|
Tranh luận về sự bình đẳng của các tiểu bang tại Quốc hội
Từ ngày 28 tháng Sáu đến ngày 2 tháng Bảy
Quyền đại diện là vấn đề rất nan giải trong quá trình thảo luận bởi mẫu
thuẫn quá lớn giữa các bang lớn và nhỏ. Đây là điểm gây bất đồng lớn
nhất và là cuộc tranh luận căng thẳng nhất tại Hội nghị. Trong khi các
bang lớn khăng khăng đòi đại diện theo dân số, thì các bang nhỏ lại đòi
sự bình đẳng.
Hội nghị Lập hiến đã thảo luận về vấn đề quyền đại diện từ ngày 27
tháng Sáu đến tận ngày 2 tháng Bảy, nhưng cũng chưa dứt điểm hoàn toàn.
Vì sự bất đồng này mà Hội nghị gần như đứng trước ngưỡng cửa tan rã,
buộc các đại biểu phải đề xuất một Ủy ban hòa giải. Nhận thấy những
cuộc tranh luận này rất quan trọng trong Hội nghị Lập hiến, nên tôi
chọn giới thiệu khá đầy đủ, dù không phải toàn bộ.
Ngày 28 tháng Sáu: Điều khoản thứ 6 "quyền bỏ phiếu tại Hạ viện sẽ căn cứ vào số dân" được đưa ra thảo luận.
Ngài L. MARTIN: Lại tiếp tục bài phát biểu đang bỏ dở hôm qua, kiên
quyết khẳng định rằng chính quyền liên bang được hình thành là vì các
tiểu bang, chứ không phải vì cá nhân dân chúng. Vì thế, nếu các tiểu
bang đại diện theo tỷ lệ dân số, thì dù những đại biểu này được cơ quan
lập pháp tiểu bang hay dân chúng bầu chọn, cũng chẳng khác gì nhau. Các
bang nhỏ sẽ bị nô lệ hóa và phụ thuộc vào các bang lớn.
Nếu các bang lớn có cùng lợi ích như các bang nhỏ, việc cho mọi tiểu
bang quyền bỏ phiếu bình đẳng sẽ chẳng gây mối nguy hiểm nào. Họ sẽ
không làm tổn hại bản thân mình và nếu không làm hại chính mình, thì
cũng không làm hại các bang lớn. Nhưng nếu những lợi ích đó trái ngược
nhau thì sự bất bình đẳng về quyền bỏ phiếu sẽ gây nguy hiểm cho các
bang nhỏ.
Như vậy, việc đề xuất bất cứ kế hoạch nào xúc phạm các bang nhỏ đều vô
ích, vì chắc chắn viên chức chính quyền các bang nhỏ sẽ sử dụng ảnh
hưởng của mình để ngăn cản dân chúng chấp thuận mô hình này. Hiện nay,
các bang lớn, nhưng quyền bỏ phiếu lại không tương xứng với qui mô to
lớn của mình, chỉ có cách chèn ép các bang nhỏ nhờ sức mạnh trong lá
phiếu của họ.
Nếu Liên minh giải tán thì các bang nhỏ chẳng có gì phải e sợ sức mạnh
của các bang lớn. Nếu ba bang lớn nhất liên minh với nhau thì 10 bang
nhỏ còn lại cũng sẽ làm như vậy. Ông thà ủng hộ mô hình nhiều hợp bang
nhỏ, còn hơn tán thành một Nhà nước Liên bang bỏ phiếu theo số dân như
thế này.
Ngài LANSING và Ngài DAYTON: Đề nghị viết rằng: "quyền bỏ phiếu tại Hạ
viện sẽ căn cứ vào qui định đã được Các điều khoản Hợp bang thiết lập".
Ngài DAYTON: Lo ngại rằng vấn đề này sẽ không thể giải quyết cho tới tận ngày mai.
Ngài WILLIAMSON: Nghĩ rằng nếu chính trị giống như toán học, thì sẽ
chia lại các tiểu bang thành những lãnh thổ bằng nhau để họ sẽ có quyền
hạn như nhau. Ông không thể hình dung được các bang nhỏ sẽ bị thiệt hại
thế nào nếu qui định quyền bầu cử theo số dân. Mọi đại biểu cần nỗ lực
hết sức để tìm giải pháp cho vấn đề này.
Nếu các bang nhỏ giành được đa số phiếu, họ đều muốn chất mọi gánh nặng
nợ nần trên đôi vai của họ sang đôi vai của những bang lớn. Các đại
biểu nên nhớ rằng rồi đây sẽ có thêm những tiểu bang mới ở miền Tây gia
nhập liên minh. Đó sẽ là những bang nhỏ và là những bang nghèo. Họ sẽ
không thể thanh toán các khoản thuế đóng góp theo qui mô dân số được.
Khoảng cách xa xôi của họ với thị trường làm cho hàng hóa của họ trở
nên rẻ mạt. Do vậy, họ sẽ kết hợp lại với nhau đặt ra những khoản thuế
thương mại và các khoản chi phí lớn nhất lên vai các tiểu bang cũ.
Ngài MADISON: Sẵn sàng tán thành bất cứ giải pháp nào không đi ngược
lại những nguyên tắc cơ bản [các nguyên tắc cộng hòa và dân chủ-ND],
nhưng giải quyết được mọi trở ngại về quyền đại diện. Nhưng ông không
tin việc đòi hỏi quyền đại diện bình đẳng đó là công bằng và cũng chẳng
phải vì sự cần thiết đảm bảo an toàn cho các bang nhỏ chống lại các
bang lớn.
Bản thân các Ngài Breerly và Paterson cũng thừa nhận rằng đòi hỏi đó là
không công bằng. Sự ngụy biện rút ra từ sự bình đẳng của các chủ quyền
tiểu bang trong việc hình thành những thỏa ước là việc nhầm lẫn giữa
những Hiệp ước, qui định bổn phận của các bên phải thực hiện với một
thỏa thuận thiết lập uy quyền tối cao cho tất cả các bên để ban hành
luật lệ cho họ.
Nếu Pháp, Tây Ban Nha và Anh ký kết một hiệp định thương mại với Công
quốc Monaco, hay với những vương quốc nhỏ nhất ở châu Âu, họ sẽ không
do dự đối xử bình đẳng với các vương quốc này. Nhưng việc thiết lập
những hội đồng gồm những đại biểu để thu thuế, phát hành tiền, thiết
lập quân đội, qui định giá trị của tiền bạc… có thể làm như vậy không?
Liệu 30 hay 40 triệu người sẽ trao nộp tài sản của họ vào tay của vài
ngàn người chăng? Nếu họ làm như vậy là vì họ tin vào sức mạnh và uy
quyền vượt trội của mình [so với các tiểu quốc bé nhỏ kia], chứ không
phải do nỗi sợ hãi tính ích kỷ và hám lợi của những người đồng bào muốn
cướp đoạt tài sản của họ.
Tại sao các quận của cùng một tiểu bang lại đại diện theo qui mô dân
số? Liệu có phải vì những người đại diện này là được bầu chọn trực tiếp
từ dân chúng chăng? Vậy thì việc đại diện tại cơ quan lập pháp liên
bang cũng phải như vậy, vì các bang lớn phải gánh chịu nhiều đóng góp
hơn các bang nhỏ.
…
Không cần thiết phải có những đảm bảo cho các bang nhỏ chống lại các
bang lớn. Liệu các bang lớn sẽ hợp sức với nhau như các Ngài lo sợ
chăng? Động cơ hợp tác của các bang lớn như Virginia, Massachusetts và
Pennsylvania là phải có một lợi ích chung khác với lợi ích của các bang
nhỏ khác, hay lợi ích đó chỉ thuần tuý xuất phát từ sự tương đồng về
lãnh thổ rộng lớn?
Liệu có bất kỳ lợi ích chung nào tồn tại giữa các bang lớn không? Về vị trí, họ không thể khác biệt nhau hơn được nữa.
Về cách sống và phong tục tập quán, tôn giáo và các yếu tố khác, đôi
khi sinh ra sự tương hợp và tình cảm giữa những cộng đồng khác nhau,
nhưng các bang lớn này cũng chẳng giống nhau hơn các bang nhỏ khác.
Về các hàng hóa sản xuất trong liên minh, thì ba tiểu bang này cũng
khác nhau như bất cứ ba tiểu bang nào khác. Hàng hóa của Massachusetts
là cá, của Pennsylvania là bột mì, của Virginia là thuốc lá. Liệu các
bang lớn sẽ kết hợp với nhau như thế nào từ hoàn cảnh này?
Kinh nghiệm cho thấy không có mối nguy hiểm nào như vậy cả. Các ghi
chép của Quốc hội Hợp bang chứng tỏ rằng chưa bao giờ, ba tiểu bang này
hợp tác bỏ phiếu riêng rẽ về cùng một vấn đề. Các quận khác nhau của
cùng một tiểu bang, tương đồng về qui mô, nhưng khác nhau về điều kiện
địa lý và sản xuất, cũng chưa bao giờ đi theo hướng kết hợp như vậy.
Thực tiễn đã dạy một bài học ngược lại. Những cá nhân xuất chúng và có
quyền thế trong xã hội thường đối địch và hiềm khích hơn là liên minh
với nhau. Lịch sử các quốc gia độc lập, ưu việt hơn các nước láng
giềng, cũng khẳng định nhận xét này.
Carthage và La Mã đánh nhau để rồi Carthage bị chia cắt thành những
mảnh nhỏ, chứ không thống nhất sức mạnh để ăn sống, nuốt tươi những
quốc gia yếu hơn. Nghị viện Áo và Pháp nuôi mối thù địch trong suốt
thời gian họ là những cường quốc ở châu Âu. Sau đó, Anh và Pháp trở
thành cường quốc và cũng thù địch nhau. Nền độc lập và tự do của chúng
ta giành được chính là nhờ sự đối địch này . Một liên minh giữa các
cường quốc đó sẽ thực sự là mối hiểm họa chí tử đối với chúng ta.
Trong những thành viên chủ chốt của các Hợp bang cổ xưa và hiện đại,
chúng ta cũng tìm thấy cùng hiện tượng và cùng động cơ đó. Sự tranh
chấp chứ không phải đoàn kết giữa Sparta, Athens và Thebes , là mối tai
họa cho các thành bang nhỏ hơn trong Liên minh Amphyctionic.
Sự tranh chấp chứ không phải hợp tác giữa Phổ và Áo đã tàn phá Đế chế
Đức. Liệu các bang lớn, nếu tồn tại riêng rẽ, có nguy hiểm đối với các
nước láng giềng nhỏ bé không? Về giả thiết này, các nước nhỏ chắc hẳn
phải mong ước một chính quyền chung đối xử với họ bình đẳng như các
nước lớn.
Thể chế càng lỏng lẻo thì các nước lớn càng tự do chèn ép và áp đặt các
nước nhỏ bằng ưu thế quân đội của mình. Về điểm này, kinh nghiệm lại là
con đường chỉ dẫn cho chúng ta. Đâu là tình thế của kẻ yếu so với kẻ
mạnh trong những giai đoạn văn minh của loài người, nơi chính quyền
không thể kiểm soát hiệu quả những bạo lực cá nhân? Giai đoạn Heroic
của thế giới Hy Lạp cổ đại, thời kỳ phong kiến trung cổ lộn xộn ở châu
Âu, tình trạng mạn rợ của dân Da Đỏ đang tồn tại ở nước Mỹ, đã trả lời
câu hỏi này.
Đâu là vị thế của những quốc gia nhỏ trong một liên minh vĩ đại của các
quốc gia độc lập, nơi những kẻ mạnh chẳng chịu sự kiểm soát nào ngoài
những qui định mang tính hình thức của luật pháp giữa các quốc gia? Rõ
ràng là những nước càng yếu sẽ càng phải chịu nhiều nguy hiểm. Nhưng
vẫn còn nhiều ví dụ về điểm này. Đâu là vị thế của những kẻ yếu hơn
trong Liên minh Amphyctionic của nhà nước Hy Lạp cổ đại?
Plutarch trong câu chuyện về cuộc đời của Themistocles đã kể cho chúng
ta nghe điều thường xảy ra là các thành phố mạnh nhất tấn công và làm
các thành phố nhỏ kinh sợ và việc xét xử chỉ ưu đãi những kẻ mạnh. Đâu
là vị thế của các nước nhỏ trong Hợp bang Đức? Chúng ta đều biết họ
giẫm đạp và chèn ép nhau quá mức, và họ chỉ an toàn nếu tấn công nhau.
Một số tiểu quốc phải chấp nhận chịu sự sai khiến và chèn ép từ các
tiểu quốc láng giềng mạnh hơn. Một số khác lại tìm cách liên minh với
các quốc gia khác. Một quốc gia sẽ thế nào, nếu tham gia một liên minh
lỏng lẻo như Liên minh Hà Lan ? Vương quốc Hà Lan chiếm khoảng một nửa
dân số, đóng góp khoảng một nửa số tiền bạc và nhờ ảnh hưởng của mình,
gián tiếp điều hành toàn bộ hoạt động của Liên minh Hà Lan.
Tóm lại, chúng ta chỉ có hai thái cực phải chọn lựa, một là một sự tách
biệt hoàn toàn và hai là sự hợp tác hoàn toàn của 13 tiểu bang. Trong
trường hợp thứ nhất, chúng ta sẽ trở thành các quốc gia độc lập chẳng
tuân theo luật nào ngoài các đạo luật giữa các quốc gia với nhau. Thứ
hai, và là giải pháp cuối cùng, chúng ta chỉ là những quận, huyện của
một Nhà nước Cộng hòa duy nhất, cùng chịu một pháp luật chung. Trong
trường hợp thứ nhất, các bang nhỏ phải sợ mọi điều từ các bang lớn.
Trong trường hợp sau, họ chẳng có gì phải lo ngại cả.
Vì thế, giải pháp thực sự của các bang nhỏ là thúc đẩy những nguyên lý
này để hình thành một chính quyền phù hợp nhất đối với các bang. Hơn
nữa, nếu chính quyền trung ương yếu kém, các bang nhỏ sẽ mất niềm tin
vào sự tồn tại của liên bang và biết rằng vai trò, tầm quan trọng và sự
an toàn của mình đều tùy thuộc vào qui mô và sức mạnh của chính họ. Vì
thế, họ sẽ chẳng bao giờ chấp nhận sự giải tán.
Bằng việc trao cho chính quyền trung ương những quyền hạn cần thiết và
lâu dài, các Ngài sẽ loại bỏ nguy cơ này. Mong ước của các bang nhỏ
hiện nay là sự chia rẽ của các bang lớn và sự hợp nhất của các bang nhỏ
dần dần sẽ xảy ra, nhưng thời điểm mang lại sự bình đẳng giữa các tiểu
bang có thể sẽ không bao giờ đạt được.
…
Ngài SHERMAN: Vấn đề không phải là con người có những quyền tự nhiên
nào mà là những quyền đó được xã hội bảo đảm như thế nào. Nếu một số
người chấp nhận trao nộp một số quyền nhiều hơn những người khác để đạt
được mục đích thì không cần phải tranh cãi làm gì. Nhưng nếu tất cả mọi người đều đòi sự bình đẳng, thì chắc chắn sẽ gây
nguy hiểm cho quyền của một số người. Người giàu cũng tham gia vào xã
hội cùng với người nghèo, nhưng họ phải trao nộp nhiều hơn người nghèo
dù với một lá phiếu bình đẳng, người giàu vẫn được an toàn.
Nhưng nếu người giàu lại có nhiều lá phiếu hơn người nghèo, căn cứ vào
tài sản của mình, thì ngay lập tức, số phận và quyền lợi của người
nghèo sẽ bị nguy hiểm. Đó là quan điểm chủ đạo để hình thành nên Các
điều khoản Hợp bang.
Khi cuộc tranh luận về vấn đề đại diện trở nên rất căng thẳng mà không
đi đến sự nhất trí nào, Hội nghị dường như đứng trước thế bế tắc và tan
vỡ. Franklin, người đại biểu cao tuổi nhất, nhà học giả uyên thâm nhất
nước Mỹ, đã viết một bức thư dài với phong cách rất đặc trưng của ông,
bằng những lời lẽ triết lý cao xa, viện dẫn đến Thượng đế để soi sáng
cho quá trình thảo luận. Ông viết:
Thưa Ngài Chủ tịch Hội nghị,
Trong suốt bốn, năm tuần qua, những gì chúng ta thu được là rất ít ỏi.
Chúng ta tiếp tục tranh cãi và hầu như bất đồng ý kiến về mọi vấn đề.
Số người tán thành những vấn đề vừa đưa ra cũng bằng số người chống
lại. Đó là minh chứng xác đáng rằng trí thông minh của con người không
thể hoàn hảo. Chúng ta đều thấy bản thân mình thiếu khôn ngoan và thiếu
kiến thức chính trị, bởi chúng ta đang lần mò tìm kiếm nó.
Chúng ta đã lần trở lại lịch sử của những mô hình chính quyền cổ xưa,
rồi khảo sát mô hình các Nhà nước Cộng hòa, nhưng ngay khi vừa được
thiết lập đã chứa đựng trong lòng những mầm mống của sự tan rã. Rồi
chúng ta lại xem xét mọi nhà nước hiện đại ở châu Âu, nhưng chẳng thấy
mô hình nào phù hợp với hoàn cảnh của chúng ta.
Tình trạng hiện nay của Hội nghị là dò dẫm trong bóng tối để kiếm tìm
chân lý chính trị, nhưng hầu như không đủ khả năng nhận ra nó. Thưa các
Ngài, tại sao từ trước tới nay, chúng ta không nghĩ tới việc thành kính
cầu khẩn Thượng đế soi sáng cho chúng ta? Vào buổi đầu của cuộc chiến
tranh với người Anh, khi chúng ta lo lắng về những hiểm nguy, hàng
ngày, trong căn phòng này, chúng ta đều cầu nguyện Thượng đế phù hộ cho
chúng ta. Những lời cầu nguyện của chúng ta đã được Thượng đế nghe thấy
và rồi chúng ta được ban ơn.
Chính nhờ sự ban ơn của Thượng đế mà hôm nay, chúng ta mới có cơ hội
gặp nhau trong cảnh thanh bình để tìm kiếm những biện pháp thiết lập
một chính quyền, để mang lại hạnh phúc cho tương lai và con cháu chúng
ta. Chẳng lẽ bây giờ, chúng ta lại lãng quên Thượng đế hay sao? Hay
chúng ta không cần đến sự cứu giúp của Thượng đế nữa?
Thưa các Ngài, tôi đã sống đủ lâu và càng ngày tôi càng tin vào sự thật
rằng Thượng đế cai quản mọi hoạt động của con người. Nếu một con chim
sẻ không rơi xuống đất nếu không có ý muốn của Thượng đế thì một đế chế
không thể vững mạnh nếu không được Người cứu giúp.
Tôi tin rằng nếu không có sự phù hộ của Thượng đế thì việc chúng ta xây
dựng một ngôi nhà chính trị chẳng khác gì những người xây dựng tháp
Babel . Chúng ta sẽ chia rẽ bởi những lợi ích địa phương nhỏ mọn. Kế
hoạch của chúng ta hỗn loạn, còn bản thân chúng ta sẽ bị những thế hệ
mai sau khinh thường. Rồi còn gì tồi tệ hơn được nữa? Kể từ đây, loài
người sẽ bất hạnh và tuyệt vọng vì không thể thiết lập được một chính
quyền bằng chính sự khôn ngoan và kiến thức của loài người mà buộc phải
phó mặc cho sự may rủi, cho chiến tranh và cho bạo lực.
Chính vì những lý do đó, tôi cầu xin rằng từ giờ trở đi, chúng ta hãy
cầu nguyện Thượng đế ban phước lành cho chúng ta, ban phước lành cho
những cuộc thảo luận của chúng ta. Vào mỗi buổi sáng, tại căn phòng
này, sẽ có một hay nhiều vị mục sư của thành phố tới cầu nguyện…
Ngài SHERMAN: Tán thành ý kiến này.
Ngài HAMILTON và nhiều đại biểu khác lo sợ rằng lẽ ra điều này cần bắt
đầu ngay khi Hội nghị khai mạc, còn bây giờ đã quá muộn. Nếu bây giờ
tiến hành thì thứ nhất, sẽ gây ra những lời chỉ trích và thứ hai, sẽ
làm cho dân chúng nghĩ rằng Hội nghị đang bế tắc và bất đồng nên mới
phải tiến hành cầu nguyện…
Ngài WILLIAMSON: Chúng ta không nền nhầm lẫn về nguyên nhân thực sự của
tình trạng bế tắc này. Hơn nữa, Hội nghị không có tiền để thuê mục sư
tới cầu nguyện.
…
Ngày 29 tháng Sáu:
Ngài JOHNSON: Sự tranh cãi sẽ không bao giờ chấm dứt khi các quý ngài
khác nhau về nền tảng tranh luận. Một mặt, nhiều người coi các tiểu
bang như các quận cấu thành nên một xã hội chính trị, nhưng nhiều người
khác coi đó như những xã hội chính trị độc lập. Sự thật là các tiểu
bang không thể tồn tại như những xã hội chính trị độc lập và một chính
quyền cần phải được thiết lập căn cứ vào năng lực chính trị của họ,
cũng như bởi các cá nhân cấu thành nên các xã hội đó. Nếu các tiểu bang
muốn tự tồn tại thì cần phải tìm kiếm sức mạnh nào đó để tự bảo vệ mình.
Ý tưởng của Đại tá Mason đã đề cập cội rễ của vấn đề này. Ngoài việc
các tầng lớp quý tộc và các tầng lớp khác chính là biện pháp tự bảo vệ
mình, các tiểu bang còn có lợi ích của riêng mình và đó cũng là một
biện pháp để tự vệ. Trong một số khía cạnh, các tiểu bang có thể được
đánh giá bằng năng lực chính trị, còn ở một số khía cạnh khác, có thể
coi họ như tập hợp những cộng đồng dân cư. Hai ý tưởng này gắn bó với
hai mặt khác nhau chứ không chống đối nhau. Vì thế, chúng cần phải được
kết hợp để một viện sẽ đại diện theo qui mô dân số, còn một viện sẽ đại
diện theo tiểu bang.
Ngài GHORUM: Các tiểu bang trong Hợp bang hiện nay, hiển nhiên có quyền
từ chối gia nhập một liên minh vững chắc, hay có quyền từ chối tham gia
bất cứ hệ thống mới nào. Nhưng ông muốn các bang nhỏ, những bang phản
đối mạnh mẽ nhất, xem xét lại điều gì nên từ bỏ, chính họ hay những
bang lớn. Sự tan vỡ của liên minh chắc chắn mang lại sự bất hạnh cho
tất cả các bang và các bang lớn chắc chắn cũng không thể tự lo liệu cho
mình mà phải hợp tác với các bang khác.
Do vậy, những bang nhỏ rất quan tâm đến việc thiết lập một hệ thống
chung để duy trì trật tự. Cũng như trong một tập hợp những cá nhân gồm
những người yếu và người mạnh, thì người yếu là người cần sự bảo vệ của
luật pháp và chính quyền nhất, điều này cũng giống như với các bang nhỏ
và bang lớn. Điều gì sẽ xảy ra cho Delaware nếu liên minh tan rã? Liệu
tiểu bang này có dám phó mặc hoàn toàn số phận mình trong tay
Pennsylvania không? Tiểu bang này không thể tìm thấy sự an toàn và
thịnh vượng cho mình trong một liên minh với Pennsylvania, vì điều này
sẽ làm Pennsylvania giành mọi quyền lực đề chèn ép Delaware. Để tránh mọi sự nguy hiểm, không gì tốt đẹp bằng việc hình thành một
quốc gia chung. Ban đầu, tiểu bang Massachusetts là sự kết hợp của ba
thuộc địa: vùng đất Massachutsetts cổ ngày xưa, tỉnh Plymouth và tỉnh
Mayne.
Vì nhận thức được những mối nguy hiểm đó, nên sự hợp tác tất yếu sẽ xảy
ra. Mọi vùng đất đều an toàn và hài lòng và đến nay, mọi sự khác biệt
đều bị quên lãng. Điều này cũng giống như Connecticut và New Haven. Sự
kết hợp trong một quốc gia sẽ mang lại nhiều điều tốt lành và làm mọi
bên tham gia hài lòng.
Cũng như vậy, tiểu bang New Jersey được thành lập từ hai xã hội khác
biệt. Nếu liên minh các tiểu bang tan rã, số phận của New Jersey sẽ tồi
tệ nhất vì bang này không hề có nền thương mại với nước ngoài.
Pennsylvania và New York sẽ tiếp tục áp đặt mức thuế lên các hàng hóa
nhập vào lãnh thổ của mình. Về tổng thể, ông tin rằng liên minh các
tiểu bang là cần thiết để đảm bảo hạnh phúc của dân chúng và một chính
quyền liên bang mạnh là cần thiết cho liên minh này.
Ngài ELSWORTH: Không thất vọng về sự bế tắc đang diễn ra. Ông vẫn tin
rằng Hội nghị sẽ tìm được một mô hình chính quyền tốt đẹp và mô hình
này sẽ được chấp thuận.
Ngài READ: Không phản đối nếu đó là một chính quyền quốc gia, nhưng mô
hình này pha trộn quá nhiều đặc điểm liên bang. Các bang nhỏ không có
gì phải lo sợ cả. Chính các bang lớn nhận thức được sự cần thiết của
sức mạnh nên mới mong ước có một chính quyền trung ương, đáp ứng được
những điều họ cần. Massachusetts đang thể hiện những điểm yếu của mình
và ông tin rằng Delaware không gì đáng phải lo sợ cả. Delaware đang
được hưởng sự thanh bình và điều này vẫn được tiếp tục bảo đảm.
Ông không ích kỷ đến mức không muốn một chính quyền chung, nhưng để đạt
được chính quyền chung ấy, các tiểu bang cần phải hợp tác. Nếu họ không
làm như vậy, đại diện các bang lớn sẽ hợp sức với nhau trong tất cả mọi
việc để chọn ra nhánh hành pháp và sẽ phản bội lại mọi điều đã cam kết.
Sự ghen tị và hiềm khích là không tránh khỏi nếu các tiểu bang vẫn tiếp
tục tồn tại riêng rẽ. Chúng cần phải được dẹp bỏ. Các vùng đất chưa
được ban cấp đang bị một số tiểu bang chiếm đoạt cần phải được trao nộp
cho chính quyền trung ương. Ông tán thành kế hoạch của Ngài Hamilton và
muốn mô hình đó sẽ được thảo luận thay thế mô hình hiện nay.
Ngài MADISON: Đồng ý với Bác sĩ Johnson rằng cần phải lưu ý đến bản
chất pha trộn của chính quyền, nhưng có quá nhiều phản đối nếu coi tiểu
bang như là những xã hội chính trị. Những hợp tác nhỏ nhất, với phạm vi
hạn chế nhất, dần dần sẽ trở thành sự hợp tác của toàn thể đế chế với
đầy đủ các quyền hạn. Ông chỉ ra những giới hạn về chủ quyền của các
tiểu bang, như việc các đạo luật của họ hiện nay chỉ là phụ trợ cho
những bộ luật tối thượng của quốc gia, tương tự như các luật thứ yếu
của địa phương với Hiến pháp tiểu bang họ.
Theo mô hình chính quyền đề xuất, quyền lực của các tiểu bang sẽ phải
bớt giảm nhiều. Theo quan điểm của các đại biểu, chính quyền trung ương
cần có thẩm quyền lớn hơn cả quyền hạn của Nghị viện Anh, trong khi các
tiểu bang vẫn chỉ là các thuộc địa của Đế chế Anh. Đặc biệt là không
cần sự chấp thuận của các chính quyền tiểu bang nhưng chính quyền trung
ương vẫn có thẩm quyền áp đặt thuế khóa trực tiếp lên dân chúng các
tiểu bang.
Do vậy, mọi bất bình đẳng từng gây ra mọi sai trái và tội lỗi dưới
chính thể đại diện bất công của nước Anh sẽ bị xóa bỏ và một xã hội
bình đẳng sẽ được thiết lập.
Ông khẩn khoản nài xin đại biểu các bang nhỏ từ bỏ nguyên tắc rõ ràng
là bất công này, vì mô hình chính quyền đó sẽ không bao giờ được chấp
nhận. Thậm chí, dù được chấp nhận, cũng chắc chắn sẽ phá hỏng liên minh
mà chúng ta đang mong ước là sẽ tồn tại mãi mãi. Ông cầu xin họ hãy cân
nhắc kỹ lưỡng về hậu quả sẽ xảy ra nếu Hợp bang sẽ tan rã.
Hãy để mỗi tiểu bang bảo vệ bản thân bằng năng lực của mình. Khi đó,
các bang nhỏ sẽ phải lo sợ ngoại bang ở châu Âu và các tiểu bang láng
giềng. Tình cảnh suy tàn đó của mọi tiểu bang lớn cũng như bé đó sẽ
nhanh chóng trở thành lời kêu gọi mạnh mẽ đòi thiết lập một chính quyền
chung. Nỗi sợ hãi lớn nhất của ông là chính quyền, khi đó, với quá
nhiều quyền lực, sẽ không chỉ gây nguy hiểm cho các bang nhỏ mà còn
thực sự đe dọa tự do của mọi người dân.
Chính những nguyên nhân đó đã làm cho Cựu lục địa [châu Âu] trở thành
bãi chiến trường của những cuộc chiến tranh liên miên, và cướp đi tự do
trên mảnh đất này. Những hậu quả tương tự sẽ nhanh chóng xuất hiện ngay
trên mảnh đất này. Sự yếu kém, nhu nhược và ghen tị của các bang nhỏ sẽ
nhanh chóng buộc họ phải lập ra những đội quân thường trực để chống lại
những mối nguy hiểm từ các tiểu bang láng giềng hùng mạnh. Các tiểu
bang lân cận cũng buộc phải làm theo và rồi tất cả các bang đều như vậy.
Trong thời chiến, nhánh hành pháp tối cao thường được trao toàn quyền
quyết định. Nỗi ám ảnh và lo sợ chiến tranh buộc cơ quan này phải mở
rộng và trở nên rất đông đảo. Đội quân thường trực và nhánh hành pháp
ngày càng nhiều quyền lực sẽ không còn là người bảo trợ cho tự do nữa.
Những phương tiện được sử dụng để chống lại các thế lực ngoại bang cũng
là những công cụ cho những kẻ độc tài trong nước chèn ép dân chúng. Ở
La Mã, đội quân thường trực để ngăn chặn những bạo động lại thường là
nguyên nhân gây ra chiến tranh. Trên khắp châu Âu, các đội quân núp
dưới danh nghĩa phòng vệ đã biến dân chúng thành nô lệ. Có thể nghi ngờ
rằng liệu một chính quyền tốt nhất của một cường quốc ở châu Âu, trong
hoàn cảnh không có mối nguy cơ nào từ ngoại bang buộc dân chúng phải
qui thuận, có thể tự bảo vệ được mình không?
Sự biệt lập của hòn đảo Anh quốc là nguyên nhân chủ yếu làm cho quốc
gia này tránh khỏi được số phận chung của cả châu Âu. Vì nhu cầu phòng
thủ của nước Anh không lớn, nên dân chúng chỉ chấp nhận một đội quân có
qui mô nào đó cho mục đích phòng vệ, nhưng không thể đủ sức mạnh để đàn
áp dân chúng trong nước. Cần hiểu rõ hậu quả nếu các tiểu bang trở nên
độc lập hay gia nhập vào các liên minh nhỏ lẻ nào đó. Cả hai con đường
này đều đáng bị lên án. Những ai dù tán thành bất cứ cách nào cũng sẽ
không được tổ quốc tha thứ và cũng không thể tự tha thứ cho chính bản
thân mình.
Ngài HAMILTON: Các cá nhân cấu thành nên những xã hội chính trị sẽ thay
đổi quyền của họ theo các cách khác nhau, tùy thuộc vào quyền bỏ phiếu.
Những ví dụ như vậy có thể tìm thấy ở tất cả các tiểu bang. Trong mọi
tiểu bang, một số cá nhân bị cướp đoạt các quyền này vì không đáp ứng
đủ những đòi hỏi cần thiết về tài sản.
Tại một số tiểu bang, quyền bỏ phiếu chỉ áp dụng hạn chế đối với một số
người, còn những người khác không có quyền này. Cần phải có một số tài
sản nào đó mới được quyền bầu chọn thành viên của một Viện và để bầu
chọn thành viên của Viện kia, thì cần mức độ tài sản lớn hơn. Nhưng các
tiểu bang là tập hợp của các cá nhân. Vì thế, điều chúng ta cần tôn
trọng nhất là quyền của các cá nhân. Thật là phi lý và ngớ ngẩn nếu hy
sinh quyền của cá nhân vì quyền của tiểu bang. Người ta nói rằng nếu các bang nhỏ từ bỏ quyền bình đẳng của mình, thì
cũng sẽ từ bỏ luôn sự tự do của chính họ. Nhưng đây là cuộc tranh luận
về quyền lực chứ không phải tranh luận về tự do. Liệu dân chúng của các
bang nhỏ ít tự do hơn dân chúng ở các bang lớn chăng?
Tiểu bang Delaware có 40,000 người sẽ mất quyền lực nếu tiểu bang này
chỉ có số đại biểu bằng 1/10 của tiểu bang Pennsylvania có 400.000 dân.
Nhưng như vậy, dân chúng của Delaware sẽ bớt tự do hơn nếu mỗi công dân
ở đây có quyền bỏ phiếu bình đẳng với một công dân của Pennsylvania
chăng?
Dân chúng trong cùng một tiểu bang thường có chung quan điểm và những
gắn bó. Những nguyên tắc này đều ảnh hưởng đến hoạt động chung của xã
hội. Tuy nhiên, việc qui định thêm một số biện pháp cẩn trọng có thể sẽ
loại trừ khó khăn này và sẽ không gây ra sự bất lợi đáng kể nào, vì nỗi
lo sợ việc các tiểu bang có ảnh hưởng nhất kết hợp với nhau là không có
cơ sở.
Sự khác biệt đáng kể về lợi ích giữa các tiểu bang thương mại và phi
thương mại sẽ làm các bang lớn chia rẽ chứ không làm họ thống nhất.
Không có sự bất lợi nào đáng kể do việc phân chia tiểu bang New York
thành những quận khác nhau với những lợi ích khác nhau. Mối nguy cơ
nghiêm trọng nhất nếu liên minh tan rã là ngay lập tức, các liên minh
với những quốc gia thù địch ở châu Âu sẽ được thành lập tại đây. Bản
thân những liên minh này sẽ gây rối loạn trên vùng đất này và làm chúng
ta chia rẽ thành các phe phái luôn luôn xung đột nhau. Sẽ có những vùng
đất chịu ảnh hưởng của ngoại bang và chắc chắn sẽ xung đột với chúng ta.
Mối lo âu lớn nhất đối với số phận của chúng ta là sự phản bội của
những người đại diện. Sự kính trọng trong con mắt của ngoại quốc không
phải là mục đích chúng ta cần đạt đến mà mục đích của chính quyền cộng
hòa là sự bình yên và thịnh vượng trong nước. Nhưng không một chính
quyền nào có thể mang lại sự bình yên và thịnh vượng trong nước mà lại
không đạt được sự ổn định và sức mạnh trong nước. Đó là những điều
khiến các quốc gia khác phải kính trọng chúng ta.
Lúc này là một thời điểm quyết định cho việc hình thành một chính quyền
như vậy. Sẽ rất mạo hiểm nếu chúng ta tin vào những sửa đổi sau này.
Cho đến bây giờ, chúng ta vẫn duy trì được mô hình liên minh nhưng rất
yếu ớt. Từ nay về sau, những động cơ duy trì liên minh sẽ trở nên mỏng
manh hơn và gặp nhiều khó khăn hơn.
Việc chúng ta đang có mặt ở đây, tự do phân tích và thảo luận kỹ càng
về tương lai của liên minh, đã là một việc kỳ diệu. Nhưng thật điên rồ,
nếu tin vào những điều kỳ diệu sẽ xảy ra trong tương lai, vì hàng ngàn
chuyện có thể xảy ra và cản trở mục tiêu này.
…
Cuộc bỏ phiếu về điều khoản qui định "quyền bỏ phiếu của Hạ viện sẽ không căn cứ vào qui định của Các điều khoản Hợp bang":
MA: tán thành; CT: phản đối; NY: phản đối; NJ: phản đối; PA: tán thành;
DE: phản đối; MD: không quyết định; VA: tán thành; NC: tán thành; SC:
tán thành; GA: tán thành. (6 tiểu bang tán thành, 4 tiểu bang phản đối,
và một tiểu bang không quyết định).
Ngài ELLSWORTH: Đề xuất quyền bỏ phiếu tại Thượng viện cũng được qui
định giống như Các điều khoản Hợp bang [quyền bỏ phiếu bình đẳng] và hy
vọng sẽ đạt được thỏa hiệp cho Thượng viện.
Chúng ta vừa mang tính quốc gia, vừa mang tính liên bang. Quyền đại
diện tỷ lệ tại Hạ viện là phù hợp với nguyên tắc quốc gia sẽ đảm bảo
các bang lớn chiếm ưu thế so với các bang nhỏ. Vì thế, quyền bình đẳng
theo hướng liên bang là cần thiết để đảm bảo cho các bang nhỏ chống lại
sự cai trị và chèn ép của các bang lớn. Ông tin rằng đây sẽ là nền tảng
chung cho sự thỏa hiệp vì không thấy giải pháp nào khác ngoài hướng này.
Nếu không đạt được thỏa hiệp, Hội nghị này không chỉ vô ích mà còn tồi
tệ hơn thế. Đối với các bang miền Đông, ông tin rằng Massachusetts là
tiểu bang duy nhất chấp nhận việc coi các tiểu bang như những xã hội
chính trị bình đẳng, chấp nhận sự bình đẳng tại cả hai Viện. Nhưng
nhiều bang khác sẵn sàng chấp nhận mọi rủi ro hơn là từ bỏ quyền lực đó.
Nỗ lực xóa sự bình đẳng ngay lập tức sẽ chia lãnh thổ nước Mỹ chúng ta
thành hai miền. Các bang lớn sẽ không chấp nhận sự bình đẳng về quyền
bỏ phiếu, nên sẽ tìm cách duy trì ưu thế của mình. Nhận xét của Ngài
Madison rằng Vương quốc Hà Lan không thể chấp nhận sự bình đẳng trong
Liên minh Hà Lan, và vì tầm vóc của mình, nên vương quốc này thống trị
tuyệt đối mọi hoạt động của liên minh. Quyền tự vệ là thiết yếu đối với các quốc gia nhỏ. Tạo hóa đã cho những
loài nhỏ bé đặc tính này và ông không bao giờ chấp nhận rằng không có
mối nguy hiểm nào từ sự kết hợp của các bang lớn.
Họ cũng giống như con người tìm cách phát huy mặt mạnh của mình để
chiếm ưu thế. Mối nguy hiểm này sẽ lớn hơn, nếu các bang lớn tiếp giáp
nhau và có chung một lợi ích nào đó. Sự tự vệ của càng nhiều bang nhỏ
kết hợp lại thì càng gây nhiều khó khăn hơn.
Một xem xét quan trọng khác. Liên minh tồn tại hiện nay dựa trên nền
tảng bình đẳng về quyền bỏ phiếu của các tiểu bang, nhưng không cần
thiết phải tôn trọng qui định đó. Cần phải thiết lập nhánh hành pháp,
tòa án và cơ quan lập pháp mạnh, nhưng đừng để những cơ quan này có
thẩm quyền quá mức bởi mọi điều khác có thể sẽ mất đi. Ông tự nhận mình
không phải là người nửa vời, nhưng ông muốn làm một nửa điều tốt, còn
hơn là chẳng làm gì cả. Nửa kia có thể bổ sung khi cần thiết, hoặc khi
được thực tiễn kiểm chứng.
Đề xuất của Ngài ELLSWORTH, cho phép mỗi tiểu bang có một phiếu bầu tại Thượng viện được đưa ra thảo luận.
Ngài BALDWIN: Phản đối quan điểm của Ngài Ellsworth và cho rằng Thượng
viện phải đại diện theo tài sản. Đó là nguyên tắc thiết lập nên Thượng
viện Massachusetts.
Ngài WILSON: Không tán thành đề xuất đó, sau khi chúng ta đã thiết lập
được nguyên tắc đại diện theo tỷ lệ dân số tại Hạ viện. quý Ngài từ
Connecticut (Ngài Ellsworth) tuyên bố rằng việc đại diện theo tỷ lệ sẽ
không được chấp thuận, vì trong số các tiểu bang miền Bắc, chỉ có duy
nhất tiểu bang Massachusetts có thể đồng ý với bất kỳ mô hình chính
quyền trung ương nào. Ông tán thành quan điểm của Connecticut và của
các bang miền Bắc khác.
Ông tin rằng dân chúng sẽ không chấp nhận một Thượng viện đại diện theo
qui mô dân số, vì họ khó lòng từ bỏ một quốc gia, nơi có quá nhiều gắn
bó và ràng buộc chặt chẽ. Nhưng dù điều đó xảy ra thì cũng không ngăn
cản được tình cảm và bổn phận của ông. Nếu số ít dân chúng Mỹ từ chối
liên kết với đa số trên những nguyên tắc đúng đắn đó và nếu sự chia rẽ
xuất hiện, thì không thể có một chính quyền nào khác tốt đẹp hơn. Cuộc
bỏ phiếu ngày hôm qua đã chống lại nguyên tắc đại diện bình đẳng, tức
là 24 người chống lại 90 người của nước Mỹ .
Về vấn đề này, ông chắc chắn rằng nếu phải thay đổi, thì đó không phải
là sự thay đổi của đa số. Vấn đề là chưa đầy 1/4 dân chúng sẽ rút khỏi
liên minh, hay hơn 3/4 dân chúng phải từ bỏ những quyền vốn có, không
thể nhân nhượng, không thể tranh cãi của con người, để ủng hộ một chính
quyền giả tạo.
Nếu điều đó xảy ra và phải lựa chọn, ông sẽ chọn cách tham gia liên
minh. Ngài Ellsworth nghĩ rằng Hạ viện do đa số kiểm soát sẽ loại bỏ
mọi cản trở của Thượng viện, nơi có quyền bỏ phiếu bình đẳng, chỉ để
đảm bảo quyền của thiểu số. Nhưng sự bình đẳng tại Thượng viện sẽ cho
phép thiểu số kiểm soát được mọi tâm trạng và lợi ích của đa số.
7 tiểu bang sẽ kiểm soát 6 tiểu bang. 7 tiểu bang nhỏ theo ước tính bao
gồm 24/90 tổng số dân chúng. Đó sẽ là việc chưa đầy 1/3 dân chúng sẽ
kiểm soát và chế áp 2/3 còn lại, bất kể là vấn đề gì. Chúng ta đang xây
dựng chính quyền là vì ai? Vì con người hay vì một thứ không có thực
được gọi là các tiểu bang? Liệu những cử tri có hài lòng với những lợi
thế chỉ trên lý thuyết suông đó không? Liệu họ sẽ hài lòng không khi
được lời giải thích là vì 1/3 dân chúng đó cấu thành nên số tiểu bang
nhiều hơn?
Vì thế, trên mọi nguyên tắc, quyền bỏ phiếu tại Thượng viện cũng phải
giống như Hạ viện. Nếu chính quyền không xây dựng trên nền tảng này thì
chẳng có gì vững chắc và tồn tại lâu dài. Bất kỳ một nguyên tắc nào
khác đều chỉ là mang tính cục bộ, tạm thời và đầy nhược điểm. Sai trái
này sẽ mở rộng cùng với sự mở rộng và phát triển cùng với sự phát triển
của nước Mỹ.
Rất nhiều điều đã được nói về sự kết hợp "tưởng tượng" của ba tiểu bang
lớn nhất. Nào là nguy cơ của một nền quân chủ, nào là sự cai trị của
một nhóm quý tộc đầu sỏ từng là lời buộc tội cho sự kết hợp này, nhưng
chẳng có lời giải thích nào cho những nguy cơ đó.
Thật dễ dàng để chứng minh bằng cả lý luận và thực tiễn lịch sử rằng sự
thù địch chứ không phải liên minh sẽ xuất hiện và không thể có một lợi
ích chung nào cho riêng ba tiểu bang lớn nhất này. Không một câu trả
lời nào đưa ra cho những câu hỏi của Ngài Madison về vấn đề này.
Liệu một người điều hành tối cao được bầu từ một trong ba tiểu bang lớn
sẽ yêu quý hai bang lớn kia hơn các bang nhỏ chăng? Vậy đâu là mối nguy
cơ của nền quân chủ? Hay dân chúng của ba bang lớn quý phái hơn dân
chúng các bang nhỏ chăng? Vậy đâu là nguy cơ của nền cai trị của giới
quý tộc đầu sỏ nhờ ảnh hưởng của họ?
Quyền tự vệ là thiết yếu đối với các quốc gia nhỏ. Tạo hóa đã cho những
loài nhỏ bé đặc tính này và ông không bao giờ chấp nhận rằng không có
mối nguy hiểm nào từ sự kết hợp của các bang lớn.
Họ cũng giống như con người tìm cách phát huy mặt mạnh của mình để
chiếm ưu thế. Mối nguy hiểm này sẽ lớn hơn, nếu các bang lớn tiếp giáp
nhau và có chung một lợi ích nào đó. Sự tự vệ của càng nhiều bang nhỏ
kết hợp lại thì càng gây nhiều khó khăn hơn.
Mọi câu chuyện đó chỉ là những lời thêu dệt hoang đường. Chúng ta đề
cập đến các tiểu bang, nhưng lại quên mất rằng các tiểu bang đó cấu
thành bởi cái gì. Liệu một đa số thực sự và công bằng lại là hang ổ và
là mầm mống cho chế độ cai trị của nhóm quý tộc đầu sỏ chăng? Đó là
chính quyền nào vậy, khi thiểu số lại cai trị đa số? Đúng là đa số các
tiểu bang tại Thượng viện không thể phê chuẩn một dự luật chống lại đa
số dân chúng, nếu Hạ viện đã phê chuẩn. Nhưng điều này mới chỉ giảm bớt
được một nửa những lời phản đối.
Những tội lỗi và sự xấu xa mà dân chúng khắp nơi hiện nay đang kêu la
là vì sao? Vì sự thiếu hiệu quả và yếu kém của chính quyền. Chúng ta
được cử tới Hội nghị này là để giải quyết những yếu kém đó. Nếu đề xuất
này được mọi người đồng ý, chúng chẳng khác gì mô hình của Hợp chúng
quốc trước đây với mọi sai trái. Mọi đề xuất đúng đắn của dân chúng,
giống như của Hạ viện, đều bị Quốc hội Hợp bang [tức là Thượng viện]
bác bỏ. 24 người vẫn sẽ kiểm soát 66 người…
Ngài ELLSWORTH: Lý lẽ phản đối chủ yếu của Ngài Wilson rằng thiểu số sẽ
thống trị đa số là không đúng. Quyền lực được trao cho thiểu số là để
họ không bị đa số đàn áp. Nếu các tiểu bang nhỏ được quyền bình đẳng
trong cả hai Viện thì mới đáng bị lên án. Việc sử dụng thiểu số làm
biện pháp kiểm soát đa số không phải là điều mới mẻ.
Bản Hiến pháp nước Anh không khôn ngoan và uyên thâm như nhiều quý ngài
ca ngợi. Viện quý tộc Anh, đại diện cho thiểu số, có quyền phủ quyết
mọi đạo luật. Đó là công cụ bảo vệ cần thiết của giới quý tộc thiểu số
để chống lại sự lạm quyền và xâm phạm của Viện Bình dân, đại diện cho
phe đa số. Không một hình mẫu Hợp bang nào tồn tại nếu quyền bình đẳng
không được các thành viên thực thi. Chúng ta đang đi từ thái cực này
sang thái cực kia.
Chúng ta đang phá hỏng nền tảng của toàn bộ tòa nhà trong khi chỉ cần
sửa mỗi cái mái nhà. Không một đạo luật tốt đẹp nào bị ý muốn của đa số
các tiểu bang bác bỏ bởi sự đại diện theo qui mô dân số ở Hạ viện sẽ
đảm bảo an toàn cho các bang lớn. Nhưng không thể hình dung được hết
các mối nguy hiểm từ sự kết hợp các bang lớn. Mặc dù ông không thấy sự
lạm dụng quá mức nào của sự kết hợp các bang lớn, nhưng chỉ riêng khả
năng kết hợp đó cũng đủ để cảnh báo ông và ông dễ dàng hiểu được bối
cảnh và những hậu quả sẽ xảy ra từ sự kết hợp này.
Giả sử để theo đuổi một Hiệp ước thương mại, hay một thỏa thuận nào đó,
cần phải thiết lập không quá ba, hay bốn cảng biển, thì chắc hẳn các
bang lớn sẽ hợp tác để ưu tiên lựa chọn Boston, Philadelphia và một số
cảng ở Chesapeak . Sự hợp tác tương tự có thể hình thành trong việc bổ
nhiệm những quan chức cao cấp.
Nghĩa vụ và qui định của Các điều khoản Hợp bang vẫn còn hiệu lực và
bản Hiến pháp đó được làm ra rất trang nghiêm. Khi đó, hoàn cảnh khó
khăn buộc các bang, dù lớn hay nhỏ, cũng có quyền bỏ phiếu bình đẳng
tại Quốc hội. Nhận xét của ông không phải xuất phát từ quan điểm ích kỷ
địa phương. Tiểu bang Connecticut, nơi ông đại diện, là một tiểu bang
trung bình.
Ngài MADISON: Những lý giải rất minh bạch và chặt chẽ của Ngài
Ellsworth là rất công bằng, nhưng phải thấy rằng những điều này không
phải bao giờ cũng thống nhất. Có lúc, ông mô tả các bang lớn như những
tiểu bang "quí tộc" sẵn sàng chèn ép các bang nhỏ "bình dân". Hiện nay,
các bang nhỏ chính là Viện quý tộc, đòi có quyền phủ quyết để tự vệ và
chống lại những người bình dân đông đảo hơn nhiều.
Ngài Ellsworth cũng sai lầm khi nói rằng không có liên bang nào từng
tồn tại mà không đảm bảo quyền bỏ phiếu bình đẳng cho các quốc gia
thành viên. Ngoài hệ thống Đức, trong đó Hoàng đế nước Phổ có 9 phiếu
bầu, ông nhắc Ngài Ellsworth về liên minh Lycia của Hy Lạp cổ đại.
Trong đó, thành viên có số phiếu bầu căn cứ vào tầm quan trọng của họ.
Montesquieu đã khuyến cáo đó là mô hình phù hợp nhất cho những thể chế
chính quyền như vậy. Những tuyên bố của Ngài Ellsworth chẳng mấy tác
dụng đối với ông mà chỉ củng cố thêm những lập luận chống lại ông ta.
Lịch sử và số phận nhiều Hợp bang cổ xưa cũng như hiện đại đã thể hiện
nhiều sai trái quá mức trong các mô hình này.
Nhiều quý ngài khăng khăng đòi quyền bỏ phiếu bình đẳng tại Thượng viện
với lý do điều này không chỉ là cần thiết để đảm bảo an toàn cho các
bang nhỏ mà còn an toàn cho cả các bang lớn, dù đa số của họ tại Hạ
viện đã là một bức tường thành ngăn chặn có hiệu quả. Song bất chấp sự
bảo vệ này, đa số các tiểu bang có thể sẽ gây tổn hại cho đa số dân
chúng.
1. Họ có thể cản trở mong ước và lợi ích của đa số dân chúng.
2. Họ có thể thi hành các biện pháp đáng ghê tởm chống lại mong muốn và lợi ích của đa số.
3. Họ có thể áp đặt các biện pháp thù nghịch, nếu Thượng viện được trao
những quyền lực mạnh nhất, còn Hạ viện không được tham gia những quyền
này.
Ông chấp nhận rằng mọi lợi ích riêng rẽ, dù của tầng lớp dân chúng nào
hay của bất kỳ tiểu bang nào, cũng cần được đảm bảo tới mức có thể. Nếu
có nguy cơ bị tấn công thì cần phải trao quyền phòng vệ hợp hiến. Nhưng
các tiểu bang sẽ hình thành các lợi ích khác nhau, không phải theo qui
mô lãnh thổ mà bởi các yếu tố khác như: sự khác biệt về khí hậu và thời
tiết và chủ yếu là việc có nô lệ, hay không có nô lệ. Những yếu tố làm cho Hợp chúng quốc phân chia thành những lợi ích khác
nhau, không phải là giữa các bang lớn hay nhỏ mà là giữa miền Bắc và
miền Nam. Nếu quyền phòng vệ là cần thiết, thì quyền này phải có lợi
cho cả hai phe.
Vì điều này rất quan trọng, nên ông đã cố gắng tìm ra được những giải
pháp. Thứ nhất là thay cho việc bỏ phiếu theo tỷ lệ ở cả hai Viện, thì
tại một Viện sẽ theo tỷ lệ dân số da trắng, cộng với 3/5 dân nô lệ. Còn
Viện kia căn cứ vào toàn bộ số dân, gồm cả người da trắng và các nô lệ.
Bằng giải pháp này, các bang miền Nam sẽ có lợi thế tại một Viện, còn
các bang miền Bắc sẽ có lợi thế tại Viện kia...
Ngài DAVY: Bản báo cáo của Ủy ban cho phép các cơ quan lập pháp tiểu
bang bầu chọn Thượng viện theo qui mô dân số là không thực tế. Căn cứ
vào qui định này, ban đầu Viện này sẽ có tới 90 đại biểu và con số này
sẽ tăng lên khi có các tiểu bang mới gia nhập liên minh. Một cơ quan
quá đông như vậy sẽ không thể đảm bảo thi hành các quyền trao cho cơ
quan này. Sự bổ nhiệm của Thượng viện bởi những đại cử tri, do dân
chúng bầu chọn, sẽ gặp nhiều chống đối.
Các quận lớn, hay các huyện lớn, được ném vào một quận bầu cử chung,
chắc chắn sẽ lấn át và vượt trội so với các quận, huyện nhỏ và các
quận, huyện nhỏ này sẽ chẳng còn vai trò gì. Do đó, chỉ có qui định
trao quyền bầu chọn cho các cơ quan lập pháp tiểu bang là đúng đắn. Với
ông, các cơ quan lập pháp tiểu bang có người đại diện tại chính quyền
liên bang là điều chẳng có gì cần bàn cãi. Các thiên kiến và lợi ích
địa phương chắc chắc sẽ tồn tại và chắc chắn sẽ hình thành trong các
hội đồng quốc gia, dù những người đại diện này được các cơ quan lập
pháp tiểu bang hay dân chúng chọn lựa.
Một mặt, nếu quyền đại diện theo tỷ lệ vấp phải những trở ngại không
vượt qua được, thì việc thiết lập Thượng viện là người đại diện cho các
tiểu bang sẽ đưa chúng ta trở lại mô hình Quốc hội Hợp bang hiện nay và
sẽ chấm dứt mọi lợi thế và ưu việt của cơ quan này mà chúng ta đang
mong đợi. Vì thế, ông sẽ không bỏ phiếu cho bất kỳ kế hoạch nào đề xuất
về Thượng viện. Cả hai mô hình này đều rơi vào những thái cực. Liên
minh 13 tiểu bang vừa là liên bang, vừa là quốc gia. Vậy tại sao chính
quyền lại không thể điều hành một số vấn đề theo tiểu bang, còn các vấn
đề khác theo qui mô dân số?
Ngài WILSON: Số lượng Thượng nghị sĩ cũng gặp những trở ngại phức tạp.
Nếu những tiểu bang nhỏ nhất được phép có một đại biểu và các bang khác
bầu theo tỷ lệ thì Thượng viện chắc chắn là rất đông. Ông đề nghị cứ
100.000 người sẽ chọn một Thượng nghị sĩ. Còn các tiểu bang, nếu chưa
có đủ số dân như vậy, cũng được phép có một đại biểu. Ông sẵn lòng tìm
cách thỏa hiệp với các bang nhỏ để tìm ra giải pháp cho vấn đề này.
Bác sĩ FRANKLIN: Các ý kiến rất đa dạng, nhưng có thể chia thành hai
hướng. Nếu đại diện theo tỷ lệ dân số, các bang nhỏ nói rằng tự do của
họ sẽ bị nguy hiểm. Nhưng nếu phiếu bầu bình đẳng, các bang lớn lại nói
rằng tiền bạc của họ gặp nguy hiểm. Khi cần đóng một cái bàn rộng,
nhưng các tấm gỗ lại không vừa với nhau, người thợ mộc phải bào bớt đi
một chút ở cả hai để ghép chúng lại. Theo cách này, cả hai bên đều cần
phải từ bỏ một số đòi hỏi của mình, sao cho họ có thể phù hợp với nhau
theo một tỷ lệ thích hợp. Các đề xuất của ông như sau:
Cơ quan lập pháp của các tiểu bang sẽ chọn và cử số đại biểu bình đẳng để hình thành Thượng viện của Hợp chúng quốc.
Trong mọi vụ kiện liên quan đến chủ quyền tiểu bang, hay thẩm quyền của
họ đối với các công dân của họ bị hủy bỏ, hay thẩm quyền của chính
quyền liên bang tại các tiểu bang mới gia nhập, thì các tiểu bang sẽ bỏ
phiếu bình đẳng.
Việc bổ nhiệm mọi viên chức chính quyền trung ương như theo qui định
của Hiến pháp trao cho Thượng viện và mỗi bang cũng có lá phiếu bình
đẳng.
Trong việc qui định lương bổng cho các viên chức này, các khoản chi phí
cho các hoạt động công cộng và nói chung mọi khoản chi tiêu lấy từ ngân
khố liên bang và mọi đạo luật liên quan đến tiền bạc và lợi tức, các
tiểu bang sẽ bỏ phiếu theo tỷ lệ số tiền họ đóng góp.
Khi một con tàu có quá nhiều ông chủ, thì ông chủ góp nhiều tiền nhất sẽ quyết định hành trình của con tàu.
Ngài KING: Nhận thấy vấn đề đơn giản là liệu mỗi tiểu bang có quyền bỏ
phiếu bình đẳng tại Thượng viện không. Đối với một số người, quyền bỏ
phiếu bình đẳng là không thể thay đổi và nhất định phải có, thì phe kia
cũng không kém phần ngang bướng. Chúng ta đã tách biệt nhau quá xa và
sẽ rất tai hại nếu nhắm mắt chống lại nhau.
Tuy nhiên, chúng ta tin rằng mọi người dân trên nước Mỹ đều được đảm
bảo mọi quyền của mình, thì chúng ta đang sẵn lòng hy sinh những điều
tốt đẹp chỉ vì cái bóng ma hão huyền của chủ quyền tiểu bang. Ông đau
đớn và lo sợ cho đất nước ông hơn những điều ông đã thể hiện và coi đây
là cơ hội cuối cùng mang lại tự do và hạnh phúc cho đất nước.
Do vậy, ông rất thất vọng khi thấy một chính quyền đúng đắn, thành lập
trên nền tảng đại diện tốt đẹp của dân chúng nước Mỹ đang trong tầm tay
đạt được, lại bị vứt bỏ vì sự ràng buộc bởi ý tưởng về tự do và tầm
quan trọng của các tiểu bang. Nếu nhiều Ngài vẫn theo đuổi những ảo
tưởng kỳ quặc đó, tâm trí của ông đã sẵn sàng làm bất cứ chuyện gì chứ
không thể tham gia một chính quyền thành lập trên các nguyên tắc đại
diện xấu xa đó và hẳn rồi chính quyền đó cũng không thể tồn tại lâu dài
vì sự bất công của nó. Ông có thể chấp nhận một giải pháp nào đó, như
Ngài Wilson gợi ý, nhưng sẽ không bao giờ nghe và chấp nhận quyền bỏ
phiếu bình đẳng về vấn đề này.
Ngài DAYTON: Khi sự cảm tính thay cho bằng chứng và nỗi hoảng sợ thay
cho tranh luận, thì dù nói hùng hồn đến thế nào đi nữa cũng là vô ích.
Kinh nghiệm của chúng ta đã chứng tỏ rằng mọi tội lỗi và trục trặc của
chính quyền đều xuất phát từ quyền bình đẳng đó và những mầm mống đòi
giải tán lại xuất phát từ các chính quyền tiểu bang, chứ không phải từ
chính quyền liên bang. Ông coi mô hình đang thảo luận hiện nay là quá
xa lạ. Đó là một con quái vật khổng lồ, vừa có thể sống trên cạn, vừa
có thể sống dưới nước. Dân chúng sẽ không bao giờ chấp nhận mô hình đó.
Ngài MARTIN: Sẽ không bao giờ đạt được thỏa thuận nếu không dựa trên các nguyên tắc bình đẳng và công bằng.
Ngài MADISON: Đồng ý với những nhượng bộ mà Ngài Wilson ám chỉ, với
điều kiện là sự độc lập cần phải trao cho Thượng viện. Mô hình hiện nay
làm cho Thượng viện hoàn toàn phụ thuộc vào các tiểu bang và như thế,
Thượng viện cũng chỉ là một phiên bản của Quốc hội Hợp bang hiện nay mà
thôi. Ông biết rõ những sai lầm của Quốc hội và từng phản đối mạnh mẽ.
Nhưng việc duy trì quyền của các tiểu bang cũng làm ông đắn đo như việc
xét xử bởi một ban bồi thẩm.
Ngài BEDFORD: Không có một mô hình trung gian nào giữa một liên bang
kết hợp chặt chẽ và một hợp bang thuần tuý hình thức giữa các tiểu
bang. Với mô hình đầu tiên thì không còn gì bàn cãi nữa. Còn trong mô
hình sau, các tiểu bang vẫn tiếp tục được giữ các chủ quyền bình đẳng,
dù không đầy đủ. Nếu các xã hội chính trị có những tham vọng xấu xa và
những lợi ích làm cho họ hận thù nhau, chúng ta có nên duy trì các xã
hội chính trị đó không? Liệu những động cơ phe phái và lợi ích ở nước
Mỹ có khác với các nơi khác không?
Nếu bất cứ quý ngài nào nghi ngờ điều đó, hãy để ông ta chứng kiến các
cuộc bầu cử. Hay lợi ích và tham vọng không phải là động cơ thúc đẩy
họ? Các bang lớn đang tìm cách nâng cao vị thế của mình bằng việc coi
thường và bỏ mặc các bang nhỏ. Họ khăng khăng cho rằng mình đúng, nhưng
lợi ích đã làm họ trở nên mù quáng. Hãy nhìn tiểu bang Georgia, dù hiện
nay là một bang nhỏ, nhưng sau này, nó sẽ trở thành một bang lớn. Hiện nay, không tiểu bang nào duy trì tỷ lệ đại diện chính xác tại Nghị
viện. Liệu có thể nói rằng sự bất bình đẳng trong bầu cử sẽ dẫn tới sự
bất bình đẳng về quyền lực không? Nếu có cơ hội, tham vọng sẽ chẳng bao
giờ bỏ qua việc lạm dụng nó.
Toàn bộ lịch sử loài người đã chứng minh điều này. Ba bang lớn có lợi
ích chung trong vấn đề thương mại. Nhưng liệu họ sẽ hợp tác với nhau
như chúng ta giả thiết, hay tranh giành nhau như những người khác dự
đoán? Nhưng trong bất cứ trường hợp nào các bang nhỏ cũng bị thiệt thòi.
Chúng ta cần phải noi theo Solon, thiết lập một chính quyền để được mọi
người chấp thuận. Đã bao giờ các tiểu bang nhỏ muốn tự hạ thấp vai trò
của mình chưa? Sẽ là sai lầm nếu cho rằng dân chúng không đồng ý gia
tăng quyền của Quốc hội hiện nay. Dân chúng thường đòi hỏi Quốc hội cần
có thêm quyền lực để thu thuế và để buộc các tiểu bang phải thực hiện
nghĩa vụ của mình khi cần thiết. Họ hoàn toàn công khai quan điểm này
trong các tuyên bố của mình. Họ sẽ bác bỏ mọi mô hình, nếu chúng đi
ngược lại những cam kết trước đây.
Các bang nhỏ sẵn lòng tuân thủ mọi cam kết của mình, nhưng không thống
nhất quan điểm với các bang lớn về bất cứ điều gì, ngoại trừ mô hình
Hợp bang hiện nay. Chúng ta từng nghe nói rằng “cái bóng của nhà độc
tài chính là khoảnh khắc cuối cùng để thiết lập một chính quyền tốt” .
Khoảnh khắc cuối cùng đó chính là thời điểm chúng ta gửi mô hình chính
quyền cho công chúng phê chuẩn.
Ông không e sợ điều gì cả. Các bang lớn sẽ không dám giải tán liên
minh. Nếu họ làm như vậy, các bang nhỏ sẽ tìm cách liên minh với ngoại
bang để nhận những cam kết vinh dự và tốt đẹp hơn. Những quốc gia đó
sẵn lòng đón nhận và đối xử công bằng với họ. Ông nói như vậy không
phải để hăm dọa. Đó là một hậu quả tất yếu.
Cần tránh nguy cơ này bằng cách mở rộng các quyền lực của trung ương,
nhưng không phá hỏng thể chế liên bang [tức là không phá vỡ quyền đại
diện bình đẳng tại Thượng viện]. Đó chính là điều dân chúng mong đợi.
Mọi người đều đồng ý về sự cần thiết của một chính quyền hiệu quả. Vậy
tại sao chúng ta không xây dựng một mô hình đúng như dân chúng mong ước?
Ngài ELSEWORTH: Chính quyền quốc gia sẽ đảm bảo an toàn tốt hơn cho
toàn liên bang, đúng như nhận xét của Ngài King, nhưng chỉ có vậy thôi.
Điều ông cần là sự thịnh vượng và hạnh phúc trên mảnh đất này. Chính
quyền quốc gia không thể coi thường và xem nhẹ những lợi ích địa phương
để biến chính quyền tiểu bang trở thành một thứ hoàn toàn lệ thuộc
được. Chính quyền tiểu bang phải gắn bó với lợi ích chung của toàn quốc.
Do đó, ông đòi bảo vệ và duy trì chủ quyền của các chính quyền tiểu
bang. Những hạnh phúc tốt đẹp nhất trong cuộc đời ông chỉ nhờ vào chính
quyền tiểu bang. Hạnh phúc của ông phụ thuộc vào sự tồn tại của chính
quyền tiểu bang, giống như một đứa trẻ mới sinh sống dựa vào nguồn sữa
mẹ. Nếu điều này không được đáp ứng, ông không muốn thảo luận thêm điều
gì nữa.
Ngài KING: Ủng hộ việc duy trì các chính quyền tiểu bang, nhưng ở một
mức độ nhỏ để đáp ứng các mục tiêu như Ngài Elseworth tuyên bố. Nhưng
đó không phải là giải pháp triệt để giải quyết mọi nguy hiểm mà các
chính quyền tiểu bang có thể gây ra từ việc lạm quyền của chính quyền
trung ương.
Trong việc thiết lập xã hội, điều mà bản Hiến pháp qui định cho các cơ
quan lập pháp tiểu bang cũng là những điều các bộ luật tiểu bang qui
định cho các công dân. Những quyền cơ bản của cá nhân được những điều
khoản trong các bản Hiến pháp tiểu bang đảm bảo. Vậy tại sao sự đảm bảo
tương tự như vậy đối với quyền của tiểu bang lại không thể có trong bản
Hiến pháp Liên bang?
Các điều khoản liên hiệp giữa nước Anh và Scotland minh chứng cho điều
đó khi các quyền của Scotland được đảm bảo. Khi liên minh của chúng ta
bị đe dọa, mọi tiểu bang đều cùng chung mối lo âu. Cũng những lời nói
lo âu đó xuất hiện trên miệng của những người yêu nước Scotland, khi
liên minh Anh-Scotland gặp nguy hiểm. Tuy nhiên, các điều khoản liên
minh được tôn trọng. Nhờ đó, Scotland trở nên thịnh vượng và hạnh phúc
hơn. Nhưng đó chỉ là sự đảm bảo trên giấy mà thôi.
Ngoài những điều khoản cơ bản của Hiến pháp, thì chẳng có biện pháp nào
đủ sức chống lại các mối đe dọa cả. Ông không thể ngồi xuống nếu không
nhận xét về những lời lẽ của quý ngài Bedford. Không phải chính ông ta
đã thốt ra những lời lẽ độc ác và xấu xa đó hay sao? Thái độ của quý
ngài đó là không đúng đắn.
Chính ông ta, với những lời lẽ gay gắt chưa từng có tại Hội nghị này,
đã tuyên bố sẵn sàng đặt hy vọng cho sự yên bình và hạnh phúc của quê
hương vào tay những thế lực ngoại bang. Ông cảm thấy vô cùng đau đớn
khi nghe được những lời lẽ như thế và càng đau buồn hơn khi thấy những
lời lẽ đó lại xuất phát từ chính miệng lưỡi ông ta, nhưng quý ngài đó
chỉ thể hiện tâm trạng của riêng ông ta mà thôi. Bản thân ông, thì dù
bất cứ chuyện gì xảy ra, ông cũng không bao giờ đặt niềm tin vào các
thế lực ngoại bang.
Về đề xuất của Ngài Elseworth cho phép mỗi tiểu bang một phiếu bầu tại Thượng viện:
MA: phản đối; CT: tán thành; NY: tán thành; NJ: tán thành; PA: phản
đối; DE: tán thành; MD: tán thành; (Ngài Jenifer không có mặt; chỉ có
Ngài Martin bỏ phiếu); VA: phản đối; NC: phản đối; SC: phản đối; GA:
bất đồng ý kiến. Ngài Houston phản đối, Ngài Baldwin đồng ý. (6 bang
phản đối; 5 bang tán thành; một bang không quyết định).
|