Tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê về bán đảo Ả Rập, chương VIII.
CHƯƠNG VIII: CÁC PHONG TRÀO QUỐC GIA ở THUỘC ĐỊA ANH VÀ PHÁP
Vậy năm 1925 khi quân Ikwan của Ibn Séoud vào được Hedjaz thì khối Ả
Rập cơ hồ như đã có một sự quân bình giữa các thế lực. Đế quốc Thổ đã
sụp đổ, quốc gia Thổ chỉ còn một khu nhỏ, lo canh tân và kiến thiết.
Nga cũng mắc đối phó với những vấn đề nội bộ của họ, trong số đó có vấn
đề dân thiểu số theo Hồi giáo. Iran và Afghanistan đã thành những quốc
gia độc lập, trung lập làm trái độn giữa Nga và Ấn Độ của Anh. Anh,
Pháp chia nhau các xứ ở Bắc bán đảo Ả Rập: Anh ở Palestine, Jordani,
Iraq, Pháp ở Liban, Syrie. Anh lại giữ được những căn cứ cốt yếu trên
con đường qua phương Đông, tức Ai Cập, Aden. Còn lòng bán đảo, đất phát
tích của Hồi giáo thì thuộc về Ả Rập Saudi, một quốc gia độc lập.
Như vậy là tạm ổn cho người phương Tây, nhưng tình trạng đó không ổn
cho người Ả Rập; và vẫn có những luồng sóng ngầm phá cái thế có vẻ quân
bình đó. Giữa hai Thế chiến tại miền đó có ba luồng sóng ngầm:
- Phong trào quốc gia của các dân tộc Ả Rập mà Lawrence đã khuấy động lên mà không ngờ tới hậu quả của nó,
- Những âm mưu của Anh muốn khuấy phá, hất cẳng đồng minh của minh là Pháp.
- Sự thành lập quốc gia Do Thái ở Palestine, sau lời tuyên ngôn của
Balfour, đầu mối của biết bao cuộc xung đột trên đất Ả Rập sau Thế
chiến thứ nhì.
Trong chương này chúng tôi sẽ xét hai điểm trên còn điểm cuối (vấn đề Do Thái) rất quan trọng, sẽ dành cho chương sau. PHONG TRÀO QUỐC GIA ở AI CẬP
Bán đảo Ả Rập thật là một miền đa dạng về mọi phương diện, gây cho ta
nhiều nỗi ngạc nhiên thích thú. Từ sa mạc khô cháy ta bước sang những
vườn hồng rực rỡ ở bờ Địa Trung Hải; từ cảnh hoang vu đi suốt ngày
không gặp một bóng người, ta bước sang những đô thị cư dân lúc nhúc như
Le Caire, Bagdad.
Ở trong sa mạc bí mật kia cuộc khởi nghĩa của Ibn Séoud có tính cách
bán trung cổ: cảnh ngựa hí trên sa trường, cảnh đấu kiếm loang loáng,
tiếng kèn tiếng trống dưới chân thành, tiếng loa tiếng tù và trong đêm
vắng, cát bay mịt trời, xương khô đầy đất y như cảnh biên tái trong thơ
đời Đường.
Mà ở đây, trên hạ lưu sông Nil bên bờ Địa Trung Hải, ở Le Caire,
Alexandrie, thì cuộc cách mạng có tính cách tân thời, thành thị, y như
ở Bắc Kinh, Thượng Hải sau Thế chiến thứ nhất. Ở kia, người cầm đầu
cuộc nổi loạn là một vị anh hùng quý phái, một vương hầu. Ở đây phong
trào do sinh viên và thợ thuyền phát động với những biểu ngữ, khẩu
hiệu, những cuộc bãi khóa, bãi công, những cuộc xuống đường rầm rầm rộ
rộ. Ai Cập cũng như Trung Hoa, Việt Nam, có một nền văn minh cổ mấy
ngàn năm, đã ngưng đọng không biến hóa kịp thời nên không chống lại nổi
sức mạnh của nền văn minh cơ giới phương Tây, phải tủi nhục nhận sự áp
bức của họ và vẫn mong Âu hoá để mạnh lên mà giành lại nền độc lập.
Ai Cập thành đất bảo hộ của Anh từ 1882. Cũng như Pháp, như mọi thực
dân khác, Anh dùng một bọn quý phái bản xứ dễ bảo để làm tay sai. Và
cũng như Việt Nam, Ai Cập có những nhà cách mạng lớp cũ, những nhà này
thất bại và ngọn cờ cách mạng chuyển qua tay thanh niên có tân học, ở
các trường Trung học, Kỹ nghệ, Đại học ra. Mới đầu chỉ có những đảng
Quốc gia như Wafd, Baath[12] chủ trương giành lại độc lập, lật đổ triều
đình bù nhìn (nếu không bỏ hắn chế độ quân chủ thì ít nhất cũng có một
hiến pháp mà quốc vương chỉ giữ các địa vị tượng trưng như chủ trương
của Huynh đệ Hồi giáo); rồi sau mới có những đảng Cộng sản.
Chúng ta nghiệm thấy tại Ai Cập, Trung Hoa hay Việt Nam, trong tiền bán
thế kỷ, các nhà cách mạng đều có nhiệt huyết, can đảm, không vị lợi, và
đều bị phong kiến liên kết với thực dân đàn áp mãnh liệt, nhưng được
quốc dân tin cậy, ủng hộ. Hồi đầu họ rất đoàn kết, không chia rẽ sâu xa
về chính kiến, ai cũng mong đả phong, diệt thực đã, thành công rồi sẽ
hay; về sau họ mới chia rẽ mà lực lượng kém đi. Cái công buổi đầu đó
của họ, hình như chưa nước nào đánh giá được đúng mức.
Cuộc khởi nghĩa của Arabi Pacha[13] bị thực dân Anh đập tan năm 1882,
ngọn lửa cách mạng ở Ai Cập hạ xuống trên hai chục năm sau, một thanh
niên du học ở Pháp về, Mustapha Kamel[14], thổi cho nó bùng trở lại.
Ông ta thành lập tờ báo El Lewa hô hào quốc dân đòi độc lập. Tờ báo có
ảnh hưởng mạnh tới thanh niên. Thực dân Anh treo cổ bốn nhà ái quốc;
mới đầu thanh niên rồi dân chúng nhao nhao lên phản đối. Anh phải thay
viên Thống đốc. Hết chiến tranh, năm 1919, Ai Cập dựa vào lời tuyên
ngôn "các dân tộc có quyền tự quyết" của Đồng minh, lại đòi độc lập.
Anh đàn áp nữa, đầy Zaghloul Pacha và ba đồng chí của ông ta tại đảo
Malte. Tức thì ba ngàn sinh viên biểu tình ở Le Caire, năm sinh viên bị
bắn chết.
"Mặt trời hôm đó chưa lặn thì toàn cõi Ai Cập đã bùng lên rồi... Lúc đó
mười bốn triệu người chỉ nghĩ tới vị anh hùng đã thay dân nói lên cái
nguyện vọng của dân, đòi quyền sống và quyền tự do cho Ai Cập mà bị
giam bị đầy qua một đảo xa xôi.
"Chỉ trong nháy mắt, Le Caire lâm vào cảnh hỗn loạn. Nhà nào nhà nấy
vội vàng đóng cửa vì đám người biểu tình mỗi lúc một đông đảo, ồn ào.
Các đường liên lạc bị cắt đứt và mọi nơi trong nước nổi loạn như ở kinh
đô. Người ta đốt các ty cảnh sát, phá các đường ray...".
Chính phủ Anh phải thả Zaghloul Pacha và hai bên điều đình với nhau.
Dân chúng trong nước bất hợp tác, tẩy chay hàng hóa Anh, còn kiều dân
thì tuyên truyền ở ngoại quốc, Anh phải tuyên bố cho Ai Cập độc lập với
vài sự hạn chế mà sau sẽ ấn định.
Trong phong trào kéo dài ba năm đó, thanh niên đóng một vai trò chính
yếu. Nhiều sinh viên bỏ học để "cứu quốc", "khi nước nhà độc lập rồi sẽ
học lại". Chính quyền Anh ngại dư luận quốc tế, không dám thẳng tay đàn
áp. Vừa đòi độc lập, sinh viên vừa đòi cải cách chế độ quân chủ. Vua
Fouad I muốn giữ trọn quyền hành như trước, nhưng đảng Wafd và đảng Tự
do - Lập hiến cố giành lại quyền cho quốc dân. Rốt cuộc nhà vua phải
nhượng bộ, ban hành hiến pháp 1923.
Hai chính quyền Anh và Ai Cập vẫn không thỏa thuận với nhau về bốn điểm dưới đây hạn chế sự độc lập của Ai Cập:
- Anh giữ một đạo binh để bảo vệ sự giao thông của Đế quốc Anh ở Ai Cập.
- Anh bảo vệ cho Ai Cập khỏi bị các nước khác xâm lăng hoặc can thiệp một cách gián tiếp hay trực tiếp.
- Anh bảo vệ quyền lợi các người ngoại quốc và các dân tộc thiểu số ở Ai Cập.
- Anh vẫn giữ xứ Soudan tách ra khỏi Ai Cập.
Nhận những hạn chế đó thì sự độc lập của Ai Cập chỉ là bánh vẽ. Cuộc
thương thuyết kéo dài, cứ họp được vài bữa lại ngừng vài tuần, vài
tháng. Trong khi đó quân đội Anh vẫn đóng ở khắp nơi; dân chúng nóng
lòng, bất bình. Bất bình nhất vẫn là sinh viên. Chủ quyền phải hoàn
toàn thuộc về người Ai Cập, họ không chịu chấp nhận sự bảo hộ trá hình
đó. Họ lại biểu tình trên khắp các đường phố ở Le Caire, Alexandrie, hò
hét:
"Ai Cập muốn năm!" - " Đả đảo thực dân Anh!". Ta nhớ dân Ai Cập rất
đông, số thanh niên ở hai thị trấn đó tới 60.000, trong khi ở Beyrouth,
ở Damas chỉ có khoảng 6000.
Bọn người lớn cho rằng những cuộc hoan hô, đả đảo đó không đưa tới đâu,
nhưng nếu cảnh sát Ai Cập, nhất là quân đội Anh mà đánh đập con em họ
thì họ la ó, làm dữ: "Không được đánh con nít". Họ không cấm đoán con
em vì nghĩ rằng chúng phát biểu đúng những ý nghĩ trong thâm tâm của
mình. Thành thử cảnh sát Ai Cập và quân đội Anh đâm ra do dự, không dám
đàn áp mạnh. Lần này phong trào chỉ phát ở các thị trấn lớn, không lan
tới thôn quê, và ít lâu sau tan dần.
Khi Fouad I giải tán quốc hội gồm nhiều đảng viên Wafd, rồi giải tán
nội các mới thành lập, báo chí phản kháng và thanh niên lại biểu tình.
Cứ lộn xộn như vậy trong mười mấy năm.
Đầu năm 1930, Nahas Pacha, thủ lãnh đảng Wafd thành lập nội các, lại
thương thuyết với Anh. Lại thất bại. Anh vẫn ngoan cố. Ông ta chống nhà
vua, nhà vua lại giải tán nội các. Người lên thay ông đứng về phe nhà
vua, giải tán quốc hội, sửa đổi hiến pháp cho nó bớt tính cách dân chủ.
Thanh niên lại xuống đường ở Le Caire và Alexandrie. Một nhóm học sinh
Trung học Alexandrie đương biểu tình, chỉ hô: "Ai Cập muôn năm " mà bị
cảnh sát đập. Trong nhóm đó có một học sinh tên là Gamal Abdel Nasser.
Cậu bị đập chảy máu mặt mà vẫn tiếp tục hô: "Ai Cập muôn năm". Về nhà
cậu bực tức nghĩ rằng năm 1919, cảnh sát đứng về phía biểu tình, bây
giờ đã thành tay sai cua người Anh và của chính phủ bù nhìn.
Nội các đó đàn áp mạnh tay, đứng vững được ba năm, dùng chính sách
ngoại giao đòi lại được quyền lợi nho nhỏ, Anh chịu nhả một chút vì
thấy vậy có lợi hơn là để cho toàn dân Ai Cập phản đối. Anh bao giờ
cũng khéo léo, biết tiến biết lui, biết cương biết nhu. Nhờ vậy họ giữ
được Ai Cập tới hết Thế chiến thứ nhì.
Trong thời gian đó. Abdel Nasser vẫn tiếp tục học nhưng đã dự định làm
cách mạng. Cậu đọc rất nhiều sách của Voltaire, Rousseau, Hugo và tiểu
sử các danh tướng như Alexandre đại đế, César, Napoleon.
Từ năm 1935, cậu tiếp xúc với đảng Wafd (Quốc dân đảng của Ai), đảng
Huynh đệ Hồi giáo và đảng Tân Ai Cập, chương trình đảng sau hợp ý cậu:
cải cách điền địa, quốc hữu hóa kênh Suez, thống nhất Ai Cập và Soudan,
kỹ nghệ hóa miền sông Nil, nhưng đảng gồm nhiều phần tử ô hợp nên cậu
không gia nhập.
Tuy chưa biết nên theo đảng nào, nhưng cậu đã có chủ trương: "Dù trái
tim tôi có dời từ bên trái qua bên phải, dù các Kim tự tháp có di
chuyển, dù sông Nil có đổi hướng thì chí tôi cũng không thay đổi."
Năm 1935 sinh viên lại biểu tình đả đảo chính sách đế quốc của Anh.
Nasser cầm đầu một phái đoàn học sinh trung học. Cảnh sát lại đàn áp.
Nasser bảo các bạn cứ đứng yên rồi cùng hô: “Ai Cập muôn năm!" Cảnh sát
lây nhiệt tâm của họ, cũng hô: “Ai Cập muôn năm". Nhưng hôm sau, chính
quyền đàn áp họ, bắn chết hai sinh viên, Nasser bị một viên đạn sướt
qua trán thành xẹo.
Kế đó, Nasser vào trường võ bị và trong các chương sau chúng ta sẽ thấy
thanh niên đó xuất hiện rực rỡ trên chính trường Ai Cập, rồi đóng một
vai trò quan trọng bậc nhất trong khối Ả Rập. ANH PHÁ NGẦM PHÁP ở LIBAN VÀ SYRIE - CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA DÂN TỘC DRUSE
Thực dân đối với nhau thực là tráo trở. Khi nguy thì họ đoàn kết với
nhau và đến lúc an thì họ phản nhau. Ngay từ khi họ đoàn kết với nhau
họ cũng đã nghĩ cách sau này phản nhau rồi.
Anh vẫn oán Pháp từ hồi Napoleon vì Pháp muốn chặn đường qua Ấn Độ của
họ. Họ phá Pháp trong vụ đào kênh Suez. Trong Thế chiến thứ nhất họ keo
sơn với nhau và hòa bình trở lại họ chia phần với nhau. Ở bán đảo Ả Rập
Anh thí cho Pháp một miếng nhỏ ở Syrie và Liban còn những miếng lớn và
có mỏ dầu lửa thì Anh giữ hết. Thế lực của Pháp ở đó không đáng kể,
không nguy hại gì cho thế lực của Anh, nhưng trông thấy cái lỏm Syrie,
Liban ngoạm vào một dải thuộc địa của mình suốt từ Ai Cập tới
Mésopotamie, Anh vẫn tức tối. Cơ quan Arabica Office của Anh chỉ tìm
cách làm khó cho Pháp ở Tây Á, ủng hộ ngầm các phong trào chống Pháp ở
Syrie và Liban.
Sau khi tạm bình định được Syrie rồi, tướng Gouraud đòi chính phủ cung
cấp khí giới, lính tráng để củng cố nền bảo hộ. Mới hết chiến tranh,
Pháp nghèo, không chấp thuận đề nghị của ông ta, ông ta từ chức. Tướng
Weygand tới thay. Miền biên giới phía bắc Syrie còn lộn xộn, thỉnh
thoảng có những đám người từ Thổ qua phá rối. Weygand đàn áp tàn nhẫn:
bắt được một số, đem treo cổ ở giữa thành phố, bêu thây trong ba ngày.
Từ đó hết loạn. Ông ta tổ chức các hội đồng bù nhìn, xây cất đường sá,
dự định làm con đường xe lửa từ Beyrouth tới Tripoli để chuyển quân cho
mau.
Cơ sở có vẻ vững vàng, nên cơ quan Arabia Office của Anh không vui. Năm
1921, một viên trung úy của Anh tên là Glubb cũng có tham vọng như
Lawrence, lại Transjordame làm cố vấn cho quốc vương Abdallah (con của
Hussein) tổ chức một đội quân Ả Rập gồm trăm cây súng.
Một lần Gouraud suýt bị ám sát, điều tra ra thì những kẻ dự vào đều ở
Transjordanie qua, họ định nếu thành công thì sẽ gây một cuộc khởi
nghĩa ở khắp Syrie để trục xuất tụi Pháp. Khí giới của họ đều mang nhãn
hiệu Anh. Gouraud đòi Abdallah trừng trị tụi đó. Abdallah có Anh che
chở, từ chối một cách cương quyết.
Tới thời Weygand lại có một rắc rối nho nhỏ nữa. Hussein lúc đó ở
Amman, kinh đô Transjordanie, vung tiền ra khắp các thị trấn Syrie để
các người theo Hồi giáo tụng kinh mỗi thứ sáu cho ông, Giáo chủ của họ.
Weygand cũng mua chuộc các thân hào Hồi giáo thân Pháp, xúi họ không
tuân lời Hussein, lấy lẽ rằng một ông vua mất nước, để Thánh địa lọt
vào tay người khác (Ibn Séoud) thì theo tục lệ cổ truyền, mất luôn
quyền Giáo chủ. Vì vậy buổi lễ thứ sáu đầu tiên, có một số giáo đường
cầu nguyện cho Hussein, qua thứ sáu sau, không giáo đường nào nhắc tới
Hussein nữa. Lần này Pháp thắng Hussein, tức thắng Anh. Thấy Hussein đã
thành con người vô dụng, Anh mời Hussein qua đảo Chypre dưỡng lão.
Weygand mộ đạo Ki Tô quá nên Đệ tam Cộng hòa của Pháp không ưa, mời ông
ta về, đưa tướng Sarrail qua, ông này có tinh thần chống giáo hội. Tín
đồ Ki Tô giáo ở Syrie bất bình; mà tín đồ Hồi giáo cũng ghét Sarrail.
Ở Syrie có một phái của Hồi giáo, phái Hakem. Hakem là hậu duệ của
Mohamed, sống ở thế kỷ thứ X, tu theo lối khổ hạnh, tự nhận rằng được
Allah khải thị cho nhiều điều huyền bí. Tín đồ của ông phần đông là
người Druse, tin rằng ông đã thăng thiên, không để lại thể xác ở cõi
trần.
Dân tộc Druse ở trên núi Liban và Anti Liban, khỏe mạnh,hiếu chiến, nói
tiếng Ả Rập. Cho tới thế kỷ thứ XIX họ sống hòa thuận với người
Maronite theo đạo Ki Tô. Người Pháp tới, muốn dùng chính sách "chia rẽ
để dễ trị", cho họ thành lập một quốc gia riêng ở giữa Liban và Syrie.
Vậy mà năm 1925 họ nổi dậy chống Pháp.
Lãnh tụ của họ là Chekib Areslane, một văn sỹ hồi trẻ học ở
Constantinople rồi ở Paris, lớn lên viết báo, qua Thụy sỹ theo dõi các
cuộc hội nghị của Hội Vạn Quốc, ghét Pháp lạ lùng.
Ông ta khêu lên hai cuộc khởi nghĩa, một của Soltan Attrache, một của Abd El Krim.
Soltan Attrache cũng gốc Druse, nổi dậy ở Syrie. Mới đầu ông ta ngài
ngại những cải cách của Cao ủy Pháp, phái đại diện lại tiếp xúc với
Sarrail. Cao ủy Sarrail không thèm tiếp, rồi gặp họ ở cầu thang, còn
quát mắng họ. Chekib Areslane và cơ quan Arabica Office nắm lấy cơ hội,
khuấy động dân tộc Druse. Sarrail liền bắt giam các nhà lãnh tụ Druse.
Soltan Attrache trốn thoát và cuộc khởi nghĩa bùng lên.
Họ chiếm được thị trấn nhỏ Rachaya làm cho cả khối Ả Rập hò reo: một
nhóm sơn nhân mà thắng được Pháp thì thực dân đâu có mạnh. Các nhà ái
quốc Syrie rục rịch hưởng ứng để lật Pháp. Pháp phải thả bom xuống kinh
thành Damas. Trong rừng cuộc chiến đấu gay go hơn. Ban ngày Pháp làm
chủ, ban đêm Druse làm chủ. Anh tiếp tế khí giới cho Druse, trên một
năm Pháp mới dẹp được. Tướng Sarrail bị gọi về, Henri de Jouvenel, một
chính khách đến thay. Thế là công việc bình định của Gouraud và Weygand
sụp đổ. CUỘC KHỞI NGHĨA ở MAROC
Cuộc khởi nghĩa của Abd El Krim ở Maroc còn làm cho Pháp điêu đứng hơn. Cũng có bàn tay của Chekib Areslane.
Abd El Krim là hậu duệ của Omar, một chiến sỹ của Mohamed. Mới đầu ông
ta nổi dậy chống thực dân Tây Ban Nha, lôi cuốn được bộ lạc Rif, thắng
Tây Ban Nha một trận lớn ở Anoual năm 1921, chiếm được vô số tiểu liên,
đại bác, đạn dược và cả phi cơ nữa, và một ngàn tù binh mà Tây Ban Nha
phải chuộc bằng bốn triệu đồng peseta.
Có khí giới và tiền bạc rồi, Abd El Krimk mới quay lại giải phóng xứ
Maroc thuộc Pháp. Thống chế Lyautey thấy nguy, năn nỉ chính phủ gửi
viện binh qua. Pháp nghèo quá, lắc đầu. Lyautey có tài cầm quân, đẩy
lui được nghĩa quân, nhưng nghĩa quân chiến đấu rất gan dạ, thắng lại
quân Pháp, và Abd El Krim thừa thế tiến tới Fez, Taza, Ouezzane.
Dân chúng Pháp xao động. Các nhà báo, các chính khách đã nghĩ tới giải
pháp chia phía bắc Maroc cho Abd El Krim. Thống chế Lyautey không chịu,
cho như vậy thì sẽ mất hết. Chính phủ gọi ông ta về. Thống chế Pétain
qua thay.
Pétain khôn ngoan hơn Lyautey, mới đầu làm bộ tuân lệnh chính phủ, điều
đình với nghĩa quân, - dĩ nhiên là ông ta đưa những điều kiện mà nghĩa
quân không thể chấp nhận được - rồi chứng tỏ cho Paris thấy rằng không
còn giải pháp nào khác là tiếp tục chiến đấu. ông ta lại liên kết với
Tây Ban Nha, Paris đành phải đưa thêm quân và khí giới qua. Lúc đó Abd
El Krim có khoảng một trăm bốn chục ngàn nghĩa quân, Pétain có ba trăm
ngàn quân và hai mươi hai phi đội. Nghĩa quân biết rằng lần này Pháp
không khi nào chịu bỏ Maroc. Abd El Kiêm chiến đấu rất hăng nhưng không
tấn công được nữa mà chỉ tự vệ, sau cùng phải đầu hàng. Pháp đày ông ta
qua đảo Réunion; say này ông trốn thoát, về Ai Cập hợp tác với Nasser. SÁU TIỂU BANG HỒI GIÁO Ở NGA
Trong khi đó, ở Nga, chính phủ Xô Viết thành lập sáu tiểu bang Cộng hòa
cho những miền mà dân theo Hồi giáo chiếm đa số: Ouzbekistan,
Kazakastan, Kirghizie, Tadijikistan, Turkmenistan, Azerbaidjan[15].
Theo hiến pháp, mỗi tiểu bang đó có thể rút ra khỏi Liên bang Xô Viết
lúc nào cũng được, có quốc kỳ riêng, chính phủ riêng, và quân đội
riêng, nếu muốn. Trên giấy tờ thì vậy, trên thực tế thì các chính phủ
của sáu tiểu bang đều bị đảng cộng sản chi phối, mà đảng viên đa số là
người Nga. Viên Thủ tướng là người Hồi giáo, mà Phó Thủ tướng thì luôn
luôn là người Nga. Người Nga nắm bộ Nội vụ, để lại cho người bản xứ
những bộ không quan trọng như Y tế, Giáo dục, Tư pháp...
Như vậy thì các nhà cầm quyền Hồi giáo chỉ đóng vai gần như là cố vấn,
có đời nào mà dám tách ra khỏi Liên bang. Kẻ nào mà đưa đề nghị đó ra
thì bị đày hoặc xử tử liền vì tội phản dân".
Nhưng bề ngoài vẫn giữ được đẹp đẽ. Trong Quốc hội vẫn có đại diện của
các dân tộc thiểu số. Và khi nào muốn có một tiếng nói trong các vụ
liên quan tới Hồi giáo trên thế giới, thì chính quyền Xô Viết sẽ đưa
đại diện của sáu tiểu bang gồm ít nhất là 20 triệu người đó ra. Vì Nga
đâu có bỏ rơi hẳn bán đảo Ả Rập. Sau Thế chiến thứ nhì, họ mới rảnh tay
để hoạt động trở lại và vấn đề Israel - Ả Rập (tức Do Thái giáo - Hồi
giáo) sẽ cho họ cơ hội đóng vai trò trong tài nghịch với Mỹ ở đó.
|