|
Tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê về bán đảo Ả Rập, chương XV.
CHUƠNG XV: TỪ VỤ QUỐC HỮU HÓA KÊNH SUEZ TỚI CHIẾN TRANH SUEZ
NASSER NHẬN VIỆN TRỢ CỦA NGA MÀ KHÔNG THEO NGA
Biên giới Israel không được Do Thái và Ả Rập thực tâm chấp nhận. Hai
bên chỉ hưu chiến để dự bị một chiến tranh khác, cho nên luôn luôn có
những cuộc xung đột ở biên giới phía Syrie, Jordani và Ai Cập.
Từ năm 1949 đến năm 1954, Do Thái buộc tội Jordani đã vượt biên giới
1.612 lần, Jordani cũng buộc tội Do Thái xâm phạm biên giới 1.348 lần.
Những vụ đó đều nhỏ cả. Hai vụ lớn nhất là vụ tháng hai 1955 ở Gaza và
vụ cuối năm 1955 ở Syrie.
Ở Gaza, một số dân Ả Rấp tản cư lẻn qua Israel cướp đồ đạc, súc vật mà
trước kia họ bỏ lại. Quân Israel trả đũa mạnh mẽ, tấn công Gaza, giết
46 người Ả Rập, cả lính lẫn dân thường. Ở biên giới Syrie, quân Do Thái
vượt hồ Tibériade giết 40 người Ả Rập rồi rút về. Nasser uất ức, nhưng
biết rằng chưa đủ lực lượng, hãy tạm nuốt nhục, thúc Anh, Mỹ bán khí
giới cho, rồi đi dự hội nghị Bandoeng. Ở Bandoeng tiếp xúc với Nehru, U
Nu, Soekarno, ông càng tin chủ trương trung lập của mình là đúng, nên
về nước ông vẫn chưa có ý muốn nhờ cậy phe Nga.
Nhưng thấy Anh, Mỹ suốt mấy năm (từ 1952) cứ lần khần không chịu bán
khí giới cho ông (họ ngại ông tấn công Israel mà họ bênh vực, cũng ngại
ông hùng cường, thống nhất được Ả Rập thì ảnh hưởng của họ không còn
gì), ông bực mình, không do dự nữa, hỏi mua khí giới của Tiệp Khắc. Tin
đó làm các chính khách Âu Mỹ choáng váng, nhưng họ không trách ông vào
đâu được vì lỗi ở họ.
Tuy nhận khí giới của phe Nga, áp dụng một phần chính sách xã hội của
Nga (diệt chế độ độc quyền, quốc hữu hóa một số xí nghiệp), mà ông vẫn
không cho Nga tuyên truyền ở Ai Cập, lại còn tiếp tục chống Cộng nữa.
Năm 1955 ông đề tựa cuốn Chân tướng của Cộng sản do một viên bí thư của
ông soạn; ông chê Cộng sản là bài xích tôn giáo, phủ nhận cá nhân, diệt
sự tự do, phủ nhận cả sự bình đẳng trong tổ chức xã hội...
Có người hỏi ông nhận viện trợ về kinh tế và võ bị của Nga sau khi tẩy
chay Tây phương, chịu ảnh hưởng của Nga quá nặng rồi thì sau này có thể
đoạn tuyệt với Nga được không?
Ông đáp:
- Tôi không xét vấn đề theo cách đó. Đối với tôi vấn đề là như vầy:
"Tôi có thể đem nền độc lập của quốc gia mà đổi lấy sự viện trợ về kinh
tế và võ bị hay không?".
Nghĩa là nếu Nga xâm phạm sự độc lập của Ai Cập thì ông sẽ tuyệt giao.
Ông phải nhận sự viện trợ của Nga vì Tây phương không muốn viện trợ cho
ông hoặc viện trợ mà đòi những điều kiện ông không chấp nhận được, có
khi lại còn muốn đè bẹp Ai Cập nữa. Nhưng nhận viện trợ của Nga không
có nghĩa là theo Cộng sản. Vậy thái độ ông dứt khoát. NASSER QUỐC HỮU HÓA KÊNH SUEZ
Chương trình cải cách điền địa chỉ giảm được nỗi khổ của nông dân một
phần nào. Dân số cứ tăng (hai ba chục năm có thể gấp đôi), nếu phương
pháp canh tác không cải thiện, diện tích canh tác không tăng thì nạn
đói kém ở Ai Cập sẽ rất trầm trọng.
Trong thời bảo hộ, người Anh đã xây một cái đập ở Assouan năm 1912 để
chứa được một tỷ thước khối nước; năm 1933, xây cao nó lên nữa để chứa
được 5 tỷ thước khối nước.
Cách mạng vừa thành công thì một kỹ sư canh nông Ai Cập gốc Hy Lạp,
Daninos, hợp tác với một kỹ sư thủy lợi Ý, Galholi, sau mấy năm tự bỏ
tiền ra nghiên cứu rồi trình lên nhà cầm quyền một dự án để xây một cái
đập mới, lớn hơn đập cũ của Anh nhiều.
Dự án đã nhiều lần trình lên các chính phủ trước nhưng không được xét
vì người ta cho Daninos là điên. Đảng Sỹ quan Tự do của Nasser mới lên
cầm quyền thì dự án được chấp nhận liền, sau khi sửa đổi một chút.
Dự án thực vĩ đại: đập mới sẽ là một bức tường cao 111 thước, dài 15
cây số, dưới chân dầy tới 1.300 thước, cần dùng non 1.000 triệu thước
khối đá, nghĩa là đồ sộ hơn kim tự tháp Chéops cả trăm lần. Đập xây
xong (dự tính mười năm, bắt đầu từ 1958, hiện nay vẫn chưa xong), nước
sông Nil sẽ tụ lại thành một cái hồ rộng từ 6 tới 15 cây số, chứa được
130 tỷ thước khối nước nghĩa là gấp 26 lần công dụng của đập cũ. Sẽ có
bốn ống nước trực kính là 13 thước đưa tới một trung tâm điện sản xuất
được 10 tỷ kl-oát-giờ, rồi nước sẽ do những ống nhỏ hơn chảy vào sa mạc
để tăng diện tích trồng trọt lên được 700.000 feddan, như vậy diện tích
trồng trọt sẽ tăng lên gấp đôi. Dân chúng sẽ được một số hoa lợi là 150
tỷ quan cũ và chính phủ sẽ thâu thêm được 18 tỷ quan thuế.
Công việc xây cất cần 1.300 triệu Mỹ kim trong mười năm, trung bình mỗi
năm 130 triệu. Sau Thế chiến, chỉ có Mỹ là giàu nhất và có cảm tình với
Ai Cập, mỗi năm giúp Ai Cập 40 triệu Mỹ kim. Số đó không đủ mà giúp 130
triệu thì Mỹ không làm nổi[37] vì Mỹ còn phải bao nhiều nước khác nữa.
Ai Cập phải hỏi vay Ngân hàng Quốc tế để trùng tu và phát triển (Banque
international pour la Reconstruction et le Développement, viết tắt là
B.I.R.D). Ngân hàng này trụ sở ở Washington, là một cơ quan của Liên
hiệp Quốc, cho vay dài hạn (20 năm) mà lời nhẹ (3,5% một năm) để giúp
các nước nghèo xây cất lại và mở mang kinh tế. Ngân hàng mà vốn phần
lớn của Mỹ và Anh bằng lòng cho vay 200 triệu đủ để khởi công trong hai
năm rồi sau sẽ hay, nhưng buộc phải có gì bảo đảm, phải cho ngân hàng
kiểm soát ngân sách Ai Cập, và Ai Cập phải cam đoan không vay thêm của
một quốc gia nào nữa, nếu ngân hàng không thỏa thuận.
Một nước độc lập từ lâu như Pháp, Ý sẽ cho những điều kiện đó là thường
mà Nasser thì không thể nhận được vì sợ cái tròng của Anh Mỹ.
Nasser bèn quay về phía Nga. Nga bằng lòng giúp hơn 400 tỷ rúp (bằng
100 triệu Mỹ kim) trong đợt đầu, lời chỉ có 2% thôi mà trả làm 30 năm.
Lợi vô cùng?
Nhưng Nga cũng gian hiểm như mọi thực dân khác: hứa vậy để gây mối bất
hòa giữa Mỹ và Ai Cập; gây được rồi thì tuyên bố sợ không có đủ tiền,
tỏ vẻ lừng chừng.
Anh, Mỹ hay tin, nổi đóa không giúp Ai Cập nữa, Ngân hàng Quốc tế cũng
rút lại lời hứa. Nasser bực tức, chua xót, xấu hổ nữa, luôn ba ngày
đóng cửa suy nghĩ. Hết ba ngày, ông mới xuất Hiện, tuyên bố:
- Mỹ không chịu giúp chúng ta xây đập Assouan ư? Rồi họ coi. Hậu quả sẽ
ghê gớm. Chúng ta sẽ có cách xây đập mà họ thì sẽ phát điên đến chết
được?
Bốn ngày sau, ngày 26.7.1956, 250.000 người họp nhau ở Alexandrie để
nghe ông châm biếm nhẹ nhàng, kể hết đầu đuôi vụ rắc rối của ông với
Mỹ, rồi kết luân một cách nghiêm trang:
- Tôi báo với anh em rằng, lúc này đây, trong khi tôi đương nói chuyện
với anh em ở đây thì Công ty quốc tế Suez không còn nữa. Sáng nay tôi
đã ký sắc lệnh quốc hữu hóa nó rồi.
Quần chúng ôm nhau hò hét vang trời. Ông nói tiếp:
- Kênh Suez thừa sức trả những phí tổn để xây đập Assouan. Chúng ta
không cần ngửa tay xin tiền ở Washington, London hay Moscow nữa.
Quần chúng lại hò reo một lần nữa muốn rung chuyển cả đất. Ông đã mạo
hiểm ghê gớm, một mình đương đầu với Anh, Mỹ, Pháp mà vẫn tươi cười,
khôi hài, coi như chuyện đùa vậy.
Quả thực sáng hôm đó quân đội Ai Cập đã chiếm trụ sở Công ty Suez. Số
lời của kênh năm 1955 là 100 triệu Mỹ kim, Ai Cập chỉ được hưởng có ba
triệu. Bây giờ Ai Cập sẽ hưởng hết. Ông nói thêm:
- Cái thời mà các cường quốc tưởng có thể ăn hiếp Ai Cập được, nay đã
qua rồi. Dân tộc Ả Rập mạnh, mạnh lắm. Trước kia yếu chỉ vì không thấy
rõ sức mạnh của mình. Anh em nghe tôi này: kênh Suez hiện nay là của
chúng ta. Muốn sao thì sao, nó cũng là của chúng ta.
Hai ngày sau Nasser trở về Le Caire. Bốn trăm ngàn người đi đón rước
ông. Tất cả các đảng phái đều hoan hô ông: "Vạn tuế Gamal! Dân chúng sẽ
đổ máu để che chở anh!" Các báo chí của bất kỳ phong trào nào (lúc đó
báo chưa bị quốc hữu hóa), cũng "nghiêng mình chào người nông dân Beni
Morr đã đứng dậy, cao lớn như một khổng lồ, cứng rắn như đá, hoa cương
Ai Cập, đương đầu với đế quốc thực dân".
Dulles khuyên Eisenhower cúp viện trợ, tính lật Nasser, không ngờ kết
quả trái ngược lại: địa vị Nasser vững gấp mười trước. Ông đã thống
nhất được quốc dân, mọi người Ai Cập đều làm hậu thuẫn cho ông. Lời
tuyên bố của ông làm cho 12 tỷ Mỹ kim mà phương Tây đầu tư ở Á, Phi có
thể tiêu tan. Ở Damas, quốc hội Syrie hô hào các xứ Ả Rập quốc hữu hóa
các công ty dầu lửa. Ở Djakarta, chính phủ Indonesia ký một đạo luật
phủ nhận hết những món nợ của Hà Lan. Chỉ tại Dulles hết. PHẢN ỨNG CỦA MỸ, ANH, PHÁP
Nasser tỏ ra biết điều lắm. Như ở chương V chúng tôi đã nói, năm 1888
Ai Cập không được mời ký hiệp ước về sự lưu thông tự do trên kênh vì
không có chủ quyền mà cũng không còn giữ một cổ phần nào trong công ty
(bán hết cho Anh rồi), vậy ông không bắt buộc phải thi hành hiệp ước.
Mặc dầu vậy ông vẫn cam đoan giữ đúng hiệp ước, không ngăn cản sự lưu
thông trên kênh. Người ta chỉ có thể trách ông rằng đã quốc hữu hóa sớm
12 năm (tới 1968 mới hết hạn), nhưng ông chịu nhận bồi thường cho các
nước có cổ phần, lại lưu dụng tất cả các nhân viên của công ti. Như vậy
Tây phương viện cớ gì mà gây chiến với ông được?
Đối với Anh, kênh Suez không còn quan trọng về phương diện chính trị
như hồi trước nữa vì Ấn Độ, Miến Điện đã độc lập; về phương diện kinh
tế, nó vẫn có lợi lớn cho Anh vì già nửa số dầu lửa Anh phải nhập cảng
đều qua kênh. Vì Vậy Eden[38] mạt sát thậm tệ Nasser, bảo vụ đó là một
vụ khiêu khích Tây phương, một vụ ăn cướp và đánh điện cho Eisenhower,
nhất định đòi dùng sức mạnh để hạ Nasser.
Ông ta tin rằng Nasser sẽ thảm bại như Mossadegh năm 1951, sẽ bị lật đổ, chưa biết chừng mất mạng nữa.
Nhưng lần này Anh tính lầm. Mossadegh thua vì dầu lửa lúc đó sản xuất
dư dùng, công ty Anh có ngưng hoạt động thì hại cho Iran nhiều hơn cho
Anh, Anh có thể tăng sức sản xuất ở Iraq, Koweit mà bù vào. Lẽ thứ nhì:
công việc khai thác dầu lửa cần nhiều nhà chuyên môn hơn là công việc
khai thác kênh Suez: các hoa tiêu Ai Cập tận lực làm việc, lại được các
hoa tiêu Đức, Hy Lạp, Ấn Độ tiếp sức, nên việc lưu thông trên kênh được
tiếp tục điếu hòa. Lẽ thứ ba: vụ quốc hữu hóa mỏ dầu ở Iran chỉ là việc
riêng của Anh và Iran; vụ kênh Suez này liên quan tới mọi quốc gia, và
thế giới thấy không có lí gì bênh vực Anh khi sự lưu thông trên kênh
không bị gián đoạn. Đặc biệt là các quốc gia Ả Rập đều đứng về phe
Nasser, chỉ trừ có Iraq vì Iraq là tay sai của Anh. Nouri Said thúc
Eden: "Đập Nasser đi, đập hắn cho mạnh đi. Iraq sẽ không bênh hắn đâu".
Pháp không có quyền gì nhiều ở Tây Á, không bị thiệt thòi nhưng Guy
Mollet và Pigneau[39] ghét Ai Cập vì Ai Cập giúp nghĩa quân Algeri, nên
muốn lật đổ Nasser để Algeri coi đó làm gương mà chịu đầu hàng.
Cuộc khởi nghĩa của Algeri lúc đó đương mạnh. Thấy Pháp thua nhục nhã ở
Điện Biên Phủ, mặt trận Giải phóng quốc gia của Algeri hứng chí, bắt
đầu tấn công Pháp ngày mùng một tháng 11 năm 1954, và đài phát thanh Le
Caire báo tin đó mấy giờ trước khi biến cố xảy ra, làm cho Pháp tím
gan. Algeri đòi độc lập hoàn toàn, cam đoan tôn trọng quyền lợi kinh
tế, văn hóa của Pháp, nhưng Pháp có một triệu thực dân đã mấy đời lập
nghiệp ở Algeri, của cải, đất đai rất nhiều, nên Pháp không chịu nhả.
Phản ứng của Pháp rất mạnh. Mendès France(l) có thái độ sáng suốt trong
hiệp định Genève ký với Việt Nam mà cũng cương quyết dùng vũ lực, bảo:
"Algeri là Pháp". Pháp phản ứng càng mạnh thì nghĩa quân Algeri chiến
đấu càng hăng, được Tunisi và Ai Cập giúp đỡ về tinh thần nhiều hơn và
về khí giới.
Năm 1956 Guy Mollet làm Thủ tướng, cuộc chiến đấu còn quyết liệt hơn
nữa. Ngày nào đài Le Caire cũng hô hào ủng hộ nghĩa quân. Tại Alger,
xảy ra những vụ khủng bố liên miên. Tunisi và Ai Cập huấn luyện nghĩa
quân cho Algeri.
Vậy Anh thù Nasser vì mất ăn, Pháp thù Nasser vì Nasser ủng hộ Algeri.
Cả hai hùa nhau đả đảo Nasser và âm mưu với nhau để tấn công Ai Cập,
kéo Dulles (Mỹ) về với mình. Họ dọa già dọa non Ai Cập, Dulles còn vuốt
ve Ai Cập nữa (hứa sẽ giúp tiền xây đập Assouan), đều vô hiệu.
Dulles, chẳng hỏi ý kiến của cộng sự viên, thảo một chương trình thành
lập "Hội các quốc gia dùng kênh Suez", đề nghị các nước hội viên dùng
ngay hoa tiêu của mình xông bừa vào kênh, và đóng thuế cho hội, chẳng
coi Nasser vào đâu cả; nếu phí tổn chở chuyên có tăng thì Mỹ sẽ bù cho.
Mỹ giàu mà! Eden nghe bùi tai, tuyên bố chương trình đó trước quốc hội.
Một dân biểu hỏi:
- Thế Ai Cập ngăn cản thì các nước hội viên tính sao?
- Sẽ dùng mọi biện pháp cần thiết.
- Nghĩ là ông muốn gây chiến hả?
Eden ấp úng:
-Tôi đâu có nói là gây chiến. Tôi nói là dùng tất cả các biện pháp.
- Những biện pháp nào, ông kể ra coi.
- Hoặc nhờ Liên hiệp Quốc can thiệp, hoặc dùng một biện pháp khác.
Cả phe đối lập đập bàn la ó. Eden lủi thủi bước ra.
Tại Washington, quốc hội cũng bất bình, cật vấn Dulles.
Dulles chối dài.
- Đế bảo vệ quyền lợi của mình, Anh có quyền làm gì thì làm, nhưng tôi
không tin rằng ông Eden lai dùng đến đại bác để xung phong vào kênh.
- Nhưng nếu Anh gây chiến thì Mỹ có bênh vực Anh không?
- Nếu bênh vực có nghĩa là tấn công Ai Cập thì không. Tổng thống đã tỏ
rõ thái độ: Mỹ không gây chiến. Hội các quốc gia dùng kênh Suez chết
trong bào thai, nhưng Anh, Pháp đã kéo dài được ba tháng. ÂM MƯU ISRAEL, PHÁP, MỸ
Cuối tháng chín (1956) Anh, Pháp đưa vấn đề ra Hội Đồng Bảo An Liên
hiệp Quốc để kéo dài thêm thì giờ chuẩn bị một âm mưu. Ai Cập lại tỏ ra
rất biết điều, chấp nhận tất cả các đề nghị của Anh, Pháp miễn là giữ
được chủ quyển trên kênh. Ông Tổng thư ký Hammarskjoeld làm trung gian,
hòa giải đã gần xong thì bỗng có tin động trời: hồi 17 giờ ngày 29-10,
một đội quân nhảy dù Do Thái đáp xuống trung tâm bán đảo Sinai của Ai
Cập, rồi chiến xa túa vào Kuntilla. Cả thế giới ngơ ngác không hiểu gì
cả. Do Thái thừa lúc Ai Cập mắc lo vụ Suez mà đâm lén vào lưng à? Sao
mà dã man như vậy? Rồi lại có tin đúng hôm đó, Mollet (Pháp) và Eden
(Anh) gửi tối hậu thư cho Ai Cập và Israel, buộc phải rút lui về 16 cây
số cách hai bờ kênh Suez để cho liên quân Anh, Pháp tới đóng từ Port
Said tới Suez hầu bảo vệ sự tự do lưu thông trên kênh. Can thiệp cái gì
kỳ cục vậy? Ai Cập bị đâm lén thì phải rút lui, còn Israel là kẻ xâm
lăng thì được phép tiến tới cách bờ kênh 16 cây số, nghĩa là dược phép
chiếm hết bán đảo Sinai. Trong lịch sử nhân loại chưa hề có vụ nào kẻ
cướp lại được tiếp tay một cách trâng tráo như vậy. Mà kẻ tiếp tay là
bọn gentleman và honnête homme[40], văn minh rất mực đấy!
Eisenhower bực mình: "Họ làm như vậy trước ngày bầu cử Tổng thống có
vài ngày thì có khác gì đấm vào mặt tôi không?". Lần đó, ông ta ứng cử
khóa nhì. Ngay Dulles cũng nổi quạu: "Tụi Anh, Pháp này làm lén không
cho mình hay, đúng là quân phản bội".
Nguyên do là đã có hai tên ăn cướp thì tất có thêm tên thứ ba. Tên thứ
ba này là Israel. Israel từ trước vẫn oán Ai Cập luôn luôn chửi rủa
mình, lại muốn mở mang bờ cõi từ sông Nil tới sông Euphrate như Chúa đã
hứa cho, lần này thấy Anh, Pháp muốn đập Ai Cập, tin chắc Ai Cập sẽ bị
tiêu diệt, nên tình nguyện làm tay sai cho Anh, Pháp để hít bã mía. Thủ
tướng Israel là Ben Gourion lén lút gặp Guy Mollet ở Paris, năn nỉ
Mollet giúp Israel rồi đề nghị diệu kế: Tiểu quốc xin xuất kỳ bất ý,
tấn công Ai Cập trước rồi hai Đại quốc làm bộ can thiệp như vầy, như
vầy... Theo diệu kế đó, Đại quốc chẳng những có lợi mà còn cứu sống
Tiểu quốc nữa, khỏi bị Ả Rập đè bẹp.
Mollet bàn với Eden và họ tìm mọi cách hoãn binh, kéo dài các cuộc bàn
cãi để có thì giờ chuẩn bị một chiến tranh chớp nhoáng chiếm Ai Cập,
Liên hiệp Quốc phản ứng thì sự đã rồi, và ba tên cướp sẽ chia nhau mồi
ngon. Mới đầu Eden ngại ngại các dân tộc Ả Rập sẽ oán mà đốt các giếng
dầu mất; Mollet thuyết riết, Eden xiêu lòng.
Họ chuẩn bị thật kín đáo. Trong Thế chiến thứ nhì, Anh đã đào một cái
hầm bí mật ở dưới lòng sông Tamise ở London để các nhân viên cao cấp
trong chính quyền núp, tránh bom Đức mà bàn việc nước. Hầm đó tên là
Terrapin (Rùa biển).
Lần này ba chục sỹ quan Anh Pháp họp nhau thường ở dưới hầm để lập kế
hoạch tấn công Ai Cập một cách hoàn toàn bí mật; chỉ có bốn người biết:
Anh hoàng, Tổng thống Pháp, Thủ tướng Anh và Thủ tướng Pháp. Họ phải
tìm mọi cách che mặt thế giới, chở lần lần lực lượng tới hải đảo Malte
và Chypre của Anh ở Địa Trung Hải: 80 ngàn người, 500 máy bay, 1.000
chiếc xe, non 200 tàu chiến đủ loại...
Họ cãi lộn với nhau về chiến lược vì quân ăn cướp nào mà chẳng nghĩ đến
quyền lợi riêng của mình: Anh muốn nhắm Amman (Jordani) và Bagdad
(Iraq); Pháp lại chỉ muốn đánh mạnh vào Le Caire và Alger để đồng thời
mượn sức Anh diệt nghĩa quân Algeri. Thâm hiểm thay tụi thực dân?
Bàn cãi cả chục lần, họ quyết định cho Israel xâm chiếm bán đảo Sinai
còn họ thì dội bom tan tành Le Caire và Alexandrie, lật đổ Nasser, đưa
Néguib lên làm bù nhìn. Muốn thành công phải đánh chớp nhoáng. Thế là
chiến tranh Suez bắt đầu ngày 29-10. CHIẾN TRANH SUEZ
Khắp thế giới công phẫn. Hammankjoeld đòi từ chức Tổng thư ký Liên hiệp Quốc.
Báo Mỹ cảnh cáo họ:
- Họ muốn tiến tới kênh Suez ư? Được. Nhưng họ phải đi qua Điện Biên Phủ.
Nga chửi họ là bọn ăn cướp. Nehru mắng họ là bọn xâm lăng.
Các nước Ả Rập rất ngạc nhiên, không ngờ Anh có nhiều quyền lợi ở Ả Rập
mà lại xuẩn động như vậy. Nasser rất bình tĩnh, ra lệnh cho quân đội
rút lui, mặc cho Israel chiếm Sinaì để khỏi thiệt nhân mạng vô ích. Ông
tin rằng Liên hiệp Quốc sẽ kết tội bọn ăn cướp đó và Ai Cập chỉ cần tỏ
cho thế giới thấy bên nào xâm lăng, bên nào bị xâm lăng, rồi thì thế
nào Ai Cập cũng thắng. Ông sai đánh đắm tàu để bít kênh Suez.
Độc long tướng quân Moshé Dayan (trong Thế chiến thứ nhất ông bị thương
mà chột mắt), Tổng tư lệnh quân đội Israel đã tổ chức cuộc xâm lăng một
cách rất tỷ mỉ, khoa học, mọi việc tính trước từng giờ. ông lại được
Pháp phái ba chiến hạm lại trợ chiến ở bờ biển Israel và Sinai, nên chỉ
trong sáu ngày chiếm trọn bán đảo Sinai, cướp được vô số võ khí, bắt
được 15.000 tù binh. Quân đội Ai Cập mới đầu chiến đấu khá hăng, sau
được lệnh rýt về phía tây bờ kênh.
Truyền đơn trút xuống đầy đường:
"Chúng tôi bắt buộc phải dội bom các người, bất kỳ là các người ở đâu!
(...) Các người đã mắc một tội mà các người sẽ phải chuộc bằng một giá
rất đắt: các người đã tin và ủng hộ tên Gamal Abdel Nasser".
Và họ dội bom tàn nhẫn, suốt ngày đêm, dữ dội hơn cả hồi Đức Quốc Xã
dội bom xuống London. Họ càng dội dân Ai Cập càng sát cánh với Nasser,
cả thế giới càng nguyền rủa họ. Chính dân chúng nước họ cũng chửi họ
nữa. Bị chỉ trích kịch liệt, Eden chối bay chối biến: "Tôi không hay gì
hết, người ta không cho tôi hay, để tôi hỏi lại.".
Ở Liên hiệp Quốc, Pháp làm bộ thiểu não:
- Chúng tôi có lỗi gì đâu? Chúng tôi chỉ can thiệp cho đôi bên khỏi đánh nhau thôi mà!
Rồi lại còn dám đề nghị:
- Liên hiệp Quốc gửi quân mũ xanh tới đó làm gì cho mất công mà lâu
lắc. Sẵn có quân đội của chúng tôi (Anh, Pháp) ở gần đó, để chúng tôi
bắt hai bên ngưng chiến cho. Thật là trâng tráo, vô liêm sỉ! Cả Hội
đồng la ó:
- Thế là người ta bảo lãnh cho sự xâm lăng à?
Bộ ba Anh, Pháp, Israel phải tiến quân thật gấp để chiếm trọn kênh Suez
trước khi Liên hiệp Quốc đưa quân vào vì Nga đã bảo nếu Hội đồng Bảo an
không chặn đứng "ba tên giặc đó lại thì một mình Nga sẽ đem hải quân và
không quân tới Ai Cập" rồi lại dọa Anh, Mỹ:
- Cái vụ này có thể gây ra Thế chiến đấy. Các ông gánh lấy trách nhiệm với nhau.
Không những vậy Boulganine (Nga)[41] còn gửi thư riêng cảnh cáo Anh, Pháp và Israel.
Eden hơi núng, còn Guy Mollet thì vẫn hăng, bất chấp tối hậu thư của
Nga. Tới khi Nehru dọa rút ra khỏi Liên hiệp Anh, Mỹ dọa cúp viện trợ
Pháp, ngưng cung cấp xăng cho Pháp, Anh-Pháp lúc đó mới hoảng. Pháp sắp
hết xăng vì không nước Ả Rập nào chịu bán nữa, mà hết xăng thì nhà máy,
xe hơi, phi cơ lấy gì mà chạy, thợ thuyền thất nghiệp, kinh tế sụp đổ.
Mặc dầu vậy họ vẫn ráng cho quân tiến chiếm nốt kênh Suez, chỉ một ngày
nữa là xong. Chưa kịp chiếm hết thì họ phải ngưng lại ở cây số 147 trên
kênh, tại El Cap, tức ở phần tư đường. Họ ngưng lại thình lình như
"chết giấc" vậy.
Nguyên do là họ nhận được tin mật cho hay phản lực cơ và phi cơ Mig
đương bay qua không phận Thổ, trên đảo Chypre, và có năm chiến hạm sắp
qua eo biển Dardanelles. Sau họ mới biết những tin đó do một kẻ có ác ý
nào đó loan bậy ra (Mỹ hay Nga?). Nhưng quả thực Kroutchev đã thành lập
một đạo quân tình nguyện gồm 500 phi công và 1.000 viên chỉ huy biệt
động quân, hết thảy đều là người theo Hồi giáo ở Nga để qua cứu Ai Cập.
Chiến tranh chớp nhoáng đầu tiên trong lịch sử đã kết liễu, trước sau
chỉ có tám ngày, từ 17 giờ ngày 29.10 đến 24 giờ ngày 6.11.1956. Quân
đội Israel phải trở về biên giới cũ, Anh-Pháp phải rút quân về. Anh,
Pháp chẳng được mía, thì Israel có bã đâu mà hít. HẬU QUẢ CỦA CHIẾN TRANH SUEZ
Thực dân Tây phương lần này bị một vố quá nặng, cũng nhục nhã, chua
xót, cay đắng như vụ Điện Biên Phủ, mà còn tai hại hơn vụ Điện Biên
Phủ. Đúng vậy: Họ đã đi qua Điện Biên Phủ vì muốn tới kênh Suez.
Ảnh hưởng của tám ngày chiến tranh đó lớn vô cùng.
Ở New York các thiếu nữ vẽ lên mũ, lên áo, lên váy ba chữ "I like Ike"
(Tôi thích Ike, Ike tức Eisenhower) rồi ưỡn ẹo biểu diễn tại Flfth
Avenue, Wall Street, hô: "I like Ike, I like Ike!".
Ike được tái cử: 28 triệu người bầu cho "Ike" vì "chỉ có Ike làm ngưng được chiến tranh Suez". Dân Mỹ vẫn huênh hoang như vậy.
Eden phải về vườn. Anh mất hết mọi ảnh hưởng, quyền lợi ở Ai Cập và bị Mỹ lấn ở Jordani (coi chương sau).
Israel bị Nga tuyệt giao (Nga tám năm trước là nước thứ nhì thừa nhận
Israel), mất cảm tình của khối Á, Phi, mấy năm sau phái sứ giả đi thăm
các nước châu Á để xin nối lại tình giao hảo. Nehru làm thinh, duy có
Miến Điện là tỏ chút tình thông cảm.
Pháp bị thiệt hại rất nặng: năm ngân hàng lớn, mươi lăm công ty bảo
Hiểm, ba chục hãng lớn khác bị Ai Cập hóa, bảy trăm năm chục hãng nhỏ,
mười lăm công ty hàng hải phải đóng cửa, hai ngàn hai trăm bốn mươi
héc-ta ruộng bị tịch thu, hai trường trung học bị đóng cửa, ba trăm
giáo viên Pháp bị đuổi về xứ, tổng số hàng hóa nhập cảng vào Ai Cập tụt
xuống từ 12 tỷ rưỡi còn 3 tỷ. Công phu xây dựng trong một thế kỷ rưỡi ở
Ai Cập chỉ mấy ngày là tan hết. Hai năm sau một sử gia Pháp, Benoist
Méchin, rất có cảm tình với Ả Rập và được cảm tình của Ả Rập, đi tới
nước nào trong khối Ả Rập cũng phải nghe những lời trách móc Pháp.
Tình thế của Pháp ở Algeri mỗi ngày một suy và năm 1958 De Gaulle trước
kia rất ngoan cố, nhất định dùng vũ lực bảo tồn các thuộc địa để Pháp
khỏi mất địa vị cường quốc, bây giờ cũng phải nhượng bộ, điều đình với
lãnh tụ nghĩa quân là Ben Bella, trả lại độc lập cho Algeri. Ben Bella
thành Tổng thống của nước Cộng hòa Algeri, có khuynh hướng thân Nga
cũng như Ai Cập. Lần lần Pháp phải trả độc lập cho tất cả các thuộc địa
châu Phi.
Các công ty Hy Lạp, Ý, Thụy Sĩ... cũng bị hại lây vì các xí nghiệp ngoại quốc lần lần bị Ai Cập hóa hết.
Lợi nhất là Nga và Ai Cập.
Nga bỗng nhiên được nhiều quốc gia Á Phi coi là một hiệp sỹ, Nga tha hồ
mà khoe: "Ai Cập và các quốc gia Ả Rập đã thấy chưa? Đâu là bạn chân
thành của mình nào?". Lúc này Nga lật được Anh, Mỹ ở Ai Cập rồi mới
viện trợ 400 triệu rúp cho Nasser xây đập Assouan.
Danh Nasser vang lên khắp thế giới. Các dân tộc Ả Rập coi ông là vị anh
hùng rửa nhục cho họ. Đâu đâu cũng thấy hình Nasser. Một chủ tiệm ở
Dahran (căn cứ của Mỹ ở Ả Rập Saudi) sau khi dẫn Benoist Méchin coi tất
cả các đồ cổ, kéo ông vào một phòng kín, moi ra một bức chân dung tô
màu lòe loẹt, đóng khung lố lăng, chìa cho ông, giọng cảm phục lạ lùng:
- Big man. Beautiful! (To lớn, đẹp trai nhỉ!)
Có lần Nasser qua thăm Saud; dân chúng Ryhad vốn rất trung thành với
vua, lại lạc hậu, mà cũng hoan hô ông nhiệt liệt đến nỗi Saud phải bực
mình, từ đó tìm cách hại ông.
Thật là cơ hội tốt để Nasser thống nhất Ả Rập. Ông nắm lấy liền. Chính
sách thống nhất đó thực ra là sáng kiến của một nhà ái quốc Syrie tên
là Choukri Kouatly. Từ năm 1907, Choukri Kouatly đã thành lập phong
trào "Thanh niên Ả Rập" hô hào các dân tộc Ả Rập đoàn kết với nhau. Năm
1955 ông được làm Thủ tướng Syrie mới tính đem ý đó ra thực Hiện. Sau
vụ kênh Suez, ảnh hưởng của Nasser rất lớn, dân chúng hai xứ Ai Cập và
Syrie đồng lòng liên kết với nhau, thành lập một nước Cộng hòa Ả Rập
thống nhất (tháng hai năm 1958).
Sự liên hiệp đó làm thay đổi cục diện Ả Rập trong một thời gian, gây ra
mấy cuộc đảo chính, một cuộc cách mạng. Khối Ả Rập chia làm hai phe rõ
rệt: phe các quốc gia dân chủ: Ai Cập, Syrie, Liban, phe các quốc gia
quân chủ: Ả Rập Saudi, Jordani, Iraq; phe trên thân Nga, phe dưới thân
Anh, Mỹ. Chiến tranh lạnh giữa Nga, Mỹ bắt đầu và người đi quân trước
là Eisenhower, quân cờ của ông ta là quốc vương Saud. Đó mới là hậu quả
quan trọng nhất của chiến tranh Suez.
|