Tác giả: Lorenz Lüthi, Đại học McGill, Canada
Nguồn: http://www.tapchithoidai.org/
Sự leo thang của Mỹ tại chiến tranh Việt Nam trong năm 1964 và
1965 là mối đe dọa lớn cho an ninh của Trung Quốc. Lãnh đạo Trung Quốc
phản ứng lại bằng một chính sách ba hướng. Thứ nhất, tăng viện trợ quân
sự và kinh tế cho miền Bắc Việt Nam ngay trong mùa hè năm 1964, đối phó
với sự leo thang của Mỹ vào tháng 8.[1] Thứ hai, khi lính thủy đánh bộ
của Mỹ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam ngày 8-3-1965, chính quyền Trung
Quốc tỏ thái độ cho Washington biết rằng họ muốn giới hạn chiến tranh
Việt Nam chỉ trong Đông Dương, nhưng vẫn chuẩn bị và sẵn sàng tham
chiến nếu bị Mỹ tấn công.[2] Cuối cùng, nhà chức trách Trung Quốc đã đề
ra và thực hiện ngay một chiến lược đầy tham vọng vào mùa hè năm 1964
nhằm bố trí lại, thậm chí tân tạo những thành phố và xí nghiệp kinh tế
quan trọng nằm sâu trong đại lục, kế hoạch Phòng Tuyến Ba. Sau cuộc đổ
bộ của lính thủy đánh bộ Mỹ vào Việt Nam tháng 3-1965, Trung Quốc cũng
nhanh chóng bắt tay vào công cuộc tổng phòng. Kế hoạch Phòng Tuyến Ba
trong giai đoạn 1964-1966 cùng kế hoạch phòng ngự liên hệ sẽ là trọng
tâm của bài viết này.
Ngoại trừ bài báo của Barry J. Naughton hai thập kỷ trước, công cuộc
Phòng Tuyến Ba đã không nhận được nhiều quan tâm của giới nghiên cứu
nước ngoài. Naughton đi sâu vào khái niệm và những đặc trưng cơ bản của
kế hoạch Phòng Tuyến Ba vào những năm 1960–1970, làm nổi bật hai giai
đoạn khác nhau của kế hoạch. Chiến tranh Việt Nam leo thang là chất xúc
tác cho giai đoạn đầu tiên, từ năm 1964 đến Cách mạng Văn hóa năm 1966.
Mối đe dọa của Liên Xô đối với Trung Quốc sau những tranh chấp biên
giới vào tháng 3-1969 thúc đẩy giai đoạn thứ hai, từ năm 1969 đến năm
1971.[3] Mặc dù vạch ra được nguyên nhân của kế hoạch Phòng Tuyến Ba là
mối đe dọa đối với an ninh Trung Quốc, nhưng Naughton đã không có được
những tài liệu được đăng báo và xuất bản rất nhiều vào những năm gần
đây, và ông cũng không đề cập đến kế hoạch tổng phòng ngự năm 1965
trong mối quan hệ chặt chẽ với kế hoạch Phòng Tuyến Ba. Chứng cứ mới
đây về Trung Quốc mở ra một bức tranh sinh động và chi tiết hơn về giai
đoạn đầu của Phòng Tuyến Ba, cùng kế hoạch phòng ngự năm 1965, và mối
liên hệ mật thiết giữa chúng với an ninh Trung Quốc.
Nhìn chung, đề xướng Phòng Tuyến Ba tương đồng với nhiều đề xướng
trước và sau đó ở các tỉnh phía Tây, nhưng khác nhau về mục đích. Kế
hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957) và nguồn đầu tư của Liên Xô những
năm 1950 tập trung phát triển công nghiệp nặng và công nghiệp quốc
phòng ở Thiểm Tây, Ninh Hạ, Cam Túc, và Thanh Hải.[4] Khác với đề xướng
mở mang phía Tây vào cuối thập niên 1990, được cho là phát triển đất
nước đồng đều hơn, Phòng Tuyến Ba trong thập niên 1960 và đầu 1970 chỉ
tập trung vào các tỉnh phía Tây với mục đích chiến lược và quân sự.[5]
Chính vị trí địa lý cách trở và lợi thế phòng thủ của những tỉnh này,
chứ không phải nền kinh tế lạc hậu, là yếu tố quyết định chính sách của
Bắc Kinh.
Mục đích chủ yếu đằng sau công cuộc Phòng Tuyến Ba là việc tái bố
trí từ những tỉnh phòng tuyến một (duyên hải và giáp biên) sang những
thành phố mới xây dựng và những xí nghiệp công nghiệp nằm sâu trong đại
lục, tức khu vực Phòng Tuyến Ba. Các tỉnh còn lại của Trung Quốc hình
thành phòng tuyến hai.[6] Khi lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ vào Việt Nam
vào mùa xuân năm 1965, kế hoạch Phòng Tuyến Ba được mở rộng với “Phòng
Tuyến Ba cấp tỉnh” và các kế hoạch phòng ngự theo đòi hỏi đặc biệt. Tuy
nhiên những kế hoạch đó bị hoãn lại khi Cách mạng Văn hóa nổ ra
(1966-1976), và bài viết này cũng dừng lại khi đề cập đến thời điểm đó.
Sự trở lại kế hoạch Phòng Tuyến Ba sau xung đột biên giới Trung-Xô năm
1969 lại là vấn đề khác; do đó, không được nhắc đến trong bài viết này.

Những đặc điểm chung của kế hoạch Phòng Tuyến Ba
Kế hoạch Phòng Tuyến Ba được đề ra năm 1964 và 1965 nhằm đáp lại
mối đe dọa trước mắt ngày một lớn từ phía Mỹ đã tái bố trí những khu
công nghiệp và thành phố chiến lược dễ bị tấn công trong khu vực cách
bờ biển Trung Quốc 700 km và cách biên giới phía Tây 1000 km (xem bản
đồ). Kế hoạch này cũng bao gồm việc xây mới những thành phố và nhà máy
ở đây. Bao phủ khoảng 30% diện tích quốc gia, kế hoạch Phòng Tuyến Ba
trải dài từ Tứ Xuyên tới Vân Nam và Quý Châu ở phía Tây Nam, tới Cam
Túc, Thanh Hải, Ninh Hạ ở Tây Bắc, và tới Hà Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam, Sơn
Tây và Thiểm Tây ở phía đông của trung tâm Trung Quốc. Riêng Vân Nam,
nhiều khu vực thuộc cả phòng tuyến một và ba. Những người đề ra kế
hoạch khuyến khích mười một tỉnh này xây dựng công trình ở vùng cao
nguyên và thung lũng có núi bao quanh, như cao nguyên Vân Nam-Quý Châu,
núi Đại Biệt (Hồ Bắc), núi Thái Hàng (Hà Nam-Sơn Tây-Hà Bắc), núi Ô
Tiếu (Cam Túc), núi Lữ Lương và khu vực phía nam Đại Đồng (đều thuộc
Sơn Tây).[7] Tuy nhiên, khi thực hiện, Phòng Tuyến Ba chỉ được phát
triển ở Tây Nam và Tây Bắc.[8]

Chi phí cho chiến lược tái bố trí này rất lớn, mặc dù thống kê từ
nhiều nguồn có khác nhau. Một vài nguồn cho rằng trong mười một năm
trước khi lãnh tụ Mao Trạch Đông qua đời năm 1976, Trung Quốc đã bỏ ra
hơn 200 tỉ NDT vào công trình Phòng Tuyến Ba.[9] Một nguồn khác chỉ ra
chi tiết hơn nhưng với số liệu khác (xem bảng). Số liệu này cho thấy
mặc dù mức đầu tư vào kế hoạch Phòng Tuyến Ba tăng lên trong giai đoạn
1965-1980, nhưng lại giảm tỉ trọng so với tổng mức đầu tư trên cả nước.
Việc giảm dần mức ưu tiên đối với kế hoạch Phòng Tuyến Ba báo trước
việc chấm dứt chính thức, khi Đặng Tiểu Bình trở thành lãnh tụ Trung
Quốc cuối những năm 1970. Mặc dù từng là một trong những lãnh đạo đầu
tiên của kế hoạch Phòng Tuyến Ba vào giữa thập niên 1960, Đặng bãi bỏ
kế hoạch này vào tháng 1-1979 và gộp vào kế hoạch cải cách kinh tế
chung trên cả nước vào năm 1983.[10]
Chỉ trong cuối năm 1964 đến năm 1965, 300 xí nghiệp quy mô vừa và
lớn đã được khởi công hoặc xây dựng xong trong khu vực Phòng Tuyến Ba,
cùng 49 nhà máy khác được dời đến từ những tỉnh phòng tuyến một.[11]
Nhìn chung, từ năm 1965 đến 1979, 125 xí nghiệp quy mô lớn (sản xuất ô
tô, cơ khí hạng nặng và hạng nhẹ, trang bị máy móc, sản xuất thép…)
được xây dựng xong. Một tài liệu cho rằng trong năm 1979 sản lượng của
những xí nghiệp mới xây dựng bằng tổng sản lượng của các xí nghiệp quy
mô lớn trong năm 1965. Vốn đầu tư cũng dành cho việc phát triển ngành
năng lượng (than, dầu mỏ, khí thiên nhiên, thủy điện và nhiệt điện)
nhằm cung cấp năng lượng cho những xí nghiệp mới ra đời và những thành
phố lân cận.[12] Hơn nữa, 8.000 km đường sắt và 250.000 km đường bộ
được xây dựng phục vụ cho việc thiết lập và duy trì Phòng Tuyến Ba.[13]
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu dài hạn trong phát triển nội tại,
cuộc Cách mạng Văn hóa vẫn tác động xấu đến kế hoạch Phòng Tuyến Ba. Hệ
thống chính trị các cấp chia phe phái, sự thanh trừng những lãnh đạo có
kinh nghiệm, thâm hụt ngân sách, phong tỏa đường sắt, hỗn loạn nội bộ
tạo nên tình thế khó khăn cho việc tái bố trí các thành phố và xí
nghiệp. Theo các báo cáo, chính phủ trung ương đã thâm hụt một lượng
lớn tiền đầu tư do phân bổ sai và lãng phí trong những năm đầu của Cách
mạng Văn hóa.[14] Tranh chấp Trung-Xô vào tháng 3-1969 và Đại hội IX
của Đảng vào tháng 4-1969 khiến tình hình bớt hỗn loạn, dẫn đến giai
đoạn thực hiện thứ hai của Phòng Tuyến Ba, kéo dài đến cuối những năm
1970.[15] Theo một tài liệu, đỉnh cao của việc xây dựng Phòng Tuyến Ba
là giai đoạn 1969-1971, khi đe dọa từ Liên Xô nguy cấp hơn lúc nào
hết.[16]
Căn nguyên của chiến lược Phòng Tuyến Ba
Giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc ủng hộ kế hoạch tái bố trí
chiến lược bởi nhiều lý do. Lâm Bưu, người kế thừa Mao Trạch Đông, đã
đề xuất ý tưởng ngay từ tháng 1-1962, lấy lý do lo ngại cuộc tấn công
của Quốc Dân Đảng từ Đài Loan và các đảo trong eo biển Đài Loan vào đại
lục của Quốc Dân Đảng với sự hậu thuẫn của hải quân Mỹ. Lâm lo ngại
rằng sự yếu đuối của đất nước sau thảm họa Đại Nhảy Vọt có thể dẫn đến
bị tấn công.[17] Mối quan hệ Trung-Xô xấu dần đi sau Hiệp ước Chống thử
nghiệm hạt nhân giữa Mỹ-Liên Xô-Anh vào tháng 8-1963, đã tác động đến
an ninh Trung Quốc đến mức họ quyết định “củng cố sức phòng ngự phía
Bắc”.[18] Tuy nhiên các nhà máy công nghiệp do Nhật Bản và Liên Xô xây
dựng ở Mãn Châu vẫn bị đe dọa bởi Liên Xô. Dấu hiệu cho thấy viện trợ
quân sự tăng cao của Mỹ cho Nam Việt Nam sau cuộc lật đổ Tổng thống Ngô
Đình Diệm ngày 1-11-1963 buộc Trung Quốc quan tâm đến sự bất ổn đang
gia tăng ở biên giới phía nam. Ngay từ tháng 6-1964 - trước sự kiện
Vịnh Bắc Bộ vào tháng 8-1964 dẫn đến sự leo thang của Washington bằng
không chiến - Bắc Kinh đã thông báo tăng cường viện trợ quân sự và kinh
tế cho Hà Nội.[19] Đầu tháng 9-1964, Thủ tướng Chu Ân Lai cảnh báo,
“nếu Mỹ muốn mở rộng chiến tranh chống phá Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(tức Bắc Việt) hoặc đưa thêm quân, tức là gây chiến ở ngay cạnh Trung
Quốc, chúng ta sẽ không đơn giản ngồi yên.”[20] Mối đe dọa cho an ninh
Trung Quốc đến từ Liên Xô và Mỹ mà giới lãnh đạo Trung Quốc cảm nhận
hiện rõ ngay chính lúc họ bắt đầu xác định ưu tiên trong các kế hoạch
dân sự và quân sự trong Kế hoạch 5 năm lần thứ ba, bắt đầu từ năm
1966.[21]
Mặc dù viện trợ cho Hà Nội, giới lãnh đạo Trung Quốc vẫn lo ngại
trước những yếu huyệt của đất nước. Mùa xuân 1964, Mao bày tỏ lo ngại
về khả năng xảy ra cuộc chiến quy mô lớn ở Đông Á và khả năng duy trì
sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Một báo cáo từ Cơ quan hoạch định
chiến tranh của Tổng tham mưu Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc
ngày 25-4 chỉ ra những vấn đề trong cơ cấu phòng ngự - việc tập trung
dân cư và trung tâm công nghiệp quá mức vào những tỉnh biên giới và
duyên hải dễ bị tấn công - và đề nghị di dời những thành phố và công
trình công nghiệp và quân sự quan trọng có tính chiến lược vào sâu
trong đại lục.[22] Những năm 1950, 85% sản lượng thép được sản xuất ở
Mãn Châu và những tỉnh duyên hải.[23] Theo báo cáo của Chu Ân Lai tháng
3-1965, 87% sản lượng công nghiệp và 90% hệ thống tài chính nằm ở khu
vực phòng tuyến một và hai.[24] Đưa ra sự thiếu cân đối trong các công
trình kinh tế, tài chính, và quốc phòng, tại Hội nghị trung ương Đảng
về Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1966-1970) từ 15-5 đến 17-6-1964, Mao
kiên quyết tán thành đề nghị ngày 25-4, rằng “trong thời đại hạt nhân,
không thế có chuyện Trung Quốc không có hậu tuyến.”[25]
Lối tư duy chiến lược đó cũng ảnh hưởng tới lời khuyên của Trung
Quốc cho Bắc Việt ngay cả trước khi chiến tranh leo thang vào đầu tháng
8-1964. Ngày 1-7, Chu Ân Lai đã nói với Nguyễn Kim, phó chủ tịch Ủy ban
Kế hoạch Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, về việc cần thiết phải xây
dựng một “phòng tuyến thứ hai và thứ ba” ở Việt Nam, “không chỉ ở nơi
đất bằng, mà còn ở vùng đồi núi.” Tóm lược các chủ trương đã được Mao
ủng hộ, Chu cho rằng “nền kinh tế quá tập trung sẽ không thích hợp
trong thời chiến, [bởi vậy] nó cần được trải đều.” Tuy nhiên, Chu kết
luận rằng “điều lưu ý trước tiên” là không được gián đoạn nền sản xuất
nông nghiệp, vì đó là cơ sở cho cả nền kinh tế.[26] Kế hoạch sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, tháng 8-1964 đến tháng 2-1965
Sự leo thang của Mỹ trong chiến tranh trên không đối với Bắc Việt
Nam lúc bấy giờ tiếp sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 2-8, và nghị quyết
của Quốc hội Mỹ năm ngày sau đó cho phép Tổng thổng Lyndon B. Johnson
mở rộng cuộc chiến, càng làm cho chiến lược Phòng Tuyến Ba cần thiết
hơn bao giờ hết. Ngay ngày 10-8-1964, Mao chỉ thị cho tham mưu trưởng
quân đội La Thụy Khanh và phó tham mưu Dương Thành Vũ “thi hành từng
bước một” bản báo cáo 25-4.[27] Mặc dù cố làm dịu đi lo ngại của Tổng
bí thư Việt Nam Lê Duẩn ngày 13-8 khi khẳng định rằng không ai, kể cả
Washington, Bắc Kinh, hay Hà Nội, muốn kéo dài tranh chấp, nhưng vài
ngày sau đó Mao lại cảnh báo trong hội nghị Ban bí thư trung ương Đảng
rằng “chúng ta phải chuẩn bị cho khả năng đế quốc Mỹ sẽ tiến hành chiến
tranh tổng lực” ở Việt Nam.[28]
Tuần lễ sau đó, các nhà kinh tế Lý Phú Xuân và Bạc Nhất Ba, cùng
với La Thụy Khanh, cung cấp cho Mao bản báo cáo gồm một số điểm cơ bản
liên quan đến các biện pháp đối với đề án Phòng Tuyến Ba. Trước hết, họ
đề nghị Hội đồng nhà nước thành lập ủy ban đặc biệt với Lý là chủ tịch,
Bạc và La là phó nhằm giám sát việc tái bố trị và xây dựng kinh tế. Họ
cũng đề nghị chính quyền trung ương huy động đủ loại nhân lực và hệ
thống tổ chức nhằm nghiên cứu chi tiết về việc hoàn thành các công
trình đang xây dựng và hoãn các dự án kinh tế trước mắt ở 15 thành phố
có dân số trên một triệu ở phòng tuyến một, chuyển dịch toàn bộ hoặc
một phần các xí nghiệp công nghiệp quân sự và cơ khí từ phòng tuyến một
đến Phòng Tuyến Ba, tạm ngưng xây dựng các công trình hồ chứa nước nhân
tạo vừa và lớn, đưa các viện và chuyên viên nghiên cứu đến Phòng Tuyến
Ba, xây mới các xí nghiệp và thành phố ở Phòng Tuyến Ba cách xa nhau và
ở những nơi có đồi núi che khuất, thiết lập các ủy ban dân quân phòng
không. Lý, Bạc và La dự kiến bước đầu của kế hoạch Phòng Tuyến Ba sẽ
kéo dài đến cuối năm.
Sau đó, bản báo cáo của Lý-Bạc-La khuyến nghị Bộ Công An thi hành
các biện pháp dân phòng, như tiếp tục lại việc xây hệ thống tàu điện
ngầm Bắc Kinh, vừa tăng sức chứa vừa chống ném bom. Cuối cùng bản báo
cáo đề nghị phải có chỉ thị gửi đến các tỉnh nhằm thi hành những biện
pháp nói trên.[29]
Ngày 5 tháng 9 Ban bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc ban hành chỉ
thị đầu tiên đến các tỉnh về việc thành lập Phòng Tuyến Ba, bao gồm
điều chỉnh lại các dự án đã có ở phòng tuyến nhằm đáp ứng những đòi hỏi
chiến lược mới của đất nước, tập trung vào các công trình công nghiệp
và thành thị ở Phòng Tuyến Ba, phát triển các xí nghiệp ở Phòng Tuyến
Ba ngang bằng với các xí nghiệp đang có ở phòng tuyến một nhằm duy trì
sản xuất.[30] Lý Phú Xuân ước tính việc thực hiện sẽ mất bảy đến mười
năm.[31]
Ngày 30-10, Ban bí thư Trung ương Đảng phê duyệt kế hoạch kinh tế
sơ bộ năm 1965 nhằm thực hiện các yêu cầu mới của kế hoạch Phòng Tuyến
Ba.[32] Trong chỉ thị gửi tới các tỉnh và vùng tự trị, Thủ tướng Chu và
Tổng tham mưu quân đội La đòi hỏi họ gửi các quy hoạch xây dựng cơ bản
cho ba năm tới đến Bắc Kinh trước tháng 12 và hạn chế bớt vốn đầu tư
trong khu vực phòng tuyến một và hai. Tuy nhiên, các dự án xây dựng cơ
bản đang thi công được phép tiếp tục đến hoàn thành.[33]
Ngay cả khi các biện pháp này đang được thực hiện, Mao vẫn bày tỏ
lo lắng về khả năng xung đột với Mỹ và Liên Xô. Nguy cơ Mỹ truy kích
máy bay Bắc Việt vào lãnh thổ Trung Quốc để tạo cái cớ mà Washington
gọi là “nương náu hợp pháp”,[34] dường như gia tăng khả năng leo thang
tới chiến tranh hạt nhân, như Mao đã lo ngại vào tháng 10-1965.[35] Tuy
nhiên, không chỉ nguy cơ gây hấn của Mỹ làm Mao lo ngại, mà cả nguy cơ
bị Liên Xô tấn công: “Nếu Liên Xô tấn công chúng ta, Tây An sẽ là tiền
tuyến, và bên trên là Tân Cương, Hắc Long Giang, Nội Mông Cổ… Chúng ta
cần phải chuẩn bị.”[36] Dù sau đó mối quan hệ Trung-Xô trở nên xấu đi,
hầu hết tính toán kế hoạch đều hướng về phía Mỹ, theo như những sự kiện
xảy ra những tháng sau đó chứng tỏ.[37]
Cuối tháng 11-1964, Mao phê chuẩn bản báo cáo của Lý Phú Xuân và
Trình Tử Hoa, một thành viên trong ủy ban đặc biệt được thành lập bởi
Hội đồng Nhà nước về việc tái bố trí các công trình, về việc phối hợp
các dự án công nghiệp và năng lượng ở Tây Nam.[38] Sau đó nhà chức
trách Trung Quốc bắt đầu lên kế hoạch chi tiết cho việc xây dựng Phòng
Tuyến Ba ở vùng này. Tổng bí thư Đặng Tiểu Bình đã dành nhiều thời gian
từ ngày 2-12-1964 đến 13-1-1965 để đến quê mình ở Tây Nam trong chuyến
thanh tra để chọn địa điểm. Chuyến đi thường là hành trình cuốc bộ đến
những vùng chưa kịp xây dựng đường sá. Nhiệm vụ của Đặng trở nên khó
khăn hơn sau khi ông bị thương ở chân do vấp ngã nên thỉnh thoảng phải
chống gậy.[39]
Ngày 5-2-1965, Trung ương Đảng và Hội đồng Nhà nước chính thức phê
chuẩn việc thành lập Ủy ban kế hoạch Phòng Tuyến Ba ở Tây Nam Trung
Quốc.[40] Trong thời gian đó, Chu trình cho Mao kế hoạch quốc gia về
việc tái bố trí công nghiệp quân sự, nhưng có thi hành hay không thì
chưa rõ.[41] Trong suốt tháng hai, Mao thay phiên Lưu Thiếu Kỳ điều
khiển một số hội nghị trung ương về việc thi hành chiến lược Phòng
Tuyến Ba.[42] Ngày 20-2, La Thụy Khanh báo cáo về việc xây dựng gấp các
nhà máy quân đội của kế hoạch Phòng Tuyến Ba trong một số lĩnh vực
chuyên biệt, bao gồm vũ khí không quân, vũ khí mặt đất, đóng tàu và
điện tử.[43] Cuối cùng, ngày 26-2 Trung ương Đảng đưa ra chỉ thị đầu
tiên, sau nhiều tháng lập kế hoạch, cho Ủy ban kế hoạch Phòng Tuyến Ba
ở vùng Tây Nam bắt đầu làm việc.[44] Trong phần lớn tháng 3 và một phần
tháng 4-1965, Đặng Tiểu Bình và các lãnh đạo trung ương khác phải ở
vùng Tây Nam và Tây Bắc để thăm dò thêm.[45] Vùng Tây Bắc được quan tâm
chỉ sau khi Chu Ân Lai đề nghị mở rộng kế hoạch ra những vùng khác.[46]
Ảnh hưởng việc leo thang chiến tranh Việt Nam, tháng 3-1965
Kế hoạch Phòng Tuyến Ba tiến triển đều đặn vào đầu năm 1965, nhưng
tình hình an ninh của Trung Quốc vẫn tiếp tục xấu đi. Sau thời gian tạm
lắng của chiến dịch ném bom Bắc Việt Nam do bầu cử tổng thống Mỹ vào
tháng 11-1964, Mỹ quay trở lại bỏ bom Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau
những đợt đột kích của du kích Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam vào sân
bay trực thăng của Mỹ ở Plâyku đầu tháng 2-1965.[47] Chính quyền
Johnson thông báo về việc đưa lính thủy đánh bộ Mỹ vào miền Nam Việt
Nam ngày 1-3, và 3.500 quân Mỹ đổ bộ vào vịnh Đà Nẵng chỉ bảy ngày sau
đó.[48] Trong 3 tuần kế tiếp, thêm 35.000 lính và vào mùa hè là 45.000
đến 50.000 lính.[49]
Bốn ngày sau cuộc đổ bộ 8-3 của lính thủy đánh bộ Mỹ, Chu quay lại
kế hoạch Phòng Tuyến Ba. Ông nhận thấy kế hoạch tiến triển chưa đủ
nhanh để chuẩn bị cho chiến tranh ngay cả ở mức độ nhỏ nhất. Trong báo
cáo trước Ban bí thư trung ương Đảng, Chu miêu tả việc thực hiện Phòng
Tuyến Ba như cuộc “chạy đua với thời gian” nhằm đặt đất nước vào tình
trạnh sẵn sàng cho chiến tranh. Ông nhấn mạnh rằng phải tăng tốc xây
dựng Phòng Tuyến Ba (đặc biệt là trong công nghiệp quốc phòng), phát
triển nông nghiệp nhằm cân đối xuất nhập khẩu gạo trong (từ 1961, Trung
Quốc đã phải nhập khẩu gạo do hậu quả tàn khốc của cuộc Đại nhảy vọt),
và phát triển công nghiệp nặng để có thể hỗ trợ các xí nghiệp quốc
phòng ở Phòng Tuyến Ba và nền nông nghiệp của cả nước. Chu ra lệnh đưa
các công trình nhà máy thép ở phòng tuyến một và hai trở lại hoạt động
như biện pháp tạm thời nhằm chúng có thể tham gia vào sản xuất trong ba
đến bốn năm. Chu ra lệnh phải di dời nhanh chóng các nhà máy luyện kim,
cơ khí, hóa chất, dầu mỏ và quốc phòng đến các thành phố nằm gần nguồn
nhiên liệu (than và nhiệt điện) ở Phòng Tuyến Ba để không nơi nào thiếu
hụt sản xuất. Nhấn mạnh việc các nhà máy Phòng Tuyến Ba phải được xây
dựng gần đồi núi, Chu cho rằng vùng Tây Nam có nhiều ưu thế bởi địa
hình đồi núi và thủy điện dồi dào. Nhằm ổn định các thị trấn mới xây
dựng nằm trong dự án, Chu ra lệnh dự trữ lương thực và gia tăng bón
phân hóa học trong nông nghiệp. Ông cũng đề nghị xây dựng nhà máy hóa
chất ở Tứ Xuyên nhằm khai thác những mỏ khí thiên nhiên sẵn có.[50]
Ngày hôm sau, 13-3, Chu mở rộng ý tưởng Phòng Tuyến Ba ở tầm quốc
gia xuống tầm địa phương, và trong cuộc cuộc họp với các lãnh đạo tỉnh
ra lệnh cho họ xây dựng “tiểu Phòng Tuyến Ba” ở địa phương họ. Ông hứa
hẹn Kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1966-1970) sẽ bổ sung nguồn ngân sách
thích hợp, thậm chí ông còn đưa ra kế hoạch 15 năm cho việc thi hành
các “tiểu Phòng Tuyến Ba” (1966-1980). Tuy nhiên Chu cảnh cáo không
được có bất kì thay đổi nào về nông nghiệp có liên quan đến kế hoạch
“tiểu Phòng Tuyến Ba”. Thay vào đó, trọng tâm đề ra là duy trì sản
lượng cao và ổn định trên từng sào ruộng.[51] Ngày 14-3 Cơ quan công
tác Bộ quốc phòng của Hội đồng Nhà nước gửi chỉ thị tương ứng cho các
tỉnh về việc tổ chức các đề án lien quan đến các “tiểu Phòng Tuyến
Ba”.[52]
Tuy nhiên một tuần sau, Đặng Tiểu Bình chủ trì cuộc họp của Ban bí
thư Trung ương Đảng với mục đích chống lạm phát có thể sẽ xảy ra, hậu
quả của chi phí gia tăng trong công cuộc “tiểu Phòng Tuyến Ba” ở các
tỉnh phòng tuyến một và hai.[53] Còn các tỉnh thành xem việc thực hiện
“tiểu Phòng Tuyến Ba” là cái cớ để xin thêm ngân sách. Ngày 11-4, các
nhà hoạch định kinh tế Lý Tiên Niệm, Dư Thu Lý, và Cốc Mục quyết tổng
vốn đầu tư toàn Trung Quốc trong năm 1965 không quá 17 tỉ NDT, khuyến
nghị hủy bỏ những dự án không cần thiết trong cả nước, kể cả hoãn một
số kế hoạch Phòng Tuyến Ba cốt yếu. Tuy nhiên các nhà máy quốc phòng có
vẻ được ưu tiên.[54] Ngày 21-3 Trung ương Đảng quyết định phê chuẩn đề
nghị của La Thụy Khanh trong báo cáo ngày 20-2 về việc xây dựng một số
nhà máy quốc phòng chuyên trách ở Phòng Tuyến Ba.[55] Kế hoạch phòng ngự trung tâm, tháng 4 đến tháng 5-1965
Một khi Chu xác định hướng phát triển chung cho Phòng Tuyến Ba và
“tiểu Phòng Tuyến Ba” vừa cho trước mắt vừa cho tương lai xa, ông và
những nhà lãnh đạo khác chuyển sang việc lên kế hoạch phòng ngự chi
tiết theo đài xung đột gia tăng ở Đông Dương. Ngày 8-4 Cơ quan Thương
mại của Hội đồng Nhà nước đệ trình báo cáo đề ra những biện pháp khẩn
cấp về hậu cần nhằm tăng cường khả năng chiến đấu của Trung Quốc. Báo
cáo này cảnh báo rằng 467 trong số 847 kho chứa dầu của Trung Quốc,
chiếm một nửa trữ lượng dầu của đất nước (1,07 triệu trong số 2,13
triệu mét khối) nằm ở các tỉnh phòng tuyến một, cùng 284 kho chứa dầu
(0,72 triệu mét khối, hay 34%) ở phòng tuyến hai, và chỉ có 96 (0,34
triệu mét khối, hay 16%) đặt ở Phòng Tuyến Ba. Báo cáo khẳng định rằng
mức tập trung các kho chứa dầu dày đặc ở phòng tuyến một, những kho
trên mặt đất dễ bị tấn công, và việc thiếu đầu tư vào hạ tầng kho chứa
dầu đã khiến dự trữ dầu của Trung Quốc lâm vào “tình trạng đáng lo
ngại” nếu phải phục vụ cho phòng không và hậu cần trong thời chiến.
Những tác giả của báo cáo đề xuất việc nhanh chóng thành lập đơn vị
phòng không ở những kho chứa của phòng tuyến một, nhanh chóng di dời
dầu vào dự trữ ở những cơ sở ngầm ở vùng đồi núi ngay khi xây dựng
xong, đồng thời tăng khả năng trữ dầu ở Phòng Tuyến Ba. Việc tái bố trí
thành phố nếu các kho chứa dầu không thể di dời hoặc nếu phải xây dựng
trong vùng thành vì không có giải pháp thay thế thì chỉ được phép ở Vân
Nam, Quảng Tây, Quý Châu, những nơi dầu dự trữ có thể dễ dàng cung cấp
cho Bắc Việt hay làm nhiên liệu cho phương tiện vận chuyển chi viện
quân sự trợ giúp Bắc Việt.[56]
Trong cuộc họp mật ngày 10-4 với các lãnh đạo đảng và chính phủ
không được nêu rõ tên, Chu Ân Lai tóm lược tình hình an ninh của Trung
Quốc. Mặc dù ông đã giải tỏa mối lo về khả năng một cuộc chiến toàn cầu
mới, ông cho rằng khả năng đối đầu quân sự Trung-Mỹ là cao và sức cầm
cự của Trung Quốc với cuộc chiến cũng đáng lo ngại.[57] Trong bối cảnh
phẫn nộ vừa xảy ra đối với điều họ tưởng là có toan tính của Liên Xô
nhằm môi giới đưa đến thỏa hiệp về Đông Dương với Mỹ thông qua tổng
thống Pháp Charles de Gaulle,[58] Chu tiên đoán rằng Mỹ và Liên Xô cũng
đang thông đồng trong cuộc chiến Việt Nam để đưa Trung Quốc trở lại
thời kì 20 đến 30 năm về trước. Nhưng ông nhấn mạnh rằng thông đồng
giữa Liên Xô và Mỹ cũng có giới hạn. Nếu Mỹ muốn bỏ bom chương trình
hạt nhân của Trung Quốc, ông khẳng định, dư luận quốc tế sẽ quay lưng
với Mỹ và ủng hộ Trung Quốc. Chu kết thúc bằng việc nhắc đến tiến độ
hoàn thành nhanh chóng của công cuộc Phòng Tuyến Ba để Trung Quốc có
thể dựa vào ba phòng tuyến khi xảy ra chiến tranh.[59]
Trong cuộc họp mở rộng của Bộ chính trị ngày 12-4, lãnh đạo trung
ương đã thông báo cho các lãnh đạo tỉnh và vùng tự trị về tình hình an
ninh và giải thích đường lối “phòng ngự từ xa” vừa được soạn thảo.[60]
Đặng Tiểu Bình mở đầu cuộc họp bằng cách nhắc lại lịch sử; theo đó,
Trung Quốc không được bị động như Liên Xô khi bị Đức tấn công vào tháng
6-1941: “Chúng ta không muốn mắc phải sai lầm đó.”[61] Ông trích dẫn
lời của Mao năm ngoái tại lăng mộ nhà Minh: “Stalin thiếu ba thứ khi
xảy ra chiến tranh thế giới thứ hai: hầm trú bom, việc di dời các nhà
máy [về tuyến sau], và lực lượng dân quân.”[62]
Đặng không ngừng chỉ trích những tỉnh đã lãng phí thời gian sau
thông báo của Chu một tháng trước, nhấn mạnh việc cần thiết phải xây
dựng “tiểu Phòng Tuyến Ba”. Đồng ý với phê bình của Mao về việc thi
hành Phòng Tuyến Ba quá trì trệ và hầu hết các tỉnh chỉ biết đòi thêm
ngân sách trong khi không sẵn sàng tập trung binh lính, Đặng kêu gọi
việc xây dựng các đơn vị dân quân cũng như tăng tốc thi hành kế hoạch
Phòng Tuyến Ba trên cả nước và “tiểu Phòng Tuyến Ba” ở các tỉnh. Ông
đặc biệt nhấn mạnh rằng nền công nghiệp quốc phòng trong từng “tiểu
Phòng Tuyến Ba” phải có thể hoạt động độc lập trong trường hợp Mỹ nhảy
vào.[63]
Chuyển sang tình hình Việt Nam, Đặng nói đến khả năng chiến tranh.
Nhắc đến sự gia tăng ném bom của Mỹ vào các mục tiêu giao thông liên
lạc và sản xuất ngày càng gần Hà Nội và Hải Phòng cũng như các máy bay
tầm cao của Mỹ trên bầu trời Hải Nam, ông cho là quá sớm để nói đến khả
năng tham chiến của Trung Quốc - và nếu có, thì ở mức độ nào. Ông thiên
về khả năng chiến tranh chỉ giới hạn ở Việt Nam, nhưng cũng cảnh báo
rằng Mỹ có thể mở rộng công kích sang Triều Tiên, trường hợp xấu nhất
này khẳng định cuộc đối đầu Mỹ Trung trên đất Trung Quốc. Đặng bác bỏ
khả năng Liên Xô sẽ trung thành với Hiệp ước đồng minh kí năm 1950 và
hỗ trợ Trung Quốc.[64] Ông tuyên bố, “chúng ta phải chuẩn bị cho trường
hợp xấu nhất.”[65]
Sau khi tóm lược mức độ việc trợ hiện tại cho Bắc Việt, Đặng đề cập đến
nhiệm vụ cấp bách nhất trong nước. Ông kêu gọi động viên quần chúng
nhân và quân đội chính quy, thành lập các đơn vị phòng không ở các xí
nghiệp công nghiệp và các mắt xích liên lạc, tuyên truyền giáo dục quốc
phòng và thành lập các ủy ban phòng không các cấp. Mặc dù Đặng kêu gọi
các nhà máy không huy động quá nhiều tài nguyên cho việc chuẩn bị nhằm
dự trữ tài nguyên quý hiếm cho sản xuất, ông cũng yêu cầu việc rèn
luyện tâm lý cho công nhân để họ có thái độ sẵn sàng khi Mỹ ném bom có
hệ thống vào các cơ sở công nghiệp.[66]
Chu Ân Lai tiếp tục nhắc nhở tăng cường sức phòng vệ của đất nước
và đẩy cao tuyên truyền đến các nước khác. Theo ông, vì các lý do chính
trị nên quan hệ ngoại giao cần được cải thiện. Mặc dù chuẩn bị cho quốc
phòng, nền sản xuất cần tiếp tục duy trì để nguồn thu nhập ngoại tê chủ
yếu từ xuất khẩu các sản phẩm chất lượng cao có thể được dùng để viện
trợ nước ngoài, tập trung vào Bắc Việt Nam, Bắc Triều Tiên và Albania.
Về đối nội, Trung Quốc cần tăng tốc “từng tháng một” các biện pháp
Phòng Tuyến Ba và tổ chức những đơn vị phòng không và dân quân, nhưng
tránh không gây hoang mang cho dân chúng.[67]
Cuối cùng, Lưu Thiếu Kỳ nói về trách nhiệm viện trợ cho Bắc Việt,
mặc dù ông miêu tả tình thế hiện nay ở Đông Dương giống như nước cờ bí.
Nhắc lại phần lớn lời của Đặng và Chu, ông yêu cầu một hành động biểu
trưng, như bắn rơi máy bay hay đánh chìm tàu chiến Mỹ, nhằm thôi thúc
tinh thần nhân dân Trung Quốc.[68] Lưu nói thêm việc tàu sân bay của Mỹ
bị nhận chìm ở eo biển Đài Loan gây tổn thất nặng nề cho quân đội Mỹ.
Ông đề cập đến khả năng tấn công hạt nhân của Mỹ vào Trung Quốc, và cho
rằng liệu hầm trú bom thông thường có thể chống được bom hạt nhân.[69]
Tuy nhiên, rõ ràng vẫn chưa có một kế hoạch phòng ngự đặc biệt nào nhằm
đối phó với chiến tranh hạt nhân.
Trong bài diễn văn tổng kết, Chu Ân Lai tóm lược lại những vấn đề
chính. Ông yêu cầu tăng tốc xây dựng cơ bản trên cả nước đồng thời nhấn
mạnh rằng công nghiệp quốc phòng, kế hoạch Phòng Tuyến Ba và viện trợ
nước ngoài là những chính sách liên quan mật thiết đến tranh chấp đang
gia tăng ở Đông Dương. Chu thông báo về kế hoạch “phòng ngự từ xa”
trước mắt và kế hoạch Phòng Tuyến Ba trong lâu dài. Trong trường hợp có
mâu thuẫn giữa hai kế hoạch, “phòng ngự từ xa” sẽ được ưu tiên hơn. Chu
cảnh báo rằng dù chính phủ tiếp tục tăng, “thuốc súng” hiện tại vẫn
không đủ nếu có chiến tranh trên diện rộng. Bởi vậy, nền sản xuất quốc
phòng phải được hết sức quan tâm. Đối với kế hoạch Phòng Tuyến Ba, ông
cho rằng việc hoàn thành đường sắt Côn Minh là dự án quan trọng nhất
bởi vì nó có vai trò di dời các nhà máy sang những vùng Phòng Tuyến Ba
được chỉ định và vận chuyển hàng hóa xuống Bắc Việt. Đối với công cuộc
“tiểu Phòng Tuyến Ba”, ông ưu tiên hàng đầu cho những tỉnh phía nam và
duyên hải.[70] Bốn ngày sau, 14-4, Trung ương Đảng phê chuẩn những chỉ
thị chi tiết về “phòng ngự từ xa”.[71]
Ngày 20-4 Hội đồng Nhà nước yêu cầu thi hành theo như bản báo cáo
ngày 8-4 về việc tái bố trí và [trong một số trường hợp] xây mới các
kho chứa dầu và hệ thống pháo phòng không để bảo vệ.[72]Một ngày sau,
Hội đồng Nhà nước gửi thông tư cho các tỉnh yêu cầu tái thành lập các
đơn vị dân quân phòng không, vốn đã bị giải thể sau sự kiện Đại nhảy
vọt, và chuẩn bị các kế hoạch khẩn cấp nhằm đối phó với Mỹ.[73]
Tuy nhiên, các lãnh đão Trung Quốc tin rằng việc tái bố trí quân
sự và các kế hoạch cấp tỉnh là không đủ để ngăn chặn Mỹ trong dài hạn.
Giữa tháng 5, Đặng đặt ưu tiên cho việc di chuyển tới những vùng Phòng
Tuyến Ba hay xây mới ở đó các xí nghiệp quân sự có kế hoạch hạt nhân
hay tên lửa so với các công nghiệp quốc phòng khác: “Chúng ta phải đề
phòng trường hợp kẻ thù dùng vũ khí hạt nhân để tấn công những thành
phố duyên hải; vì vậy, nên đặt việc xây dựng chương trình hạt nhân và
tên lửa ở vùng khác. Chúng ta sẽ đổ tiền vào những nơi đó.”[74]
Chu thông báo đề cương chung cho kế hoạch phòng ngự từ xa của
chính phủ trong cuộc họp Bộ Chính trị ngày 11-5.[75] Bốn điểm trong kế
hoạch yêu cầu việc đảm bảo phòng ngự, viện trợ nước ngoài, thi hành
Phòng Tuyến Ba và sản xuất quốc phòng trong điều kiện ngân sách eo hẹp
với 17 tỉ NDT.[76] Tuy nhiên, Chu cảnh báo về nguy cơ hoàn thành một
cách “hỗn loạn” các mục tiêu đầy tham vọng như trong cuộc Đại nhảy vọt
năm 1959, 1960. Cùng với khả năng bị Mỹ tấn công, nhiều hiểm họa cũng
xuất hiện trong năm 1965 hơn là trong một nửa thập kỉ trước.[77]
Theo như phát hiện gần đây của hai nhà sử học James Hershberg và
Chính Đạo, trong khi tăng tốc kế hoạch “phòng ngự từ xa” để đề phòng
cuộc chiến với Mỹ, lãnh đạo Trung Quốc đã gửi tín hiệu cho Washington
biết rằng họ muốn chiến tranh Việt Nam giới hạn trong Đông Dương. Ngay
từ 25-3, truyền thông Trung Quốc đã công khai thông báo viện trợ cho
Việt Nam với mục đích đánh bại xâm lược Mỹ. Trong chuyến thăm Pakistan
ngày 2-4, Chu hy vọng Tổng thống Mohammed Ayub Khan, có kế hoạch thăm
Washington ngay sau đó, sẽ chuyển lời tới Washington cam kết của Trung
Quốc không gây cuộc đối đầu trực tiếp với Mỹ, nhưng đồng thời Bắc Kinh
sẵn sàng tham chiến nếu bị Mỹ tấn công. Lời cảnh cáo của Chu đã không
thể đến được thủ đô nước Mỹ vì chuyến thăm của Ayub Khan sau đó bị hủy
bỏ. Cuối tháng 4 và tháng 5-1965, Chu nhắc lại thông điệp trên cho
những nguyên thủ nước ngoài đến Trung Quốc. Lo ngại những thông điệp
trên chưa đến được Washington, Chu chuyển lời qua Tòa công sứ Anh ở Bắc
Kinh ngày 31-5. Bảy ngày sau, tòa công sứ thông báo cho Bộ ngoại giao
Trung Quốc rằng thông điệp đã được chuyển đến Bộ trưởng ngoại giao Mỹ
Dean Rusk.[78] Kế hoạch phòng ngự cấp tỉnh, tháng 4 đến tháng 5-1965
Tư liệu về kế hoạch phòng ngự cấp tỉnh trong năm 1965 vẫn còn rải
rác. Nhiều sử liệu chính thức thậm chí không đề cập đến, mặc dù chúng
đã đề cập rộng đến các vấn đề quân sự khác những năm 1960.[79] Thông
tin nhỏ giọt trong những tài liệu trên cho thấy Quảng Tây đã thành lập
các ủy ban dân quân phòng không vào ngày 5-5,[80] sau đó là Giang Tô
ngày 6-5,[81] Vân Nam ngày 12-5,[82] Phúc Kiến ngày 13-5[83] và Triết
Giang ngày 14-5.[84] Những bằng chứng có được cho thấy những tỉnh trên,
đều thuộc phòng tuyến một, chú trọng đến công tác dân phòng nhưng lại
không triển khai nhanh chóng. Một số tỉnh phòng tuyến một tổ chức các
hội nghị về kế hoạch phòng ngự hoặc hỏi ý kiến Bắc Kinh về kế hoạch cụ
thể trong năm 1965 và đầu 1966.[85] Việc các sử liệu không nhắc đến kế
hoạch phòng ngự các tỉnh khác, đặc biệt là phòng tuyến hai và ba, cho
thấy chính các tỉnh phòng tuyến một lại quan tâm đến công tác dân phòng.
Một số ít tài liệu từ phòng lưu trữ tại tỉnh Giang Tô cho biết
thêm về kế hoạch dân phòng cấp tỉnh. Mệnh lệnh trung ương ngày 21-4 về
việc tái tổ chức các đơn vị dân quân phòng không cấp tỉnh khởi động cho
kế hoạch “phòng ngự từ xa” ở Giang Tô. Ngày 6-5, Ủy ban nhân dân tỉnh
Giang Tô ban hành chỉ thị sơ bộ đến Ủy ban nhân dân các địa khu Nam
Kinh, Vô Tích, Từ Châu, Thường Châu, Tô Châu, Nam Thông, Liên Vân Cảng
và Trấn Giang về việc thành lập các ủy ban phòng không trong các cơ
quan an ninh công cộng. Nhiệm vụ của các ban mới này, theo như chỉ thị,
gồm hai phần: một là tuyên huấn về phòng không cho dân chúng và tổ chức
phòng ngự. Hai là, thực hiện các biện pháp phòng không cùng kế hoạch
kinh tế và thực hiện việc kiểm soát phù hợp với những yêu cầu của phòng
không tác chiến.[86]
Ngày 17-5, Ủy ban dân quân phòng không tỉnh Giang Tô đệ trình một
báo cáo đến Đảng ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh với đề xuất chi tiết về
nhiệm vụ của Ủy ban dân quân phòng không các địa khu. Do Giang Tô là
tỉnh duyên hải, Ủy ban phòng không cấp tỉnh phải tính đến phòng ngự dài
hạn đối phó với chiến lược ném bom gây bất ngờ của Mỹ, đồng thời đối
phó với sự lan rộng của tư tưởng chủ bại trong dân chúng khi có chiến
tranh. Ủy ban muốn các biện pháp tuyên truyền được thực hiện bởi những
đảng viên cấp hạng mười bảyi hoặc cao hơn nhằm khích lệ tinh thần quần
chúng. Ngoài ra, Ủy ban đề nghị nghiên cứu việc xử lý hàng hóa nguy
hiểm, đề ra kế hoạch phân tán và bảo vệ các cán bộ nòng cốt, và tái bố
trí các đơn vị công nhân, trường học về nông thôn trên các “tiểu Phòng
Tuyến Ba”. Cuối cùng, báo cáo đề xuất các biện pháp nếu xảy ra chiến
tranh, như việc cung cấp nước và điện liên tục, cứu hộ, chữa cháy và
duy trì an ninh công cộng. Bản báo cáo được phê chuẩn và gửi đến Ủy ban
nhân dân các địa khu ngày 26-5.[87] Còn việc các tỉnh thực hiện đến đâu
trong những tháng sau đó thì vẫn chưa được biết.
Đánh giá của trung ương về phòng ngự sơ bộ, tháng 6 đến tháng 7-1965
Mặc dù nhận tin từ Tòa công sứ Anh ngày 7-6 rằng lời cảnh báo đến
Washington đã đến tay Bộ trưởng Ngoại giao Rusk, nhưng chính quyền
Trung Quốc vẫn chờ đợi việc Mỹ tấn công vào mùa hè năm 1965, khi La
Thụy Khanh nói rõ trong bài nói chuyện “tối mật” với các lãnh đạo tỉnh
ngày 23-6. Tham mưu trưởng quân đội La cảnh báo về khả năng tấn công
hạt nhân của Mỹ vào các tỉnh duyên hải.[88] Bản thân Mao ba ngày sau đó
cũng tỏ ra quan ngại đến các biện pháp Phòng Tuyến Ba, đặc biệt là do
khó khăn trong việc di dời các xí nghiệp quy mô lớn từ vùng nguy hiểm
vào sâu trong nội địa.[89]
Trong hoàn cảnh đó Bắc Kinh đã gửi một nhóm tám chuyên viên Bộ Quốc
phòng sang Việt Nam trong 40 ngày nhằm học tập kinh nghiệm phòng không
của Bắc Việt.[90] Đây là đề xuất của Bộ Chính trị ngày 14-5 nhằm học
tập kinh nghiệm dân quân phòng không của Bắc Việt và cách Bắc Hàn che
giấu những thành phố và xí nghiệp trong vùng đồi núi.[91] Tuy nhiên,
không có bằng chứng nào cho thấy phái đoàn của Trung Quốc đã sang Bắc
Hàn.
Báo cáo về phái đoàn ở Bắc Việt, trình ngày 29-8, cung cấp nhiều
thông tin bổ ích. Hầm tránh bom loại nhỏ rất hiệu quả trừ khi bị trúng
bom trực tiếp. Việc đào hào giao thông cũng cần thiết để bảo vệ người
thông tin liên lạc khi Mỹ liên tục ném bom. Kế sách tốt nhất để bảo vệ
dân là di tản về nông thôn. Báo cáo đề cập đến việc các thành phố nhỏ ở
Bắc Việt thường bị bỏ trống vào ban ngày để tránh thương vong do bom
Mỹ, nhưng cũng thừa nhận rằng không thể làm vậy với những thành phố
lớn. Báo cáo nhấn mạnh cách phòng ngự tốt nhất là chiến đấu lại; muốn
như vậy, phải có sự cộng tác chặt chẽ giữa các đơn vị pháo binh và dân
quân phòng không. Số liệu từ Bắc Việt, theo như báo cáo này, cho thấy
53 trong 430 máy bay địch bị bắn hạ. Cuối cùng, các tác giả của báo cáo
đề cao vai trò tuyên truyền nhằm duy trì tinh thần của quần chúng và
ngăn chặn tư tưởng chủ bại.[92]
Đánh giá cuối cùng trong bản báo cáo tới hơi trễ cho nên không
ngăn ngừa được tâm lý không tốt đang lan rộng ở miền Nam Trung Quốc.
Một mặt, báo cáo ngày 23-7 về các biện pháp dân quân phòng không ở
Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam không chỉ đưa ra những thành công
trong công tác dân quân phòng không, mà còn nêu tác động tiêu cực của
“tư tưởng chủ hòa” làm “giảm cảnh giác trong quần chúng”. Mặt khác, báo
cáo lưu ý tới kiều dân Quảng Châu, đến đại lục từ 1949, đang đòi hỏi
rời đất nước để tránh chiến tranh.[93] Ở Vân Nam, nơi hầu hết người dân
lo ngại ở mức độ khác nhau cuộc tấn công của Mỹ, “60% kỹ sư và cán bộ
lành nghề” đều hết sức lo ngại việc xảy ra chiến tranh. Rõ ràng, công
tác tuyên truyền nhằm cổ vũ tinh thần là chưa đủ.
Những quyết định trong Kế hoạch 5 năm lần thứ ba, tháng 7 đến tháng 10-1965
Bắt đầu từ giữa tháng 5, một hội nghị Trung ương Đảng ở Bắc Kinh
thảo luận chi tiết về Kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1966-1970), trong đó
có đề cập đến cấp ngân sách cho công cuộc Phòng Tuyến Ba. Mở đầu, Mao
than phiền rằng hoạch định kinh tế “bị sa vào phòng tuyến hai, và không
chú trọng đủ vào Phòng Tuyến Ba; bây giờ, những thiếu sót phải được bù
đắp.”[94] Kết quả là ngày 21-7, Ủy ban kế hoạch nhà nước gửi cho Chu Ân
Lai một báo cáo kiến nghị điều chỉnh và xét duyệt lại đề cương sơ bộ
của Kế hoạch 5 năm lần ba. Dự báo cuộc tấn công quy mô của Mỹ đang đến
gần, báo cáo yêu cầu phải “chạy đua với thời gian” và ưu tiên hàng đầu
cho việc xây dựng nhà máy quốc phòng và phòng ngự từ xa.[95] Mao cũng
nhấn mạnh những ưu tiên đó trong cuộc họp Ban bí thư trung ương Đảng
vào tháng 8: “Chúng ta không được để vuột cơ hội mà cần bù lại thời
gian đã mất. Nếu xây dựng nội địa không tốt, chúng ta sẽ không thể ngủ
yên một ngày nào.” Ông nhắc lại với mọi người trong cuộc họp về bài học
thất bại của Iosif Stalin đã không chuẩn bị công sự và di dời các nhà
máy về hậu tuyến trước khi Đức tấn công năm 1941.[96]
Theo đó, ngày 21-8-1965 Ủy ban kế hoạch nhà nước tính đến việc di
dời quy mô lớn của các nhà máy trong kế hoạch tái điều chỉnh kinh tế
quốc gia. Cơ quan này đệ trình đề cương sơ bộ cho Kế hoạch 5 năm lần
thứ ba vào ngày 2-9 chú trọng bốn nhiệm vụ cốt lõi trong giai đoạn
1966-1970 theo thứ tự: kích hoạt phòng ngự sơ bộ, xây dựng nhà máy quốc
phòng, tăng tốc xây dựng Phòng Tuyến Ba, chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu
công nghiệp trên cả nước.[97] Theo đó, Hội đồng kế hoạch nhà nước phân
bổ 48,243 tỉ NDT (49,43% trong 97,603 tỉ NDT dành riêng cho vốn đầu tư
trên cả nước) cho công cuộc Phòng Tuyến Ba trong 5 năm tới.[98]
Hội nghị Trung ương Đảng ở Bắc Kinh, bao gồm lãnh đạo các tỉnh,
các bộ ngành, và chỉ huy của tất cả các đơn vị quân đội chủ lực, được
triệu tập từ ngày 18-9 đến 12-10 nhằm đưa ra đề cương chung, trao đổi ý
kiến, và cuối cùng là đưa ra đề cương chi tiết Kế hoạch 5 năm lần thứ
ba. Nhắc đến những hạn chế về tài nguyên trong nước, Hội nghị kết luận
rằng những đòi hỏi tuyên bố trước đó của Kế hoạch 5 năm lần thứ ba phải
chuyển trọng tâm kinh tế từ sản xuất lương thực và hàng hóa tiêu dùng
sang sản xuất phục vụ quốc phòng.[99] Sự thay đổi quan điểm này chính
thức chấm dứt của giai đoạn củng cố kinh tế từ năm 1961 nhằm phục hồi
nền kinh tế Trung Quốc sau thảm họa Đại nhảy vọt. Sự sụp đổ của kế hoạch Phòng Tuyến Ba và “Phòng ngự từ xa”, tháng 9-1965 đến tháng 6-1966
Cùng với công cuộc Kế hoạch 5 năm lần thứ ba, hầu hết lãnh đạo
Đảng Cộng sản Trung Quốc đều chuyển sang những công việc khác trước khi
Cách mạng văn hóa xảy ra nhưng Đặng Tiểu Bình, một trong những nhà kiến
thiết chủ yếu của công cuộc Phòng Tuyến Ba, vẫn tiếp tục công việc thực
hiện nó. Trong chuyến thanh tra với Bạc Nhất Ba và những đảng viên
trung ương khác ở Tứ Xuyên, Quý Châu, và Vân Nam, ông lại được cam đoan
rằng trữ lượng phong phú của than, dầu mỏ, quặng sắt và các tài nguyên
thiên nhiên khác ở vùng này rất phù hợp làm trọng điểm phát triển Phòng
Tuyến Ba, nhất là khi tuyến đường sắt Côn Minh được hoàn thành.[100]
Khai thác từ “bài học Stalin”,[101] Đặng công du cùng hơn hai mươi đảng
viên trung ương trong chuyến đi khác vào tháng 3-1966 đến các tỉnh
Phòng Tuyến Ba vùng Tây Bắc như Sơn Tây, Cam Túc, Ninh Hạ và Thanh Hải
để thanh tra vũ khí trang bị, không quân và các nhà máy công nghiệp
nặng đồng thời phê chuẩn việc mở rộng của các nhà máy này.[102] Đó là
những hành động cuối cùng đối với kế hoạch Phòng Tuyến Ba trước khi
Cách mạng Văn hóa nổ ra.
Có nhiều lý do dễ thấy khiến lãnh đạo trung ương không còn quan
tâm đến Phòng Tuyến Ba và “phòng ngự từ xa”. Với những quyết định cơ
bản trong định hướng Kế hoạch 5 năm lần ba vào mùa thu năm 1965, những
tranh luận thực ra đã kết thúc. Ngoài ra, nguy cơ từ phía Mỹ đã tạm
lắng. Buổi nói chuyện của Chu Ân Lai vào ngày 15-10 nhận định hoàn cảnh
quốc tế không còn đáng ngại như nhận định của những lãnh đạo trung ương
hồi đầu năm.[103] Trong buổi nói chuyện với đoàn đại biểu Phúc Kiến
ngày 25-11, Bộ trưởng ngoại giao Trần Nghị thậm chí còn quả quyết “Mỹ
đã giảm sút sức mạnh” và “quyết tâm” để tấn công Trung Quốc.[104] Sự
quả quyết này là có cơ sở. Cuộc chiến giữa Mỹ và Bắc Việt Nam ở thung
lũng Ia Drang từ 13 đến 19-11 cho thấy Việt Cộng đã thâm nhập mạnh mẽ
vào miền Nam khiến quân Mỹ nản lòng. Sau trận đánh đó, chính quyền
Johnson tỏ ra muốn điều đình với Bắc Việt bằng ngoại giao để tạm dừng
cuộc chiến.[105 ]
Cuối cùng, mùa thu năm 1965 đánh dấu bước phát triển chính trị
quan trọng trước khi nổ ra cuộc Cách mạng Văn hóa vào năm sau đó. Tháng
11, Mao chuyển nơi làm việc từ Bắc Kinh sang Thượng Hải, chuẩn bị những
bước đi kế tiếp đối phó lại những người đối lập ở Bắc Kinh. Mao không
quay trở lại Bắc Kinh cho đến giữa năm 1966, vào lúc Cách mạng Văn hóa
mà ông châm ngòi từ xa đang diễn ra chống lại các đồng chí của ông.[106]
Mặc dù việc quá khích hóa về mặt ý thức hệ trong nội bộ chính trị
đã manh nha trong nước từ cuối mùa hè năm 1962, kế hoạch Phòng Tuyến Ba
vẫn không bị ảnh hưởng cho đến mùa thu năm 1965. Trong nhiều năm, Mao
đã chỉ rõ chủ nghĩa xét lại là sự lệch lạc về tư tưởng từ chỗ chủ nghĩa
Mác-Lê Nin đúng đắn biến thành chủ nghĩa kinh nghiệm, một tư tưởng sai
lầm mà ông chỉ ra rằng những lãnh đạo Liên Xô và đồng chí của ông đang
mắc phải.[107] Ngày 10-10-1965, tại cuối Hội nghị Trung ương Đảng nói
trên, Mao cảnh báo với những bí thư tỉnh ủy rằng bộ phận trung ương
Đảng đang bị lung lay bởi chủ nghĩa xét lại chống Đảng. Ông khẳng định
vai trò của các tỉnh về việc xây dựng các tiểu Phòng Tuyến Ba độc lập
về kinh tế và quân sự để sau này đánh bại phe xét lại.[108] Trong thời
gian đó, Bộ trưởng Quốc phòng Lâm Bưu, trước đó không tham gia kế hoạch
Phòng Tuyến Ba, bắt đầu khai thác kế hoạch “phòng ngự từ xa” cho mục
đích riêng. Ngày 12-9, ông ban hành thông tư đề nghị các lực lượng dân
phòng nhân dân loại bỏ những cán bộ chính trị không tốt.[109]
Vì vậy, khi nổ ra Cách mạng văn hóa, việc thi hành các biện pháp
Phòng Tuyến Ba được phê chuẩn trước đó tiến triển chậm lại và sau đó
ngừng hoàn toàn.[110] Việc Lâm Bưu buộc tội La Thụy Khanh cuối năm 1965
khiến công cuộc Phòng Tuyến Ba mất đi người đứng đầu quân đội.[111] Hai
bản lưu trữ cấp tỉnh nói rõ mốc kết thúc của kế hoạch quốc phòng và
tiểu Phòng Tuyến Ba là tháng 5-1966.[112] Việc Đặng Tiểu Bình bị “thất
sủng” vào tháng 8-1966 khiến kế hoạch này mất đi người cổ võ tích cực
nhất.[113] Mãi đến khi bất ổn xảy ra đầu năm 1969 ở biên giới Trung-Xô
các biện pháp Phòng Tuyến Ba mới hồi phục lại đầy đủ.[114]
Kết luận
Chiến tranh Việt Nam leo thang buộc Trung Quốc thực hiện chương
trình kinh tế chủ chốt Phòng Tuyến Ba kéo dài thêm nhiều năm sau khi
xung đột ở Đông Dương chấm dứt. Dù mối quan hệ đang xấu dần đi với Liên
Xô có thể làm kế hoạch loại này ra đời trễ hơn, với quy mô nhỏ hơn,
động lực chính của nó vẫn là nguy cơ bị tấn công từ phía Mỹ. Mao Trạch
Đông thổi phồng quá mức mối đe dọa của Liên Xô chỉ nhằm đối phó với
những kẻ thù chính trị trong nước;[115] trong khi, công cuộc Phòng
Tuyến Ba về cơ bản nhắm đến nguy cơ tức thời và dễ thấy từ phía Mỹ.
Những cuộc thảo luận nội bộ của giới lãnh đạo Trung Quốc về vấn đề Mỹ
khá nghiêm túc, không bị cường điệu hay có những lệch lạc ý thức hệ như
trong những cuộc tranh luận về mối quan hệ với Liên Xô.[116] Tuy nhiên,
sự cô lập của Trung Quốc với thế giới và quá khích về ý thức hệ của Mao
vốn được biết đến từ năm 1962 đã tô đậm thêm suy nghĩ ảm đạm và phản
ứng mẫn cảm của Trung Quốc đối với sự đe dọa từ Mỹ.
Ngay khi đề xướng Phòng Tuyến Ba ra đời năm 1964, nó đã trở thành
tâm điểm trong việc hoạch định chính sách năm 1965 và sau đó lại đột
ngột sụp đổ ngay trước khi nổ ra Cách mạng văn hóa. Chỉ từ mùa thu năm
1965 khi nguy cơ từ Mỹ đã lùi xa và Mao Trạch Đông bắt đầu những động
thái cho Cách mạng văn hóa thì những xung đột tư tưởng giữa các lãnh
đạo trung ương mới trở nên gay gắt, diễn ra ngay cả trong kế hoạch
Phòng Tuyến Ba. Mặc dù Bắc Kinh tiếp tục thực hiện Phòng Tuyến Ba trong
Cách mạng văn hóa, những cố gắng vẫn bị cản trở bởi tư tưởng chính trị
quá khích. Chỉ một năm sau khi thông qua Kế hoạch 5 năm lần thứ ba, hai
nhà lãnh đạo quan trọng nhất của Phòng Tuyến Ba, La Thụy Khanh và Đặng
Tiểu Bình đã bị “thất sủng”. Khi Phòng Tuyến Ba được khởi động lại vào
năm 1969, kế hoạch này có tác động lớn đến cấu trúc nền kinh tế Trung
Quốc cho đến khi kết thúc hoàn toàn vào năm 1979.
Mặc dù bề ngoài, những dấu hiệu tự cung tự cấp của Phòng Tuyến Ba
có vẻ giống với ý tưởng công xã của cuộc Đại nhảy vọt, rất dễ nhận ra
những khác biệt chủ yếu. Cuộc Đại nhảy vọt nhằm thiết lập một xã hội
tiền Cộng sản với những tổ chức tự quản về chính trị, kinh tế và quân
sự (công xã nhân dân),[117] trong khi Phòng Tuyến Ba hoàn toàn với mục
đích chiến lược quân sự. Phân tán địa lý và tự túc kinh tế không phải
là kết quả từ các ý tưởng xây dựng xã hội lý tưởng của Mao mà là hệ quả
những gì Mao và những đồng chí của mình xem là cần thiết về quân sự.
Hơn nữa, không giống viễn cảnh về một tương lai tốt hơn như trong Đại
nhảy vọt, thế yếu về quân sự là mấu chốt của Phòng Tuyến Ba, khi Chu Ân
Lai bày tỏ với người nghe vào tháng 4 năm 1965. Khi tình trạng cô lập
của Trung Quốc chấm dứt vào cuối những năm 1970 và đất nước bắt đầu
nhìn ra bên ngoài, tâm lý đề phòng quân sự của Phòng Tuyến Ba mới chấm
dứt.
Nhìn rộng hơn về lịch sử, đề xướng Phòng Tuyến Ba giống với kế
hoạch phát triển của Stalin ở Xi-bê-ri. Những người Cộng sản Trung Quốc
quả quyết rằng Liên Xô đã không được chuẩn bị khi Đức tấn công năm
1941, nhưng thật ra Stalin đã phát triển những trung tâm công nghiệp
phía Đông dãy Ural ít nhất là từ cuối những năm 1920.[118] Tuy nhiên,
do sai lầm trong chiến lược quân sự và chính sách đối ngoại-chứ không
phải sai lầm như phía Trung Quốc chỉ ra- đã buộc Liên Xô phải di dời
một lượng lớn các xí nghiệp từ phần đất thuộc châu Âu sang Xi-bê-ri
trong một thời gian ngắn để tránh sự tiến quân của Đức năm 1941.[119]
Nhưng dù những lãnh đạo Trung Quốc có hiểu sai những nguyên nhân cơ bản
trong chính sách của Stalin năm 1941, họ vẫn rút ra những bài học đúng
đắn.
Khái quát hơn, kế hoạch Phòng Tuyến Ba thể hiện một trong những mô
hình phát triển của Trung Quốc cho những tỉnh phía tây đất nước, mặc dù
phát triển kinh tế không phải mục đích chính. Trong những năm đầu thành
lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Mao đã tiếp nhận những quan điểm
mới nhất kiểu Stalin về phát triển kinh tế.[120] Với sự hỗ trợ kinh tế
của Liên Xô, Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957) đặt trọng tâm phát
triển sâu trong đại lục.[121] Trong số 694 dự án công nghiệp của Kế
hoạch 5 năm, 472 (68%) dự án được đặt ở những tỉnh mà sau này là 11
tỉnh Phòng Tuyến Ba. Trong số 150 dự án Liên Xô hỗ trợ, 83 (55%) được
đặt ở đó, bao gồm 35 trong 43 dự án phòng thủ Liên Xô (81,4%) và 48
trong 107 dự án công nghiệp dân dụng (44,9%).[122] Mô hình phát triển
thứ hai là cuộc Đại nhảy vọt (1958-1960). Mục tiêu không tưởng của công
cuộc này không chỉ là mâu thuẫn với những kinh nghiệm kinh tế trước đó
mà còn với lối tư duy chiến lược trong nền kinh tế kế hoạch kiểu Liên
Xô và ngay cả trong chương trình Phòng Tuyến Ba sau đó vào những năm
1960. Với Đặng Tiểu Bình trở thành lãnh đạo tối cao sau 1978, Trung
Quốc chứng kiến sự phục hồi của miền duyên hải với nền sản xuất xuất
khẩu và sự giải phóng của nông dân khỏi những bó buộc còn lại của công
cuộc cộng sản hóa, đưa Trung Quốc vào giai đoạn phát triển kinh tế đáng
kinh ngạc.[123] Chỉ đến năm 1999 Bắc Kinh mới bắt tay lại vào một chiến
lược ở miền tây, quan tâm đến vùng trung tâm và phía Tây Trung
Quốc.[124] "The Vietnam War and China’s Third-Line Defense Planning before the Cultural Revolution, 1964–1966"
Journal of Cold War Studies
Vol. 10, No. 1, Winter 2008, pp. 26–51
© 2008 by the President and Fellows of Harvard College and the Massachusetts Institute of Technology
Trần Quốc Tân dịch
Chú thích của tác giả
1. See Lorenz Lüthi, The Sino-Soviet Split, 1956–1966 (Princeton, NJ: Princeton University Press, 2008), chs. 9–10.
2. James G. Hershberg and Chen Jian, “Reading and Warning the Likely
Enemy: China’s Signals to the United States about Vietnam in 1965,”
International History Review, Vol. 27, No. 1 (February 2005), pp.
47–84, esp. 56–57.
3. Barry J. Naughton, “The Third Front: Defense Industrialization in
the Chinese Interior,” China Quarterly, No.115 (September 1988), pp.
351–386.
4. Dong Zhikai and Wu Jiang, “Woguo sanci xibu kaifa de huigu yu sikao”
[“China’s Third Development of the West—An Overview and Reºections”],
Dangdai Zhongguo shi yanjiu, Vol. 7, No. 4 (July 2000), p. 82; Chen
Dongling, “Zhongguo Gongchangdang sanxian lingdao jiti de xibu kaifa
sixiang yu shijian” [“The Theory and Practice of Developing China’s
West under Three Generations of the Party’s Collective Leadership”],
Dangdai Zhongguo shi yanjiu, Vol. 8, No. 4 (July 2001), p. 77; and Yang
Huolin and Yang Yinjian, “Cong jihua pingheng dao da kaifa” [“From
Planned Development to Great Development”], Zhonggong dangshi yanjiu,
No. 4 (2000), p. 12.
5. Barry J. Naughton, “The Western Development Program,” in Barry J.
Naughton and Yang Dali, eds., Holding China Together: Diversity and
National Integration in the Post-Deng Era (New York: Cambridge
University Press, 2004), pp. 253–295.
6. Dong Baoxun, “Yingxiang sanxian jianshe juece xiangguan yinsu de
lishi touxi” [An Analysis of the Factor Correlated with the 3rd-Front
Construction Policy-Making”], Shandong Daxue Xuebao, No. 1 (2001), p.
89.
7. Wang Hongjuan, “Wenge shijian sanxian jianshe shulüe” [“On the
Three-Line Construction during the Period of the Culture Revolution”],
Jiangxi jiaoyue xueyuan xuebao, Vol. 26, No. 5 (October 2005), p. 111;
and Li Yin, “Sanxian yuanqi” [“Origins of the Third-Line Defense”],
Dangde Zongheng, No. 4 (2005), p. 55.
8. Chao Lihua, ”Yunnan sanxian jianshe yu xibu da kaifa” [“Third-Line
Construction in Yunnan and the Great Development of the Western
Parts”], Kunming daxue xuebao, No. 1 (2006), p. 32.
9. Estimates of the precise amount vary from source to source, but
usually stay within a margin of 2.5 percent. See Gu Zhenhua, “Dui
sanxian jianshe de lishi fenxi” [“A Historical Analysis of Third-Line
Construction”], Junshi jingji shi, No. 6 (2006), p. 78; Xu Tianchun,
“Sanxian jianshe—Xin Zhongguo xibu da kaifa de xianxing,” [“Third-Line
Construction—The Predecessor of New China’s Western Great
Development”], Xinan minzu xueyuan xuebao, Vol. 23, No. 10 (October
2002), p. 6; and Chen Lixu, “Mao Zedong yu woguo sanxian jianshe” [“Mao
Zedong and Our Country’s Third-Line Construction”], Tansuo, No. 6
(2003), p. 12.
10. Han Honghong, “Deng Xiaoping yu sanxian jianshe” [“Deng Xiaoping
and the Third-Line Construction”], Dangde Wenxian, No. 4 (2005), p.
100; and Li Caihua, “Sanxian jianshe tiaozheng gaizao de lishi kaocha”
[“Historical Observations of the Restructuring and Reform of Third-Line
Construction”], Dangdai Zhongguo shi yanjiu, Vol. 9, No. 3 (May 2005),
pp. 44–45.
11. Xu Tianchun, “Sanxian jianshe,” pp. 4–5; and Yang Gang, “Xibu diqu
sanci jingji da kaifa jiqi tedian fenxi” [“The Three-fold Great
Development of the Western Parts and Its Special Characteristics”],
Jingji shi, No. 11 (2003), p. 109.
12. Wang Hongjuan, “Wenge shijian sanxian jianshe shulüe,” p. 112.
13. Xu Tianchun, “Sanxian jianshe,” p. 6.
14. Li Yin, “Sanxian yuanqi,” p. 55; and Wang Hongjuan, “Wenge shijian sanxian jianshe shulüe,” pp. 111–112.
15. Li Yin, “Sanxian yuanqi,” p. 55;Wang Hongjuan, “Wenge shijian
sanxian jianshe shulüe,” p. 112; and Chen Lixu, “Mao Zedong yu woguo
sanxian jianshe,” p. 10.
16. Li Caihua, “Sanxian jianshe tiaozheng gaizao de lishi kaocha,” p. 43.
17. Naughton, “The Third Front,” p. 352.
18. Li Danhui, “ZhongSu guanxi yu Zhongguo de yuanYue kangMei”
[“Sino-Soviet Relations during China’s Resist-America-Aid-Vietnam
War”], Dangdai Zhongguo shi yanjiu, No. 3 (1998), pp. 115–116. See also
Lüthi, The Sino-Soviet Split, chs. 8–9.
19. Chen Jian, Mao’s China and the Cold War (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2001), p. 209.
20. Zhonggong zhongyang wenxian yanjiushi bian [CCP, Central Documents
Research Ofªce], Zhou Enlai nianpu, 1949–1976 [A Chronicle of Zhou
Enlai’s Life: 1949–1976], Vol. 2 (Beijing: Zhongyang, 1997), p. 655
(hereinafter referred to as ZELNP2).
21. Wang Hongjuan, “Wenge shijian sanxian jianshe shulüe,” p. 111.
22. “Report of the War Planning Ofªce of the [PLA] Headquarters,” 25 April 1964, in Dangde wenxian, No. 3 (1995), pp. 34–35.
23. Nong Zhiyi, “Lun sanxian jianshe yu Sichuan jingji kuayue shi
fazhan” [“Discussing the development patterns of the Third-Line
Construction and the Sichuan economy”], Zhonggong dangshi yanjiu, No. 4
(2000), p. 21.
24. Zhou Enlai, “Outline of a Report to the Central Committee
Secretariat (Extracts),” 12 March 1965, Dangde wenxian, No. 3 (1995),
p. 37.
25. Li Chen, ed., Zhonghua Renmin Gongheguo shilu [Records of the
People’s Republic of China], Vol. 2, No. 2 (Changchun: Jilin renmin,
1994), p. 953.
26. ZELNP2, p. 654.
27. “Report of the War Planning Ofªce of the [PLA] Headquarters,” p. 33n.
28. Sun Dongshen, “Woguo jingji jianshe zhanlüe buju de da zhuanbian,” Dangde wenxian, No. 3 (1995), p. 45.
29. Li Fuchun, Bo Yibo, and Luo Ruiqing, “Report on the Governmental
Economic Construction and on the Question How to Prevent the Enemy from
a Surprise Attack,” 19 August 1964, Dangde wenxian, No. 3 (1995), pp.
33–35. See also “Report on How Our Country’s Economic Construction
Should Prepare Itself Against an Enemy Surprise Attack,” 19 August
1964, reproduced as Document No. 3 in Qiang Zhai, “Beijing and the
Vietnam Conºict, 1964–1965: New Chinese Evidence,” Cold War
International History Project Bulletin, Issue No. 6–7 (Winter 1995), p.
243.
30. Han Honghong, “Deng Xiaoping yu sanxian jianshe,” p. 98.
31. Dong Baoxun, “Yingxiang sanxian jianshe juece xiangguan yinsu de lishi touxi,” p. 91.
32. Sun Dongshen, “Woguo jingji jianshe zhanlüe buju de da zhuanbian”
[“The Great Transformation of Strategic Distribution of Our Country’s
Economic Construction”], Dangde wenxian, No. 3 (1995), pp. 45–46.
33. CCP CC, “Instruction with Regard to the Construction of the First
and Second Rear Line Defense and the Preparations for War,” 29 October
1964, Dangde wenxian, No. 3 (1995), pp. 35–37.
34. “U.S. Said to Allow Pursuit to China,” The New York Times, 27 September 1964, p. 1.
35. Zhang Xiaoming, “The Vietnam War, 1964–1969,” Journal of Military History, Vol. 60, No. 4 (October 1996), p. 742.
36. Li Danhui, “ZhongSu guanxi yu Zhongguo de yuanYue kangMei,” p. 115.
37. See Lüthi, The Sino-Soviet Split, ch. 9.
38. Nong Zhiyi, “Lun sanxian jianshe yu Sichuan jingji kuayue shi fazhan,” p. 21.
39. Zhong Baohua, “Wenhua da geming qijan sanxian jianshe de wuzi
baozhang” [“The Material Safeguards of Third-Line Construction in the
Period of the Cultural Revolution”], Dangdai Zhongguo shi yanjiu, Vol.
10, No. 4 (July 2003), pp. 69–70.
40. Nong Zhiyi, “Lun sanxian jianshe yu Sichuan jingji kuayue shi fazhan,” p. 21.
41. ZELNP2, p. 705.
42. Ibid.
43. Zhang Yu and Cai Guangang, “Luo Ruiqing yu guofang gongye” [“Luo
Ruiqing and National Defense Industry”], Dangdai Zhongguo shi yanjiu,
No. 6 (1996), p. 56.
44. ZELNP2, p. 715.
45. Chen Donling, “Zhongguo Gongchangdang sanxian lingdao jiti de xibu kaifa sixiang yu shijian,” p. 81.
46. ZELNP2, p. 700. Zhou Enlai in fact had urged construction in Henan, Hubei, Hunan, and
Shanxi.
47. Fredrik Logevall, Choosing War: The Lost Chance for Peace and the
Escalation of War in Vietnam (Berkeley: University of California Press,
1999), pp. 326–332.
48. “More Marines Due for Vietnam Duty,” The New York Times, 2 March
1965, p. 1; and “Force ‘Strictly Defensive’—Arrival is Protested by
Hanoi and Peking,” The New York Times, 8 March 1965, p. 1.
49. Hershberg and Chen, “Reading and Warning the Likely Enemy,” pp. 56–57.
50. Zhou Enlai, “Outline of a Report,” 12 March 1965, Dangde wenxian,
No. 3 (1995), pp. 37–38. For a more detailed instruction on grain
stockpiling that was sent out on 1 June 1965, see “Comments by the
State Council on the Revision by the Grain Department and the General
Logistics Department of ‘The Temporary Ideas to Manage Grain, Oil, and
Grass for Horses for Military Use,’” 1 June 1965, Jiangsu Sheng
Dang’anguan [Jiangsu Provincial Archives, hereinafter referred to as
JSSDAG], 3072, zhang 1860, pp. 3–6.
51. ZELNP2, pp. 716–717; and Sun Dongshen, “Woguo jingji jianshe zhanlüe buju de da zhuanbian,” p. 46.
52. PRC, State Council, Ofªce of Defense Industry Works, “Focal Points
on the Construction of the 1st and 2nd Rear [Defense] Line of Each
Province,” 14 March 1965, Dangde wenxian, No. 3 (1995), p. 38.
53. ZELNP2, p. 719.
54. ZELNP2, 725. According to a Chinese statistical yearbook, capital
investment in 1965 in fact was 17,089,000,000 yuan. PRC, State
Statistical Bureau, Statistical Yearbook of China 1981 (Hong Kong:
Economic Information and Statistical Agency, 1982), p. 299.
55. Zhang Yu, “Luo Ruiqing yu guofang gongye,” p. 56.
56. “Report by Commercial Department on Strengthening the Air Defense
and War Preparation Measures of the Oil Depots of the Commercial
System,” 8 April 1965, JSSDAG, 3072, zhang 1864, pp. 5–10.
57. “Report by Premier Zhou Enlai on the War Preparations,” 10 April
1965, Fujian Sheng Dang’anguan [Fujian Provincial Archives, hereinafter
referred to as FJSDAG], 101-4-384, pp. 16–24.
58. See Lüthi, The Sino-Soviet Split, ch. 10.
59. “Report by Premier Zhou Enlai on the War Preparations,” pp. 16–24.
60. Two slightly differing transcripts of this meeting have surfaced in
two provincial archives. See “Speeches of Liu, Zhou, and Deng in the
Politburo, 12 April 1965,” FJSDAG, 101-4-384, pp. 71–77; and “Comrade
Wang Wei Communicates the Speeches of Some Responsible Comrades
Discussing the ‘War Preparedness Instructions’ in the Politburo,” 12
April 1965, JSSDAG, 3011, zhang 1162, pp. 43–49. A short speech by Zhou
Enlai from this meeting has been published in China. See Zhou Enlai,
“Some Problems with Regard to Capital Construction,” 12 April 1965,
Dangde wenxian, No. 3 (1995), p. 39.
61. “Speeches of Liu, Zhou, and Deng in the Politburo, 12 April 1965.”
62. “ComradeWangWei Communicates the Speeches of Some Responsible
Comrades Discussing the ‘War Preparedness Instructions’ in the
Politburo,” p. 43.
63. “Speeches of Liu, Zhou, and Deng in the Politburo, 12 April 1965.”
64. “ComradeWangWei Communicates the Speeches of Some Responsible
Comrades Discussing the ‘War Preparedness Instructions’ in the
Politburo,” p. 44.
65. “Speeches of Liu, Zhou, and Deng in the Politburo, 12 April 1965.”
66. Ibid.; and “Comrade Wang Wei Communicates the Speeches of Some
Responsible Comrades Discussing the ‘War Preparedness Instructions’ in
the Politburo,” p. 45.
67. “Speeches of Liu, Zhou, and Deng in the Politburo, April 12, 1965”;
and “Comrade Wang Wei Communicates the Speeches of Some Responsible
Comrades Discussing the ‘War Preparedness Instructions’ in the
Politburo,” pp. 45–47.
68. “Speeches of Liu, Zhou, and Deng in the Politburo, 12 April 1965.”
69. “ComradeWangWei Communicates the Speeches of Some Responsible
Comrades Discussing the ‘War Preparedness Instructions’ in the
Politburo,” p. 48.
70. Zhou Enlai, “Some Problems with Regard to Capital Construction,” p. 39.
71. Sun Dongshen, “Woguo sanci xibu kaifa de huigu yu sikao,” p. 46.
72. “Comments by the State Council on the Report by Commercial
Department on Strengthening the Air Defense and War Preparation
Measures of the Oil Depots of the Commercial System,” 20 April 1965,
JSSDAG, 3072, zhang 1864, p. 5.
73. The order is mentioned in “Circular on Participating in the Work of
the People’s Anti-Air Defense,” 6 May 1965, JSSDAG, 3072, zhang 1879,
pp. 9–10.
74. Han Honghong, “Deng Xiaoping,” 98. Liu gave a similar speech on 19
May. See “Liu Shaoqi’s Speech to the Central Military Commission War
Planning Meeting on 19 May 1965,” Dangde Wenxian, No. 3 (1995), p. 40.
75. The date of the Politburo meeting is not certain. One source lists
11 May. See ZELNP2, p. 729. The other lists 12 May. See “Parts of
Comrade [Chen] Yun Transmitting Two Politburo Meetings (Draft Notes
from May 15),” JSSDAG, 3011, zhang 1162, p. 53.
76. ZELNP2, pp. 729–730.
77. “Parts of Comrade [Chen] Yun Transmitting Two PolitburoMeetings (draft notes fromMay 15),” pp. 53–60.
78. Hershberg and Jian, “Reading and Warning the Likely Enemy,” pp. 65–78.
79. For example, Beijing Shi difangzhi bianzuan weiyuanhui [City of
Beijing Gazetteer Compilation Committee], ed., Beijing zhi [Annals of
Beijing], Vol. 30, Junshi zhi [Military Annals] (Beijing: Beijing
chubanshe, 2002); Guangdong sheng difang shizhi bianzuan weiyuanhui
[Province of Guangdong Historical Gazetteer Compilation Committee],
ed., Guangdong sheng zhi [Annals of Guangdong Province], Vol. 22,
Junshi zhi [Military Annals] (Guangzhou: Guangdong renmin, 1999); and
Yunnan sheng difang zhi bianzuan weiyuanhui [Province of Yunnan
Gazetteer Compilation Committee], ed., Yunnan sheng zhi [Annals of
Yunnan Province], Vol. 49, Junshi zhi [Military Annals] (Kunming:
Yunnan renmin, 1997).
80. Guangxi Zhuangzu Zizhiqu difang zhi bianzuan weiyuanhui [Ethnic
Minority Autonomous Region of Guangxi Gazetteer Compilation Committee],
ed., Guangxi tongzhi [Gazetteer of Guangxi], Vol. 59, Junshi zhi
[Military Annals] (Nanning: Guangxi renmin, 1994), p. 488.
81. “Circular on Participating in the Work of the People’s Anti-Air Defense,” 5 May 1965, JSSDAG, 3072, zhang 1879, pp. 9–10.
82. “Yunnan sheng difang zhi bianzuan weiyuanhui,” Yunnan sheng zhi, Vol. 49, Junshi zhi, p. 30.
83. Fujian sheng difang zhi bianzuan weiyuanhui [Province of Fujian
Gazetteer Compilation Committee], ed., Fujian sheng zhi [Annals of
Fujian Province], Junshi zhi [Military Annals], Vol. 9 (Beijing: Xinhua
chubanshe, 1995), p. 534.
84. Zhejiang sheng junshizhi bianzuan weiyuanhui [Province of Zhejiang
Military Gazetteer Compilation Committee], ed., Zhejiang sheng jun shi
zhi [Military Annals of Zhejiang Province] (Beijing: Fangzhi chubanshe,
1999), p. 516.
85. Guangxi Zhuangzu Zizhiqu difang zhi bianzuan weiyuanhui, Guangxi
tongzhi, Vol. 59, Junshi zhi, pp. 492, 493, 497; Jiangsu sheng difang
zhi bianzuan weiyuanhui [Province of Jiangsu Gazetteer Compilation
Committee], ed., Jiangsu sheng zhi [Annals of Jiangsu Province], Junshi
zhi [Military Annals], Vol. 64 (Beijing: Junshi kexue, 2000), pp. 672,
705. A report found in the Jiangsu provincial archives speciªcally
mentions Guangdong, Guangxi, and Yunnan. See “Report on the Inspections
of the People’s Air Defense Work in Guangdong, Guangxi, and Yunnan,” 23
July 1965, JSSDAG, 3011, zhang 1879, pp. 10–15.
86. “Circular on Participating in the Work of the People’s Anti-Air Defense,” 5 May 1965, JSSDAG, 3072, zhang 1879, pp. 9–10.
87. “Ideas on Participating in People’s Militia Air Defense Work,” 17
May 1965, JSSDAG, 3072, zhang 1879, 1a–7. See also Jiangsu sheng difang
zhi bianzuan weiyuanhui [Province of Jiangsu Gazetteer Compilation
Committee], ed., Jiangsu sheng zhi [Annals of Jiangsu Province], Junshi
zhi [Military Annals], Vol. 64 (Beijing: Junshi kexue, 2000), pp. 669,
686.
88. “Notes of Comrade Luo Ruiqing’s Speech,” 23 June 1965, JSSDG, 3011,
long 1162, pp. 66–71. The fact that this speech was found in a
provincial archive indicates that the audience consisted of provincial
leaders.
89. Mao Zedong, “With Regard to the Question of Fighting War We Shall
Have Two Strings to One Bow,” 26 June 1965, Dangde wenxian, No. 3
(1995), p. 41.
90. See “Report on Studying and Inspecting the Experience of the
Vietnam People’s Air Defense Work,” 29 August 1965, JSSDAG, 3011, zhang
1234, 15a. No precise date is mentioned for the delegation’s 40-day
mission to North Vietnam.
91. “Parts of Comrade [Chen] Yun Transmitting Two PolitburoMeetings (draft notes from 15 May),” JSSDAG, 3011, zhang 1162, p. 60.
92. “Report on Studying and Inspecting the Experience of the Vietnam
People’s Air Defense Work,” 29 August 1965, JSSDAG, 3011, zhang 1234,
15a–21.
93. “Report on the Inspections of the People’s Air Defense Work in Guangdong, Guangxi, and Yunnan,” pp. 10–15.
94. Li Yin, “Sanxian yuanqi,” p. 55.
95. Dong Baoxun, “Yingxiang sanxian jianshe juece xiangguan yinsu de lishi touxi,” p. 90.
96. Li Yin, “Sanxian yuanqi,” p. 55.
97. Dong Baoxun, “Yingxiang sanxian jianshe juece xiangguan yinsu de lishi touxi,” p. 91; and Li Yin, “Sanxian yuanqi,” p. 55.
98. Li Cunshe, “Woguo sanxian shengchan buju de jibe texheng,” p. 48.
99. ZELNP2, p. 7561; and Li Yin, “Sanxian yuanqi,” p. 55.
100. Han Honghong, “Deng Xiaoping yu sanxian jianshe,” p. 99.
101. From a speech to the National Industry and Communication Work
Conference on 26 February 1966. See Han Honghong, “Deng Xiaoping yu
sanxian jianshe,” p. 98.
102. Ibid., p. 99.
103. “Statement by Zhou Enlai: Informal Meeting on 15 October [1965],” JSSDAG, 3011, zhang 1162, pp. 96–100.
104. “Chen Yi’s Report on the Current International Situation, Given on
25 November to a Cadre Meeting of the Fujian Provincial Delegation,”
FJSDAG, 101–12–101, p. 16.
105. See Lüthi, The Sino-Soviet Split, ch. 10.
106. Roderick MacFarquhar, The Origins of the Cultural Revolution, Vol.
3: The Coming of the Cataclysm, 1961–1966 (New York: Columbia
University Press, 1997), pp. 443–445; Clive Ansley, The Heresy of Wu
Han: His Play ‘Hai Jui’s Dismissal’ and Its Role in China’s Cultural
Revolution (Toronto: University of Toronto Press, 1971), pp. 89–90; Li
Zhisui, with Anne F. Thurston, The Private Life of Chairman Mao (New
York: Random, 1994), pp. 440–442; Wu Lengxi, Yi Mao zhuxi: Wo qinshen
jingli de ruogan zhongda lishi shijian pianduan [Remembering Chairman
Mao: Part of a Series of Important Historical Events I Personally
Experienced] (Beijing: Xinhua, 1995), pp. 149–151; and Roderick
MacFarquhar and Michael Schoenhals, Mao’s Last Revolution (Cambridge,
MA: Belknap Press of Harvard University Press, 2006), pp. 15–17.
107. See Lüthi, The Sino-Soviet Split, chs. 7, 9.
108. Dong Baoxun, “Yingxiang sanxian jianshe juece xiangguan yinsu de lishi touxi,” p. 92.
109. “Summary Notes of the Work Conference of the General Staff
Headquarters and General Political Department on the People’sMilitia,”
12 September 1965, JSSDAG, 3011, zhang 1155, pp. 27–32.
110. Li Yin, “Sanxian yuanqi,” p. 55.
111. Huang Yao and Zhang Mingzhe,Luo Ruiqing zhuan [A Biography of Luo Ruiqing] (Beijing: Dangdai Zhongguo, 1996), pp. 512–536.
112. Jiangsu sheng difang zhi bianzuan weiyuanhui, Jiangsu sheng zhi,
Vol. 64, Junshi zhi, p. 659; and Zhejiang sheng junshizhi bianzuan
weiyuanhui, Zhejiang sheng jun shi zhi, p. 519.
113. MacFarquhar, The Origins of the Cultural Revolution, pp. 462–463.
114. Li Yin, “Sanxian yuanqi,” p. 55; Wang Hongjuan, “Wenge shijian
sanxian jianshe shulüe,” p. 112; and Chen Lixu, “Mao Zedong yu woguo
sanxian jianshe,” p. 10.
115. See Luthi, Sino-Soviet Split, chs. 9–10.
116. Ibid., ch. 10.
117. Ibid., ch. 4.
118. W. Bruce Lincoln, The Conquest of a Continent: Siberia and the
Russians (New York: Random House, 1994), pp. 318–357; Stephen Kotkin,
Magnetic Mountain: Stalinism as Civilization (Berkeley: University of
California Press, 1995), pp. 29–71; and Benson Bobrick, East of the
Sun: The Epic Conquest and Tragic History of Siberia (New York:
Poseidon, 1992), pp. 415–453.
119. Lincoln, The Conquest of a Continent, pp. 358–363.
120. Hua-yu Li, Mao and the Economic Stalinization of China, 1948–1953 (Lanham, MD: Rowman & Littleªeld, 2006).
121. Dong Zhikai and Wu Jiang, “Woguo sanci xibu kaifa de huigu yu sikao,” p. 82.
122. Chen Dongling, “Zhongguo Gongchangdang sanxian lingdao jiti de
xibu kaifa sixiang yu shijian,” p. 77; and Yang Huolin and Yang
Yinjian, “Cong jihua pingheng dao da kaifa,” p. 12.
123. Daniel R. Kelliher, Peasant Power in China: The Era of Rural
Reform, 1979–1989 (New Haven: Yale University Press, 1992); David
Zweig, Internationalizing China: Domestic Interests and Global Linkages
(Ithaca: Cornell University Press, 2002); and Freeing China’s Farmers:
Rural Restructuring in the Reform Era (Armonk, NY: M. E. Sharpe, 1997).
124. Dong Zhikai and Wu Jiang, “Woguo sanci xibu kaifa de huigu yu sikao,” p. 85. |