|
Tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê về bán đảo Ả Rập, chương XVIII.
CHƯƠNG XVIII: IRAQ HÁT KHÚC MARSEILLAISE
ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN IRAQ
Liên minh Ả Rập thành lập ngày 14-2-1958, đúng năm tháng sau, không sai
một ngày, nó tan rã vì cuộc cách mạng 14-7. Ngày 14-7.1789 là ngày phát
khởi cuộc cách mạng để lật đổ giòng Bourbon ở Pháp. Các nhà cách mạng
Iraq cũng lựa ngày đó để lật đổ giòng Hachémite. Và ngộ nghĩnh nhất là
khi chiếm được đài phát thanh Bagdad rồi, quân đội lraq cho phát thanh
suất ngày 14-7 bản quốc thiều Marseillaise của Pháp:
Allons enfants de la Patrie,
Le jour de goire est arrivé...
Có kẻ lại quá cao hứng, hét tướng lên: "Vive De Gaulle!" mới là quái
gở! De Gaulle có nhúng tay gì vào vụ này đâu. Chỉ tại có nhiều thanh
niên trong phong trào cách mạng đã được du học ở Paris, thích cuộc cách
mạng Pháp, oán triều đại Hachémite như dân Pháp đã oán triều đại
Bourbon nên lựa khúc Marseillaise làm tiến quân ca. Chỉ vì giòng
Hachémite mà ở giữa thế kỷ XX, dân chúng Iraq còn lầm than, điêu đứng
hơn dân chúng Pháp giữa thế kỷ XVIII.
Mà đâu phải là Allah đầy ải họ. Hơn hết cả các dân tộc khác trên bán
đảo Ả Rập, họ có nhiều tài nguyên nhất: Có rừng núi, đồng cỏ, nhiều
ruộng cày, nhiều sông rạch, lại có nhiều mỏ dầu nữa. Nền kinh tế của họ
quân bình nhất. Phong cảnh đẹp mê hồn, tới nỗi thánh kinh đã đặt vườn E
den ở lưu vực hai con sông Tigre và Euphrate của họ. Mỗi năm có đủ bốn
mùa: Mùa xuân trời trong, nắng ấm, dưới đất cây cỏ trổ hoa tưng bừng đủ
các loại, đủ các màu; trên trời chim và bướm ở đâu bay về từng đám,
cánh lông rực rỡ, tiếng hót ríu rít, y như mở một cuộc hội để đón các
thiên thần vậy. Cảnh càng đẹp bao nhiêu thì nỗi lầm than của dân chúng
càng nổi bật bấy nhiêu. Đời sống của họ vẫn như ở thời trung cổ: Vẫn
những cái chòi mái bằng lá, vách bằng sậy (xứ đó rất nhiều sậy) cất
trên đất sét nện, chỉ có mỗi một phòng vừa là chỗ ăn, chỗ ngủ, chỗ tiếp
khách, chỗ nấu nướng, ăn thì ăn độn, bữa đủ bữa thiếu, uống thì có nước
sông, và rận, rệp thì lúc nhúc, tới nỗi có kẻ phải bảo: "Chính phủ mà
không diệt được rận, rệp thì rận, rệp sẽ tiêu diệt chính phủ".
Các sử gia thời cổ đều khen miền Mésopotamiè, tức Iraq, đất cát phì
nhiêu, nuôi được ba chục triệu người. Hiện nay người ta còn thấy di
tích nhiều con kênh cũ và đoán rằng có việc dẫn thủy nhập điền thời cổ
phát triển lắm.
Những kênh đó cạn từ thời nào, ruộng bỏ hoang từ thời nào, chúng tôi
không biết đích xác, chỉ biết năm 1957 Iraq không nuôi nổi sáu triệu
nạn dân vì tổ chức xã hội rất lạc hậu.
Theo các nhà chuyên môn, ở Iraq có thể trồng trọt được 12 triệu héc-ta,
như vậy là nhiều lắm so với Ai Cập, vì Ai Cập chỉ có 3 triệu héc-ta để
nuôi 24 triệu dân. Nhưng trước cuộc cách mạng năm 1958, thực sự chỉ có
2 triệu rưỡi héc-ta là trồng trọt (khoảng 1/5 còn 4/5 bỏ hoang); mà
theo tục hưu canh (ruộng cứ làm một năm lại cho nghỉ một năm), thì
2.500.000 héc-ta đó cũng chỉ bằng 1.250.000 héc-ta ở Việt Nam, như vây
không đủ nuôi 6.500.000 dân. Cho nên dân chúng gần như bị nạn đói kinh
niên. Đi khắp đồng quê Iraq, đâu đâu cũng thấy một cảnh rất buồn tẻ:
rất ít vườn tược, nhiều ruộng bỏ hoang, dân chúng thờ ơ, mệt nhọc,
không có tinh thần phấn khởi.
Hỏi nguyên do tại đâu thì mọi người đều đồng thanh đáp rằng tại phong
kiến và thực dân gây nên. Trước khi Anh chiếm Iraq, đất cát thuộc về
nhà vua, triều đình chia từng lô lớn cho các bộ tộc mướn cày cấy để
đóng thuế; thành thử không có chủ đất tá điền, chỉ có những cộng đồng
canh tác.
Từ năm 1932, người Anh thay đổi hẳn chế độ đó, cho các bộ tộc làm chủ
vĩnh viễn những đất mà triều đình đã cho mướn; mà điều này mới tai hại
nhất, quyền tư hữu đó không phải là ban cho toàn thể bộ tộc, mà cho
người đại diện cheikh, tức như tộc trưởng (đạo luật chia đất năm 1932).
Bon cheikh này bỗng nhiên thành lãnh chúa, còn nông dân trước kia tự
do, bây giờ thành nông nô, sướng khổ, no đói đều nhờ cheikh cả. Sau đó
còn có vụ chia đất công nữa; nhà cầm quyền muốn chia cho ai tùy ý,
không có quy tắc gì nhất đinh. Và chỉ bắt đóng một thứ thuế tượng
trưng, không nói là cho hẳn, mà nói là cho mướn vĩnh viễn. Năm 1954,
người ta đạc điền và đạc tới đâu là các nhà có quyền thế trong mỗi miền
ghi ngay tên mình, tên vợ con, anh em mình vào địa bộ (y như ở Việt Nam
thời Pháp thuộc ở Nam Kì), và bỗng nhiên thành chủ nhân một khoảnh đất
mênh mông. Hậu quả của vụ đó là 268 địa chủ chiếm hết 73% đất đai, 27%
còn lại thuộc về 25.000 địa chủ khác, tính ra mỗi địa chủ này chỉ được
từ 1 đến 5 héc-ta.
Có chừng mươi địa chủ lớn nhất, chiếm kẻ 280.000 héc-ta, kẻ 150.000
héc-ta, ít nhất cũng là 100.000 héc-ta. Ở phương bắc, có những lãnh
chúa làm chủ 30, 40 làng, y như những ông vua nhỏ.
Không những vậy, sau đạo luật chia đất năm 1932, người Anh còn cho ra
một đạo luật nữa về bổn phận và nghĩa vụ của nông dân, để cột nông dân
với chủ điền: Nông dân nào thiếu nợ chủ điền thì không được phép bỏ chủ
điền mà đi làm chỗ khác. Thực không khác chế độ nông nô thời Trung cổ
châu Âu.
Dĩ nhiên dưới chế độ đó, tình cảnh bọn lãnh canh thực điêu đứng: Chủ
điền đặt ra những lệ thực nghiêm khắc để họ không sao thoát li mình
được, chỉ vừa đủ sống, nghĩa là không chết đói, để suốt đời làm nô lệ
cho mình.
Họ lập giao kèo, nhưng giao kèo không trực tiếp: Họ ký với bọn trung
gian, bọn serkal, tức như bọn cặp-rằn ở nước mình, rồi bọn này ký với
nông dân; thành thử hoa lợi không phải chia hai mà chia bốn: 40% hoa
lợi cho chủ điền (cheikh), 2-3% cho cặp-rằn, 17-18% về "thuế dùng nước"
và thuế đóng cho cheikh, 40% về nông dân. Nhưng nông dân đâu dược hưởng
hết 40% này, còn phải trả tiền chuyên chở lúa tới lẫm của chủ. Phải trả
số tiền chủ cho vay để làm mùa (số tiền này bằng 1/4 hay 1/5 số hoa lợi
của họ, nghĩa là 10% hay 8% mùa màng). Vì vậy họ chỉ còn được hưởng
không tới 30% hoa lơi của ruộng; mà cũng không được hưởng tròn nữa vì
nông dân nào cũng suốt đời thiếu nợ chủ điền, phải trả lời - lợi suất
có thể tới 100% một năm - rút cuộc sau một năm làm lụng, họ chỉ còn
được hưởng 10% có khi 8%, 5% mùa màng của họ gặt được.
Thường thường họ được tính sáu héc-ta để cày cấy; vợ chồng con cái
chung sức nhau làm, năng suất rất kém (làm gì có lúa giống tốt, có phân
bón, nông cụ lại thô sơ) nên gặp năm mất mùa, họ phải ăn mày hoặc ăn
trộm. Thế là chủ điền lại được dịp đặt ra một thứ thuế nữa, thuế "bảo
hiểm ăn trộm" để lấy tiền nuôi bọn lính gác đeo khí giới đi tuần suốt
đêm ngày trong mùa gặt.
Giao kèo chỉ ký từng năm một; hết hạn, nông dân phải năn nỉ, đút lót
bọn cặp-rằn để được ký thêm một hạn nữa. Đúng là chính sách " phân phát
nông dân cho đất " chứ không phải phân phát đất cho nông dân. Như vậy
làm sao nông dân yêu thửa ruộng của họ được, có thửa nào là của họ đâu.
Làm sao mà họ không oán chủ điền và cặp-rằn. Chính quyền Iraq biết tâm
trạng nông dân lắm, nên cấm các người ngoại quốc đi thăm làng mạc,
chuyện trò với nông dân; miền phương Nam luôn luôn có quân đội canh
gác, phải có giấy phép, người ngoại quốc mới được vào thăm và phải có
cảnh sát dẫn đi. Ở trong điền, nông dân hoàn toàn thuộc quyền chủ điền:
Chủ điền có quyền đánh đập, phạt vạ, bỏ tù theo luật lệ riêng trong
điền cũng y như trong các đồn điền cao su ở nước ta thời Pháp thuộc.
Ở Iraq, "giá" của một nông dân rẻ mạt, rẻ hơn những cái máy rẻ nhất, rẻ
hơn cả súc vật nữa. Một chủ điền đã thản nhiên tuyên bố rằng nuôi nông
dân kéo cày có lợi hơn là nuôi bò, bò cày là một thứ xa xỉ phẩm, vì bò
chỉ cày sáu giờ một ngày rồi phải cho nghỉ, còn người thì có thể làm
việc suốt ngày và làm đủ mọi việc, chứ không "chuyên môn" như bò.
Lưỡi cày ở Iraq vẫn y như thời Abraham, không thay đổi chút nào cả, bằng gỗ và đào những luống sâu chỉ được 20 phân.
Không có phân vì phân hóa học thì đắt mà phân súc vật thì còn phải dùng
để nấu bếp y như ở Ấn Độ: họ bằm rơm rạ, nhào với phân bò phân ngựa
thành những bánh mỏng, đắp vào tường đất để phơi cho khô. Đốt lên, nó
khói mù mà hôi làm sao! Tội nghiệp, xứ của họ là xứ của dầu lửa chứ!
Nhưng dầu đắt quá, chỉ nhà giàu mới dám dùng. Vì vậy hễ mặt trời lặn
rồi thì nhà nào nhà nấy tối om, người ta ngồi nói chuyện với nhau một
lát rồi đi ngủ để đợi mặt trời mọc.
Từ sau cách mang 1958, chính quyền mới để ý tới họ, các nhà chuyên môn
nghiên cứu đời sống của họ, làm thống kê, và thấy rằng lợi tức trung
bình mỗi tháng của mỗi nông dân từ 500 tới 1.000 quan Pháp cũ, một gia
đình năm sáu người, mỗi năm kiếm được từ 40.000 tới 60.000 quan Pháp
cũ. Mỗi quan Pháp cũ bằng 1% quan Pháp mới hiện nay, tức bằng 0,25 VND
theo hối suất chính thức bây giờ. Vậy mỗi gia đình 5 – 6 người Iraq chỉ
kiếm được mỗi tháng từ 800 đến 1.200đ VN[52].
Thiếu ăn thì nhất định là bị nhiều bệnh tật. Ít nhất là 10% dân chúng
bị bệnh lao, 60% bị bệnh đau mắt hột, gần 90% bị bệnh lị, đau ruột...
Đó là theo thống kê. Sự thực còn bị đát hơn nhiều vì có nhiều người đau
ốm (như ho lao chẳng hạn) mà không biết, hoặc biết mà không dám khai.
Làng nào cũng có cả một đoàn người mù nắm áo nhau đi thành hàng dài.
Tới mùa nóng, bệnh dịch phát ở mọi nơi mà nhiều làng không có y tá. Non
nửa số y sỹ trong nước đều gom nhau lại ở Bagdad, cũng y như ở Việt Nam.
Trẻ sơ sinh chết tới 70%. Vậy mà dân số tăng mau vào bậc nhất thế giới:
từ 3% tới 5% mỗi năm. Tuổi thọ trung bình là 25-27 tuổi, thành thử nhà
nào cũng có con côi, cũng có trẻ con chết. Cứ vài năm lại có một cái
tang, chỉ những khóc lóc, lo chôn cất cúng giỗ người chết cũng không
còn làm ăn gì được nữa. Đời sống ở đây bùng lên như một ngọn lửa rơm
rồi tàn. Chung quanh làng nào cũng có hai ba cái nghĩa địa, đâu đâu
cũng có kẻ trộm. Và một sinh viên Iraq du học ở Paris năm 1957 viết một
luận án tiến sỹ về nông dân Iraq, đã tả cái cảnh bi thảm của làng mạc
Iraq trong mấy vần thơ dưới đây:
Đau đớn thay cuộc đời,
Rùng rợn thay cảnh tối tăm và chết chóc.
Trong xóm làng thê thảm của Iraq,
Bạn có thấy các tên ăn trộm,
Sợ sệt chạy trốn trong bóng tối.
Lần theo các nghĩa địa của những làng xóm bi thảm đó không?
Năm 1952, dân quê thấy một bọn ông lớn dắt các nhà chuyên viên ngoại
quốc về làng, xe pháo máy móc chật trong sân mấy chủ điền. Người ta bắt
đầu mở công trường để xây cất, gọi nông dân đi làm. Họ lại công trường
làm, nhưng không được trông thấy mặt mũi đồng tiền, vì tiền công của
họ, hãng trả cho chủ điền hết. Một vài kỹ sư, chắc ở ngoại quốc mới về,
không hiểu tục lệ, đồi trả công thẳng cho họ. Chỉ hôm trước hôm sau,
thợ bỏ đi hết: Chủ điền cấm họ tới làm cho công trường. Thành thử đời
sống nông dân cũng không cải thiện thêm được chút nào, chỉ có chương
mục của chủ điền trong ngân hàng là tăng lên thôi.
Tới cái nỗi nông dân mỗi lần thấy các nhà kỹ thuật về làng là lo ngay
ngáy. Người ta sẽ về xây đập để dẫn nước vào ruộng ư? Chưa chắc số thu
gặt sẽ tăng mà chắc chắn "thuế nước" sẽ nặng. Chính phủ càng kiến thiết
ta chỉ càng làm giàu cho chủ điền, nông dân chẳng được hưởng gì cả,
nhiều khi còn điêu đứng hơn nữa. Đem máy móc về làng ư? Họ sẽ thất
nghiệp. Mà hễ nhân viên chính quyền về làng thì dân quê bị kiểm soát
gắt gao, bị bắt lính, mất hết chút tự do mà chủ điền chưa cướp của họ.
Cho nên họ sợ, kẻ nào không thiếu nợ chủ điền, trốn lên tỉnh được thì
trốn. Từ 1955 đến 1958, bốn chục ngàn gia đình nông dân bỏ đồng ruộng
lên tỉnh chui rúc trong những ổ chuột ở Bagdad, Bassorah, Mossoul. Thủ
tướng Nouri Suid biết tình trạng đó, nhưng bảo chỉ giới chủ điền mới là
những cây cột chống đỡ quốc gia, còn bọn cặn bã của xã hội, tức bọn
nông dân, thì mặc chúng, không đáng quan tâm tới. Mà chính một sỹ quan
cảnh sát khi nói tới nông dân, cũng bĩu môi: "Chúng là loài vật, không
phải con người".
Năm 1954-1955, người ta phân phát 2.577.500 donum mẫu Iraq (bằng một
phần tư héc-ta) cho giới trung lưu: Công chức, nông dân trung bình, cựu
học sinh các trường canh nông, nhưng rất cuộc những đất đó cũng thuộc
về các đại điền chủ.
Giá sinh hoạt từ 1939 đến 19S5 tăng lên gấp năm (ta nên nhớ Iraq may
mắn không phải là bãi chiến trường trong Thế chiến, không chịu ảnh
hưởng của chiến tranh), mà lợi tức của nông dân chỉ tăng lên gấp đôi
hay gấp ba. Năm 1955, nông dân kiếm được từ 1.000 đến 2.000 quan cũ mỗi
tháng mà một ký gạo giá 110 quan, một ký thịt giá 200 quan, một chiếc
sơ-mi giá 1.000 quan. Nghĩa là làm quần quật mỗi tháng chỉ mua được từ
9 đến 18 ký gạo, hoặc từ 5 đến 10 ký thịt, hoặc 1 hay 2 chiếc sơ-mi.
Mỗi năm họ càng nghèo thêm, làng mạc mỗi năm một điêu tàn thêm.
Nhà ở của họ chỉ có mỗi một phòng, không bàn, không ghế. Họ ngồi ăn
ngay trên mặt đất nện, thức ăn chỉ có mỗi một món canh với cơm. Trẻ con
không được đi học, hình như chủ điền cấm chúng đi học, sợ thiếu người
làm ruộng. Có trường, có lớp, có giáo viên ở bộ gửi về mà không có học
trò. Giáo viên phải làm sổ học sinh ma để tháng tháng lĩnh lương. Thống
kê năm 1955 cho biết trong nước có 95% người mù chữ, có tỉnh tỷ số đó
lên tới 98 %, đàn bà nhà quê thì 100% mù chữ. Một thím nhà quê nọ ở
Amara cất kỹ một tờ nhật báo - mà thím ta không biết đọc - làm gia sản
để lại cho con cháu!
Các đảng chính trị bị cấm ngặt. Nhưng một hội kín, đảng nhân dân, do
Aziz Chérif thành lập, cũng hoạt động ngầm trong đám nông dân. Cả một
đảng Cộng sản nữa, do Youssouf Salman Youssouf, một người bán nước đá,
làm lãnh tụ bị chính quyền bắt xử tội, treo cổ ở Bagdad. Sau cuộc cách
mạng 1958, nhiều đám nông dân tuyên bố với nhân viên chính quyền rằng
họ "cùng quê hương với Youssouf! Xin Chúa phù hộ Youssouf".
Nông dân tuy phẫn uất, bất bình, nhưng thiếu tổ chức, lâu lâu họp nhau
từng đám hỗn độn biểu tình đòi cứu trợ cho khỏi đói, nhưng rồi vì ý
kiến bất đồng hoặc vì bộ tộc khác nhau, chỉ một vài hôm là họ gây lộn
với nhau, chém giết nhau, quên cả những đòi hỏi của họ, khi lính tráng
tới, chẳng cần đàn áp, họ cũng tan rã hết.
Tuy nhiên, hồi sắp có cách mạng trong nước - ngày 14 tháng 7 năm 1958 -
họ đã có những tổ chức đông đảo, hơi có kỷ luật, do các cán bộ ở thành
thị chỉ huy, mà triều đình Iraq không hay gì cả.
Những nhận xét kể trên của Pierre Rossi[53] về tình cảnh khốn khổ của
nông dân Iraq cũng hợp với những nhận xét của một người ngoại quốc
khác, ông Wilfrid Thesinger đăng trong một tạp chí Địa lý năm 1954. Ông
bảo cảnh đồng ruộng Iraq cũng vẫn là cảnh tả trong các bộ cổ sử: Cũng
có những đàn sếu đàn cò, đàn chim bói cá, nhưng không biết thời cổ ra
sao, chứ thời nay nông dân lúc nhúc trên bờ, những con kênh nước xanh
như rêu, nổi lều bều phân người, và múc nước dưới kênh mà uống, cho nên
không người nào không bị bệnh lị, bệnh hoa liễu, có kẻ bị cả hai chứng
bệnh đó một lúc, có kẻ đại tiện tiểu tiện ra máu ngay trên bờ kênh,
thực là ghê tởm. ĐỜI SỐNG DÂN THÀNH THỊ
Chúng tôi xin lấy kinh đô Bagdad làm tiêu biểu. Trước 1950, năm thành
lập sở phát triển [54]của Iraq (Office du Développement), đời sống hai
giới giàu và nghèo ở Bagdad không cách biệt nhau lắm, không có tình
trạng chia làm hai phe thù địch nhau như ở thôn quê, không có vấn đề
giai cấp. Giàu và nghèo chỉ khác nhau ở bề ngoài, giàu thì sống tương
đối sung sướng hơn, nhàn nhã hơn, còn thì cả giàu lẫn nghèo cũng ít học
như nhau, cũng có một lối sống như nhau, cũng ăn uống như nhau, có
những thị hiếu như nhau, thân phận như nhau. Nếu cùng thuộc một bộ lạc
thì họ còn nhận nhau là anh em cùng một ông tổ, thân mật với nhau nữa,
không ra vẻ kẻ chủ người tớ.
Họ cũng có những tục lệ như nhau, tôn trọng đàn bà, ăn nói nhã nhặn, có
tư cách. Bọn giàu còn có tinh thần triết nhân, coi phú quý như phù vân,
không khoe của cải, đi đâu thì cưỡi lừa, ngay những người có địa vị
chức tước cũng xuề xòa, dễ dàng với dân nghèo. Theo tôi, có lẽ hồi đó
họ còn giữ được truyền thống của tổ tiên, họ mới bị Anh bảo hộ khoảng
ba chục năm (từ sau Thế chiến thứ nhất), chưa bị ảnh hưởng nhiều của
văn minh phương Tây. Xã hội của họ năm 1945 cũng từa tựa xã hội của ta
hồi Thế chiến thứ nhất, khi Hà Nội còn giữ được nhiều nếp cổ.
Nhưng rồi lịch sử tiến rất mau. Từ khi thành lập sở phát triển để canh
tân quốc gia, tiền bạc tuôn ra như suối (tác giả không cho biết cơ quan
đó có nhận viện trợ của Anh, Mỹ hay không), người ta mới đua nhau đầu
cơ, hối lộ, đồng bạc mất giá. Giá tiền năm 1958 chỉ còn bằng 1/6 năm
1940, chỉ trong một năm, từ tháng 7 năm 1955 tới tháng 7 năm 1956 đời
sống đắt lên gấp đôi: Giá một ký cam từ 80 lên tới 150 quan cũ, một ký
cà từ 26 tăng lên 50 quan cũ. Dân nghèo từ đó sống điêu đứng.
Mà đồng thời, tụi tân phú gia bỏ nếp sống cổ truyền, tách biệt quần
chúng mà hướng về phương Tây, sống lối sống của phương Tây. Dân nghèo
cho họ là lai căng, phản bội dân tộc, bắt đầu thù oán họ như nông dân
thù oán bọn lãnh chúa, và qua năm 1957 thì những người am hiểu thời
cuộc đã đoán được rằng thế nào cũng sẽ có cách mạng.
Dân số Bagdad hồi đó vào khoảng 800.000 - 900.000 người mà có khoảng
100.000 - 200.000 vào hạng công chức, tiểu tư sản trở lên, 700.000
nghèo khổ, sống chui rúc trong các ổ chuột.
Một số giàu lớn sống như đế vương trong những biệt thự lộng lẫy, vườn
trồng đầy hồng, hương thơm ngào ngạt. Trong một xứ bi thảm như Iraq,
những vườn hồng đó lạc lõng như một cảnh ốc đảo, một cảnh đào nguyên.
Ăn không ngồi rồi, người ta không biết làm gì cho hết ngày, gọi điện
thoại hoặc tụ họp nói chuyện phiếm với nhau, rủ nhau lại nhậu nhẹt tại
những khách sạn cực kỳ " up to date " mang những tên Mỹ, tên Pháp:
Embassy, Sémiramis...Các bà đeo những hột xoàng bự, khoác những áo lông
chồn bạc, hút thuốc lá thơm, uống sâm banh - 4 dinar một chai - nhảy
điêu slowfox. Có ông cuộn một tấm giấy bạc 10 dinar - bằng lợi tức hàng
năm của một nông dân – dốc rồi châm thuốc cho "ngưòi đẹp" y như một
công tử Bạc Liêu của ta hồi 1930.
Ăn xong, họ bước ra, để lại một luồng hương Chanel ở sau, đi coi các
phim: Violettes impériales, Fanfan la Tulippe, Symphonie pastorale...
Các bà thỉnh thoảng cũng lại thăm các cơ quan từ thiện - họ bảo là "đi
thăm người nghèo" - họ họp nhau thành một đoàn hàng trăm phu nhân, "phu
nhân" nào cũng lộng lẫy. Phân phát một ít quần áo cho người nghèo chụp
mươi tấm hình rồi lên xe hơi về nhà. Thế là qua được một buổi. Y như ở
Việt Nam.
Trong khi đó các ông họp nhau ở câu lạc bộ Anh đánh lô tô (loto) Mỹ,
uống Scoth Whisky Horse. Số xe hơi từ 1950 đến 1956 tăng lên gấp năm,
giá đất tăng lên vùn vụt vì người ta đua nhau xây cất biệt thự cho
mướn, một biệt thự sáu phòng tiền mướn từ 500 tăng lên tới 1.500 dinar
mỗi năm, nghĩa là bằng lợi tức trong một thế kỷ rưỡi của một nông dân!
Các ông lớn rất dốt về văn hóa, có cần gì phải hiểu biết nhiều mới làm
được ông lớn. Cả năm họ không đọc được tới mười cuốn sách. Thì giờ đâu
mà đọc? Việc trong bộ trong sở này, hội họp tiệc tùng này, công du
này... Nhưng cũng phải làm bộ thích văn hóa, đi nghe hòa nhạc, diễn
thuyết, đi xem triển lãm tranh ảnh. Dĩ nhiên họ không bao giờ phải mua
giấy vào coi, luôn luôn được mời tới dự.
Vì dốt văn hóa nên họ nghi kị văn hóa, ghét tụi làm văn hóa. Sách, báo,
cái thứ đó chúa tai hại, chỉ reo rắc mầm phản loạn, phải kiểm duyệt cho
gắt và thỉnh thoảng phải cho công an cảnh sát ùa vào các tiệm sách lục
cho kỹ quét hết "rác rưởi" đi. Ngay tới các giáo sư cũng không dám in
"tác phẩm" của mình nữa, sợ có kẻ ghen ghét, tranh giành địa vị, ton
hót với chính quyền mà mình bị cái "họa văn tự".
Cấm tuyệt không được diễn kịch, thơ ngụ ngôn của La Fontaine cũng bị
kiểm duyệt, tiểu thuyết của Victor Hugo phải bán lén lút, không hiểu có
phép màu nào mà phim Les Misérables của Victor Hugo lọt được ty kiểm
duyệt, nhưng mới chiếu được ba ngày thì bị cấm. Người ta sợ cái vai
Jean Valjean[55] không bằng sợ cái vai Cosette[56]. Còn Jean Jacques
Rousseau thì là ông kẹ rồi, không ai dám nhắc tới. Rốt cuộc chỉ có
Arsène Lupin[57] là được xã hội "đứng đắn" Bagdad biết kỹ hơn cả. Đi
đâu cũng nghe thấy người ta kể với nhau tài xuất quỉ nhập thần của
Arsène Lupin.
Cũng có một nhóm giữ những tục cổ truyền, không thèm giao thiệp với bọn
phú gia mới nổi, bạo phát đó. Có ai hỏi họ: Nghe nói ngài sắp làm bộ
trưởng thì họ nổi giận liền: " Tôi mà làm bộ trưởng? Ông coi tôi là
hạng người nào vậy? Bộ trưởng cho ai? Bộ trưởng nào? ". Họ đọc sách
nhiều, thông thạo tiếng Ả Rập, tiếng Anh và tiếng Pháp, đọc Valéry,
dịch bài thơ " Le cimetrière marin "[58].
Thanh niên trí thức dĩ nhiên thích Sartre và François Sagan một số quá
khích từ bỏ cả tổ tiên Mohamed[59] ư? Ai vậy hả? Một số nữa đứng vào
phe đối lập, tổ chức các phong trào quần chúng.
Quần chúng ở Bagdad phần lớn là nông dân không chịu được cảnh bóc lột
tàn nhẫn của địa chủ, ra thành thị kiếm ăn. Mới đầu họ sống tạm trong
các hầm chứa rượu, rồi cất bậy một cái chòi bằng lá, bằng tôn, ván
thùng, cũng tưởng chỉ để ở tạm không ngờ hóa vĩnh viễn, và những chòi
đó mỗi ngày một nhiều, lần lần xâm chiếm các khu biệt thự, cảnh sát
ngăn cản cách nào cũng không được. Phạt họ một vài lần rồi cũng chán,
không lẽ mỗi tuần mỗi phạt, còn đuổi họ thì họ không đi, dỡ chòi của họ
hoặc kéo sập xuống thì không dám: Họ gồm 70% dân số Bagdad chứ phải ít
đâu.
Họ sống lây lất từng ngày. Đàn bà bận toàn một màu đen, tay bồng con,
tay ôm rổ trứng hoặc xách mấy con gà đi mời từng nhà một. Các quán cà
phê bình dân đầy nhóc bọn họ vì nhà họ làm gì có phòng khách. Bọn thất
nghiệp lại đó ngồi cả buổi, chẳng uống gì cả, chỉ bàn tán và ngó các xe
hơi lộng lẫy qua lại. Tới bữa họ cũng chẳng về nhà nữa, mua một cái
bánh vừa đi vừa ăn, hoặc gặp một xe bán cháo thì ngồi xuống lề đường
làm một tô, tối họ ngủ ngay ở vỉa hè, dưới mái hiên.
Nhà thương nào cũng chật ních. Có khi nhà xác không đủ chỗ chứa, bọn y
tá lao công khiêng những người chết không ai thừa nhận, đặt ở vỉa hè,
lấy chiếc mùi-xoa trùm lên mặt. Du khách mà về khuya thường gặp những
cảnh ghê tởm như vậy.
Ở Iraq, đàn ông không đi ăn xin. Việc đó dành riêng cho đàn bà, con
nít. Họ ngồi thành hai dãy dài ở trước cửa các giáo đường, y như các
ngày lễ Bà Chúa Xứ ở Núi Sâm (Châu Đốc).
Thống kê của chính phủ không cho biết, nhưng tác giả, Pierre Rossi đoán
rằng ít gì cũng có một phần tư dân Bagdad hoàn toàn không có công ăn
việc làm.
Những năm 1955, 1956, nông dân trốn cảnh thôn quê, kéo nhau ra Bagdad,
sống ở ngoại thành trong những khu ghê tởm không thể tả nét. Họ nằm
ngồi bên cạnh những đống phân, đống rác đầy ruồi, nhặng, lẫn lộn với gà
vịt, chó, heo. Cả mấy ngàn người mà chỉ có sáu cái vòi nước. Cả gia
đình sống nhờ một đứa nhỏ mươi mười hai tuổi. Nó đến chợ khiêng hàng,
xách hàng cho người mua người bán, kiếm mỗi ngày được từ 100 đến 150
quan cũ (bằng 30 – 40 USD lúc này 1970), lượm mót, có khi ăn cắp rau,
trái cây, thịt đem về cho mẹ nấu ăn. Trung bình mỗi gia đình năm người,
mà chỉ kiếm được từ 1.000 đến 1.200 USD một tháng.
Bagdad có khoảng 56.000 công chức, 70.000 tư chức, 180.000 thợ, 50.000
lính tráng. Bọn này là giới trung lưu, đáng gọi là có phúc lắm, mặc dầu
không có luật xã hội, luật lao động, không có nghiệp đoàn gì cả. Chủ
muốn đuổi thợ viên lúc nào cũng được, chẳng phải bồi thường. Có một chỗ
trống thì cả một đám người chen chúc nhau lại xin việc, chủ chọn người
nào chịu nhận số lương thấp nhất. Được làm rồi, nhiều khi còn phải
" đóng thuế " cho người môi giới nữa.
Theo thống kê, năm 1952 lợi tức hàng năm của một lao công là 75.000
quan cũ, nhưng ít khi họ có việc làm suốt năm, trừ những tháng thất
nghiệp đi, trung bình họ chỉ kiếm được 50.000 quan mỗi năm (vào khoảng
12.000 – 13.000 USD hiện nay), mỗi tháng độ 1.000USD mà giá vật thực,
như trên tôi đã nói, không rẻ gì hơn ở bên ta, có phần đắt hơn nữa).
Năm 1955, một người thợ mộc được lãnh 2.300 quan cũ một tháng, mặc dầu
chính phủ đã định số lương tối thiểu là 7.500 quan. Thợ làm trong các
công ty dầu lửa được 10.000 quan, như vậy là khá lắm rồi đấy.
Nghèo thì người ta lại càng ham cờ bạc mà một thứ cờ bạc công khai là
cá ngựa. Từ thời thượng cổ, dân Mésopotamie đã có tài nuôi ngựa, thời
trung cổ, người Ả Rập lại giỏi cưỡi ngựa, cho nên nuôi ngựa đua là một
quốc túy của người Iraq, trường đua Bagdad là chỗ tụ họp đông đảo nhất.
Bọn chức, thợ thuyền tiêu nửa số lương ở trường đua. Nghèo thì người ta
lại thích những món xa xỉ, không có chiếc áo mưa nhưng đồng hồ đeo tay
phải là thứ tốt.
Lạ lùng nhất là xa xỉ phẩm lại chịu thuế nhẹ hơn các mặt hàng cần
thiết: Xe hơi, lụa, rượu Whisky, săm banh, bánh bích quy chỉ chịu thuế
bằng 20 – 25% giá nhập cảng, còn trà, đường, cà phê, vải mà nhập cảng
từ các nước khác không phải là Anh, phải đóng thuế từ 100 đến 120 %. Cơ
hồ như luật pháp đặt ra để chuyên làm lợi cho nhà giàu mà bắt người
nghèo đủ thứ. Đĩa hát microsillon bán rất rẻ, còn trứng thì 10 quan một
quả, cà phê 1.000 quan/kg.
Cho nên công, tư chức, thợ thuyền đại đa số mắc nợ, nợ suốt đời, nợ
truyền tử lưu tôn. Như vậy mà thất nghiệp hay chỉ đau ốm thôi, mới biết
làm sao? Thợ thuyền, đau ốm không được trả công mà mỗi lần đi bác sỹ
phải trừ từ 2.000 tới 4.000 quan[60].
Không phải chỉ tại chủ bóc tột họ đâu, phần lớn cũng tại năng suất của
họ rất thấp, mà năng suất thấp vì không được học nghề - thiếu trường kỹ
thuật, 95% dân chúng mù chữ thì mở trường kỹ thuật cho ai học - nhất là
vì họ thiếu ăn.
Luật cấm dùng trẻ em dưới 12 tuổi nhưng sở lao động có bao giờ thanh
tra các xưởng đâu, nên trẻ em 10 tuổi, người ta cũng dùng. Với lại cấm
chúng làm ở xưởng, như gói hàng, dán nhãn hiệu, thì chúng lại chợ, lại
bến xe xách đồ, đánh giày, chứ có được đi học đâu.
Trong các công sở, cũng y như ở Việt Nam, rất nhiều người ngồi không ăn
lương. Làm sao được? Bọn sinh viên ở đai học ra, không lẽ để họ thất
nghiệp. Công trình đèn sách 15 – 20 năm.
Muốn đuổi dân nghèo ra ngoài châu thành, người ta đặt ra một kế hoạch
chỉnh trang, phá hết các khu phố cũ kỹ để xây cất lại cho đẹp.
Dân chúng bất bình. Người ta kiểm duyệt báo chí, cấm các cuộc hội họp.
Sinh viên than thở với nhau không biết phải làm gì: Thành lập một đoàn
ích để chỉ trích chính quyền một cách gián tiếp thì đoàn bị giải tán,
dịch tác phẩm của Victor Hugo, Tchékov nhưng chỉ để họ đọc với nhau vì
dân chúng mù chữ. Cuối cùng một số chống đối bằng cách ăn mặc lố lăng,
chửi đồng, một sinh viên theo hồi giáo thấy đời là đáng buồn nôn không
tìm được lối thoát, vào nhà thờ Ki Tô giáo thắp một cây nến dưới tượng
thánh mẫu Marie để cầu nguyện!
Bị cấm ngặt ở trong nước, không hoạt động được gì cả, họ xin đi ngoại
quốc du học, dự các buổi hội họp quốc tế, tố cáo chính phủ họ hạn chế
đại học, đàn áp sinh viên. Bộ quốc gia giáo dục phản ứng lại mạnh mẽ:
5.000 sinh viên trong nước bị phân tán đi khắp nơi, rồi người ta cúp
học bổng, không cho xuất ngoại nữa, không cho gửi tiền cho sinh viên
nữa.
Sau vụ đàn áp đó thủ tướng Nouri Said mừng rỡ xoa tay. Nhưng đợt sóng
chỉ hạ xuống chớ đâu đã tan. Đảng cộng sản lui vào bóng tối, hoạt động
kín đáo hơn và cũng tích cực hơn. Các người ngoại quốc ở Bagdad đã thấy
"có cái gì trong không khí", mà nhà cầm quyền Iraq vẫn không hay biết
gì cả.
Một năm sau, năm 1958 - cách mạng bùng nổ. Chính Nouri Said đã gây ra nó để nó chôn ông và cả dòng họ Hachémite ở Iraq. NOURI SAID, PIERRE LAVAL CỦA IRAQ
Vì quyền hành ở cả trong tay Nouri Said chứ không phải ở nhà vua Fayçal
II. Dòng Hachémite thật là gặp nhiều tai họa, tình cảnh Fayçal II cũng
gần giống tình cảnh Hussein, anh họ của ông ở Jordani, Harrow bên Anh
(sau Huasein vào trường võ bị Sandhurst). Cha Hussein bị bệnh thần kinh
(thực dân Anh bảo vậy) và bị đày ở Thụy Sĩ. Hussein lên nối ngôi hồi 17
tuổi, năm 1952. Cha Fayçal II là Ghazi chết vì tai nạn xe hơi năm 1939
và Fayçal II cũng lên ngôi năm 1953, hồi 18, 19 tuổi, Abdul Ilah, một
ông bác làm phụ chính.
Nhưng tính tình hai người khác xa: Hussein cương quyết, can đảm bao
nhiêu thì Fayçal II nhu nhược bấy nhiêu, mọi việc để cho Nouri Said
quyết đoán hết, và quan phụ chính Abđul Ilah cũng vào hùa với Nouri
Said.
Nhân vật Nouri Said đáng là một "kì quan" trong lịch sử Ả Rập. Benoist
Méchin lần đầu tiên gặp ông ta, ngạc nhiên vì thấy ông ta có những nét
của Pierre Laval, vị thủ tướng Pháp quá thân Đức mà bị xử tử. Mập, lông
mày rậm, nước da tai tái, khóe miệng chua chát. Và Benoist Méchin có
linh cảm rằng ông ta cũng sẽ bất đắc kỳ tử.
Không học ở Anh, cũng không sống ở Anh, không có một giọt máu Anh mà
Nouri Said trung với nước Anh hơn là con nuôi của Anh hoàng, hơn cả
Laval trung thành với Đức, trung tới cái mức nước Anh hoàn toàn tin cậy
ở ông ta, bảo một chính phủ Iraq mà không có Said thì không thể là một
chính phủ "tốt" được, và tặng ông ta huy chương cao quý nhất của Anh.
Đó là điểm thứ nhì giống Laval. Điểm thứ ba là cũng như Laval, ông ta
bất chấp dư luận, tự cho mình là sáng suốt nhất đời, chính sách thân
Anh của mình là hoàn toàn đúng.
Laval bảo: "Tôi không cần được lòng dân. Xưa kia, dân chúng hoan nghênh
tôi vì hồi đó tôi không làm tròn bổn phận của tôi". Còn Nouri Said thì
bảo: "Hạng người tầm thường mới liên kết với bạn. Tôi thì tư cách siêu
việt để có thể liên kết với kẻ thù (tức với Thổ trong hiệp ước Bagdad).
Tôi biết rằng chính sách đó thất nhân tâm, nhưng đôi khi cần hy sinh
cái tiếng tăm của mình mà làm việc ích cho nước". Và theo ông ta thì
làm việc ích cho nước là trung thành với Anh, đàn áp dân chúng mà ưu
đãi giới quý phái, địa chủ, đại tư bản.
Ông ta sinh năm 1888 trong một gia đình phong lưu, theo học trường võ
bị Thổ ở lstambul, năm 1910 làm sỹ quan cho Thổ nhưng không được Thổ
tin cậy vì ông ta gốc Ả Rập. Trong Thế chiến thứ nhất, khi quân Anh
chiếm đóng Bassorah, ông ta bị bắt làm tù binh rồi được thả, và từ đó
quyết tâm cộng tác với Anh, được Huân tước Kitchner tin cậy, hăng hái
theo Fayçal I và Lawrence trong cuộc khởi nghĩa Ả Rập. Năm 1919, cùng
với Fayçal I qua Paris, tranh biện với Clémenceau, đòi Pháp giao Syrie
và Iraq cho Fayçal I cai trị. Làm cố vấn cho Fayçal I, ông ta lần lần
leo được hết các cấp trong chính quyền và năm 1930, quyền ủy trị của
Anh ở Iraq mãn hạn, ông ta được làm thủ tướng, rồi giữ chức đó mười
năm, mười sáu lần cho tới 1958. Thực là vô địch trên hoạn lộ. Càng được
giữ chức lâu ông ta càng tin rằng mình có thiên tài trị dân, chỉ đường
lối của mình mới đúng, các chính khách khác đều là hạng tập sự cả.
Nhiều người ghen ông ta, oán ông ta, nhưng hết thảy đều sợ ông ta,
trong một phần tư thế kỷ, không ai dám lật ông ta cả. Thuật giữ ghế Thủ
tướng của ông ta như sau: Khớp mỏ báo chí, ông ta vừa ghét vừa khinh
nhà báo, có khi ăn nói thô tục với họ. Kẻ nào tỏ ý phản đối thì ông
vung tiền mua chuộc, mua chuộc không được thì diệt, coi hiến pháp là
giấy lộn tổ chức các cuộc bầu cử gian lận, (y như anh em Ngô Đình Diệm
ở nước ta, chỉ định các ứng cử viên, vô phúc cho tỉnh trưởng nào mà để
ứng cử viên của ông thất cử) như vậy toàn thể quốc hội là tay sai của
ông.
Vua Fayçal II phải sợ ông ta một phép, còn Anh thì triệt để ủng hộ ông.
Ông ta cảnh cáo quốc dân rằng kẻ nào dám đụng tới quyền lợi của Anh thì
sẽ bị tiêu diệt. Kẻ thù không đội trời chung của ông ta là Nasser.
Trong vụ kênh Suez ông tạ xúi Eden "đập cho cho chết hắn đi". Cả khối Ả
Rập trừ vua Hussein đều ghét ông ta vì đã đi với Thổ - kẻ thù truyền
kiếp của Ả Rập - mà gia nhập hiệp ước Bagdad.
Tiền công ty dầu lửa Iraq Petroleum nộp cho Iraq ông ta dùng để mở mang
kinh đô, các thị trấn lớn, và xây 15 cái đập trên sông Tigre và sông
Euphrate, tạo nhiều hồ chứa nước, đào nhiều kênh dẫn và tháo nước, phí
tổn 160 tỷ quan cũ, làm ba triệu rưỡi héc ta thêm màu mỡ. Nhưng không
phải để làm lợi cho dân nghèo. Trong số 450.000 gia đình bần nông, may
lắm có 10.000 gia đình được hưởng cuộc dẫn thủy đó, chỉ đại địa chủ là
được hưởng nhiều nhất, bắt dân cày phải đóng "thuế nước" cho chúng tới
nỗi dân phải ca thán: "Tới nước dưới sông mà chúng cũng chiếm nết nữa!".
Benoist Méchin hỏi ông ta sao không cho dân nghèo tới cày cấy những đất mới đó, ông ta đáp:
- Chính phủ bỏ biết bao nhiêu tiền vào công việc xây đập, đào kênh, bây
giờ phải cho đại địa chủ trồng trọt để sản xuất thì chính phủ mới thu
thuế được chứ. Dân nghèo làm gì có tiền mua lúa giống, mua phân bón,
mua nông cụ khai phá những đất đó được? Họ nghèo, lỗi có tại tôi đâu?
Tôi phải thực tế, giao đất cho người nào đủ sức khai phá chứ. Chủ điền
bây giờ chiếm những đồn điền lớn quá, thiếu sự quân bình, vì ai cũng
phải chia gia tài đều cho các con, chỉ ba đời là các đồn điền lớn thành
manh mún hết.
- Như vậy, có trễ quá không? Dân chúng bất bình...
Ông ta cười:
- Ông thấy dân chúng bất bình ư? Ở đâu vậy? Chỉ có tụi chính trị gia
miệng còn hôi sữa là quai miệng ra gào thét, chứ ai mà bất bình? Tôi đã
có cách xử với chúng. Tôi được nhà vua tin cậy. Cảnh sát công an ở
trong tay tôi. Quân đội trung thành với tôi. Mà tôi lại là tay thiện
xạ. Súng của tôi để trong góc tường kia. Vậy thì thiếu cái gì nữa?
- Thiếu sự tán đồng của dân chúng.
- Tôi cần gì họ tán đồng tôi? Tôi cai trị họ hay họ cai trị tôi? Họ
phải tuân theo lệnh tôi chứ. Bổn phận tôi là giữ trật tự và truyền
thống trong nước mà!
Nouri Said tuyên bố như vậy tháng ba thì tháng bảy bị hạ sát. CÁCH MẠNG 14-7-1958
Suốt thời ông ta cầm quyền, có nhiều cuộc nông dân nổi loạn đòi cơm áo,
do quân đội lãnh đạo, nhưng chỉ có một lần, năm 1936, là ông ta thấy
nguy, lên phi cơ của Anh trốn qua Ả Rập, năm 1939, Anh lập lại được ảnh
hưởng ở lraq. Ông ta về nước, từ đó ông ta nắm vững quân đội, cảnh sát
công an, dẹp được hết các phong trào cách mạng từ khi mới manh nha, nên
năm 1958 ông ta mới vững tâm, mù quáng như vậy, nhiều người ngoại quốc
cảnh cáo mà ông ta chỉ mỉm cười.
Người cầm đầu cuộc cách mạng 1958 là một đại tá 37 tuổi, rất bảnh bao
tên là Abdul Salam Aref. Ba giờ sáng ngày 14-7 trong khi thành Bagdad
còn đang ngủ say, ông với vài chiếc xe thiết giáp chở độ ba chục người
chiếm đài phát thanh và nha bưu điện, đồng thời hai chiếc xe jeep chở
hai chục người tới trước hoàng cung, nổ một loạt súng. Lính gác bắn lại
vài phát lấy lệ rồi qua phe cách mạng.
Hoàng gia bừng tỉnh dậy thấy điện thoại đã bị cắt mà đài phát thanh
oang oang bố cáo nhân dân: "Đây là tiếng nói của nước Cộng hòa Iraq.
Ngày hôm nay là ngày chiến thắng vẻ vang của chúng ta. Kẻ thù của Allah
và chúa công của hắn[61] đã bị giết, thây phơi ngoài đường, tiếp theo
là bản quốc ca Marseillaise của Pháp.
Cả hoàng gia ngơ ngác: mình còn sống đây mà sao chúng báo tin mình
chết. Họ bước xuống nhà dưới, bị quân cách mạng dồn hết ra vườn, bắt
đứng quay mặt vào tường, một loạt liên thanh nổ, vua Fayçal II, phụ
chính đại thần Abdul Ilah và tất cả các người trong cung bị giết hết,
không một ai thoát.
Dân chúng ôm nhau nhảy múa, cười, khóc như điên như cuồng ùn ùn kéo tới
hoàng cung, kẻ vác đinh ba, người cầm dao, búa, tính phanh thây nhà vua
và Abdul Ilak. Hàng ngàn tấm hình Nasser dán khắp các đường phố, thây
Fayçal II được quấn vào tấm thảm vùi một chỗ nào đó. Abdul Ilah chịu
cảnh thê thảm hơn: Thây chém đứt làm mấy khúc, bêu ở trước bộ quốc
phòng. Như vậy chưa lấy gì làm ghê rợn.
Nouri Said bốn giờ sáng hay tin vội trốn khỏi dinh của ông ta. Tại sao
lần này ông ta không trốn vào sứ quán Anh như mấy lần trước mà trốn vào
một nhà bạn thân, rồi tới một giáo đường (như Ngô Đình Diệm)? Giữa trưa
ngày 15, ông ta cải trang làm đàn bà, tính trốn ra khỏi thành thì bị
một em nhỏ nhận được mặt, gọi lính lại. Viên đại tá Wasfi Tafer, sỹ
quan phụ tá của ông ta, tặng ông ta một tràng liên thanh. Tafer chính
là người tin cẩn nhất của ông ta, là người hoạt động nhất trong nhóm
cách mạng mà ông ta không hay. Thây ông ta được chở về bộ Quốc phòng.
Con trai ông là Sabah đến nhận thây, bị hạ sát tức thì. Quân đội vùi
lén thây hai cha con Said. Nhưng đêm hôm đó dân chúng tới nghĩa địa đào
thây Said lên, cột vào sau một chiếc xe máy dầu rồi mở máy cho xe kéo
lết thây đi khắp các đường phố, để rớt lại chỗ này một khúc thịt, chỗ
kia một lớp da, chỗ nọ một đốt xương. Thật dã man kinh khủng. Hơn cả
cuộc cách mạng của Pháp nữa!
Trong lịch sử nhân loại, có lẽ chỉ dưới triều Louis XIII, trong vụ xử
tử Thống chế Concini dân chúng mới oán nhà cầm quyền tới vậy[62].
Trong khi Aref đảo chính ở Bagdad, tướng Kassem chỉ huy một đạo quân ở
Baakoubd để tiếp ứng nếu cần. Trưa ngày 14, Kassem mới vào Bagdad. Cuộc
cách mạng tổ chức thật bí mật, chỉ có một nhóm nhỏ sỹ quan và nhiều lắm
là hai chục nhà trí thức, giáo sư, sinh viên hay trước.
Kassem giữ chức tổng thống kiêm bộ trưởng bộ quốc phòng, Aref làm phó
tổng thống kiêm bộ trưởng bộ nội vụ. Họ tuyên bố tôn trọng tài sản của
ngoại nhân, thảo một hiến pháp lâm thời, nhận rằng quốc gia Iraq là một
thành phần của dân tộc Ả Rập, sẽ theo đường lối trung lập...
Liên Xô và Trung Cộng nhìn nhận ngay nước cộng hòa Iraq. Rồi tới Mỹ, và
cả Anh nữa. Nouri Said chẳng còn sống để mà nghe Sứ thần Anh là Huân
tước Michaei Wright tuyên bố: "Cuộc cách mạng Iraq có lợi cho Anh". Mau
mắn nhất là công ty dầu lửa Iraq Petroleum. Ngay ngày 14-7 họ đã nhã
nhặn cảm ơn cách mạng bảo vệ các giếng dầu cho họ và khúm núm xin trả
lại dân tộc Iraq những khu nào đã nhượng cho họ mà họ chưa kịp khai
thác. Duy có Pháp mặc dầu được các nhà cách mạng Iraq coi như bậc thầy
(cũng lựa ngày 14-7, cũng phát thanh bản Marseillaise, cũng giết
vua...) thì không hiểu sao, cứ làm thinh, tới năm 1962 mà vẫn chưa thừa
nhận nước Cộng hòa Iraq. CHIA RẼ TRONG NỘI BỘ
Khác hẳn với Ai Cập, nhóm sỹ quan cách mạng Iraq mới cầm quyền đã chia
rẽ nhau, thanh toán lẫn nhau, có lẽ cũng giống Việt Nam mình. Phó Tổng
thống Aref thân Nasser còn tổng thống Kassem nghịch Nasser. Đa số không
ưa Ai Cập, vì từ trước người Iraq vẫn tự hào rằng chính họ mới đáng
lãnh đạo khối Ả Rập, bây giờ họ lại tự hào thêm rằng cuộc cách mạng của
họ " tiến bộ " hơn của Ai Cập, vang lừng hơn.
Từ 1958 tới 1962 chỉ là lịch sử chống đối nhau của hai phe Aref và
Kassem, chỉ trong một năm rưỡi, tới đầu 1960, nội các Kassem đã phải
cải tổ bốn lần, nên họ chẳng làm được gì cả mà trong nước thêm hỗn
loạn, chỉ hò hét và xuống đường còn hơn ở Việt Nam[63] nữa.
Kassem thắng, đưa Aref đi làm đại sứ ở Bonn (CHLB Đức). Aref đi rồi tự
ý về, bi bắt giam xử tội, được tha, đảng của Aref nổi dây chống, bị đàn
áp mấy lần. Kassem ngại bị Ai Cập tấn công hoặc phá rối, tỏ tình thân
thiện với Hussein, vì Jordani là bức thành ngăn Iraq và Ai Cập. Lạ cho
ông vua Hussein. Ibn Séoud là kẻ thù của ông cố ông ta (Ibn Séoud có
lần nói: Phải diệt cho hết cái ổ bò cạp đó, tức dòng Hachémite), mấy
năm trước ông ta sẵn sàng quên mối thù đó mà năn nỉ Saud viện trợ, bây
giờ Kassem đã diệt cả họ hàng Fayçal II, cũng là kẻ thù của dòng
Hachémite, mà ông cũng sẵn sàng "bỏ qua" và liên kết với Kassem.
Yên phía đó rồi, Kassem xin viện trợ quân sự của Nga. Vì biết ơn ai bây
giờ? Dân chúng còn thù Anh, chẳng lẽ lại hạ mình xuống xin Anh? Mỹ thì
cũng một giuộc với Anh mà nhận viện trợ của Mỹ thì sẽ bị Anh phá. Nga
tặng ông ta một số khí giới, đảng cộng sản trong nước hoạt động mạnh
lên. Hiệp ước viện trợ Iraq được Liên Xô ký ngày 15-3-1959 thì 9 ngày
sau, Iran rút ra khỏi hiệp ước Bagdad.
Tháng 10 năm 1959, Kassem bị ám sát hụt (bốn viên đạn ở vai và bàn
tay). Tòa đem xử 73 người đều ở trong phe thống nhất tức phe thân
Nasser, có lẽ là oan uổng hết. Đập mạnh rồi ông ta lại xoa dịu, đầu năm
1960, đổi chính sách: Thân thiện với Ai Cập và xa lánh Liên Xô, cấm
đảng Cộng sản Iraq hội họp. Chắc ông ta thấy rằng đảng thân Nasser hết
thế lực rồi, mà đảng Cộng sản đã bành trướng quá. CHẲNG CÓ GÌ THAY ĐỔI CẢ!
Lộn xộn như vậy thì chính quyền cách mạng còn làm được gì nữa, cho nên
trong ba bốn năm đầu chẳng có cải cách nào được thực hiện đến nơi đến
chốn. Ngay cải cách quan trọng nhất mà chính quyền cách mạng nào cũng
phải nghĩ tới trước hết, tức cải cách điền địa.
Ngày 30 tháng 9 năm 1958 tức hai tháng mới sau ngày đảo chính, đạo luật cải cách điền địa được ban bố.
Theo luật, điền chủ chỉ được giữ một diện tích canh tác tối đa là 250
héc-ta nếu là ruộng có công cuộc dẫn thủy, và 500 héc-ta nếu là ruộng
không có công cuộc dẫn thủy. Số ruộng dư phải khai báo để chính phủ lấy
lại phân phát cho nông dân: Mỗi người được từ 7 đến 15 héc-ta nếu là
ruộng có công cuộc dẫn thủy, hoặc từ 15 đến 30 héc-ta nếu là ruộng
không có công cuộc dẫn thủy. Không phải là phát không, phải trả trong
kỳ hạn 20 năm, chính phủ sẽ lấy số tiền đó bồi thường cho chủ điền.
Luật còn định lại cách thức giao kèo với tá điền, và định cách tổ chức
các hợp tác xã, thành lập nông tín cuộc với số vốn là 500.000 dinar
(không rõ một dinar bằng bao nhiêu quan Pháp, chỉ bốn dinar mua được
một chai săm banh) để giúp nông dân mua lúa giống. Nghĩa là chính quyền
cũng tỏ vẻ săn sóc cho nông dân chu đáo như chính phủ Ngô Đình Diệm ở
nước ta.
Đảng cộng sản Iraq hơi bất bình vì chủ điền còn giữ được nhiều ruộng
quá, nhưng nghĩ như vậy đã là tiến bộ nên chỉ phản đối qua loa. Nông
dân tin tưởng, bỏ châu thành, trớ về đồng ruộng.
Nhưng chẳng bao lâu họ thất vọng. Cải cách điền địa chỉ có trên giấy
tờ, không thực hiện được. Vì chính quyền gặp rất nhiều nỗi khó khăn.
Trước hết là không có đủ bản đồ. Công việc đạc điền chỉ là mới bắt đầu,
mà lại làm rất cẩu thả vì thiếu nhà chuyên môn, ranh giới ruộng đất sai
be bét.
Lẽ nữa là nhân viên chính quyền sai về làng thực hiện việc chia đất bị
các chủ điền mua chuộc hoặc dọa dẫm, nên không làm được gì cả. Họ về
làng, làm gì có khách sạn, đành phải vào ở nhờ nhà các chủ điền, nhà
nông dân chật hẹp, dơ dáy quá, làm sao ở nổi. Chủ điền cung cấp cho họ
đủ thứ: Từ thức ăn, thức uống tới các phương tiên chuyên chở, cả lao
công, kẻ hầu người hạ nữa. Ta nên nhớ ở Iraq có nhiều điền trang mênh
mông gồm mấy làng, chủ điền nuôi lính và có khí giới. Thầy ký nào ở
tỉnh tới với một chiếc va li và một cây thước cuốn, nếu dại dột mà muốn
phỏng vấn, điều tra thì một là mất chức hai là toi mạng.
Muốn cho công cuộc cải cách có kết quả thì chính quyền phải mạnh. Mà
nông dân lúc đó chưa được tổ chức, chính quyền chưa dám đối phó với các
lãnh chúa. Luật mới ban ra, bọn chủ điền nhao nhao lên phản đối, kêu
nài. Phải thành lập các tòa án đặc biệt để xét các đơn kêu nài của chủ
điền. Tòa án phải điều tra, có khi cả năm mới xong và thảo được một bản
phán nghị. Phán nghị đó đâu đã được thi hành ngay, phải đưa lên một ủy
ban trưng thu và định giá xét lại, ủy ban này xét xong lại trình quyết
nghị là một ủy ban nữa, ủy ban cải cách điền địa, ủy ban này trình lên
một ủy ban nữa, rồi một ủy ban nữa gồm tất cả các bộ để quyết định có
nên cấp phát đất đó cho một nông dân nào không. Như vậy có biết bao
nhiêu là thủ tục che chở quyền tư hữu của các đại điền chủ và luật cải
cách điền địa chỉ có danh mà không có thực.
Cho nên đảng cộng sản đã chỉ trích chính phủ là cố ý "phá hoại cuộc cải
cách", là "giết nông dân" y như bọn phong kiến và thực dân thời trước.
Họ tố cáo bọn chủ điền là vẫn nắm quyền sinh sát nông dân, dùng mọi âm
mưu chia rẽ, thao túng các tổ chức nông dân, mua chuộc, gian lận trong
các cuộc bầu cử ban chấp hành các tổ chức nông dân.
Riết rồi chính Kassem cũng tự hỏi không biết có thể và có nên thực hiện
cuộc cải cách điền địa đó không, vì muốn thực hiện đến nơi đến chốn thì
phải phá hẳn tổ chức cũ của xã hội, làm xáo trộn hết từ lối sống tới
lối làm việc, lối sản xuất, cả lối suy tư nữa. Ngay đảng cộng sản cũng
tự thú là bất lực, chưa tới lúc vì xã hội chưa chín mùi để có thể cách
mạng triệt để, nên họ chỉ phản đối ngoài miệng. Rốt cuộc người ta đồng
tình để cho cuộc cải cách điền địa chìm dần.
Vậy ở đồng ruộng không có gì thay đổi, trừ vài cuộc hội họp của ủy ban
này ủy ban nọ. Trái lại, ở Bagdad và các thị trấn lớn, bộ mặt thay đổi
hẳn. Phụ nữ Iraq đã xé khăn choàng mặt từ lâu rồi, sau cuộc cách mạng
của Mustapha Kémal ở Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng bây giờ họ mới thực là được giải
phóng. Họ tự giải phóng họ. Sau ngày 14.7.1958, cũng như phụ nữ Pháp
nám 1789, họ hăng say lạ lùng, tự cảm thấy mình là mẹ của các nhà cách
mạng, nếu không phải là mẹ của cách mạng, họ cũng vác gậy lại hoàng
cung để trị bọn phong kiến, rồi họ bận quân phục biểu diễn ở các đường
phố, lên diễn đàn hô hào đòi đủ các quyền công dân. Họ vào đoàn dân
quân, kiểm soát thẻ kiểm tra, lục soát các xe cộ.
Một tiến bộ nữa là ngôn luận được tự do. Đủ các khuynh hướng từ cực hữu
qua cực tả, và các người ngoại quốc đều phải nhận rằng từ Istambul tới
Aden, từ Le Caire tới Téhéran, không đâu báo chí phát triển tưng bừng,
ngôn luận cởi mở như ở Bagdad. Nhưng từ 1960, phong trào đó bắt đầu bị
nén xuống.
Bồng bột nhất là sự phát triển về giáo dục, nhưng chỉ riêng về cấp đại
học. Người ta xây cất một khu đại học vĩ đại để tiếp nhận 14.000 sinh
viên, gửi đi du học ngoại quốc ba ngàn sinh viên trong năm 1959, phái
rất nhiều đoàn đi dự các cuộc hội thảo của sinh viên các nước Âu, Á,
đón rất nhiều giáo sư ngoại quốc tới dạy, mở nhiều thư viện, nhập cảng
và xuất bản rất nhiều sách.
Tóm lại chỉ thành thị, đặc biệt là sinh viên và sỹ quan là được hưởng
nhiều hơn cả, còn tình cảnh thợ thuyền cũng như nông dân không được cải
thiện bao nhiêu: Công trình kỹ nghệ hóa tiến rất chậm, chỉ mới phát
triển được về điện. Thành thử nhiều người đã thất vọng, càu nhàu: Chẳng
có gì thay đổi cả còn tệ hơn trước nữa, trước khốn khổ nhưng còn có
được chút hy vọng, bây giờ tới hy vọng cũng mất."
Càng thất nhân tâm thì người ta lại càng thần thánh hóa Kassem, đâu đâu
cũng thấy căng những biểu ngữ: "Vị lãnh tụ duy nhất của chúng ta...",
"vị quốc trưởng liêm chính", "nhà ái quốc được toàn dân kính mến...".
Cũng y như thời Ngô Đình Diệm ở nước mình. Đông Á và Tây Á không hẹn mà
gặp nhau.
|