Tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê về bán đảo Ả Rập, chương XII.
CHƯƠNG XII: CHIẾN TRANH LẬP QUỐC ISRAEL
DO THÁI XUNG PHONG VÀO PALESTINE
Cuốn Bạch thư của Anh chưa kịp đưa ra hội đồng Vạn Quốc thì Thế chiến
nổ, thành thử nó không có giá trị về pháp lý, nhưng người Anh bất chấp
pháp lý, cứ đem ra thi hành, hạn chế sự hồi hương của dân tộc Do Thái
đúng vào cái lúc họ trốn châu Âu để khỏi bị Hitler tiêu diệt.
Vì từ khi lên cầm quyền, bọn Hitler nuôi cái ý tận diệt nòi giống Do
Thái, chẳng những khơi lại lòng kỳ thị tôn giáo mà còn gây thêm lòng kỳ
thị chủng tộc nữa. Họ tuyên truyền rằng giống Do Thái có máu quỉ quyệt,
phản bội - xưa kia đã phản Chúa rồi đấy - không khi nào đồng hóa với
các dân tộc khác, sống ở xứ nào cũng tìm cách làm hại chính phủ; vậy
phải tống cổ chúng đi, để khỏi có hậu hoạn và để cho giống Đức, một
giống thông minh nhất, cao thượng nhất thế giới, khỏi bị lai bậy bạ mà
sa đọa.
Người ta cấm đoán Do Thái đủ thứ: cấm hành nghề, cấm vào các chỗ công
cộng như rạp hát, thư viện...; họ chịu không nổi, bỏ hết cả gia sản,
nghề nghiệp, xách một cái va li nhỏ đựng ít quần áo rồi ra đi.
Từ năm 1942, Âu châu thành một lò sát sinh khổng lồ và kinh khủng. Bọn
Hitler dùng đủ các phương pháp khoa học tối tân để giết cho kỳ hết dân
Do Thái ở Đức và các xứ chúng chiếm được. Chúng lùng bắt Do Thái, bóp
cổ trẻ con hoặc dìm đầu vào bể nước, tung lên cao rồi bắn như bắn chim,
xé thây, chôn sống, thiêu sống...
Thấy những trò đó phí sức, phí thì giờ, tốn xăng, tốn đạn mà kết quả
không được bao nhiêu, chúng nghĩ cách chế tạo lò thiêu và hơi ngạt.
Chúng dùng oxyde de carbone, chỉ trong mươi lăm phút giết được mấy trăm
mạng, rồi dùng lò thiêu đốt xác cho ra tro. Nhờ cách đó chúng giết được
sáu triệu người Do Thái. Riêng trại Auschwitz đã thiêu được ba triệu Do
Thái! Rồi còn vô số trại khác nữa: Dachau, Buchenwald, Mauthausen,
Birkeneau... Hết chiến tranh, người ta còn thấy ở Auschwitz những núi
giày, những phòng chất đầy nhóc những cặp kính của các kẻ bạc mệnh,
những kho đầy tóc dùng vào việc nhồi đệm, những kho đầy răng vàng nhổ ở
miệng các thây ma ra! Chỉ văn minh Tây phương mới lưu được những trang
sử như vậy cho nhân loại!
Trước cảnh chết chắc chắn và kinh khủng đó, người Do Thái nào trốn
thoát châu Âu được mà không có cách qua châu Mỹ đành xung phong, phá
vòng vây của Anh mà vào Palestine. Năm 1941 và 1942, hai chiếc tàu chở
đầy nhóc Do Thái bị đắm trong Địa Trung Hải và Hắc Hải chỉ vì Anh cấm
vào hải phận Paslestine. Trên ngàn người Do Thái mới thoát được cảnh lò
thiêu Dachau, Auschwitz thì lại phải làm mồi cho cá mập. Nhiều người Do
Thái uất ức chửi Anh: "Tụi đó cũng chó má như tụi Đức, không kém gì".
Thất bại bi thảm, nhưng họ không nản chí, xung phong một chuyến thứ ba
nữa và năm 1946 thành công. Ba trăm trẻ em Do Thái trốn thoát một trại
giam của Anh trên đảo Chypre, xuống được chiếc tàu Exodus và đậu ngay
gần bờ, cương quyết đòi được qua Palestine, nếu không thì tuyệt thực.
Họ tuyệt thực thật, tới ngày thứ tư, mười em sắp tắt thở, cả thế giới
công phẫn, chính phủ Anh đành chịu thua, cho tàu Exodus nhổ neo lại
Palestine.[27] CHIẾN TRANH Ả RẬP - ISRAEL
Trước kia Anh là ân nhân thì bây giờ thành kẻ thù của Do Thái. Ở
Palestine Do Thái vừa phải chống với Anh, vừa phải chống với Ả Rập. Bị
đặt vào tử lộ, họ phải đoàn kết với nhau mà chiến đấu và chiến đấu rất
hăng.
Đoàn tự vệ Hagana được khuếch sung, họ tổ chức thêm các đoàn nghĩa quân
khác: Irgoun, Stern, hoặc chuyên xung phong, hoặc chuyên ám sát. Ả Rập
cũng bất bình, tấn công cả Do Thái lẫn Anh. Palestine hỗn loạn không
tưởng tượng nổi. Cả ba dân tộc đều thù nghịch nhau và dân tộc nào cũng
thù địch cả hai mặt.
Anh bất lực, đề nghị một giải pháp: họp hội nghị bàn tròn để tìm hiểu
quan điểm của nhau. Nhưng đại biểu Ả Rập không thèm ngồi chung với đại
biểu Do Thái; không ai thỏa thuận với ai cả. Anh và Ả Rập bác bỏ đề
nghị của Do Thái; Do Thái và Anh bác bỏ đề nghị của Ả Rập; Ả Rập và Do
Thái cũng bác bỏ đề nghị của Anh.
Do Thái bảo:
- Tổ tiên chúng tôi ở Palestine. Chúng tôi có quyền về quê hương của
chúng tôi. Quyền đó đã được Hội Vạn Quốc thừa nhận. Chúng tôi lại có
công khai phá Palestine mà không làm hại gì cho người Ả Rập; chúng tôi
tôn trọng quyền lợi của họ, và mức sống của họ nhờ chúng tôi mà cao
lên, thế thì tại sao lại cấm chúng tôi? Huống hồ hiện nay có 250.000
đồng bào của chúng tôi sống sót tại các trại giam của Đức, bảo họ đi
đâu bây giờ?
Ả Rập bảo:
- Đất Palestine, tổ tiên chúng tôi đã chiếm được từ năm 687, sau ba năm
chiến đấu với người Ba Tư, vậy thì đâu còn là của Do Thái nữa. Từ trước
chúng tôi vẫn là dân tộc đa số ở đây khi đế quốc Thổ sụp đổ, Anh đã hứa
cho chúng tôi độc lập, Tổng thống Wilson đã nêu quy tắc dân tộc tự
quyết. Vậy Palestine phải là một quốc gia Ả Rập độc lập. Chúng tôi hứa
sẽ tôn trọng quyền lợi của Do Thái, phần thiểu số trong quốc gia chúng
tôi.
Anh đã lỡ hứa cho cả hai bên, không biết đáp ra sao, trút cả trách
nhiệm cho Liên hiệp Quốc. Liên hiệp Quốc đưa giải pháp: chia đôi
Palestine thành hai quốc gia. Do Thái chịu vì thà được ít còn hơn
không, sau sẽ hay; nhưng Ả Rập nằng nặc đòi đuổi Do Thái đi.
Anh thấy ôm miếng đất đó chỉ thêm bỏng tay, tuyên bố ngày mùng một
tháng tám 1948 sẽ rút lui, để "hai bên lãnh trách nhiệm với nhau".
Tức thì hai bên thanh toán nhau dữ dội hơn trước nữa. Liên hiệp Quốc
chưa kịp can thiệp thì Anh tỏ ra bất lực mà lại có tinh thần vô trách
nhiệm, quyết định chấm dứt nhiệm kỳ hai tháng rưỡi trước ngày đã định.
Tháng 5 họ rút quân lần lần và giao lại năm mươi đồn cho người Ả Rập.
Rồi ngày 12-5, với tinh thần phớt tỉnh truyền thống của họ, họ tuyên bố:
"Ủy quyền sẽ chính thức mãn hạn vào mười hai giờ một phút trong đêm 14
rạng 15 tháng 5. Tổng ủy đại nhân, ngày 14-5 sẽ rời Jérusalem mà đi
Haìfa và xuống tàu H.M.S Euryalus, chiếc này sẽ nhổ neo mười hai giờ
khuya. Các quân đội của ta cũng bắt đầu rút ra khỏi Jérusalem và các
miền khác ở Palestine ngày 14 tháng 5".
Nghĩa là họ chỉ tuyên bố trước có hai ngày rưỡi vào đúng lúc ủy ban Liên hiệp Quốc không có mặt ở Palestine.
Ngày 14-5, hồi 16 giờ, vị lãnh tụ Do Thái, Ben Gourion, tuyên bố giữa quốc hội Do Thái họp ở Tel Aviv:
"Tôi tuyên bố thành lập một quốc gia Do Thái ở Palestine. Kể từ hôm
nay, quốc gia đó lấy tên là Israel. Hỡi các đồng bào Do Thái ở khắp thế
giới xin các bạn nghe tôi đây. Các bạn đứng hết cả về phía Israel. Giúp
cho quốc gia phát triển. Giúp cho dân tộc chiến đấu để thực hiện cái
mộng ngàn năm của chúng ta, cái mộng cứu quốc và phục hưng Israel".
Đêm hôm đó, không người Do Thái nào ngủ được. Đúng nửa đêm. Anh hết
quyền ở Palestine, thì nửa giờ sau Tổng thống Truman loan báo rằng Hoa
Kỳ đã thừa nhận quốc gia Israel. Vài giờ sau Nga cũng đánh điện thừa
nhận, không biết hai chục triệu người Hồi giáo ở Nga nghĩ sao. Sau Nga,
tới nhiều quốc gia khác. Các nhà ngoại giao Do Thái hoạt động ngầm
trong mấy tháng nay đã thành công.
Nhưng bây giờ mới bắt đầu tới lúc phải hy sinh ghê gớm. Bi kịch đã khai
diễn ngay từ cái lúc bản văn thành lập quốc gia Israel chưa ráo nét mực.
Bom đạn nổ ở khắp nơi, ở phía Bắc, phía Đông, phía Nam. Quân đội Ả Rập tấn công từ mọi biên giới.
Vua Abdallah xứ Transjordanie, người có cảm tình nhất với Do Thái, cũng
tuyên bố với Liên hiệp Quốc rằng quân đội của ông bắt buộc tiến vào
Palestine để che chở những người Ả Rập sinh trưởng tại đó khỏi bị Do
Thái tiêu diệt. Đồng thời hai đạo quân Ai Cập tiến vào Gaza và Hébron
trong sa mạc Neguev. Hai đạo quân khác của Transjordanie bao Hắc Hải,
tiến vào Jérusalem và phía dưới Sodome. Một đạo quân lính chặn phía Nam
Gahlée, một đạo quân Syrie tấn công Tibériade, Safed. Một đạo quân nữa
của Liban tấn công phía Bắc Galilée, đổ về Haifa. Tel Aviv bị tấn công
cả ba mặt. Có một điều lạ là Ibn Séoud đầu năm 1945, nói với Roosevelt
nhất định không cho Do Thái vào Palestine vì với tư cách đại diện Hồi
giáo, ông phải bênh vực tín đồ của ông, vậy mà bây giờ mấy nước kia đều
đem quân tấn công Do Thái, ông lại không nhúc nhích, đứng ngoài nhìn!
Thần dầu lửa cơ hồ thiêng hơn Allah! Liên quân Ả Rập tính thanh toán
Israel nội trong mười ngày và vua Abdallah định ngày 25-5 sẽ vào
Jérusalem.
Xét bề ngoài thì thế của Ả Rập mạnh gấp mười Israel (ngay bộ trưởng
ngoại giao của Mỹ, tướng Marshall cũng ngại cho Do Thái bị đè bẹp mất);
nhưng xét kỹ bề trong thì Israel mạnh hơn Ả Rập: quân số gấp ba, Israel
60.000, Ả Rập 21.000; khí giới tối tân hơn; tinh thần cao hơn vì họ
phải chiến đấu để sống còn; mà sự chỉ huy lại nhất trí hơn.
Ngay từ hồi mới giao chiến, 500.000 người Ả Rập ở Palestine hốt hoảng,
bỏ hết của cải, trốn qua biên giới Transjordanie vì họ đã thấy cái
gương của làng Deir Yassin. Làng này ở gần Jérusalem, gồm 400 người Ả
Rập không có khí giới, chung quanh là các đồn điền Do Thái. Ngày 8-4 họ
được lệnh của Do Thái phải tản cư ngay nội trong mười lăm phút! Vài
người đi kịp còn bao nhiêu bị Do Thái giết, cả đàn bà và trẻ con. Hai
hôm sau, đại diện Hồng thập tự quốc tế, là ông Jacques de Reynier, vào
được trong làng, chỉ còn thấy hai người đàn bà và một đứa em gái.
Nửa tháng sau, tình thế thực hỗn độn. Gần như không thành mặt trận nữa,
chỉ có vô số cuộc xáp chiến lẻ tẻ ở khắp nơi; và lúc này người ta mới
thấy tổ chức tự vệ của kibboutz có lợi cho Do Thái vô cùng. Hầu hết các
kibboutz đều chống cự rất can đảm, chặn được nhiều cuộc xung phong của
Ả Rập, rồi tập kích quân Ả Rập nữa, Tại một kibboutz, viên chỉ huy Do
Thái đã tử trận, mà họ vẫn giữ được vị trí cho tới khi quân tiếp viện
tới. Đàn bà làm liên lạc viên, tiếp tế quân nhu, đàn ông ở dưới hầm
liệng lựu đạn vào các xe tăng Ả Rập.
Mới đầu bị đánh ở khắp mặt, Israel hơi núng. Lần lần họ vững lại được,
thắng quân đội Liban và Iraq. Tới khi quân tinh nhuệ Hagana của họ
thắng được một trận lớn ở Fallouga thì quân Ai Cập phải rút lui trong
cảnh hỗn loạn.
Nhiều sách nói Liên Hiệp Quốc thiên vị Israel, đúng khi Ả Rập đương
thắng thì ra lệnh cho hai bên ngưng chiến, để cho Israel nghỉ ngơi gom
lại lực lượng. Lời đó có thể đúng. Nhưng khi ngưng chiến thì bên nào
cũng lợi dụng để củng cố lực lượng.
Bá tước Bemadotte, chủ tịch Hội đồng Hồng Thập tự Thụy Điển lại điều
tra tìm cách hòa giải. Ông đưa ra một đề nghị chia đôi Palestine.
Jérusalem sẽ bị quốc tế hóa mà nằm trọn trong đất Ả Rập. Một số Do Thái
trong nhóm Stern, ngờ ông thiên Ả Rập, ám sát ông, làm cho thế giới
phẫn nộ vì ai cũng phục ông là người cao thượng. Chính quyền Do Thái
bắt nhốt mấy tên ám sát đó, nhưng ít lâu sau lại để cho chúng vượt
ngục, rồi vụ đó bỏ qua. Nhiều nhân viên trong ủy ban hòa giải đâm nản.
Hai bên lại choảng nhau, lại ngưng chiến. Rồi lại choảng nhau. Tới lần ngưng chiến thứ tư mới thực là đình chiến.
Đầu năm 1949, lần lượt Israel ký bốn hiệp định đình chiến với bốn quốc
gia Ả Rập: Ai Cập, Syrie, Liban, Transjordanie. Iraq không chịu ký vì
không có biên giới chung với Israel, còn Ả Rập Saudi không tham chiến.
Biên giới ấn định theo đường mà quân đội Israel chiếm đóng khi đình
chiến. Biên giới này không làm cho hai bên vừa lòng (mà cũng không có
biên giới nào vừa ý cả hai bên được): Do Thái bất mãn vì thành
Jérusalem bị chia đôi mà khu cổ có nhiều di tích của họ (như Bức tường
Than khóc: Mur des Lamentations) về Transjordanie, khu mới về họ; và
cũng vì Ai Cập chiếm một thẻo bờ biển từ Rafa tới Gaza, như một lưỡi
dao ở bên sườn Israel; còn Ả Rập thì bất mãn vì mất nhiều đất quá.
Thế là Palestine mất tên trên bản đồ, nhường chỗ cho Israel; còn
Transjordanie (nghĩa là xứ nằm ở bên kia bờ sông Jourdain) rộng thêm
được một chút, đổi tên là Jordani (nghĩa là xứ nằm trên hai bờ sông
Jourdain).
Ai cũng thấy Ả Rập bị ức hiếp; phần đất của họ không xứng với dân số.
Chính ủy ban Hồng Thập tự quốc tế cũng nhận rằng Âu Mỹ đã thiên lệch.
Trên vòm trời Palestine một đám mây đen mới tan nhưng ba phía chân trời
còn u ám. Chỉ là đình chiến chứ chưa phải là hòa bình. CÁC QUỐC GIA Ả RẬP ĐỀU QUYẾT TÂM XÉ BỎ HIỆP UỚC 1949
Giải quyết như vậy chưa thể ổn được. Còn nhiều nguyên nhân xung đột quá.
Nguyên nhân thứ nhất là lòng tham lam của Israel. Dân số Do Thái lúc đó
chỉ bằng nửa dân số Ả Rập ở Palestine, đất đã được chia gấp hai mà họ
vẫn thấy còn chật hẹp quá. Nếu họ muốn rằng hết thảy hoặc ba phần tư Do
Thái trên thế giới (khoảng hai chục triệu) mà về cả đó thì chật hẹp
thật. Nhưng nếu họ nghĩ rằng chỉ cần tiếp thu những đồng bào bị kỳ thị
ở các nơi khác thì bấy nhiêu là nhiều rồi. Họ không nghĩ vậy, cứ nhìn
những khoảng đất mênh mông của cả khối Ả Rập chưa được khai phá mà thèm
thuồng. Tệ hơn nữa, họ cứ nhắc nhau lời Chúa hứa với Abraham trong
Thánh kinh: "Ta ban cho con cháu ngươi dải đất nằm từ sông Ai Cập (tức
sông Nil) tới sông Cái (tức sông Euphrate)" mà hy vọng mở mang bờ cõi
từ núi Taurus (Tiểu Á) tới kênh Suez nghĩa là nuốt trọn xứ Syrie, xứ
Liban, xứ Jordani, một phần xứ Iraq, xứ Ả Rập Saudi và xứ Ai Cập nữa. Y
như là gia tài tổ tiên họ để lại vậy? Mới có quốc gia mà đã đòi làm
thực dân! Mà Hồi giáo cũng chẳng vừa gì: "A! Tụi Do Thái bảo Jahvé của
họ là thần chiến tranh ư? Thì chúng ta sẽ cho họ thấy rằng Islam cũng
là tôn giáo biết dùng lưỡi kiếm!". Không biết Jahvé và Allah có vinh
hãnh vì tín đồ của mình không.
Nguyên nhân thứ nhì là tình cảnh tâm lý dân Ả Rập tản cư. Ngay từ đầu
chiến tranh họ bỏ hết gia sản, dắt díu nhau qua bên kia biên giới gần
hết, trước sau trên nửa triệu. Họ không phải chỉ vì hốt hoảng mà trốn
đi: một phần còn vì tinh thần quốc gia, một phần vì những hành động tàn
nhẫn của Do Thái. Chỉ một vụ tàn sát của một bọn khát máu - trong chiến
tranh nào mà chẳng có bọn khát máu - đủ làm cho những người Ả Rập ở các
nơi khác không dám ở lại nữa. Hết chiến tranh, chính quyền Israel chỉ
cho một số ít Ả Rập theo Ki Tô trở về, còn những người theo Hồi giáo
thì cấm ngặt. Họ cấm là phải, chính phủ nào mà muốn có kẻ địch ở trong
nước. Những người theo Hồi giáo mà còn ở lại được là vì trong chiến
tranh không tản cư. Dĩ nhiên, họ bị đồng bào nghi kị, khinh rẻ.
Vậy có trên nửa triệu người Ả Rập tản cư ở Jordani (sau này gây bao nỗi
khó khăn cho quốc vương Hussein xứ đó), 220.000 người ở miền Gaza,
100.000 người ở Liban, 90.000 ở Syrie, tổng cộng non một triệu người.
Không rõ hiện nay ra sao chứ năm 1967 họ vẫn ở tạm gần miền biên giới,
ngày nào cũng đăm chiêu nhìn về cố hương. Người Do Thái khóc trên bờ
sông Danube mà nhớ Sion, thì người Ả Rập than khóc trên bờ con sông
Jourdain mà nhớ Tibériade, Nazareth, Beercheva... Dòng sông nào trên
thế giới mà không pha nước mắt! Những lúc gió sớm trăng tàn họ nhìn
rặng liễu bên sông, tủi cho cái cảnh sống nhờ trợ cấp của Liên hiệp
Quốc. Mỗi năm mỗi người được lãnh 37 Mỹ kim, mỗi tháng 3 Mỹ kim -
360USD theo hối suất hiện nay[28]. May lắm là không chết đói. Đau ốm
không có nhà thương, con cái không có trường học. Có gia đình gồm 15,
20 người chui rúc dưới những tấm bố căng lên che nắng che mưa, bên cạnh
những đống rác. Trẻ em thì đánh giày hoặc xách đồ ở chợ, còn người lớn
thì không có công việc gì để làm.
Người ta đề nghị cho họ di cư lại các miền phong phú mà tái lập sự
nghiệp, như lại Dahran, lại Koweit, họ không chịu, cứ ăn vạ ở đó, khăng
khăng đòi về cố hương. Họ chịu nhận cái kiếp lang thang tới nay đã hai
chục năm. Họ bảo như vậy đã thấm gì, dân tộc Do Thái lang thang non hai
ngàn năm, mà non hai ngàn năm, mà còn về được cái miền nhận càn là quê
hương kia! Chúa Jahvé của Do Thái đã cứu Do Thái. Còn Chúa Allah của họ
bao giờ mới cứu họ? Lịch sử nhân loại sao mà nhiều chuyện bi thảm đến
thế.
Họ oán các xứ Liban, Jordani, Syrie, Ai Cập đã phản bội họ mà đầu hàng
Israel; họ oán Ibn Séoud làm chủ Thánh địa La Mecque, ngày năm lần cầu
nguyện Allah mà bỏ rơi con cháu của Allah là họ.
Lại thêm cái nỗi một số chính khách Ả Rập cũng không muốn cho họ đi nơi
khác, để các dân tộc Ả Rập luôn luôn nhớ cái nhục chung mà đoàn kết
nhau lại, thành một khối thống nhất.
Quốc vương Jordani là Abdallah, vì không oán Do Thái kịch liệt như các
lãnh tụ Ả Rập khác - có lẽ Anh Mỹ đã hứa hẹn gì với ông ta - năm 1950
muốn tìm một giải pháp, thương lượng ngầm với Ben Gourion, Thủ tướng
Israel, bị ám sát ngày 21-7-1951 vì tội "phản dân tộc". Thủ tướng Liban
là Ryad Solh cũng mất mạng vì muốn điều đình với Israel. Ta nên nhớ
Jordannie là xứ nhỏ quá, năm 1948 chỉ có độ 500.000 người, thêm 600.000
Ả Rập ở Palestine, được trên một triệu người, lúc nào cũng sống nhờ
viện trợ của Anh hay Mỹ; còn Liban là một xứ chịu ảnh hưởng của phương
Tây từ thời Trung cổ, dân một nửa theo Hồi giáo, một nửa theo Ki Tô
giáo.
Vì hai nguyên nhân trên mà các quốc gia Ả Rập đều quyết tâm xé bỏ hiệp ước 1949.
Thủ tướng Syrie tuyên bố trước quốc hội Damas: "Không thể quan niệm
rằng có hòa bình với Israel. Chúng ta đã thua keo đầu, chúng ta sẽ tận
lực sửa soạn keo sau".
Quốc vương Jordani là Abdallah vì thân Israel mà bị ám sát, vậy mà cháu
nội ông lên nối ngôi, tức Hussein (cha của Hussein bị bệnh thần kinh,
không trị vì được), cũng nói: "Không khi nào có hòa bình mà cũng không
thể thương thuyết gì với Israel được".
Và quốc vương Ả Rập Saudi là Saud, con của Ibn Séoud ông vua đã đứng
ngoài nhìn Do Thái đánh nhau với đồng bào mình, cũng hô hào dân chúng:
"Phải bứng cho Israel hết rễ đi. Chúng ta hết thảy là 50 triệu người Ả
Rập, nếu cần thì hy sinh mười triệu người để sống yên ổn trong danh dự".
Các đế quốc Mỹ, Nga, Anh, Pháp tất nhiên đổ thêm dầu vào lửa hoặc ít
nhất cũng lợi dụng cơ hội để bán khí giới cho cả hai bên mà thu về trái
cây (cam, quít, bưởi) của Israel, bông vải của Ai Cập, dầu lửa của
Iraq... ISRAEL PHÁT TRIỂN MẠNH
Trong khi đó Israel cũng tận lực sửa soạn cho keo sau, một mặt tiếp thu
thật nhiều đồng bào hồi hương (càng nhiều càng thêm lính để chống với
50 triệu Ả Rập kia mà), một mặt tổ chức và kiến thiết quốc gia cho vững
mạnh.
Trước năm 1948, mỗi năm số người hồi hương vào khoảng từ 15 đến 20
ngàn, năm 1948 tăng vọt lên 102.000, năm 1949 lên 239 ngàn, hai năm
sau, mỗi năm trên dưới 170 ngàn, nghĩa là chỉ trong ba năm 1949 – 1952,
số dân Do Thái tăng lên gấp đôi ở Israel.
Do Thái từ khắp nơi trên thế giới đổ về, được chính quyền dạy dỗ, cất
cho nhà cửa, phát cho ruộng đất. Các nông trường mọc lên khắp nơi, cả
trong sa mạc, và ở đâu có đồn điền là có đồn lính, mỗi nông dân thành
một nông vệ. Người Do Thái nào không về (như Do Thái Mỹ) thì gởi tiền
về; chính phủ Mỹ viện trợ thêm[29], những số tiền đó cộng với tiền Đức
bồi thường chiến tranh, giúp họ kiến thiết quốc gia.
Họ kiến thiết rất hăng nhờ có nhiều kỹ thuật gia tài giỏi, nhờ biết tổ
chức và nhờ tinh thần ái quốc. Chính phủ Cộng Hoà được thành lập: Tổng
thống đầu tiên là Chaim Weizmann, Thủ tướng đầu tiên là Ben Gourion. Có
một Quốc hội và trên mười đảng chính trị. Phụ nữ Do Thái và Ả Rập đều
được đi bầu. Từ ngữ Hebreu tái sinh, được dạy trong mọi trường học và
chỉ trong 15 năm, tỷ số sinh viên đại học của họ gần theo kịp tỷ số ở
Pháp.
Nhưng họ chú trọng nhất đến kinh tế và võ bị.
Các kỹ nghệ điện, điện tử, hoá học, luyện kim... đã tiến bộ rõ rệt.
Canh nông đạt được những kết quả tốt đẹp nhất, các quốc gia Âu Mỹ phải khen là một phép màu.
Họ có những hình thức kinh doanh về canh tác mà không nước nào có, như
hình thức cộng đồng bibboutz tôi đã giới thiệu ở một trang trên, hình
thức mochav ovedim bán cộng đồng bán cá nhân, hình thức hợp tác mochav
chi toufi.
Họ gắng sức đào tạo cán bộ và chống nạn thiếu nước. Dân số chỉ vào
khoảng hai triệu năm 1963 mà họ có 30 trường canh nông, gồm 5.500 học
sinh. Cứ theo tỷ số đó thì nước ta phải có 330.000 – 380.000 học sinh
canh nông. Nhờ vậy cứ hai mươi gia đình nông dân được một huấn luyện
viên canh nông dắt dẫn. Tới Nga cũng phải thua họ về phương diện đó.
Khí hậu ở sa mạc Neguev rất khô khan; càng về phía Nam càng ít mưa. Tại
Beercheva mỗi năm còn mưa được 20 phân nước, tại Eilath cực Nam, mỗi
năm chỉ mưa được ba phân nước. Nước mưa đổ xuống 60% bốc lên thành hơi,
9% chảy xuống các sông ngòi; chỉ còn 35% thấm vào đất xuống các mạch
sâu; cây cối chỉ hút được từ 15 đến 20% nước mưa, nghĩa là mỗi năm chỉ
được hưởng của trời từ 4 phân đến 6 li nước, tùy chỗ. Dân xứ đó có
tiếng nào như tiếng “cam vũ” của Trung Hoa không nhỉ? Mưa ở đó tất phải
“ngọt” như sữa, như mật!
Người Israel không nản chí, đào giếng, xây hồ chứa nước, đào kênh dẫn
nước từ phương Bắc xuống, ngăn nước mưa trên núi cho khỏi chảy phí,
tiết kiệm từng lít nước, nghiên cứu các cách cất nước biển thành nước
ngọt (phí tổn còn nặng quá, họ không giàu như Koweit, không thể dùng
phương pháp đó được, vì một lít nước như vậy còn đắt hơn một lít dầu
xăng).
Kết quả là năm 1948–49, diện tích đất cày là 162.000 héc-ta, năm
1962-63 tăng lên 420.000; năm 1947 gặt được 52.000 tấn lúa, năm 1962
được 160.000 tấn; sáu chục triệu cây đã được trồng; một nửa sa mạc
Neguev đã mơn mởn.
So với các dân tộc Ả Rập ở chung quanh, họ có một sức sống cao hơn
nhiều: lợi tức trung bình của mỗi người dân năm 1962 là 3.700 quan
Pháp[30] tức 90.000 đồng VN hiện nay[31]. Con số đó chưa thể so sánh
với châu Âu được, nhưng Israel có đặc điểm này là không có sự cách biệt
lớn giữa lợi tức các cấp cao và các cấp thấp.
Lương Tổng thống chỉ được 100.000 quan cũ mỗi tháng (khoảng 25.000 đồng
VN) và quỹ đen chỉ có 2.000 quan mỗi tháng, đủ để mua nửa chai Cognac
đãi khách quí. Viên Tổng tham mưu trưởng Moshé Dayan cũng được lãnh
100.000 mỗi tháng nhưng khi nào ở trong trại thì bị trừ lương và chỉ
được mang về 18.000 quan. Chả bù với quốc vương Saud của Ả Rập Saudi
sống lộng lẫy hơn các vua Ba Tư trong Một ngàn lẻ một đêm: nội cái
khoản săn sóc vườn ngự uyển cũng đã tốn hàng chục tỷ quan mỗi năm rồi.
Nhưng dân chúng Israel ăn uống sung sướng, trung bình mỗi người dân năm
1962-63 được 34 kg thịt (mỗi ngày non 100 gam), 132 kg trái cây (mỗi
ngày khoảng 350 gam), 340 quả trứng (mỗi ngày gần được một quả).
Tôi thường tự hỏi có cần áp dụng một chính sách độc tài để cho kinh tế
mau phát triển không. Độc tài thì Ai Cập của Nasser độc tài hơn Israel:
chỉ có một đảng độc nhất, báo chí bị quốc hữu hóa cũng như mọi kỹ nghệ
quan trọng. Vậy mà Israel bỏ xa Ai Cập là tại đâu? Tôi không nói đến Ả
Rập Saudi, xứ đó còn chưa ra khỏi thời Trung cổ, nhưng ngay như Ai Cập,
cũng có một chương trình xã hội tiến bộ có phần hơn cả Israel mà sao
thực hiện không được? Có phải tại trình độ dân chúng kém không? Hay tại
thiếu cán bộ, thiếu kỹ thuật gia? Hay tại họ không ở vào tử lộ như
Israel nên không cần phải hy sinh, phải tận lực chiến đấu?
Israel càng phát triển mạnh thì các dân tộc Ả Rập càng ghen tị, càng
ghét, càng lo ngại, càng muốn bứng nó đi. Người ghét nó nhất, cảm thấy
nỗi tủi nhục của Ả Rập nhất, là Nas-ser. |