Chiến tranh Boshin PDF Print E-mail
Written by lichsuvn.info   
Thursday, 03 July 2008

Chiến tranh Boshin




Samurai của gia tộc Satsuma, chiến đấu trong hàng ngũ phe bảo hoàng trong suốt chiến tranh Boshin. Ảnh do Felice Beato chụp.

Thời gian: Tháng 1 năm 1868 – tháng 5 năm 1869
Địa điểm: Nhật Bản
Kết quả: Mạc phủ sụp đổ; Phục hồi Hoàng quyền
Tham chiến
  1. Phe bảo hoàng: Lãnh địa Satsuma, Lãnh địa Chōshū, Lãnh địa Tosa
  2. Mạc phủ Tokugawa, Cộng hòa Ezo
Chỉ huy:
  • Phe bảo hoàng:
Thống lĩnh tối cao: Thiên Hoàng Meiji,
Tổng tư lệnh: Saigō Takamori,
Lục quân: Kuroda Kiyotaka
  • Mạc phủ:
Thống lĩnh tối cao: Tokugawa Yoshinobu,
Lục quân: Katsu Kaishu,
Hải quân: Enomoto Takeaki,
  • Cộng hòa Ezo:
Tổng thống:Enomoto Takeaki,
Tổng tư lệnh: Otori Keisuke,
Hải quân: Arai Ikunosuke
Thương vong:
  • Phe bảo hoàng: ~1,000 chết
  • Phe Mạc phủ: ~3,000 chết

Chiến tranh Boshin (戊辰戦争, Boshin Sensō?, "Chiến tranh Mậu Thìn") là cuộc nội chiến ở Nhật Bản, từ 1868 đến 1869 giữa quân đội của Mạc phủ Tokugawa đang cầm quyền và những người muốn phục hồi quyền lực triều đình. Nguồn gốc chiến tranh là do sự bất mãn trong tầng lớp quý tộc và samurai trẻ với quá trình mở cửa Nhật Bản với người nước ngoài của Mạc phủ thập kỷ trước đó. Liên minh các samurai phía Nam và triều đình có được sự hợp tác của Nhật Hoàng Meiji trẻ tuổi, người sau này tuyên bố chấm dứt 250 năm chế độ Mạc phủ. Phong trào quân sự của quân đội bảo hoàng và các đội du kích ở Edo dẫn đến việc Tokugawa Yoshinobu, đương kim shogun, phát động một chiến dịch quân sự với mục đích chiếm lấy triều đình ở Kyoto. Tình hình quân sự nhanh chóng chuyển biến theo hướng có lợi cho phe bảo hoàng tuy nhỏ hơn những được hiện đại hóa mạnh mẽ hơn, và sau hàng loạt trận đánh mà đỉnh cao là sự đầu hàng của Edo mà Yoshinobu tự mình thực hiện. Số quân còn lại của nhà Tokugawa rút lui về phía Bắc Honshū rồi sau đó là Hokkaidō, nơi họ thành lập nước Cộng hòa Ezo. Thất bại trong trận Hakodate khiến họ mất đi căn cứ địa cuối cùng và phe bảo hoàng chính thức nắm quyền lực tuyệt đối trên toàn nước Nhât, hoàn thành giai đoạn quân sự trong cuộc Minh Trị Duy Tân.

Khoảng 120.000 lính đã được huy động trong cuộc chiến, và có khoảng 3.500 người chết. Cuối cùng, chiến thắng của phe bảo hoàng không tiếp tục mục đích trục xuất người nước ngoài khỏi Nhật Bản mà thay vào đó thi hành những chính sách tiếp tục hiện đại hóa với mục tiêu cuối cùng là tái đàm phán những Hiệp ước bất bình đẳng với các thế lực phương Tây. Nhờ sự bền bỉ của Saigō Takamori, một lãnh đạo nổi bật của lực lượng bảo hoàng, những người trung thành với nhà Tokugawa đã thể hiện tính ôn hòa của mình, và nhiều cựu chỉ huy Mạc phủ sau này được giao nhiều vị trí quan trọng dưới chế độ mới.


Bản đồ chiến dịch chiến tranh Boshin (1868-1869). Liên quân các lãnh địa phía Nam Satsuma, Chōshū và Tosa (màu đỏ) đánh bại quân đội Mạc phủ tại Toba-Fushimi, rồi từng bước nắm quyền kiểm soát phần còn lại nước Nhật cho đến cứ điểm cuối cùng ở hòn đảo phí Bắc Hokkaidō.

Chiến tranh Boshin chứng tỏ sự hiện đại hóa cao mà người Nhật đã đạt được 14 năm sau khi mở cửa với phương Tây, sự can thiệp mạnh mẽ của các quốc gia phương Tây (đặc biệt là Vương quốc Anh và Pháp) vào tình hình chính trị trong nước, và việc thiết lập lại Hoàng quyền. Càng về sau này, cuộc chiến ngày càng được người Nhật lãng mạn hóa, nhất là những người coi Minh Trị Duy Tân là một cuộc “cách mạng không đổ máu,” bất chấp số thương vong. Người Nhật đã làm nhiều vở kịch, bộ phim về cuộc chiến này, và một cố chi tiết của nó đã được kết hợp vào bộ phim Mỹ năm 2003 The Last Samurai.


Bối cảnh chính trị

Bất mãn với Mạc phủ

Suốt hai thế kỷ trước năm 1854, Nhật Bản giới hạn nghiêm ngặt việc giao thương với người nước ngoài, với một số ngoại lệ đáng chú ý như Cao Ly qua đảo Tsushima, nhà Thanh qua quần đảo Ryūkyū và Hà Lan qua điểm trao đổi Dejima. Năm 1854, Commodore Perry mở cửa Nhật Bản với thương mại toàn cầu bằng biện pháp đe dọa quân sự, do đó bắt đầu thời kỳ phát triển nhanh chóng ngoại thương và Âu hóa. Nhờ một phần lớn và những điều khoản mang tính sỉ nhục trong các hiệp ước bất bình đẳng, Mạc phủ sớm đối mặt với sự thù địch ở trong nước, sự đối nghịch này được cụ thể hóa thành phong trào bài ngoại sonnō jōi ("Tôn Vương, Nhương Di ").

Nhật hoàng Kōmei ủng hộ xu thế này, và—phá vỡ truyền thống hàng thế kỷ của Hoàng gia—bắt đầu giữ vai trò chủ động trong công việc triều chính:khi cơ hội đến, ông phản đối lại các hiệp ước và cố can dự vào việc nối ngôi Shogun. Đỉnh cao nỗ lực của ông là vào tháng 3 năm 1863 với “Nhương di sắc mệnh”. Mặc dù Mạc phủ không có ý thi hành chiếu chỉ, điều này sau này lại hại chính Mạc phủ và người nước ngoài ở Nhật: sự kiện nổi tiếng nhất là việc thương nhân Charles Lennox Richardson bị sát hại, và cái chết của ông đã khiến Mạc phủ phải trả tiền bồi thường lên đến 100.000 Bảng Anh.[7] Những cuộc tấn công khác bao gồm việc bắn phá tàu ngoại quốc tại Shimonoseki.

Trong năm 1864, những hành động này bị các thế lực ngoại quốc đáp trả mãnh liệt, ví dụ như vụ bắn phá Kagoshima của Anh và bắn phá Shimonoseki của liên quân các nước. Cùng lúc, quân đội Chōshū, cùng với những ronin bài ngoại, tiến hành nổi loại Hamaguri cố chiếm thành phố Kyoto, nơi triều đình của Thiên hoàng đóng, nhưng Shogun tương lai Tokugawa Yoshinobu dẫn đầu đội quân chinh phạt và đánh bại họ. Vào lúc này, sự kháng cự trong giới lãnh đạo ở Chōshū cũng như triều đình giảm xuống, nhưng vài năm sau, nhà Tokugawa không thể kiểm soát được toàn bộ đất nước nữa khi mà phần lớn các daimyo bất tuân mệnh lệnh và yêu cầu từ Edo.[9]

Trợ giúp quân sự



Huấn luyện quân đội Mạc phủ nhờ phái đoàn quân sự Pháp năm 1867

Bất chấp vụ bắn phà Kagoshima, lãnh địa Satsuma trở nên thân thiết với nước Anh hơn và theo đuổi việc hiện đại hóa lục quân và hải quân nhờ sự trợ giúp của họ. Nhà buôn Scotland Thomas Blake Glover bán một số lượng lớn tàu chiến và súng ống cho các tỉnh miền Nam. Các chuyên gia quân sự Anh và Mỹ, thường là các cựu sĩ quan, có thể đã trục tiếp tham gia và các trận đánh. Đại sứ Anh Harry Smith Parkes ủng hộ quân đội chống Shogun trong nỗ lực lập nên một Đế triều hợp pháp và thống nhất Nhật Bản, và để chống lại ảnh hưởng của người Pháp với Mạc phủ. Trong thời kỳ đó, các lãnh đạo Nam Nhật Bản như Saigō Takamori ở Satsuma, hay Itō Hirobumi và Inoue Kaoru ở Chōshū luôn chú tâm đến quan hệ cá nhân với các nhà ngoại giao Anh, đáng chú ý có Ernest Mason Satow.

Mạc phủ cũng chuẩn bị cho các cuộc giao tranh quyết liệt hơn bằng đội quân hiện đại của mình. Người Anh, sau đó là đối tác quan trọng của Mạc phủ, rất miễn cưỡng trong việc cứu viện. Nhà Tokugawa do đó dần dựa chủ yếu và các chuyên gia Pháp, một phần còn vì uy thế quân sự của Napoleon III vào thời đó qua các cuộc Chiến tranh Crimea và Chiến tranh Italy. Mạc phủ tiến những bước dài trong công cuộc xây dựng quân đội hiện đại và hùng mạnh: hải quân với cốt lõi là hạm đội 8 tàu chiến hơi nước được đóng trong vài năm trước đó và thực sự là hạm đội hùng mạnh nhất châu Á. Năm 1865, kho đạn hải quân hiện đại đầu tiên của Nhật được kỹ sư Pháp Léonce Verny xây dựng tại Yokohama. Tháng 1 năm 1867, một phái đoàn quân sự Pháp đến để tổ chức lại quân đội Mạc phủ và thành lập đội quân tinh nhuệ, và một đơn đặt hàng được gửi đến Mỹ để mua tàu chiến bọc thép do Pháp đóng CSS Stonewall, "di tích" từ thời Nội chiến Hoa Kỳ. Theo tuyên bố trung lập của các nước phương Tây, nước Mỹ từ chối nhượng lại con tàu, nhưng một khi sự trung lập bị bỏ qua, phe bảo hoàng có được con tàu này và sử dụng nó trong trận chiến Hakodate dưới cái tên Kōtetsu ("Thiết giáp").

Đảo chính quân sự (1866–1868)


Sau cuộc đảo chính ở bên trong và cuộc nổi loạn cách tân của Chōshū, và dự định của Mạc phủ cử quân viễn chinh dẹp tan cuộc nổi loạn, Chōshū bí mật liên minh với phiên Satsuma. Tuy vậy, cuối năm 1866, đầu tiên là Shogun Iemochi và sau đó là Nhật hoàng Kōmei qua đời, sau đó là sự kế vị của Yoshinobu và Nhật hoàng Meiji. Những sự kiện này tạo ra “một xu thế không thể tránh khỏi” Ngày 9 tháng 11 năm 1867, mật chỉ của chính quyền Thiên Hoàng Meiji truyền xuống hai phiên Satsuma và Chōshū lệnh rằng “giết kẻ phản bội Yoshinobu." Tuy vậy, trước đó, theo đề xuất của daimyo Tosa, Yoshinobu từ nhiệm và trao trả quyền lực cho Thiên hoàng, đồng ý trở thành “công cụ thực thi” mệnh lệnh của Hoàng gia. Mạc phủ Tokugawa chấm dứt.

Trong khi việc Yoshinobu từ nhiệm chỉ tạo ra một khoảng trống trên danh nghĩa trong thượng tầng quyền lực, bộ máy phức tạp dưới quyền ông vẫn tồn tại. Hơn nữa, chính quyền Mạc phủ, đặc biệt là nhà Tokugawa vẫn là lực lượng nổi bật trong các mệnh lệnh chính trị và vẫn còn bảo lưu được nhiều đặc quyền, một viễn cảnh khó khăn mà hai phiên Satsuma và Chōshū không thể chịu đựng được. Mọi chuyện bùng nổ vào 1 tháng 3 năm 1868 khi hai phiên này chiếm lấy Hoàng cung ở Kyoto, và ngày sau đó dàn xếp để Thiên hoàng mới 15 tuổi Meiji tuyên bố phục hồi quyền lực của mình. Mặc dù đa phần hội đồng cố vấn Hoàng gia đồng tình với việc phục hồi sự trị vì trực tiếp của triều đình và định ủng hộ việc tiếp tục hợp tác với nhà Tokugawa (dưới cái gọi là "Công nghị chính thể phái" (公議政体派, kōgiseitaiha), Saigō Takamori đe dọa hội đồng phải bãi bỏ tước hiệu "shogun" và ra lệnh tịch thu đất đai của Yoshinobu.


Quân đội Shogun phá hủy dinh thự Satsuma ở Edo

Mặc dù ban đầu ông đồng ý với yêu sách này, nhưng vào 17 tháng 1 năm 1868 Yoshinobu tuyên bố rằng "ông sẽ không chịu sự trói buộc của lời tuyên bố phục hồi Đế quyền và kêu gọi triều đình hủy bỏ nó." Ngày 24 tháng 1, Yoshinobu quyết định chuẩn bị tấn công Kyoto, vốn bị quân đội Satsuma và Chōshū chiếm. Quyết định này là do bài học của chính ông về hàng loạt vụ đốt phá ở Edo, bắt đầu là việc đốt các công sự phụ của thành Edo, nơi ở chính của nhà Tokugawa. Vụ này bị quy cho các ronin của Satsuma, những người ngày hôm đó tấn công các công sở của chính quyền. Ngày hôm sau, quân đội Mạc phủ đáp trả bằng cuộc tấn công và dinh thự của daimyo Satsuma, nơi rất nhiều người chống lại Mạc phủ, dưới sự chỉ huy của Takamori, đang lẩn trốn và gây ra sự náo loạn. Dịnh thự bị đốt trị, và rất nhiều người đối lập bị giết hay sau đó bị xử tử.

Giao chiến công khai


Cảnh chiến trận tại Toba-Fushimi. Quân đội Mạc phủ ở bên trái, bao gồm các tiểu đoàn từ Aizu. Ở bên phải là quân đội từ Chōshū và Tosa. Có các tiểu đoàn hiện đại, nhưng một số quân vẫn là các samurai truyền thống (đặc biệt là ở phe Mạc phủ)


Khẩu đội pháo Satsuma trong trận Toba-Fushimi


Bác sỹ William Willis, từ Tòa Công sứ Anh, quản lý quân y viện của quân đội Satsuma trong trận Toba-Fushimi và trong suốt chiến tranh Boshin.

Ngày 27 tháng 1 1868, quân đội Mạc phủ tấn công quân đội Chōshū và Satsuma, hai bên chạm mặt nhau gần Tobaf và Fushimi, tại con đường phía Nam dẫn đến Kyoto. Một số bộ phận của đội quân hùng mạnh 15.000 của Mạc phủ đã được các cố vấn quân sự Pháp huấn luyện, nhưng phần lớn vẫn là đội quân samurai thời trung cổ. Trong khi đó, quân đội của Chōshū và Satsuma chỉ bằng 1/3 nhưng hoàn toàn được hiện đại hóa với pháo Armstrong, Minié rifle và một số Gatling guns. Sau khởi đầu bất phân thắng bại, vào ngày thứ hai, một cờ lệnh của Thiên hoàng được gửi đến cho đội quân phòng về, và một họ hàng của Thiên hoàng, Ninnajinomiya Yoshiaki, được chỉ định làm Tổng tư lệnh danh dự, biến đội quân này chính thức trở thành quan quân (官軍, kangun?). Thêm nữa, bị một số quan lại trong triều thuyết phục, vài “daimyo” địa phương, cho lúc đó vẫn trung thành với Shogun, bắt đầu chuyển sang phe triều đình. Trong số đó có các daimyo của Yodo vào ngày 5 tháng 2, và daimyo của phiên Tsu vào ngày 6 tháng 2, làm cán cân quân sự nghiên về phía triều đình.

Ngày 7 tháng 2, Tokugawa Yoshinobu, có lẽ đã khốn cùng vì sự chấp thuận của Hoàng gia với các hành động của Satsuma và Chōshū, chạy trốn đến Osaka trên con tàu Kaiyō Maru, rút lui đến Edo. Bị mất tinh thần vì sự chạy trốn của ông và sự phản bội cảu Yodo và Tsu, quân đội Mạc phủ rút lui, khiến cho phần thắng trong trận Toba-Fushimi thuộc về Hoàng gia, mặc dù người ta cho rằng quân đội Mạc phủ đã có thể thắng trận. Thành Osaka sớm bị bao vây vào ngày 8 tháng 2 (ngày 1 tháng 3, theo lịch phương Tây), chấm dứt trận chiến Toba-Fushimi.

Cùng lúc đó, ngày 28 tháng 1 năm 1868, hải chiến Awa giữa Mạc phủ và hải quân Satsuma diễn ra. Đây là trận đánh đầu tiên ở Nhật Bản giữa hai lực lượng hải quân hiện. Trận đánh, mặc dù chỉ có quy mô nhỏ, nhưng đã chấm dứt với chiến thắng của Mạc phủ.


Sát hại thủy thủ Pháp trong sự kiện Sakai. Le Monde Illustré

Trên mặt trận ngoại giao, công sứ của các nước ngoài, tập trung ở cảng Hyōgo (ngày nay là Kobe) vào đầu tháng 2, ra một bản thông cáo coi Mạc phủ vẫn là chính quyền hợp pháp duy nhất ở Nhật Bản, mang hy vọng lại cho Tokugawa Yoshinobu rằng các nước ngoài (đặc biệt là Pháp) có thể can thiệp vì ông. Tuy vậy, vài ngày sau một phái đoàn của Hoàng gia tới gặp các công sứ tuyên bố rằng Mạc phủ đã bị giải thể, và các cảng sẽ được mở phù hợp với các Hiệp ước quốc tế, và người nước ngoài sẽ được bảo vệ. Các công sứ cuối cùng quyết định tái tổ chức lại chính quyền.

Tuy nhiên thái độ bài ngoài ngày càng tăng dẫn đến vài vụ tấn công người nước ngoài những tháng sau đó. 11 thủy thủ Pháp từ tàu hộ tống Dupleix bị các samurai giết tại Tosa trong sự kiện Sakai vào ngày 8 tháng 3 năm 1868. 15 ngày sau, , Sir Harry Parkes, Đại sứ Anh, bị một nhóm samurai tấn công trên đường phố Kyoto.

Edo đầu hàng


Kondo Isami, chỉ huy lực lượng bảo vệ Mạc phủ Shinsengumi, đối mặt với quân lính Tosa (lấy tên "Xich hùng" (赤熊, Shaguma) từ bộ tóc giả của các sỹ quan) trong Trận Kōshū-Katsunuma


Một phần hạm đội của Enomoto Takeaki ngoài khơi Shinagawa. Tử trái sang phải: Mikaho, Chōgei, Kanrin, Kaiyō, Kaiten. Banryū và Chiyodagata vắng mặt, ảnh năm 1868

Bắt đầu vào tháng 2, với sự giúp đỡ của Đại sứ Pháp Léon Roches, một kế hoạch được thảo ra để chặn đứng bước tiến của triều đình tại Odawara, cứ điểm chiến lược cuối cùng trên đường đến Edo, nhưng Yoshinobu chống lại kế hoạch này. Bị shock, Léon Roches từ nhiệm, Vào đầu tháng 3, dưới ảnh hưởng từ Công sứ Anh Harry Parkes, các nước ký một bản hiệp định trung lập nghiệm ngặt, theo đó họ không thể can thiệp hay trợ giúp quân sự cho cả hai phía cho đến khi giao tranh kết thúc.

Saigō Takamori dẫn đội quân chiến thắng tiến lên phía Bắc và phía Đông Nhật Bản, chiến thắng trận Kōshū-Katsunuma. Ông cuối cùng bao vây Edo tháng 5 năm 1868, dẫn đến sự đầu hàng không điều kiện của Katsu Kaishu, chỉ huy quân sự của Shogun. Một số đội quân tiếp tục kháng cự sau sự đầu hàng này và bị đánh bại trong trận Ueno.

Trong khi đó, chỉ huy hải quân của Shogun, Enomoto Takeaki, từ chối đầu hàng. Ông chỉ gửi đến 4 tàu, trong số đó có tàu Fujisan, nhưng sau đó ông đào thoát về phía Bắc với dư đảng Hải quân Shogun (8 tàu chiến hơi nước: Kaiten, Banryū, Chiyodagata, Chōgei, Kaiyō Maru, Kanrin Maru, Mikaho và Shinsoku), và 2.000 binh lính hải quân, với hy vọng đặt căn cứ cho một đòn phản công cùng với các daimyo phương Bắc. Ông cộng tác với một số cố vấn quân sự Pháp, đáng chú ý có Jules Brunet, người đã rời khỏi quân đội Pháp để có thể cộng tác với quân nổi loạn.

Sự kháng cự của liên minh phương Bắc


Quân đội từ Sendai, sau khi được huy động vào tháng 4, gia nhập liên minh phương Bắc chống lại quân đội triều đình tháng 5 năm 1868.


Đại bác nòng gỗ được phiên Sendai sử dụng trong chiến tranh Boshin. Bảo tàng thành phố Sendai

Sau khi Yoshinobu đầu hàng, phần lớn người Nhật chấp thuận quyền lực của Thiên Hoàng, trừ một số phiên ở phía Bắc, ủng hộ gia tộc Aizu, tiếp tục kháng cự. Vào tháng 5, vài daimyo phía Bắc thành lập liên minh chống lại quân đội triều đình, liên minh các phiên phương Bắc chủ yếu là quân đội của các phiên Sendai, Yonezawa, Aizu, Shonai và Nagaoka, với tổng cộng 50.000 lính. Thân Vương Kitashirakawa Yoshihisa chạy trốn về phía Bắc với sự ủng hộ của quân di kích Mạc phủ Tokugawa và được đặt lên ngôi minh chủ liên minh phía Bắc, với dự định lấy tước hiệu “Thiên Hoàng Tobu ".

Hạm đội của Enomoto neo tại cảng Sendai ngày 26 tháng 8. Mặc dù liên minh phương Bắc rất đông nhưng trang bị của họ rất kém, và dựa trên các chiến thuật truyền thống. Vũ khí hiện đại rất hiếm, và trong nỗ lực cuối cùng họ chế tạo đại bác nòng gỗ gia cố bằng dây thép, có thể phóng ra đạn lửa. Những khẩu đại bác như thế, được lắp vào các công sự phòng thủ, chỉ có thể bắn được 4 đến 5 viên đạn trước khi vỡ tung. Mặt khác, daimyo Nagaoka thu được 2 trong 3 khẩu gatling gun ở Nhật Bản và 2000 khẩu súng trường Pháp từ tay lái súng Đức Henry Schnell.


Tòa thành đổ nát Shirakawa-Komine, trong trận Aizu

Tháng 5 năm 1868, daimyo Nagaoka giáng cho quân đội Hoàng gia một đòn choáng váng trong trận K\Hokuetsu, nhưng thành của ông cuối cùng vẫn bị hạ vào ngày 19 tháng 5. Quân đội bảo hoàng tiếp tục tiến về phía Bắc, đánh bại Shinsengumitrong trận đèo Bonari, mở ra cánh cửa tấn công và thành Aizu-Wakamatsu trong trận Aizu tháng 10 năm 1868, do vậy, khiến cho vị trí tại không thể giữ nổi.


Quân đội của Mạc phủ cũ, được vận chuyển đến Hokkaidō.

Liên minh tan vỡ, và ngày 12 tháng 10 năm 1868, hạm đội rời khỏi Sendai đến Hokkaidō, sau khi nhận thêm 2 tàu nữa (Oe và Hōō, trước đó được Sendai mượn từ Mạc phủ), và khoảng 1.000 quân; duy trì quân đội Mạc phủ dưới sự chỉ hủy của Otori Keisuke, quân Shinsengumi của Hijikata Toshizo, đội du kích (yugekitai) của Hitomi Katsutarō, cũng như vài cố vấn Pháp nữa (Fortant, Garde, Marlin, Bouffier).

Ngày 26 tháng 0, Edo được đổi tên thành Tokyo, và thời kỳ Minh Trị chính thức bắt đầu. Aizu bị vây hãm từ đầu tháng, dẫn đến hàng loạt vụ tự sát của các chiến binh trẻ trong Byakkotai (Bạch Hổ đội). Sau trận đánh kéo dài một tháng, Aizu cuối cùng thú nhận thất bại vào ngày 6 tháng 1.

Chiến dịch Hokkaidō

Cộng hòa Ezo thành lập

Sau thất bại tại Honshū, Enomoto Takeaki chạy trốn đến Hokkaidō cùng tàn quân và một nhóm các cố vấn Pháp. Họ cùng nhau xây dựng một chính quyền, với mục đích xây dựng một đảo quốc độc lập vì mục tiêu phát triển Hokkaidō. Họ chính thức thành lập Cộng hòa Ezo theo kiểu Mỹ ngày 15 tháng 12, nước cộng hòa duy nhất của Nhật từ trước tới này, và Enomoto được bầu làm Tổng thống với tỷ lệ phiếu cao. Nước cộng hòa cố tiếp cận với các công sứ nước ngoài hiện diện ở Hakodate, ví dụ như Mỹ, Pháp, và Nga, nhưng không có được bất kỳ sự công nhận quốc tế hay ủng hộ nào. Enomoto đề nghị tặng lãnh thổ của mình cho Shogun Tokugawa dưới luật lệ của triều đình, nhưng đề nghị của ông bị Hội đồng Hoàng gia bác bỏ.[46]

Trong suốt mùa Đông, họ củng cố bố phòng xung quanh phía Nam bán đảo Hakodate, với pháo đài mới Goryokaku ở trung tâm. Quân đội được tổ chức dưới quyền chỉ huy Pháp-Nhật, Tổng tư lệnh Otori Keisuke và cấp phó là Đại úy Pháp Jules Brunet, và được chia thành bốn lữ đoàn. Mỗi lữ đoàn do một hạ sĩ quan Pháp chỉ huy (Fortant, Marlin, Cazeneuve, Bouffier), và mỗi lữ đoàn lại chia làm hai, dưới quyền chỉ huy của người Nhật.[47]

Thất bại cuối cùng và đầu hàng


Chiến hạm Nhật Bản Kotetsu của Hải quân Hoàng gia

Hải quân Hoàng gia tiến đến cảng Miyako ngày 20 tháng 3, nhưng đoán trước được sự xuất hiện của các chiến thuyền Hoàng gia, những người nổi loạn Ezo lên một kế hoạch táo bạo chiếm tàu Kotetsu. Ba thuyền chiến được hạ lệnh bất ngờ tấn công, trong trận đánh sau này gọi là Hải chiến Miyako. Trận đánh kết thúc với thất bại của phe Tokugawa, chủ yếu là do thời tiết, trục trặc động cơ và quyết định là việc sử dụng gatling gun của quân đội Hoàng gia chống lại sự tấn công của các đội samurai.


Sĩ quan Hải quân Pháp Eugène Collache tham dự trận Hải chiến Miyako trong bộ quần áo samurai.

Quân đội Hoàng gia sớm củng cố vị trí của mình trong nội địa Nhật Bản, và vào tháng 4 năm 1869, phái đi một hạm đội và 7.000 lục quân đến Ezo, bắt đầu trận Hakodate. Quân đội Hoàng gia tiến rất nhanh và giành được chiến thắng trong trận Hải chiến vịnh Hakodate, trận hải chiến quy mô lớn đầu tiên của Nhật Bản giữa hải quân hiện đại, pháo đài Goryokaku bị bao vây với 800 người còn lại. Thấy tình hình đã trở nên tuyệt vọng, các cố vấn Pháp chạy đến một con tàu Pháp neo ở vịnh Hakodate - Coëtlogon, dưới quyền thuyền trường Dupetit-Thouars – từ đây họ chạy về Yokohama rồi sau đó là nước Pháp. Người Nhật yêu cầu các cố vấn Pháp phải bị xét xử tại Pháp; tuy vậy, vì sự ủng hộ của dân chúng Pháp với hành động của họ, các cựu cố vấn Pháp ở Nhật không bị trừng trị vì hành động của mình.

Enomoto quyết tâm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, và đã gửi những vật quý giá của mình cho kẻ thù cất giữ.[49] nhưng Otori thuyết phục ông đầu hàng, nói với ông rằng quyết định sống để vượt qua thất bại mới thực sự dũng cảm: “Nếu muốn chết, ngài có chết bất kỳ lúc nào."[50] Enomoto đầu hàng vào ngày 18 tháng 5 năm1869, và tuân theo luật của Thiên hoàng Meiji. Cộng hòa Ezo chấm dứt tồn tại vào ngày 27 tháng 6 năm 1869.

Sau trận đánh


Nhật hoàng Meiji mới 16 tuổi, chuyển từ Kyoto đến Tokyo, cuối năm 1868.


Sau chiến thắng, chính quyền mới bắt đầu bằng việc thống nhất đất nước dưới sự thống trị duy nhất, hợp pháp và vững mạnh của triều đình. Dinh tự Hoàng gia được chuyển từ Kyoto đến tokyp cuối năm 1868. Quyền lực chính trị và quân sự của các phiên (han) bị bãi bỏ hoàn toàn, và các phiên sớm được đổi thành các tỉnh, với thống đốc được Thiên hoàng bổ nhiệm. Một cải cách lớn là việc hủy bỏ và truất hữu có hiệu lực tầng lớp samurai, cho phép rất nhiều các samurai chuyển sang các vị trí hành chính hay kinh doanh, nhưng đẩy rất nhiều người khác vào cảnh nghèo khó. Các phiên phía Nam như Satsuma, Chōshū và Tosa, giữ vai trò quyết định trong chiến thắng, chiếm giữ hầu hết các vị trí trọng yếu trong triều vài thập kỷ sau cuộc chiến, một tình thế đôi khi được gọi là "Nền chính trị đầu sỏ thời Meiji" và được chính thức hóa bằng việc thành lập Viện nguyên lão (genrō). Năm 1869, Đền Yasukuni ở Tokyo được xây dựng lại để vinh danh những nạn nhân của chiến tranh Boshin.

Một số lãnh đạo của phe Shogun cũ bị hạ ngục, nhưng chỉ thiếu chút nữa là bị xử tử. Sự nhân từ này là từ sự kiên quyết của Saigō Takamori và Iwakura Tomomi, mặc dù phần lớn sức nặng là từ lời khuyên của Parkes, Công sứ Anh. Ông thúc giục Saigō, theo lời của Ernest Satow, "sự nghiêm khắc dành cho Keiki [Yoshinobu] hay những người đi theo ông, đặc biệt là theo lối trừng phạt các nhân, sẽ làm tổn thương danh tiếng của chính quyền mới trong con mắt của các cường quốc châu Âu." Sau 2 hay 3 năm bị giam, phần lớn bọn họ được mời cộng tác với chính quyền mới, và vài người đã có sự nghiệp rạng rõ, như Enomoto Takeaki, sau này trở thành Công sứ tại Nga và Trung Quốc và Bộ trường Giáo dục.

Phe bảo hoàng không theo đuổi mục tiêu tống cổ các lợi ích ngoại quốc khỏi Nhật Bản, mà thay vào đó là mạnh mẽ chuyển mục tiêu chính trị sang việc tiếp tục hiện đại hóa quốc gia và tái đàm phán các hiệp ước bất bình đẳng với các cường quốc, sau này trở thành khẩu hiệu "Phú quốc, Cường binh" (富国強兵, fukoku kyōhei?). Sự thay đổi thái độ với người ngoại quốc này diễn ra trong những ngày đầu của cuộc nội chiến: vào ngày 8 tháng 4 năm 1868, một tấm biển được dựng lên ở Kyoto (và sau này trên toàn quốc) đặc biệt phản đối bạo lực đối với người nước ngoài. Trong chiến tranh, đích thân Nhật hoàng Meiji tiếp kiến các Công sứ châu Âu, đầu tiên là ở Kyoto, sau đó là Osaka và Tokyo. Một việc chưa từng có tiền lệ là buổi tiếp ngài Alfred, Công tước Edinburgh, tại Tokyo, "'như một người “ngang hàng” với ông về khía cạnh dòng máu '"


Buổi tiếp của Nhật hoàng Meiji với phái đoàn quân sự thứ hai của Pháp đến Nhật Bản, 1872.

Mặc dù những năm đầu thời kỳ Meiji chứng kiến sự nồng ấm trong quan hệ của triều đình với các cường quốc, quan hệ với Pháp vẫn lạnh nhạt vì sự ủng hộ ban đầu của Pháp với Shogun. Tuy vậy không lâu sau đó phái đoàn quân sự thứ hai được mời đến Nhật năm 1874, và phái đoàn thứ ba năm 1884. Sự hợp tác ở cấp cao trở lại năm 1886, khi Pháp giúp đóng hạm đội lớn đầu tiên của Hải quân Hoàng gia Nhật Bản, dưới sự hướng dẫn của kỹ sư hải quân Louis-Émile Bertin. Công cuộc hiện đại hóa đất nước thực tế đã bắt đầu mạnh mẽ từ những năm cuối thời Mạc phủ, và chính phủ Meiji cuối cùng cũng áp dụng phương hướng tương tự, mặc dù nó đã đưa cả đất nước tiến tới hiện đại hóa theo một con đường hiệu quả hơn.


Saigo Takamori, trong bộ quân phục, với các tướng tá trong cuộc nổi loạn Satsuma

Sau lễ đăng quang của mình, Meiji ra chiếu chỉ Ngũ cá điều ngự thệ văn, ủng hộ hội họp thảo luận, hứa tăng cơ hội cho dân thường, hủy bỏ các hủ tục của thời kỳ trước, và tìm kiếm tri thức trên toàn cầu để “củng cố nền móng Đế quyền” Những cải cách nổi bật của thời kỳ Meiji bao gồm việc năm 1871 hủy bỏ chế độ phiên, theo đó các lãnh địa phong kiến và những người thống trị cha truyền con nối sẽ bị thay thế bằng các tỉnh với các thống đốc do Thiên hoàng bổ nhiệm. Những cải cách khác bao gồm việc tiến hành các trường học bắt buộc và giải tán các trường lớp Nho giáo. Cải cách lên đến đỉnh cao bằng việc cho ra đời Hiến pháp Meiji năm 1889. Tuy vậy, bất chấp sự ủng hộ triều đình của tầng lớp samurai, nhiều cải cách đầu thời Minh Trị bất lợi cho lợi ích của họ: thành lập quân đội theo chế độ nhập ngũ từ dân thường. cũng như mất đi uy tín và lương bổng cha truyền con nối đã tạo nên sự đối kháng với rất nhiều cựu samurai. Sự căng thẳng dâng cao ở miền Nam, dẫn đến cuộc Nổi loạn Saga năm 1874, và nổi loạn ở Chōshū năm 1876. Các cựu samurai ở Satsuma, lãnh đạo bởi Saigō Takamori, người đã rời khỏi chính phủ vì bất đồng với chính sách đối ngoại, bắt đầu cuộc Nổi loạn Satsuma năm 1877. Chiến đấu để bảo tồn tầng lớp samurai và một chính phủ đạo đức hơn, khẩu hiệu của họ "Tân chính, Hậu đức" (新政厚徳, shinsei kōtoku?). Nó chấm dứt bằng trận đánh anh hùng nhưng hoàn toàn thất bại Shiroyama.

Miêu tả sau này


Khung cảnh lãng mạn kiểu Nhật về trân Hakodate (函館戦争の図), vẽ vào khoảng năm 1880. Kỵ binh xung phong, với một chiếc thuyền buồm chìm ở hậu cạnh, được dẫn đầu bởi bộ quan phục samurai lỗi.[64] Lính Pháp ở sau đội hình kỵ binh mặc quần trắng. Một tàu chiến hơi nước hiện đại có thể thấy ở hậu cảnh, quân đội Hoàng gia mặc quân phục hiện đại ở bên phải.

Trong các bản tóm tắt hiện đại, Minh Trị Duy Tân được mô tả là một cuộc “cách mạng không đổ máu” dẫn đến sự hiện đại hóa nhanh chóng của Nhật Bản. Thực tế của chiến tranh Boshin cho thấy giao tranh diễn ra khá mạnh mẽ: khoảng 120.000 quân được huy động với khoảng 3.500 người bị thương.[66] Sau đó miêu tả của người Nhật về cuộc chiến này thường bị lãng mạn hóa, cho thấy phe Mạc phủ chiến đầu bằng các phương thức truyền thống, chống lại phe bảo hoàng với vũ khí hiện đại. Và mặc dù vũ khí và kỹ thuật truyền thống được sử dụng, cả hai phe đều sử dụng một số vũ khí và kỹ thuật chiến đấu của thời kỳ này: bao gồm chiến hạm bọc thép, súng máy, và chiến thuật học được từ các cố vấn quân sự phương Tây.

Những miêu tả từ phía Nhật bao gồm rất nhiều sự kịch nghệ hóa, trong rất nhiều thể loại. Đáng chú ý có Jirō Asada viết tiểu thuyết bốn tập, Mibu Gishi-den. Một bộ phim được dựng theo tiểu thuyết của Asada, do Yojiro Takita đạo diễn, với cái tên Khi thanh kiếm rút ra thanh kiếm cuối cùng. Bộ phim truyền hình 10 tiếng đồng hồ jidaigeki cũng dựa trên cuốn tiểu thuyết trên có sự diễn xuất của Ken Watanabe. Bộ phim năm 2001 Goryokaku là một jidaigeki khác nhấn mạnh đến sự kháng cự ở Hokkaidō. Anime nổi tiếng của Nhật Rurouni Kenshin lấy bối cảnh 10 năm sau chiến tranh Boshin.

Bộ phim Hollywood năm 2003 The Last Samurai kết hợp môt hoàn cảnh lịch sử thuộc về cả chiến tranh Boshin và Nổi loạn Satsuma năm 1877, và vài cuộc nổi loạn của tầng lớp cựu samurai đầu thời Meiji. Những nhân tố của bộ phim gắn liền với quân đội Nhật Bản thời đầu hiện đại hóa cũng như sự dính líu trực tiếp của quân đội nước ngoài (chủ yếu là người Pháp) tới chiến tranh Boshin và một vài năm sau đó. Tuy vậy, sự chống cự tới cùng của quân đội samurai truyền thống do Saigō Takamori lãnh đạo chống lại quân đội Hoàng gia hiện đại làm ta liên tưởng nhiều đến cuộc nổi loạn Satsuma hơn.
 
< Prev   Next >
Trang chủ Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam