|
Tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê về bán đảo Ả Rập, chương XVII.
CHUƠNG XVII: LIÊN MINH Ả RẬP VÀ KHỐI CỘNG HÒA Ả RẬP THỐNG NHẤT
VUA HUSSEIN
Hussein xiêu xiêu vì ham viện trợ của Mỹ lắm; nhưng chưa dám dứt khoát
vì tình thế cực khó khăn, theo Mỹ thì có thể trong nước sinh loạn mất.
Tội nghiệp cho cái xứ Jordani. Nó còn điêu đứng gấp mười cái nước Đằng
thời Xuân Thu bên Trung Quốc. Đằng chỉ bị hai nước Tề, Sở ép hai bên.
Jordani bị ép cả bốn mặt: Syrie ở bắc, Iraq ở đông, Ả Rập Saudi ở đông
và nam, Israel ở tây, luôn luôn bị nước này hay nước khác lôi kéo. Lại
bị ảnh hưởng nặng của Anh, muốn thoát ra cũng không được. Anh sẽ cúp
viện trợ (một triệu Anh bảng mỗi tháng). Khổ nhất là chính trong nước
có hai phe chống đối nhau kịch liệt, cho nên có người đã gọi Jordani là
một "vương quốc Schyzophénique". Một bộ óc "schyzophénique" có hai lá
óc phản nhau, một lá vui thì một lá buồn, một lá muốn làm việc thì một
lá muốn ngủ... Các nhà bác học giảng vậy thì hay vậy chứ tôi chưa thấy
ai mắc cái bệnh kỳ cục đó. Để độc giả hiểu rõ cái khổ tâm của vua
Hussein xứ Jordani, tôi xin nhắc qua lại nguyên ủy từ sau Thế chiến thứ
nhất.
Thâm hiểm độc ác như thực dân Anh là cùng cực. Chúng ta còn nhớ năm
1915 Lawrence hô hào cha con Hussein (giòng Hachémite) nổi dậy đánh
Thổ, hết chiến tranh, Anh sẽ cho Ả Rập độc lập. Hussein có bốn người
con trai: con cả là Ali, rồi tới Abdallah, Fayçal, người con út vô
danh. Fayçal được Lawrence quý trọng hơn cả, đem quân vào chiếm được
Damas (Syrie) năm 1918[47].
Hết chiến tranh, Anh nuốt lời hứa, chia Syrie cho Pháp, Pháp đuổi
Fayçal ra khỏi Damas. Hussein, Lawrence chửi Anh không biết bao nhiêu.
Sau Anh được Hội Vạn Quốc cho ủy trị Palestine, Iraq, Transjordanie; để
an ủi cha con Hussein, Anh cho Fayçal (trong sử gọi là Fayçal I) làm
vua Iraq và Abdallah làm vua Transjordanie; Ali ở Médine và La Mecque
với cha.
Transjordanie là một xứ nghèo khổ, hai phần ba là cát, không trồng trọt
được gì cả, dân số hồi năm 1919 độ 300.000 - 400.000, làm biếng mà thô
bạo. Vậy mà Abdallah cũng chịu nhận, làm cho cha nổi quạu từ La Mecque
lại Amman (kịnh đô Transjordanie) sỉ vả thậm tệ. Anh phái một sỹ quan,
Glubb, tới làm cố vấn quân sự, mỗi tháng cấp cho Abdallah một triệu
bảng và Abdallah hoàn toàn làm tay sai cho Anh.
Sau chiến tranh với Israel năm 1949, Transjordanie được thêm một miếng
của Palestine, phía đông con sông Jourdain, tên nước đổi thành Jordani.
Thêm đất, thêm 600.000 dân Palestine nữa, mà chỉ thêm khổ cho Abdallah.
Vì 600.000 dân tản cư đó, tiến bộ hơn thần dân của Badallah, lại bất
mãn, chỉ đòi gây chiến với Israel để hồi hương, thành thử trong nước có
hai phe chống đối nhau: phe thổ dân cố cựu, lạc hậu, bảo thủ, rất trung
với vua, và phe tản cư có tinh thần tự do, sau này thân Nasser.
Năm 1951, Abdallah không biết có do Anh xúi hay không, muốn thương
thuyết ngầm với Israel, nên bị ám sát ở Jérusalem. Con trai ông ta,
Tallal, rất ghét Anh, Anh cúp viện trợ, rồi đưa qua Thụy sỹ giam một
nơi, bảo là mắc bệnh thần kinh. Con trai Tallal, tên là Hussein[48],
mười sáu tuổi, phải mục kích cảnh ông nội bị ám sát, chính mình cũng
suýt toi mạng (may mà viên đạn sướt qua nút áo, không vào ngực), năm
sau, 1952, mười bảy tuổi lên ngôi vua. Một thiếu niên chỉ ham lau chùi
xe hơi cho láng bóng và lái xe đua chạy bạt mạng, mà phải từ giã trường
võ bị Sandhurst (bên Anh) về trị dân một nước nghèo nàn, chia rẽ, luôn
luôn bất an, thì còn làm được cái gì nữa.
Thống nhất Ả Rập ư? Viển vông quả. Hãy lo cái việc đoàn kết quốc dân,
cho hai "lá óc" nó khỏi chống đối nhau kia đã. Liên kết với các nước
láng giềng thì không khác gì tự tử. Ai Cập, Syrie, Iraq, Ả Rập Saudi sẽ
nuốt Jordani một cái một. Biên giới cứ thẳng băng mấy trăm cây số chẳng
theo địa hình địa thế gì cả thì làm sao mà chống đỡ? Tháng tháng phải
ngửa tay xin tiền Anh - Anh cúp thì xin Ai Cập hoặc Ả Rập Saudi - tiền
đó vừa đủ nuôi quân đội. Tiết kiệm từng đồng, mà cũng vẫn hụt. Làm gì
có cung điện; chỉ có một biệt thự như một biệt thự trung bình ở Sài
gòn. Nhưng có cả chục chiếc xe hơi Hoa Kỳ kiểu mới nhất của Anh, Mỹ và
Saud cho. Xong việc nước rồi thì lái xe như bay. Ít nhất cũng được cái
vui đó.
Giá cứ để mặc cho quốc gia đó sống theo lối trung cổ, đừng ai động gì
tới, dân cày ruộng lấy mà ăn, cất chòi lấy mà ở thì có lẽ cả vua lẫn
tôi có thể sướng đấy. Khốn nỗi ở thời đại văn minh này, không ai cho
phép mình sống theo Lão Tử hay theo Thoreau. Người ta bắt phải sống
theo người ta. Thiếu tiền thì người ta viện trợ cho mà! Chính cái sự
viện trợ đó mới là độc địa! Ai mà viện trợ nhiều cho được? Chỉ cho vừa
đủ sống, sống một cách nô lệ, rồi phải làm cái đê ngăn sự bành trước
của Israel, làm cái việc che chở những mỏ dầu lửa của Anh ở Iraq, làm
bức tường ngăn Ai Cập với Syrie, ngăn Ai Cập với Iraq. Bấy nhiêu nhiệm
vụ trút lên vai chàng Hussein mười bảy tuổi (dĩ nhiên là có một thân
vương làm phụ chính). Cho nên Jordani lúc nào cũng như một thùng thuốc
súng. Năm 1962, Hussein viết một cuốn dịch ra tiếng Pháp nhan đề là Il
est dit ficile d'être roi (Làm vua khó thay - nhà Buchet Chastel -
Paris) để kể những gian nan của ông trên mười năm ngồi trên ngai vàng:
cả chục lần đảo chính, có khi một tuần mà hai lần đảo chính, rồi mấy
lần chết hụt.
Đọc cuốn đó tôi có cảm tưởng ông ta không ham cái nghề làm vua, giá
được làm một kỹ sư chế tạo xe hơi cho hãng Renault hoặc hãng Ford và
mỗi thứ bảy lái xe vùn vụt đưa vợ con về ngoại ô Paris hay New York
nghỉ cuối tuần thì ông ta thích hơn. Nhưng ông ta cũng không oán cái
nghề làm vua, coi nó là một nhiệm vụ với tổ tiên, giòng giống, và hình
như thấy nó có một cái thú, thú mạo hiểm chống đỡ với các đảng phái,
các lân bang, cũng như khi ông lái xe lên dốc rồi băng băng xuống đèo,
quẹo những cái cua chữ chi ở bên một bờ vực thẳm.
Vì ông ta thông minh, phản ứng, quyết định rất mau và can đảm lạ
thường. Lèo lái được cái "quốc gia bị bệnh loạn óc" đó, giữ vững được
ngai vàng của ông nội, được danh tiếng cho giống Hachémite tới nay mười
sáu mười bảy năm rồi, đáng phục lắm chứ, hơn cái bọn Farouk, Bảo Đại
rất xa, hơn cả em họ ông ta là Fayçal II, (cháu nội Fayçal I) vua Iraq
nữa. Tôi mến ông vua trẻ đó hơn Saud nhiều. Không biết ông ta còn giữ
ngai vàng được bao lâu nữa. BIẾN CỐ NĂM 1957 Ở JORDANIE
Biến cố ở trong vương quốc của ông nhiều quá, không sao kể hết được tôi chỉ xin nhắc qua vài vụ chính.
Ở trên tôi đã nói (cuối chương XIV) hồi em họ của ông là Fayçal II, vua
Iraq vào hiệp ước Bagdad, ông cũng muốn vào theo vì Anh hứa nếu vào sẽ
tăng trợ cấp từ 12 triệu lên 22 triệu bảng mỗi năm. Ông sống bình dị,
ngoài cái thú lái xe không ham gì khác, nếu có thêm tiền thì có lẽ cũng
là để phát triển kinh tế, nhưng bốn bộ trưởng chống Anh, đưa đơn từ
chức ở Amman (kinh đô), ở Naplouse, dân chúng biểu tình, đốt phá, chém
giết nhau. Ông thành lập nội các khác, chỉ vài ngày nội các bị lật;
trong tám ngày ba nội các nối tiếp nhau mà nhào. Ông thấy rằng nếu
cương quyết vào hiệp ước Bagdad thì tính mạng ông khó toàn. Một tờ báo
Anh, tờ Illustrated ở London đúng lúc đó đăng một thiên phóng sự, gọi
Glubb là vua không ngôi của Jordani, ông nổi quạu, cách chức Glubb, đưa
tướng Abolll Nuwar thân Nasser lên thay. Tình hình trong nước tạm yên:
Ai Cập và Ả Rập Saudi đều hài lòng. Do vụ kênh Suez, phái quốc gia tiến
bộ, tức phái của các người Palestine tản cư ở phía đông, mạnh lên, buộc
Hussein phải dùng Naboulsi làm Thủ tướng.
Naboulsi là một thương gia giàu có, hồi trẻ học ở Đại học Mỹ tại
Beyrouth, rất có kiến thức lại ái quốc, cho Jordani là một quốc gia sớm
muộn gì cũng bị thôn tính, không đứng nổi một mình, thà cho nó sáp nhập
vào Ai Cập còn hơn là để cho nó bị Israel tiêu diệt. Ý đó rất hợp với ý
Aboul Nuwar. Họ bèn ký một hiệp ước quân sự với Ai Cập và Syrie (tháng
10 năm 1956) rồi yêu cầu quân đội Anh rút hết đi.
Anh dọa cúp viện trợ. Rồi Israel tấn công Ai Cập. Syrie vội vàng đưa
quân vào biên giới bắc Jordani để "bảo vệ xứ này". Ả Rập Saudi sợ Syrie
chiếm Jordani, cũng từ biên giới phía nam đưa quân vào.
Naboulsi thanh trừng các cơ quan, huyền chức một lúc ba chục đại thần
tận trung với tiên vương Abdallah. Hussein phản ứng lại, đuổi ba vị
tổng trưởng.
Tình thế tới đó thì Hussein lại Le Caire để nghe Saud trình bày về
chuyến công du của ông ta ở Mỹ. Anh dọa cúp viện trợ nay Mỹ hứa viện
trợ nước nào theo chính sách Eisenhower, mà viện trợ của Mỹ nhất định
dồi dào hơn của Anh thì làm sao không xiêu lòng cho được. Về Amman, ông
mời sứ thần Mỹ lại để hỏi cho đích xác "chính sách Eisenhower" đó áp
dụng vào trường hợp Jordani được không.
Ở thời đại này, trên trường ngoại giao đổi trắng thay đen là chuyện
thường, sá gì mấy chữ trên một đạo luật. Chẳng cần phải sửa, cứ hiểu
rộng ra một chút là Mỹ có thể can thiệp vào nội bộ Jordani. Ông vua trẻ
tuổi đó kỹ lưỡng quá, không biết rằng trong các hiệp ước luật lệ bất kỳ
của quốc gia nào luôn luôn "ý tại ngôn ngoại", ai muốn hiểu sao thì
hiểu không quan trọng gì cả, vì tiếng nói cuối cùng vẫn dành cho họng
đại bác kia mà.
Hussein yên tâm, định hễ bí quá sẽ cất tiếng kêu gọi Mỹ. Trước hết phải
lo dẹp bọn thân Nasser đã: đuổi Thủ tướng Naboulsi đi, phải giải tán
Quốc hội. Phe Naboulsi mạnh; Hussein trước khi ra tay phải cầu cứu vua
Saud, họp kín với Saud ở giữa sa mạc, tại biên giới:
- Ngai vàng của tôi lung lay rồi. Tương lai của Jordani ở trong tay đại
vương. Ai Cập và Syrie sắp nuốt nó rồi. Xin đại vương giúp tôi ngay đi,
kẻo Jordani thành một quốc gia Cộng sản ở sát biên giới Ả Rập Saudi đấy.
Từ trước dòng Hachémite và dòng Séoud vẫn thù nghịch nhau. Ibn Séoud đã
đuổi ông cố Hussein ra khỏi La Mecque, mà bây giờ Hussein quên cả mối
thù đó, cầu cạnh Saud thì con người "nghĩa Hiệp" như Saud làm sao không
cảm động. Saud hứa giúp và đem quân vào Jordani.
Hussein mừng rỡ, trở về Amman, tính thay thế tất cả các tướng lãnh về
phe Abou Nuwar. Abou Nuwar cũng đã chuẩn bị sẵn sàng. Ngày 7-4-1957,
một đạo quân thiết giáp tiến về kinh đô, bao vây cung điện. Viên chỉ
huy có sẵn trong túi một tờ chiếu thoái vị, định hễ vào được cung điện
rồi, chìa ra cho Hussein ký, không ký thì sẽ bắt giam rồi đưa ra đảo
Chypre. Không dám cho quân lính biết vì đa số còn trung thành với nhà
vua.
Thấy chiến xa ầm ầm bao vây cung điện, Hussein can đảm tiến ra cửa, đứng ở thềm nhìn thẳng vào mặt các sỹ quan, hỏi:
- Các người về đây làm gì?
Họ lúng túng, có quân lính ở chung quanh, không thể chìa tờ chiếu thoái vị ra được. Viên chỉ huy ấp úng đáp:
- Hạ thần về để bảo vệ Thánh thể.
- Cảm ơn. Ta vẫn được an toàn. Quay về đi, và hễ không có lệnh của ta thì không được hành quân.
Thế là thoát được một cơn nguy.
Một tuần lễ sau, Hussein hay tin quân đội ở Zerka, cách kinh đô vài
chục cây số chia làm hai phe đương thanh toán lẫn nhau: phe trung thành
với ông bị phe tự do của Abou Nuwar tấn công. Nếu phe trung thành với
ông bị phe kia diệt thì ngai vàng của ông sẽ đổ mà tính mạng ông e cũng
khó còn. Ông phải tới nơi để dẹp cái loạn đó. Ông bảo: "Ta không ngăn
được quân lính chém giết nhau thì không xứng đáng chỉ huy họ". Ông nhẩy
lên xe jeep, gọi Abou Nuwar đi theo rồi tự lái vùn vụt tới Zerka. Giữa
đường gặp một đoàn xe nhà binh, ông tránh cho họ qua. Quân lính thấy
ông, hoan hô: "Vạn tuế!", rồi thấy Abou Nuwar. Họ hét lên:
- Tên phản quốc kìa, giết nó đi!
Hussein rất bình tĩnh, che chở cho Abou Nuwar, bảo về Amman trước đi,
ông một mình tới chỗ hai bên bắn nhau. Ông xuống xe, hiên ngang tiến
giữa hai đám quân, dang tay ra la lớn:
- Có kẻ bảo các người rằng ta phản quốc hả? Nếu các ngrười tin rằng ta
phản quốc, thì đây, bắn ta đi. Ta thà chết vì viên đạn của các người
còn hơn là bị các người khinh".
Mọi người chưng hửng, bẽ bàng, lúng túng. Trong lịch sử Ả Rập, chưa có
một ông vua nào can đảm như vậy. Bỗng có tiếng vang lên: "Vạn tuế quốc
vương Hussein! Vạn tuế vị hậu duệ của đấng Tiên Tri[49]!".
- Thôi về trại đi, và không có lệnh của ta thì không được ra khỏi trại.
Lần thoát nguy này còn vẻ vang hơn lần trước. LIÊN MINH Ả RẬP
Abou Nuwar bị cách chức mà không bị tội, được yên ổn qua sống ở Syrie.
Hussein lập nội các khác, không ai chịu nhận chức Thủ tướng thay
Naboulsi vì đảng Quốc gia của Naboulsi và Abou Nuwar chiếm đa số trong
Quốc hội. Ông chỉ đỉnh đại mấy người trung thành với ông, rồi nắm hết
quyến hành.
Quốc dân nổi loạn, biểu tình, đốt phá. Đảng Quốc gia đứng vào thế đối
lập, đòi ông đuổi các vị đại thần đi và tuyệt giao với Mỹ. Ông làm
thinh, mời Fayçal II, vua Iraq, lại giữa sa mạc yêu cầu Fayçal II giúp
phi cơ và một đạo quân cơ giới. Fayçal II đưa quân vào Jordani liền.
Về Amman ông ra lệnh đàn áp thẳng tay phe đối lập. Nội loạn nổi lên ở
khắp nơi, nhất là tại kinh đô. Lúc này ông mới hô hào Mỹ: "Tôi kêu gọi
thế giới tự do giúp tôi bảo toàn được lãnh thổ Jordani!".
Đây là một vụ nội chiến, Jordani không bị một quốc gia Cộng sản nào xâm
lăng cả. Nhưng Eisenhower giải thích chính sách của ông một cách rộng
rãi, ra lệnh cho hạm đội thứ VI đương ở Côte d'Azur phía Nam nước Pháp
phải cấp tốc lại hải phận Liban.
Hạm đội mạnh nhất thế giới, gồm hai hàng không mẫu hạm Forrestal 60.000
tấn, Lake Champlain 30.000 tấn, năm chục chiếc tàu lớn nhỏ nữa và
25.000 người; hai hàng không mẫu hạm chở trăm rưỡi phi cơ bảy kiểu khác
nhau. Đáng kinh nhất là những khí giới nguyên tử của nó mà sức tàn phá
trong vài phút mạnh hơn toàn thể những cuộc dội bom trong Thế chiến thứ
nhì.
Hạm đội chưa kịp tới hải phận Liban thì Hussein đã dẹp xong nội loạn nhờ sự can đảm của ông và đạo quân của Saud.
Ngày 30-4-1957, Hussein tới Djeddah để cảm ơn Saud, ký với Saud một bản tuyên ngôn như sau:
"Quốc gia Jordani là tiền tuyến để bảo vệ tinh thần quốc gia Ả Rập. Hai quốc vương sẽ:
1) Hợp tác với nhau để củng cố sự độc lập của các quốc gia Ả Rập đã thoát khỏi mọi ảnh hưởng ngoại quốc.
2) Củng cố sự hợp tác quân sự của các quốc gia đó trước kẻ thù chung.
3) Không gia nhập một hiệp ước ngoại quốc nào.
4) Giúp các quốc gia Ả Rập còn bị ngoại quốc thống trị cởi được cái ách đế quốc mà được hoàn toàn độc lập.
5) Trung thành với Liên minh Ả Rập.
Điểm 2 và điểm 4 mù mờ khó Hiểu. Kẻ thù chung của các quốc gia Ả Rập là
nước nào? Chỉ có thể là Israel, nhưng sự thực họ muốn ám chỉ Ai Cập. Ai
Cập là kẻ thù của Jordani, Iraq, Ả Rập Saudi, đâu phải là kẻ của Syrie,
của Yemen, Liban mà bảo là kẻ thù chung của các quốc gia Ả Rập được?
Còn các quốc gia bị cái ách đế quốc là quốc gia nào? Họ muốn ám chỉ Ai
Cập; có thể cho là Ai Cập bị Nga chi phối, thế nhưng Iraq chẳng bị Anh
chi phối ư? Ngay Jordani mỗi tháng lãnh một triệu Anh bảng thì có bị
Anh chi phối không?
Chúng ta không nên trách đường lối chính trị của Hussein. Jordani là
"một nước loạn óc" như Benoist Méchin đã nói, Hussein không thể làm
chính trị được, chỉ lo kiếm viện trợ cho khỏi đói: chống đỡ cho khỏi
chết, thế thôi. Đáng trách là thực dân Anh đã thâm độc, tàn nhẫn tạo ra
cái quốc gia kỳ cục đó, rồi lại trợ cấp theo cái lối nhỏ giọt cho nó
sống lây lất mà tha hồ thao túng (cứ mỗi lần Jordani muốn thoát li Anh
thì Anh lại ghì tay xuống bóp cổ: cúp viện trợ); có lẽ cũng nên trách
ông nội Hussein đã nhục nhã nhận làm vua bù nhìn cái quốc gia lạ đời
đó, để bây giờ Hussein phải bôn ba cầu cứu khắp nơi, xin tiền Anh, Mỹ,
Ai Cập, Ả Rập Saudi, Iraq mà bảo vệ "sự nghiệp" của tổ tiên.
Chỉ có điểm thứ năm: "Trung thành với Liên minh Ả Rập" là minh bạch.
Saud mừng rằng đã không phụ lòng Eisenhower. Eisenhower mừng vì tốn 250
triệu Mỹ kim cho Saud mà được kết quả như vậy để khoe với quốc dân, kể
còn là rẻ.
Tội nghiệp Hussein đóng vai chủ động, mấy lần suýt toi mạng mà chỉ được
Mỹ tặng cho 10 triệu Mỹ kim bần tiện, không đủ lấp những chỗ hổng trong
ngân sách. Mà chắc không phải là tiền mặt; chỉ là sản phẩm thừa thãi để
Hussein bán lại cho dân chúng lấy tiền tiêu. Saud thấy vậy thương tình,
tặng ông ta ba chiếc Cadillac, ba chiếc Chrysler và ba chiếc Packard
bóng loáng để an ủi. Ông "vua cung điện" thật là hiểu tâm lý ông "vua
xe hơi". Hussein nhớ lại cái hồi làm hoàng tử, nghèo tơi, có ông chú
ông bác nào đó cho một chiếc xe máy, mừng quá đỗi, suốt ngày lau chùi,
đánh bóng, bây giờ có cả chục chiếc xe hơi Hoa Kỳ hạng sang nhất, còn
đòi gì nữa? Sa mạc mênh mông, đường sá vắng vẻ, lái một giờ hai trăm
cây số cũng được. Thú tuyệt!
Trung tuần tháng 5, Saud lại Bagdad. Quốc vương Fayçal II, phụ chính
đại thần Abdul Ilah và Thủ tướng Nouri Said đều lại phi trường đón rước
để xí xóa hết cái thù cũ giữa hai giòng Saudi và Hachémite mà mở kỷ
nguyên thân ái giữa các quốc gia quân chủ Ả Rập.
Súng chào, nhạc trỗi. Kị binh dàn hàng, dân chúng phất cờ hoan hô.
Bagdad tưng bừng như thời các vua Ba Tư. Đêm nào pháo thăng thiên cũng
làm sáng rực một khúc sông Tigre và sông Euphrate; tiếng ca vang lừng
trong cung điện, tiếng tụng kinh lanh lảnh trong khắp các giáo đường.
Tiếc rằng Hussein không tới dự được vị tinh hình trong nước chưa thật
yên.
Mãi tới ngày 14-2 năm sau (1958), Hussein và Fayçal II mới liên hiệp
với nhau. Hussein nhường cho em làm minh chủ và Fayçal đáp lại, hứa
giúp một món tiền. Thời đó, công ty Iraq Petroleum của Anh phát đạt,
mỗi ngày sản xuất 1.600.000 thùng dầu, nộp cho Fayçal 50% số lời -
chính sách fifty – flfty của Aramco đã được mọi công ty áp dụng từ lâu
- và còn tính tăng sức sản xuất lên gấp đôi trong năm năm sau.
Chỉ buồn một điều là lần này Saud không tới dự được; ông ta muốn lảng
ra khỏi cái Liên minh Ả Rập. Tại sao ông ta lại thay đổi thái độ như
vậy?
Tại em ông? Fayçal đã khỏi bệnh, từ New York về nước. Hay tin đó đảng
bảo thủ của Saud lo lắng mà đảng tự do ủng hộ Fayçal hoạt động mạnh
lên, kéo nhau lại Djeddah tiếp rước Fayçal, hô: "Vạn tuế vị vương hầu
thân yêu của chúng ta!"', và rải truyền đơn ở khắp nơi mạt sát Saud:
"Saud! Dân chúng mong mỏi mi thức tỉnh, cầm đầu thánh chiến đế cứu vớt
các huynh đệ Ấ Rập, mà mi diệt tinh thần Ả Rập của chúng ta, tôn giáo
của chúng ta? Mi muốn giết Nasser, một người không chiu làm nô lệ thực
dân. Mi nên nhớ rằng hết thảy chúng ta nếu là Nasser chống lại mi".
Dân sa mạc hung dữ thật! Giọng của họ còn hung hăng hơn giọng nông dân
Ai Cập. Chúng ta nên nhớ ngay tại Dahran, căn cứ không quân của Mỹ ở Ả
Rập Saudi, thần dân của Saud cũng coi Nasser như một vị thần. Lời này
của Nasser chắc phải làm cho Saud lo lắng: "Dân chúng là tấm thảm trên
đó kê ngai vàng. Tôi kéo tấm thảm về tôi thì ngai vàng phải đổ".
Saud thấy ngai vàng của mình đã rung rinh. Quốc khố gần rỗng, mà Fayçal
được dân chúng hoan hô gần như lần trước hoan hô Nasser. Ông ta khôn
ngoan, em vừa về là giao lại việc nước cho em liền. Fayçal khuyên anh
lui vào hậu cung một thời gian. Không mất ngai vàng đâu mà sợ, nhưng
hãy tạm đừng ló mặt ra. Fayçal đòi trao hết quyền hành cho mình: Thủ
tướng kiêm bộ Quốc phòng, bộ Nội vụ, bộ Ngoại giao và bộ Kinh tế. Có
vậy mới cứu vãn được tình thế.
Saud do dự: bộ Kinh tế mà giao cho em thì rầu quá: Nhưng đành vậy vì đã
mắc một lỗi nặng: âm mưu ám sát Nasser đã hụt[50], bây giờ lẩn mặt là
phải.
Vì vậy Fayçal thực sự cầm quyền còn Saud chỉ giữ cái hư vị, ngày 14-2-58 không qua Bagdad ký hiệp ước hẹn minh với Iraq được.
Liên minh Ả Rập đó loạc choạc chẳng ra sao cả: Hussein ký riêng với
Saud tháng 5 năm trước, tháng 2 năm sau lại ký riêng với Fayçal II,
không thành một bộ ba, như cái kiềng ba chân mà gần gãy mất một.
Ngày Hussein ký với Saud ở Djeddah và ngày ký với Fayçal ở Bagdad, dân
chúng Amman thản nhiên: không treo cờ, không biểu tình, cứ lặng lẽ như
không.
Trái lại, không khí ở Le Caire và ở Damas sôi nổi khi thành lập nước
Cộng hòa Ả Rập thống nhất để chống với Liên minh Ả Rập của phe quân chủ. TÌNH HÌNH SYRIE SAU THẾ CHIẾN - DẦU LỬA ANH VÀ DẦU LỬA MỸ VẬT NHAU
Nước cộng hòa Ả Rập thống nhất thành lập ngày 1-2-1958, chín tháng sau
liên minh Jordani - Ả Rập Saudi và 13 ngày trước liên minh Jordani -
Iraq. Hai nước Ai Cập và Syrie kết hợp với nhau làm một: chính phủ
chung, tổng thống là Nasser, phó tổng thống là cựu thủ tướng Syrie
Sabri El Assali; quân đội chung, tổng tư lệnh là thống chế Ai Cập Hakim
Amer.
Sau Thế chiến thứ nhì, Syrie có không đầy ba triệu dân mà phải hy sinh
một trăm ngàn người mới giành lại được độc lập. Thực dân Pháp thật tàn
nhẫn và vô liêm sỉ. Theo đuôi Mỹ, Anh, lấy lại được độc lập rồi, De
Gaulle dùng ngay chính sách Hitler đối với dân Pháp để chiếm lại các
thuộc địa cũ. Tôi nhớ trước ngày Nhật đầu hàng Đồng minh, đương lúc
người mình chuẩn bị chống Pháp thì có tin quân đội của Pháp tự do (!)
đổ bộ lên Liban, Syrie, tàn sát dân chúng, thả bom xuống quốc hội
Syrie. Lúc đó chúng tôi thấy ngay dã tâm của bọn De Gaulle rồi. Biết
không khi nào chúng chịu nhả Việt Nam ra, và chúng tôi chờ đợi những
cảnh đổ máu như ở Syrie. Quả nhiên tên thầy tu dã man D'Argenlieu được
phái qua và dân tộc ta đã phải đổ máu gấp chục lần dân tộc Syrie.
Cuối năm đó Syrie được độc lập, thành một nước Cộng hòa, ba bốn năm đầu
chính quyền rất bê bối thối nát, đảng phái chia rẽ. Tổng thống Choukri
Kouatly có tinh thần quốc gia, từ năm 1907 đã thành lập phong trào
"Thanh niên Ả Rập", nhưng không đủ tài, nên tình trạng mỗi ngày một
thêm rối.
Tháng ba năm 1949, một nhóm quân nhân do Husni-Zaim cầm đầu, ở mặt trân
Palestine (chiến tranh độc lập Israel) trở về, thừa cơ kéo tuốt vào
Damas, bắt giam Choukri Kouatly và các bộ trưởng. Cuộc đảo chính đó
không tốn một giọt máu, không nhờ ngoại bang giúp sức, nên được dân
chúng hoan nghênh. Tướng Zaim được bầu làm Tổng thống (726.116 lá phiếu
bầu cho ông mà tổng số cử tri là 730.731); Mohzen Barazi làm Thủ tướng.
Zaim rất phục Mustapha Kémal, muốn thực hiện mọi cải cách về kinh tế,
điền địa, luật pháp, giáo dục... để canh tân quốc gia. Ông ta cũng dùng
chính sách mạnh tay như Kémal nên hơi thất nhân tâm. Nhưng lỗi lớn của
ông là nhận sáu triệu Mỹ kim (trả làm mười năm) của Ibn Séoud, nghĩa là
của Mỹ, vì lúc ông cầm quyền thì quốc khố không còn một đồng. Để đáp
lại, ông cho phép Ibn Séoud đặt ống dẫn dầu qua địa phận Syrie, tới
Beyrouth. Như vậy dầu lửa của công ty Aramco khỏi phải đi vòng ra vịnh
Ba Tư, Ấn Độ Dương, vào Hồng Hải, kênh Suez để lại châu Âu, phí tổn sẽ
nhẹ, dầu lửa của Anh ở Iraq không sao cạnh tranh nổi. Thế là "dầu lửa
Mỹ kim" thắng màn đầu.
Anh uất ức, tìm cách phản công. Ngày 14-8 năm đó, hồi ba giờ sáng, ba
chiếc xe thiết giáp đậu ở trước thềm dinh Tổng thống Syrie ở Damas. Sỹ
quan trên xe bước xuống, nói mấy lời với lính canh rồi xông vào phòng
của Zaim. Zaim bị hạ sát. Chính bạn thân của ông là Hennaoui đã giết
ông. Đồng thời một nhóm sỹ quan khác giết nốt Thủ tướng Mohzen Barazi.
Hennaoui lên cầm quyến, Hachem Atassi thành lập nội các khác. Hiệp ước
cho Ibn Séoud đặt ống dẫn dầu bi xé bỏ. Vua Abdallah xứ Jordani hoan hô
nhiệt liệt vụ đảo chính đó làm cho Anh đâm ngượng, bảo ông ta kín đáo
một chút.
"Dầu lửa Anh bảng" thắng màn nhì. Ả Rập quả là đế quốc của dầu lửa.
Bi kịch chưa hạ màn. Ngày 19.12 cũng năm đó, đại tá Adib-Chichakly, bạn
thân của Zaim và bà con của Barazi bắt giam Hennaoui, Atassi và một đám
bộ trưởng. Ít bữa sau, Hennaoui, vừa được tự do tạm thì bị một người bà
con khác của Barazi hạ sát.
"Dầu lửa Mỹ kim" lật lại được "dầu lửa Anh bảng".
Cuối năm sau, ống dẫn dầu từ Ả Rập Saudi bò ra tới Địa Trung Hải. Thực
là một công trình vĩ đại. Dài non 1.800 cây số, trực kính một thước,
phí tổn 280 triệu Mỹ kim. Một đường trải nhựa chạy theo ống dẫn dầu.
Trong khi xây cất, suốt ngày đêm có phi cơ bay dò xét ở chung quanh.
Công ty Aramco phải đào bốn mươi cái giếng lấy nước dùng cho nhân viên,
thợ thuyền xây cất.
Lại phải cất năm trạm bơm dầu ở giữa sa mạc, mỗi trạm như một thị trấn nhỏ.
Nhờ ống dẫn dầu đó, công ty Aramco rút đi được 65 tàu dầu, giảm giá dầu
xuống, tăng sức sản xuất lên gấp năm, và Ibn Séoud ăn thêm vô số đô-la
nữa. Mỹ đã hoàn toàn thắng Anh, nhưng bi kịch vẫn chưa dứt.
Ngày 16.7.1951, một cựu bộ trưởng Liban lại Amman thương lượng bí mật
gì đó với Abdallah, ông nội của Hussein, vừa xong, sắp ra về thì bị ám
sát, rồi ba ngày sau chính Abdallah cũng bị mấy phát súng sáu trong một
giáo đường ở Jérusalem, lần này Hussein chết hụt.
Anh lại thua thêm một màn nữa, biết phép rồi, tìm cách kết thân với Ibn Séoud.
Đầu năm 1954 Tổng thống Syrie Adib-Chichakly bị ám sát hụt, nhưng giữ quyền được cho tới hết khóa. KHỐI CỘNG HÒA Ả RẬP THỐNG NHẤT
Khóa sau, chức Tổng thống lại về Choukri Kouatly. Ông này cùng một chủ
trương với Nasser nên khi cầm quyền nghĩ ngay tới việc thống nhất khối
Ả Rập, ngày 31-1-1958 bay qua Le Caire và hôm sau hai quốc gia Ai Cập,
Syrie kết hợp làm một, lấy tên là nước Cộng hòa Ả Rập thống nhất.
Cái nước thống nhất này cũng kỳ cục như nước Pakistan? có hai phần đông
(Syrie) và tây (Ai Cập) cách nhau ba trăm cây số, vì ở giữa là Israel
và Jordani. Ngày Nasser tới Damas, dân Syrie hoan hô nhiệt liệt và ông
ta tặng họ một tin giật gân không kém tin quốc hữu hóa kênh Suez ông
tặng dân Alexandrie một năm rưỡi trước. Phải nhận rằng ông ta có tài ăn
nói và đóng trò. Ông ta đứng ở bao lơn điện Ai Diafa, tuyên bố:
- Anh em, hôm nay, ở chỗ này đây, chúng tôi ban hành hiến pháp tạm thời
của nước Cộng hòa Ả Rập Thống Nhất, trong khi chờ đợi thảo xong một
hiến pháp được quốc dân chấp thuận. Nó giản dị nhưng có ý nghĩa thâm
thúy (vân vân). Thành lập được nước Cộng hòa của chúng ta là các bạn đã
thắng, và được Allah phù hộ, các bạn sẽ thắng nữa (...) Nhưng tôi xin
cho các bạn hay rằng kẻ thù vẫn âm mưu để đâm cả tôi lẫn các bạn
đấy!...".
Mọi người sửng sốt, nín thở.
Rồi ông ta kể chuyện có kẻ muốn mua chuộc một sỹ quan để sỹ quan này ám
sát ông: năm triệu Anh bảng. sỹ quan đó làm bộ nhận lời, đòi đưa trước
một số và nhận được một chi phiếu số 85.902, ngày 20.2.1958 của Ngân
hàng Ả Rập ở Ryhad (kinh đô Ả Rập Saudi) với hàng chữ: Xin trả cho
người cầm chi phiếu này một triệu Anh bảng.
Mọi người nhao nhao lên. Đợi cho họ im lặng, Nasser kể nốt:
- Nhận được chi phiếu đầu rồi, sỹ quan đó đòi nộp thêm nữa. Kẻ âm mưu
đã lỡ đâm lao phải theo lao, ký thêm hai chi phiếu nữa, một chi phiếu
700.000 Anh bảng số..., một chi phiếu 200.000 Anh bảng số... Cả ba chi
phiếu đó đều được để ở ngân hàng Damas, trong ngân mục của ông A. S.
Các bạn có muốn biết ông A. S. là ai không?
Mấy ngàn người hét ầm lên:
- Muốn, muốn!
Làm thinh một lát cho quần chúng hồi hộp, rồi Nasser mới trỏ một đại tá đứng bên cạnh ông ta:
- Ông ấy đây, các bạn biết mặt mà: đại tá Abdul Hamid Sarraj[51]. Thực
đáng mừng cho chúng ta, có những người không ai mua chuộc được, dù là
với giá năm triệu Anh bảng.
Quần chúng Damas hò hét vang dội cả một góc châu thành, y như lần ở Alexandrie về vụ kênh Suez.
Không thể là chuyện bịa được. Chi phiếu có rành rành đó, của ngân hàng
Ryhad. Ai ở Ryhad mà có hằng triệu Anh bảng như vậy? Mọi người đoán là
vua Saud vì chỉ có Saud mới oán Nasser và có được bấy nhiêu tiền.
Người ta coi chi phiếu, biết ngay rằng người ký chi phiếu là một trong
các nhạc phụ của Saud. Âm mưu đó của Saud làm cho đảng tự do ở Ả Rập
Saudi càng khinh Saud, càng trọng Nasser. Và danh của Nasser càng vang
trong khắp bán đảo Ả Rập. Vì vậy mà Saud ngượng không dám ló mặt ra
khỏi cung điện, Ngày 14.2 không qua Bagdad ký hiệp ước liên minh với
Iraq.
Ngay từ ngày 3-2, El Badr đông cung thái tử mà cũng là Thủ tướng của
Yemen bay lại Le Caire tiếp xúc với Nasser, rồi ngày 16 trở về nước,
bàn với cha là Hamed gia nhập Cộng hòa Ả Rập. Cuối tháng đó Ai Cập thêm
được một nước huynh đệ nữa: Yemen chịu sự bảo trợ của Ai Cập nhưng vẫn
giữ chế độ quân chủ và những phong tục rất lạc hậu như chế độ nô lệ.
Saud rất bất bình thấy Yemen thoát ra khỏi ảnh hưởng của mình.
Liban ở sát Syrie dĩ nhiên cũng bị khuấy động. Xứ đó nhỏ, chịu ảnh
hưởng của Pháp từ thời Thập tự quân, dân số một nửa theo các phái Ki Tô
giáo, một nửa theo Hồi giáo. Thời trước, tổng thống Naccache ráng giữ
cái thế quân bình giữa hai xu hướng theo Tây phương của Ki Tô giáo và
theo Ả Rập của Hồi giáo mà nước được tạm yên và buôn bán được thịnh
vượng.
Nhưng năm 1958, tổng thống Chamoun vốn có tinh thần thân Tây phương,
lại thấy ảnh hưởng của Nasser mỗi lúc mỗi tăng (tờ báo Télégraphe thân
Nasser có giọng quá khích), nên lo ngại, nhờ Mỹ can thiệp. Mỹ còn do dự
vì Liban nhỏ quá, không có lợi gì mấy, chỉ gây thêm oán ở Ả Rập, nhất
là vì Kroutchev đã tuyên bố rằng nếu Mỹ nhúng tay vào thì Nga sẽ phải
hành động. Việc cứ lằng nhằng, sau cùng tướng Fouad Chehad, tổng tư
lệnh quân đội, thuyết phục quân đội không làm hậu thuẫn cho phe nào
hết, nhờ vậy trong nước được yên và ông được toàn dân bầu làm Tổng
thống, mà Liban giữ được đường lối trung lập.
Ở Oman và Aden, dân chúng cũng muốn noi gương Ai Cập, thoát li ảnh
hưởng của Anh. Nhưng Oman có nhiều mỏ dầu của Anh, Aden là một địa điểm
quan trọng trên đường qua Ấn Độ, cả hai nơi đó lại lạc hậu, xa Ai Cập,
nên phong trào thất bại, bị Anh dẹp một cách tàn bạo: phi cơ dội bom
napal xuống Oman, chiến hạm nã đại bác lên Aden, năm đại đội súng ống
tối tân đổ bộ lên, gặp ai cũng giết, và Aden từ tháng năm, Oman từ
tháng tám 1958 lại tạm yên và dầu lửa Anh lại tiếp tục chảy vào các tàu
dầu.
Ở Soudan một đảng thân Ai Cập được thành lập từ thời tướng Néguib cầm
quyền ở Ai Cập vì tổ tiên Néguib gốc gác Soudan. Khi Néguib mất chức
Tổng thống (1954), đảng đó phải lùi vào bóng tối vì Ai Cập và Soudan
xích mích với nhau về vấn đề chia nước sông Nil trong chương trình xây
đập Assouan. Sự xích mích đó cũng do bàn tay của thực dân Anh gây ra.
Đầu tháng 11 năm 1958 đảng thân Ai Cập hoạt động trở lại, đòi hợp nhất
với Ai Cập. Quốc trưởng Soudan là Abdallah Khalill thân Anh, tìm cách
dẹp. Tướng Abboud, tổng tư lệnh, đảo chính rồi nắm quyền, giữ thế trung
lập giữa Anh và Ai Cập.
Tóm lại hậu quả của vụ kênh Suez là dân tộc Ả Rập noi gương Ai Cập,
dưới sự lãnh đạo của Ai Cập, nổi lên chống thực dân Tây phương.
Mỹ phản công, đưa ra chính sách Eisenhower, dùng đô-la mà thành lập được Liên minh Ả Rập để địch với Cộng hòa Ả Rập của Nasser.
Nasser thắng ở Syrie và Yemen, hòa ở Liban và Soudan, thua Anh ở Oman
và Aden, nhưng làm cho ảnh hưởng của Mỹ, Anh lung lay. Nhất là Anh phải
đối phó ở khắp mặt.
Liên minh Ả Rập không chặt chẽ như trên tôi đã nói, mà Cộng hòa Ả Rập
cũng loạc choạc vì ba nước Ai Cập, Syrie, Yemen không có chung biên
giới, chính thể Yemen lại khác chính thể hai nước kia, nhưng tinh thần
mạnh hơn nhiều, nhất là từ tháng bảy năm đó, nền quân chủ Iraq sụp đổ,
liên minh Ả Rập tan rã thì thế của Cộng hòa Ả Rập càng vững. |