Hoplite PDF Print E-mail
Written by lichsuvn.info   
Saturday, 19 July 2008

Hoplite
[dịch từ nguồn en.wikipedia.org]

Tái hiện một hoplite khỏang TK 4-3 TCN
Từ hoplite (tiếng Hy Lạp ὁπλίτης, hoplitēs) rút từ hoplon (ὅπλον, số nhiều hopla, ὅπλα) nghĩa là một phần bộ giáp hoặc một phần trang bị, vậy ‘hoplite’ có lẽ gần nghĩa với ‘người mặc giáp’. Hoplites là lính bán quân sự của Các Thành Bang Hy Lạp Cổ Đại. Họ thường được dùng như lính đánh thương và chiến đấu trong đội hình phalanx.

Chiến tranh ở Hy Lạp Cổ Đại, phần lớn gồm những trận đánh khá nhỏ giữa các thành bang độc lập. Trong những trận đánh như vậy thì Hoplite là một giải pháp hữu hiệu. Một thành bang không thể chịu nổi phí tổn cả một lực lượng quân sự tại chỗ và/hoặc chuyên nghiệp, vậy thì các trận đánh phải diễn ra giữa bản thân những người dân. Chiến thuật và kỹ thuật sử dụng trong trận đánh vì vậy phải thật đơn giản để dễ dàng nắm bắt được. Vì từng Hoplite có thể tự túc trang bị, nó phải không quá mắc tiền để một công dân trung bình có thể xoay sở được. Một hoplite có lẽ xuất hiện sớm nhất vào khỏang năm 700 TCN. Vào giữa thời Cổ, phần lớn các trận đánh là do xô xát của những phalanx đối địch; chiến thuật đơn giản, thương tích tương đối nhỏ. Tới khỏang cuối thời Cổ, chiến tranh có vẻ tinh tế hơn, đỉnh điểm là ‘mô hình quân đội mới’ của Vương Quốc Macedonia Cổ.
Gần như toàn bộ những người nổi tiếng của Hy Lạp Cổ, kể cả các triết gia và người viết kịch, đều từng chiến đấu như hoplite. Những hoplite nổi tiếng nhất là những Spartan, đã được huấn luyện từ khi thiếu thời về chiến đấu và chiến tranh để trở nên đặc biệt kỷ luật và là một lực lượng quân sự cực mạnh.

Nội dung
• 1 Trang bị
• 2 Chiến tranh Hoplite
o 2.1 Chiến thuật
• 3 Người Sparta
• 4 Hưng thịnh và suy vong
• 5 Hoplites trong xã hội Hy Lạp
• 6 Trong văn hóa Hy Lạp

Trang bị



Giáp hoplite đã được trưng bày ở Bảo Tàng Khảo Cổ Học Corfu. Hãy để ý miếng vàng được đút chung quanh phần ngực của bộ giáp che ngực bằng đồng ở ngay giữa vật trưng bày. Mũ bên trái phía trên là bản phục chế của chiếc mũ gỉ sét bên phải.


Từng hoplite đều tự túc trang bị. Vì vậy, chỉ những hoplite đủ tiền để chi những vũ khí như vậy mới có thể chiến đấu như hoplite; cũng như đội quân của Nền Cộng Hòa La Mã, tầng lớp trung lưu chiếm phần lớn lực lượng bộ bình. Trang bị không được chuẩn hóa, mặc dù có những xu hướng không thể chối cãi về thiết kế tổng quát qua thời gian và giữa các thành bang. Hoplite có bộ giáp được làm tùy mỗi cá nhân, và có thể có gia huy trên chiếc khiên nữa. Trang bị có thể đã được thừa kế trong gia đình, khi màn nó rất tốn tiền.

Hoplite, về tổng quát, tự vũ trang ngay trước trận đấu vì trang bị rất nặng – tổng trọng lượng lên tới khỏang 22-27 kg(50-60 pounds). Một hoplite thường có giáp che ngực bằng đồng, một mũ đồng có tấm che má, cũng như giáp che ống chân và những trang bị bảo vệ khác. Thiết kế chiếc mũ đồng thay đổi qua thởi gian. Chiếc mũ đồng Corinth đã được chuẩn hóa, và là một hình mẫu thiết kế rất thành công. Mào mũ thay đổi theo từng thành bang. Mũ Thrace có một tấm che mặt lớn để bảo vệ tốt hơn nữa. Những giai đọan sau, giáp che ngực bằng lanh gọi là linothorax được sử dụng, vì nó chắc hơn và rẻ hơn. Lớp lanh này dày khỏang 0.5 cm. Hoplite mang một chiếc khiên tròn gọi là aspis(nhiều khi được dẫn như là hoplon) làm bằng gỗ và được phủ lớp đồng, với đường kính khỏang 1 mét. Chiếc khiên với kích cỡ trung bình này(dĩ nhiên, lớn hơn so với mặt bằng cùng thời kỳ) có thể đã được làm riêng lẻ vì hình đáng của nó, cung cấp hỗ trợ cho phần vai. Nó có thể rộng từ cằm tới đầu gối vì vậy rất nặng, khỏang 8-15 kg (17.6 – 33 pounds).

Vũ khí quan trọng nhất là chiếc giáo khỏang 2.7 m gọi là doru. Mặc dù có nhiều ghi chép khác nhau về độ dài của nó, bây giờ thường người ta cho rằng nó khỏang 7 – 9 feet (~2.1 - ~2.7 m). Nó được cầm một tay, tay kia cầm khiên. Mũi giáo thường cong hình lá cây, cạnh giáo có một que nhọn gọi là sauroter, được dùng để cắm giáo trên mặt đất(cũng là lí do của tên gọi nó). Nó cũng dùng làm vũ khí thứ cấp nếu như mũi giáo bị cong, hoặc dùng cho những đơn vị bên cánh xử lý những kẻ thù đã gục ngã khi phalanx tiến tới. Hoplite dùng giáo dọc theo phía trên cánh tay hay phía dưới cánh tay vẫn là đề tài tranh cãi giữa các nhà sử học. Cầm dưới cánh tay thì yếu hơn nhưng dễ kiểm sóat hơn, và ngược lại. Có vẻ như cả hai cách đều được dùng, tùy tình huống. Nếu chỉ huy ra lệnh tấn công, thì cầm trên cánh tay có vẻ dễ xuyên phá phòng thủ đối phương hơn. Cú đâm hướng đi lên dễ bị giáp đối phương làm chệch hướng vì lực đòn bẩy yếu hơn. Dù vậy, khi phòng thủ, cầm giáo dưới cánh tay có vẻ gây sốc lớn hơn, nó có thể được đặt nằm dài dưới vai để tăng tính ổn định. Cũng có nguồn cho rằng động tác tấn công khi đặt giáo trên cánh tay sẽ cho ra một sự kết hợp hiệu quả hơn giữa chiếc aspis và doru khi bức tường khiên đã bị đánh đổ, còn động tác tấn công khi đặt giáo dưới cánh tay sẽ hiệu quả hơn khi những chiếc khiên được nối dài thành một hàng. Các hoplite đứng trong những hàng phía sau hàng đầu tiên thì gần như chắc chắn là dùng giáo trên cánh tay khi đang chiến đấu. Những hoplite này khi không chiến đấu sẽ cầm giáo dưới cánh tay và nâng giáo lên với góc nâng càng về sau càng tăng. Chiến thuật này cho một sự phòng thủ tốt khi bị những đơn vị đánh xa tấn công, khi nó làm chệch hướng sức mạnh này.

Hoplite cũng mang một đỏan kiếm gọi là xiphos. Đỏan kiếm này sử dụng như vũ khí thứ cấp, chỉ dùng khi hàng giáo bị xuyên thủng, hoặc phalanx bỏ đội hình. Khi đối phương bỏ chạy, hoplite sẽ thả khiên và giáo, sau đó đuổi theo đối phương bằng đỏan kiếm. Một bất lợi của xiphos là nó vô cùng nặng và không có tầm tấn công cao bằng phần lớn kiếm trong giai đọan đó.

Đối lập với hoplite, những dạng bộ binh đương thời khác(Ba Tư chẳng hạn) thường mang giáp tương đối mỏng, dùng khiên yếu hơn, được vũ trang với giáo ngắn hơn hoplite, lao, và cung.


Chiến tranh Hoplite


Hoplites khắc trên một chiếc bình Attic khỏang 510 – 500 TCN

Bản chất xé lẻ của Hy Lạp Cổ Đại, với quá nhiều thành bang tham gia, đã tăng tần số xung đột lên, nhưng ngược lại đã làm giảm quy mô chiến tranh. Không thể duy trì nổi lực lượng chuyên nghiệp, các thành bang dựa vào dân quân để chiến đấu. Việc này không thể chối cãi là làm giảm độ dài có thể có của các chiến dịch, khi mà dân quân dĩ nhiên phải quay về với công việc của họ (đặc biệt là nông dân). Vì vậy các chiến dịch thường chỉ được giới hạn trong mùa hè. Quân đội di chuyển trực tiếp tới đối mặt kẻ thù, có thể là đã được kẻ thù đồng ý cho phép làm vậy.

Nếu như một bên từ chối trận chiến, họ có thể bỏ về thành phố của mình, trong trường hợp này đối thủ, nói chung, tự sướng bằng việc tàn phá những vùng nông thôn chung quanh, khi mà vũ khí công thành không phát triển mấy. Khi trận đánh diễn ra, họ thường dàn cảnh chiến đấu với nhau(cả hai bên thường đều muốn quyết định việc này). Chiến trường thường phẳng và quang đãng, làm giảm khả năng tồn tại của vận động chiến thuật phức tạp. Những trận đánh thường ngắn, nhiều đổ máu, đầy thú tính, hung ác, tàn bạo, và vì vậy cần kỷ luật phát triển cao. Ít nhất là trong giai đọan Cổ, những dạng quân đội khác ngòai Hoplite không quan trọng bằng; kỵ binh thường dù xuất hiện cũng chỉ đơn giản bảo vệ hai cánh; và cả bộ binh nhẹ và lính đánh từ xa đều không đáng kể.

Sức mạnh của hoplite là chiến đấu gây sốc. Hai tóan phalanx sẽ va mạnh vào nhau, hy vọng xuyên thủng hoặc bao vây được hàng ngũ đối phương. Cách vận động chiến thuật này gọi là osthismos. Các trận đánh thường không kéo dài quá một giờ. Khi mà một trong hai bên vỡ trận, quân thường sẽ chạy khỏi chiến trường, thỉnh thỏang bị đuổi theo bởi peltasts hoặc kỵ binh nhẹ. Nếu một hoplite trốn thóat, anh ta thường phải vứt cái khiên nặng nề đi, và sau đó bị gia đình và bạn bè hắt hủi. Thương vong thường là rất nhẹ nếu so sánh với những trận đánh sau này, hiếm khi vượt quá 5% của lực lượng thua cuộc, nhưng những kẻ bị giết thường bao gồm những công dân sáng giá nhất và những vị tướng lãnh đạo ở tiền phương. Vì vậy, chiến tranh có thể được quyết định chỉ bởi một trận đánh tại một chiến trường mà thôi; chiến thắng thường là trả tù binh lại cho phe bị thua, tạm gọi là “Luật rừng Hy Lạp”.

Hoplite cá nhân thường cấm khiên bên tay trái, không chỉ bảo vệ một mình anh ta mà còn bảo vệ người lính bên phải. Điều này có nghĩa là, một vài người lính ở bên phải phalanx chỉ được bảo vệ một nửa. Trong chiến đấu, những lực lượng phalanx đối địch thường khai thác điểm này bằng cách tấn công lên cánh phải. Điều đó cũng có nghĩa, trong chiến đấu, một đội hình phalanx sẽ phải di chuyển từ từ sang bên phải(để hoplite còn đứng sau khiên che của người đồng đội bên cạnh). Những người lính hoplite kinh nghiệm nhất thường được xếp vào bên phải phalanx, để giải quyết những vấn đề này. Có một chỉ huy ở mỗi hàng phalanx, và một vị tướng hậu quân, là ouragos (nghĩa là chỉ huy đằng đuôi), sẽ giữ trật tự đằng sau. Vì vậy phalanx là một ví dụ của một đội hình quân sự mà mỗi một yếu tố cá thể trong trận đấu sẽ bảo vệ sự thành công cho tất cả còn lại. Hoplite phải tin vào những người lính kể cận và phải bảo vệ họ; và phải muốn bảo vệ người lính bên cạnh mình; một đội hình phalanx, vì vậy, sẽ chỉ mạnh ngang với những thành tố yếu nhất(nghĩa là cả đội hình phalanx chỉ có sức mạnh ngang với những cá thể yếu nhất, đơn giản vì khi những cá thể yếu nhất này bị lọai trừ thì tất cả những cá thể mạnh hơn coi như vô dụng). Sức mạnh của một đội hình phalanx vì vậy phụ thuộc vào các hoplite đơn lẻ có giữ được đội hình trong chiến tranh không, và họ có thể giữ vững vị trí như thế nào, đặc biệt là khi chịu tấn công của một đội hình khác. Đội hình kỷ luật hơn và dũng cảm hơn sẽ có cơ may chiến thắng cao hơn – không kể nhiều khi sự va chạm của rất nhiều thành bang Hy Lạp được giải quyết đơn giản là một bên chạy khỏi chiến trường trước trận đánh. Từ Hy Lạp dynamis, “Ý chí tấn công”, miêu tả động lực giữ các hoplite trong đội hình.

Chiến thuật

Sẽ cố dịch bài này sớm <______<

Người Sparta

Một ngọai lệ đáng chú ý của hình mẫu chiến tranh hoplite nói chung là hệ thống được sử dụng bởi người Sparta. Một kết quả của cách mạng xã hội đã xảy ra khỏang TK 8-7 TCN, tòan bộ thành bang Sparta bị/được quân phiệt hóa. Việc này trở nên có thể bởi những chiến dịch của những vùng đất bên cạnh, và sự bóc lột dân chúng. Những người gọi là Helot, đã cày cấy trên đất Sparta, vì vậy đã bỏ đi gánh nặng hỗ trợ Sparta của bản thân những người Sparta. Việc này đã khiến người Sparta thỏai mái tự dấn mình vào nghệ thuật chém giết.

Khỏang từ thế kỷ 7 TCN trở đi, đàn ông Sparta đều được huấn luyện cho một cuộc đời chiến tranh. Họ được dạy cho kỷ luật thép, và gần như được lập trình để quên đi chuyện của mình, phục vụ cho mục đích của Sparta. Luyện tập vất vả và tình đồng chí thăng hoa giữa người Sparta đã huấn luyện họ gần như lý tưởng để tham gia chiến tranh hoplite, kiểu chiến tranh cần kỷ luật rất cao và sự quên mình. Người Sparta chẳng sợ chết, chỉ sợ nỗi nhục bị đánh bại trên chiến trường. Với văn hóa quân sự của Sparta, vứt bỏ chiếc aspis là không thể chấp nhận. Người ta nói thế này: “Trở về nhà với chiếc khiên này, hoặc bằng xác mình trên đó”

Nếu nói người Sparta là quân nhân chuyên nghiệp thì không được đúng lắm – đây không phải nghề nghiệp họ chọn để làm, mà là một sự bắt buộc từ khi sinh ra. Người Sparta không được giao cho công việc chiến đấu như nhưng người lính; mà họ bị áp bức phải làm điều đó. Có thể so sánh nó với chế độ feudal Châu Âu; kỵ sĩ không phải lính chuyên nghiệp, mà là một nghĩa vụ quân phiệt, được dân chúng địa phương ủng hộ.Tuy nhiên, bất chấp những sự khác biệt rõ ràng với những Thành Bang Hy Lạp khác, người Spartan chiến đấu gần như giống hệt những người Hy Lạp khác, nếu có khác, có lẽ chỉ là hiệu quả hơn. Người Sparta đã, dù không phổ biến cho lắm, được trang bị chuẩn mực, bao gồm một chiếc khiên gọi là aspis, đặc trưng hóa chữ Hy Lạp lambda (Λ), nếu chúng ta nói về quê quán Lacedaemonia của họ. Áo giáp đồng cuirass được ban cho tất cả người Sparta. Mỗi người Spata mặc một cái áo chòang màu đỏ tươi thể hiện họ là người Sparta, nhưng áo chòang không tay thì không bao giờ mặc trong chiến trận. Người Helot cũng thường mang người Spartan vào trận chiến và hỗ trợ tấn công từ xa, khi người Spatan cho rằng cung thủ là một việc không tương xứng với một chiến binh thực sự. Người Helot cũng dựng trại và làm phu cho người Sparta khi họ đang chiến đấu.


Hưng thịnh và suy vong

Hưng thịnh và suy vong của chiến tranh hoplite có liên hệ sâu sắc tới sự hưng thịnh và suy vong của các thành bang. Như đã bàn luận ở trên, hoplite là giải pháp cho những xung đột vũ trang giữa những thành bang độc lập. Nền văn minh Hy Lạp dĩ nhiên là xung đột khá nhiều với thế giới,đặc biệt là với Ba Tư, theo cách đó, chiến tranh đã biến đổi căn bản. Đối mặt với một số lượng quân thù không lồ, từng thành bang thực tế không thế chiến đấu một mình được. Vào chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư (499-448 TCN), liên minh giữa các nhóm thành bang(sự kết hợp thế nào lại thay đổi qua lịch sử) chiến đấu với người Ba Tư. Việc này làm thay đổi mạnh mẽ cấu trúc chiến tranh căn bản, và số lượng quân tham gia. Hoplite phalanx đã tự chứng minh nó là mạnh hơn bộ binh Ba Tư gấp bội ở những trận chiến như Marathon và Plataea, chừng nào nó còn được sự bảo vệ của kỵ binh.

Trong giai đọan Athens và Sparta nổi lên với vai trò là thành bang lãnh đạo ở Hy Lạp, và sự tranh giành của họ sau chiến tranh Ba Tư, đã lại làm rộ lên giữa Hy Lạp một cuộc nội chiến mới. Tuy nhiên, Chiến Tranh Peloponnesian ở một quy mô không giống những xung đột trước. Những cuộc chiến tranh giữa những liên minh thành bang khác nhau, có liên minh được lãnh đạo bởi Athens, có liên minh được lãnh đạo bởi Sparta, một sự góp chung sức người, sức của đã dẫn đến một sự biến thiên liên tục cấu trúc chiến tranh. Chiến tranh Hoplite đã bị đào thải, có tới ba trận đánh lớn trong Chiến Tranh Peloponnesian, và chẳng cái nào mang tính quyết định.Thay vào đó đã có một sự phụ thuộc ngày càng lớn vào hải quân, lính quấy rối, lính đánh thuê, tường thành, vũ khí công thành, và chiến thuật tổng quát. Những sự cải cách này đã khiến cho những cuộc chiến tranh tiêu diệt là khả thi và đã tăng đáng kể lượng thương vong. Trong chiến tranh Ba Tư, hoplite đã gặp một lực lượng quân quấy rối và lính đánh xa rất lớn, và những lính như vậy (Peltasts chẳng hạn) trở nên ngày càng thông dụng hơn trong Chiến Tranh Pelopennesian. Kết quả là, hoplite bắt đầu mang ít giáp hơn, mang kiếm ngắn hơn, và về tổng quát đã tạo ra sức cơ động lớn, điều này dẫn tới sự phát triển của ekdromoi hay hoplite hạng nhẹ.

Về sau này, những chiến thuật phức tạp hơn đã được phát triển, đặc biệt là bởi vị tướng Thebes Epaminondas. Những chiến thuật này đã tạo cảm hứng cho vị vua sau này là Philip II of Macedon, khi bị bắt tù binh ở Thebes, trong việc phát triển lọai bộ binh mới – Macedonian Phalanx. Mặc dù điều rõ ràng là với sự phát triển của hoplite, thì Macedonian phalanx về mặc chiến thuật đa năng hơn, đặc biệt là trong chiến thuật dùng nhiều lọai quân mà người Macedonian rất thích. Những lực lượng này đã hạ gục đội quân hoplite chủ yếu cuối cùng ở trận Chaeronea (338 TCN), mà sau trận này Athens và liên minh của họ tham gia đế quốc Macedon.

Hoplite trong xã hội Hy Lạp

Vì hoplites tự cung cấp ‘panoply’ (trong văn bản này mang ý nghĩa là giáp và vũ khí) từ số trang bị của chính họ, họ phải tương đối giàu có để chi trả khỏan này. Điều này có nghĩa, sản xuất mũ che đầu, giáp người, giáp ống chân, và cả khiên, giáo và đỏan kiếm. Như vậy, hoplite thường được tuyển mộ ở tầng lớp trung lưu.

Một minh chứng cho điều này là hệ thống tầng lớp xã hội của Athens trong hệ thống luật pháp Solon. Bốn tầng lớp đầu (từ dưới đếm lên) là thetes, zeugites, hippeis, pentacosiomedimnoi (được phân lớp bằng sản xuất mỗi năm). Ba tầng lớp dưới chính là rút từ đơn vị quân mà họ có thể sản xuất được. Thetes đóng phần lớn thuyền hoặc tàu của Athens; hippeis có thể sản xuất ngựa (một giống vật quyền quý, không bao giờ được sử dụng phục vụ nông nghiệp) tạo nên kỵ binh; và zeugites chiến đấu như hoplite.
Hệ thống này có thể so sánh với hệ thống quân sự sử dụng vào khỏang từ thời kỳ đầu Nền Cộng Hòa La Mã tới thời kỳ giữa, khi mà dân La Mã được chia thành những tầng lớp xã hội rõ ràng. Những tầng lớp này (trừ những người proletarii không có đất) được sử dụng làm rất nhiều loại quân; những người thấp nhất cấu thành lính quấy rối (hay lính ném lao) (velites), những người cao nhất chiến đấu như kỵ binh (equites), và tầng lớp trung lưu, phần lớn quân đội, chiến đấu như bộ binh nặng. Trong hệ thống này, quân đội tự cung cấp trang bị, vậy chỉ có những người đủ giàu để chi giáp và vũ khí mới có thể chiến đấu như bộ binh nặng. Dĩ nhiên, thành công của cả hoplite Hy Lạp và cả quân đội La Mã thời kỳ đầu có thể cho là do công của tầng lớp trung lưu. Những người có đất và tương đối giàu, và không thể chối cãi là rất quan tâm tới phòng thủ của thành bang; họ có nhiều cái đề mất hơn là tầng lớp không có đất, và chiến đấu với một sức mạnh cũng tỉ lệ thuận với những điều đó.

Trong văn hóa Hy Lạp

Hình ảnh những người của polis (thành bang) chung lưng đấu cật để chiến đấu chống ngọai xâm có liên hệ sâu sắc với văn hóa Hy Lạp Cổ. Rất nhiều bảng mộ còn sót lại có đề “chết trước tiền tuyến”.

Nhà thơ Paros Archilochus đã rút ra một sự mô tả Phalanx – mang một niềm tự hào Hy Lạp – với một tóm tắt chỉ-một-dòng: "The fox knows many tricks, the hedgehog one good one."

Nhà viết kịch Aeschylus’ kiên quyết không nói gì về cuộc đời sáng tác của mình và chỉ đánh dấu một sự tham gia của ông vào trận Marathon. Vở kịch của Aeschylus The Persians là một cách để chúc mừng chiến thắng đó. Một vài hình ảnh khó phai trong nghệ thuật Grecian, như từ doryphoros của Polyclieitus, “kẻ mang giáo”, chứa đựng hình ảnh của người chiến binh. (The spear in his right hand, since it was likely bronze, has been lost to time.) Sự hấp dẫn ở chỗ, sự sợ hãi là kẻ thù chính yếu, và nếu một người lính bị nó nuốt mất, anh ta sẽ khiến cho đồng đội không còn khiên che nữa. Nhiều khi người đồng đội là một thành viên gia đình hoặc là bạn thân ( Rõ ràng là trong đội hình Theban Sacred Band toàn những cặp yêu nhau). Phẩm chất bảo vệ bạn bè và Tổ Quốc vì vậy đã trở thành tính cách đáng quý nhất của một người Hy Lạp. Nhà thơ Sparta Tyrtaeus viết:

Đẹp tuyệt vời người lính can đảm, trước tiền tuyến
Gục xuống và chết, chiến đấu vì quê hương
Những người lính trẻ, chiến đấu khiên kề khiên, đừng nao núng
Và hỏang lọan đề rồi bỏ chạy thấp hèn
Mà hãy tôi sắt thép trái tim trong lồng ngực với
Cố gắng, can đảm tuyệt vời
Quên cuộc đời chính anh đi
Khi vừa chạm tới đối thủ

— Tyrtaeus: Những bài ca chiến tranh của Tyrtaeus, Arist dịch

hoặc trong một nền văn hóa ít hướng-về-chiến-binh hơn, Euripides người Athens (từ cuộc chiến với Hercules):

Một người đàn ông đã được một sự tưởng thưởng bởi phẩm chất của minh trong cuộc chiến biểu diễn với thú dữ, thì nếu xét đóan theo mọi khía cạnh khác thì là một kẻ yếu đuối; một kẻ chẳng bao giờ mang khiên trên tay cũng chẳng đối diện cây giáo, nắm trong tay một cây cung, vũ khí yếu hèn ấy, và lúc nào cũng sẵn sàng bỏ chạy. Bắn cung chẳng bao giờ là thử thách cho sự dũng cảm con người; không! Không phải một người giữ chắc vị trí trong hàng ngũ và điềm nhiên đối mặt với vết thương máu chảy ròng ròng mà một cây giáo có thể đem lại.

Đây có lẽ đã tái hiện một cách nhìn cố hữu của “giá trị” trong thế giới Hy Lạp Cổ. Bảng mộ bao giờ cũng, một cách tự hào, viết rằng “chết trước tiền tuyến”, xuất hiện trong những trận đánh vĩ đại và chiến đấu dũng cảm. Phần lớn nghệ thuật Hy Lạp Cổ, vì vậy, phản ánh khao khát được công nhận là dũng cảm của họ.

-Lời bình của người dịch, không có trong nguyên bản-
Hoplite là một ngọai lệ hết sức hiếm trong quân sự thế giới, cũng là một phần trong lịch sử - văn hóa vô cùng độc đáo và high-variable của nó. Đây là một đề tài rất, rất quý giá cho bạn nào thích viết fic lịch sử, nhưng cũng là một đê tài vô cùng khó viết.

Về một vài mặt, nó khá giống Nhật Bản, 2 điều khác lớn nhất là:
-biến thiên khủng khiếp hơn
-Mâu thuẫn không được giảm bớt băng giáo dục mà bằng cấu trúc địa hình, khí hậu khách quan
 
< Prev   Next >
Trang chủ Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam