|
Tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê về bán đảo Ả Rập, chương XIX.
CHƯƠNG XIX: HỢP RỒI CHIA, CHIA RỒI HỢP - CHIẾN TRANH DẦU LỬA
Từ 1961 đến 1966, tình hình các quốc gia Ả Rập cũng vẫn rất rối ren,
hợp rồi chia, chia rồi hợp, cũng có mấy cuộc đảo chính thành công ở
Iraq, Syrie, thất bại ở Jordani, nhưng đều không có hậu quả gì lớn. Chỉ
có chiến tranh dầu lửa đưa tới sự độc lập của Koweit (1961) là đáng kể.
Ảnh hưởng của Anh và Nga hơi lùi mà ảnh hưởng của Mỹ dưới thời Kennedy thì hơi tiến.
Trong khi đó sự mâu thuẫn giữa Israel và khối Ả Rập mỗi ngày thêm sâu
sắc, đưa tới cuộc chiến tranh 1967. Trong chương này chúng tôi xét mấy
điểm trên, còn điểm cuối cùng (chiến tranh Do Thái - Ả Rập) sẽ để lại
chương sau vì nó đánh dấu một bước lùi của khối Ả Rập.
ĐẢO CHÍNH VÀ ĐẢO CHÍNH! TÂN CỘNG HÒA Ả RẬP!
Từ 1960, Kassem thắng được phe đối lập thống nhất rồi, muốn quay lại đàn áp đảng cộng sản, lại giao hảo với Nasser.
Khi gặp cái thế chân vạc thì đó là chính sách muôn thuở như Trung Hoa thời Tam Quốc cũng vậy mà Iraq thế kỷ XX cũng vậy.
Ngày 28 tháng giêng năm 1961, nhân một hội nghị liên minh Ả Rập ở
Bagdad, Ai Cập và Syrie được mời tới dự và ngoại trưởng Ai Cập được
hoan nghênh nhiệt liệt: Mười ngàn người đi rước phái đoàn ở phi trường,
tên Nasser được hoan hô vang dội khắp châu thành. Dân chúng thành thật
vui mừng vì thấy khối Ả Rập được thống nhất. Có lẽ một phần cũng do tin
loan ra mấy tuần trước rằng Israel đương chế tạo bom nguyên tử.
Lúc đó Nasser thấy mục đích thống nhất Ả Rập của mình đã gần đạt được.
Ông ta viết thư cho quốc vương Hussein, tỏ ý muốn được gặp. Tháng ba,
ông họp hội nghị các dân tộc Phi châu ở Le Caire, hai trăm đại biểu của
27 quốc gia tới dự. Vua Saud loan tin tới tháng tư 1962, hết hạn, sẽ
không cho Mỹ dùng căn cứ không quân Dahran nữa.
Ỏ trong nước Nasser xúc tiến việc cải cách xã hội: Quốc hữu hóa các xí
nghiệp, các ngân hàng, hạn chế thêm diện tích ruộng của các điền chủ
rút xuống còn 42 héc-ta, các điền chủ Syrie bất bình (vì từ tháng
2-1958, Ai Cập và Syrie chung một chính phủ).
Nhưng tháng chín, thêm một sự đổ vỡ nữa: Nasser muốn hợp nhất quân đội
Syrie và Ai Cập, nhiều tướng tá Syrie bất mãn, lại thêm giới địa chủ và
thương gia cũng không ưa chính sách kinh tế của Nasser, loạn nổi lên,
Nasser không dám đàn áp, một chính khách Syrie lật đổ nội các cũ, thành
lập nội các mới, tách ra khỏi Ai Cập.
Thế là hợp không lâu thì đã tan. Nhưng tan cũng không lâu rồi lại hợp.
Tháng hai năm sau (1962), Kassem thất nhân tâm quá, lại thất bại trong
vụ đòi sáp nhập Kowiet, trục xuất đại sứ Anh, Mỹ mà không nhờ cậy Nga
được (vì ông ta đã đàn áp đảng cộng sản) nên hóa ra bơ vơ. Đảng xã hội
Baath (chủ trương thống nhất Ả Rập) nổi dậy, hình như có bàn tay của Mỹ
nhúng vào. Đại tá Makki El Hachemi dẫn một sư đoàn thiết giáp về Bagdad
chiếm dinh tổng thống, bắt được Kassem, xử bắn, chở thây tới đài vô
tuyến truyền hình quay phim cho quốc dân coi. Cũng dã man như cuộc cách
mạng 1958.
Đại tá Aref, phó tổng thống sau ngày 14-5-1958, địch thủ của Kassem,
lên làm tổng thống, thực hiện ngay chủ trương cũ của ông: Liên kết với
Ai Cập (tháng hai năm 1963). Trước Kassem ân xá ông ta, mà bây giờ ông
ta không cứu Kassem. Tình đồng chí thường như vậy.
Nhưng thủ tướng Abdul Salem Aref (lúc đó đã là thống chế) chỉ cầm quyền
được ba năm. Tháng năm năm 1966, chiếc trực thăng chở ông đương bay thì
không hiểu vì lý do gì nổ tan tành và ông ta tan thây. Ai cũng tưởng
cái chết bi thảm và bí mật đó sẽ gây một cuộc nội loạn. Chính phủ Iraq
cũng sợ như vậy nên lập tức tuyên bố thiết quân luật, cho canh gác kỹ
các cơ quan rồi hôm sau mới báo tin tại nạn đó cho quốc dân hay.
Người anh của Tổng thống, tướng Abdul Rnhman Aref lúc đó đương cầm đầu
một phái đoàn quân sự ở Nga, lo ngại, đợi bốn mươi tám giờ sau, mới dám
về Bagdad.
Để tránh cuộc nội loạn, chính quyền Iraq nghe lời khuyên bảo của Ai Cập
đề cử tướng Abdul Rahman Aref lên làm thủ tướng: Ông này có óc bảo thủ,
tư cách tầm thường. Hai người nữa, có tài hơn, có thể được đề cử, nhưng
một người có khuynh hướng thân Tây phương, Ai Cập không chịu, một người
không phải là quân nhân, quân đội không ủng hộ.
Thế là một lần nữa, quyền hành vẫn nằm trong tay quân nhân, nhưng quân
nhân Iraq giống quân nhân Việt Nam[64] sau 1963 hơn là quân nhân Ai
Cập, không được lòng dân, bị các đảng phái chống đối, như đảng Cộng sản
và đảng Baath (chính hai đảng này cũng chống đối nhau nữa), do đó chính
quyền nát bét, các tướng chỉ tính chuyện lật nhau, thanh toán nhau, mà
dân chúng thì đòi có một chính thể đại diện. Hậu quả là chính quyền
càng ngày càng tham nhũng, dân chúng càng ngày càng điêu đứng.
Và ngày 17 tháng bảy 1968, ba giờ sáng, mấy chiếc xe thiết giáp tiến về
phía dinh tổng thống, bắn mấy phát súng, bắt sống Abdul Rahman Aref,
đưa qua Anh. Cuộc đảo chính lần này "văn minh" hơn, không đổ một giọt
máu, nhưng quyền hành dĩ nhiên cũng vào tay quân nhân: Tướng Aheml
Hasan Badr, được các tướng tá không quân ủng hộ, y như ở Việt Nam. Chưa
rõ chính quyền Badr thân Nga hay thân Mỹ, nhưng có vẻ lơ là với Ai Cập,
và đã mạnh bạo thanh trừng một bọn tham nhũng. May ra thì có thể đứng
vững được. Vì tương đối khá hơn các chính quyền trước.
Tình hình ở Iraq như vậy. Còn ở Syrie, tháng ba năm 1963, cũng có một
cuộc đảo chính, cũng do đảng Baath tổ chức, cũng do quân đội thực Hiện.
Salah Bitar lên làm tổng thống, lại thân với Ai Cập. Thay đổi cứ như
chong chóng.
Kết quả là ngày 17 tháng tư 1963, một nước tân cộng hòa Ả Rập thống
nhất thành lập: Ba quốc gia Ai Cập, Syrie, Iraq hợp làm một , Nasser
làm Tổng thống. Nước tân cộng hòa này khác nước cộng hòa năm 1958. Sự
thực chỉ là một Liên bang, mỗi tiểu bang vẫn giữ hiến pháp của mình
miễn là đừng có gì trái với hiến pháp chung. Thành công như vậy có lẽ
cũng do Nasser đã dùng một nhóm bác học Đức mà chế tạo được hỏa tiễn,
như để đáp lại chương trình chế tạo bom nguyên tử của Israel. Hỏa tiễn
Ai Cập bắn xa được vài trăm cây số, đáng kể là khí giới mạnh nhất ở Ả
Rập và châu Phi.
Trong số các đế quốc đương tranh nhau ảnh hưởng ở Ả Rập. Mỹ lúc này có
nhiều cảm tình với Nasser vì tin rằng Nasser không cộng sản (quả thực
ông ta không cộng sản, thẳng tay diệt cộng ở trong nước, làm cho Nga
không vui lòng, muốn lơi ra), có thể thống nhất khối Ả Rập thành một
lực lượng thứ ba chặn được Nga và Trung Cộng ở Tây Á và Phi châu. Cho
nên Mỹ tiếp tay Nasser, khuyên vua Hussein thoái vị để Jordani gia nhập
tân cộng hòa Ả Rập. Kennedy ngây thơ quá đỗi. Fayçal II đã chết, dòng
vua Hachémite chỉ còn có Hussein mà bảo ông ta thoái vị? Ông ta vốn
ghét Nasser mà bảo ông ta liên kết với Naser để Nasser gắn thêm một
ngôi sao xanh lá cây nữa lên lá cờ ba ngôi sao của tân cộng hòa? Ông ta
mới cưới một thiếu nữ Anh sau khi li dị với người vợ trước gốc Ả Rập,
tất là thân Anh mà bảo ông ta đứng về phe Ai Cập? Ông ta đâu có chịu.
Dân chúng Amman nổi dậy, ông ta cương quyết đàn áp liền, giải tán nội
các, đưa một ông chú hay bác lên làm thủ tướng và bọn quân lính tận
trung với ông lại dẹp được bọn Palestine tản cư gây rối. Bọn này lại
rút vào miền Naplouse, ổ cách mạng, để chờ một cơ hội khác.
Thấy vậy Kennedy không can thiệp nữa, nhất là khi năm triệu dân Do Thái
ở Mỹ oán ông là không nghĩ đến Israel. Ả Rập mà thống nhất thì Israel
sẽ lâm nguy. Ở Yemen, Nasser tưởng thành công mà rút cuộc không tiến
thêm được bước nào. Ngày 19-9-1962, quốc vương Hamed chết, con là Badr
(chính vị đông cung thái tử đã khuyên cha đứng về phe Ai Cập năm 1958)
lên nối ngôi. Nasser mừng rỡ tin rằng vị tân vương này tất phải tân
tiến mà tình thân nghị giữa hai nước sẽ chặt hơn. Không ngờ được cầm
quyền rồi (có kẻ xấu miệng bảo Badr đã ám sát cha), Badr lại còn độc
đoán hơn cha, bỏ hết các tư tưởng duy tân, chỉ lo bảo vệ ngai vàng để
sống một cuộc đời xa hoa, phóng túng, nhất hô bách nặc.
Đảng thân Nasser tức thì nổi dậy, ngày 27-9, đại tá El Salal lại dội
bom xuống hoàng cung, chiếm đài phát thanh, loan báo rằng Badr đã chết
vì bom, không tìm thấy thây. Sự thực Badr đã trốn thoát, gom quân của
các bộ lạc tấn công lại El Sallal. Ả Rập Saudi và Jordani tiếp sức
Badr, Nasser tiếp sức với El Sallal. Hai bên chiến đấu dữ dội, bất phân
thắng bại.
Nhưng nếu chiến tranh kéo dài, sẽ hao mòn cho Ai Cập hơn là cho Ả Rập
Saudi vì Ai Cập nghèo. Kennedy nhảy vào can thiệp, khuyên nhủ Saud để
Saud và Nasser đều rút quân ra khỏi Yemen. Sallal và Badr không có nước
đàn anh tiếp tay nữa, vẫn đánh nhau, nhưng lẻ tẻ, và Sallal giữ được
kinh đô. Kennedy lần này được cảm tình của khối Ả Rập chính vì ông ta
đứng về phe các phần tử tiến bộ, dân chủ.
Vụ Yemen làm cho hoàng đế Fayçal của Ả Rập Saudi mất cảm tình với
Nasser, ông ta thấy Nasser có ý muốn diệt các quốc gia quân chủ ở Ả
Rập. Nhất là Sallal càng ghét Nasser, muốn nhân cơ hội đó, giành lại
quyền đã trao cho Fayçal để triệt để chống Nasser. Rút cuộc tân cộng
hòa Ả Rập thống nhất không thành công hơn cựu cộng hòa là bao nhiêu:
Không tiến thêm ở Yemen, mất cảm tình của Ả Rập Saudi, tuy liên kết
được Iraq nhưng rồi lại xích mích với Iraq về vụ Koweit. chính vụ này
mới là quan trọng nhất trong mấy năm 1960 - 1966. ĐẢO CHÍNH Ở THỔ
Năm 1958, Anh mất "người con trung tín" nhất là Nouri Said, đành nuôi
hận làm vui vẻ thừa nhận chính phủ cộng hòa Iraq để giữ quyền lợi dầu
lửa. Tháng ba năm sau, Iraq rút ra khỏi hiệp ước Bagdad (tổ chức này từ
đấy đổi tên là C E.N.T.O. = Central Treaty Organisation = liên minh
Trung Đông). Lại năm sau nữa, ngày 27-5-1960, cách mạng phát ở ngay
nước khởi xướng hiệp ước Bagdad, tức Thổ.
Chúng ta đã phục tài đắc nhân tâm của Thủ tướng Thổ Menderès[65]. Được
nông dân làm hậu thuần, ông ta thắng được đảng cũ của Kémal. Đảng này
còn ảnh hưởng mạnh trong quân đội và trong giới sinh viên. Ông ta đàn
áp. Sinh viên Thổ đã có kinh nghiệm tranh đấu chính trị, không chịu
thua, tổ chức các cuộc xuống đường ở khắp các châu thành. Menderès biết
lấy lòng nông dân mà không biết lấy lòng sinh viên – trái hẳn với
Kassem - đóng cửa nhiều tờ báo và tất cả các trường đại học, tháng 4
năm 1960 gây náo động khắp trong nước. Lúc đó ông ta mới chịu nhượng
bộ, hứa sẽ bầu cử lại Quốc hội, nhưng đã trễ quá, quân đội đã nhất định
hạ ông.
Ngày 27 tháng 5, tướng Grusel đảo chính, được bầu làm tổng thống,
Menderès bị xử tử. Anh, Mỹ đâm hoảng, chỉ sợ tổ chức CENTO tan rã mà cả
khối họ gọi là Trung Đông sẽ trung lập mất. May thay, Grusel và nhóm sỹ
quan, sinh viên cách mạng không có ý nghĩ đó mà vẫn theo chính sách cũ.
Chỉ là đảo chính thôi chứ không có cách mạng. CHIẾN TRANH DẦU LỬA
Vừa thoát được mối nguy đó thì bốn tháng sau (tháng 9 năm 1960) Anh lại
phải đương đầu với Kassem. Khi cách mạng 14-7-1958 thành công, Kassem
hứa tôn trọng quyền lợi của ngoại bang để họ khỏi phá mình, chứ ông ta
đã có sẵn chủ trương: Quyền lợi của Tây phương về dầu lửa quá lớn, bất
kỳ nhà cách mạng Ả Rập nào cũng nghĩ tới chuyện giành lại cho quốc gia.
Mà không có thiếu gì quốc gia tư bản giúp họ giành lại để chia bớt cái
lợi của Anh, Mỹ.
Ngay từ năm 1953, Đức đã đánh đòn đầu tiên vào công ty Anh, Mỹ. Một
công ty Đức, công ty Delmann Bergbau, thương lượng với Yemen cho phép
tìm mỏ dầu ở miền nam Yemen, nếu tìm được thì sẽ thành lập công ty Đức
- Yemen và sẽ chia 75% số lời cho Yemen. Họ tìm không được, nhưng đề
nghị đó cũng làm lung lay chính sách fifty-fifty (chia đôi) của Anh Mỹ.
Năm 1955, một người Ý, Enrico Mattei, cũng đề nghị với Ai Cập khai thác
các mỏ dầu ở bán đảo Sinal. Mỏ dầu ở đây rất nghèo, mà họ cũng chịu
chia 49% phần lời cho Ai Cập, Anh thì cho không, vị tất đã nhận.
Năm 1957, Enrico Mattei đặt chân được vào Iran, được phép khai thác một
miền, bề ngoài vẫn giữ chính sách fifty - fifty để khỏi bị các ông ty
Anh, Mỹ phá, nhưng bề trong thì chia cho Iran tới 75% số lời.
Tới phiên Nhật cũng nhảy vào Ả Rập Saudi để chia phần, xin khai thác một khu ở phía nam Koweit và chịu nộp cho Saud 56% số lời.
Ngay các công ty Mỹ cũng cạnh tranh với nhau nữa. Năm 1958, công ty Pan
American Oil thương lượng với Iran, điều kiện rất có lợi cho Iran: 75%
số lời, lại để dành một số dầu bán rẻ cho dân Iran.
Chính công ty đó cạnh tranh cả với công ty Aramco ở Ả Rập Saudi, khai
thác một vùng ở ngoài khu vực của Aramco và ngoài số 75% lời, còn xin
chia thêm lời và các sản phẩm phụ của dầu lửa, như khí đốt (gaz), dầu
hắc (asphalte)...
Ngay các nhà thống kê ở Liên Hiệp Quốc cũng phải lên tiếng, công bố cho
các quốc gia Ả Rập và Trung Hoa thấy rằng từ 1912 tới 1950 họ bị bóc
lột quá đỗi: Iran và Iraq chỉ được chhia 1/10 hay 1/9 số lời của các
công ti, Koweit khá hơn, được chia 1/6, Ả Rập Saudi năm 1958 cũng chỉ
được chia 1/4[66]. Vậy thì đề nghị của Pan American Oil cũng chẳng có
gì là rộng rãi: Vẫn là chiếm 55% tổng số lời, mà chỉ chia cho Ả Rập
Saudi 45 %.
Kassem dĩ nhiên hiểu tình thế mới đó, nhưng đợi đến khi đã được Nga
viện trợ tiền bạc, khí giới, đã dẹp xong hai phe đối lập (Cộng sản và
Thống nhất) rồi mới quay lại nói chuyện với tư bản thực dân Anh.
Đúng ngày lễ Quốc khánh 14-7-1961, sau ba năm cầm quyền, Kassem thả hết
các nhà cách mạng chống đối ông mà là kẻ thù cũ của Anh, rồi theo chiến
thuật của Nasser trong vụ kênh Suez, trước quần chúng Bagdad, dõng dạc
tuyên bố :
- “Chúng ta tuyên chiến với người Anh, sẽ thẳng tay diệt bọn Anh vì
chúng dùng mọi thủ đoạn để làm hại chủ quyền của chúng ta, chiếm tài
nguyên của chúng ta chẳng đếm xỉa gì tới quyền lợi thiêng liêng của
chúng ta. Chúng ta sẽ không nhường cho chúng một mảnh đất nào để chúng
xây dựng những căn cứ chống phong trào giải phóng của dân tộc ta. Chúng
ta cũng không cho phép ngoại bang cướp bóc tài sản của dân chúng Iraq,
của toàn thể dân tộc Ả Rập.
Sứ thần Anh còn nhớ chăng lời của mình ba năm trước: “Cuộc cách mạng Iraq có lợi cho Anh..."
Và Kassem tấn công liền trên hai mặt trân: ở trong nước và ở Koweit. Ở
trong nước, ông yêu cầu công ty Iraq Petroleum chia thêm lời. Số lời
Iraq được chia từ 1953 tới 1960 đã tăng lên gấp đôi, từ 51 triệu Anh
bảng lên 95 triệu vì sức sản xuất tăng từ 28 triệu lên 47 triệu tấn
dầu, nhưng công ty Anh vẫn gian lận, bấy nhiều chỉ vào khoảng 1/4 tổng
số lời, 3/4 kia, Anh vẫn ôm lấy hết.
Tháng 9 năm đó Iraq họp một hội nghị các quốc gia sản xuất dầu, mời
Iran, Ả Rập Saudi, Koweit, Qatar, cả Vénézuela ở Nam Mỹ nữa lại Bagdad
để thống nhất chính sách dầu lửa. Các công ty dầu chịu chia lời 75 %,
nhưng Iraq còn đòi:
- Công ty dùng người Iraq trong hội đồng quản lý.
- Công ty để chính quyền Iraq kiểm soát chi phí.
- Dùng tàu dầu Iraq để chở dầu.
- (Và điều này mới chướng nhất) phải trả bù cho Iraq tất cả những "thiệt hại" do những khế ước trước gây ra.
Những tài liệu chúng tôi tìm được về cuộc chiến tranh dầu lửa này đều
xuất bản năm 1962 và 1963, không cho biết Anh đã phải nhượng bộ tới mức
nào. Vì nhất đinh phải nhượng bộ rồi. KOWEIT, THÁNH ĐỊA CỦA ĐẾ QUỐC DẦU LỬA
Nhưng ở mặt trận Koweit, Kassem thua. Koweit! Đây mới lả thánh địa của
đế quốc dầu lửa như La Mecque là thánh địa của đế quốc Hồi giáo, và các
nhà kinh tài Tây phương sùng bái dầu lửa còn hơn người Ả Rập sùng bái
Mohamed, đủ ngửi thấy mùi dầu lửa là họ mê man xuất thần y như bị vía
Cô vía Bà nhập vậy.
Đây là cái huyệt hiểm nhất của thế giới. Chỉ một trái bom nguyên tử thả
xuống cái khu dài 100 cây số, rộng 80 cây số này là cả châu Âu, châu Á,
châu Phi sẽ chết giấc tức thì, vì không có dầu xăng thì mọi hoạt động
ngưng trệ hết. Cái nền văn minh của chúng ta thực là mong manh, tùy
thuộc giọt dầu, mà sức tàn phá của khoa học lại kinh khủng.
Ở đây có cái đập xây trên biển lớn nhất thế giới: Chín trăm năm chục
thước chiều dài, ba chục thước chiều ngang, với ba nggàn tám trăm cột
sắt để chống đỡ. Đứng trên đập đó là đứng trung tâm đế quốc dầu lửa.
Lúc nào cũng có mười chiếc tàu dầu, (có chiếc chở được chín chục ngàn
tấn) treo cờ Anh, Mỹ, Hà Lan, Đức, Na Uy, Hy Lạp...Xếp hàng ở bên đập
để hứng dầu từ tám ống dẫn dầu đưa tới, cung cấp mỗi giờ được 6.400 tấn
dầu.
Nằm ở phía nam Iraq, ở ngã tư hai con đường từ Ba Tư tới La Mecque và
từ Địa Trung Hải tới Bassorah, Koweit hồi xưa là chỗ ghé chân của các
thương nhân, lại đây mua vàng và ngọc trai (vì biển có ngọc trai). Nó
cũng là cái ổ chứa bọn cướp biển và buôn lậu. Ngày nay nó vẫn còn là
nơi buôn lậu vàng, có những xưởng tiểu công nghệ coi tồi tàn, tối tăm,
dơ dáy như các tiệm Chệt trong các ngõ hẻm Chợ Lớn mà chứa mười bốn tấn
vàng đúc thành thỏi, mỗi thỏi 12 kg, chất cao lên tới nóc, chiếu ra một
ánh sáng huyền ảo kỳ dị, không sao tả nổi. Chẳng cần phải có lính canh
gác như các ngân hàng ở London, New York, cũng chẳng cần phải khóa kĩ
nữa mà không hề mất mát. Cái luật bất thành văn của bọn hảo hớn buôn
lậu Ả Rập này được tôn trọng nhất thế giới, hơn cả luật của Đức, của
Nga, của Ibn Séoud. Vào đó ta mất hết cả ý thức về không gian và thời
gian, tưởng đâu như sống cái thời Sindbad Le Mang trong truyện "nghìn
lẻ một đêm” hoặc lạc vào thế giới của bọn khất sĩ luyện kim điên khùng.
Miếng đất đó, Allah tặng cho dân Ả Rập, chứa những suối dầu phong phú
nhất thế giới, còn quý gấp trăm những suối sữa, suối mặt đất Canaan
Jahvé tặng cho Do Thái. Mà con cháu Allah không biết giữ, để cho Bồ Đào
Nha, Hà Lan, rồi Thổ, Anh chiếm mất. Nó thành thuộc địa của Anh từ
1903. Vua Koweit Abdallah Ai Sabbagh cam kết với Anh không được liên
kết với nước ngoài khác mà không được Anh thỏa thuận, phải gửi tiền ở
ngân hàng Anh, phải để cho sỹ quan Anh tổ chức giùm quân đội, ngoài ra
hoàn toàn tự do. Thế là Anh chỉ cần phái lại đó năm công chức và mỗi
năm thu về ba trăm tỷ quan, chia cho quốc vương mỗi năm một tỷ quan.
Sức sản xuất của công ty Koweit Oil (từ 1950, một nửa cổ phần về Mỹ) cứ
mỗi ngày một tăng: Năm 1950, 344.000 thùng, năm 1954: 952.000 thùng,
năm 1955: 1.097.000 thùng, năm 1956: 1.144.000 thùng, vượt cả công ty
Aramco ở Ả Rập Saudi. Thành thử lợi tức của vua Koweit cũng ngang với
lợi tức của Saud, mà thần dân của Saud là chín triệu, còn thần dân của
vua Koweit chỉ có 210.000 (90.000 thổ dân và 120.000 di cư tới).
Nếu chia đều lợi tức của Koweit cho mọi người dân thì mỗi người mỗi
ngày được 4.265 quan cũ, trên 1.000 VND theo hối suất chính thức bây
giờ[67].
Dân Koweit thật sung sướng nhất thế giới. Họ không phải đóng thuế. Trẻ
con được "trả lương" để đi học, lương nhiều ít tùy theo tuổi, nhiều
nhất là 45.000 quan, tức là 11.000 VND mỗi tháng để tiêu vặt vì chính
phủ lo thức ăn chỗ ở cho rồi. Nếu có cha mẹ già phải nuôi, thì chính
phủ cung cấp thêm cho cha mẹ nữa.
Chỉ có 210.000 dân mà có 85 trường tiểu học, một trường trung học, một trường đại học, ba dưỡng đường đều miễn phí.
Đường phố tối tân, nhưng chỗ nào cũng kẹt xe hơi và năm 1958 có tới
58.000 chiếc xe hơi, tính ra bốn người dân có một chiếc, dĩ nhiên có
gia đình có cả chục chiếc. Đa số xe hơi ở Koweit chỉ dùng trong một năm
thôi. Một ông lớn ngón tay đeo một hột xoàn vĩ đại phàn nàn rằng 14
chiếc tàu chở đầy xe Cadillac sao mà chưa thấy tới. Một người ngoại
quốc hỏi:
- Dân chúng thừa xe rồi, xe vào thì bán cho ai? Đường phố chật cả rồi.
Ông lớn đó đáp:
- Hỏi gì mà kỳ cục! Có xe kiểu 58 thì ai mà còn chịu lái kiểu 57 nữa?
Mấy ông lớn chỉ hận rằng hãng Chanel và Christian Dior không bán những
thùng dầu thơm 10 lít một, để cho gia nhân của họ cứ phải vẩy cả trăm
ve dầu thơm vào hồ tắm, mất thì giờ mà phí sức. Chỉ tội một nỗi ở xứ đó
có giếng dầu mà không có giếng nước. Phải cất nước biển như ta cất
rượu, để có nước ngọt, cho nên nước ngọt còn đắt hơn dầu xăng. Cũng
không có ống dẫn nước nữa vì các ống dẫn dầu chiếm hết chỗ rồi, phải
dùng xe căm nhông chở nước đi phân phát cho từng nhà. Nước đắt như vậy,
muốn chơi vườn thì phí tổn kinh khủng. Một vị thân vương tiêu ba triệu
quan mỗi tháng vào việc tưới vườn.
Cái mỏ vàng gần như ở trong thần thoại đó nằm ngay dưới chân Iraq, làm
sao mà Iraq không ham, Iraq đã được hít hơi dầu lửa, cho nên lại càng
ham. Nhất là xưa kia, dưới triều Thổ, Koweit thuộc tỉnh Bassorah của
Iraq, mà hiệp ước Anh bảo hộ Koweit, chính phủ Iraq không bao giờ thừa
nhận cả. Anh đã cướp giật đất đó của Iraq.
Với lại nhìn trên bản đồ, độc giả sẽ thấy Koweit là cái lỗ mũi của
Iraq. Bờ biển Iraq hẹp quá, lại cạn, không thể xây hải cảng được. Iraq
phải dùng tạm cảng Bassorah ở trong nội địa, thực bất tiện. Phải chiếm
cho được Koweit rồi thương mại mới phát triển mà Iraq thành một cường
quốc ở Tây Á.
Ngay từ hồi sinh tiền, Nouri Said cũng đã nghĩ đến vấn đề đó, nhỏ nhẹ
năn nỉ Anh: “Mẫu quốc để cho lính thu hồi Koweit, không thiệt gì đâu mà
còn có lợi nhiều mặt là khác: Mẫu quốc làm uy danh của dòng Hachémite
tăng lên nhiều, như vậy mát mặt cho cả mẫu quốc, Koweit về Iraq rồi thì
tụi Nasser không còn lý do gì để dòm ngó xứ đó, khỏi quấy rối mẫu quốc,
sau cùng Iraq sẽ xin tặng mẫu quốc nhiều quyền lợi về chính trị quân
sự. Nhất cử mà tam tứ tiện, xin mẫu quốc nghĩ coi".
Anh đã xiêu xiêu, hai bên đương thương lượng với nhau thì Nouri Said bị
giết. Cách mạng lên, Anh tính nước cờ cao, biết khó giữ được tình trạng
cũ, ngày 19-6-1961 tuyên bố trả độc lập cho Koweit, như vậy Koweit sẽ
mang ơn, quyền lợi của Anh không mất mà Iraq không còn lý do gì để gây
sự nữa.
Iraq hiểu ngón gian của Anh tuyên bố rằng sự trả độc lập đó vô hiệu,
coi như không có, yêu cầu Anh rút ra khỏi Koweit, vì Koweit thuộc địa
phận Iraq. Anh tức thì cho đổ bộ 5.000 quân lên Koweit. Miếng mồi quý
như vậy Anh khi nào chịu nhả, và đã phải dùng sức mạnh thì Anh luôn
luôn cương quyết (lần này Nga không lên tiếng, Trung Quốc, Nhật Bản,
Mỹ, Liban, cả Ai Cập, Syrie, Jordani đều nhận tân quốc gia Koweit). Thế
của Iraq yếu. Kassem chịu thua, rút ra khỏi liên minh Ả Rập, mời sứ
thần Liban, Mỹ về nước và tẩy chay Ai Cập. Đầu năm 1961, chương mục của
vua Koweit tại các ngân hàng London lên tới một tỷ Anh bảng. Kassem
tiếc ngơ tiếc ngẩn.[68]
Các quốc gia Ả Rập đều trách Kassem có tinh thần đế quốc, muốn thôn
tính một nước anh em. Sự thực họ cũng có chút ghen tị, không muốn cho
Iraq thành nước phú cường nhất trong khối. Riêng Nasser vẫn tự cho mình
có thiên chức lãnh đạo dân tộc A Rập, càng chỉ trích mạnh Kassem.
Thần dầu lửa đã chia rẽ các quốc gia Ả Rập. Để hàn gắn lại họ phải nhờ
đến tinh thần Hồi giáo. Bây giờ họ mới nhớ tới kẻ thù chung là Israel.
|