Phan Vinh
HỒI KÝ PHAN-VĂN-VỊNH
Lời Nói Đầu
Mùa mưa gió ruộng đồng ngập lụt.
Ở nhà rảnh rỗi thất nghiệp chẳng có việc gì làm, xem sách báo lâu cũng
hết chẳng kiếm đâu ra tiền để mua thêm, mở truyền hình coi ngày nọ qua
ngày kia cũng chán, đi nhậu thì bạn bè trang lứa hợp gu đã chết gần
hết, còn lại một vài người già yếu bệnh tật kiêng cử từ chối.
Con cháu ăn ở vẫn còn đông, ban ngày mỗi đứa một việc, đi tẩu tán chẳng còn ai, nhà cửa trống vắng.
Tuổi già thấy cô đơn lạnh lẽo có khi hơi buồn. Tôi nghĩ một cách, thời
gian rảnh rổi vắng vẻ này nên làm một việc gì đó có ý nghĩa của đời
mình để lưu lại cho con cháu đọc, hiểu và thương mình hơn sau khi mình
không còn trên thế gian này nữa. Tôi nghĩ ra ý định ngồi viết hồi ký,
từ trước cho đến bây giờ, tôi chưa hề viết được một bài văn bài thơ nào
cả.
Đây là do tôi động não nhớ ra những sự việc quá khứ và hiện tại của bản
thân, bạo tay viết ra trong khoảng thời gian sáu mươi lăm năm cuộc đời
do bản thân hành động và những điều tai nghe mắt thấy của thế kỷ 20 qua
thế kỷ 21.
Những câu văn ghi lại chất phát mộc mạc của tâm hồn nông dân, hoàn toàn
sự thật để con cháu đọc cho vui, tìm hiểu cuộc đời tôi thời còn trai
trẻ sống trong hai cuộc chiến tranh gian nan, vất vả, nguy hiểm như thế
nào ?
Khi thất cơ lỡ vận, khốn đốn cùng cực như thế nào ?
Khi được tự do làm ăn sinh sống phải nổ lực gắng sức làm sao để vươn lên với mọi người.
Đất nước trên đà phát triển, con cháu có khi nó cũng giàu có lên, sẵn
tiền ăn chơi trác táng, đọc quyển hồi ký này tôi tin rằng nó có thể ăn
năn giảm bớt một phần nào. Nếu đứa con có văn hoá biết hiếu thảo nó sẽ
sống tốt hơn.
Cũng để làm quà tặng bạn bè thân mật xem cho đỡ buồn, nếu người ngoài
có ai đó cầm được xem qua nhận xét tôi có viết gì sai trái không hài
lòng quí vị, đó là sự trùng lặp, ngoài khả năng trình độ hiểu biết của
tác giả, chỉ vô tình không cố ý.
Có câu nào sơ xuất độc giả không được hài lòng, tôi xin chân thành nhận lỗi.
Kính mong sự góp ý phê bình của quí vị, xin thành thật cám ơn.
Bùi Chu, ngày 20 tháng 9 năm 2003.
Tác giả : PHAN VINH
Ngày 02 tháng 8 năm 2003 khai bút viết quyển Hồi Ký này.
Chương 1
Tuổi Ấu Thơ
BÀI 1 : BỐI CẢNH , THỜI GIAN, SỰ VIỆC. Sinh
ra và lớn lên ai cũng có quê hương, dù có đi khắp năm châu bốn bể họ
cũng đều nhớ về quê hương, có quê hương mới khôn lớn, nhớ quê hương mới
nên người, tôi tự giới thiệu về quê hương đôi nét.
Quê hương tôi tính theo đường đi từ Nam ra Bắc, quý vị khách bộ hành,
du lịch, hoặc cô bác, anh chị em, bạn bè, con cháu, có dịp nào đó trên
đường đi ngang qua địa phận Tỉnh Thừa-Thiên. Địa đầu ranh giới từ đèo
Hải-Vân trở ra, nên để ý nhìn xem phong cảnh hữu tình, núi cao biển
xanh cảnh đẹp như một bức tranh sơn thuỷ.
Đi xe lửa qua khỏi đèo Đồng-Nhất đến ga Lăng-Cô, tàu chạy trên đường
sắt men theo chân núi đến Hói Mít bên trái dãy Trường-Sơn, bên phải đầm
Lập-An, tàu chui qua khỏi cái hầm ngắn đó là quê tôi.
Nếu quí vị đi xe hơi xuống khỏi đèo Hải-Vân đến cầu Lăng-Cô cỡ 10 cây
số là đổ dốc hết đèo Phú-Gia, nhìn bên phải có nhà dân cư dọc theo Quốc
lộ 1 A là làng Phú-Gia, qua đoạn 150m bên phải có ngã ba Chân-Mây là
con đường xuống hải cảng độ chừng 200m, áp sát đường hướng bắc đó là
nhà ông Phan Tường em ruột của tôi.
Cha mẹ tôi ngày xưa còn trẻ đã sinh ra tôi tại đây vào ngày 16 tháng 10
năm 1939, nhằm năm Kỹ Mão cầm tinh con mèo. Đó là nơi chôn nhau cắt
rốn, có họ hàng, bà con, làng xóm quê hương tôi.
Từ ngã ba Chân Mây chạy theo quốc lộ 1 A đến Thừa-Lưu xã Lộc-Tiến là xã
quê tôi. Xuôi theo đường đến Nước Ngọt là xã Lộc-Thủy, qua đèo
Phước-Tượng đến Cầu Hai huyện Phú-Lộc, huyện quê tôi. Tiếp nữa Đá-Bạc,
Nong, Truồi, Phú-Bài, Hương-Thủy, An-Cựu, thành phố Huế tỉnh Thừa-Thiên
là quê hương tôi.
Khi tuổi ấu thơ và niên thiếu của tôi nằm trong thời kỳ thực dân phong
kiến, phát-xít Nhật đổ bộ cướp nước đè đầu cỡi cổ. Kết thúc Đệ nhị thế
chiến, Việt minh lên nắm chính quyền 1945.
Qua 1946 tôi mới lên 8 tuổi, còn nhớ cha cõng chạy giặc, ban đêm leo
lên núi Khe Hang để trốn quân Pháp tái chiếm Việt-Nam. Lúc này tình
hình chính trị rất rối ren, toàn dân cả nước, phải nỗ lực đóng góp tối
đa từ tinh thần lẫn vật chất, để cực lực chiến đấu chống quân Pháp.
Quê hương tôi hướng đông giáp biển, hướng tây sát núi Trường-Sơn, làng
nằm giữa, có đường quốc lộ 1 A và đường xe lửa áp sát với làng bên trái
hướng tây.
Thời chống Pháp trên địa thế này là vùng xôi đậu, ban ngày của Pháp, ban đêm của V.M.
Nhân dân sinh sống rất vất vả, chật vật, bị uy hiếp đủ điều.
Nhưng vẫn cứ bám đất bám làng để sống, góp phần chiến đấu anh dũng,
chống quân Pháp suốt 10 năm gian khổ, đến 1954 mới được đình chiến, chứ
chưa phải hòa bình độc lập.
Trong khoảng thời gian nói trên, gia đình tôi rất khó khăn, năm sáu
tuổi đầu đã biết ra đồng mò cua bắt ốc hái rau, để gia tăng bữa cơm đạm
bạc hằng ngày, lợi dụng đi làm công việc nầy để nghịch bùn bơi sông tắm
suối cho thỏa thích.
Kỷ niệm một ngày anh em đi tát cá mò cua còn nhớ mãi suốt đời, tôi với
anh Doãn con ông bác rủ nhau vào phía trong đường rầy xe lửa ngang cầu
8 thước, be bờ quanh một góc ruộng. Hai anh em hì hục tát hơn giờ đồng
hồ mới cạn nước thì người đã mệt nhoài, đứng hết muốn nỗi nên phải ngồi
bẹp xuống sình để mò cua bắt cá.
Ông Doãn mò mãi mê thế nào mà một con đỉa trâu to bằng đầu chiếc đũa
chui tuột vào hậu môn của ông, cảm giác nhột nhạt sờ tay nghe trơn
lạnh. Anh kêu tôi : "Đỉa em ơi ! Mi xem giúp tau hình như có con đỉa
đang chui vào đít".
Tôi vội vàng chạy lại bảo ông chổng mông lên để xem thì thấy nó đã chui
vào hết hai phần con, chỉ còn thò bên ngoài cỡ một phần, nhìn kỹ đúng
là một chú đỉa trâu, nhanh nhẹn thò tay dí hai móng bấm thật chặt cố
gắng lắm mới kéo nó ra được. Hai thằng nhìn nhau sợ quá không dám mò
nữa đi qua vũng cầu tắm rửa ra về.
Nhớ lại những lời kể chuyện của bà nội, đỉa mà chui vào lỗ tai là nó ăn
hết óc, rồi đẻ đỉa con đầy đầu, chui vào bẹn, vào hậu môn hút hết máu
làm chết người, sợ quá từ nay về sau không dám ngồi bẹp xuống sình mò
cua bắt cá nữa.
Năm 1945, anh em tôi được 7 tuổi đời, bác cho ông Doãn đi học trường Dì
Phước dạy cạnh nhà thờ Đạo Công-giáo của ông Cố Vị, Cố Phương ngoài Tam
Vị. Từ nhà ra đến trường học độ chừng hai cây số có đi qua một cái cầu
leo nguy hiểm, đi không cẩn thận là lọt tỏm xuống sông, bác gởi anh
Doãn cho chị Xuyến và anh Khuê dắt qua cầu lúc đi cũng như khi về.
Còn tôi đã đến tuổi đi học mà chẳng được đi, vì không người giữ nhà
trông em để cha mẹ đi làm công việc đồng áng, một phần đường xá qua cầu
nguy hiễm, nên cha mẹ tôi chưa cho đi học.
Cách Mạng mùa thu năm 1945 dành được thắng lợi, nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa ra đời, mới có phong trào bài trừ giặc dốt, Bác Hồ kêu gọi
toàn dân phải đi học từ già đến trẻ bắt buộc phải đọc thông viết thạo
chữ quốc ngữ. Ba tôi ngày đi làm lụng tối lại phải tập trung đến trụ sở
tham dự khoá học Bình dân học vụ, do Thầy khóa Nhượng dạy.
Hồi đầu cha tôi mới học hai mươi bốn chữ cái, ông học được chữ nào về
truyền dạy lại cho tôi. Thế là tôi được cha tôi làm thầy khai trí học
vỡ lòng đầu tiên. Tôi học tới học lui hai mươi bốn chữ cái mà u mê đọc
trước quên sau. Cha tôi có một cây roi mây nhỏ xíu bằng chiếc đũa, dài
cỡ một mét rưỡi, đầu roi có chùm rễ xoè ra để ông cầm mà đánh.
Một bữa nọ ham đi chơi rong quên hết, chiều ông đi làm về, khảo bài
không thuộc, nổi nóng rút roi phết vào lưng lằn ngang lằn dọc đau điếng
người. Mẹ thấy tôi bị ăn đòn sót ruột lắm, nhưng chẳng dám cự nự ông
một lời để an ủi. Bà nghĩ rằng ông cũng thương con nên phải răn đe đánh
đập cho nó nên người.
Tháng 1 mùa Xuân năm 1946, trong xóm có hai ông bà, gia đình khá giả,
mời gia sư dạy học trong nhà cho con cháu của họ, dạy cả chữ quốc ngữ
lẫn chữ Hán. Được cha dẫn đến lớp học, trước xin hai ông bà chủ chấp
thuận, sau gởi tôi cho thầy dạy dỗ. Đầu tiên thầy đặt tên cho tôi là
Phan Vinh, thầy dạy lễ phép, chào kính người trên kẻ dưới, đã là học
trò không được nghịch phá, tham lam, trộm cắp của bạn bè, phải đoàn kết
thương yêu chỉ vẽ lẫn nhau, biết thi đua học tập cho tốt.
Thế là năm nay tôi mới được ngồi lớp học tại trường có thầy giáo dạy,
nói là trường chứ một gian chái gạnh ra bên hông nhà trên của hai ông
bà chủ, kê mấy bộ bàn ghế thô sơ, cả lớn bé đều ngồi chung một lớp. Học
với Thầy Khóa Nhượng được tám tháng tập viết chữ ghép vần tiếng Việt,
xem sách chữ in chưa thông suốt, thì thầy xin nghỉ dạy về quê hương gia
đình của thầy ở làng Thổ Sơn.
Khi thầy còn dạy học tại làng Phú-Gia, tuổi thầy đã cao nên già yếu,
ngày thì dạy lớp học trẻ từ sáng đến tối mới được nghỉ. Một lớp học
trên dưới khoảng hai mươi trò lớn nhỏ, trình độ cao thấp khác nhau,
thầy soạn bài viết bài cũng vất vả, tối lại bắt buộc thầy phải đi dạy
học bình dân học vụ, sức thầy chịu đựng không nỗi, nên thầy xin ông bà
chủ cho nghỉ về nhà. Không còn thầy dạy sự học của tôi bị gián đoạn từ
đây, ở nhà đi chơi long nhong.
Dạo nầy em gái tôi đã biết bồng em giữ nhà nấu cơm, tôi giao việc cho
em tôi làm, chạy rong nghịch phá. Cha tôi thấy vậy, đến gia đình cùng
xóm có một bầy trâu rất đông, năn nỉ hai ông bà chủ xin chăn rẽ một nái
để gầy giống và cày ruộng, đẻ nghé con thì chia ba, chủ hai còn người
chăn giữ một.
Được ông bà chủ chấp thuận, làm giấy hợp đồng dắt trâu nái mẹ về nhà,
bắt đầu tôi được làm mục đồng chăn trâu không còn rảnh rỗi đi chơi rong
lêu lổng nữa. Làm mục đồng chăn trâu có nhiều bạn bè cũng thích thú.
Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ, được ngồi lưng trâu,
được sờ đuôi trâu. Hằng ngày được ngồi trên lưng trâu di chuyển một vài
cây số là thường. Khi đến bãi chăn thả, bày ra các trò chơi như : đánh
đu, đánh đáo, đánh bi, đá cầu, đá bóng, múa gươm múa gậy, chạy ô ba,
xúi nhau vật lộn, nghịch ngợm đủ thứ v.v... Tôi đi chăn liên tiếp ba
năm, trâu mẹ đẻ cho được hai chú nghé đực, một con ba tuổi, một con hai
tuổi mập mạp dễ thương, tôi yêu mến chúng lắm.
Tháng 9/1950 lính Pháp mở cuộc hành quân ra xóm Tre, xóm Đình làng
Phú-Gia. Không hiểu mấy ông du kích địa phương dàn trận đánh thế nào bị
thất thế để chúng vây bắt được một ông, trói tay dắt về đồn Thừa-Lưu
theo đường quốc lộ 1 A. Lính Pháp nhìn thấy năm bầy trâu chăn gần đường
lộ ngã ba Chân-Mây bây giờ. Một ông quan hai người Pháp chỉ tay vào đàn
trâu đang gặm cỏ la om sòm, ra lệnh cho mấy tên Việt gian đi theo Pháp
lội xuống ruộng dí súng bắt anh em tôi đánh hết trâu về đồn, nó lấy cái
cớ trong làng có V.M. Lùa hết năm bầy trâu lên đồn Thừa-Lưu nhốt hết
vào trong hàng rào đồn luỷ của chúng, đóng chặt cổng trại rồi đuổi anh
em tôi đi về.
Tôi tiếc nuối buồn rầu, lủi thủi ra về vừa đi vừa khóc, vì thương hại
cho hai con nghé bé dại yêu quí của tôi. Hai anh em tôi với ông Sinh về
đến cống Gạo tai nghe phía sau có tiếng xe chạy. Ngoảnh lại nhìn thấy
một chiếc xe Dodge chở đầy lính súng đạn mã tấu, mấy anh lính người
Việt kêu to : Ê, hai thằng tê.
Tôi tưởng nó cho quá giang về làng, hai anh em co giò chạy theo cỡ năm
mươi mét, xe nó từ từ dừng lại tại cống Gạo ngang xóm Rú là xóm Núi,
dắt xuống xe hai người bịt hết con mắt đưa xuống bờ ruộng gần suối để
đứng tại đây. Mấy thằng lính người Việt nói hai thằng mầy đứng đó coi
tụi tau cho hai thằng V.M. về chầu Diêm vương.
Tụi lính đánh thuê cho Pháp toàn người Việt, cả một tiểu đội nó nằm sấp
xuống đường lộ, ôm súng Mas 36 lên đạn nghe rốp rốp. Thằng quan Tây ra
lệnh bắn, chúng bóp cò súng nổ liên thanh, đạn bay trúng vào người của
hai ông nhảy cẩng lên trời rồi nhào đầu xuống đất dẫy chết. Tụi nó
buông súng, xách mã tấu chạy xuống bờ ruộng chặt đầu. Tôi nghe tiếng mã
tấu chạm xương cổ kêu cốp cốp. Khi đầu lìa khỏi xác chúng xách lên
đường, leo lên chạng ba của cây mù u lớn trồng bên đường lộ để đầu lên
đó, nhét vào miệng mỗi ông một điếu thuốc lá trắng lốp, rồi tụt xuống
leo lên xe tài xế lái chạy về đồn. Ông Sinh nhìn thấy có run hay không
lúc ấy tôi chẵng để ý. Riêng tôi thì mặt mày tái mét run cầm cập hồn
vía bay hết lên ngọn cây. Thật căm thù cho cái quân độc ác, người Việt
giết người Việt, tôi ngao ngán cho đời có chiến tranh xâm lược. Anh em
lủi thủi đi về mà thương tiếc tội nghiệp cho hai ông ấy.
Đêm hôm đó hễ tôi nhắm mắt ngủ là mơ màng ác mộng trước mắt nhan nhãn
cảnh tượng hiện ra khi mình được chứng kiến sự giết người tàn bạo của
bọn thực dân Pháp.
Ngày hôm sau có một số cụ già lụ khụ 65 tuổi trở lên 70, 80 tuổi, mặc
quần dài trắng áo dài đen, chân mang guốc, đầu chít khăn đóng, che dù
đen đội nón trắng, rủ nhau cuốc bộ lên Đồn Thưà Lưu xin lại năm bầy
trâu. Nghe mấy cụ đi về kể lại tụi Pháp không thèm tiếp, nên chẳng
thương lượng gì được.
Cách năm sáu ngày sau, vì trâu bị nhốt lâu ngày quá đói khát, phần nó
sợ giết thịt, nên ban đêm xé rào tẩu thoát về làng. Mỗi bầy bị giết hai
hoặc ba con trâu tơ mập, để tiếp tế cho lính Pháp ăn khắp cả địa bàn
đồn trú trong huyện Phú-Lộc. Bầy trâu của tôi gồm ba con hai chú nghé
dễ thương của tôi đã bị chúng giết thịt, chỉ còn lại con trâu mẹ già ốm
về được. Tháng giêng năm sau bị một trận dịch nó cũng chết luôn, thế là
toi cơm mấy năm chăn dắt dãi dầu mưa nắng.
Tháng 2 năm 1951, khủng hoảng kinh tế gia đình vì quân Pháp chẳng cho
cày ruộng, cấy lúa trong đường quốc lộ 1 qua đường xe lửa giáp chân
núi, vì chúng sợ phá đường giao thông xe tàu. Hết gạo ăn, thất nghiệp
đói khát khuẩn bất, cha tôi cũng trốn làng vào Lăng-Cô theo bác tìm
việc làm kiếm sống, tiết kiệm tiền gởi về cho mẹ nuôi anh em tôi.
Vào được Lăng-Cô cha tôi nhờ bác kiếm việc, xin với ông Cửu Sang làm
bốc xếp các đốt gỗ to tướng do trâu bò kéo trên rừng về để tại ga tàu
lửa Lăng-Cô. Ba đến bốn chục người mới lập thế kéo lên toa tàu được một
đốt súc Chò-chai to tướng nặng trịch, để ông chủ đưa vào Đà-nẵng hoặc
ra Huế bán cho các trại mộc đóng đồ gỗ, mới có tiền mang về phát lương
cho cu-li.
Còn mẹ tôi ở nhà đi khắp làng tìm hỏi mua tre chặt vác về, cây dài cưa
làm bốn, cây ngắn cưa ba, tuỳ theo thước tấc mà cưa cho phù hợp, bó lại
đưa lên vai vác đi, đến ga Thừa-Lưu bỏ lên toa tàu, mua vé và cước phí,
rồi chở vào ga Lăng-Cô bán lại cho mấy ông thuyền chài để họ đan dụng
cụ đi làm nghề, kiếm tiền lời về đong gạo nuôi con, cứ sáng đi sớm
chiều về nhà với con cái. Có bữa mua không có tre thì chặt một cây
chuối nặng trịch một chuyến vác.
Năm nay có chị Hai con của bác Cả chồng chết sớm không có nhà ở, một
tay phải nuôi hai đứa con trai còn bé dại, ở chung trong nhà. Sáng sớm
thím cháu vác chuối đi với nhau.
Chị Hai khỏe hơn vác cây to, mẹ yếu hơn vác cây bé vừa, phải đi năm cây
số mới đến nhà ga xe lửa, bán cho thương lái mua chở vào Lăng-Cô bán
lại cho các người nuôi heo. Thời ấy nuôi heo mọi cho ăn toàn rau lang
và chuối cây, làm gì có thực phẩm hỗn hợp như bây giờ.
Mẹ và chị bán được tre và chuối thì đong gạo về ăn được trong ngày, mai
lại đi làm tiếp, cứ thế mà cứu gia đình qua khỏi cơn đói khát ngặt
nghèo. Thời gian cha vào Lăng-Cô làm việc, ở nhà nhớ cha quá, xin mẹ
cho đi theo vào ga Lăng-Cô thăm cha. Xuống tàu đi đến chỗ cha đang bốc
cây, thấy cha lao động nặng nhọc vất vả thương cha quá.
Một hai lần đầu vào thăm cha xong lên tàu về lại với mẹ. Lần sau nữa
xin cha ở lại, ở với bác, chiều tối cha đi làm về ăn ngủ với cha. Mấy
ngày sau cha đi làm, tôi ở nhà theo ông Doãn sang ga Lăng Cô bán nước
cho lính Pháp đi lại trên xe lửa. Anh Doãn thì khôn ngoan lanh lẹ hơn,
anh chỉ vẽ cho mà làm, đi săn nhặt vỏ chai thuỷ tinh, súc rửa cho sạch,
hái lá bàng non vò nát nấu đậm đem pha trộn với nước lã cho có màu nâu
lợt giống nước chè, đổ vào chai đóng nút kỹ, năm bảy chai bỏ hết vào
giỏ mang đi rao bán. Chẳng thấy thằng Tây nào chịu mua bằng tiền, nó
chỉ trao đổi mà thôi, nó đổi cho phong bánh Bítqui, bánh kẹo, ổ mì, hộp
cá hoặc hộp thịt nhỏ, nhiều ít cũng đổi.
Có một vài thằng Tây xấu bụng kêu đưa nước cho nó, nó đỗ đầy binh đông,
rồi nó đuổi mình đi chổ khác chẳng cho cái gì, hận quá chữi đ. m. mi,
nó chẳng hiểu mình nói gì.
Hôm nào lính Pháp đi hành quân đông trên tàu đổi được nhiều thứ. Cái
nào còn nguyên vẹn bao bì tốt, đem bán lại cho mấy mụ bán quán lấy
tiền, thứ không có bao bì thì để dùng hoặc mang về nhà cho các em.
Tháng 5 năm 1951, đến mùa lúa chín ở quê, mẹ bắt tôi vào Lăng Cô kêu
cha trở về làng thu hoạch vụ mùa đông xuân, cha con cùng về với nhau,
dạo nầy không vào ở Lăng Cô nữa.
Thỉnh thoảng cha con vào thăm hai bác và các anh chị một bữa, rồi trở lại sinh sống với xóm làng.
Mùa xuân năm 1952, thầy Khóa Sinh mở lớp dạy học hai thứ chữ Hán Việt,
ai muốn học chữ gì tuỳ ý thầy vẫn dạy. Con nhà khá giả xin học cả hai
thứ , tiền thầy mua sắm giấy bút phải gấp đôi. Nhà nghèo nên cha chỉ
nhờ dạy một thứ chữ Việt mà thôi. Mẹ mua sắm cho đầy đủ giấy bút, may
cho một bộ áo quần mới, một cái mũ đan lát thủ công bằng sợi cói, để
đội đầu đi học che mưa nắng. Cha dắt đi đoạn đường năm cây số mới đến
nhà ông Bân tại xóm Bàu làng Trung-Kiền nơi thầy dạy học gởi cho thầy.
Tại xóm Chùa tức là xóm của tôi ơ, dù chỉ có tôi với ông Khảm được cha
mẹ cho đi học mà thôi, các bạn trang lứa vì nhà quá nghèo không có cơm
rau để ăn, còn nói gì đến việc học hành, chỉ cho đi ở chăn trâu bò cho
các nhà giàu kiếm cơm ăn để sống mà thôi. Dạo nầy tôi với bạn Khảm sáng
sớm cơm nước xong, cắp sách đội nón, mang theo một bữa cơm trưa, cuốc
bộ bằng hai bàn chân trần năm cây số mới đến trường. Lớp học đến trưa
nghỉ ăn cơm, học lại buổi chiều, vì đường xa thầy cho hai anh em được
ưu tiên nghỉ sớm, lại cuốc bộ năm cây số mới về thấu nhà. Cứ ngày qua
ngày hai đứa cuốc bộ mỗi ngày mười cây số, mỗi tháng chỉ được nghỉ hai
ngày rằm và mồng một Âm lịch. Theo học một năm với thầy Sinh biết đọc
biết viết, biết làm những bài toán cộng trừ.
Mùa xuân năm 1953, thầy khóa Thúy ở làng Bình-An lên mở lớp dạy học ở
làng Thổ Sơn ranh giới sát làng Phú-Gia gần đường đi hơn, nên tôi từ
giã thầy Sinh về học với thầy khóa Thúy. Ông Khảm cũng theo tôi học
thầy mới bỏ thầy cũ, hai anh em tôi học cùng lớp chữ quốc ngữ. Thầy
khóa Thúy dạy tốt hơn thầy khóa Sinh, ông nầy dạy giỏi, học trò dễ
hiểu, mau tiến bộ. Học với ông được năm tháng, đến tháng 6/1953, chợ
Thừa-Lưu ban đêm tự nhiên bị hỏa hoạn thiêu rụi, phải kiến thiết lại
chợ mới. Xã nhờ thầy viết văn tế lễ Khánh thành chợ, viết bằng chữ Hán.
Không biết thầy viết những gì trong tờ văn tế mà bị vi phạm chính trị,
thầy bị bắt đi tù. Thế là anh em tôi phải nghỉ học, vừa tiếc nuối mình
bị nghỉ học dỡ dang, vừa thương thầy không biết thân phận thầy tù tội
nơi đâu mà thăm viếng.
Văn chương phú lục chưa hay, không thầy dạy chữ, phải học cày cho xong.
Tôi lại tiếp tục đi chăn trâu cày ruộng. Mùa xuân năm 1954, chiến tranh
gần ngày kết thúc rất ác liệt. Lính Pháp đốt hết nhà cửa, cưỡng bức cả
làng phải di cư lên làng Trung-Kiền khu vực trảng trống, cho ở tập
trung tại đây, chia lô cất lều trú ngụ.
Được cha cho học lại với thầy Sinh ít tháng, thì Pháp bị Việt-Minh đánh bại tại Điện Biên Phủ ngày 07.5.1954.
Đôi bên được lệnh đình chiến do hội nghị Giơ-ne-vơ (Thuỵ-Sĩ).
Cả làng được cho về lại chốn cũ làng xưa, tôi cũng tạ từ thầy về làng nghỉ học.
Năm nay tôi vừa được mười sáu tuổi đời, cùng cha dỡ lều, chuyển về làng sinh sống.
Tuy hoà bình nhưng đất nước vẫn còn chia đôi lãnh thổ. Miền Bắc từ vĩ
tuyến 17 trở ra, miền Nam từ vĩ tuyến 17 cầu Hiền-Lương trở vào. Mỹ đưa
cụ Ngô về làm Thủ Tướng miền Nam, cũng mở ra chiến dịch và các chính
sách để ổn định lòng dân, viện trợ cho dân nghèo đói, xóa nạn mù chữ
v.v...
Thời gian nầy anh Sanh còn trẻ tuổi đẹp trai, con nhà giàu học giỏi.
Anh tự nguyện làm việc nghĩa, đứng ra mở lớp dạy học bình dân ban đêm
cho con em mù chữ trong xóm chùa, học tại nhà ông Đê, mệ Đỉu.
Ban ngày đi làm ăn, tối tập trung lại anh dạy cho học đến 23 giờ mới giải tán ra về.
Trong lớp học được bốn anh em có trình độ hơi khá ngang nhau, anh tách
riêng ra Phan Vịnh, Trịnh Quyền, Lê Diên, Hứa Khảm dạy riêng chương
trình học cao hơn và khuyến khích thi đua để học tốt.
Trong thời gian thọ giáo với anh trình độ văn hoá của tôi và các bạn
cũng được nâng cao lên một ít, dù ít hay nhiều tôi cũng nhớ ơn anh ấy.
Cho dù một chữ cũng thầy nửa chữ cũng thầy, nhờ vậy mà khi vào đời, đi
xa gia đình, cũng có mang theo chút ít văn hóa tối thiểu để làm hành
trang xử lý cho đời mình.
BÀI 2. MÁI NHÀ XƯA LÀNG XÓM CŨ
Từ năm 1955 đến năm 1959 tôi vẫn sinh sống với gia đình làng xóm tại quê hương.
Khi đã được hồi hương về xóm cũ làng xưa, cha tôi dựng tạm lên một túp
lều tranh cỏ che mưa nắng tạm thời để lo bắt tay vào việc đọc thông
viết thạo chữ quốc ngữ.
Ba tôi ngày đi làm lụng tối lại phải tập trung đến trụ sở tham dự khoá
học mái ngói có tường gạch của ông bà Sắc Đ... Ông bà biết thương lượng
xin với Pháp nói là cái nhà thờ của gia tộc, nên nó tha không đập phá,
sau ngày đình chiến gia đình ông bà hồi hương về ở tốt lành nguyên vẹn,
chỉ có một vài vết đạn nhỏ không đáng kể.
Toàn cả làng ai cũng dựng túp lều ở tạm, làng yêu cầu xã cho phép lên
rừng khai thác gỗ về cất lại nhà ở được chấp thuận. Trong khi đi khai
thác phải làm đơn Thôn trưởng chứng thực mang lên Xã phê chuẩn thuận
cho, mới được mang theo lương thực ở lại ăn làm. Nếu ai không xin tự
tiện mang lương thực đi bị Công an chế độ cũ xét gặp quy cho tội tiếp
tế V.C, bị tù mục xương.
Mỗi đợt đi làm phải xin phép gia chủ gánh theo lương thực, thợ rừng
mang theo rìu, rựa, cưa, đục. Lộ trình phải chui qua hầm tàu lửa Phú
Gia, thẳng đường rầy vào đến khe Bạch-Xà leo dốc núi đi mãi cho đến
trại Hang. Đây có một cái hang đá to ở được, mới dừng chân hạ trại ở
lại cả tuần lễ, đốn hạ cây to cưa xẻ ra thành kèo cột phách gỗ, đục lỗ
bịn xỏ dây cột chặt kéo xuống núi vác ra đầm kéo về gần cửa hầm tàu mới
vác vai đi về nhà. Đoạn đường đi trên núi dốc và dưới đường đằm ước
chừng hơn mười cây số.
Cha tôi thuê mướn thợ rừng đi khai thác bảy tám lần mới đủ nếp nhà, vì
làm nhà rường theo kiểu Huế cổ điển nên kèo cột nhiều lắm. Cây gỗ đã đủ
mướn thợ mộc ông bộ Hòa làng Thổ Sơn làm thợ cả, ông Tỏ học trò phụ,
hai ông cặm cụi cưa bào đục đẻo hai tháng trời mới dựng nhà lên được.
Cha mẹ cũng chuẩn bị tấm lợp bằng cỏ tranh đánh hom sáu chải chuốt sạch
sẽ, dây buộc lạt lợp cả năm sáu tháng trước mới đầy đủ. Sườn nhà cây gỗ
được thợ mộc bào trơn đóng bén, mái lợp sạch sẽ gọn gàng, trông lên
cũng mát mắt, vây xung quanh sườn tre tráp tranh lát kín đáo, được tạm
ổn cả nhà ở khỏi sợ các cơn mưa bão khắc nghiệt tại miền Trung.
Lúc này anh Sanh được làng bầu làm Thôn trưởng nên nghỉ dạy học, anh em
tôi cũng nghỉ học. Thời gian nầy ngày tôi đi làm việc nhà, tối phải
xuống xóm tre nhà mệ Tình để dạy cho các em nhỏ học bình dân, những em
nhà nghèo không có điều kiện đến trường.
Anh Sanh làm Thôn trưởng chỉnh đốn tổ chức lại, phân chia làng ra bốn
liên gia, mỗi liên gia phải bầu một liên gia trưởng, tổ chức các đoàn
thể thì có các lão ông, lão bà, nông dân, phụ nữ, mỗi đoàn thể phải bầu
Ban Chấp Hành để lãnh đạo.
Đầu tiên tôi được bầu Chấp hành Thiếu niên.
Năm 20 tuổi sung vào đoàn thể thanh-niên, tôi cũng được bầu làm Ban
chấp hành Thanh niên. Làm chức vụ nầy thỉnh thoảng nhận được giấy mời
đi họp đại hội tại Xã, phải cuốc bộ năm cây số mới đến địa điểm họp,
thường tôi chọn một chỗ ngồi sau cùng để an toạ. Cán bộ xã khai mạc
cuộc họp tôi chỉ lắng tai nghe thuyết trình thao thao bất tuyệt, nghe
hơi êm tai gió bên ngoài thoang thoảng thổi vào phòng họp hiu hiu mát
mẻ, tôi đánh một giấc ngủ.
Ngủ gật mê man ngon lành, không đề nghị không ý kiến cho đến khi bế mạc ra về.
Khi có Lễ Song Thất hoặc Quốc khánh 7/7, 26/10... nhiệm vụ phải sắp chữ
dán băng rôn những câu tung hô và đả đảo, tôi không tiện viết ra đây
đọc kỳ lắm.
Mỗi khi đi dự lễ tôi phải thân hành vác băng cờ khi đi cũng như khi về,
chỉ làm tay sai cho các cấp lãnh đạo thôn và đoàn thể. Ăn cơm nhà vác
ống loa hàng tổng, chẳng có được một tiếng khen ngợi, quyền hạn gì cả,
thêm mất công bỏ việc của gia đình. Đôi khi báo với cha ngày mai con
bận đi họp, nhìn nét mặt của cha thấy ông không được vui, nhưng chẳng
nói gì, tôi hiểu ông chẳng phải nể nang gì tôi, mà ông chỉ sợ mang vạ
vào thân vu cho cái tội phản đối chế độ. Chương 2
Bổn Phận Công Dân
BÀI 3. BỔN PHẬN, GIA ĐÌNH, XÃ HỘI
Lúc nầy tuổi đã trưởng thành phải làm nghĩa vụ đầu tiên cho làng, vì
làng tôi có hương ước ấn định : Mỗi người nam trong làng khi tuổi đã
trưởng thành, không sớm thì muộn phải qua một khóa (một nhiệm kỳ) một
năm đầu xâu cho làng (tiếng Bắc là anh mõ) làm tay sai cho làng, để các
vị bô lão và ông Thôn trưởng sai khiến khi có việc cần.
Mời làng họp, đi quyên tiền tế tự xuân kỵ, thu thường, tống đạt giấy
báo thuế nông nghiệp, khi làng cúng tế bưng cỗ đến nhà cho các vị bô
lão bị ốm đau không đi dự tiệc được, bị sai làm đủ việc v.v...
Làm chức vụ nầy là một tay sai mà thấy nhàn hơn chức vụ trên. Được bàn
giao Ban chấp hành Thanh-niên cho người khác, được miễn đi canh gác ban
đêm giữ an ninh trật tự trong làng. Thu xong vụ thuế nông nghiệp lại
được tiền thù lao, ông Thôn trưởng trích quỹ thôn cho 10$, tỷ giá tiền
bây giờ cở 100.000$. Nhưng ông chẳng đưa trực tiếp cho tôi, mà lại gởi
cho cha mang về sung vào quỹ gia đình để mẹ chi tiêu việc chợ búa.
Trong làng có người qua đời tôi cũng đi gánh đám đưa các vị đến nơi an
nghỉ cuối cùng. Chiến tranh chống Pháp đến lúc ác liệt, đình chùa bị
bom đạn tan tành, nên phải đóng góp tiền bạc công sức xây dựng lại.
Thành lập Đoàn Gia-đình Phật Tử để hương khói tụng niệm ngày rằm, mồng
một âm lịch hằng tháng tôi cũng có tham gia.
Năm 18 tuổi cha đi nói vợ. Phải làm rể 3 năm mới được cưới, công việc
làm rể phải đi cày ruộng, vun luống khoai lang cao ngang thắt lưng cho
gia đình bên vợ, làm một ngày là oải ba sườn.
Mang tiếng thanh niên nhưng sức còn yếu, lao động không kịp ông già vợ.
Nhờ ông có lòng thương con rể nên chẳng trách móc gì.
Tôi lấy vợ là do cha mẹ quyết định, vợ chồng tôi chẳng quen biết trước
và tìm hiểu gì cả, nhìn nhau như mặt trăng mặt trời, do cái tội mắc cỡ,
chứ chẳng phải chê bai gì nhau. Làm rể đã lâu ngày, cha vợ thấy hai đứa
chẳng tâm sự gì với nhau. Tôi nhớ có một hôm ông gọi cả hai chúng tôi
đi theo ông ban đêm để thăm chẹp (đó), ông dàn cảnh cho ngồi trên đường
quốc lộ, ông lội xuống ruộng đi mất cở một tiếng đồng hồ mới quay trở
lại, hai đứa tôi cứ ngồi im lặng chẳng đứa nào nói năng một điều gì.
Bây giờ nhớ lại mới buồn cười.
Đến năm 1960, nhà cửa làm xong xuôi ổn định, cha mẹ lo cưới vợ cho tôi,
đang hội ý với nhau, tôi rình nghe, hai ông bà bàn bạc việc sắm sanh lễ
vật. Bà nói theo thông lệ của phong tục, phải làm một đôi hoa tai một
chỉ vàng y (vàng 24 ca ra) là một số tiền hơi lớn nhưng phải có. Ông
nói thời nầy làm bông chạm lọng là xưa chỉ có mấy bà già còn đeo mà
thôi, hiện nay tôi thấy con gái toàn đeo hoa tai bèo, mình đi đặt cho
thợ họ làm đôi hoa tai bèo hợp thời trang cho con dâu nó thích. Bà nói
: Hơi đâu mà ông đi chiều con dâu, theo tôi nghĩ bông tai bèo là để đeo
đi chơi các lễ thường, còn đây là mình sính lễ cưới xin, nhà mình con
cái hiếm hoi mà nó là con trưởng nam, làm bông tai bèo đi cưới vợ răng
được. Bà nói tiếp, ông không nghe người ta nói :
Lênh đênh bèo nổi trên sông,
Bềnh bồng trôi dạt biết về nơi mô.
Ông chịu thua lý của bà, nhất trí đặt làm đôi hoa tai chạm lọng.
Lại bàn qua cặp áo cưới, phong tục ở Huế áo cưới cô dâu phải mặc hai chiếc áo dài. Bà nói :
-Mình mới làm nhà cửa vừa xong tiền bạc cũng thút mút, may cả cặp áo
dài mua vải tốt lấy đâu ra tiền, còn phải sắm sửa cổ bàn nữa, ít nhất
cũng phải mời bà con họ hàng, hàng xóm, tính sơ cũng bốn mâm, đãi họ
đàn gái đưa dâu hai mâm, con cháu trong nhà nữa, vị chi phải bảy tám
mâm chớ phải ít sao, mà đi vay mượn thì cũng phải trả. Cưới rồi bắt con
dâu đi làm trả nợ là tội nghiệp cho chúng nó, mà mình cũng mang lấy
tiếng tăm. Tôi nghĩ ông bà sui và con dâu nó cũng hiểu cho hoàn cảnh
gia đình mình. Ông bà nhất trí may cặp áo cưới bằng vải nội hóa loại
xoàng, bàn xong việc bông hoa mua sắm áo quần.
Cha đi nhờ thầy xem ngày lành tháng tốt để tổ chức đám cưới, năm 1960
là cha mẹ cưới vợ cho tôi, rước nàng dâu mới về chung sống với gia
đình, vài tháng sau cô em gái cũng cất bước theo chồng. Vợ chồng tôi đi
làm lụng với nhau cũng vất vã, hết việc đồng áng lên núi chặt củi đốt
than. Trở lại mùa cấy gặt thì làm việc đồng áng, chân lấm tay bùn, bán
mặt cho đất, bán lưng cho trời, tương lai mù mịt, lấy nhau cả một năm
mà chưa dám sinh con.
Lúc này lại nhận được lệnh gọi đi quân dịch, phải đi trình diện khám
tuyển, Bác sĩ khám chưa đủ sức khỏe, Hội đồng tuyển binh cho hoãn lại
năm sau sẽ xét tuyển. Ở nhà được một năm, qua năm sau có lệnh gọi lại,
tôi nghĩ lần nầy là phải đi thôi. Đi quân dịch thời ấy nhà nước chỉ
nuôi cơm, chẳng có lương bổng gì.
Tôi lo lắng, nhà thì nghèo mà đi các thứ lính không lương lấy gì ăn
tiêu, phần tiết kiệm được đồng nào gởi về phụ giúp gia đình. Tôi tính
toán suy nghĩ chắc phải tìm lính gì có lương bổng đi đăng ký trước, dù
gì mình cũng phải đi làm lính, không sớm thì muộn, chẳng ai cho ở nhà
với vợ mãi được đâu.
Tôi nhất quyết phải bỏ lại cha mẹ, vợ, em, làng xóm để ra đi làm bổn phận nam nhi hồ thỉ.
Đi cho biết đó biết đây
Ở nhà với vợ (mẹ) biết ngày nào khôn.
(Ca dao)
Chương 3
Nghĩa Vụ Quân Sự
BÀI 4. ĐĂNG KÝ LÍNH BIỆT ĐỘNG QUÂN MIỀN NAM.
Đầu óc tôi đang suy nghĩ tìm kiếm đăng ký vào binh chủng nào cho có
lương, thì gặp dịp Xã đưa thông tư về làng phổ biến nhà nước đang tuyển
mộ lính Biệt Động Quân ai muốn đi đến Tiểu-Khu Thừa-thiên để đăng ký.
Sau khi bế mạc cuộc họp của thôn, về nhà xin cha mẹ đi đăng ký lính
nầy. Hồi đầu cha bảo đi lính nào phục vụ gần địa phương, thỉnh thoảng
về thăm gia đình vợ con, tau nghe cái lính nầy ở mải trong Sài gòn xa
xuôi quá chớ nên đi, tôi phải lựa lời lẽ năn nỉ phải trái mãi, ông bà
mới xiêu lòng cho tuỳ ý. Xong chuyện cha mẹ, cũng phải bàn qua với bà
xã vài câu cho hợp lệ, tài gì mà bà xã giữ được chân, khi lòng tôi đã
quyết.
Trong khi sắp đi xa mẹ tôi sắm một mâm cổ, để cha cúng bái Tổ Tiên Ông
Bà, cha tôi khấn nguyện được ơn trên phò hộ tôi được bình an mạnh khỏe,
ngày ra đi có ngày trở lại. Cha cũng dặn dò tôi đủ điều không thể nhớ
hết nổi, chỉ nhớ vài câu đại khái, nên làm việc thiện lánh việc ác,
khôn ngoan xão quyệt quá người ta cũng ghét, dại dột thiệt thà quá
thiệt cho bản thân, con liệu mà ăn ở đối nhân xử thế cho phải đạo là
tốt, điều cần nhất giữ gìn sức khỏe là quí hơn tiền tài vàng bạc, kể cả
ngọc ngà châu báu cũng không sánh bằng sức khỏe của con người. Câu cuối
ông dặn thêm phải biết thương cha nhớ mẹ, thương vợ nhớ đến các em và
quê hương tình làng nghĩa xóm. Chớ nên vui vẻ quá trớn mà quên hết lời
dặn dò của cha và nhiệm vụ của cấp trên giao phó, quên gia đình là con
lỗi đạo, quên nhiệm vụ bị khiển trách phạt tù tội không có cơ hội tiến
thân, tôi cũng hứa xin giữ lời cha mẹ dạy con không khi nào dám quên.
Sau khi cúng bái Tổ tiên Ông bà xong, cha mẹ dọn đồ cúng xuống bàn,
quanh quẩn cả gia đình dùng bữa cơm thân mật, ngày mai xách gói lên
đường. Đồng hành có ba anh em Vịnh, Sâm, Sơn đã cùng rủ nhau từ mấy hôm
nay, khi ra đến Tiểu khu Thừa-Thiên (Huế) ba anh em vào xin đăng ký
lính Biệt Động Quân. Ngày vào Phòng xét tuyển, Vịnh, Sâm đủ tiêu chuẩn
được thu nhận, Sơn bị rớt vì quá thấp không đủ chiều cao, thất vọng lủi
thủi ra về một mình buồn da diết, hai anh em được trúng tuyển ở lại
cũng ngậm ngùi thương hại cho Sơn.
Trong năm nay có một số đông anh em trong làng đồng trang lứa, họ đã rủ
nhau đăng ký lính Bảo-An đi gần ngót, anh em tôi thấy ở nhà cũng buồn
nên rủ nhau đi .
Tôi khám sức khỏe đã trúng tuyển, hai hôm sau Ban Tuyển binh thu nhận
hồ sơ khai sinh vợ, hôn thú, thẻ căn cước, để thiết lập hồ sơ quân bạ.
Binh 2 Phan Vịnh số quân 60/202.413 nhập ngũ ngày 07/9/1961 Binh chủng
Biệt Động Quân tại Tiểu khu Thừa Thiên. Nay tôi đã chính thức là người
của quân đội Chính phủ miền Nam. Phải ở tập trung tại Mang-Cá Huế để
đợi tuyển dụng cho đủ số lượng, thời gian chờ đợi tại đây cả hai tháng
trời nhà nước phải nuôi ăn, lần đầu tiên tôi được ăn cơm nhà binh tập
thể tại đồn Mang Cá, ở đây nhà bếp cho ăn cũng tạm được. Mỗi ngày chỉ
có hai lần tập họp điểm danh sáng và tối mà thôi, chẵng có làm công
việc gì cả, tập họp kiểm danh buổi sáng xong, rủ nhau kéo ra Phu Văn
Lâu chơi bơi lội tắm giặt trên sông Hương, trưa về dùng cơm lại đi chơi
tiếp. Có một số anh em nhà quê mới lên tỉnh lần đầu tiên còn ngáo ộp,
đi xa cha mẹ cho ít tiền mang theo hộ thân khi cần đến không biết giữ
gìn, bị bọn du đảng bụi đời làm cò mồi dụ khị đánh tráo bài ba lá, mấy
anh có máu mê cờ bạc moi tiền ra đặt xuống bị chúng tóm hết sạch vậy.
Bên phe lính mới thì đông, tụi đánh lận bài tráo chỉ có ba bốn đứa nó
ăn hết tiền đã đầy túi vội la lớn có Cảnh sát đến bỏ chạy mất tiêu.
Phát hiện gian lận, biết nó nơi đâu mà tìm, đành chịu thua, bị chúng
cho một bài học đau hơn hoạn. Khi chờ đợi tại đây tôi cũng xin phép cán
bộ tuyển binh về thăm lại nhà ba bốn lần. Tháng 12/1961 mới đưa đi thụ
huấn, trước khi đưa đi huấn luyện cán bộ cho biết ngày giờ lên tàu lửa,
để anh em về đông đủ tập họp mà đi, tôi cũng về thăm nhà lần cuối cho
bà xã biết tôi đi chuyến tàu đêm tại ga Huế, sáng 07g30 tàu chạy ngang
qua địa phương, tôi trông xuống bờ ruộng bên lề đường tàu nhìn thấy bà
xã đứng một mình, ngữa mặt nhìn lên tàu, tôi đứng sẳn ngoài cửa đưa bàn
tay bai bai vài cái, tàu đã chạy đến cửa hầm Phú Gia chui qua mất hút,
tôi bùi ngùi thương vợ muốn ứa nước mắt. Tàu chạy một ngày ròng rã đến
24g00 đêm vào tới ga Nha-Trang thì xuống tàu. Có cán bộ hướng dẩn đến
đoàn xe quân vận chờ sẳn ở bên ngoài sân ga, cán bộ ra lệnh cho anh em
leo hết lên xe chở ngược lui Ninh-Hòa rồi rẽ về Dục-Mỹ là đã đến địa
điểm huấn luyện. Năm ấy Trung tâm huấn luyện mới thành lập, nhà cửa còn
lụp xụp, không đủ cho lính ở phải che thêm lều vải ở tạm, ban ngày trời
nắng nóng lắm không chịu nổi. Qua ngày sau lãnh quân trang quân dụng
đầy ăm ắp một xách maranh (túi đựng a 794;‹‰ 56; 0794; 5;âm nhớ bồ dù
về thăm ăn tết ở nhà, còn tôi thì nhát gan không dám làm việc phạm kỹ
luật, ở lại quân trường ăn tết đầu tiên trong quân đội, nhớ nhà, nhớ
cha mẹ, nhớ vợ buồn muốn thúi ruột. Tết xong anh Sâm trở lại trình diện
bị phạt, trước tiên cạo đầu trọc lóc như thầy chùa, nhốt vào chuồng
cọp, kẽm gai đan kín, thấp, nhốt vào thì chỉ có ngồi còm lưng, bò bốn
chân như con cọp, sau phạt đi nhảy tử thần khô tại núi Đeo. Dây tử thần
là một sợi dây cáp dăng từ chóp núi xuống chân núi dài cở 150m, khi
nhảy móc rõ rẻ vào dây cáp, người nhảy hai tay cầm chặt hai chiếc vòng
sắt gắn liền với rõ rẻ chỉ co giò lên cho hỏng mặt đất, thế là bánh xe
rõ rẻ đưa người chạy xuống độ dốc của sợi dây, khi chạy xuống gần chạm
mặt đất có người cầm cái cờ đỏ phất mạnh một cái là phải buông tay té
theo thế nghiêng mình kê bả vai xuống bãi cát nhào lộn theo trớn bốn
năm vòng đúng tư thế thì an toàn, té thất thế thì bị thương tật cột
sống, gãy cổ, có khi bị vở gan mật gây chết người, nếu không chết cũng
bị tàn phế suốt đời. Qua một thời gian cho khóa sinh bị phạt nhảy thử
nghiệm, có gây ra chết người nên mới dẹp bỏ môn nầy, chỉ còn huấn luyện
dây tử thần nước mà thôi. Tháng 2 năm 1962 bắt đầu vào khuôn khổ huấn
luyện rất căng thẳng. Súng Garan M.1. không có dây mang, luôn luôn cầm
hai tay nghiêng đầu súng về bên trái 45 độ, vai mang ba lô nặng 20 kg,
đầu đội nón sắt hai lớp, chân mang giày Bốt-đơ-sô, khi di chuyển ra bãi
tập năm cây số, phải chạy đều bước hai hàng dọc, khi đi cũng như khi
về, không bao giờ cho đi đều bước thong thả, thời gian nầy vừa làm tạp
dịch vừa huấn luyện quân sự, bị hành hạ quần thảo thật gian khổ, có một
số anh em không theo nổi đã đào ngũ tại quân trường.
Mấy ông Sĩ quan huấn luyện viên nói thao trường đỗ mồ hôi, chiến trường
bớt đỗ máu. Nhà bếp của Trung tâm nuôi ăn rất tệ hại mất vệ sinh, cơm
thì hai phần cơm một phần lúa, thức ăn canh rau muống già đựng trong
sọt cần xé gánh xuống suối chao đão vài lần đem lên đổ vào chảo nấu với
nước lã và muối hột, món ăn mặn cá biển ươn ình kho với nước và muối
thấy toàn xương ăn mặn chát. Nhưng đi tập dợt về bụng quá đói cũng dứt
một gamen đầy ăm ắp ngon lành.
Khóa A và B nầy khai giảng đầu tiên lúc Trung tâm mới thành lập nên rất
thiếu thốn mọi mặt. Trung tâm phải giữ lại làm tạp dịch kiến thiết quân
trường, mọi người đều được lãnh lương hàng tháng, riêng mình tôi chỉ
được nuôi cơm giống như đi quân dịch, tôi tìm hiểu nguyên nhân, anh thư
ký quân số báo cáo đào ngũ nhằm tên của tôi nên bị ngưng lương, tôi làm
đơn khiếu nại chẵng được giải quyết, cũng ráng cố gắng chịu đựng qua
thời gian huấn luyện nầy. Ngày mãn khóa rời quân trường ra đơn vị hành
quân, xe quân vận chở hết vào ga Nha-Trang lên xe lửa vào ga Saigòn, xe
chở về Miền Tây tỉnh Long-An trình diện Đại Đội 32 Hành Chánh Quản trị
Biệt Động Quân, tôi lại làm đơn trình bày lý do gần một năm tôi chưa có
lương, Đại Đội Trưởng cho tôi được lưu trú tạm thời với năm anh em cùng
khóa hàng ngày canh gác cổng ra vào, chờ đợi điều chĩnh lương bổng cả
một tháng mới được, cho tôi ký lãnh một tháng để thanh toán tiền cơm
tháng khi lưu trú tại đây. Điện đến Hạ sĩ quan Hậu cứ tại Trại Lê văn
Trúc Mỹ-Tho lái xe Dod đến Long-An nhận lãnh sáu anh em tân binh, về
đến căn cứ hậu trạm, ra lệnh gởi hết rương xách túi quân trang cồng
kềnh vào kho Đại Đội, Hậu cứ trang bị súng đạn xong, vai mang ba-lô tay
cầm súng nạp đạn tư thế sẳn sàng chiến đấu lên xe Dod của Hậu trạm tài
xế đưa đến bắc Rạch-Miễu đi Kiến-Hòa xuống phà chạy cặp bến xe leo lên
đường chạy mãi về tới tỉnh Kiến-Hòa xuống xe, đến tàu thuỷ lên tàu chạy
dọc theo sông Hàm Luông. Trong khi đang di chuyển trên tàu tôi nhìn
thấy quang cảnh mênh mông, sông nước hai bên bờ sông nơi nào cũng trùng
trùng điệp điệp toàn cây dừa nước rậm rạp, chẳng thấy loại cây gì mọc
xen lẫn.
Tàu chạy cả buổi sáng cho đến 15giờ chiều mới cặp bến chợ huyện
Thạnh-Phú nơi đồn trú của đơn vị hành quân. Tân binh chúng tôi có sáu
anh em được bổ sung về đây. Thường-vụ Đại Đội hướng dẫn trình diện Đai
Đội Trưởng, ông dặn dò anh em chúng tôi đôi lời, rồi ra lệnh Thường vụ
bổ sung cho các Trung-đội mỗi nơi hai người, tôi được bổ sung về Trung
đội 1 trinh diện Trung đôïi trưởng nhận công tác. Tôi được phân công
làm khói lửa cho Ban Chỉ huy Trung đội gồm có sáu miệng ăn, sáng nhận
tiền ra chợ mua thức ăn về trại nấu cơm, dến 10 giờ dọn ra mời ăn bữa
trưa, rửa dọn nghỉ ngơi lo bữa chiều. Bổn cũ soạn lại cứ thế mà làm,
khỏi đi hành quân tuần tiểu trong khu vực của huyện, ban đêm phải gác
hai giờ. Ở đây được ba tháng thì có lêïnh thuyên chuyển cả Đại Đôïi về
Liên Trường Võ khoa Thủ-Đức. Về đây tôi nhận nhiệm vụ mới, được bổ sung
cho Tiểu đội 1 Hành quân tuần tiểu ban ngày lẫn đêm, có khi đi phục
kích giữ an ninh tại ấp Tân Phong, Đình Phong Phú, Bân Oâng Thàn quanh
khu vực quân trường để sinh viên sĩ quan đi huấn luyện chiến thuật ban
đêm cũng như ban ngày, ở đây cũng nhàn rỗi, chẳng có đánh đá đụng trận
nào cả, một tháng sau Hạ sĩ quan hậu cứ đến phát lương tôi được lãnh
một lần tám tháng lương, thời gian thụ huấn chưa lãnh. Trả hết nợ cho
bạn bè, nợ quán của mấy mụ vợ lính bán quán cà phê sáng ăn uống thiếu
ghi sổ, tiền còn lại đi may sắm áo quần sơ mi quần tây, sắm đồ dùng cá
nhân, mua giày dép, mua khăn len, áo ấm để làm quà tặng cho gia đình.
Mua giấy ca-rô bút máy về trại viết đơn gởi Đại đội trưởng xin được
nghỉ phép thường niên 15 ngày, ông nhận đơn xét thấy sự thật hơn năm
chưa được nghỉ phép, ông chấp thuận cấp phép, ra lệnh thư ký tiền trạm
làm giấy phép trình lên Đại tá Chỉ huy trưởng Liên trường ký xong gọi
trình diện đưa cho, cầm được tôi không quên lời cám ơn Trung uý rồi
chào ông trở về phòng nghỉ của binh sĩ, sung sướng vô cùng, mừng hơn là
trúng số độc đắc, mang súng đạn quân trang gởi vào kho Tiền trạm, giả
từ tạm biệt bạn bè, xách túi hành lý qua ga tàu lửa Thủ-Đức mua vé tàu
đi Huế. Về phép lần thứ nhất trong đời đi làm lính, lại mới được truy
lãnh tám tháng lương tha hồ mua sắm quà cáp về tặng gia đình cháu chắt.
Năm nay về phép quê hương vẫn còn an ninh yên ổn đi lại thăm viếng bà
con làng xóm khắp nơi chưa có cách mạng bắt bớ, đêm vẫn ngủ nhà với gia
đình được. Dẫn bà xã đi Huế ra chợ Đông-Ba mua sắm quần áo vải đẹp, đổi
lại đôi hoa tai cho bà xã hài lòng. Chung sống với gia đình 10 ngày qua
mau quá, sắp hết phép, mẹ cũng sắm một mâm cỗ cho cha cúng ông bà tổ
tiên phù hộ cho con và dâu ra đi được bình an mạnh khỏe, dùng bữa cơm
gia đình nghỉ ngơi trò chuyện. Sáng ngày mai dắt vợ lên đường từ giả
tất cả, trở về Đơn vị trình diện. Năm nay cha mẹ vẫn còn khỏe, ông 52
tuổi, bà 48 tuổi, nên tôi cũng yên lòng mà đi. Vợ chồng vào đến nơi
trình diện trả giấy phép đúng hạn, báo cho Đại đội trưởng có mang theo
vợ. Oâng ra lệnh cho Thường vụ sắp xếp nơi ăn chốn ở tại Khu gia binh
Liên trường. Ở đây vợ tôi chỉ đi chợ nấu cơm hai đứa ăn với nhau, những
ngày tôi được đổi ca nghỉ ở nhà, còn khi đi công tác bên ngoài thì bới
cơm vào camen ba ngăn đậy nắp ràng dây thun kỹ gởi cho xe GMC đưa cơm
hàng ngày của quân trường ngày hai lần trưa và chiều. Thời gian cứ trôi
đi trôi đi sự việc cứ diển biến như thường lệ, vợ chồng tôi sống với
nhau được sáu tháng, thì bụng bầu vợ đã thấy bự, tôi khuyên bà xã nên
về quê sinh nở để nhờ Bà ngoại lo cho một đứa con đầu lòng. Vợ đồng ý
về quê, tôi đưa qua ga Thủ-Đức mua vé ra tàu về quê.
Tôi trở lui về đơn vị công việc cũng như thường ngày, dạo nầy ăn cơm
tháng vợ lính nấu, đến tháng lãnh lương trả tiền. Vào ngày 01.11.1963
Dương Văn Minh lật đổ Ngô Đình Diệm, tình hình chính trị lúc nầy rất
rối ren, Quân Giải Phóng Miền Nam cũng lớn mạnh lên, Đại Đội được lệnh
rời khỏi Liên trường Thủ-Đức, di chuyển về Trung-Lương Mỹ-Tho để thành
lập Tiểu Đoàn 52 Biệt Động Quân. Đưa đi huấn luyện bổ túc tại Trung tâm
huấn luyện Biệt Động Quân Trung-Hòa Củ-Chi Hậu-Nghĩa. Thời gian huấn
luyện tại đây cũng đụng nhiều trận với quân Giải phóng, ác liệt nhất
trận Hố Bò bị chết Cố vấn Mỹ, nhiều lính Biệt Động Quân chết và bị
thương, bản thân tôi được bình yên vô sự. Sau ngày mãn khóa học cả Liên
đoàn di chuyển về tại Mỹ-Tho.
Tiền trạm đóng tại chùa Oâng, về đến đây Tiểu Đoàn nhận lệnh hành quân
liên tục. Hành quân Tiểu khu Long-An vừa về đến trại, nhận lệnh hành
quân Định-Tường vừa chấm dứt lại nhận lệnh hành quân Tiểu-khu Kiến-Hòa,
cứ xây quanh như chong chóng, không có được một ngày nghỉ. Đi hành quân
băng sông lội rạch áo quần giày vớ lúc nào cũng dính đầy bùn lấm ẩm ướt
thật là gian khổ không thể tưởng tượng. Khi bình thường còn nản chí,
khi đụng trận lại càng bi đát hơn. Bạn bè người bỏ mạng sa trường kẻ
thương tích tàn phế, có đôi khi lội suốt từ sáng đến chiều tối bị đụng
trận không được một hột cơm vào bụng đói muốn rã ruột. Cứ ngày đi đêm
dừng nghỉ, hết xứ nầy đến nơi khác, cây cối rậm rạp, sông rạch chằng
chịt, tôi cứ mang một túi xách cứu thương và khẩu súng Carbin lủi thủi
đi theo đoàn quân tham dự các cuộc hành quân liên tục không trốn tránh
một ngày nào.
Sau Tiểu đoàn dời Tiền trạm về đóng tại Long-An, Đơn vị cũng đi hành
quân hai ba tháng mới về tiền trạm nghỉ được một hôm lại chuẩn bị đi
tiếp. Cũng có một số binh sĩ không chịu đựng được gian nan nguy hiễm bỏ
đào ngũ về đăng ký lính khác. Sáu anh em tân binh khóa của tôi được bổ
sung về đơn vị 1962 người chết kẻ bị thương có một anh đào ngũ, chỉ còn
lại một mình tôi là mạnh khỏe đang phục vụ Đại đội 4/52 Biệt Động Quân.
BÀI 5. MỘT TRẬN ĐÁNH NHỚ ĐỜI
Tôi
tham dự một trận đánh nhớ đời tại Lương Hòa Thượng, thuộc huyện
Đức-Hòa, Long-An. Vào O700g không nhớ ngày, nằm trong thời gian tháng
năm hoặc là tháng sáu năm1964, Tiểu-đoàn mướn ghe của dân tại Lương-Hòa
đưa hết binh sĩ của đơn vị qua bên kia sông Vàm Cỏ Đông, Tiểu Đoàn
Trưởng ra lệnh cho tất cả bốn Đại đội, mỗi Đại đội một cánh quân di
chuyển trong rẩy mía đường, song song theo con sông Vàm Cỏ về hướng tây
huyện Đức-Hòa. Như mọi ngày tôi cũng mang một túi xách cứu thương đựng
đầy những gói băng bó cá nhân để cấp cứu cho thương binh khi lâm trận,
tay cầm khẩu súng Carbin lên đạn sẳn, đi theo Ban chỉ huy Trung Đội 1
Đại Đội 4, đơn vị di chuyển được một cây số thì nghe có tiếng súng AK
trong các đám mía đường bắn ra, tôi trông thấy binh sĩ của Đại đội 1 đã
có hai người bị thương y-tá đang băng bó, tiến xa một quảng nữa, thì
nghe anh mang máy truyền-tin PRC 25 của Trung đội báo lại cho Trung đội
trưởng, lệnh của Đại bàng cho biết cánh quân Đại đội 1 đang đụng độ rất
nặng, đã có số binh sĩ bị thương và tử trận. Đơn vị chúng tôi đi cánh
quân sát bờ sông, nhìn thấy trực thăng đáp xuống tản thương, Trung đội
trưởng ra lệnh binh sĩ đề cao cảnh giác, sẳn sàng chiến đấu, tôi vừa đi
theo ban chỉ huy Trung đội nhìn kỹ phía trước bên trái bên phải từ sáng
đến gần trưa chẵng thấy một bóng dáng VC nào mà nổ súng cho phí đạn.
Khi cánh quân cùng Ban Chỉ huy của Trung đội tôi tiến đến sát con rạch
nằm chận ngang phía trước mặt. Tai tôi nghe một phát súng bên kia rạch
bắn qua rất gần, trúng phải đầu anh lính mang máy truyền tin Trung đội
vở sọ ngã nhào chết liền tại chỗ, tôi thấy đã chết nên không băng bó,
ông Trung đội trưởng, cấp bậc Chuẩn uý mới về đơn vị mang khẩu súng
Colt 45 đầu đội mủ nâu đi ngóc ngách bị một phát súng, đạn xuyên qua
trước trán hơi sâu, té ngữa máu ra đầm đìa, tôi chạy lại bên ông ngồi
xuống xé băng để bó vết thương cho ông ấy, tai tôi nghe bỏm một cái sát
mé rạch gần chỗ tôi đang ngồi, nổ ầm lên một tiếng điếc cả tai bùn nước
khói bắn lên tung toé phủ cả một vùng, tôi tưởng là đã chết theo các
bạn rồi, khi hoàn hồn nghe đầu gối hơi đau nhói, biết mình mới bị
thương chưa chết vẫn còn đi cà nhót được, tôi di lùi về phía sau gặp
được TS1 Hớn tôi cho anh hay, anh lính truyền tin đã chết, Trung đội
trưởng có lẽ cũng chết vì đã bị thương thủng trán quá nặng. TS1 Hớn là
Trung đội phó từ lâu sống chung trong ban Chỉ huy Trung đội bạn chơi
thân với nhau, ông ấy choàng vai tôi dìu lui phía sau cả hai trăm mét
thì thấy một số binh sĩ bị thương và tử trận được cứu ra khỏi làn đạn
giao chiến, nằm ngồi la liệt chờ trực thăng cứu thương đến di tản, tôi
ngồi xuống đây với anh em tự tay băng bó rịt lại vết thương cho kỹ, cở
năm phút nghe có tiếng trực thăng đến bốc hết số binh sĩ bị thương và
tử trận rồi cất cánh bay lên ra khỏi trận địa, từ đây tôi mới hú hồn
thở phào một cái nhẹ nhỏm, biết chắc mình đã được bạn bè cứu mạng. Về
đến Tổng Y Viện Cộng hòa Saigòn, đầu gối của tôi bị sưng to nhức nhối
không thể đi lại được nữa y-tá đưa vào phòng mỗ, Bác sĩ gây mê mổ lấy
mãnh đạn trên đầu gối ra để nằm trong phòng lạnh một đêm, ngày sau đưa
ra ngoài điều trị được ba ngày thì bó bột từ bắp đùi cho đến bàn chân,
thế là cái chân phải của tôi to tướng, trắng lốp, nặng trịch, ngay chò,
chẵng duỗi ra co vào được nữa, bệnh viện cho ký nhận một cặp tó để
chống nạnh di chuyển khi cần, nằm tại đây được năm ngày sau có một số
anh em bạn lính cùng đơn vị chơi thân với nhau, họ được may mắn sống
sót mạnh khỏe bình an, rủ nhau sáu anh em đến thăm tôi tại bệnh viện,
họ kể chuyện lại cho tôi nghe, trực thăng tải thương chuyến của mầy là
cuối cùng.
Sau nầy VC xung phong đánh tan tành cả Tiểu đoàn, Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn
chết sạch, đứt liên lạc, các Đại đội bị thương và chết hết phân nữa, ai
bị thương nhẹ chạy được may ra còn sống, ai bị thương nặng đi không
được là chết hết, Trung đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng đ794;5; 794;ải đi
làm lính, không sớm thì muộn, chẵng ai cho ở nhà với vợ mãi được đâu.
Tôi nhất quyết phải bỏ lại cha mesa trường rồi, còn đâu nữa mà các bạn
tới thăm. Mấy anh em chuyện trò qua lại gần một giờ đồng hồ, các bạn
chúc tôi điều trị chóng bình phục rồi từ giả ra về, anh em cho hay số
còn lại đang an dưỡng tại Quân đoàn III Biên-Hòa chờø bổ sung quân số.
Tôi nằm Bệnh viện Bác sĩ cho uống thuốc viên 10 ngày thì cho xuất Viện
về điều trị tại gia 29 ngày tái khám. Về nhà xa quá trong khi người còn
thương tích, về nhà sợ cha mẹ vợ con buồn. Hồi ấy Hậu trạm Tiểu doàn
vẫn còn ở Long-An, tôi được nhận giấy xuất viện về thẳng Hậu trạm trình
diện nghỉ ngơi tại đây cho đến ngày tái khám nhập viện lại, Bác sĩ cho
cắt bột vết thương cũng lành, nhưng chân vẫn còn ngay chò, chưa co vào
duỗi ra được, Bác sĩ cho nghỉ tiếp 29 ngày nữa để tập thể dục cho cái
chân trở lại bình thường mới đi làm việc. Tôi nhận được giấy xuất viện
lần thứ hai cũng được nghỉ dài ngày, mừng quá về lại đơn vị xin đổi
giấy phép nghỉ tại gia. Lúc nầy mặc áo quần thường dân đi xe khách về
Huế, lần nầy về làng Aáp chiến lược đã bị phá huỷ tan tành, ban ngày
thì của quốc gia, ban đêm của Cách mạng, chỉ viếng về nhà ban ngày một
vài tiếng đồng hồ thăm cha mẹ vợ và các em rồi vào Lăng-Cô ở lại nhà
bác cho đến ngày hết phép từ giả ra đi. Vào đến Long-An đi vô doanh
trại thấy trống rỗng chẵng còn ai, hỏi ra mới biết Tiền trạm và gia
đình binh sĩ đã di chuyển hết về Biên-Hòa.
Chương 4
Chưa Được Làm Phó Thường Dân
BÀI 7. NGƯỜI DÂN CHƯA ĐƯỢC THỪA NHẬN
Trước giờ phút đánh dấu bước ngoặt của lịch sử, chấm dứt thời kỳ đen
tối, chuyển sang thời kỳ vinh quang sáng lạng của đất nước được độc lập.
Hai cha con của tôi còn ở trên lầu 2 bệnh viện Nhi đồng, con tôi nhờ ơn
Bác sĩ cả hai nơi chữa trị nay đã được phục hồi sức khỏe. Trong giờ
phút giao thời nầy, các Bác sĩ và y-tá làm việc trong bệnh viện cho các
em nhi đồng đang điều trị và thân nhân thăm nuôi ra khỏi bệnh viện đóng
chặt cửa khóa lại để bảo vệ cơ sở vật chất, phòng kẻ xấu thừa cơ hội
vào cướp bóc phá tán.
Tôi hiểu rõ lời Bác sĩ và ý thức liền, ẳm bé Phú con tôi ra khỏi bệnh
viện, cuốc bộ về nhà ông anh vợ tại Hòa-Hưng ở bên cạnh Bộ chỉ huy Biệt
động quân chế độ cũ. Thời gian nầy khoảng 11 giờ ngày 30/4/1975, tôi
rất lo lắng cho vợ đang mang bầu gần ngày sinh đến đầy đủ với hai anh
bạn lính cùng đơn vị họ đã bị thương xuất viện về nghỉ dưỡng bệnh tại
trại gia binh, dắt dìu giúp đỡ gia đình tôi cùng chạy loạn, tìm đến nơi
đến chốn bình yên vô sự.
Trước ngày giải phóng vợ tôi đã biết địa chỉ nhà của ông anh. Giờ đây
hai vợ chồng bốn đứa con đã được sum họp, mừng mừng tủi tủi cứ ngồi yên
trong nhà nhìn ra ngoài đường trông thấy một số ngưỡi xấu bụng, tham
lam chạy đi hôi của từng đoàn ngoài phố. Súng trẻ con cứ bắn nghịch họ
cứ đi thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra. Thấy họ mang về hàng
quân tiếp vụ quân đội Sài gòn. Nào là gạo đường sữa rượu bia thuốc lá,
nước ngọt lẫn cả của cải thường dân họ sợ chết bỏ nhà trốn đi nước
ngoài, tôi vô cùng chán nản chẳng ham muốn gì cả.
Tôi nghĩ bụng đi làm lính 14 năm đã vào sinh ra tử mà không chết, chỉ
có bị thương, đừng nên có lòng tham lam đi theo họ làm việc phi nghĩa,
phi pháp xui xẻo bị tụi trẻ con bắn nghịch lạc đạn chết bỏ vợ con thì
lãng xẹt. Ông anh cũng bảo bây giờ ngoài đường phố tình hình chưa ổn
định, cô dượng cứ tạm ở lại đây một vài ngày chờ yên tiếng súng rồi hãy
về, bây giờ mà về gấp là nguy hiểm, cũng chưa có xe nào dám chạy về
Hố-Nai đâu.
Tôi nghe lời anh chị ở lại ba hôm tình hình đã yên ổn, vợ chồng dắt dìu
con cái đón xe về Hố-Nai. Về đến nơi thấy anh chị em bạn lính ở cùng
doanh trại họ đã trở về gần đầy đủ, vào căn nhà thấy cạy cửa đập khóa
tanh bành, rinh hết đồ đạc trong nhà rỗng tuyênh từ trước ra sau vơ vét
sạch sẽ, chẵng còn cái gì đáng giá một xu. Gia tài sản nghiệp của tôi
lúc nầy chỉ còn được mụ vợ bốn đứa con thơ dại. Anh chị em cùng ở chung
trong trại ai có bà con gia đình ở gần, họ cũng mướn xe chở đồ đạc về
quê sinh sống, dần dần họ từ giả đi gần muốn hết. Chỉ còn lại gia đình
của tôi và Hai Cưu quê hương quá xa tại Đà-Nẳng và Huế chẵng đủ tiền
bao nổi chuyến xe để về quê, nên còn nấn ná ở tại đây.
Vợ chồng bàn bạc khi sinh nở xong tìm cách về làng sinh sống cùng cha
mẹ và quê hương. Cứ ở lì tại trại được 10 ngày thì quân giải phóng đến
tiếp thu khu vực quân sự đuổi ra khỏi trại, tôi dắt dìu vợ con ra đến
gia đinh bác Hạp xin trú ngụ tạm ít hôm để che mưa nắng cho vợ con tạm
thời rồi sẽ lo liệu. Hồi đó gia đình của bác có một căn nhà tranh vách
đất lụp xụp kê được hai chiếc giường để cho vợ lính mướn ở, bây giờ
đang bỏ trống, Bác cho ở nhờ chẵng phải thuê mướn gì. Hai Cưu thấy tôi
còn ở đây cũng mướn của bác Cương anh bác Hạp mấy mét vuông đất để che
tạm một cái lều nhỏ xíu kê được chiếc giường để ở tạm rồi đi kiếm việc
làm ăn, quen biết ông Chuẩn xin được đất mới dỡ lều ra Tây-Lạc.
Thời gian gia đình tôi tá túc tại căn lều Bác Hạp để đợi vợ sinh xong
về quê chẳng biết có việc gì mà đi làm, thất nghiệp ngồi nhà ăn không
cả một tháng, gia đình lớn nhỏ có sáu người mà kéo dài không làm gì có
thu nhập, ngồi không mà ăn thì sông cũng cạn núi cũng mòn, cả nhà sắp
chết đói đến nơi. Khi vợ đến ngày sinh bé Phúc đưa đến trạm xá Bùi-Chu
nhờ cô Huê giúp đở chẳng phải tốn kém, vợ sinh phải ở nhà nuôi đẻ giặt
giũ, vì lúc ấy con còn bé chưa nhờ được.
Sau một tháng nữa vợ tròn con vuông được khỏe mạnh cứng cáp, giao cho
bà xã ở nhà coi con nấu nướng mà ăn, tôi theo Hai Cưu đi tìm việc làm,
cuốc cỏ tranh cho bà Quan một ngày được 500$ bạc của chế độ cũ, mua
được ký gạo đủ cho một mình, nhưng vẫn đi làm với nhau vô lẻ ngồi nhà
hoài, đi vào sâu trong rẩy trong đồng ruộng mới thấy công ăn việc làm
của bà con, anh em đổi ý về quê, rủ nhau đến Trưởng Ấp xin đăng ký tạm
trú.
Vợ chồng cũng bàn lại bỏ ý định về quê. Bây giờ mà mình mang một bầy
con lóc nhóc về chỉ báo đời cha mẹ đôi bên, bây giờ thì cha mẹ đã già
yếu kinh tế khó khăn, có một điều nữa xấu hổ với bạn bè làng xóm. Tôi
mang sổ gia đình và giấy căn cước của hai vợ chồng đến Văn phòng Ấp
Bùi-Chu nộp hết cho Ấp xin được đăng ký nhập cư thường trú, ông Thận
làm Phó ấp trực tại Văn phòng nhận hồ sơ cho được tạm trú để đi lao
động nuôi con, được yên chí nhận nơi nầy làm quê hương thứ hai để sinh
sống. Vợ mới sinh còn yếu chưa đi làm được ở nhà chăm bầy con dại năm
đứa. Tôi phải đi tìm việc làm thuê cuốc mướn để kiếm tí tiền mua gạo
sống qua ngày, ngày nào tìm không có việc thì bé Quang với tôi hai cha
con đi mót củ mì trong Long-Bình Cầu Cháy để đem về ăn độn, ngày nào
cũng phải đi lao động không việc nầy thì kiếm việc khác làm để có lương
thực nuôi con.
Thời ấy người ta thường nói lao động là vinh quang, bây giờ tôi suy nghĩ kỹ mới thấy câu văn hay và đúng lý.
BÀI 8. TỪ NGÀY ĐƯỢC NHẬP HỘ KHẨU, ĐƯỢC HỌC CẢI TẠO TẠI ĐỊA PHƯƠNG.
Tôi làm lính 14 năm mới bò lên cấp bậc Trung sĩ I chức vụ Hạ sĩ quan
Quân số Tiếp liệu Đại đội 4/52 Biệt động quân, nên cách mạng cũng khoan
hồng gọi tập trung cải tạo tại địa phương, vì Ấp Bùi-chu đông nguỵ quân
nguỵ quyền, mà cán bộ quản giáo chỉ có hai ông Trung uý bộ đội, nên
phải chia ra làm ba bốn ca, cải tạo từng đợt ca một cải tạo một tuần,
cho về đi lao động làm ăn, đến ca hai, rồi đến ca ba luân lưu tuần tự
cho đến hết chương trình thì cho nghỉ.
Sau thời gian cải tạo có quyết định được phục hồi quyền công dân.
Hôm nay tôi mới được chính thức làm phó thường dân Nam bộ.
Thất nghiệp vô tài bất tướng chẳng có nghề nghiệp chuyên môn gì, chỉ
biết đi làm thợ đụng, đụng việc gì cũng làm, có tiền công là được. Có
thời gian đi bốc xếp gỗ cho bộ đội, sáng bới một lon gô cơm ra đường lộ
chờ đợi xe, có ngày đợi hoài không thấy, mất toi cơm một ngày về không,
có bữa chỉ vào đến rừng, cưa máy bị hư hỏng không làm được lại về không
mất công chẳng được gì. Thấy công việc làm rừng nầy khó ăn tiền, nghỉ
đi nghề rừng, về tìm việc nghề nông làm mướn tuy ít tiền công hơn nhưng
dễ kiếm việc thường hơn.
Đồ nghề nông cụ của tôi chỉ vỏn vẹn có hai chiếc, một cái mã tấu, một
cái xẻng cá nhân của Mỹ, tôi lấy trong kho khi còn làm lính, để vợ chẻ
củi và dọn cỏ chung quanh nhà trại gia binh. Khi đi chặt mướn mía đường
thì mang theo mã tấu, xẽng gấp tháo bỏ cán ngắn thay thế cái cán dài để
cuốc đất mướn, mỗi ngày công chỉ được 500$ tiền chế đôï cũ, mua được
một ký gạo, có đôi lúc mua không có gạo, thì mua bo bo về nấu ăn cũng
ngon lành.
Chiếc mã tấu dùng đi chặt cây làm nhà ở và phá rừng làm rẫy. Đã quyết
định chọn ấp Bùi-chu làm quê hương thứ hai thì phải kiếm miếng đất cất
cái lều nho nhỏ để gia đình trú ngụ che mưa che nắng không lẽ ở nhờ ở
đậu mải như thế nầy coi sao được. Lúc nầy anh em cựu lính rủ nhau đi
làm mướn, gặp anh Vầy hỏi thăm khu vực của anh ở có còn chổ nào chỉ cho
tôi cất cái lều ở với cho vui, anh trả lời cứ vào nhà tôi chỉ cho mà
làm, hai ngày sau đi vào anh dắt đến chỉ cho, anh bảo miếng đất nầy của
thằng Hoa nó xí nhưng không ở bỏ đi nơi khác rồi, anh cứ ra đây làm mà
ở với anh em cho vui, tôi cũng thích rồi, nhưng sang hỏi ông Út Một cho
chắc ăn. Vì ông là người ở đây trước ngày chưa giải phóng, để tránh sự
rắc rối về sau. Sang nhà ông Út Một ông cũng bảo đất hoang vu vô chủ cứ
ra làm mà ở, thằng nào nói gì có tôi, mới vững bụng, vác cuốc ra đắp
một cái nền xí để đó. Có đất rồi phải lo vật liệu, xách mã tấu vào rừng
cầu Ba chặt cây.
Năm ấy rừng thiên nhiên còn bao la tha hồ mà chặt, vào rừng cứ thấy cây
thẳng vừa ý là đốn hạ rồi vác dồn lại một đống róc sạch vỏ, về ấp mướn
xe bò vào chở. Hồi đầu nhờ Bác Tỳ bác nói rừng cấm khai thác, để tôi
hỏi ông Hai Hà cho phép mới dám chở, tôi nghĩ mình đã đi chặt trộm mà
ông bảo hỏi Hai Hà Chủ tịch xã lúc bấy giờ. Tôi sợ năn nỉ với ông, Bác
không giúp em được thì em đi nhờ người khác Bác đừng báo Xã họ bắt tội
nghiệp em. Em chỉ lén chặt một ít đủ che túp lều để gia đình che mưa
nắng, em hứa không làm việc phi pháp, ông lặng yên, tôi tạ từ ông về,
đi mướn xe bò ông Bảy Ép, ông nhận lời ngay, đánh xe vào bốc chở về,
khỏi trình báo ai cả, ông chở về đường đi tự nhiên chẳng thấy ai hỏi
han gì, đến nơi đỗ xuống tôi trả tiền công song phẳng và cám ơn Bác
Bảy, ông đánh xe về.
Đã có cây đầy đủ, tôi vào dốc đồng ruộng chặt tre chẻ hom vác về, vợ đi
vào Phú-Sơn cắt tranh phơi khô mang về xếp đống, ngày nào không có việc
làm ở nhà soạn tranh ra đánh thành tấm lợp bằng hom sáu, chuẩn bị đầy
đủ vật liệu, một mình tự cưa ngàm đục lổ sàm vài để sẳn, đi nhờ hai ông
bạn Bác Vấn và Hai Cưu đến phụ giúp, ba anh em vừa dựng vừa lợp mái làm
một ngày là xong, ngày sau một mình đóng bổ vách tấp tranh vào cho kín
đáo. Nay đã có cái lều tranh kê được hai chiếc giường, chái thêm một
khúc phía sau để nấu cơm.
Tạm thời đã có nơi trú ngụ che mưa nắng, tôi từ giả ông bà Hạp dọn về
cái lều mới làm để ở. Tôi thưa với ông bà rằng : Dạ em kính thưa hai
bác, thời buổi chiến tranh ly loạn, em buộc phải đi lính tráng vào đến
đây, nay bị lỡ đường giữa chốn xa xuôi không có người thân thuộc, chẵng
biết nương tựa vào đâu, may mắn gặp gia đình bác mở rộng lòng thương,
cho gia đình em được tá túc trong căn lều của hai bác đợi cho vợ sinh
nở cứng cáp tìm đường về quê, ở đây vợ em đã sinh nở mạnh khỏe mẹ tròn
con vuông, thời gian thấm thoát đã bốn tháng trôi qua, vợ chồng em
quyết định không về quê nữa, em đã xin Aáp cư trú tại đây làm ăn nuôi
con. Bấy lâu vợ chồng em đã lo liệu che được một túp lều tranh phía
ngoài sân bóng đá kế nhà ông Út Một, xin hai bác cho em dọn về ngoài ấy
để trú ngụ, vợ chồng em trả lại căn lều cho hai bác. Dạ thưa hai bác
một đêm nằm hơn năm ở, dù gì em cũng ở nhờ nhà hai bác hơn bốn tháng
nay ơn nghĩa nầy quá lớn biết bao giờ em đền đáp được. Em cầu xin ơn
trên ban phước lành cho toàn thể gia đình bác. Bác Hạp gái cũng nói lại
: Không có gì đâu, biết giúp nhau lúc hoạn nạn mới là phải, rồi bác
cũng chúc lại vợ chồng con cái vào trong ấy ở được mạnh khỏe, làm ăn
mau khấm khá. Tôi cám ơn bác rồi dọn nhà vào đây ở kể từ tháng 8 năm
1975 cho đến ngày hôm nay.
BÀI 9 : AN CƯ LẬP NGHIỆP
Được chính quyền địa phương chấp nhận cho cư ngụ, kiếm được miếng đất
dựng lên cái lều tạm che mưa nắng cho gia đình trú ẩn. Lúc nầy rất bi
đát kinh tế gia đình đã cạn kiệt có ngày không gạo nấu, con cái phải ăn
củ mì bo bo mà sống. Tôi ngày nào cũng đi làm mướn xạc cỏ lúa rẫy cho
ông Chuẩn hai tháng, xong việc cỏ đi cuốc ruộng cho ông Chánh Tôn, cuốc
rẩy nhặt cỏ tranh cho bà Quang con gái bác Khương, đắp bờ phát cỏ ruộng
cho cụ cố Phác, ai bảo làm gì cũng làm, miển trả công mỗi ngày tương
đương một ký gạo là được, để nuôi bầy con sống qua ngày. Ăn thì đều mà
đi làm chẳng đều, có đôi lúc hết việc không ai mướn thất nghiệp ở nhà
cũng phải ăn.
Khoảng trong tháng 9/1975, lúc nầy kẹt quá, gạo hết tiền chẳng làm gì
có, con đói phải mang số nữ trang của bà xã, tiết kiệm sắm một chút để
phòng cơ, còn 8 chỉ vàng 24 cara, một sợi dây chuyền có quả tim 5 chỉ,
3 cái nhẫn mỗi cái một chĩ. Vợ giữ kỷ trong người khi chạy loạn nên vẫn
còn. Vợ chồng bàn với nhau mang đi bán, hỏi hết các nhà có tiền chẳng
ai thèm mua tôi mang một cái khâu một chỉ ra bà Giáo Luyện nhờ bà mua
giúp cho, trả bao nhiêu cũng được miễn có tiền về đong gạo cho con ăn
là cám ơn. Đây là nơi thân chủ quen biết đã từng mua bán với bà trước
ngày chưa giải phóng, tôi nghĩ bà chỉ sợ mình khốn đốn quá, có khi đem
vàng dổm để lường gạt, nên bà không dám mua.
Bí quá không biết làm sao, bà xã rỉ tai thổ lộ sự thật nhờ bác Hạp bán
giúp cho, nhà em đã mang đi hỏi bán mà chẳng ai mua. Bác nhận lời giúp
đỡ mang tận Saigòn mới bán hết được, đem tiền về đưa cho vợ chồng tôi,
mừng quá cám ơn bác, có tiền đi đong gạo gia đình ăn, gạo lúc nầy đắt
lắm, bán 8 chỉ vàng mà tính ra cả trước sau đong cả tạ gạo là sạch
tiền. Có gạo ăn cứu nguy cơn đói. Tôi tự suy nghĩ để kinh nghiệm. Vàng
bạc ngọc ngà châu báu chẳng quí bằng hạt gạo của trời. Khi bụng đói cồn
cào không thể ăn vàng ăn bạc vào bụng mà sống được.
Sau đó một thời gian có tình trạng vượt biên sang Mỹ, vàng lên giá vùn
vụt nhiều người đi tìm mua, lúc này còn mà bán một chỉ có thể mua được
hơn tạ gạo, 8 chỉ tính ra gạo cở 10 tạ, tôi đã bán sạch sẽ từ lâu, tôi
cũng chẳng có tiếc nuối làm gì. Tôi tự nghĩ một miếng khi đói bằng gói
khi no, may mắn có người giúp bán được để cứu đói là tốt rồi. Thế là
của Tây trả lại cho Tàu, sạch trơn sạch trụi của cải vàng bạc tích luỷ
cả 14 năm làm lính nguỵ, hôm nay đã tiêu tán sạch sẽ theo cát bụi của
thời gian.
Hết năm 1975 qua năm 1976 ăn Tết Ất Mão âm lịch xong, tháng giêng nhìn
thấy bà con trong ấp rủ nhau đi phá rừng làm rẫy, cũng vác mã tấu đi
theo vào cầu ba phát đưòng ranh khoanh vùng một mẫu rừng xí để đó, về
đi làm mướn kiếm gạo nuôi con, ngày nào không có việc đi làm mướn, thì
bới cơm nước xách mã tấu vào phát rừng, cứ vừa đi làm mướn vừa phá
rừng, một mình cũng phát xong 5 sào, còn 5 sào để qua năm sau phá tiếp.
Tháng 12 năm 1975 cụ cố Phác cho mướn 2 sào ruộng cấy lúa thần nông
giống 732, cày cấy xong bỏ đó đi phát dọn rẫy, lâu lâu ghé thăm đắp
nước vào, chẳng vải phân, không xịt thuốc, chỉ có làm vài ngày cỏ mà
thôi, thời tiết tốt không sâu bọ phá, qua tháng 3 năm 1976 thu hoạch
được 20 bao lúa tính ra cả tấn, mừng quá còn hơn trúng số độc đắc, chở
về phơi khô khén vây gót đổ vào dự trữ để ăn đi phá rẩy dọn rẩy, khỏi
lo chạy gạo hàng ngày, nên bây giờ tôi vẫn nhớ ơn ông cố cho đến muôn
đời. Từ đây tôi chỉ đi làm việc nhà hết đi làm mướn.
Chỉ có bà xã đến mùa bà con trong ấp cấy lúa nước, đi cấy mướn, lúc mới
giải phóng ít có người biết cấy, đi cấy là nghề nghiệp của bà xã, đến
vụ cấy bà con mướn đi làm liên tục.
Mùa cấy năm 1980 mang bầu thằng con trai út, tên nó là thằng Đức bây
giờ, đến ngày gần sinh tôi bảo ở nhà, đi cấy nữa coi chừng đẻ giữa
ruộng, tôi đi làm ở lại trong rẩy, bà xã ở nhà ông Thiệp vào kêu đi
cấy, nể nang cũng ra đi vào làm được nửa buổi, chuyển bụng đẻ ngay giữa
bờ ruộng như vịt.
Gặp chú Hùng Rô có xe bò làm kế bên, bỏ mẹ con lên chở về trạm xá cô
Huê, đồn ra trên làng dưới xóm ai ai cũng biết, tin vào rẩy tôi chạy về
gấp, vào trạm xá bà xã vẫn tỉnh táo sức khỏe mẹ tròn con vuông, tôi hú
hồn hú vía hết hồi hộp. Nghĩ lại có lẽ Trời Phật ở trên cao nhìn thấu,
phù hộ cho mới được như vậy. Ngày sau đem về nhà giao cho con gái lớn
chăm mẹ, cha con vào rẫy làm tiếp, cứ theo bà con học hỏi mà làm cho
đúng mùa vụ, thấy bà con trồng trỉa giống gì cứ theo mà làm, có làm là
có thu hoạch mới có lương thực mà ăn, hết thứ nầy thu hoạch thứ khác.
Nhưng cũng vất vả vô cùng, làm việc bằng hai cánh tay chẳng có năng
xuất, phải làm hết sức lực may ra đủ ăn. Đi làm phải lội bộ 10 cây số
đường rừng mới đến nơi, qua sông Lạnh còn đi vào tới đồi đất phá rẩy,
cha con che trại ở làm tại chỗ, có khi hai tuần lễ hoặc cả tháng mới về
thăm nhà một lần.
Mang lương thực về nhà nuôi con phải đi ban đêm tránh trạm kiểm soát,
nếu xui bị bắt là không xin lại được. Sảu xuất cầm chừng vừa đủ ăn,
không thể mang đi thành phố bán đổi để bà con tiêu thụ được, kinh tế
gia đình xã hội thời bao cấp khó phát triển, đời sống của nông dân còn
vất vả hơn.
Nam 1977 qua phá rẫy bên kia sông Thao thuộc ranh giới huyện Vĩnh cữu,
rừng nguyên sinh còn nhiều, cây to nhỏ còn rậm rạp, cây chò chai, cây
dầu cả hai người ôm vẫn còn nhiều, ông Hải ròn mướn thợ cưa vào xẻ về
làm nhà ở, xẻ được ít nhiều có chở về bớt một vài xe bò, số còn lại có
lẽ kẻ nào xấu bụng báo cáo du kích Vĩnh cửu sang tịch thu bắt dân vác
về Đồng lu một số, gỗ còn lại chất đống nổi lửa đốt cháy sạch sẽ, xui
cho hai anh đẩy xe thồ đi chặt cây rừng, bị đốt cháy xe còn phải bị bắt
vác một chuyến cây về đến Đồng Lu mới thả cho về.
Lúc nầy tôi cũng vào đây để lựa chặt một nếp nhà, cứ kiếm cây khế, cây
dấp cứ cây nào thẳng thử rựa thấy cứng vừa ý là hạ, dứt đúng thước tấc
róc mặt đẻo vỏ, tính đủ làm, vác hết qua sông.
Buổi chiều du kích sang bắt cây ông Hải, hai anh em tôi đang chuyển cây
qua sông. Tôi biết trước nên trốn thoát khỏi bị bắt vác cây. Người em
chuyển dùm cây với tôi là vợ của cậu Quý, ở ngoài quê vào Saigòn thăm
chồng là sinh viên Đại học bách khoa lúc mới giải phóng, mợ về thăm ở
lại nhà tôi, nhờ mợ đi vác giúp.
Hai anh em chuyển cả ngày mới qua hết bên kia sông, đi mướn xe bò chở
hết về nhà chất lại, vào rừng chặt tre chẽ rui, mè, hom tranh, lạt buộc
vác về mấy chuyến đầy đủ. Vợ chồng vào dốc đồng ruộng cắt tranh, năm ấy
tranh mọc quá nhiều, tha hồ mà cắt, chải chuốt đàng hoàng sạch sẽ, phơi
khô bó chặt lại từng bó, dồn lại một đống kêu xe bò ông Trầm Ninh Tây
lạc vào chở, chất hết lên một chuyến quá nhiều, không nặng nhưng nó
cồng kềnh, tranh khô trơn, đường ổ gà xe bò kéo đi bị lắc lư tuột đỗ
mấy lần, phần trời tối đói bụng khát nước, hai anh em sắp xếp lại mệt
muốn đứt hơi, nhờ ông Ninh hồi ấy rất khỏe, chịu khó làm nhiệt tình,
xếp lại xong ràng rịt kỷ lưỡng cũng đưa được xe tranh về đến nơi.
Tôi mừng quá cám ơn, uống nươc xong bỏ tranh xuống trả tiền xe cho ông
về cũng hơi muộn. Làm sàng chất hết lên đậy lại che mưa nắng kỹ lưỡng.
Đầu tháng 10/1980 về quê thăm cha mẹ anh em. Về xe lửa bước xuống ga
Thừa-Lưu xách gói rảo bộ về làng, đi đến một quảng đường cở cây số, gặp
một toán trẻ em đi lên xã học tiểu học. Tôi hỏi các em ở thôn nào đi
học xa rứa ? Các em trả lời ở thôn Phú-Gia, các em có biết ông Đính
không ? các em trả lời có biết, ông đã chết chôn hôm qua rồi. Một cú
xốc bất ngờ đầu óc choáng váng bước hết muốn nổi vừa đi vừa khóc, bụng
bảo dạ phải chi mình về sớm được vài ngày cha con nhìn mặt nhau lần
cuối, đi đến nhà nhìn thấy bàn thờ bát nhang bài vị, đứng khóc than một
lát cho vơi bớt nổi lòng, tôi tự trách mình là người con trưởng bất
hiếu, sống xa quê hương cũng vì tương lai của con cái, khi cha qua đời
chẳng lấp được một lát đất, thật là vô dụng, cầm nén hương ra mộ thấy
đống đất mới, thắp ba cây nhang xá nấm mộ ba xá khóc một lát rồi ra về
nhà với mẹ. Bà con đến thăm họ cũng góp lời an ủi.
Ở lại với mẹ đến ngày 9/9 âm lịch là ngày chạp mã lúc ấy, bây giờ dời
lui ngày 8/8 âm lịch, chạp mả cúng bái xong. Rủ mẹ vào Nam sống với con
cháu, bà chịu đi theo vào đến nơi nhìn thấy hoàn cảnh nhà cửa của con
cháu ở như cái ổ chuột chẳng giống ai, bà rưng rưng nước mắt, mẹ ở được
hơn tuần lễ thì vợ chồng đi thu hoạch lúa rẫy, nhờ rẫy mới nên lúa tốt
cũng trúng mùa, thu hoạch 5 sào được 25 bao 50, chở về chuyến xe bò
đầy, mẹ thấy cũng mừng, vợ chồng phải đi làm liên tục, bà ở nhà với
cháu bỏ tranh ra đánh hom sáu cả hai tuần lễ mới hết đống tranh, tôi
sắp lại đếm được 400 tấm, mỗi tấm dài 1m20, tấm lợp đã đủ. Công việc
hơi vãn, tháng 10 trời hết mưa, nhờ ông Khiêm một tay với tôi dỡ đống
cây ra làm thợ mộc cưa ngàm đục lổ ráp 4 vài kèo làm nhà ba gian dài 6m
ngang 4m làm mộc xong, buổi sáng sớm nhờ ít anh em trong xóm đến phụ
dựng lên bỏ đòn dông chống chỏi vững vàng, anh em về nhà ăn cơm đi lao
động.
Một mình tôi cắm cúi đóng hết đòn tay, làm hai mái rui tre đóng đinh
buộc dây cưa tề bằng phẳng ngắm mấy hàng cột sửa lại cho thẳng nện
cứng. Đóng bổ vách cột sườn vào để vắt vách đất.
Dở đống tranh ra tề đầu bằng phẵng chải sạch sẽ sắp có hàng lối tưới
nước lên, cho tấm tranh nở cứng khi lợp đưa lên mái nhà khỏi tuột ra.
Tôi chuẩn bị sườn nhà sườn vách tiêm tất, đi cậy nhờ anh em bạn bè cũ
và anh em trong khu vực có ông Hải, ông Yến, ông Một ông Khiêm tập
trung lại giúp cho, người lợp mái kẻ vắt vách ai biết việc gì làm việc
ấy, làm một ngày là xong, buổi trưa nghỉ dùng cơm làm lại buổi chiều là
hoàn tất, rửa tay chân bồi dưỡng một chầu nhậu xã giao, vui vẻ, anh em
không tính công cán gì, chỉ giúp đở nhau mà thôi, tôi cũng có lời cám
ơn tất cả. Hôm nay có cái nhà tranh vách đất chắc chắn cao ráo rộng rãi
hơn, cái ở cũng tạm ổn, chỉ còn lo cái ăn.
Bắt tay vào làm kinh tế vô sông Lạnh xẻ núi lấp suối làm ruộng lúa nước
ngắn ngày, ngăn đập sông Lạnh làm thuỷ lợi, đứng ra hô hào bà con cùng
làm. Sửa sang lều trại chắc chắn, cha con ở làm có khi hai ba tuần khi
một tháng mới về thăm mẹ, thăm nhà một lần, vợ sớm đi bộ vào làm một
buổi chiều đường xa lo về sớm với con, tôi có về thì nghỉ tại nhà qua
đêm sáng mai cũng đi ngay. Bà ở nhà với cháu bé, con dâu đi làm liên
tục, ít khi được ở nhà mẹ con chuyện trò, thấy vắng vẻ phần nữa xa lạ
bà buồn quá nhớ quê, nhớ hai đứa con còn ở ngoài xứ bà đòi về, tôi giữ
lại không cho, cầm chân bà được sáu tháng, có dượng Sinh con rễ của bà
vào thăm, bà quyết một đòi về với dượng Sinh, tôi cũng phải chịu để mẹ
về quê sống với hai em được bảy năm, rồi bà cũng đi theo ông.
Kể từ năm 1987 tôi mất hết cả cha lẫn mẹ, cha thọ 70 tuổi, mẹ thọ 72 tuổi.
Kể từ khi miền Nam được giải phóng, hơn 10 năm sau nhà nước có chính
sách đổi mới, bỏ việc ngăn sông cấm chợ cho đi lại buôn bán tự do, ra
lệnh dẹp bỏ các trạm kiểm soát không cần thiết, nông dân tự do sản xuất
làm ra của cải muốn bán cho ai cũng được, không thu mua ép giá, cho chở
lương thực đi lại tự do, nông dân mới vui vẻ ham làm, tôi chăm lo sản
xuất dồi dào lương thực, gia đình xử dụng không hết, đem bán lấy tiền
tích luỹ dần dần, mới có vốn mua trâu cày bừa ruộng, mua góp vật liệu
để chuẩn bị xây nhà.
Lúc nầy vật liệu xây dựng vẫn còn khan hiếm, hai thứ xi măng và sắt, có
tiền mà tìm mua cũng khó. Gạch có là của hợp tác xã Tây lạc do ông Minh
quản lý bán cho, gỗ xuống trại cưa nhà ông Hạnh mua của ông Chiến Khàn,
ngói mua Tân Vạn nhờ xe kéo ông Hoang râu chở, sắt mua gom sắt phế liệu
Long-Bình, xi măng mua lại xi măng bồn của mấy mụ buôn mánh, về đổ vào
thùng phuy bịt kín miệng để dồn chừng nào đủ vật liệu thì mướn thợ làm.
Tôi mua sắm các thứ vật liệu trước sau một thời gian 4 năm mới đầy đủ.
Năm 1989 mướn thợ mộc thợ xây khởi công làm. Nhờ hai ông Quang thợ cả,
một mộc một xây, thợ phụ có ông Thành, ông Hưng, ông Thạch lãnh khoán
làm cho.
Theo truyền thống của xứ Huế sống cái nhà thác cái mồ, ăn ở nhà cửa xập
xệ bạn bè khinh bĩ, làng xóm cười chê. Nên tôi quyết chí phải xây cái
nhà tương đối để ở. Lúc nầy con trai trưởng và con gái thứ nó cũng đã
lớn đi lao động tốt, siêng năng ngoan ngoãn, biết tiết kiệm, đôïng viên
phải giúp mỗi người một tay, mới làm nổi cái nhà nầy. Để cả gia đinh
trú ngụ cho đến hôm nay. Tính từ ngày làm thời gian đã 15 năm trôi qua,
vẫn chưa được hoàn chỉnh theo ý muốn, còn nhiều việc phải tu bổ, nhưng
vì già yếu, thiếu kinh tế đành chịu thua.
BÀI 10. TUỔI TÁC CON CHÁU SẢN NGHIỆP HIỆN HỮU
Tính đến ngày 16/10/2003 tôi tròn 65 tuổi, vợ 64 tuổi, con tổng số 8
người, 4 nam, 4 nữ, đã lập gia đình 2 trai, 2 gái, còn chung sống với
cha mẹ 2 trai, 2 gái chưa có gia đình.
Con gái đầu lòng 41 tuổi, con gái út 21 tuổi, cháu nội ngoại tổng cộng 11 đứa.
Đất ruộng nằm bên sông Lạnh ấp 6 xã Tân An, huyện Vĩnh-Cửu và tại đồng
Tân Bắc thuộc xã Bình-Minh do tay tôi khai khẩn, vẫn còn giữ nguyên để
cho con cháu làm ăn sinh sống, những đứa nối nghiệp cha, còn các đứa
khác, nếu có thất cơ lở vận cũng có đất để làm mà sống.
Gia đình thường trú số 213 thôn Nam-Hòa, Ấp Bùi-Chu, xã Bắc-Sơn, huyện Thống-Nhất, tỉnh Đồng-Nai.
Nhà cửa cũng có để che mưa nắng tạm ổn tuổi gìa, trông lên thấy chẳng
bằng ai, vẫn còn khó khăn thua kém bạn bè trang lứa, nhưng nhìn xuống
cũng có người khó khăn hơn mình. Tôi tự an ủi cho cuộc sống của mình
khi đã đến tuổi gìa yếu, gần đất xa trời để bớt lo nghĩ bon chen, tinh
thần được thoải mái hơn.
Tôi xin cám ơn, xin đa tạ Trời Phật, Tổ Tiên Ông Bà phù hộ mạnh khỏe cả gia đình chúng tôi.
Cám ơn Bác, cám ơn Đảng đem lại độc lập tự do cho đất nước.
Riêng gia đình tôi cũng được cơm no áo ấm, con cháu học hành tương đối,
có nghề nghiệp làm ăn để sống. Nói chung toàn thể nhân dân được nhiều
nhà hạnh phúc, xã hội văn minh.
Tôi mong rằng : các thế hệ hậu sinh phải ăn ở cho có đạo đức, noi gương
các bậc tiền bối học hỏi không ngừng, để nâng cao trình độ kiến thức.
Biết cần kiệm liêm chính mới tiến thân làm nên sự nghiệp cho bản thân,
gia đình và xã hội.
Biết trung, hiếu, lễ, nghĩa, trí, tín, không nên đua đòi bắt chước kẻ
xấu tham lam, gây tội ác, ăn chơi truỵ lạc, làm mất đạo đức văn hóa con
người, đối với bản thân và gia đình của xã hội đất nước Việt-Nam.
Trải qua đoạn đường đời mà tôi đã đi, trong một thời kỳ chiến tranh ly
loạn, gặp biết bao nhiêu sự nhục nhã gian nan, nguy hiễm đủ điều thử
thách quật ngã cuộc đời. Nếu không có tinh thần nhẫn nại, dũng cảm, hy
sinh bền chí gượng dậy làm lại cuộc đời cho bản thân, gia đình để đóng
góp với xã hội và đất nước. Làm sao mà có ngày hôm nay đang được sống
vui, sống khỏe, hạnh phúc với vợ con.
Tôi nghĩ trên đời có ai biết được chữ ngờ, đời tôi đã sắp qua, đời con
cháu tiếp nối, nên nhớ rằng : Lúc thắng chớ kiêu khi bại chớ nản, thua
keo nầy bày keo khác, sông có khúc, người có lúc, cuộc đời được thua
vinh nhục là thường tình. Sau cơn mưa trời lại sáng, do đầu óc của mình
biết tuỳ cơ mà ứng xử. Là người quân tử, không nên tham lam, gian trá,
xu thời, nịnh bợ, bè phái ăn hiếp kẻ yếu, cao ngạo, hoặc cố chấp, phải
hiểu biết thông cảm mở rộng lòng thương nhân loại, đừng nên tự ty mặc
cảm là có hại cho tinh thần, gây thất bại mọi mặt.
Dù có cực khổ đến ngần nào cứ vui vẻ thoải mái, cố găng siêng năng lao
động, ăn ở đối nhân xử thế cho phải đạo. . . là sống bất cứ nơi nào
cũng tốt.
Trời nào phụ kẻ có nhân
Người mà có đức muôn phần vinh hoa. (ca dao)
Tác giả : PHAN VINH
Viết bản thảo hoàn tất, Bùi-Chu, ngày 23/9/2003
Nhằm ngày : 27 tháng 8 năm Quí MùiPhụ Trang
Việc làm và tinh thần văn hóa có ý nghĩa của đời tôi :
1. Năm1996, về quê nhật tu gia phả sao lại thỉnh vào để thờ phụng tại tự đường gia đình Đồng-Nai.
2. Năm 2000, về quê chứng kiến đôïng viên tinh thần các cháu xây lăng mộ Tổ Tiên.
3. Năm 2001, về quê xây lăng mộ ấm cúng cho Oâng Bà Ngoại và cha mẹ ruột.
4. Năm 2003, biên soạn gia phả chữ Việt.
5. Năm 2003, viết xong quyển Hồi Ký PHAN-VĂN-VỊNH.
|