hào Ả Rập khởi nghĩa
thì phải hứa cho họ độc lập. Cơ quan Indian Offỉce không chịu, vì nếu
cho Ả Rập độc lập thì Ấn đó cũng sẽ vin vào đó đòi độc lập mà đế quốc
Anh mất viên ngọc quý và lớn nhất. Rốt cuộc Towshend đành phải đầu hàng.
Trở về Le Caire, Lawrence ráng thuyết phục bộ Tham mưu Anh theo chính
sách của ông: để cho Ả Rập khởi nghĩa chiếm Médine rồi tiến thẳng lên
Damas mà giải phóng Syrie. Anh chỉ giúp khí giới, quân nhu và một số cố
vấn thôi, chứ đừng đem quân vào. Phải kích thích tinh thần quốc gia của
họ; kích thích tinh thần tôn giáo thì sẽ thất bại vì về phương diện tôn
giáo, Ả Rập thân với Thổ mà chống Âu. Nhất là Anh đừng để cho Pháp xen
vào rồi sau này sẽ đòi chia phần. Khi thắng trận rồi, Anh sẽ cho Ả Rập
độc lập, Ả Rập tất sẽ mang ơn mà liên kết với Anh vì Ả Rập cần sự giúp
đỡ về võ bị, kinh tế.
Chính phủ Anh mới đầu còn do dự, sau phải nhận rằng Lawrence có lý. Ông
bèn đề nghị suy tôn Faycal - một người con của Hussein - làm thủ lãnh
phong trào giải phóng và ông được phái tiếp xúc với Faycal ở Hamra, gần
Médine.
Ông đi gấp trong ba ngày, chịu đi chịu khát, đêm ngủ trên đất, ngày
chịu nắng như thiêu trên sa mạc; vào khoảng cuối tháng 10 năm 1916 tới
Hamra, nơi Faycal cắm trại.
Hai bên chào nhau xong, Faycal hỏi thăm về cuộc hành trình của ông, khen ông là đi rất mau, rồi hỏi:
- Ông thấy trại của chúng tôi ra sao?
- Đẹp lắm, nhưng khá xa Damas!
Lời đó hạ xuống như một nhát kiếm giữa đám người ngồi trong phòng. Mọi
người xáo động, có người ngỡ Lawrence ám chỉ sự thất bại mới rồi của
Faycal được lệnh của cha chiếm Médine mà không làm sao chiếm được.
Im lặng một chút, Faycal mỉm cười đáp:
- Nhờ Chúa, quân Thổ ở gần hơn!
Hai bên thân với nhau từ đó. Thấy Faycal đáng tin cậy, Lawrence vui
lòng làm quân sư cho ông ta, hy sinh cho chính nghĩa của Ả Rập.
Trong hai năm ông ta cải trang làm người Ả Rập - có hồi cải trang làm
phụ nữ Ả Rập nữa - Sống chung với người Ả Rập, suốt ngày trên lưng lạc
đà, đi khắp các nơi trong sa mạc, tiếp xúc với các thủ lãnh Ả Rập,
khuyến khích, hô hào họ, do thám cho họ, lập kế hoạch cho họ.
Ông không có vẻ bệ vệ như các quan lớn cố vấn khác, trái lại sống rất
bình dân, sẵn sàng tiếp đón mọi người Ả Rập, chăm chú nghe họ bày tỏ ý
kiến ở trong lều hoặc dưới gốc cây chà là, tự tay pha cà phê mời họ,
tuyệt nhiên không dùng bồi bếp, kẻ hầu người hạ. Không những vậy, ông
còn lột bỏ được cá tính Anh của mình, suy nghĩ như người Ả Rập, tin
tưởng như người Ả Rập, mới là tài chứ. Và khi họ thắng một trận nào thì
ông sung sướng y như họ, thua một trận nào cũng đau khổ y như họ.
Chưa bao giờ một người Âu nào được họ quý mến như ông. Ông đã thành vị
thủ lãnh của họ. Ông không còn là người Anh nữa mà thành người Ả Rập.
Ông có tài du kích, làm cho quân Thổ điêu đứng, chỉ lo chống đỡ ở mọi
mặt trên một khu vực mênh mông, cố bảo vệ đường giao thông và quân nhu
mà không đủ sức tấn công Ả Rập nữa.
Chỉ có 3.000 quân, ông đánh tan được 120.000 quân Thổ, lập được một chiến công oanh liệt.
Cuộc chiến đấu đó gồm bốn giai đoạn quyết định: giai đoạn thứ nhất ở
Abou Markha; giai đoạn thứ nhì ở Akaba; giai đoạn thứ ba ở Deraa; giai
đoạn thứ tư ở Damas.
Hồi đầu Thế chiến, quân đội Thổ đóng rải rác trên con đường xe lửa từ
Damas tới Médine, có thể uy hiếp kênh Suez mà làm cho quân Anh lâm
nguy. Bộ tư lệnh Anh ở Le Caire khẩn cấp yêu cầu ông tấn công Médine.
Quân của Faycal do Abdallah (anh của Faycal) chỉ huy, đóng ở Abou Mauha
mà không chịu nhúc nhích. Ông được phái tới giúp ý kiến với Abdallah,
nhưng Abdallah không hăng hái tiến quân.
Rồi ông nghĩ lại: tấn công Médine là thất sách. Chính sa mạc là đồng
minh mạnh nhất của Ả Rập, cũng như hồi xưa cánh đồng tuyết là đồng minh
mạnh nhất của Nga. Vậy thì đừng giàn mặt trận nữa mà phải dùng chiến
thuật du kích. Tức thì ông đem 2.000 quân tiến như bão về phía Akaba.
Ba trăm lính Thổ ở Akaba thấy ông tới thình lình, hoảng hốt, không kịp
đề phòng, chỉ chống cự yếu ớt có một ngày rồi đầu hàng (6-7-1917).
Akaba mất rồi, Médine hóa ra cô lập, chẳng cần phải chiếm nữa, và ông
tiến thẳng lên Damas. Lúc đó tinh thần của Thổ đã xuốngm ông tấn công
một hơi Roum, Azrak, Tafila, Beersheda bằng cách chớp nhoáng, rồi tới
Deraa ở phía Nam Damas, cách Damas khoảng 100 cây số. Deraa là một yếu
điểm phòng thủ rất kỹ. Mấy lần định phá mà không được, ông nảy ra một ý
táo bạo lạ lùng: cải trang làm một tên Ả Rập nghèo khổ, một mình lẻn
vào Deraa để dò xét nhà ga và trại lính, bị lính Thổ bắt, tra tấn kịch
liệt; may chúng không nhận ra ông, không canh phòng cẩn mật và ông trốn
thoát được về Akaba.
Qua đầu năm 1918, thế của Thổ và Đức đã núng lắm; tới tháng mười, đội
kỵ binh Ả Rập đánh bại đội kỵ binh thứ tư của Thổ mà chiếm Damas.
Lawrence, Choukri và Ayoubi - một nhà ái quốc Syrie - dẫn quân vào
thành. Dân chúng hoan hô. Lawrence mừng quá mà sa lệ.
Chiến tranh kết liễu. Ông rất buồn vì nhớ tới mật ước Sykes - Picot
giữa Anh với Pháp. Có lẽ ông biết mật ước đó từ cuối năm 1917 mà không
dám cho người Ả Rập hay, cũng không đám từ chức để phản kháng chính
phủ. Vì ông nghĩ nếu từ chức Ả Rập sẽ biết nguyên do mà chống lại Anh
liền, ông sẽ mang tội là chống với tổ quốc. Có lẽ ông cũng mong rằng
hết chiến tranh ông có thể thuyết phục chính phủ đổi chính sách cho nên
ông cứ tiếp tục dùng bánh vẽ để nhử Ả Rập chống Thổ. Bây giờ đây việc
đã xong, ông biết xử trí ra sao? ANH NUỐT LỜI HỨA VỚI Ả RẬP - LAWRENCE HỐI HẬN
Ngày 1-11-1918 Lloyd George báo cáo với dân chúng Anh rằng 11 giờ sáng đó chiến tranh sẽ chấm dứt.
Cũng hôm đó, Lawrence về tới London và ngay hôm sau ông bắt đầu cuộc
chiến đấu thứ nhì cho Ả Rập. Thấy Tổng thống Mỹ Wilson tuyên bố rằng
các dân tộc có quyền tự quyết, lại nghe nói các chính phủ Anh, Pháp hứa
với dân tộc Syrie và Mésopotamie sẽ giúp họ lập chính phủ bản xứ, ông
vui vẻ tin tưởng, đề nghị với chính phủ lập ba quốc gia Ả Rập: Syrie sẽ
thuộc quyền Faycal, Thượng Mésopotamie về Zeid và Hạ Mésopotamie về
Abdallah. Ba quốc gia đó họp thành một liên bang dưới quyền điều kHiển
của Hussein, vua xứ Hedjaz, nghĩa là cha con của Hussein sẽ làm chủ gần
trọn bán đảo Ả Rập.
Hai tháng sau, Faycal tới Anh, được Lawrence tiếp đón và giới thiệu với
Thủ tướng và các Bộ trưởng. Nhưng Lawrence vỡ mộng liền, chẳng ai coi
trọng đề nghị của ông cả. Ông lại còn hay tin rằng Saint John Philby ở
Indian Office cũng đương vận động với chính quyền để gạt Hussein ra mà
đưa Ibn Séoud lên.
Vì vinh dự của ông, chứ không phải của chính phủ (chính phủ nào cũng có
thói nuốt lời hứa như chơi), ông quyết bênh vực Hussein và Faycal đến
cùng. Một mặt ông nhắc bộ Ngoại giao về lời hứa với Hussein năm 1915,
một mặt ông đả kích Saint John Philby đã mù quáng mà lựa chọn Ibn
Séoud. Nhưng dù được dân chúng Anh coi ông là một vị anh hùng, tiếng
nói của một đại tá như ông có giá trị gì trong các hội nghị quốc tế.
Tháng giêng năm sau (1919) Anh, Pháp, Mỹ họp hội nghị ở Paris. Lawrence
cũng qua Paris để chống đỡ Faycal, làm thông ngôn cho Faycal, tấn công
cả chính phủ Pháp lẫn chính phủ Anh. Nhiều lần ông đấu khẩu với "cọp
già" Clémenceau của Pháp. Thực là kỳ phùng địch thủ: cả hai cùng cương
quyết, tàn nhẫn, chua chát như nhau. Clémenceau không chịu nhường một
chút quyền lợi nào của Pháp cho bất kỳ ai, dù người đó là ông vua không
ngôi hay có ngôi của Ả Rập.
Pháp viện lẽ rằng đã chịu hao tổn sinh mạng, tài sản nhiều nhất trong
bốn năm chiến đấu để "bênh vực những tự do dân chủ cho thế giới" - một
triệu người Pháp chết, bao nhiêu châu thành bị tàn phá, bao nhiêu tỷ
quan phải tiêu dùng thì bây giờ Đồng minh phải cho Pháp "gỡ gạc" chút
đỉnh mà làm chủ Syrie và Liban, nơi mà Pháp đã khai hóa từ thời Viễn
chinh Thập tự và có bổn phận phải tiếp tục bênh vực các thiểu số theo
Ki Tô giáo, khỏi bị cái họa của Do Thái giáo ở châu Âu.
Lý lẽ đó vững quá, vững hơn lý lẽ "dân tộc tự quyết" của Wilson; Anh
tất nhiên tán thành, vì Anh đã dược Pháp hứa nhường cho phần lớn rồi
kia mà: Mésopotamie, Palestine. Thành thử Pháp tuyên bố rằng không hề
biết Faycal là ai, không cho Faycal dự hội nghị, thì Anh cúi gằm mặt
xuống làm thinh. Sau này khi Pháp đem quân lại chiếm đóng Damas (1920),
Faycal cùng với một số nghĩa quân chống cự lại và thua thì Anh cũng
tiếp tục làm ngơ nữa. Thực là chua xót cho Faycal: chiếm lại được Damas
của Thổ, mới cai trị được khoảng một năm đã bị kẻ khác lại đuổi đi.
Lawrence không còn mặt mũi nào nhìn người Ả Rập nữa, trở về Anh viết
một loạt bài tố cáo chính phủ trong tờ Times và viết cuốn Seven Pillars
of Wisdom (bản dịch ra tiếng Pháp của nhà Payot, nhan đề là Les sept
Pilires de la Sagesse) để kể cuộc khởi nghĩa của Ả Rập và tự thú lỗi
lầm của mình đã lừa gạt dân tộc Ả Rập, mong giải được phần nào nỗi ân
hận nó giày vò ông.
Trong cuốn đó, ông tự xỉ vả thậm tệ:
“Tôi không phải là thằng ngu. Lúc đó tôi đã đoán được rằng khi thắng
trận rồi thì những lời hứa với dân tộc Ả Rập sẽ chỉ là những miếng giấy
lộn. Nếu tôi là một người cố vấn lương thiện thì tôi đã bảo các người Ả
Rập đừng hy sinh tính mạng về những chuyện mơ hồ đó nữa".
“Đúng là tôi có cái xu hướng, có một thứ tài lường gạt. Nếu không thì.
làm sao tôi đã lường gạt người Ả Rập được khéo léo như vậy trong năm
năm liền? Đúng vào lúc nào thì cái tội của tôi thành một trọng tội? Và
người ta phải xử tôi ra sao? Làm cho người Ả Rập chết, tôi đã mắc tội
ăn cắp, ăn cắp linh hồn".
Luôn luôn cái ý đã phạm tội ấy ám ảnh ông và ông tự hỏi hoài: "Tôi mắc tội tới cái mức nào?"
Không ai xử tội ông cả. Ông tự xử lấy. Chính phủ tặng ông huy chương
Commander of the Bath, ông trả lại chính phủ cái “đồ chơi hai xu của
con nít đó”. Pháp tặng ông Croix de Guerre, ông đem đeo vào cổ một con
chó rồi trả lại chính phủ Pháp.
Pháp gặp khó khăn ở Damas (Syrie) thì Anh cũng gặp khó khăn ở
Mésopotamie. Cũng năm 1920, dân Mésopotamie nổi dậy chống Anh, Anh phải
đem 150.000 quân qua dẹp. Churchill vội vàng mời Lawrence tới vấn kế.
Tháng ba năm sau, một hội nghị họp ở Le Caire để quyết định thành lập
vương quốc Iraq, Anh chỉ giữ các căn cứ không quân để kiểm soát sa mạc.
Thế là có một ngai vàng trống. Anh đem tặng Faycal để bù vào cái ngai
vàng Damas bị Pháp hất. Faycal nhận. Abdallah cũng đòi một ngai vàng
cho mình. Anh thí cho ngai vàng Transjordanie, ông ta cự nự vì
Transjordanie là một xứ tồi tệ, chỉ có ba trăm ngàn dân gồm toàn những
hạng bất bình, khó trị của Tây Á.
Lawrence được Churchill phái qua vỗ về Abdallah, Abdallah nguôi nguôi,
nhưng cha là Hussein càng nổi quạu. Sau hiệp ước Paris, Hussein viết
thư phản kháng, buộc Lloyd George (Anh) và hội Vạn Quốc phải đuổi Pháp
ra khỏi Syrie. Dĩ nhiên, Lloyd George làm thinh. Hussein bèn lại Amman
(kinh đô Transjordanie) cầm gậy đuổi các sỹ quan ra khỏi dinh rồi mắng
Abdallah thậm tệ rằng nhu nhược chịu quy phục Anh.
- Cút ngay đi! Ông chỉ là con người xảo quyệt chuyên gây hấn. Chính ông
đã hứa hẹn lếu láo với tôi và kéo tôi vào cái vụ lường gạt trâng tráo
này.
Rồi ông ta trở về La Mecque, sống trong cảnh uất hận. Cái mộng phục
hưng lại đế quốc Ả Rập đã tiêu tan. Mà tình cảnh hiện tại còn tệ hơn
hồi trước. Trước kia người Ả Rập chỉ có một ông chủ, mà ông chủ đó ít
gì cũng cùng một tôn giáo với mình; ngày nay có tới hai chủ: Anh và
Pháp, và bọn này đều là tụi "dị giáo", tụi không thờ Allah, chống lại
Allah. Lỗi tại ông cả; đã quá tin Lawrence. Allah và Mohamed làm sao
tha thứ cho ông được? Cái nhục đó, sau này Ibn Séoud sẽ rửa cho dân tộc
Ả Rập.
Bị Hussein xỉ vả, Lawrence nhục nhã trở về Anh, tự đầy đọa mình để
chuộc tội. Ông bỏ tên cũ, xóa hết cả dĩ vãng, một mình lang thang trong
cảnh tối tăm cho tới mãn kiếp, lấy tên là John Hume Ross xin làm binh
nhì thợ máy trong đội Không quân Hoàng gia, nhẫn nhục làm mọi việc của
một binh nhì: cọ sàn, quét sân, rửa chuồng heo, đổ rác... Càng bị hành
hạ, càng làm những việc dơ dáy, ông càng thấy thích, như để chuộc tội
vậy.
Nhưng rồi sau người ta nhận ra ông, báo chí làm rùm lên, người ta mời ông ra khỏi trại.
Hai tháng sau ông lại đổi tên một lần nữa, lựa tên T. E. Shaw, tình nguyện vào đội Chiến xa Hoàng gia.
Đầu năm 1927, ông lại hay một tin buồn và nhục cho ông nữa. Ibn Séoud,
người được Saint John Philby ở Indian Office che chở, tấn công Hussein,
chỉ trong mấy ngày đuổi được Hussein ra khỏi La Mecque và Hussein phải
lưu vong ở đảo Chypre. Chính phủ Anh thản nhiên, không hể giúp đỡ, bênh
vực Hussein, thành thử bao nhiêu lời ông hứa với dòng họ Hussein bị chà
đạp hết.
Ông chết năm 1935 trong một tai nạn xe máy dầu. Người ta ngờ rằng ông
chán đời quá mà tự tử vì mấy năm trước đó, lúc nào ông cũng ủ rũ,
thường than thở:
“Tôi luôn luôn mong muốn rằng màn kịch của tôi hạ xuống sơm sớm cho. Tôi có cảm tưởng sắp đến lúc nó hạ rồi"
Một người thân hiểu tâm sự của ông, đặt một bó hồng trên thi hài, có ý
nhắc lại hai câu thơ mà ông đã ngâm hồi bị Thổ giam ở Deraa:
For Lord I was free of all the flowers, but I chose the world's sad rose,
And that is whi my feet are torn and my eyes are blind with sweat...
(Vì thưa Chúa, con được tự do lựa chọn tất cả những bông hoa của Chúa và con đã lựa những bông hồng ủ rũ trên đời,
Vì vậy mà chân con mới rớm máu và mắt con mới mờ đi vì mồ hôi....)
Chết sớm như vậy là may cho ông. Nếu phải sống thêm mười năm nữa, mà
thấy Ibn Séoud hất chân Anh và kết thân với Mỹ, tặng cho Mỹ tất cả các
mỏ dầu lửa trên bán đảo Ả Rập thì lòng ái quốc của ông còn giày vò ông
đến bực nào.
|