|
SADDAM HUSSEIN - MỘT CON NGƯỜI, MỘT CHÍNH TRỊ GIA ĐỘC TÀI
Thời thơ ấu và con đường dẫn đến quyền lực
Thời thơ ấu
Saddam Hussein sinh ngày 28/4/1937 trong một gia đình nông nô thuộc
làng al-Awja, ngoại ô thành phố Tikrit, là người theo dòng Hồi giáo
Sunni. Cha của Saddam Hussein là Madzid - một người nông dân nghèo, cả
đời làm ruộng và đã chết trước khi Saddam Hussein chào đời. Cậu bé lớn
lên trong gia đình người chú ruột, đồng thời là bố dượng của cậu tên là
Ibrahim al-Hassan, vì theo phong tục địa phương sau cái chết của người
anh, người em sẽ lấy chị dâu của mình.
Saddam Hussein là một nhân vật khó hiểu. Cho đến giờ ngày sinh của ông
vẫn nằm trong bí ẩn. Saddam Hussein luôn nói rằng ông sinh ngày
28/4/1937. Vào dịp này dân chúng Iraq được nghỉ một ngày và chế độ Iraq
kỷ niệm long trọng sự kiện đó. Tuy nhiên, Saddam Hussein ra đời muộn
hơn. Một bằng chứng được lưu giữ tại Viện bảo tàng đảng Baath, nằm
trong một đường phố vắng vẻ của thủ đô Baghdad. Bên cạnh khẩu súng lục
và khẩu súng AK của Saddam Hussein, một tờ giấy thông hành do Cơ quan
an ninh Syria cấp cho Saddam Hussein khi ông ta trốn sang Damas sau vụ
ám sát Thủ tướng Iraq Kassem, đề ngày 18/2/1960, được bày trong tủ
kính. Năm sinh của ông được ghi là năm 1939 chứ không phải năm 1937. Ở
tuổi 20, Saddam Hussein không có bất cứ lý do gì để nói dối nhà cầm
quyền Syria.
Tại sao có sự khác nhau như vậy? Liệu có phải các số hộ tịch đôi khi
được cất giấu không cẩn thận vào thời kỳ đó đã ghi sai? Rất có thể sau
này, Saddam Hussein đã tự làm già đi để bằng tuổi vợ ông ta (Sajida).
Vào những năm 1950, trong xã hội phương Đông người ta khó chấp nhận
việc chồng ít tuổi hơn vợ.
Saddam Hussein thiếu tình yêu của cha. Sự dạy dỗ của cha dượng rất
nghiêm khắc, dữ đòn, cậu bé không được khóc cũng như không được tỏ ra
yếu đuối. Saddam Hussein đã trung thành với nhiều tính cách của bộ tộc
Beduin đã sinh ra ông. Một thế giới trong đó mỗi người gắn bó với bộ
tộc của mình bằng lòng trung thành tuyệt đối, cùng với sự chống đối
quyết liệt thế giới bên ngoài. Thời niên thiếu nghèo khổ đã dạy cho
Saddam Hussein hiểu rằng đời là một cuộc chiến đấu và để tồn tại cần
phải đấu tranh. Cậu bé đi bộ tới trường học, xỏ chân trong đôi dép rẻ
tiền. Dọc đường, đôi khi cậu nghe tiếng chó sói hú. Rất nhanh chóng,
cậu biết cách chế ngự nỗi lo sợ và trở nên rắn rỏi.
Năm 1947, khi mới 10 tuổi cậu bé đã rời quê hương lên thành phố Tikrit
và ở nhà em trai mẹ mình là Tulfakh. Là người tham gia phong trào chống
thực dân Anh do al-Gailani lãnh đạo năm 1941, người cậu đã truyền cho
đứa cháu Saddam Hussein nhiều bài học về chủ nghĩa dân tộc và lòng căm
thù chế độ thống trị của thực dân đế quốc nước ngoài. Năm 1954, Saddam
Hussein thi đỗ vào trường al-Karh, một trường nổi tiếng là thành trì
của chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa toàn Arab.
Cuộc cách mạng Ai Cập nổ ra ngày 23/7/1952 đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cục
diện chính trị ở Iraq. Tổng thống Ai Cập Abdel Nasser trở thành thần
tượng của Saddam Hussein và là lý tưởng của những người theo chủ nghĩa
dân tộc toàn Arab. Năm 1957, khi 20 tuổi, Saddam Hussein gia nhập chi
nhánh của đảng Baath toàn Arab tại Iraq.
Cuộc cách mạng 14/7/1958 là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đất
nước Iraq. Iraq tuyên bố trở thành nước cộng hoà độc lập. Thế nhưng mùa
xuân năm 1959 nổ ra cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa đảng Cộng sản
Iraq và đảng Baath. Khẩu hiệu chính của những người đảng Baath là thống
nhất thế giới Arab và chiến dịch tuyên truyền của họ đã thành công
trong việc gây ảnh hưởng lên các tầng lớp dân cư rộng rãi và giới trí
thức. Chủ nghĩa quốc tế vô sản của những người cộng sản Iraq dường như
cái gì đó quá trừu tượng đối với dân chúng Iraq.
Saddam Hussein đã tham gia nhiều hoạt động lớn của đảng Baath, trong đó
nổi bật nhất là tham gia hai âm mưu bất thành: Lật đổ chính quyền quân
chủ thân thực dân Anh năm 1956 và ám sát thủ tướng Iraq Abdel Karim
Kassem năm 1959. Ngày 6/10/1959 Saddam Hussein đã bị thương trong vụ ám
sát bất thành này. Abdel Karim Kassem là người công khai chống lại chủ
trương đoàn kết các nước Arab của Tổng thống Ai Cập Abdel Nasser thập
kỷ 1960, mặc dù chủ trương này được nhiều nước trong khu vực cũng như
đảng Baath ủng hộ. Hơn nữa, Kassem lại có lập trường thân Matxcơva, nên
đã trở thành "cái gai phải nhổ" trong con mắt của cả chính quyền Mỹ lẫn
các thành viên đảng Baath.
Sau vụ mưu sát Abdel Kanm Kassem thất bại, Saddam Hussein mang theo vết
thương ở chân vất vả lắm mới tới được al-Avji, sau đó trốn sang Syria,
tới Damas, trung tâm chính của chủ nghĩa Baath. Ngày 21/2/1960 Saddam
Hussein từ Jordani chạy sang Cairo Ai Cập và bắt đầu một giai đoạn hoạt
động mới trong cuộc đời Saddam Hussein. Khi đó Cairo là trung tâm của
chủ nghĩa dân tộc toàn Arab, của "chủ nghĩa xã hội cách mạng theo kiểu
dân tộc". Ngày 25/2/1960 Saddam Hussein bị kết án tử hình vắng mặt tại
Iraq vì dính líu tới vụ ám sát Abdel Kanm Kassem năm 1959. Thời gian
lưu lạc tại Ai Cập, Saddam Hussein đã học 1 năm tại trường trung học
nổi tiếng Kasr-an-Nil và được nhận bằng tốt nghiệp. Sau đó Saddam đã
thi đỗ vào khoa Luật của Trường đại học Cairo và học ở đây 2 năm. Từ đó
Saddam Hussein trở thành liên lạc viên giữa đảng Baath và Cục tình báo
trung ương Mỹ (CIA) thông qua trung gian là Đại sứ quán Mỹ tại Ai Cập.
Thời gian ở Cairo, Saddam Hussein từ một người đấu tranh theo kiểu
khủng bố đã trở thành nhân vật chủ chốt của đảng Baath toàn Arab tại Ai
Cập. Đảng Baath được thành lập năm 1942 do Michel Anak, một người Thiên
Chúa giáo và ShAlahedin Bittar, một người theo dòng giáo phái Sunni lập
ra năm 1942. Đảng Baath muốn đi tiên phong trong việc sáp nhập chủ
nghĩa dân tộc với chủ nghĩa xã hội nhằm chấn hưng các quốc gia Arab.
Bản thân chữ Baath là một cương lĩnh Theo tiếng Arab, Baath đã có nghĩa
là "phục sinh", "phục hồi" và "phục hưng". Việc các cường quốc phương
Tây chia cắt thế giới Arab sau Chiến tranh thế giới thứ nhất chính là
điểm xuất phát của tư duy và hệ tư tưởng của đảng Baath. Nhận thức rõ
thực tế bị phương Tây áp đặt sau sự sụp đổ của đế chế Ottoman, đảng
Baath đã có tham vọng thống nhất lại các quốc gia Arab. Khẩu hiệu của
đảng Baath là "thống nhất, tự do, xã hội chủ nghĩa". Tổ chức cơ cấu của
đảng Baath đã phản ánh hệ tư tưởng: một bộ chỉ huy liên quốc gia Arab
được thành lập bao trùm lên các bộ chỉ huy địa phương ở mỗi nước Arab.
Còn cơ cấu quân sự của họ được sao chép theo khuôn mẫu của Đảng Cộng
sản Liên Xô. Đường đến quyền lực
Do lãnh đạo của Iraq Abdel Karim Kassem có thái độ thân Liên Xô, nên Mỹ
rất muốn thay thế chính quyền của viên tướng này và mọi việc được giao
cho CIA đảm trách. Năm 1963, CIA cho thành lập một trung tâm chỉ huy
tại Kuwait nhằm thông qua đảng Baath, thực hiện kế hoạch lật đổ Abdel
Karim Kassem. Ngày 8/2/1963 đảng Baath đứng đầu là "khối XHCN" do đảng
lập ra đã chiếm chính quyền ở Baghdad với sự hậu thuẫn mọi mặt và tích
cực của Mỹ, các thành viên đảng Baath do Abd al-Salam Aref đứng đầu.
Lịch sử Iraq lại thêm một trang đẫm máu và bi kịch. Chính quyền mới
được dựng lên ở Baghdad do Abd al-Salam Aref làm Tổng thống, Ahmad
Hasan al-Bakr làm Phó Tổng thống. Cả hai nhân vật này đều nổi tiếng có
chủ trương ủng hộ "chủ nghĩa dân tộc toàn Arab” do Tổng thống Ai Cập
Abdel Nasser để xướng. Tuy nhiên chính quyền của Abd al-Salam Aref chỉ
duy trì quyền lực được 9 tháng. Quyền lực của họ dần rơi vào tay những
người ngoài đảng Baath, vốn không có lập trường thân Mỹ. Những nhân vật
lãnh đạo không thuộc đảng Baath không có lập trường thân Mỹ đã dành
nhiều đặc ân về kinh tế cho Liên Xô và Pháp, làm cho Mỹ rất bất bình.
Những ngày đầu tiên sau cuộc chính biến, Saddam Hussein quay trở lại
Baghdad. Thời đó rất nhiều người Arab háo danh muốn trở thành sỹ quan
quân đội bởi đó là con đường tốt nhất để lập nghiệp và có một vị trí
trong xã hội. Saddam Hussein nhờ cá tính của mình đã có thể trở thành
một sỹ quan giỏi. Nhưng khi phân tích diễn biến tình hình đất nước, nơi
đã xảy ra chính biến quân sự đầu tiên trong thế giới Arab, ông khẳng
định rằng một chế độ quân sự không thể tạo nên một nhà nước hùng mạnh
và ổn định. Mô hình một nước Nga Xô Viết và nước Đức phát xít vững chắc
ở bên trong và xây dựng được quân đội hùng mạnh nhất thế giới dựa vào
chế độ một đảng ngày càng có sức thu hút đối với Saddam Hussein. Ông
nghiên cứu cặn kẽ kinh nghiệm của phong trào cộng sản, đặc biệt là
những vấn đề về cơ cấu tổ chức đảng, đi sâu phân tích phương pháp của
Stalin về việc thiết lập quyền kiểm soát đối với bộ máy của đảng và nhà
nước. Khác với Abdel Nasser, sự phi thường của Saddam Hussein không
phải là ảnh hưởng của ông đối với toàn thể sỹ quan mà là khả năng kiểm
soát bộ máy của đảng. Sức mạnh của Saddam Hussein chính là tài tổ chức
cho phép xây dựng một cơ cấu đảng chặt chẽ, lựa chọn, sắp xếp những
người trung thành, biết tuân lệnh biết tận dụng những quan hệ gia đình,
bộ lạc, tôn giáo, thị tộc và những mâu thuẫn.
Trong bài phát biểu của mình tại Đại hội toàn Arab lần thứ 6 của đảng
Baath diễn ra tại Damas tháng 10/1963, Saddam Hussein vốn là người dũng
cảm đã lớn tiếng chỉ trích hoạt động của Ali Salikh As-Saadi, Tổng Bí
thư đảng Baath từ năm 1960 và là người có uy tín lớn ở Iraq. Theo đề
nghị của Đại hội toàn thể Arập, Đại hội khu vực đảng Baath của Iraq
ngày 11/11/1963 đã bãi nhiệm As-Saadi khỏi chức vụ Tổng Bí thư. Hoạt
động của Saddam Hussein tại đại hội này có ý nghĩa quyết định đối với
sự nghiệp chính trị của ông, vì đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng
Michel Afliak - người sáng lập và Tổng bí thư của đảng. Từ tháng
10/1963 Saddam Hussein đã có quan hệ thân thiết và chặt chẽ với Michel
Afliak và mối quan hệ này chỉ chấm dứt sau khi Michel Afliak qua đời.
Sau đại hội này vài ngày, ngày 18/11, quân đội dưới sự lãnh đạo của
tướng Aref đã loại đảng Baath ra khỏi quyền lực. Thời gian đó, Saddam
Hussein bắt đầu thành lập một đảng bí mật mới. Saddam Hussein đã thành
công trong việc thuyết phục giới lãnh đạo cộng đồng Arab tin vào kế
hoạch của mình là đúng đắn: đó là phải cơ cấu lại tổ chức của đảng
Baath tại Iraq và chính họ đã thông qua quyết định thành lập ban lãnh
đạo mới của đảng Baath tại Iraq vào tháng 2/1964. Thành phần của ban
lãnh đạo mới này gồm có 5 người, trong đó có viên tướng nổi tiếng của
Iraq là Ahmed Hasan al-Bakr và Saddam Hussein thuộc ban lãnh đạo khu
vực của đảng Baath theo đề nghị của Afliak.
Trong điều kiện hoạt động bí mật và phức tạp như vậy các đảng viên của
đảng Baath dưới sự lãnh đạo của Saddam Hussein đã thất bại trong hai vụ
cướp chính quyền. Saddam Hussein bị bắt và bị giam trong xà lim.
Nhờ kế hoạch do al-Bakr đề ra, các đảng viên của đảng Baath, trong đó
có Saddam Hussein đã được giải thoát khỏi nhà tù. Tại đại hội khu vực
bí mật bất thường diễn ra tháng 10/1966 al-Bakr đã được bầu làm Tổng Bí
thư, còn Saddam Hussein được làm trợ lý. Saddam Hussein được giao nhiệm
vụ lãnh đạo một cơ quan đặc biệt của đảng là al- Jihad al-Has và mật
danh của cơ quan này là "Jihad Hanin". Đây là "con đẻ" của Saddam
Hussein và là bộ máy bí mật bao gồm những sỹ quan trung thành có nhiệm
vụ nghiên cứu những vấn đề về tình báo và phản gián.
Ngày 17/7/1968 Saddam Hussein chỉ huy một đơn vị quân đội chiếm phủ
tổng thống và đảng Baath thực hiện thành công vụ đảo chính, loại bỏ
được tướng Aref. Chính quyền tối cao rơi vào tay Hội đồng chỉ huy cách
mạng do al-Bakr đứng đầu. Tướng Ahmad Hasan al-Bakr, người có quan hệ
họ hàng với Saddam Hussein vừa là Tổng Bí thư của đảng Baath, Tổng
thống và Tổng chỉ huy tối cao, còn Saddam Hussein được làm Phó Tổng
thống, Phó chủ tịch Hội đồng chỉ huy tối cao phụ trách các vấn đề an
ninh nội địa.
Tình hình trong nước rất phức tạp, đặc biệt là vấn đề người Kurd. Tuyên
bố về quyền tự trị của người Kurd đã nhanh chóng được thông qua. "Mặt
trận các lực lượng yêu nước" được thành lập dưới sự bảo trợ của đảng
Baath. Điều đó đã nhanh chóng tác động sâu sắc đến tình hình chính trị
trong nước: ở phía Bắc, nơi người Kurd sinh sống, các hoạt động quân sự
chống quân đội chính phủ đã tạm ngừng.
Tháng 7/1970, theo sáng kiến của Saddam Hussein, đảng Baath đã đề ra
một loạt những điều kiện cho Ủy ban trung ương Đảng Cộng sản Iraq, nếu
muốn gia nhập Mặt trận tiến bộ dân tộc. Những điều kiện đó là "công
nhận vai trò lãnh đạo của đảng Baath trong chính phủ, các tổ chức quần
chúng và mặt trận", "công nhận sự tiến bộ mang tính lịch sử của cuộc
cách mạng 17/711968".
Tháng 7/1973, Hiến chương hành động quốc gia được Tổng thống al-Bakr ký
với tư cách là Tổng Bí thứ đảng Baath, còn Aziz Mohamed là Bí thứ thứ
nhất Ủy ban trung ương Đảng Cộng sản Iraq. Đảng Dân chủ của người Kurd
do mâu thuẫn nội bộ, nên đã tách thành hai đảng dân chủ. Sau đó Saddam
Hussein đã thành công trong việc phân chia Đảng Cộng sản Iraq và đảng
Dân chủ người Kurd, làm cho mâu thuẫn giữa họ tăng lên và cuối cùng ra
đòn quyết định loại bỏ những đối thủ chính trị chủ yếu của đảng Baath.
Với vai trò là phụ tá cho Tổng thống Ahmad Hasan al-Bakr, người thường
ốm yếu liên tục, Saddam Hussein dần dần thâu tóm quyền lực, tự mình đạo
diễn một chương trình cải cách lớn và lập ra bộ máy an ninh hùng mạnh.
Khi đã bắt đầu thâu tóm được quyền lực, Saddam Hussein cũng nhận thức
được mối nguy hiểm tiềm tàng từ phía Mỹ. Saddam Hussein biết rất rõ Mỹ
đã hai lần nhúng tay vào các cuộc đảo chính ở Iraq như thế nào. Saddam
Hussein lo ngại rằng có thể một ngày nào đó, Washington sẽ quay sang
giúp cho một thế lực khác để lật đổ chính quyền mà ông, với tư cách một
Phó Tổng thống đã dày công tạo dựng. Chính vì vậy, Saddam Hussein bắt
đầu tính chuyện tự bảo vệ cho mình và Iraq bằng cách đi tìm một thế lực
khác hỗ trợ.
Chỉ vài tuần sau vụ đảo chính 17/7/1968, Saddam Hussein đã có mặt tại
Matxcơva với mục đích tìm kiếm sự ủng hộ và mua vũ khí. Mối quan hệ
Iraq - Liên Xô qua đó trở nên thắm thiết với đỉnh cao là việc ký Hiệp
ước hữu nghị và hợp tác giữa hai nước năm 1972, thời điểm mà cuộc Chiến
tranh lạnh đang diễn ra gay gắt nhất.
Năm 1973, Baghdad tiến hành quốc hữu hoá Công ty dầu mỏ Iraq vốn được
thành lập từ thời chính quyền thực dân Anh chuyên bán dầu mỏ cho phương
Tây với giá rẻ mạt. Những khoản thu ngân sách từ nguồn dầu mỏ được
chính quyền đầu tư vào ngành công nghiệp, giáo dục và chăm sóc sức
khoẻ. Nhờ có xuất khẩu dầu mỏ, Iraq trở thành một trong những quốc gia
có mức sống cao trong thế giới Arập vào thập kỷ 70 của thế kỷ trước.
Đồng thời, Iraq cũng dùng tiền để xây dựng một lực lượng quân sự hùng
hậu có cả vũ khí huỷ diệt hoá học, sinh học và hạt nhân. Saddam Hussein
hiểu rõ rằng không thể thực hiện được những kế hoạch đầy tham vọng kia
nếu không có được sự ủng hộ của nhân dân cho cuộc cải cách kinh tế và
xã hội. Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách phải nâng cao đời
sống của nhân dân. Riêng Saddam Hussein ấp ủ nguyện vọng muốn thay đổi
hình ảnh của mình từ một con người mạnh mẽ, nổi tiếng là hung bạo và
tàn nhẫn bằng hình ảnh của một nhà lãnh đạo của nhân dân được ca ngợi,
tán dương và thán phục.
Mặt khác, để củng cố vị trí và vai trò của mình trong đảng Baath và
trong chính quyền, Saddam Hussein đã tăng quyền lực cho "Jihad Hanin".
Saddam Hussein sử dụng cơ quan này không chỉ nhằm loại trừ những cá
nhân hoặc phe nhóm nào đe dọa đến sự thống trị của đảng Baath từ bên
ngoài, mà còn tiêu diệt nhiều phe cánh từ bên trong đảng Baath, siết
chặt hàng ngũ của đảng bằng bàn tay sắt trên cơ sở cùng chí hướng. Một
trong những nhiệm vụ chính của đảng Baath do Saddam Hussein đề ra là
thiết lập sự kiểm soát hoàn toàn về tư tưởng và hành chính đối với quân
đội. Các học viện và cao đẳng quân sự chỉ tiếp nhận các đảng viên của
đảng Baath, còn các chức vụ cao trong đảng và quân đội chỉ dành riêng
cho những sỹ quan có quan hệ thân thiết với Saddam Hussein và những
người thân quê hương Tirkit. Saddam Hussein chủ trương chuyển sang hệ
thống một đảng và loại bỏ dần các quan chức quân sự thuộc phe cánh của
vị tướng già, Tổng Bí thứ đảng Baath al-Bakr ra khỏi đảng. Chính chủ
trương đó đã đưa Saddam Hussein, một người trẻ hơn al-Bakr 25 tuổi vươn
lên nắm quyền bính. Đến năm 1977, các tổ chức đảng ở cấp quận, huyện,
các cơ quan đặc biệt, ban chỉ huy quân sự và các bộ trưởng đã phải báo
cáo trực tiếp với Saddam Hussein. Trong khi đó chủ nghĩa toàn Baath đã
xâm nhập vào toàn bộ cơ cấu, bộ máy nhà nước, chính quyền, các tổ chức
xã hội, quần chúng. Và "Jihad Hanin" đã vươn những "xúc tu” của mình
vào khắp xã hội.
Năm 1974, người Kurd ở miền Bắc Iraq nổi dậy. Họ nhận được sự hỗ trợ
của chính quyền thân Mỹ ở Iran. Cuộc xung đột này buộc Baghdad phải
ngồi vào bàn đàm phán với Tehran. Iraq đồng ý chia sẻ quyền kiểm soát
con đường huyết mạch Shatt al-Arab đang gây tranh cãi với Iran. Đổi lại
Tehran cắt viện trợ cho lực lượng chống đối người Kurd, tạo điều kiện
để Baghdad giải quyết cuộc nổi dậy. Tất cả những quyết định quan trọng
này của Baghdad đều có bàn tay tham gia của Saddam Hussein với vai trò
Phó Tổng thống. Sau khi ký kết hiệp định với Iran năm 1975, Saddam
Hussein áp dụng chính sách "toàn người Baath" đối với các tộc người
thiểu số, trước hết là người Kurd được kết hợp với chính sách "Arab
hoá" bằng vũ lực. Chính vì vậy, từ năm 1975 - 1978, có khoảng 380 nghìn
người Kurd đã bị trục xuất khỏi khu vực Kurdistan.
Tháng 5/1978, 31 đảng viên cộng sản và những người ủng hộ họ bị kết án
tử hình vì bị buộc tội xây dựng cơ sở cộng sản trong quân đội. Saddam
Hussein tuyên bố những người cộng sản là "điệp viên nước ngoài", là
"những kẻ phản bội Tổ quốc Iraq", sau đó bắt giữ những đại diện của
Đảng Cộng sản và cấm đảng này hoạt động. Đảng Cộng sản Iraq phải rút
vào hoạt động bí mật. Từ thời điểm này Iraq trở thành nước có chế độ
một đảng, đảng Baath cầm quyền. Saddam Hussein thẳng tay đàn áp và
trừng phạt những kẻ thù bên ngoài cũng như những đồng nghiệp cạnh tranh
với mình trong đảng. Saddam Hussein cho rằng thời của "lãnh tụ cha
al-Bakr" đã chấm dứt và vị trí đó đã đến lúc nhường lại cho "người con"
là Saddam Hussein kế nhiệm.
Saddam Hussein được các nhà nghiên cứu đánh giá là một chính trị gia am
hiểu sâu sắc tình hình, lịch sử và xã hội Iraq. Điều đó đã hỗ trợ đắc
lực cho ông trong quá trình củng cố quyền lực cá nhân. Con bài quan
trọng của Saddam Hussein là việc dần dần tìm cách đưa những người có
quan hệ họ hàng hoặc cùng bộ tộc nắm các vị trí quan trọng trong các cơ
quan quân sự và an ninh. Đồng thời, Saddam Hussein cũng tiến hành thăm
dò động thái trong nước và quốc tế một cách âm thầm và cẩn thận, trước
khi thực hiện bước đi quyết định để nắm trọn quyền hành ở đất nước
nhiều dầu mỏ này.
Trước khi chiến tranh Iran - Iraq nổ ra, tháng 7/1979, Phó Tổng thống
Iraq Saddam Hussein đã thực hiện chuyến công du tới một số nước Arab
thân Mỹ. Động thái này được coi là phép thử nghiệm của ông ta đối với
thái độ của Washington một khi Iraq tấn công Iran, cũng như phản ứng
của họ, nếu ông thay thế Ahmed Hasan al-Bakr lên làm tổng thống Iraq.
Kết quả là Saddam Hussein đã giành được sự ủng hộ nhiệt liệt của cả
Arab Saudi và Kuwait trong việc phát động chiến tranh chống Iran.
Thấy tình thế thuận lợi, cuối năm 1979, Saddam Hussein đã chính thức
thay thế Ahmed Hassan al-Bakr lên làm tổng thống Iraq, thông qua phương
thức mà báo chí và các học giả phương Tây gọi là "một cuộc đảo chính êm
thấm". Ngày 16/7/1979, Tổng thống Ahmed Hassan al-Bakr xuất hiện trên
vô tuyến truyền hình: vẻ mặt nghiêm trọng, ông thông báo với người dân
Iraq việc ông rút lui khỏi đời sống chính trị và chuyển giao quyền lực
cho rafiq ("đồng chí") Saddam Hussein. Vị tổng thống già nua đã viện
những lý do cá nhân để giải thích quyết định đột ngột của mình. Không
ai bị lừa. Từ lâu Ahmed Hassan al-Bakr đã bị lệ thuộc vào Saddam
Hussein, người nắm quyền lực thực sự, hoàn toàn thao túng đảng Baath và
bộ máy an ninh. Trò đã vượt qua thầy.
Việc Saddam Hussein lên nắm quyền là một bước ngoặt quyết định đối với
chế độ Iraq, từ nay thu hẹp lại thành một nền chuyên chế, độc tài, cá
nhân. Saddam Hussein cùng người anh em cùng cha khác mẹ là Barzan hỗ
trợ đã tiến hành những cuộc thanh lọc triệt để nhằm loại bỏ những người
không ăn cánh trong đảng Baath và cả ngoài đảng. Từ nay chỉ còn một
tiếng nói duy nhất trong đảng, đó là tiếng nói của Saddam Hussein.
Những ai dường như có thể ngăn cản ông ta trên con đường thăng tiến đều
bị truy bức ráo riết. Saddam Hussein rất tâm đắc với câu châm ngôn:
"Lắm người, lắm kẻ gây chuyện, hết người hết kẻ gây chuyện".
Tân Tổng thống Iraq Saddam Hussein đã cho áp dụng một loạt các biện
pháp an ninh cứng rắn nhằm củng cố quyền lực mới giành được. Sau khi
trở thành tổng thống Iraq, Saddam Hussein ngày càng nói nhiều đến sứ
mạng đặc biệt của Iraq trong thế giới Arab và "thế giới thứ ba". Tại
Hội nghị các nước không liên kết tổ chức tại La Habana năm 1979, Tổng
thống Saddam Hussein đã hứa cho các nước đang phát triển vay gần 4 tỷ
USD nợ dài hạn lãi suất 0%, chính vì thế Saddam Hussein đã được những
người tham dự hội nghị tán dương và ca tụng hết lời. Chiến tranh Iran - Iraq (1980 - 1988)
Để khẳng định Iraq là cường quốc dẫn đầu trong khu vực, khẳng định vai
trò của bản thân như "Hiệp sỹ của các dân tộc Arab", "Thanh gươm của
người Arab" và thôn tính tỉnh Kudistan đầy dầu lửa và thiết lập sự kiểm
soát hoàn toàn đối với đường ống nước Satt Al-Arab, Saddam Hussein đã
lên kế hoạch quân sự quy mô lớn tấn công nước láng giềng Iran. Lên kế
hoạch cho "chiến dịch Iran" của mình, Saddam Hussein cũng tính tới thái
độ của Mỹ, nước phản đối kịch liệt cuộc cách mạng Hồi giáo ở Iran năm
1979 dẫn tới sự sụp đổ của Quốc vương Palehvi thân Mỹ. Chính vì vậy Mỹ
đã cổ vũ mạnh mẽ cho Saddam Hussein tấn công xâm chiếm Iran với phương
châm "Tọa sơn quan hổ đấu”, bởi thực chất Mỹ cũng chẳng ưa gì chế độ
độc tài của Saddam Hussein.
Ngày 22/9/1980, quân đội Iraq bất ngờ mở cuộc tấn công quân sự vào lãnh
thổ Iran. Ban đầu Tổng thống Saddam Hussein nhận định rằng cuộc chiến
này sẽ kết thúc chóng vánh với thắng lợi vang dội, vì có sự hậu thuẫn
của các nước phương Tây, cũng như một số nước Arab trong khu vực. Tuy
nhiên, nhà lãnh đạo Iran Khomeini đã chứng tỏ mình là đối thủ không dễ
gì khuất phục. Ông cũng có quyết tâm bảo toàn quyền lực và vị trí của
Iran không kém gì Tổng thống Iraq Saddam Hussein.
Có thể nói cuộc chiến tranh Iran - Iraq huynh đệ tương tàn kéo dài 8
năm của những người anh em Arab chẳng những không mang lại lợi lộc gì
mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng cho cả hai phía. Hơn nữa, các nước
phương Tây, đặc biệt là Mỹ lại rất muốn cuộc chiến tranh Iran - Iraq
nhùng nhằng càng lâu càng tốt để có cơ hội bán vũ khí kiếm lời. Với
những lý do đó, cuộc chiến tranh Iran - Iraq kéo dài đến 8 năm cướp đi
sinh mạng của gần 1 triệu người và 2 triệu người thương tật cho cả hai
phía, biến vùng dầu lửa vịnh Persian thành "chảo lửa chính trị" của thế
giới. Cuộc chiến tranh này đã tiêu tốn của Iraq hàng trăm tỷ USD. Iran
còn phải chấp nhận Nghị quyết 598 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc năm
1988. Trong khi đó Iraq tự coi mình là người chiến thắng.
Mặc dù cuộc chiến tranh với Iran kết thúc năm 1988 đã đẩy Iraq rơi vào
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về chính trị, người Kurd ở miền Bắc và
người Iraq theo dòng Hồi giáo Shiite ở miền Nam đồng loạt nổi dậy.
Nhưng sau chiến tranh Iran - Iraq, tệ sùng bái cá nhân Saddam Hussein
trở nên hết sức phổ biến. Saddam Hussein trở thành "Anh hùng giải phóng
dân tộc" kế tục sự nghiệp lịch sử và làm sống lại vinh quang của nhà
nước Iraq cổ xưa.
Chiến tranh vùng Vịnh (1990 - 1991)
Sau cuộc chiến tranh với Iran, Saddam Hussein quyết định nhanh chóng
trang bị cho quân đội những vũ khí hiện đại và phát triển ngành công
nghiệp quân sự. Nhờ thế, chỉ 2 năm sau chiến tranh, Saddam Hussein đã
xây dựng được một bộ máy chiến tranh lớn mạnh nhất vùng Đông Arab. Quân
đội Iraq với quân số gần 1 triệu người được trang bị những vũ khí hiện
đại đã nằm trong tốp dẫn đầu thế giới. Saddam Hussein còn sử dụng bộ
máy tuyên truyền lớn mạnh của Iraq rùm beng về cái gọi là "sự bao vây
thù địch" nhằm không để cho "Iraq có quyền bình đẳng với Israel".
Trong thời điểm này, Mỹ ngày càng có thái độ chỉ trích đối với Saddam
Hussein xung quanh vấn đề người Kurd. Điều đó đồng nghĩa với việc tổng
hành dinh của CIA đặt tại Kuwait, nơi từng được coi là hậu phương của
Tổng thống Saddam Hussein, nay trở thành quả bom nổ chậm đối với ông.
Mang theo mối lo ngại về cơ quan này và vì những lý do kinh tế khác,
ngày 2/8/1990, Tổng thống Saddam Hussein đã ra lệnh cho quân đội Iraq
tràn vào lãnh thổ Kuwait.
Sở dĩ Saddam Hussein tấn công Kuwait là do nguồn gốc sâu xa tranh chấp
lãnh thổ của Iraq với Kuwait. Viện cớ có một thời kỳ (1546 - 1759)
Kuwait nằm dưới sự quản lý của đế quốc Ottoman và là một bộ phận của
Iraq, nên khi Kuwait được độc lập (năm 1961), Iraq không thừa nhận
Kuwait. Tuy năm 1963 Iraq đã công nhận Kuwait, nhưng những người lãnh
đạo vẫn đòi chủ quyền đối với Kuwait.
Nguyên nhân trực tiếp là những khó khăn về kinh tế sau chiến tranh với
Iran (thiệt hại khoảng 400 tỷ USD) và thiệt hại do giá dầu của Kuwait
và Các tiểu vương quốc Arập sản xuất vượt quá quota quy định làm cho
giá dầu hạ từ 18 USD/thùng xuống còn 14 USD/thùng. Theo Iraq với giá
dầu đó Iraq đã thiệt hại khoảng 89 tỷ USD. Ngoài ra, Iraq còn tố cáo
Kuwait khai thác trộm dầu của Iraq trị giá 2,4 tỷ USD ở vùng Rumala
thuộc biên giới tranh chấp giữa hai nước.
Liên quân do Mỹ đứng đầu đã vào lãnh thổ Kuwait và tấn công quân đội
Iraq và ngày 24/2/1991 đã giải phóng được Kuwait. Tổng thống Saddam
Hussein đã bị thất bại nhục nhã trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh. Tuy
vậy, ông Saddam Hussein vẫn giữ nguyên vai trò là người lãnh đạo tối
cao của Iraq.
Saddam Hussein đã mắc sai lầm lớn về chiến lược và chiến thuật trong
việc thôn tính Kuwait khi không đánh giá hết những thay đổi diễn ra ở
Liên Xô và trong thế giới Arab. Bên cạnh đó, phương Tây không thể ngồi
yên nhìn Iraq chiếm lấy Tiểu vương quốc nhỏ bé nhưng giầu tài nguyên
này. Bởi đó là đánh mạnh vào những lợi ích thiết thực của họ: dầu mỏ và
khí đốt của Kuwait rẻ và đây là chế độ thân phương Tây. Hơn nữa, khi
được ra tối hậu thư ngày 15/1/1991 hoặc là rút quân hoặc là chiến
tranh, Saddam Hussein đã chọn con đường thứ hai, mặc dù biết rõ "lực
lượng đa quốc gia" đứng đầu là Mỹ vượt trội hoàn toàn so với Iraq. Theo
ước tính thiệt hại của Iraq chỉ trong 6 tuần chiến dịch "Bão táp sa
mạc” cũng không thua kém gì so với chiến tranh 8 năm với Iran. Tuy
nhiên, sự lựa chọn này lại mang lại sự nổi tiếng cho vị chính khách
hiếu chiến, đầy bí ẩn và khó hiểu này.
|