| Khái quát về chính quyền Mỹ |
|
|
|
| Written by lichsuvn.info | ||||||||||||
| Thursday, 06 March 2008 | ||||||||||||
|
Tài liệu khái quát về chính quyền Mỹ. Nguồn: Đại sứ quán Hoa Kỳ Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 2000 Chương 1: HIẾN PHÁP, MỘT VĂN KIỆN TRƯỜNG TỒN “ ... Điều khoản này được đưa vào một bản Hiến pháp, được xây dựng với dụng ý sẽ trường tồn qua nhiều thời đại và do đó thích ứng được với những khủng hoảng khác nhau trong các vấn đề của con người” - John Marshall, Chánh án Tòa án Tối cao, phát biểu trong vụ McCulloch kiện bang Maryland, 1819 Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ là công cụ trung tâm của chính quyền Hoa Kỳ và là bộ luật tối cao của đất nước. Trong 200 năm qua, Hiến pháp đã định hướng cho sự tiến hóa của các thể chế chính quyền và tạo cơ sở cho ổn định chính trị, tự do cá nhân, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Hiến pháp Hoa Kỳ là bản hiến pháp thành văn lâu đời nhất thế giới vẫn còn hiệu lực, một hiến pháp từng được dùng làm mô thức cho một số hiến pháp khác trên thế giới. Sở dĩ bản Hiến pháp này có được sức trường tồn chính là nhờ tính đơn giản và linh hoạt của nó. Khởi thủy được soạn thảo vào cuối thế kỷ XVIII nhằm tạo khuôn khổ cho việc cai quản 4 triệu dân của 13 bang rất khác biệt nhau nằm trên bờ Đại Tây Dương, những điều khoản cơ bản của bản Hiến pháp này đã được xây dựng vững chãi đến mức chỉ với 27 điều sửa đổi, hiện nay nó có thể đáp ứng nhu cầu của hơn 260 triệu người dân Mỹ tại 50 bang còn đa dạng nhiều hơn nữa, trải dài từ Đại Tây Dương cho đến Thái Bình Dương. Con đường dẫn đến bản Hiến pháp không hề thẳng tắp hay suôn sẻ. Phải đợi mãi đến năm 1787, sau khi đã trải qua những cuộc tranh luận sôi nổi và một thời gian tồn tại 6 năm của một hình thái liên bang ban đầu, mới xuất hiện được một văn kiện dự thảo. Năm 1776, 13 thuộc địa của Anh tại châu Mỹ tuyên bố độc lập đối với mẫu quốc. Trước đó một năm, nổ ra chiến tranh giữa các thuộc địa với nước Anh, một cuộc chiến tranh giành độc lập kéo dài trong sáu năm khốc liệt. Ngay trong khi đang còn chiến tranh, các thuộc địa - giờ đây tự gọi là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - đã thảo ra một thỏa thuận ngắn gọn liên kết họ lại thành một quốc gia. Thỏa thuận ngắn gọn này, gọi là "Điều lệ Liên bang và Liên minh vĩnh cửu", được thông qua tại một đại hội của các bang vào năm 1777, và được chính thức ký kết vào tháng Bảy năm 1778. Điều lệ này bắt đầu có hiệu lực sau khi được Maryland, bang thứ 13, phê chuẩn vào tháng 3 năm 1781. Điều lệ Liên bang tạo ra một liên minh lỏng lẻo giữa các bang và thiết lập một chính quyền liên bang với những quyền lực rất hạn chế. Trong các vấn đề tối quan trọng như quốc phòng, tài chính và thương mại, chính quyền liên bang phải lệ thuộc vào các cơ quan lập pháp của các bang. Đó không phải là một cách tổ chức có khả năng dẫn tới ổn định và sức mạnh. Chỉ sau một thời gian ngắn, mọi người đều thấy rõ những mặt yếu của Liên bang. Về phương diện chính trị và kinh tế, quốc gia mới hình thành này hầu như rơi vào cảnh hỗn loạn. Nói như George Washington, người sau này trở thành tổng thống đầu tiên của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ vào năm 1789, 13 bang được liên kết với nhau chỉ "bởi một sợi dây bằng cát". Chính trong tình huống không báo trước điều gì tốt đẹp này, Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ được xây dựng. Tháng Hai năm 1787, cơ quan lập pháp của nền cộng hòa, gọi là Continental Congress (Đại hội lục địa), kêu gọi các bang cử đại biểu tới Philadelphia thuộc bang Pennsylvania để xem xét lại bản Điều lệ này. Hội nghị Lập hiến được triệu tập vào ngày 25 tháng Năm 1787 tại Hội trường Độc lập, nơi 11 năm trước, bản Tuyên ngôn Độc lập đã được thông qua vào ngày 4 tháng Bảy năm 1776. Mặc dù các đại biểu chỉ được ủy quyền sửa đổi Điều lệ Liên bang, nhưng họ đã gạt hẳn bản đó sang một bên và bắt tay vào xây dựng một hiến chương cho một hình thức chính quyền tập trung hơn và hoàn toàn mới. Văn kiện mới này, tức Hiến pháp, được hoàn thành vào ngày 17 tháng Chín năm 1787, và được chính thức thông qua vào ngày 4 tháng 3 năm 1789. 55 đại biểu dự thảo Hiến pháp bao gồm hầu hết những nhà lãnh đạo lỗi lạc, còn gọi là các Nhà khai quốc, của quốc gia mới. Họ đại diện cho rất nhiều lợi ích, nguồn gốc xuất thân và địa vị khác nhau. Tuy nhiên, tất cả đều tán thành các mục tiêu trung tâm được thể hiện trong lời mở đầu của Hiến pháp: "Chúng tôi, những người dân Hợp chúng quốc, nhằm mục đích hình thành một liên bang hoàn hảo hơn, thiết lập công lý, bảo đảm sự bình yên trong nước, chu cấp cho sự phòng thủ chung, đẩy mạnh phúc lợi chung, và đảm bảo lợi ích của tự do cho bản thân chúng ta và cho các thế hệ mai sau, quyết định xây dựng và ban hành bản Hiến pháp này của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ”. Thống nhất một dân tộc đa dạng Mục tiêu trên hết của Hiến pháp là tạo ra một chính quyền dân cử vững mạnh, trực tiếp đáp ứng ý nguyện của nhân dân. Khái niệm tự trị không phải bắt nguồn từ người Mỹ; thực vậy, một mức độ tự trị nhất định đã tồn tại ở Anh lúc bấy giờ. Nhưng mức độ mà Hiến pháp đặt Hợp chúng quốc dưới sự cai quản của nhân dân là chưa từng có, có thể nói là mang tính cách mạng so với các chính quyền khác trên khắp thế giới. Vào thời gian Hiến pháp được thông qua, người Mỹ đã có rất nhiều kinh nghiệm trong nghệ thuật tự trị. Từ lâu trước khi độc lập được tuyên bố, các thuộc địa đã là những thực thể hoạt động như những đơn vị chính quyền, đặt dưới sự kiểm soát của nhân dân. Và sau ngày bắt đầu Cách mạng - từ ngày 1-1-1776 đến 20-4-1777 - 10 trong số 13 bang đã thông qua hiến pháp riêng của mình. Hầu hết các bang đã có một thống đốc bang do cơ quan lập pháp của bang bầu ra. Bản thân cơ quan lập pháp này được bầu ra bằng phổ thông đầu phiếu. Bản Điều lệ Liên bang đã tìm cách thống nhất những bang tự trị này. Ngược lại, bản Hiến pháp thiết lập một chính quyền trung ương, hay liên bang, hùng mạnh với nhiều quyền lực rộng rãi trong việc quản lý các mối quan hệ giữa các bang, và chịu trách nhiệm hoàn toàn trong các lĩnh vực như ngoại giao và quốc phòng. Đối với nhiều người, tập trung hóa là điều khó chấp nhận. Phần lớn những người định cư tại Mỹ là những người dân châu Âu đã rời bỏ quê hương mình để thoát khỏi sự áp bức về tôn giáo và chính trị, cũng như thoát khỏi những khuôn mẫu kinh tế cứng nhắc của Thế giới Cũ trói buộc con người vào một địa vị nhất định trong cuộc sống mà không đếm xỉa đến tài năng hay nghị lực của họ. Những người định cư này tôn vinh quyền tự do cá nhân và họ tỏ ra cảnh giác đối với bất kỳ thứ quyền lực nào - nhất là quyền lực của chính quyền - có thể sẽ cắt xén các quyền tự do cá nhân. Sự đa dạng của quốc gia mới cũng là một trở ngại rất lớn đối với sự thống nhất. Những người được Hiến pháp trao cho quyền bầu cử và kiểm soát chính quyền trung ương ở thế kỷ XVIII đại diện cho nhiều nguồn gốc xuất thân, tín ngưỡng và lợi ích khác nhau. Hầu hết họ đến từ nước Anh, nhưng cũng từ cả Thụy Điển, Na Uy, Pháp, Hà Lan, Phổ, Ba Lan, và nhiều nước khác cũng đã gửi người nhập cư đến Thế giới Mới. Tín ngưỡng tôn giáo của họ rất đa dạng và phần lớn vẫn được duy trì mạnh mẽ. Có những người Anh giáo, Thiên Chúa giáo La Mã, có những tín đồ Calvin, những người Pháp theo đạo Tin Lành, những người theo giáo phái Tin Lành của Martin Luther, những tín đồ giáo phái Quaker, những tín đồ Do Thái giáo. Trên phương diện kinh tế và xã hội, người dân Mỹ bao gồm từ tầng lớp qúy tộc điền địa tới thành phần nô lệ và những người hầu làm thuê trả nợ. Nhưng xương sống của đất nước này là tầng lớp trung lưu - điền chủ, thương nhân, thợ cơ khí, thủy thủ, thợ đóng tàu, thợ dệt, thợ mộc và nhiều loại người khác. Người dân Hoa Kỳ lúc đó, cũng như hiện nay, có những ý kiến rất khác nhau về hầu như mọi vấn đề, kể cả ý kiến về việc thoát khỏi Đế chế Anh. Trong thời gian diễn ra Cách mạng Mỹ, một số đông những người trung thành với Đế chế Anh - gọi là những người bảo thủ, những người Tory - đã rời bỏ đất nước tới định cư phần lớn tại miền đông Canađa. Những người ở lại lập ra một khối đối lập khá mạnh, mặc dù giữa họ với nhau cũng có những bất đồng về lý do chống đối cách mạng cũng như việc cần có những thỏa hiệp nào với nền cộng hòa mới ở Mỹ. Trong hai thế kỷ qua, tính đa dạng của người Mỹ đã tăng lên, thế nhưng tính thống nhất cơ bản của đất nước này còn trở nên mạnh mẽ hơn nữa. Trong suốt thế kỷ XIX và bước sang thế kỷ XX, một dòng người nhập cư bất tận đã đóng góp những tài năng và những di sản văn hóa của họ cho đất nước đang lớn mạnh này. Những người tiên phong đã vượt qua dãy núi Appalachian miền đông đến định cư tại Thung lũng Mississippi và Đại Bình Nguyên ở trung tâm của lục địa, rồi vượt qua dải Rocky Moutains tới được bờ Thái Bình Dương - cách xa vùng duyên hải Đại Tây Dương do những người khai hoang đầu tiên lập ra tới 4.500 kilômét về phía tây. Và cùng với sự mở rộng của đất nước, mọi người cũng thấy được kho tài nguyên thiên nhiên bao la của đất nước: những dải rừng gỗ nguyên sinh rộng lớn, những trữ lượng than, đồng, sắt và dầu mỏ khổng lồ, thủy lực dồi dào và đất đai màu mỡ. Sự giàu có của đất nước này đã tạo ra kiểu đa dạng riêng của nó. Những nhóm lợi ích khu vực và thương mại đặc biệt nổi lên. Các chủ tàu biển ở vùng bờ biển miền Đông chủ trương tự do buôn bán. Các nhà chế tạo công nghiệp miền Trung - Tây đòi lập ra thuế nhập khẩu để bảo hộ vị trí của họ trong thị trường Hoa Kỳ đang mở rộng. Các điền chủ mong muốn cước phí vận tải thấp và giá nông sản cao, những người chủ các nhà máy xay và những người làm bánh muốn có giá ngũ cốc thấp; những người vận hành xe lửa muốn thu mức cước phí vận chuyển cao nhất có thể. Những chủ ngân hàng ở New York, những người trồng bông ở miền Nam, những người chăn nuôi gia súc ở Texas và những người khai thác rừng ở Oregon, mỗi lớp người có những cách nhìn nhận khác nhau về nền kinh tế và vai trò điều tiết của chính quyền. Công việc liên tục không ngừng của Hiến pháp và của chính quyền mà Hiến pháp đã lập ra là quy tụ những lợi ích đa dạng này về một mối nhằm tạo ra một nền tảng chung và đồng thời bảo vệ những quyền cơ bản của mọi người dân. So với những phức tạp của chính quyền ngày nay, các vấn đề của việc cai quản bốn triệu dân trong các điều kiện kinh tế kém phát triển hơn nhiều xem ra quả là nhỏ bé. Nhưng những người soạn thảo Hiến pháp xây dựng nó không chỉ cho hiện tại mà còn cho cả tương lai. Họ ý thức sâu sắc về sự cần thiết của một cơ cấu chính quyền không chỉ hoạt động trong thời đại họ, mà còn cho nhiều thế hệ mai sau. Do vậy, họ đã đưa vào Hiến pháp một điều khoản quy định việc sửa đổi văn kiện này khi các điều kiện xã hội, kinh tế hay chính trị đòi hỏi. Đã có 27 điều sửa đổi được thông qua kể từ ngày Hiến pháp được phê chuẩn, và tính linh hoạt của Hiến pháp đã tỏ ra là một trong những mặt mạnh lớn nhất của nó. Nếu không có mức độ linh hoạt đó, không thể hình dung một văn kiện soạn thảo cách đây hơn 200 năm mà vẫn còn có thể phục vụ hữu hiệu nhu cầu của 260 triệu dân và hàng nghìn đơn vị chính quyền ở mọi cấp tại Hoa Kỳ ngày nay. Cũng như không thể hình dung nó có thể áp dụng với một hiệu lực và độ chính xác như nhau cho các vấn đề của cả các thị trấn nhỏ lẫn các thành phố lớn. Vì vậy Hiến pháp và chính quyền liên bang đứng ở đỉnh của hình tháp chính quyền gồm cả chính quyền địa phương lẫn chính quyền bang. Trong hệ thống chính quyền Hoa Kỳ, mỗi cấp chính quyền đều có một mức độ tự chủ lớn với những quyền hạn nhất định dành riêng cho cấp chính quyền đó. Tranh chấp giữa các cấp chính quyền khác nhau được giải quyết tại các tòa án. Tuy nhiên, có những vấn đề liên quan đến lợi ích quốc gia đòi hỏi sự hợp tác đồng thời của mọi cấp chính quyền, và Hiến pháp cũng có những điều khoản đề cập đến những vấn đề đó. Chẳng hạn, các trường công ở Mỹ phần lớn do chính quyền địa phương quản lý, tuân theo những tiêu chuẩn áp dụng trong toàn bang. Nhưng chính quyền liên bang cũng trợ giúp các trường học, vì biết đọc, viết viết và có trình độ học vấn là những vấn đề lợi ích quốc gia thiết yếu, và chính quyền áp dụng những tiêu chuẩn đồng nhất nhằm đẩy mạnh sự bình đẳng về cơ hội học tập. Trong các lĩnh vực khác, như nhà ở, y tế và phúc lợi, cũng có một sự hợp tác tương tự giữa các cấp chính quyền. Không một sản phẩm nào của xã hội loài người được coi là hoàn hảo. Dù đã qua nhiều lần sửa đổi, Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ có lẽ vẫn còn chứa đựng những khiếm khuyết, chúng sẽ bộc lộ ra trong những thời kỳ căng thẳng sau này. Nhưng hai thế kỷ phát triển và phồn thịnh vô song đã chứng tỏ tầm nhìn xa trông rộng của 55 con người đã làm việc suốt mùa hè năm 1787 để đặt nền móng cho chính quyền Mỹ. Nói như Archibald Cox, nguyên Tổng chưởng lý Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, "Bản Hiến pháp nguyên thủy vẫn còn có ích cho chúng ta mặc dù đã có những thay đổi sâu rộng trong mọi khía cạnh của đời sống ở Mỹ, bởi vì những người soạn thảo nó đã được phú cho một thiên tài là nói ra đủ lời nhưng không nói quá nhiều... Khi mà kế hoạch đề ra tại Hội nghị lập hiến thành công, khi mà đất nước lớn mạnh và phồn vinh cả về mặt vật chất lẫn trong việc thực hiện những lý tưởng của nó, tức là bản Hiến pháp đã tạo dựng được cho mình uy thế và quyền lực lớn hơn rất nhiều so với uy thế và quyền lực của bất kỳ cá nhân hay tập thể nào". Công việc soạn thảo hiến pháp Khoảng thời gian từ lúc phê chuẩn Điều lệ Liên bang năm 1781 đến lúc soạn thảo Hiến pháp mới vào năm 1787 là một thời kỳ đầy rẫy những yếu kém, tranh chấp và xáo động. Trong Điều lệ Liên bang, không có điều khoản nào quy định ngành hành pháp có quyền thi hành luật pháp, cũng như quy định hệ thống tòa án quốc gia có quyền giải thích pháp luật. Quốc hội lập pháp là cơ quan duy nhất trong chính quyền quốc gia, nhưng nó hoàn toàn không có quyền buộc các bang phải làm bất cứ điều gì trái với ý nguyện của họ. Trên lý thuyết, Quốc hội có thể tuyên bố chiến tranh và thiết lập quân đội nhưng nó không thể buộc bất cứ bang nào cung cấp quân số, vũ khí và trang thiết bị cho quân đội. Quốc hội phải trông cậy vào các bang để có nguồn thu tài trợ các hoạt động của mình, nhưng lại không thể xử phạt bất kỳ một bang nào với lý do không đóng góp vào ngân sách liên bang. Các bang được quyền kiểm soát việc đánh thuế cùng mức thuế và từng bang có thể phát hành đồng tiền riêng. Khi có tranh chấp giữa các bang - và có nhiều tranh cãi về ranh giới bang không được giải quyết - thì Quốc hội đóng vai trò trung gian hòa giải và phân xử nhưng vẫn không thể buộc các bang phải chấp nhận các quyết định của mình. Kết quả là một sự hỗn loạn thực sự. Không có quyền thu thuế, chính quyền liên bang rơi vào tình trạng mắc nợ. Bảy trong số 13 bang in tiền giấy với khối lượng lớn, có mệnh giá cao nhưng sức mua thực tế thấp, để trả cho các cựu chiến binh của cuộc Chiến tranh Cách mạng và hàng loạt chủ nợ để thanh toán nợ nần giữa điền chủ nhỏ và các chủ đồn điền lớn. Ngược lại, cơ quan lập pháp bang Massachusetts lại áp đặt một đồng tiền bị kiểm soát chặt chẽ cùng với mức thuế cao, gây ra việc lập nên một đội quân điền chủ nhỏ dưới sự lãnh đạo của Daniel Shays - nguyên là một đại úy quân đội trong Chiến tranh Cách mạng. Mưu đồ chiếm lấy cơ quan lập pháp của bang Massachusets, Shays và những người khác đã đòi bãi bỏ việc bắt nợ tài sản và cầm cố không công bằng. Quân đội đã được huy động để đàn áp cuộc bạo động, nhưng chính quyền liên bang đã không có ý kiến gì. Việc thiếu một đồng tiền thống nhất và ổn định cũng đã phá vỡ hoạt động buôn bán giữa các bang với nhau và giữa các bang với các nước khác. Không chỉ giá trị của tiền giấy giữa các bang không thống nhất mà một số bang (như New York và Virginia) lại đánh thuế vào hàng hóa nhập khẩu từ các bang khác, do đó gây ra những hành động trả đũa. Đến nỗi các bang đã có thể tuyên bố, như lời cơ quan thanh tra tài chính liên bang, rằng "uy tín nhà nước của chúng ta không còn nữa". Vấn đề càng trở nên phức tạp hơn khi các bang mới giành được độc lập này do đã đột ngột tách khỏi Anh nên không còn được hưởng đối xử ưu đãi tại các cảng của Anh nữa. Khi Đại sứ Hoa Kỳ John Adams tìm cách đàm phán một hiệp định thương mại vào năm 1785 thì người Anh đã từ chối với lý lẽ viện ra rằng các bang riêng lẻ không bị ràng buộc bởi hiệp định này. Một chính quyền trung ương non yếu, không đủ sức mạnh hậu thuẫn cho các chính sách của mình bằng lực lượng quân sự, thì tất yếu sẽ bị trói tay cả trong lĩnh vực ngoại giao. Người Anh không chịu rút quân đội của họ ra khỏi các căn cứ và thương cảng thuộc "Lãnh thổ miền Tây Bắc" (Northwest Territory) của quốc gia mới này như họ đã thỏa thuận trong hòa ước năm 1783 đánh dấu sự kết thúc của Chiến tranh Cách mạng. Vấn đề trở nên tồi tệ hơn nữa khi các sĩ quan Anh ở các vùng biên giới phía bắc và các sĩ quan Tây Ban Nha ở phía nam cung cấp vũ khí cho bộ tộc người Anhđiêng và xúi giục họ tấn công những người định cư Mỹ. Người Tây Ban Nha, nắm trong tay việc kiểm soát Florida và Louisiana cũng như toàn bộ lãnh thổ phía tây sông Mississipi, cũng từ chối không cho phép các điền chủ ở miền tây dùng cảng New Orleans để vận chuyển hàng hóa. Mặc dù có những dấu hiệu phồn vinh trở lại ở một vùng của quốc gia non trẻ này nhưng các vấn đề trong và ngoài nước vẫn tiếp tục gia tăng. Người ta ngày càng thấy rõ rằng chính quyền trung ương của liên bang không đủ mạnh để thiết lập một hệ thống tài chính lành mạnh, quản lý thương mại, thực thi các hiệp ước hoặc dùng đến sức mạnh quân sự chống lại kẻ thù ngoại bang khi cần thiết. Những chia rẽ nội bộ giữa điền chủ và thương nhân, giữa con nợ và chủ nợ và giữa bản thân các bang với nhau ngày càng trở nên nghiêm trọng. Với cuộc bạo động của những người nông dân cùng quẫn do Shays cầm đầu vào năm 1786 còn in đậm trong tâm trí mọi người, George Washington đã cảnh báo: "Bang nào cũng chứa đựng những chất dễ cháy mà chỉ cần một tia lửa cũng có thể cháy bùng lên". Ý thức về thảm hoạ chính trị và việc cần phải có sự thay đổi triệt để đã bao trùm bầu không khí Hội nghị lập hiến được bắt đầu vào ngày 25 tháng Năm năm 1787. Tất cả các đại biểu đều tin rằng phải có một chính quyền trung ương hữu hiệu với những quyền lực cưỡng bách rộng rãi để thay thế cho Quốc hội bất lực lập ra theo Điều lệ Liên bang. Thoạt đầu các đại biểu nhất trí rằng chính quyền mới sẽ gồm ba ngành tách biệt - lập pháp, tư pháp và hành pháp, - từng ngành có những quyền riêng biệt để cân đối với những quyền của hai ngành kia. Mọi người cũng nhất trí rằng ngành lập pháp - giống như Nghị viện Anh - cần gồm có hai viện. Tuy nhiên, ngoài điểm trên đây, vẫn có những bất đồng quan điểm sâu sắc đôi khi có nguy cơ phá vỡ Hội nghị và làm gián đoạn các cuộc thảo luận trước khi hiến pháp được thảo ra. Các bang lớn thì ủng hộ việc phân bổ số người đại diện trong cơ quan lập pháp tỷ lệ với số dân - mỗi bang cần có số phiếu biểu quyết nhiều ít tuỳ theo số dân của mình. Sợ bị sự áp đảo của các bang lớn, các bang nhỏ một mực đòi tất cả các bang đều có quyền đại diện ngang nhau. Vấn đề này đã được giải quyết bằng sự "Thỏa hiệp Lớn", một biện pháp dành cho các bang có quyền đại diện ngang bằng nhau trong một viện và quyền đại diện tỷ lệ theo số dân trong viện kia. Mỗi bang sẽ có hai ghế trong Thượng viện. Số ghế trong Hạ viện sẽ phụ thuộc vào dân số từng bang. Vì được cho là gần gũi hơn với thái độ của đa số dân cư, Hạ viện được trao quyền khởi xướng mọi luật lệ liên quan tới các nguồn thu và ngân sách của liên bang. Sự Thỏa hiệp Lớn này đã chấm dứt mối bất hòa giữa các bang lớn và nhỏ, nhưng trong suốt mùa hè năm đó các đại biểu cũng đã đi đến nhiều thỏa hiệp khác. Một số đại biểu, lo sợ phải trao quá nhiều quyền lực cho người dân, đã yêu cầu bầu cử gián tiếp đối với tất cả quan chức liên bang; nhưng những đại biểu khác lại muốn một nền tảng cử tri càng rộng lớn càng tốt. Một số muốn loại trừ các lãnh thổ miền tây khỏi khả năng sau này có thể được mang quy chế bang; nhưng những đại biểu khác lại nhận thấy sức mạnh tương lai của đất nước nằm ở những vùng đất nguyên sơ bên ngoài dãy núi Appalachian. Có những lợi ích cục bộ cần được cân đối, có những quan điểm khác nhau về nhiệm kỳ, quyền lực và phương thức bầu chọn tổng thống cần được dung hòa, và những quan niệm đối lập nhau về vai trò của ngành tư pháp liên bang. Con đường dẫn tới thỏa hiệp không mấy khó khăn nhờ có phẩm chất ưu tú của các đại biểu tham gia Hội nghị. Chỉ một số ít các nhà lãnh đạo vĩ đại của cuộc Cách mạng Mỹ vắng mặt: Thomas Jefferson và John Adams - cả hai là những vị tổng thống tương lai - khi ấy làm nhiệm vụ phái viên của Mỹ tại Pháp và Anh; John Jay bận công việc với tư cách ngoại trưởng của Liên bang. Một số nhỏ những người khác như Samuel Adams và Patrick Henry quyết định không tham gia vì tin rằng cơ cấu chính quyền hiện có đã là lành mạnh rồi. Trong số những người tham dự, người danh tiếng nhất, vượt xa tất cả những người khác, là George Washington, vị tư lệnh của quân đội Mỹ và là người anh hùng của cuộc Cách mạng, chủ trì Hội nghị. Benjamin Franklin - nhà khoa học, học giả và nhà ngoại giao cao niên sáng suốt, cũng có mặt. Và cũng có những nhân vật lỗi lạc như James Madison của bang Virginia, thống đốc Morris của Pennsylvania và Alexander Hamilton - một luật sư trẻ sáng giá đến từ New York. Cả những đại biểu trẻ nhất, còn ở độ tuổi 20 và 30, cũng đã thể hiện những tài năng thiên bẩm về chính trị và trí tuệ. Như lời Thomas Jefferson khi đó đang ở Paris đã viết cho John Adams tại London: "Đây thực sự là một sự quần tụ của những á thần". Một số ý tưởng thể hiện trong Hiến pháp là mới mẻ, nhưng nhiều ý tưởng được đúc rút từ truyền thống cai trị của Anh và từ kinh nghiệm thực tiễn trong chế độ tự trị của 13 bang. Bản Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện chỉ đường quan trọng, hướng tâm trí các đại biểu tập trung vào những ý tưởng tự trị và bảo toàn những quyền cơ bản của con người. Những bài viết của các nhà triết học chính trị châu Âu như Montesquieu và John Locke cũng có nhiều ảnh hưởng. Đến cuối tháng 7, hội nghị cử ra một ủy ban để dự thảo một văn kiện dựa trên những thỏa thuận đã đạt được. Sau thêm một tháng thảo luận và gọt giũa nữa, một ủy ban thứ hai do thống đốc Morris đứng đầu, hoàn thành bản dự thảo cuối cùng, được đệ trình để ký kết vào ngày 17 tháng Chín. Không phải tất cả các đại biểu đều hài lòng với kết quả này; một số đã bỏ về trước buổi lễ, và trong số những người ở lại, có ba người không chịu ký là Edmund Randolph và George Mason của Virginia, Elbridge Gerry của Massachusetts. Trong số 39 người đặt bút ký có lẽ chẳng ai hoàn toàn thỏa mãn và quan điểm của họ đã được Benjamin Franklin tóm tắt đầy đủ khi ông nói: "Có một vài phần trong bản Hiến pháp này hiện tại tôi chưa chấp thuận, nhưng tôi không đoan quyết là tôi sẽ không bao giờ chấp thuận những phần ấy". Tuy nhiên ông chấp nhận bản Hiến pháp này "bởi tôi chẳng thể mong đợi một văn kiện xuất sắc hơn và tôi cũng không thể quả quyết rằng đây không phải là văn kiện xuất sắc nhất". Trích:
Trước mắt là tiến trình phê chuẩn gay go gian khổ, nghĩa là phải có ít nhất 9 bang chấp thuận Hiến pháp. Delaware là bang hành động đầu tiên, tiếp ngay sau đó là New Jersey và Georgia. Tại Pennsylvania và Connecticut, Hiến pháp đã được chấp thuận với một đa số lớn. Một cuộc tranh cãi gay gắt đã xảy ra ở Massachusetts. Bang này cuối cùng đặt điều kiện cho việc phê chuẩn của mình là bổ sung 10 điều sửa đổi đảm bảo một số quyền cơ bản nhất định trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do hội họp; quyền được xét xử bởi bồi thẩm đoàn; và việc cấm khám xét hoặc bắt giữ vô căn cứ. Một số bang khác cũng đưa vào những điều khoản tương tự, và những điều sửa đổi này - nay được gọi là bản Tuyên ngôn Nhân quyền - đã được đưa vào Hiến pháp năm 1791. Đến cuối tháng Sáu năm 1788, Maryland, South Carolina và New Hampshire đã đồng ý, qua đó đáp ứng yêu cầu cần có sự phê chuẩn của 9 bang. Về mặt pháp lý, Hiến pháp đã có hiệu lực. Nhưng hai bang đầy thế lực và quan trọng là New York và Virginia, cùng hai bang nhỏ hơn là North Carolina và Rhode Island vẫn lưỡng lự. Người ta thấy rõ là nếu không có sự chấp thuận của New York và Virginia thì Hiến pháp vẫn còn đặt trên một nền tảng bấp bênh. Virginia bị chia rẽ sâu sắc, nhưng ảnh hưởng của George Washington khi đưa ra những lý lẽ hậu thuẫn cho việc phê chuẩn đã thuyết phục được cơ quan lập pháp bang này thông qua với đa số phiếu sít sao vào ngày 26 tháng Sáu năm 1788. Tại New York, Alexander Hamilton, James Madison và John Jay đã viết một loạt bài lý luận xuất sắc bênh vực Hiến pháp - được gọi là Các bài viết chủ trương chế độ liên bang – và giành được một đa số phiếu sít sao ủng hộ việc chấp thuận vào ngày 26 tháng Bảy. Tháng Mười Một có thêm sự chấp thuận của North Carolina. Rhode Island tiếp tục đứng ngoài cho tới năm 1790 khi không còn chỗ đứng cho một bang nhỏ và yếu thế bị bao bọc bởi một thể chế cộng hòa lớn mạnh. Tiến trình tổ chức chính quyền bắt đầu ngay sau khi có sự phê chuẩn của Virginia và New York. Ngày 13 tháng Chín năm 1788, Quốc hội quyết định thành phố New York là nơi đặt trụ sở của chính quyền mới. (Đến năm 1790, thủ đô được chuyển đến Philadelphia và năm 1800, chuyển đến Washington, D.C.). Quốc hội lấy ngày Thứ Tư đầu tiên của tháng Giêng năm 1789 làm ngày lựa chọn các đại cử tri (những đại biểu bỏ phiếu bầu ra tổng thống), lấy ngày Thứ Tư đầu tiên của tháng Hai là ngày các đại cử tri họp lại để bầu chọn tổng thống, và lấy ngày Thứ Tư đầu tiên của tháng Ba làm ngày khai mạc Quốc hội khóa mới. Theo Hiến pháp, cơ quan lập pháp của từng bang có quyền quyết định cách lựa chọn các đại cử tri, cũng như cách bầu ra các hạ nghị sĩ và thượng nghị sĩ. Một số bang quyết định chọn cách phổ thông đầu phiếu, một số bang khác chọn cách để cho cơ quan lập pháp bầu chọn, và một số ít bang kết hợp cả hai cách trên. Những cuộc tranh chấp diễn ra kịch liệt; những chậm trễ trong những cuộc bầu cử đầu tiên theo Hiến pháp mới là điều không thể tránh khỏi. Ví dụ, New Jersey đã lựa chọn cách phổ thông đầu phiếu, nhưng lại quên không ấn định rõ thời gian kết thúc bỏ phiếu, nên thời gian bỏ phiếu kéo dài tới ba tuần. Việc thực thi hoàn toàn và cuối cùng Hiến pháp được ấn định vào ngày 4 tháng Ba năm 1789. Nhưng đến ngày đó, mới chỉ có 13 trong số 59 hạ nghị sĩ và 8 trong số 22 thượng nghị sĩ có mặt tại thành phố New York. (Số ghế phân bổ cho North Carolina và Rhode Island vẫn bỏ trống cho tới khi các bang này phê chuẩn Hiến pháp). Cuối cùng cũng có được số đại biểu tối thiểu hợp lệ tại Hạ viện vào ngày 1 tháng Tư và tại Thươùng viện vào ngày 1 tháng Sáu. Cả hai viện sau đó họp liên tịch để kiểm các lá phiếu của các đại cử tri. Không ai ngạc nhiên khi George Washington được nhất trí bầu làm tổng thống đầu tiên, và John Adams của bang Massachusetts làm phó tổng thống. Adams đến New York ngày 21 tháng Tư và Washington đến vào ngày 23 tháng Tư. Hai người tuyên thệ nhậm chức ngày 30 tháng Tư năm 1789. Công việc thiết lập chính quyền mới đã được hoàn tất. Song việc giữ gìn chế độ cộng hòa đầu tiên trên thế giới mới chỉ bắt đầu. Hiến pháp với tư cách là bộ luật tối cao Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tự coi là "bộ luật tối cao của đất nước". Điều này có nghĩa là khi hiến pháp hoặc luật pháp của các bang do các cơ quan lập pháp của các bang hoặc Quốc hội thông qua, bị phát hiện là trái với Hiến pháp liên bang, thì chúng sẽ không có hiệu lực. Những phán quyết mà Tòa án Tối cao đưa ra trong hai thế kỷ qua đã khẳng định và củng cố nguyên tắc về quyền tối thượng của Hiến pháp. Quyền lực tối hậu thuộc về người dân Hoa Kỳ, những người có thể thay đổi bộ luật cơ bản, nếu họ mong muốn, bằng cách sửa đổi Hiến pháp hoặc – ít nhất trên lý thuyết – thảo ra một hiến pháp mới. Tuy nhiên, người dân không trực tiếp thực hiện quyền lực đó của mình. Họ ủy nhiệm việc tiến hành những công việc thường nhật cho các quan chức nhà nước do dân cử hoặc được bổ nhiệm. Theo Hiến pháp, quyền lực của các quan chức nhà nước là có giới hạn. Các hoạt động công ích của họ phải tuân thủ Hiến pháp và những đạo luật đã được ban hành theo Hiến pháp. Các quan chức dân cử phải ra ứng cử theo định kỳ, và khi đó quá trình làm việc của họ sẽ được công chúng xem xét kỹ lưỡng. Các quan chức được bổ nhiệm thì phục vụ tuỳ theo ý muốn của cá nhân hay cơ quan bổ nhiệm họ, và có thể bị cách chức bất kỳ lúc nào. Có một ngoại lệ là việc tổng thống bổ nhiệm các chánh án Tòa án Tối cao và các thẩm phán liên bang khác cho một nhiệm kỳ suốt đời, để họ khỏi phải chịu những ràng buộc hoặc ảnh hưởng chính trị. Thông thường nhất, nhân dân Mỹ thể hiện ý nguyện của mình bằng cách bỏ phiếu kín. Tuy nhiên, Hiến pháp có điều khoản quy định việc phế truất các quan chức trong những trường hợp có hạnh kiểm sai trái hoặc có sai phạm cực kỳ nghiêm trọng bằng quy trình luận tội. Điều II khoản 4 quy định: "Tổng thống, Phó tổng thống và mọi quan chức dân sự của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ sẽ bị cách chức nếu bị luận tội, và sau đó bị kết tội là phản quốc, nhận hối lộ hoặc những tội và những hành động phạm pháp nghiêm trọng khác” . Luận tội là việc một cơ quan lập pháp buộc tội một quan chức chính quyền có hành vi sai trái; điều này, không như người ta thường nghĩ, không có nghĩa là đã kết tội theo tội danh đó. Theo quy định của Hiến pháp, Hạ viện phải đưa ra những lời buộc tội là có hành vi sai trái khi bỏ phiếu biểu quyết dự luật luận tội. Quan chức bị buộc tội sau đó được xét xử tại Thượng viện với sự chủ toạ của chánh án Tòa án Tối cao. Luận tội được coi là một biện pháp quyết liệt, một biện pháp chỉ được sử dụng trong những trường hợp hãn hữu ở Hoa Kỳ. Kể từ năm 1797, Hạ viện mới biểu quyết điều khoản luận tội đối với 16 quan chức liên bang: 2 tổng thống, 1 thành viên nội các, 1 thượng nghị sĩ, 1 chánh án Tòa án Tối cao và 11 thẩm phán liên bang. Năm 1868, Tổng thống Andrew Johnson bị luận tội về những vấn đề liên quan đến cách đối xử thích đáng đối với các bang bại trận sau khi kết thúc cuộc Nội chiến. Tuy nhiên Thượng viện đã thiếu một phiếu để đủ 2/3 số phiếu thuận cần thiết cho việc kết tội, và Johnson vẫn tại vị cho đến hết nhiệm kỳ. Năm 1974, do vụ Watergate, Tổng thống Richard Nixon đã từ chức sau khi Uỷ ban Tư pháp của Hạ viện kiến nghị luận tội, và trươực khi toàn thể Hạ viện kịp bỏ phiếu thông qua dự luật luận tội. Mới đây năm 1998, Tổng thống Bill Clinton bị Hạ viện luận tội về tội khai man và cản trở hoạt động tư pháp. Sau khi xét xử, Thượng viện miễn tội cho vị tổng thống này về cả hai điều buộc tội: Thượng viện đã biểu quyết với số phiếu 55-45 là không phạm tội khai man, và biểu quyết với số phiếu bằng nhau 50-50 về tội cản trở hoạt động tư pháp. Để cách chức tổng thống phải có biểu quyết có tội với đa số 67 phiếu về cả hai lời buộc tội. Những nguyên tắc của chính quyền Mặc dù Hiến pháp đã thay đổi trên nhiều phương diện kể từ khi được thông qua lần đầu, những nguyên tắc cơ bản của nó ngày nay vẫn được giữ nguyên như hồi năm 1789: * Ba ngành cơ bản của chính quyền – hành pháp, lập pháp và tư pháp – vẫn độc lập và tách biệt với nhau. Quyền lực của từng ngành được cân đối hài hòa với quyền lực của hai ngành còn lại. Mỗi ngành đóng vai trò kiềm chế khả năng lạm quyền của hai ngành kia. * Hiến pháp, cùng với các luật được thông qua phù hợp với các điều khoản của Hiến pháp và những hiệp ước do tổng thống ký kết và được Thượng viện chấp thuận, đứng trên mọi đạo luật, mọi nghị định hành pháp và các quy định khác. * Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền như nhau được hưởng sự bảo vệ của pháp luật. Tất cả các bang đều bình đẳng, và không bang nào được hưởng ưu đãi đặc biệt của chính quyền liên bang. Trong khuôn khổ của Hiến pháp, mỗi bang phải công nhận và tôn trọng luật pháp của các bang khác. Chính quyền các bang cũng như chính quyền liên bang phải có hình thức dân chủ trong đó quyền lực tối hậu thuộc về nhân dân. * Nhân dân có quyền thay đổi hình thức chính quyền quốc gia của mình bằng những biện pháp pháp lý được chính Hiến pháp quy định. Các điều khoản về sửa đổi Hiến pháp Các tác giả bản Hiến pháp đã nhận thức sâu sắc rằng muốn cho Hiến pháp có thể trường tồn và theo kịp sự lớn mạnh của đất nươực thì thỉnh thoảng sẽ cần phải có những thay đổi. Họ cũng ý thức được rằng không thể để cho tiến trình thay đổi diễn ra dễ dãi, cho phép có những điều sửa đổi thiếu suy xét và được thông qua vội vã. Cũng với sự cân nhắc tương tự, họ muốn đảm bảo không để cho một thiểu số có thể cản trở hành động mà đa số người dân mong muốn. Giải pháp của họ là nhằm tạo ra một quá trình kép qua đó Hiến pháp có thể được sửa đổi. Với hai phần ba số phiếu thuận tại mỗi viện, Quốc hội có thể khởi xướng việc sửa đổi. Hoặc theo cách khác, cơ quan lập pháp của hai phần ba số bang có thể yêu cầu Quốc hội triệu tập một đại hội toàn quốc để bàn luận và dự thảo sửa đổi. Trong cả hai trường hợp, sửa đổi chỉ có hiệu lực khi được sự chấp thuận của ba phần tư số bang. Ngoài quá trình trực tiếp thay đổi Hiến pháp, hiệu lực của các điều khoản trong Hiến pháp có thể được thay đổi bằng sự giải thích tư pháp. Ngay từ sớm trong lịch sử của nền cộng hòa, năm 1803 trong vụ Marbury kiện Madison, Tòa án Tối cao đã thiết lập nguyên tắc giám sát tư pháp, tức là quyền của Tòa án trong việc giải thích các đạo luật của Quốc hội và quyết định các đạo luật đó có mang tính hợp hiến hay không. Nguyên tắc này cũng bao gồm cả quyền lực của Tòa án trong việc giải thích ý nghĩa của nhiều phần trong hiến pháp khi áp dụng vào các điều kiện xã hội, kinh tế, chính trị và pháp luật luôn thay đổi. Qua nhiều năm, một loạt quyết định của Tòa án, về những vấn đề từ quy định của chính quyền đối với phát thanh và truyền hình cho tới các quyền của người bị kết án trong các vụ án hình sự, đã đem lại hiệu quả là cập nhật mục đích chính của luật hiến pháp mà không có sự thay đổi đáng kể nào trong bản thân Hiến pháp. Các luật của Quốc hội, được thông qua để thực thi những điều khoản của luật cơ bản hoặc để thích nghi nó với những điều kiện thay đổi, cũng mở rộng và, theo những cách thức tinh tế, làm thay đổi ý nghĩa của Hiến pháp. Về điểm này, các quy chế và quy định của nhiều cơ quan chính quyền liên bang có thể cũng có tác dụng tương tự. Theo quan điểm của tòa án, sự kiểm nghiệm chặt chẽ trong cả hai trường hợp là nhằm kiểm định xem liệu các luật và quy chế này có tuân thủ Hiến pháp hay không. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền Hiến pháp được sửa đổi 27 lần kể từ năm 1789 và chắc chắn sẽ còn tiếp tục được sửa đổi trong tương lai. Những thay đổi bao quát nhất đã được tiến hành trong vòng hai năm sau ngày Hiến pháp được thông qua. Trong thời kỳ này, 10 điều sửa đổi đầu tiên, được gọi chung là bản Tuyên ngôn Nhân quyền, đã được bổ sung. Quốc hội đã chấp thuận cả khối 10 điều khoản sửa đổi này trong tháng Chín năm 1789 và 11 bang đã phê chuẩn chúng vào cuối năm 1791. Phần lớn việc phản đối ban đầu đối với Hiến pháp không phải xuất phát từ những người chống đối việc củng cố khối liên bang mà là từ những chính khách cảm thấy rằng các quyền cá nhân phải được quy định cụ thể. Một trong những chính khách đó là George Mason, tác giả bản Tuyên bố về nhân quyền của bang Virginia – tiền thân của Tuyên ngôn Nhân quyền. Với tư cách là đại biểu của Hội nghị Lập hiến, Mason từ chối ký vào văn kiện này do ông cảm thấy các quyền cá nhân không được bảo vệ đầy đủ. Dĩ nhiên, việc phản đối của Mason gần như làm bế tắc việc phê chuẩn của bang Virginia. Như đã nói ở trên, do cũng có những suy nghĩ tương tự, Massachusetts đặt điều kiện cho việc phê chuẩn của mình là bổ sung những đảm bảo cụ thể về quyền cá nhân. Khi Quốc hội khóa đầu tiên nhóm họp, quan điểm chung đối với việc thông qua những sửa đổi này gần như hoàn toàn nhất trí, và Quốc hội không mất nhiều thời gian cho việc soạn thảo những sửa đổi này. Những sửa đổi này ngày nay vẫn còn nguyên vẹn như khi chúng được viết ra từ hai thế kỷ trước. Điều sửa đổi đầu tiên bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận và tự do báo chí, quyền được hội họp bình yên và quyền yêu sách chính quyền sửa chữa sai lầm. Điều sửa đổi thứ hai bảo đảm cho công dân được quyền mang vũ khí. Điều sửa đổi thứ ba quy định rằng quân đội không được đóng tại nhà dân khi không được phép của chủ sở hữu. Điều sửa đổi thứ tư không cho phép khám xét, bắt giữ và tịch thu tài sản vô căn cứ. Bốn điều sửa đổi tiếp theo liên quan tới hệ thống tư pháp. Điều sửa đổi thứ năm cấm xét xử tội phạm nghiêm trọng nếu không có bản cáo trạng của bồi thẩm đoàn. Điều sửa đổi này cấm xét xử lặp lại đối với cùng một vi phạm; cấm xử phạt mà chưa có sự phán xét của pháp luật và quy định rằng không thể bắt buộc một người bị buộc tội làm chứng chống lại bản thân người đó. Điều sửa đổi thứ sáu bảo đảm xét xử nhanh chóng, công khai đối với các vi phạm hình sự. Điều sửa đổi này đòi hỏi việc xét xử bởi một bồi thẩm đoàn công minh, đảm bảo quyền tư vấn pháp luật cho người bị buộc tội và quy định rằng các nhân chứng buộc tội phải tham dự phiên tòa và đối chất với người bị kết tội. Điều sửa đổi thứ bảy đảm bảo việc xét xử bởi bồi thẩm đoàn trong các vụ kiện dân sự liên quan tới bất cứ thứ gì có trị giá trên 20 USD. Điều sửa đổi thứ tám cấm bắt nộp phạt hoặc thế chấp quá nặng và xử phạt tàn ác hoặc bất bình thường. Hai điều cuối cùng trong 10 điều sửa đổi này bao gồm những tuyên bố theo nghĩa rộng của Hiến pháp: điều sửa đổi thứ chín tuyên bố rằng việc liệt kê các quyền không nhất thiết phải đầy đủ; rằng con người có những quyền khác không được đề cập cụ thể trong Hiến pháp. Điều sửa đổi thứ mười quy định rằng các quyền hạn mà Hiến pháp không trao cho chính quyền liên bang cũng không ngăn cấm đối với các bang thì được dành cho các bang hoặc cho nhân dân. Sự bảo vệ sống còn đối với các quyền tự do cá nhân Tính sâu sắc của Hiến pháp trong việc tổ chức chính quyền liên bang đã đem lại cho Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tính ổn định phi thường qua hai thế kỷ. Tuyên ngôn Nhân quyền và những điều sửa đổi Hiến pháp sau đó đã đặt các quyền cơ bản của con người vào trung tâm của hệ thống pháp lý Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Vào những thời điểm xảy ra khủng hoảng quốc gia, các chính quyền có xu hướng tìm cách tạm đình chỉ những quyền này vì lợi ích an ninh quốc gia, nhưng tại Hoa Kỳ, những biện pháp này luôn luôn được tiến hành một cách miễn cưỡng và cẩn trọng nhất. Ví dụ, trong thời chiến nhà cầm quyền quân sự kiểm duyệt thư từ giữa Hoa Kỳ và các nước khác và đặc biệt là thư từ từ mặt trận gửi về nhà cho các gia đình. Song, ngay cả trong thời chiến thì quyền được xét xử công bằng theo hiến pháp cũng không bị bãi bỏ. Những người bị buộc tội hình sự – và cả những đối tượng bao gồm công dân các nước thù địch bị buộc tội làm gián điệp, đảo chính và những hoạt động nguy hiểm khác - đều có quyền tự bảo vệ và, theo hệ thống luật pháp Hoa Kỳ, được coi là vô tội cho tới khi bị chứng minh là phạm tội. Những điều sửa đổi Hiến pháp sau Tuyên ngôn Nhân quyền bao gồm một loạt rộng rãi nhiều chủ đề. Một trong những điều sửa đổi có ảnh hưởng sâu rộng nhất là điều sửa đổi thứ 14 được phê chuẩn vào năm 1868, trong đó thiết lập một định nghĩa đơn giản và rõ ràng về quyền công dân và khẳng định sự đảm bảo bao trùm đối với việc xét xử công bằng theo pháp luật. Thực chất, điều sửa đổi thứ 14 áp dụng những điều khoản bảo vệ của Tuyên ngôn Nhân quyền cho các bang. Những điều sửa đổi khác đã hạn chế quyền lực tư pháp của chính quyền quốc gia, thay đổi phương thức bầu cử tổng thống, nghiêm cấm chế độ nô lệ, bảo vệ quyền bầu cử chống lại việc cự tuyệt quyền đó với lý do chủng tộc, màu da, giới tính hoặc điều kiện nô lệ trước đây; mở rộng quyền của Quốc hội trong việc thu thuế đối với các khoản thu nhập cá nhân; và thiết lập việc bầu cử thượng nghị sĩ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ theo hình thức phổ thông đầu phiếu. Trích:
Điều quan trọng là phần lớn trong 27 điều sửa đổi này xuất phát từ những nỗ lực liên tục nhằm mở rộng quyền tự do của cá nhân các công dân hoặc tự do chính trị, trong khi chỉ có rất ít điều sửa đổi liên quan tới việc tăng cường cơ cấu chính quyền cơ bản được dự thảo tại Philadelphia năm 1787. Trích:
Hệ thống liên bang Chương 2: GIẢI THÍCH HIẾN PHÁP: CÁC BÀI VIẾT CHỦ TRƯƠNG CHẾ ĐỘ LIÊN BANG "Nhưng bản thân chính quyền là gì nếu không phải là sự phản ánh rộng lớn nhất trong mọi phản ánh về bản chất con người?" - James Madison, Các bài viết chủ trương chế độ liên bang 1787-1788
Chương 3: NGÀNH HÀNH PHÁP: QUYỀN LỰC CỦA TỔNG THỐNG "Tổng thống nhận được toàn bộ quyền lực của mình từ nhân dân..." - Abraham Lincoln, Diễn văn nhậm chức thứ nhất, 1861 Vào thời tất cả các quốc gia lớn ở châu Âu đều có chế độ quân chủ cha truyền con nối thì ý tưởng về một vị tổng thống với nhiệm kỳ có giới hạn tự nó đã mang tính cách mạng. Nhưng Hiến pháp được thông qua năm 1787 đã trao quyền hành pháp cho tổng thống và điều đó ngày nay vẫn tiếp tục tồn tại. Hiến pháp còn quy định việc bầu ra một phó tổng thống, người sẽ kế nhiệm tổng thống trong trường hợp tổng thống qua đời, từ chức hay không có đủ năng lực. Trong khi Hiến pháp nêu lên khá chi tiết các nhiệm vụ và quyền hạn của tổng thống, nó lại không ủy thác bất kỳ một quyền hành pháp cụ thể nào cho phó tổng thống, cho nội các gồm 14 thành viên của tổng thống, hay cho các quan chức liên bang khác. Việc lập ra một chức vụ tổng thống nhất nguyên chế và đầy quyền lực là nguồn gốc gây ra tranh cãi trong Hội nghị Lập hiến. Một số bang đã từng kinh qua các hội đồng hành pháp bao gồm nhiều thành viên, một hệ thống mà Thuỵ Sĩ đã áp dụng với nhiều thành công trong một số năm. Đại biểu Benjamin Franklin đã yêu cầu Hoa Kỳ cũng áp dụng một chế độ tương tự. Ngoài ra, nhiều đại biểu, vẫn còn nhức nhối trước tình trạng Vương triều nước Anh nắm trong tay quá nhiều quyền hành pháp, nên rất dè dặt đối với một chức vụ tổng thống nhiều thế lực. Tuy nhiên, những người chủ trương một tổng thống duy nhất - hoạt động dưới sự kiểm soát chặt chẽ và sự cân bằng - đã giành phần thắng. Hiến pháp đòi hỏi tổng thống phải là công dân Mỹ sinh ra trên đất Mỹ và có tuổi đời ít nhất là 35 tuổi. Các ứng cử viên tổng thống được các chính đảng bầu chọn nhiều tháng trước cuộc bầu cử tổng thống, được tổ chức 4 năm một lần (những năm có số năm chia hết cho 4) vào ngày Thứ Ba đầu tiên sau ngày Thứ Hai đầu tiên của tháng Mười Một. Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 22, được phê chuẩn năm 1951, giới hạn tổng thống chỉ được giữ hai nhiệm kỳ. Phó tổng thống phục vụ đồng thời với tổng thống. Ngoài quyền được kế nhiệm, phó tổng thống giữ quyền chủ tịch Thượng viện. Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 25, được thông qua năm 1967, quy định cụ thể hơn quá trình kế nhiệm tổng thống. Nó quy định những điều kiện cụ thể mà theo đó phó tổng thống được trao quyền đảm nhiệm cương vị tổng thống nếu tổng thống tỏ ra không còn khả năng làm việc. Điều sửa đổi Hiến pháp này cũng quy định việc tổng thống được trở lại cương vị của mình trong trường hợp sức khoẻ của ông được phục hồi. Ngoài ra, điều sửa đổi Hiến pháp này còn cho phép tổng thống chỉ định một phó tổng thống, với sự tán hành của Quốc hội, khi chức vụ thứ hai này bị bỏ trống. Hiến pháp trao cho Quốc hội quyền lập ra thứ tự kế nhiệm sau phó tổng thống. Hiện thời, nếu cả hai chức vụ tổng thống và phó tổng thống đều bị bỏ trống thì chủ tịch Hạ viện sẽ đảm nhiệm chức vụ tổng thống. Tiếp đến là chủ tịch lâm thời của Thượng viện (một thượng nghị sĩ được Thượng viện bầu ra để chủ trì Thượng viện trong lúc không có phó tổng thống), và sau đó là các quan chức nội các theo thứ tự đã được quy định. Phương pháp bầu tổng thống là một đặc thù của chế độ Mỹ. Tuy tên tuổi các ứng cử viên được ghi trên lá phiếu song, về mặt kỹ thuật, người dân không trực tiếp bầu ra tổng thống (và phó tổng thống). Trái lại, cử tri mỗi bang bầu ra một đoàn đại cử tri (những người sẽ bầu ra tổng thống) có số lượng bằng số thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ mà bang này có trong Quốc hội. ứng cử viên nào giành được số phiếu cao nhất tại mỗi bang sẽ giành được toàn bộ các "lá phiếu đại cử tri" của bang đó. Các đại cử tri của tất cả 50 bang và quận Columbia - tổng cộng 538 người - hợp thành đại cử tri đoàn. Theo quy định của Hiến pháp, đại cử tri đoàn không khi nào họp lại với nhau như một tổ chức. Trái lại, các đại cử tri của mỗi bang sẽ họp lại với nhau tại thủ phủ bang mình ít lâu sau cuộc bầu cử và dồn phiếu bầu cho ứng cử viên có số phiếu bầu phổ thông cao nhất tại bang mình. Muốn thắng cử, ứng cử viên tổng thống phải giành được 270 phiếu đại cử tri trong tổng số 538 phiếu có thể có. Hiến pháp quy định rằng, nếu không có ứng cử viên nào giành được đa số phiếu, Hạ viện sẽ phải quyết định: trong đó tất cả các hạ nghị sĩ của một bang sẽ phải bỏ phiếu với tư cách một đơn vị. Trong trường hợp đó, mỗi bang và quận Columbia sẽ được phân bổ chỉ một phiếu bầu duy nhất. Nhiệm kỳ tổng thống bốn năm bắt đầu từ ngày 20 tháng Giêng (trước kia là từ tháng Ba, sau được thay đổi bởi điều sửa đổi Hiến pháp thứ 20, phê chuẩn năm 1933) sau cuộc bầu cử vào tháng Mười Một. Tổng thống bắt đầu những nhiệm vụ chính thức của mình bằng một lễ nhậm chức, theo truyền thống được tổ chức trên thềm điện Capitol Hoa Kỳ, nơi họp Quốc hội. Tổng thống công khai tuyên thệ nhậm chức, theo truyền thống, trước sự chứng kiến của chánh án Tòa án Tối cao. Lời tuyên thệ được ghi trong Điều II của Hiến pháp: "Tôi trân trọng tuyên thệ rằng tôi sẽ trung thành thi hành chức trách tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, và sẽ bằng tất cả khả năng của mình, duy trì, bảo toàn và bảo vệ Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ". Lễ tuyên thệ thường được nối tiếp bằng một diễn văn nhậm chức trong đó tân tổng thống phác hoạ các chính sách và kế hoạch của chính quyền của mình. Trích:
Chức vụ tổng thống Hợp chúng quốc là một trong những chức vụ có thế quyền nhất trên thế giới. Hiến pháp quy định rằng tổng thống phải "chăm lo để cho luật pháp được thực hiện một cách nghiêm minh". Để gánh vác trách nhiệm này, tổng thống chủ trì ngành hành pháp của chính quyền liên bang - một tổ chức rộng lớn gồm tới bốn triệu người, trong đó có một triệu quân nhân tại ngũ. Ngoài ra tổng thống còn có những quyền quan trọng về lập pháp và tư pháp. Quyền hành pháp Trong bản thân ngành hành pháp, tổng thống có những quyền hạn rộng lớn để điều hành công việc quốc gia và các hoạt động của chính quyền liên bang. Tổng thống có thể ban hành các quy định, quy chế và chỉ thị, được gọi là những chế tại hành pháp, có hiệu lực bắt buộc của luật pháp đối với các cơ quan liên bang mà không cần có sự tán thành của Quốc hội. Là tổng chỉ huy của các lực lượng vũ trang Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, tổng thống cũng có thể huy động các đơn vị Cận vệ quốc gia của bang phục vụ cho liên bang. Trong thời gian chiến tranh hay trong tình trạng khẩn cấp quốc gia, Quốc hội có thể trao cho tổng thống những quyền hạn thậm chí còn rộng hơn nữa để điều hành nền kinh tế quốc dân và bảo vệ an ninh của Hợp chúng quốc. Tổng thống bổ nhiệm - và Thượng viện phê chuẩn - người đứng đầu tất cả các bộ và các cơ quan hành pháp, cùng với hàng trăm quan chức cao cấp liên bang khác. Tuy nhiên, phần đông viên chức liên bang được lựa chọn thông qua hệ thống công chức nhà nước mà ở đó việc bổ nhiệm và đề bạt dựa trên cơ sở năng lực và kinh nghiệm. Quyền lập pháp Mặc dù Hiến pháp quy định "mọi quyền lập pháp" phải được trao cho Quốc hội, nhưng tổng thống, với tư cách người hoạch định chủ yếu chính sách công cộng, vẫn có một vai trò lập pháp quan trọng. Tổng thống có thể phủ quyết bất kỳ một dự luật nào đã được Quốc hội thông qua và, trừ khi có hai phần ba thành viên trong mỗi viện phủ quyết để gạt bỏ sự phủ quyết của tổng thống, dự luật đó sẽ không bao giờ trở thành luật. Phần lớn các văn bản luật mà Quốc hội xử lý được dự thảo với sáng kiến của ngành hành pháp. Trong một thông điệp đặc biệt hàng năm gửi cho Quốc hội, tổng thống có thể đề xuất những văn bản pháp luật nào mà tổng thống cho là cần thiết. Nếu Quốc hội phải ngừng họp mà không đề cập được những đề xuất này, thì tổng thống có quyền triệu tập phiên họp đặc biệt. Nhưng vượt lên trên vai trò chính thức đó, với tư cách là người đứng đầu một chính đảng và là quan chức hành pháp chủ yếu của chính quyền Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, tổng thống ở vào vị trí có thể ảnh hưởng tới dư luận và qua đó ảnh hưởng tới quá trình lập pháp tại Quốc hội. Để cải thiện những mối quan hệ làm việc của mình với Quốc hội, các vị tổng thống trong những năm gần đây đã thiết lập một Văn phòng Liên lạc với Quốc hội tại Nhà Trắng. Các phụ tá tổng thống theo dõi mọi hoạt động lập pháp quan trọng và cố gắng thuyết phục các thươùng nghị sĩ và hạ nghị sĩ của cả hai đảng ủng hộ các chính sách hành chính. Quyền tư pháp Trong số các quyền hợp hiến của tổng thống có quyền bổ nhiệm các quan chức chính quyền quan trọng. Sự bổ nhiệm của tổng thống đối với các thẩm phán liên bang, kể cả các thành viên của Tòa án Tối cao, phải được sự phê chuẩn của Thượng viện. Một quyền quan trọng nữa là ban bố lệnh ân xá hoàn toàn hay có điều kiện cho bất kỳ ai đã bị kết tội vi phạm luật pháp liên bang - trừ trường hợp còn nghi vấn. Quyền ân xá bao hàm trong đó quyền rút ngắn thời hạn bị tù và giảm bớt tiền phạt. Các quyền trong các vấn đề đối ngoại Theo Hiến pháp, tổng thống là quan chức liên bang chịu trách nhiệm tối cao về các mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với các nước khác. Tổng thống bổ nhiệm các đại sứ, công sứ và lãnh sự - với sự phê chuẩn của Thượng viện, - tiếp nhận các đại sứ và các quan chức nhà nươực khác của nước ngoài. Cùng với bộ trưởng ngoại giao, tổng thống điều hành tất cả các mối liên hệ chính thức với các chính phủ nước ngoài. Đôi khi tổng thống có thể đích thân tham gia các hội nghị thượng đỉnh, tại đó những người đứng đầu các nhà nươực gặp gỡ nhau để trực tiếp trao đổi ý kiến. Vì thế, Tổng thống Woodrow Wilson đã dẫn đầu phái đoàn Mỹ tới hội nghị Paris khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất; Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã gặp gỡ các lãnh tụ Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai; và kể từ đó tổng thống nào cũng đã họp mặt với các lãnh tụ thế giới để thảo luận các vấn đề kinh tế và chính trị, và nhằm đi tới những hiệp ước song phương và đa phương. Thông qua Bộ Ngoại giao, tổng thống chịu trách nhiệm bảo vệ người Mỹ ở nước ngoài và bảo vệ những kiều dân nước ngoài ở Mỹ. Tổng thống quyết định việc có công nhận hay không công nhận các quốc gia mới và các chính quyền mới, đàm phán các hiệp ước với những quốc gia khác sẽ liên minh với Hoa Kỳ khi được hai phần ba thành viên Thượng viện thông qua. Tổng thống còn có quyền đàm phán "các hiệp định hành pháp" với những cường quốc nước ngoài mà không cần đến sự phê chuẩn của Thượng viện. Những hạn chế đối với quyền lực của tổng thống Do tính chất đa dạng trong vai trò và trách nhiệm của tổng thống, cùng với sự hiện diện nổi bật trong bối cảnh quốc gia và quốc tế, các nhà phân tích chính trị có xu hướng nhấn mạnh nhiều hơn tới các quyền của tổng thống. Thậm chí một số ngừơi đã nói đến "cương vị tổng thống đế chế", ám chỉ vai trò được mở rộng của địa vị mà Franklin D.Roosevelt duy trì trong nhiệm kỳ của ông ta. Một trong những thực tế cảnh tỉnh đầu tiên mà một tổng thống mới phát hiện ra là sự kế thừa một cấu trúc quan liêu cố hữu rất khó quản lý và chậm chuyển hướng. Quyền bổ nhiệm của tổng thống được mở rộng chỉ đối với khoảng 3.000 người trong một lực lươùng lao động chính quyền dân sự gồm khoảng ba triệu người. Tổng thống nhận thấy rằng bộ máy chính quyền hoạt động khá độc lập đối với sự can thiệp của tổng thống đã tồn tại qua các chính quyền trước đây, và sẽ còn tiếp tục như thế ngay trong tương lai. Các vị tổng thống mới ngay lập tức phải đương đầu với những quyết định tồn đọng của các chính quyền đã mãn nhiệm về những vấn đề thường là phức tạp và không quen thuộc. Họ kế thừa một kế hoạch chi tiêu đã được xây dựng và phê chuẩn thành luật từ lâu trước khi họ nhậm chức, cùng những chương trình chi tiêu đồ sộ (như chi về các lợi ích của cựu chiến binh, thanh toán bảo hiểm xã hội, và y tế cho người già), được quy định bởi luật và không bị ảnh hưởng. Về các vấn đề đối ngoại, các tổng thống phải tuân thủ những hiệp ước và các thỏa thuận không chính thức được đàm phán bởi những người tiền nhiệm của họ. Cảm giác hạnh phúc ngọt ngào của "tuần trăng mật" sau bầu cử nhanh chóng tiêu tan, và vị tổng thống mới phát hiện ra rằng Quốc hội trở nên ít tính hợp tác hơn, còn công luận thì chỉ trích nhiều hơn. Tổng thống buộc phải tạo dựng những sự liên minh ít nhất cũng tạm thời giữa các nhóm lợi ích đa dạng, thường là thù địch - về kinh tế, địa lý, sắc tộc và hệ tư tưởng. Để cho một văn bản pháp lý bất kỳ có thể được thông qua, phải đạt được những thỏa hiệp với Quốc hội. Tổng thống John F. Kennedy đã phàn nàn rằng "Đánh đổ một dự luật trong Quốc hội rất dễ dàng. Làm cho một dự luật được thông qua thì khó khăn hơn nhiều". Mặc dù có những hạn chế đó, mỗi vị tổng thống đều đạt được ít nhất một số mục tiêu về pháp luật, và ngăn chặn được, bằng cách phủ quyết, việc phê chuẩn những luật khác mà ông ta tin rằng không đem lại lợi ích cao nhất cho quốc gia. Quyền lực của tổng thống trong việc tiến hành chiến tranh và hòa bình, bao gồm việc đàm phán các hiệp ước, rất lớn. Hơn thế, tổng thống có thể sử dụng vị thế có một không hai của mình để công bố những ý tưởng và tán đồng các chính sách mà sau đó có cơ hội tốt hơn để nhận được sự lưu tâm của công chúng so với những vị thế được nắm giữ bởi các đối thủ cạnh tranh về chính trị của ông ta. Tổng thống Theodore Roosevelt gọi khía cạnh đó của chức trách tổng thống là bài thuyết giáo "cừ khôi", khi một vị tổng thống nêu lên một vấn đề cho sự bàn luận công khai. Quyền lực và ảnh hưởng của một tổng thống có thể bị giới hạn, nhưng chúng vẫn cứ lớn hơn quyền lực hay ảnh hưởng của bất kỳ người Mỹ nào, đương nhiệm hay mãn nhiệm. Các bộ trong ngành hành pháp Việc cưỡng chế và thực thi hàng ngày đối với các luật liên bang nằm trong tay nhiều bộ hành pháp khác nhau, do Quốc hội tạo ra để giải quyết những lĩnh vực cụ thể của các vấn đề quốc gia và quốc tế. Những người đứng đầu 14 bộ, do tổng thống lựa chọn và Thượng viện phê chuẩn, tạo nên một hội đồng cố vấn được gọi chung là "Nội các" của tổng thống. Ngoài các bộ, còn có một số tổ chức nhân viên nhóm lại thành Văn phòng Điều hành của Tổng thống. Các tổ chức này bao gồm đội ngũ nhân viên của Nhà Trắng, Hội đồng An ninh quốc gia, Văn phòng Quản lý và Ngân sách, Hội đồng Cố vấn Kinh tế, Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ, Văn phòng Khoa học và Công nghệ. Hiến pháp không có một quy định nào đối với Nội các của tổng thống. Nó quy định rằng tổng thống có thể hỏi ý kiến, bằng văn bản, quan chức chủ chốt của từng bộ điều hành về bất kỳ một chủ đề nào thuộc phạm vi trách nhiệm của họ, nhưng nó không nêu cụ thể các bộ cũng như không mô tả nhiệm vụ của chúng. Tương tự, không có một quy định cụ thể nào về phẩm chất cho việc phục vụ trong Nội các. Nội các phát triển nằm ngoài Hiến pháp như là một đòi hỏi bắt buộc của thực tiễn, thậm chí trong thời George Washington, vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, tổng thống tuyệt nhiên không thể thi hành các nhiệm vụ của mình nếu không có sự cố vấn và trợ giúp. Nội các chính là cái mà bất kỳ một tổng thống chu đáo nào tạo ra vì mục đích đó. Một số tổng thống đã dựa nhiều vào Nội các để có được sự cố vấn, một số khác dựa vừa phải, và có một vài vị về cơ bản là phớt lờ. Cho dù các thành viên Nội các có hành động như là những cố vấn hay không, họ vẫn nắm giữ trách nhiệm hướng dẫn các hoạt động của chính phủ trong những lĩnh vực liên quan cụ thể. Mỗi bộ có hàng nghìn nhân viên, với các văn phòng đặt trên khắp đất nước cũng như ở Washington. Các bộ được chia thành các vụ, cục, ban, tổng cục, mỗi đơn vị có những nhiệm vụ cụ thể. Trích:
Bộ Nông nghiệp (USDA) theo dõi sản xuất nông nghiệp để đảm bảo giá cả hợp lý và các thị trường ổn định cho người sản xuất và người tiêu dùng, hoạt động để cải thiện và duy trì thu nhập của nông dân, giúp phát triển và mở mang các thị trường nước ngoài cho hàng nông sản. Bộ cố gắng hạn chế tình trạng nghèo khổ, đói kém và suy dinh dưỡng bằng cách phát hành tem phiếu thực phẩm cho người nghèo; đài thọ cho các chương trình giáo dục về dinh dưỡng; điều hành các chương trình trợ giúp thực phẩm khác, chủ yếu là cho trẻ em, phụ nữ có thai và người già. Nó duy trì năng lực sản xuất bằng cách giúp cho các chủ đất bảo vệ được đất trồng trọt, nước, rừng, và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác. Bộ Nông nghiệp chỉ đạo sự phát triển nông thôn, các chương trình tín dụng và tiết kiệm nhằm thực hiện các chính sách tăng trưởng quốc gia, tiến hành việc nghiên cứu khoa học và công nghệ trong tất cả các lĩnh vực nông nghiệp. Thông qua dịch vụ thanh tra và xếp loại, Bộ Nông nghiệp bảo đảm các tiêu chuẩn chất lượng của thực phẩm được chào bán. Cục Nghiên cứu nông nghiệp của Bộ tìm cách phát triển những giải pháp cho những vấn đề nông nghiệp có vị trí ưu tiên quốc gia cao, và cục này quản lý Thư viện Nông nghiệp quốc gia để truyền bá thông tin cho đông đảo người sử dụng, từ những nhà khoa học nghiên cứu đến quảng đại công chúng. Ban Nông nghiệp nước ngoài (FAS) của Bộ Nông nghiệp có vai trò là cơ quan xúc tiến xuất khẩu và dịch vụ cho nông nghiệp Hoa Kỳ, sử dụng chuyên gia nước ngoài tiến hành điều tra về nông nghiệp nước ngoài, phục vụ cho những nhóm lợi ích nông nghiệp và kinh doanh của Hoa Kỳ. Tổng cục Lâm nghiệp Mỹ, cũng là một bộ phận của Bộ, kiểm soát một mạng lưới rộng lớn các khu vực rừng và động vật hoang dã của quốc gia. Bộ Thương mại Bộ Thương mại có vai trò thúc đẩy thương mại quốc tế, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ kỹ thuật của quốc gia. Nó cung cấp sự trợ giúp và thông tin nhằm làm tăng tính cạnh tranh của Mỹ trong nền kinh tế thế giới; chỉ đạo các chương trình nhằm ngăn chặn cạnh tranh ngoại thương không công bằng; cung cấp các số liệu thống kê và những phân tích về kinh tế và xã hội cho các nhà xây dựng kế hoạch của chính phủ. Bộ gồm có nhiều cơ quan đa dạng. Ví dụ, Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ quốc gia đẩy mạnh sự tăng trưởng kinh tế bằng cách cộng tác với công nghiệp nhằm phát triển và ứng dụng công nghệ, đo lường và tiêu chuẩn. Cục Đại dương và Khí quyển quốc gia (NOAA) trong đó có Nha Thời tiết quốc gia, có nhiệm vụ nâng cao sự hiểu biết về môi trường trái đất và bảo toàn các tài nguyên biển và ven biển của đất nước. Cục Sáng chế và Nhãn hiệu thương mại đẩy mạnh tiến bộ khoa học và mỹ nghệ bằng cách bảo đảm cho tác giả và nhà sáng chế giữ độc quyền đối với những sáng tạo và phát minh của mình. Cục Viễn thông và Thông tin quốc gia cố vấn cho tổng thống về chính sách viễn thông, thúc đẩy sáng kiến, khuyến khích cạnh tranh, tạo ra công ăn việc làm và đem lại cho người tiêu dùng dịch vụ viễn thông chất lượng cao hơn và giá hạ hơn. Bộ Quốc phòng Đại bản doanh đóng tại Lầu Năm góc, "tòa nhà văn phòng lớn nhất thế giới", Bộ Quốc phòng (DOD) chịu trách nhiệm về tất cả những vấn đề liên quan tới an ninh quân sự của quốc gia. Nó cung cấp lực lượng quân sự của Hoa Kỳ, gồm khoảng 1 triệu nam nữ quân nhân đang tại ngũ. Trong trường hợp khẩn cấp, lực lượng này được sự hậu thuẫn của 1,5 triệu thành viên lực lượng dự bị của các bang, gọi là Đội Cận vệ quốc gia. Ngoài ra, có khoảng 730.000 nhân viên dân sự phục vụ cho Bộ Quốc phòng trong những lĩnh vực như nghiên cứu, liên lạc tình báo, vẽ bản đồ và các vấn đề an ninh quốc tế. Cục An ninh quốc gia (NSA) phối hợp, chỉ đạo và thực hiện những hoạt động tình báo rất chuyên biệt ủng hộ cho các hoạt động của chính quyền Hoa Kỳ, cũng đặt dưới sự chỉ đạo của bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Bộ Quốc phòng chỉ đạo các quân chủng được tổ chức riêng biệt là Lục quân, Hải quân, Thủy quân lục chiến, Không quân, cũng như các học viện của bốn quân chủng và Trường Cao đẳng Chiến tranh quốc gia, Hội đồng tham mưu liên quân và một số binh chủng tác chiến chuyên môn hóa. Bộ Quốc phòng duy trì các lực lượng hải ngoại để đáp ứng những cam kết theo hiệp ước, bảo vệ thương mại và các vùng lãnh thổ ở bên ngoài quốc gia, cung cấp các lực lượng không chiến và các lực lượng hỗ trợ. Những trách nhiệm phi quân sự bao gồm việc kiểm soát lũ lụt, phát triển các nguồn lực hải dương và quản lý các trữ lượng dầu mỏ. Bộ Giáo dục Trong khi các trường học trước hết là một trách nhiệm địa phương trong hệ thống giáo dục Hoa Kỳ, Bộ Giáo dục đảm trách sự lãnh đạo quốc gia đối với các vấn đề trọng yếu trong nền giáo dục ở Mỹ và phục vụ như một văn phòng trung ương về thông tin để giúp cho những người ra quyết định tại các bang và địa phương cải thiện các trường học của họ. Bộ xây dựng chính sách và điều hành các chương trình viện trợ liên bang dành cho giáo dục, trong đó có các chương trình cho sinh viên vay, chương trình dành cho sinh viên bị thiệt thòi hoặc bị tàn tật và các chương trình dạy nghề. Trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Bộ Giáo dục tập trung vào những chương trình sau đây: nâng cao tiêu chuẩn cho tất cả các sinh viên, cải tiến công việc giảng dạy, đưa các bậc cha mẹ và gia đình tham gia vào sự giáo dục của trẻ em, làm cho nhà trường trở thành một nơi an toàn, có kỷ luật và không có ma tuý, tăng cường quan hệ giữa nhà trường với lao động, nâng cao sự tiếp cận với viện trợ tài chính để sinh viên có thể đến trường và tiếp nhận sự đào tạo, và giúp đỡ cho mọi sinh viên đều trở thành những người hiểu biết về công nghệ. Bộ Năng lượng Mối quan ngại ngày càng tăng lên về những vấn đề năng lượng của quốc gia trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX đã thúc đẩy Quốc hội thành lập Bộ Năng lượng (DOE). Bộ tiếp quản các chức năng của một số cơ quan chính phủ đã từng tham gia vào lĩnh vực năng lượng. Đội ngũ cán bộ của Bộ Năng lượng chịu trách nhiệm nghiên cứu, phát triển và vận hành công nghệ năng lượng; bảo tồn nguồn năng lượng; quản lý việc sản xuất và sử dụng năng lượng; sử dụng năng lượng hạt nhân cho mục đích dân sự và quân sự; định giá và phân bổ dầu mỏ; và một chương trình trung tâm thu thập và phân tích dữ liệu về năng lượng. Bộ Năng lượng bảo vệ môi trường quốc gia bằng cách đề ra những tiêu chuẩn nhằm giảm thiểu các tác hại của sản xuất năng lượng. Ví dụ, Bộ Năng lượng tiến hành việc nghiên cứu về môi trường và những vấn đề liên quan đến sức khoẻ, như các nghiên cứu về các chất gây ô nhiễm có liên quan tới năng lượng và những ảnh hưởng của chúng đối với các hệ sinh học. Bộ Y tế và Các dịch vụ con người Bộ Y tế và Các dịch vụ con người (HHS), giám sát khoảng 300 chương trình, có lẽ là cơ quan động chạm trực tiếp đến cuộc sống của nhiều người Mỹ hơn bất kỳ một cơ quan liên bang nào khác. Bộ phận cấu thành lớn nhất của nó, Cục Tài trợ Chăm sóc sức khoẻ, quản lý các chương trình Medicare và Medicaid - những chương trình đem lại sự chăm sóc sức khoẻ cho khoảng 1 trên 5 người Mỹ. Chương trình Medicare đem lại bảo hiểm y tế cho 30 triệu người già và tàn tật ở Hoa Kỳ. Chương trình Medicaid, một chương trình phối hợp liên bang và bang, đem lại bảo hiểm y tế cho 31 triệu người thu nhập thấp, trong đó có 15 triệu trẻ em. Bộ Y tế và Các dịch vụ con người còn quản lý mạng lưới các Viện y tế quốc gia (NIH), tổ chức nghiên cứu y học hàng đầu thế giới, hỗ trợ khoảng 30.000 dự án nghiên cứu về các bệnh như ung thư, Alzheimer, tháo đường, xơ cứng động mạch, đau tim và AIDS. Các cơ quan khác của Bộ Y tế và Các dịch vụ con người bảo đảm tính an toàn và hữu hiệu của việc cung cấp thực phẩm, của các loại thuốc men của quốc gia, ngăn chặn sự bùng nổ các căn bệnh lây lan và cung cấp dịch vụ y tế cho người Anhđiêng Mỹ và dân bản địa ở Alaska, góp phần nâng cao chất lượng và khả năng cung cấp biện pháp ngăn ngừa mắc nghiện, điều trị bệnh nghiện ma túy và các dịch vụ điều trị bệnh tâm thần. Bộ Nhà ở và Phát triển đô thị Bộ Nhà ở và Phát triển đô thị (HUD) quản lý các chương trình trợ giúp phát triển cộng đồng và giúp cung cấp nhà ở với mức giá phải chăng cho quốc gia. Các luật về cấp nhà với giá cả phải chăng, do Bộ Nhà ở và Phát triển đô thị thực thi, nhằm đảm bảo cho các cá nhân và gia đình có thể mua được một căn hộ mà không phải chịu tình trạng kỳ thị trong vấn đề nhà ở. Bộ Nhà ở và Phát triển đô thị điều hành các chương trình bảo hiểm cầm cố để giúp các gia đình trở thành người chủ của căn nhà, và một chương trình bao cấp tiền thuê cho các gia đình có thu nhập thấp mà nếu không có chương trình này họ không thể có tiền trả cho một căn hộ tươm tất. Ngoài ra, Bộ còn điều hành các chương trình viện trợ cho việc xây dựng lại các vùng lân cận, tránh cho các trung tâm đô thị khỏi những khu ổ chuột và khuyến khích phát triển những cộng đồng mới. Bộ cũng bảo vệ những người mua nhà trên thị trường và xúc tiến các chương trình khuyến khích ngành xây dựng nhà ở. Bộ Nội vụ Là cơ quan bảo toàn chính của quốc gia, Bộ Nội vụ có trách nhiệm đối với hầu hết các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đất đai công cộng thuộc sở hữu liên bang ở Hoa Kỳ. Ví dụ, Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ quản lý 500 nơi trú ngụ của động vật hoang dã, 37 khu quản lý đồng lầy, 65 trại nuôi cá quốc gia, và một mạng lưới nhân viên thi hành luật về động vật hoang dã. Cục Công viên quốc gia quản lý hơn 370 công viên quốc gia và các danh lam thắng cảnh, các tuyến đường sông, bờ biển, các khu vui chơi giải trí và di tích lịch sử, qua đó Cục thực hiện việc bảo toàn di sản tự nhiên và văn hóa của Mỹ. Thông qua Cục Quản lý ruộng đất, Bộ giám sát đất đai và các nguồn lực - từ các khu đất trồng trọt, các khu vui chơi giải trí đến việc sản xuất gỗ và dầu - trên hàng triệu hécta đất công chủ yếu thuộc miền Tây. Cục khai hoang quản lý các nguồn nước khan hiếm ở miền Tây nửa khô cằn của Mỹ. Bộ quản lý hoạt động khai thác mỏ ở Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, và chịu trách nhiệm chính về việc bảo vệ và bảo toàn các nguồn tài nguyên chính của các bộ lạc người Anhđiêng Mỹ và dân bản địa ở Alaska. Trên phương diện quốc tế, Bộ điều hành các chương trình ở những vùng lãnh thổ như U.S. Virgin lslands, Guam, American Samoa, Northern Mariana lslands, giám sát việc cấp kinh phí phát triển cho Marshall lslands và Federated States of Micronessia và Palau. Bộ Tư pháp Bộ Tư pháp đại diện cho chính phủ Hoa Kỳ trong các vấn đề pháp lý và tòa án và, khi được yêu cầu, đệ trình các ý kiến cố vấn, các quan điểm pháp lý lên tổng thống và những người đứng đầu các bộ hành pháp. Đứng đầu Bộ Tư pháp là tổng chưởng lý, quan chức đứng đầu trong việc thực thi luật pháp của chính quyền liên bang. Cục Điều tra Liên bang (FBI) của Bộ này là cơ quan cưỡng chế thi hành luật chủ yếu, và Vụ Nhập cư và Nhập quốc tịch (INS) áp dụng các luật về nhập cư. Một cơ quan lớn trong bộ này là Cơ quan Thi hành luật về ma túy (DAE), áp dụng các luật về các chất bị kiểm soát và thuốc ngủ, khám phá các tổ chức lớn buôn bán ma túy bất hợp pháp. Bộ Tư pháp cũng trợ giúp các lực lượng cảnh sát địa phương. Ngoài ra, Bộ còn điều hành các công tố viên và cảnh sát trưởng Mỹ trên cả nươực, giám sát các nhà tù liên bang và các thể chế xử phạt khác, điều tra và báo cáo lên tổng thống về các đơn xin được phóng thích hay ân xá. Bộ Tư pháp cũng liên kết với INTERRPOL (Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế) có trách nhiệm thúc đẩy sự tương trợ lẫn nhau giữa các cơ quan cưỡng chế luật pháp trên 176 nước. Bộ Lao động Bộ Lao động thúc đẩy phúc lợi về thu nhập từ tiền công ở Hợp chúng quốc, giúp cải thiện các điều kiện lao động và tạo lập những mối quan hệ tốt giữa người lao động và người quản lý. Bộ áp dụng các luật lao động liên bang thông qua các cơ quan như Vụ Sức khoẻ và An toàn nghề nghiệp (OSHA), Vụ Tiêu chuẩn nghề nghiệp, Vụ Sức khoẻ và An toàn mỏ. Các trách nhiệm của Bộ là: đảm bảo các quyền của ngươứi lao động đối với các điều kiện lao động an toàn và lành mạnh; ấn định mức tiến công tối thiểu theo giờ và thanh toán lao động vươùt giờ; cấm phân biệt đối xử về việc làm; cung cấp bảo hiểm thất nghiệp và đền bù cho người bị tai nạn lao động. Bộ cũng bảo vệ các quyền về trợ cấp hưu trí của công nhân, đài thọ cho các chương trình đào tạo việc làm và giúp người lao động tìm kiếm việc làm... Cục Thống kê lao động của Bộ theo dõi và báo cáo những thay đổi trong vấn đề lao động và việc làm, giá cả và các chỉ tiêu kinh tế quốc gia khác. Đối với những người tìm kiếm việc làm, Bộ lập những báo cáo đặc biệt để giúp đỡ những công nhân lớn tuổi, thanh niên, người thiểu số, phụ nữ và người tàn tật. Bộ Ngoại giao Bộ Ngoại giao cố vấn cho tổng thống, người chịu trách nhiệm tổng thể về việc thiết lập và thực thi chính sách đối ngoại của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Bộ đánh giá các lợi ích của Hoa Kỳ ở hải ngoại, đưa ra những khuyến nghị về chính sách và hành động trong tương lai, tiến hành những bước đi cần thiết để thực hiện chính sách đã thiết lập. Bộ duy trì các mối liên hệ và quan hệ giữa Hoa Kỳ và các nước, cố vấn cho tổng thống về việc công nhận các nước và chính phủ mới, đàm phán các hiệp ước và thỏa thuận với các nước, phát ngôn cho Hoa Kỳ tại Liên hợp quốc và tại các tổ chức quốc tế lớn khác. Bộ duy trì hơn 250 chức vụ ngoại giao và lãnh sự trên khắp thế giới. Trong năm 1999, Bộ hợp nhất Cơ quan Giải trừ quân bị và Kiểm soát vũ khí của Hoa Kỳ và Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ vào cơ cấu và nhiệm vụ của Bộ. Bộ Giao thông vận tải Bộ Giao thông vận tải (DOT) thiết lập chính sách về giao thông vận tải tổng thể của quốc gia thông qua 10 đơn vị vận hành gồm việc quy hoạch, phát triển và xây dựng đường cao tốc; việc chuyên chở trên quy mô lớn ở đô thị; đường sắt; hàng không dân dụng; vấn đề an toàn đường thuỷ, cảng, đường cao tốc, các ống dẫn dầu và khí đốt. Ví dụ, Cục Quản lý hàng không liên bang vận hành một mạng lưới các đài chỉ huy sân bay, các trung tâm điều khiển giao thông đường không và các trạm dịch vụ bay trên cả nước; Cục Quản lý đường cao tốc liên bang đem lại sự hỗ trợ tài chính cho các bang để cải thiện hệ thống xa lộ giữa các bang, các đường đô thị và nông thôn cũng như các cầu. Cục An toàn giao thông đường bộ quốc gia thiết lập các chuẩn mực an toàn và tiết kiệm nhiên liệu cho các phương tiện có động cơ. Cục Hàng hải điều hành đoàn tàu biển thương mại Mỹ. Đội Cảnh vệ duyên hải Hoa Kỳ, cơ quan cấp phép và cưỡng chế thực thi luật hàng hải chủ yếu của quốc gia, đã thực hiện các sứ mệnh tìm kiếm và cứu hộ ở ngoài khơi, chống nạn buôn lậu ma túy và hành động ngăn chặn tình trạng tràn dầu và ô nhiễm đại dương. Bộ Ngân khố Bộ Ngân khố có trách nhiệm phục vụ các nhu cầu tài chính và tiền tệ của quốc gia. Bộ thực hiện bốn chức năng cơ bản: xây dựng các chính sách tài chính, thuế và tài khóa; đóng vai trò đại diện tài chính của chính phủ Hoa Kỳ; cung cấp các dịch vụ chuyên môn hóa về cưỡng chế thực thi luật; sản xuất tiền kim loại và tiền giấy. Bộ Ngân khố báo cáo với Quốc hội và tổng thống về tình trạng tài chính của chính phủ và của nền kinh tế quốc dân. Nó kiểm soát doanh số về rượu cồn, thuốc lá và súng ngắn trong hoạt động buôn bán giữa các bang và với nước ngoài; giám sát việc in tem cho Cục Bưu chính Hoa Kỳ; điều hành Cơ quan Mật vụ - cơ quan bảo vệ tổng thống, phó tổng thống, gia đình họ, các quan chức cao cấp và các nguyên thủ quốc gia tới thăm; trấn áp việc làm giả tiền và chứng khoán của Mỹ, điều hành Cục Hải quan - nơi kiểm soát và đánh thuế các luồng hàng hóa vào đất nước. Bộ gồm có Văn phòng Quan chức Kiểm soát tiền tệ, tức là quan chức của Bộ thực thi các luật điều chỉnh hoạt động của gần 2.900 ngân hàng; và Cục Thu nhập nội bộ (IRS), nơi áp dụng các luật thuế - nguồn thu chủ yếu của chính quyền liên bang. Bộ Các vấn đề về Cựu chiến binh Bộ Các vấn đề về Cựu chiến binh (VA) được thành lập như một cơ quan độc lập từ năm 1930 và được nâng lên cấp trực thuộc Nội các năm 1989, cấp phát những lợi ích và các dịch vụ cho các cựu chiến binh hoàn thành nghĩa vụ quân sự và những người ăn theo họ. Cục Sức khoẻ cựu chiến binh đáp ứng việc chăm sóc tại bệnh viện và tại trạm an dưỡng, cung cấp các dịch vụ về răng và điều trị bệnh nhân ngoại trú trong 173 trung tâm điều trị, 40 nhà nghỉ hưu trí, 600 trạm y tế, 133 trạm an dưỡng và 206 trung tâm cựu chiến binh của chính quyền Sài Gòn ở vùng xa tại Hoa Kỳ, Puerto Rico và Philippin. Bộ cũng tiến hành nghiên cứu y học trong những lĩnh vực như tuổi già, các vấn đề sức khoẻ của phụ nữ, bệnh AIDS và những rối loạn thần kinh sau khi bị chấn thương. Vụ Các lợi ích của cựu chiến binh (ABA) giám sát các quyền lợi của người tàn tật, tiền trợ cấp hưu trí, và đặc biệt là việc cấp nhà ở cùng các dịch vụ khác đáp ứng theo điều kiện cụ thể. Vụ này cũng quản lý các chương trình giáo dục cho cựu chiến binh và cung cấp nguồn trợ giúp tín dụng xây nhà ở cho các cựu chiến binh đủ điều kiện và đội ngũ nhân viên phục vụ tại ngũ. Hệ thống nghĩa trang quốc gia của Vụ này cung cấp dịch vụ chôn cất, bia mộ và ghi nhận cho các cựu chiến binh cùng các thành viên có đủ điều kiện của gia đình họ trong 116 nghĩa địa trên toàn Hoa Kỳ. Các cơ quan độc lập Các bộ hành pháp là những đơn vị vận hành chủ yếu trong chính quyền liên bang, nhưng cũng có nhiều cơ quan khác giữ những trọng trách bảo đảm cho chính phủ và nền kinh tế hoạt động một cách trôi chảy. Chúng thường được gọi là các cơ quan độc lập, bởi chúng không phải là một bộ phận của các bộ hành pháp. Bản chất và mục đích của những cơ quan này rất khác nhau. Một số là những nhóm quản lý có quyền giám sát những khu vực đặc biệt của nền kinh tế. Một số khác cung cấp các dịch vụ đặc biệt cho chính phủ hoặc cho dân chúng. Trong đa số trường hợp, các cơ quan này do Quốc hội thành lập để giải quyết những vấn đề đã trở nên quá phức tạp trong khuôn khổ các văn bản pháp lý thông thường. Chẳng hạn, năm 1970, Quốc hội lập ra Cục Bảo vệ môi trường để điều phối hoạt động bảo vệ môi trường của chính phủ. Trong số các cơ quan độc lập quan trọng nhất, có những cơ quan sau đây: Cục Tình báo trung ương (CIA) phối hợp các hoạt động tình báo của các bộ và cơ quan nhất định của chính phủ; thu thập, liên hệ và đánh giá các thông tin tình báo có liên quan tới an ninh quốc gia; đưa ra các khuyến nghị cho Hội đồng An sinh quốc gia thuộc Văn phòng của tổng thống. Cơ quan Bảo vệ môi trường (EPA) làm việc với các chính quyền bang và địa phương trên toàn nước Mỹ để kiểm soát và làm giảm nhẹ tình trạng ô nhiễm không khí và nước, xử lý các vấn đề chất thải rắn, thuốc trừ sâu, bức xạ và các chất độc hại. Cơ quan này thiết lập và cưỡng chế thực hiện các tiêu chuẩn về chất lượng không khí và nước, đánh giá tác động của thuốc trừ sâu và các hóa chất, quản lý cái gọi là chương trình "siêu quỹ" cho việc làm sạch các bãi chất độc hại. Uỷ ban Truyền thông liên bang (FCC) chịu trách nhiệm điều hành việc truyền thông giữa các bang và quốc tế qua mạng lưới phát thanh, truyền hình, vệ tinh và cáp. Nó cấp giấy phép cho các đài phát thanh và truyền hình, ấn định tần số đài phát thanh, thực thi các quy chế nhằm bảo đảm cho giá cả truyền thông bằng cáp được hợp lý. Cơ quan này điều hành những công ty dịch vụ công cộng như các công ty điện thoại và điện tín cũng như các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông. Cơ quan Quản lý tình trạng khẩn cấp liên bang (FEMA) phối hợp công việc của các cơ quan liên bang, bang và địa phương trong việc đối phó với lũ lụt, bão, động đất và các thiên tai khác. Cơ quan này hỗ trợ tài chính cho các cá nhân và chính quyền để xây dựng lại nhà cửa, công việc kinh doanh và các phương tiện công cộng, đào tạo nhân viên chữa cháy và các nhân viên cấp cứu y tế chuyên nghiệp, cấp tài chính cho việc đặt kế hoạch đối phó với tình trạng khẩn cấp trong khắp Hoa Kỳ và các lãnh thổ của Hoa Kỳ. Cục Dự trữ liên bang là cơ quan chỉ đạo của Hệ thống dự trữ liên bang, tức ngân hàng trung ương của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Nó thi hành chính sách tiền tệ của đất nước bằng cách ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng và tiền tệ lưu thông. Cục Dự trữ liên bang điều hành các thể chế ngân hàng tư nhân, tìm cách giới hạn nguy cơ có hệ thống trên các thị trường tài chính và cung cấp một số dịch vụ tài chính nhất định cho chính quyền Hoa Kỳ, cho công chúng và cho các thể chế tài chính. Uỷ ban Thương mại liên bang (FTC) thi hành các luật liên bang chống tơrớt và bảo vệ người tiêu dùng bằng cách điều tra những lời phàn nàn của người tiêu dùng chống lại các công ty riêng lẻ, các công việc kinh doanh, các cuộc điều tra của Quốc hội và các báo cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Uỷ ban tìm cách bảo đảm cho thị trường quốc gia hoạt động một cách có sức cạnh tranh bằng cách loại trừ những lề thói không công bằng hoặc lường gạt. Cơ quan Dịch vụ chung (GSA) chịu trách nhiệm việc mua, cung cấp, vận hành và bảo trì tài sản liên bang, nhà cửa và thiết bị, và chịu trách nhiệm về việc bán những hạng mục dư thừa. Cục này còn điều hành đội xe cơ giới liên bang và giám sát các trung tâm vận chuyển và trung tâm chăm sóc trẻ em. Cơ quan Hàng không và Vũ trụ quốc gia (NASA) được thành lập năm 1958 để điều hành chương trình vũ trụ của Hoa Kỳ. Nó đã đưa những vệ tinh và các nhà du hành đầu tiên của Mỹ vào quỹ đạo, và phóng tàu vũ trụ Apollo đưa con người lên mặt trăng năm 1969. Ngày nay, NASA tiến hành nghiên cứu trên các vệ tinh xoay quanh trái đất và các tàu thăm dò vũ trụ liên hành tinh, khảo sát những khái niệm mới trong công nghệ hàng không vũ trụ tiên tiến, và điều hành đội tàu con thoi có người điều khiển của Hoa Kỳ. Cục Lưu trữ và Hồ sơ quốc gia (NARA) gìn giữ lịch sử của đất nước bằng cách giám sát việc quản lý tất cả các hồ sơ liên bang. Tài sản lưu trữ tại Cục này gồm có những tài liệu văn bản gốc, phim truyện, băng ghi âm và băng hình, bản đồ, hình ảnh cố định và dữ liệu vi tính. Bản Tuyên ngôn Độc lập, Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền được gìn giữ và trưng bày tại tòa nhà Cục Lưu trữ quốc gia ở Washington, D.C. Ban Quan hệ lao động quốc gia (NLRB) quản lý luật lao động chính của Hoa Kỳ, tức Đạo luật về quan hệ lao động quốc gia. Ban này được trao quyền ngăn chặn hoặc khắc phục các cách ứng xử với lao động không công bằng và bảo vệ các quyền của người lao động trong việc tổ chức và quyết định thông qua bầu cử vấn đề có hay không những liên đoàn đại diện cho họ trong đàm phán. Quỹ Khoa học quốc gia (NSF) hỗ trợ việc nghiên cứu cơ bản và giáo dục trong khoa học và chế tạo tại Hoa Kỳ thông qua những trợ cấp, hợp đồng và các thỏa thuận khác dành cho các trường đại học, cao đẳng và thể chế kinh doanh phi lợi nhuận và nhỏ. Quỹ này khuyến khích việc hợp tác giữa các trường đại học, ngành công nghiệp với chính quyền, và nó đẩy mạnh hợp tác quốc tế thông qua khoa học và chế tạo. Văn phòng Quản lý nhân sự (OPM) là cơ quan về tài nguyên con người của chính quyền liên bang. Nó bảo đảm sao cho việc phục vụ dân sự của đất nước không chịu ảnh hưởng chính trị và sao cho viên chức liên bang được chọn lựa và đối xử công bằng, trên cơ sở công lao của mình. Cơ quan này hỗ trợ các cơ quan chính phủ bằng dịch vụ nhân viên và sự lãnh đạo về chính sách. Nó cũng điều hành hệ thống hưu trí liên bang và chương trình bảo hiểm y tế. Đội Hòa bình, thành lập năm 1961, đào tạo và đưa những người tình nguyện ra phục vụ ở nước ngoài trong hai năm. Những người tình nguyện của Đội Hòa bình hiện đang làm việc tại hơn 80 quốc gia, trợ giúp phát triển nông thôn, các doanh nghiệp nhỏ, y tế, bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và giáo dục. Uỷ ban Chứng khoán và Giao dịch chứng khoán (SEC) được thành lập để bảo vệ các nhà đầu tư đã mua cổ phiếu và trái phiếu. Luật liên bang yêu cầu những công ty đang dự định huy động tiền bằng cách bán các chứng khoán phải nộp các dữ liệu thực tế về các hoạt động của họ cho Uỷ ban. Uỷ ban có quyền ngăn ngừa hoặc xử phạt các hành vi lừa đảo trong việc bán chứng khoán, và được quyền kiểm soát sở giao dịch chứng khoán. Vụ Kinh doanh nhỏ (SBA) được thành lập năm 1953 để cố vấn, hỗ trợ và bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp nhỏ. Vụ này cho vay tiền tới các doanh nghiệp nhỏ, trợ giúp những nạn nhân của lũ lụt và các loại thiên tai khác, giúp bảo đảm được các hợp đồng cho các loại doanh nghiệp nhỏ cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho chính phủ liên bang. Vụ An ninh xã hội (SSA) điều hành chương trình bảo hiểm xã hội của đất nước, gồm có những quyền lợi hưu trí, tàn tật và sống sót. Muốn được hưởng những quyền lợi này, hầu hết những người lao động Mỹ phải đóng thuế bảo hiểm xã hội lấy vào thu nhập của họ; những quyền lợi tương lai được căn cứ trên sự đóng góp của những người làm thuê. Cục Phát triển quốc tế của Hoa Kỳ (USAID) thực hiện các chương trình trợ giúp kinh tế và nhân đạo tại các nước đang phát triển cũng như tại Trung Âu và Đông Âu và những quốc gia thuộc Liên Xô trước đây. Cục này hỗ trợ các chương trình trong bốn lĩnh vực: dân số và sức khoẻ, sự tăng trưởng kinh tế trên cơ sở rộng rãi, môi trường và dân chủ. Cục Bưu chính Hoa Kỳ được vận hành bởi một tập đoàn công cộng tự quản thay cho Bộ Bưu điện từ năm 1971. Cục Bưu chính chịu trách nhiệm về việc thu nhận, vận chuyển và phân phát thư tín, về hoạt động của hàng nghìn bưu cục địa phương trong cả nước. Nó cũng cung cấp dịch vụ thư tín quốc tế thông qua Liên đoàn Bưu chính quốc tế và những thỏa thuận khác với nước ngoài. Một Uỷ ban Cước phí bưu điện độc lập, cũng được thành lập năm 1971, ấn định các mức cước phí cho các loại thư tín. Trích:
Chương 4: NGÀNH LẬP PHÁP: QUYỀN LỰC CỦA QUỐC HỘI Chương 5: NGÀNH TƯ PHÁP: GIẢI THÍCH HIẾN PHÁP"Chính quyền hàm nghĩa quyền làm ra luật pháp" - Alexander Hamilton, Các bài viết chủ trương chế độ liên bang, 1787- 1788 Điều I của Hiến pháp trao toàn bộ quyền lập pháp của chính quyền liên bang cho một Quốc hội được chia thành hai viện – Thượng viện và Hạ viện. Thượng viện là viện nhỏ hơn, trong đó theo quy định của Hiến pháp mỗi bang có hai thành viên. Thượng viện hiện nay có 100 thành viên. Còn ở Hạ viện, tư cách thành viên được xác định căn cứ vào dân số và diện tích của bang, do đó không được quy định cụ thể trong Hiến pháp. Số thành viên của Hạ viện hiện nay là 435 người. Trong hơn một trăm năm sau ngày Hiến pháp được thông qua, các thượng nghị sĩ không do dân chúng bỏ phiếu để bầu trực tiếp, mà do các nhà lập pháp của bang lựa chọn và được coi như đại diện của các bang. Nhiệm vụ của các thượng nghị sĩ là bảo đảm cho bang mình được đối xử bình đẳng trước pháp luật. Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 17, thông qua năm 1913, đã quy định việc bầu trực tiếp đối với Thượng viện. Các đại biểu dự Hội nghị Lập hiến lập luận rằng nếu cả hai nhóm riêng biệt – một nhóm đại diện cho chính quyền các bang, một nhóm đại diện cho dân chúng - đều phải phê chuẩn mọi luật dự thảo, thì hầu như sẽ không còn nguy cơ Quốc hội thông qua các bộ luật một cách vội vã hay thiếu cẩn trọng. Viện này có thể thường xuyên kiểm tra viện kia, theo như cách làm của Quốc hội Anh. Việc thông qua điều sửa đổi Hiến pháp thứ 17 không làm thay đổi nhiều cán cân quyền lực giữa hai viện. Mặc dù tranh cãi còn đang diễn ra gay gắt trong Hội nghị về cơ cấu và quyền lực của Quốc hội, nhiều đại biểu vẫn tin rằng ngành lập pháp sẽ tương đối không quan trọng. Một vài đại biểu cho rằng Quốc hội sẽ quan tâm chủ yếu tới những vấn đề đối ngoại, để lại những vấn đề trong nước cho chính quyền bang và địa phương. Những cách nhìn nhận như thế rõ ràng là không chính xác. Quốc hội đã tỏ ra cực kỳ năng động, với quyền lực và quyền hạn rộng lớn trong tất cả những vấn đề thuộc mối quan tâm quốc gia. Mặc dù so sánh với ngành hành pháp thì sức mạnh của nó có lúc tăng lúc giảm theo những thời kỳ khác nhau của lịch sử Hoa Kỳ, song Quốc hội chưa bao giờ tỏ ra nhu nhược hay chấp thuận một cách thiếu suy nghĩ trước các quyết định của tổng thống. Tiêu chuẩn của thành viên Quốc hội Hiến pháp yêu cầu thượng nghị sĩ Mỹ phải có tuổi đời ít nhất là 30, có ít nhất 9 năm là công dân Hợp chúng quốc, và là người cư trú tại bang đã bầu họ. Thành viên Hạ viện ít nhất phải đủ 25 tuổi, là công dân Hợp chúng quốc ít nhất 7 năm, và là người cư trú tại bang đã tiến cử họ vào Quốc hội. Các bang có thể đặt thêm những yêu cầu khác cho việc bầu cử vào Quốc hội, song Hiến pháp cho quyền mỗi viện quy định các tiêu chuẩn thành viên của mình. Mỗi bang có quyền có hai thượng nghị sĩ. Do vậy, Rhode Island, bang nhỏ nhất với diện tích 3.156 km2 cũng có số đại diện ở Thượng viện bằng số đại diện của bang Alaska, bang lớn nhất có diện tích khoảng 1.524.640 km2. Bang Wyoming, với 480.000 dân, cũng có số đại diện bằng số đại diện của bang California có 32.270.000 dân. Tổng số thành viên của Hạ viện do Quốc hội quy định, sau đó con số này được phân bổ cho các bang theo dân số. Bất kể dân số là bao nhiêu, mỗi bang đều được Hiến pháp bảo đảm có ít nhất một thành viên trong Hạ viện. Hiện nay có sáu bang – Alaska, Delaware, North Dakota, South Dakota, Vermont và Wyoming – mỗi bang chỉ có một đại diện ở Hạ viện, và sáu bang khác, mỗi bang có số đại diện là hơn 20 người – riêng California hiện có 52 đại diện. Hiến pháp quy định 10 năm một lần tiến hành tổng điều tra dân số, và phân chia lại số ghế trong Hạ viện theo sự thay đổi dân số. Theo các điều khoản nguyên thủy của Hiến pháp, số đại diện không được lớn hơn 1 trên 30.000 công dân. Hạ viện đầu tiên có khoảng 65 thành viên, và con số này đã lên đến 106 sau cuộc điều tra dân số lần thứ nhất. Nếu tuân thủ triệt để công thức cứ 30.000 công dân được có một đại diện thì sự gia tăng dân số Hoa Kỳ đã có thể nâng tổng số đại diện lên khoảng 7.000 người. Trái lại, công thức này đươùc điều chỉnh qua các năm, và ngày nay tỷ lệ đại diện cho dân chúng là 1 trên 600.000. Cơ quan lập pháp của bang chia các bang thành các quận có tính chất như một đơn vị bầu cử quốc hội, với dân số về cơ bản phải tương đương nhau. Cứ hai năm một lần, các cử tri của mỗi quận chọn ra một đại diện của mình tại Quốc hội. Thượng nghị sĩ được lựa chọn qua các cuộc bầu cử trên toàn bang, được tổ chức vào các năm chẵn. Nhiệm kỳ của thượng nghị sĩ là sáu năm, và cứ hai năm một lần, 1/3 số thượng nghị sĩ được bầu lại. Do đó, có 2/3 thượng nghị sĩ luôn luôn là những người đã có những kinh nghiệm lập pháp nhất định ở cấp quốc gia. Về mặt lý thuyết, Hạ viện có thể bao gồm toàn bộ thành viên là những người mới bước vào lĩnh vực lập pháp. Tuy nhiên trên thực tế, hầu hết các thành viên đều được bầu lại vài lần, và Hạ viện, cũng giống như Thượng viện, có thể luôn luôn dựa vào một nhóm nòng cốt các nhà lập pháp có kinh nghiệm. Do các thành viên của Hạ viện phục vụ trong thời hạn 2 năm, nên đời sống của một Quốc hội được coi là 2 năm. Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 20 quy định kỳ họp thường niên của Quốc hội được tiến hành vào ngày 3 tháng Giêng hàng năm, trừ khi Quốc hội ấn định vào một ngày khác. Quốc hội vẫn duy trì kỳ họp cho tới khi các thành viên bỏ phiếu hoãn lại, thường là tới cuối năm. Tổng thống có thể triệu tập một cuộc họp đặc biệt nếu thấy cần thiết. Các kỳ họp được tổ chức tại Điện Capitol ở Washington, D.C. Quyền lực của hạ viện và thượng viện Mỗi viện của Quốc hội có quyền đưa ra văn bản pháp lý về bất cứ vấn đề gì trừ các dự luật về thu ngân sách là phải bắt nguồn từ Hạ viện. Do vậy, có thể các bang lớn bề ngoài dường như có nhiều ảnh hưởng đối với công quỹ hơn so với các bang nhỏ. Song trên thực tế mỗi viện đều có quyền bỏ phiếu chống lại những văn bản pháp lý đã được viện kia thông qua. Thượng viện có thể không tán thành một dự luật về thu ngân sách của Hạ viện – hoặc bất kỳ một dự luật nào liên quan đến vấn đề này – hoặc bổ sung những sửa đổi làm thay đổi bản chất của chúng. Trong trường hợp đó, một tiểu ban tham vấn, được thành lập bao gồm thành viên của cả hai viện, phải đi tới được một sự thỏa hiệp có thể chấp nhận đối với cả hai bên trước khi dự luật trở thành luật. Thượng viện cũng có những quyền hạn nhất định dành riêng cho cơ quan này, trong đó có quyền xác nhận sự bổ nhiệm của tổng thống đối với các quan chức cao cấp và các đại sứ của chính quyền liên bang, cũng như quyền phê chuẩn tất cả các hiệp ước với 2/3 số phiếu thuận. Trong cả hai trường hợp, hành động không ủng hộ của Thượng viện sẽ vô hiệu hóa hành động của ngành hành pháp. Trong trường hợp luận tội các quan chức liên bang, Hạ viện có toàn quyền đưa ra lời buộc tội về hành vi bất chính có thể dẫn tới việc xét xử ở tòa án. Thượng viện cũng có toàn quyền kiểm tra những trường hợp luận tội và xác minh xem các quan chức là có tội hay vô tội. Khi bị phát hiện là phạm tội, quan chức liên bang sẽ buộc phải rời khỏi cơ quan nhà nước. Quyền hạn rộng lớn của Quốc hội được nêu rõ trong Điều I của Hiến pháp: * Đánh thuế và thu thuế; * Vay tiền cho công quỹ; * Thiết lập các luật lệ và các quy chế điều chỉnh quan hệ thương mại giữa các bang và với nước ngoài; * Thiết lập các quy định thống nhất cho việc nhập tịch của công dân nước ngoài; * Đúc tiền và in tiền, công bố giá trị của nó và đưa ra những hình phạt đối với việc làm tiền giả; * Thiết lập các chuẩn mực cho trọng lượng và các thước đo; * Thiết lập luật phá sản trong cả nước; * Thiết lập các trạm bưu điện và các mạng lưới bưu điện; * Cấp bằng sáng chế và các bản quyền; * Thiết lập hệ thống tòa án liên bang; * Trừng phạt tội ăn cắp bản quyền; * Tuyên bố chiến tranh; * Phát triển và hỗ trợ quân đội; * Chu cấp cho hải quân; * Kêu gọi lực lượng dân vệ thực thi các luật liên bang; trấn áp các hành động phạm pháp hoặc đẩy lùi các cuộc xâm lược của các thế lực nước ngoài; * Làm ra tất cả các luật cho trụ sở của chính quyền (Washington D.C); * Làm ra tất cả các luật cần thiết để cho Hiến pháp có hiệu lực. Một vài quyền hạn trong số này ngày nay đã lạc hậu nhưng chúng vẫn còn hiệu lực. Điều sửa đổi Hiến pháp thứ mười đã thiết lập những giới hạn xác định đối với quyền lực của Quốc hội bằng việc quy định rằng những quyền hạn không được trao cho chính phủ quốc gia thì được trao cho các bang hay cho dân chúng. Ngoài ra, Hiến pháp cũng có những điều cấm cụ thể đối với những hoạt động nhất định của Quốc hội. Quốc hội không được phép: * Tạm hoãn lệnh đòi bắt giam – yêu cầu người bị tố cáo là phạm tội phải ra trình diện trước thẩm phán hoặc tòa án trước khi thụ án – trừ phi đó là cần thiết trong thời gian xảy ra nổi loạn hay nạn ngoại xâm; * Thông qua các luật trong đó lên án ai đó về sự phạm tội hay hành vi phạm pháp mà không thông qua tòa án; * Thông qua bất cứ luật nào đã có hiệu lực từ trước trong việc khiến cho một hành động cụ thể được coi là một tội phạm; * Đánh thuế trực thu lên công dân, trừ trường hợp dựa trên cơ sở một cuộc điều tra dân số đã được tiến hành; * Đánh thuế hàng xuất khẩu từ bất cứ bang nào; * Dành ưu đãi đặc biệt về thương mại hoặc thuế đối với các cảng biển của một bang bất kỳ hay các tàu thuyền lớn sử dụng chúng; và * Phê chuẩn bất kỳ một tước vị qúy tộc nào. Các quan chức của Quốc hội Hiến pháp quy định phó tổng thống sẽ là chủ tịch Thượng viện. Phó tổng thống không có quyền bỏ phiếu, trừ trường hợp hai bên bằng phiếu nhau. Thượng viện chọn một chủ tịch lâm thời để điều hành khi phó tổng thống vắng mặt. Hạ viện tự chọn quan chức điều hành của mình – tức chủ tịch Hạ viện. Chủ tịch Hạ viện và chủ tịch lâm thời Thượng viện bao giờ cũng là thành viên của chính đảng có số đại diện lớn nhất ở mỗi viện. Vào đầu mỗi nhiệm kỳ Quốc hội mới, thành viên của các chính đảng lựa chọn các nhà lãnh đạo của viện và các quan chức khác để xử lý khối lượng các văn bản pháp luật được đề nghị. Các quan chức này, cùng với các quan chức điều hành và chủ tịch các ủy ban, ảnh hưởng mạnh mẽ đối với quá trình làm luật. Quá trình làm luật tại các ủy ban Một trong những đặc trưng chủ yếu của Quốc hội là vai trò chi phối của các ủy ban trong tiến tình hoạt động của nó. Việc các ủy ban đảm nhận vai trò quan trọng như ngày nay là kết quả của cả một tiến trình, chứ không phải theo quy định của Hiến pháp, bởi Hiến pháp không có điều khoản nào quy định việc thành lập các ủy ban này. Hiện nay, Thượng viện có 17 ủy ban thường trực (hay thường xuyên), còn Hạ viện có 19 ủy ban. Mỗi ủy ban chuyên trách trong những lĩnh vực lập pháp cụ thể: các vấn đề đối ngoại, quốc phòng, ngân hàng, nông nghiệp, thương mại, phân bổ ngân sách và các lĩnh vực khác. Mỗi dự luật được đưa ra trong từng viện sẽ được chuyển cho một ủy ban để nghiên cứu và khuyến nghị. Uỷ ban này có thể thông qua, sửa đổi, bác bỏ hay gác lại bất cứ một biện pháp nào được gửi tới cho nó. Một dự luật hầu như không thể tới được Hạ viện hay Thượng viện nếu trước hết không được sự thông qua của cấp ủy ban. Ơ± Hạ viện, kiến nghị về giải phóng một dự luật ra khỏi một ủy ban cần phải có chữ ký của 218 thành viên; ở Thượng viện, cần được đa số các thành viên ủng hộ. Trong thực tế, những kiến nghị như vậy rất ít khi nhận được sự ủng hộ cần có. Chính đảng chiếm đa số trong mỗi viện sẽ kiểm soát quá trình làm việc của ủy ban. Chủ tịch ủy ban được lựa chọn bởi một cuộc họp kín của các đảng viên hay của một nhóm thành viên được chỉ định đặc biệt. Các đảng thiểu số có số đại diện tương ứng trong các ủy ban, tuỳ theo sức mạnh của họ ở mỗi viện. Các dự luật được đề xuất theo nhiều phương pháp. Một số do các ủy ban thường trực soạn thảo; một số do các ủy ban đặc biệt xây dựng nên để giải quyết những vấn đề pháp lý cụ thể; và một số có thể do tổng thống hay các quan chức hành pháp khác gợi ý. Các công dân và các tổ chức khác ngoài Quốc hội có thể đề xuất văn bản pháp lý với các thành viên Quốc hội, và bản thân các cá nhân thành viên cũng có thể đề xướng các dự luật. Sau khi được đề xuất, các dự luật sẽ được chuyển tới các ủy ban có trách nhiệm mà trong đa số các trường hợp, các ủy ban này sẽ lên lịch cho một loạt buổi điều trần để cho phép những người ủng hộ hay phản đối văn bản pháp lý đó trình bày quan điểm của mình. Quá trình điều trần này, có thể kéo dài vài tuần hay vài tháng, mở ra cho công chúng tham gia vào quá trình lập pháp. Một ưu điểm của hệ thống ủy ban là nó cho phép các thành viên Quốc hội và đội ngũ nhân viên của họ tích lũy được một mức độ am tường đáng kể trong những lĩnh vực lập pháp khác nhau. Trong những ngày đầu của nền cộng hòa, khi dân số còn nhỏ và các nhiệm vụ của chính quyền liên bang còn hạn hẹp, thì sự am tường như thế không mấy quan trọng. Mỗi nghị sĩ đều là người có năng lực tổng hợp và họ xử lý một cách có kiến thức tất cả các lĩnh vực quan tâm. Tính chất phức tạp của đời sống quốc gia hiện nay đòi hỏi những tri thức chuyên sâu, có nghĩa là các đại biểu được lựa chọn phải thường xuyên tích luỹ sự tinh thông nghiệp vụ trong một vài lĩnh vực chính sách công cộng. Khi một ủy ban đã hành động ủng hộ một dự luật, văn bản pháp lý được đề nghị bấy giờ sẽ được chuyển đến hội trường để tranh luận công khai. Tại Thượng viện, các quy định cho phép tranh luận hầu như không hạn chế. Nhưng tại Hạ viện, do có số lượng thành viên lớn, Uỷ ban quy chế thường đặt ra các giới hạn. Khi cuộc tranh cãi chấm dứt, các thành viên bỏ phiếu thông qua, bác bỏ, hoãn lại việc xem xét dự luật - nghĩa là gác dự luật đó sang một bên và như vậy là hầu như bác bỏ nó - hay gửi trả dự luật về ủy ban. Một dự luật được một viện thông qua sẽ được chuyển tới viện kia để xem xét. Nếu dự luật đó bị viện thứ hai sửa đổi thì một ủy ban tham vấn bao gồm thành viên của cả hai viện sẽ cố gắng dung hòa những ý kiến bất đồng. Khi đã được cả hai viện thông qua, dự luật sẽ được trình lên tổng thống, vì theo Hiến pháp thì tổng thống phải tác động tới một dự luật để cho nó trở thành luật. Tổng thống có quyền lựa chọn, hoặc ký vào dự luật - nhờ đó nó trở thành luật - hoặc phủ quyết nó. Một dự luật bị tổng thống phủ quyết phải được phê chuẩn lại với hai phần ba số phiếu thuận ở cả hai viện thì mới trở thành luật. Tổng thống cũng có quyền khước từ việc ký hay phủ quyết một dự luật. Trong trường hợp đó, dự luật sẽ trở thành luật mà không cần chữ ký của tổng thống sau 10 ngày kể từ khi nó đến tay tổng thống (không tính ngày chủ nhật). Ngoại lệ duy nhất đối với quy định này là khi Quốc hội ngừng họp sau khi trình dự luật lên tổng thống và trước khi thời hạn 10 ngày kết thúc; khi đó sự khước từ của tổng thống đối với bất kỳ hành động nào sẽ phủ định hoàn toàn dự luật - quá trình này được gọi là "ngầm phủ quyết" ("pocket veto"). Trích:
Trích:
Một trong những chức năng không phải lập pháp nhưng quan trọng nhất của Quốc hội là quyền điều tra. Quyền này thường được trao cho các ủy ban - hoặc là các ủy ban thường trực, các ủy ban đặc biệt được thành lập cho một mục đích cụ thể, hoặc các ủy ban chung bao gồm các thành viên của cả hai viện. Các cuộc điều tra được tiến hành nhằm thu thập thông tin về sự cần thiết đối với các văn bản pháp lý trong tương lai, thẩm định tính hiệu lực của các luật đã được thông qua, tìm hiểu phẩm chất và hoạt động của các thành viên và các quan chức của các ngành khác, và trong những trường hợp hiếm hoi, đặt cơ sở cho các quá trình buộc tội. Thông thường, các ủy ban dựa vào sự giúp đỡ của các chuyên gia ở bên ngoài trong việc tiến hành các cuộc điều trần có tính chất điều tra và thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể đối với các vấn đề. Quyền điều tra có những hệ quả quan trọng. Một trong số đó là quyền công bố các cuộc điều tra và kết quả điều tra. Hầu hết các cuộc điều trần của ủy ban được đưa ra công khai trước công chúng và được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Do vậy, các cuộc điều tra của Quốc hội thể hiện một công cụ quan trọng sẵn có cho các nhà lập pháp thông tin tới các công dân và khơi dậy mối quan tâm của dân chúng đối với các vấn đề quốc gia. Các ủy ban của Quốc hội cũng có quyền buộc các nhân chứng không có thiện chí phải đưa ra lời xác nhận, có quyền gọi ra tòa những nhân chứng đã khước từ việc làm chứng về tội đã coi thường Quốc hội và những người đã đưa ra những bằng chứng sai sự thật về tội khai man. Các hoạt động không chính thức của Quốc hội Trái với hệ thống nghị viện châu Âu, sự lựa chọn và ứng xử của các nhà lập pháp Hoa Kỳ rất ít liên quan tới kỷ luật của trung ương đảng. Mỗi chính đảng chủ yếu ở Mỹ về căn bản là một khối liên minh của các tổ chức địa phương và bang, kết hợp với nhau có chức năng như một đảng quốc gia - Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa - trong các cuộc bầu cử tổng thống bốn năm một lần. Do vậy, các thành viên của Quốc hội có được vị trí của họ là nhờ các cử tri đủ tư cách của bang hay ở địa phương của họ, chứ không phải là nhờ ban lãnh đạo đảng quốc gia hay các đồng nghiệp trong Quốc hội. Kết quả là, ứng xử lập pháp của các đại diện và các thượng nghị sĩ có xu hướng mang tính cá thể và có phong cách riêng, phản ánh tính đa dạng của các khối cử tri bầu cử, và quyền tự do bắt nguồn từ chỗ đã tạo dựng được một khối cử tri riêng trung thành. Do vậy, Quốc hội là một cơ quan mà quyền lực được chia sẻ đồng đều giữa các thành viên, chứ không phải là một cơ quan có phần đẳng cấp. Quyền lực không chảy từ trên xuống dưới như trong một công ty, mà gần như theo mọi hướng. Quyền lực tập trung chỉ là tối thiểu, do quyền thưởng phạt là không đáng kể. Các chính sách của Quốc hội được đề ra bởi các liên minh chuyển đổi mà có thể thay đổi theo từng vấn đề. Đôi khi, ở những nơi có những áp lực xung đột với nhau - áp lực từ Nhà Trắng và từ các nhóm kinh tế hoặc chủng tộc quan trọng - các nhà lập pháp sẽ sử dụng những quy định về thủ tục để hoãn lại một quyết định nhằm tránh được một khu vực có ảnh hưởng. Một vấn đề có thể được hoãn lại với lý do là ủy ban chịu trách nhiệm về nó đã tổ chức những cuộc điều trần công khai chưa thỏa đáng. Hoặc Quốc hội có thể chỉ đạo một cơ quan chuẩn bị một báo cáo chi tiết trước khi vấn đề được xem xét. Hoặc một biện pháp có thể được một trong hai viện gạt sang một bên ("cho vào ngăn bàn"), do vậy trên thực tế là bác bỏ nó mà không hồi âm bất kỳ một nhận xét nào về nội dung của nó. Có những chuẩn mực không chính thức hoặc bất thành văn về ứng xử, thường quy định những bổn phận hay ảnh hưởng của một thành viên cụ thể. "Người trong cuộc", các hạ nghị sĩ và các thượng nghị sĩ đang tập trung vào nhiệm vụ lập pháp của họ, có thể có quyền lực lớn hơn trong hội trường Quốc hội so với những "người ngoài cuộc", những người được công nhận do việc đã nói lên các vấn đề quốc gia. Người ta hy vọng vào các thành viên sẽ có thái độ nhã nhặn đối với các đồng nghiệp của họ và tránh được những sự công kích cá nhân, cho dù chính sách của bên đối kháng với họ có thể cực đoan và khó chịu đến đâu đi nữa. Hơn nữa, ngươứi ta cũng hy vọng họ sẽ chuyên sâu trong một vài lĩnh vực chính sách, chứ không đòi hỏi họ phải có sự am tường đối với toàn bộ những mối quan tâm lập pháp. Những người tuân thủ nghiêm túc các quy định không chính thức này sẽ có phần chắc chắn hơn được bổ nhiệm vào những ủy ban có uy tín hay ít nhất cũng là ủy ban có tác động đến những lợi ích của một bộ phận đáng kể các cử tri của họ. Trích:
"... Ngành tư pháp là ngành bảo vệ quyền tự do và tài sản của chúng ta theo Hiến pháp" - Charles Evans Hughes, Chánh án Tòa án Tối cao Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Diễn văn đọc tại Elmira, New York, 1907
Chương 6: NHỮNG QUYẾT ĐỊNH QUAN TRỌNG CỦA TÒA ÁN TỐI CAO “Tòa nghiêng mình trước những bài học của kinh nghiệm và sức mạnh của lập luận chặt chẽ, thừa nhận rằng tiến trình xét xử và sai lầm, có ích biết bao trong các môn khoa học tự nhiên, cũng thích hợp cả trong chức năng tư pháp" - Louis D.Brandeis, Phó chánh án Tòa án Tối cao Hợp chúng quốc, vụ Burnet kiện Công ty Coronado Oil and Gas, 1932 Kể từ ngày Tòa án Tối cao Hợp chúng quốc họp lần đầu năm 1790 đến nay, Tòa đã bày tỏ hàng nghìn ý kiến về mọi vấn đề, từ quyền lực của chính quyền đến các quyền công dân và tự do báo chí. Tuy rằng nhiều trong số những quyết định ít được biết đến và ít được quảng đại công chúng quan tâm, song có một số quyết định nổi bật lên do tác động mà chúng đã có đối với lịch sử nước Mỹ. Dưới đây tóm tắt một số vụ quan trọng nhất. Vụ Marbury kiện Madison (1803) Thường được coi là quyết định quan trọng nhất trong lịch sử của Tòa án Tối cao, vụ Marbury kiện Madison lập nên một nguyên tắc giám sát tư pháp và quyền lực của Tòa trong việc xác định tính hợp hiến của các hành vi lập pháp và hành pháp. Vụ này sinh ra từ một cuộc tranh cãi chính trị diễn ra sau cuộc bầu cử tổng thống năm 1800, trong đó Thomas Jefferson, một người Dân chủ - Cộng hòa, đã đánh bại tổng thống đương nhiệm John Adams, một người chủ trương chế độ liên bang. Trong những ngày cuối cùng của chính quyền Adams, Quốc hội dưới sự khống chế của phái Liên bang đã lập ra một số chức vụ tư pháp, trong đó có 42 thẩm phán hòa giải cho quận Columbia. Thượng viện đã phê chuẩn việc bổ nhiệm này, tổng thống đã ký và trách nhiệm của quốc vụ khanh là đóng dấu và trao những quyết định. Trong lúc vội vã vào những phút cuối cùng, quốc vụ khanh sắp mãn nhiệm quên trao quyết định cho 4 thẩm phán, trong đó có William Marbury. Quốc vụ khanh mới dưới quyền của Tổng thống Jefferson là James Madison không chịu trao những quyết định đó vì chính quyền mới tức giận phái Liên bang đã tìm cách gài người của đảng họ vào trong ngành tư pháp. Marbury đã khởi kiện tại Tòa án Tối cao đòi Madison phải trao quyết định cho mình. Nếu như Tòa đứng về phía Marbury, Madison có thể vẫn không chịu trao quyết định và Tòa không có cách nào làm cho lệnh của mình được thi hành. Nếu Tòa xử trái với yêu cầu của Marbury thì Tòa có nguy cơ nhượng quyền tư pháp cho người của phái Jefferson bằng cách để cho họ được phép khước từ Marbury chức vụ mà ông được quyền nhận theo pháp lý. Chánh án Tòa án Tối cao John Marshall đã giải quyết thế khó xử này bằng quyết định cho rằng Tòa án Tối cao không có thẩm quyền hành động trong vụ này. Marshall phát biểu rằng Chương 13 của Luật Tư pháp, đạo luật đã trao quyền cho Tòa án Tối cao, là không hợp hiến vì nó đã mở rộng phạm vi tài phán nguyên thủy của Tòa từ phạm vi tài phán đã được chính Hiến pháp xác định. Bằng quyết định không đưa ra quyết định trong vụ này, Tòa án Tối cao đã bảo đảm an toàn cho vị trí của mình là trọng tài cuối cùng của luật pháp. Vụ Gibbons kiện Ogden (1824) Chính quyền đầu tiên của Hợp chúng quốc theo Điều lệ Liên bang non yếu một phần bởi nó không có quyền điều hành nền kinh tế của đất nước mới này, trong đó có luồng thương mại giữa các bang. Hiến pháp trao cho Quốc hội Hợp chúng quốc quyền "điều hành thương mại... giữa nhiều bang..." nhưng quyền này thường hay bị các bang thách thức khi họ cảnh báo rằng họ muốn giữ lại quyền kiểm soát đối với các vấn đề kinh tế. Những năm đầu thế kỷ XIX, bang New York thông qua một đạo luật yêu cầu những người lái tàu thủy đi lại giữa New York và New Jersey phải có giấy phép của New York. Aaron Ogden đã có một giấy phép như vậy, còn Thomas Gibbons thì không. Khi Ogden biết được rằng Gibbons cạnh tranh với mình mà không có giấy phép của New York thì Ogden khởi kiện để chặn tay Gibbons. Gibbons có giấy phép liên bang để đi lại trên vùng ven biển theo Điều luật Ven biển năm 1793, nhưng tòa án bang New York lại đồng ý với Ogden là Gibbons đã vi phạm luật pháp vì không có giấy phép của bang New York. Khi Gibbons đưa vấn đề này ra Tòa án Tối cao thì các thẩm phán phê phán luật của New York là không hợp hiến vì nó xâm phạm đến quyền của Quốc hội Hợp chúng quốc được điều hành thương mại. Tòa phán quyết: “ Từ ngữ "điều hành" bản chất nó hàm nghĩa có toàn quyền đối với vấn đề được điều hành. Nó nhất thiết loại trừ hành động của tất cả những ai khác thực hiện cũng hoạt động ấy đối với cũng vấn đề ấy". Vụ Dred Scott kiện sandford (1857) Dred Scott là một nô lệ mà ông chủ, John Emerson, đã đưa anh từ Missouri, một bang cho phép tồn tại chế độ nô lệ, đến bang Illinois, nơi chế độ nô lệ bị ngăn cấm. Nhiều năm sau, Scott trở lại Missouri cùng với Emerson. Scott tin rằng do anh ta đã sống tại một bang tự do, anh ta không còn bị coi là nô lệ nữa. Emerson chết năm 1843, và 3 năm sau, Scott kiện bà quả phụ Emerson để đòi tự do cho mình. Scott đã thắng kiện tại một tòa án ở Missouri năm 1850, nhưng năm 1852, Tòa án Tối cao bang đảo ngược quyết định của tòa cấp dưới. Trong thời gian đó, bà quả phụ Emerson tái giá và Scott trở thành tài sản hợp pháp của anh trai bà là John Sanford (trong biên bản của tòa, viết nhầm là Sandford). Scott khởi kiện Sanford đòi tự do cho mình tại tòa liên bang và tòa này đã phán quyết trái với yêu cầu của Scott vào năm 1854. Khi vụ này được đưa lên Tòa án Tối cao, các thẩm phán quyết định rằng Scott đã không trở thành một người tự do với lý do đã sống tại một bang tự do được, và do vậy, với tư cách là một người da đen, Scott không phải là một công dân, và do đó không đủ tư cách khởi kiện tại một tòa án. Quyết định này đã bị chỉ trích rộng rãi, và nó đã góp phần vào việc bầu Abraham Lincoln, một người chống lại chế độ nô lệ, làm tổng thống năm 1860 và đẩy nhanh việc nổ ra Nội chiến trong năm 1861. Vụ án Dred Scott kiện Sandford đã bị đảo ngược bởi Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 13 vào năm 1865 bãi bỏ chế độ nô lệ, và bởi Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 14 vào năm 1868 trao quyền công dân cho những người trước đây là nô lệ. Vụ Ban quan hệ lao động quốc gia (NLRB) kiện công ty thép Jones & Laughlin (1937) Trong khi vụ Gibbons kiện Ogden xác lập ưu thế của Quốc hội trong việc điều hành thương mại giữa các bang thì vụ NLRB kiện Công ty Jones & Laughlin mở rộng quyền của Quốc hội từ điều hành thương mại sang điều hành các hoạt động kinh doanh của các ngành công nghiệp tham gia thương mại giữa các bang. Công ty Jones & Laughlin, một trong những nhà sản xuất thép lớn nhất đất nước, đã vi phạm Đạo luật quốc gia về quan hệ lao động năm 1935 khi công ty này sa thải 10 nhân viên vì đã tham gia các hoạt động công đoàn. Đạo luật này ngăn cấm nhiều cách ứng xử không công bằng đối với lao động và bênh vực quyền của công nhân được lập ra nghiệp đoàn và thương lượng một cách tập thể. Công ty này không chịu nghe theo một lệnh của NLRB đòi đưa công nân trở lại làm việc. Tòa Phúc thẩm khu vực từ chối việc cưỡng chế thi hành lệnh của NLRB, và Tòa án Tối cao phải xem xét vụ này. Vấn đề đặt ra trong vụ này là liệu Quốc hội có quyền điều hành những hoạt động "địa phương" của những công ty tham gia việc buôn bán giữa các bang hay không - nghĩa là những hoạt động diễn ra trong phạm vi một bang. Công ty Jones & Laughlin cho rằng điều kiện trong xưởng máy của họ không ảnh hưởng đến thương mại giữa các bang và do đó không thuộc quyền điều hành của Quốc hội. Tòa án Tối cao không đồng ý với ý kiến đó, cho rằng "việc đình chỉ hoạt động sản xuất này bởi sự tranh chấp trong công nghiệp sẽ có ảnh hưởng hết sức nghiêm trọng đối với thương mại giữa các bang... Kinh nghiệm đã nhiều lần chứng minh rằng việc thừa nhận các nhân viên có quyền tự tổ chức và có đại diện của mình chọn lựa mục tiêu thương lượng tập thể, nhiều khi là một điều kiện thiết yếu để có sự yên bình trong công nghiệp ". Với việc ủng hộ tính hợp hiến của Đạo luật quốc gia về Quan hệ lao động, Tòa án Tối cao đã đưa thắng lợi lại cho một tổ chức nghiệp đoàn và mở đường cho việc chính quyền liên bang đề ra những quy tắc có ảnh hưởng rộng lớn hơn trong công nghiệp. Vụ Brown kiện Ban giáo dục (1954) Trước khi diễn ra vụ án lịch sử này, nhiều bang và quận Columbia đã thi hành chế độ nhà trường có sự phân biệt chủng tộc theo lệnh của quyết định năm 1896 của Tòa án Tối cao trong vụ Plessy kiện Ferguson, cho phép có sự phân biệt nếu các phương tiện thực thi ngang bằng như nhau. Năm 1951, Oliver Brown ở Topeka, bang Kansas, đã không thừa nhận thuyết "tách rời nhưng ngang bằng" này khi ông khởi kiện ban giám hiệu trường học của thành phố nhân danh đứa con gái lên 8 của mình. Brown muốn con gái mình được theo học tại trường học người da trắng cách nhà ông 5 khối nhà, chứ không phải theo học ở trường người da đen cách xa 21 khối nhà. Nhận thấy hai trường về cơ bản đồng đều nhau, một tòa án liên bang đã quyết định trái với yêu cầu của Brown. Trong khi đó, cha mẹ của những trẻ em da đen khác tại các bang South Carolina, Virginia và Delaware cũng khởi kiện tương tự. Tòa án Delaware thấy các trường người da đen chất lượng thấp hơn các trường người da trắng nên đã lệnh cho trẻ em da đen được chuyển đến các trường người da trắng, nhưng các quan chức nhà trường đã nhờ đến quyết định Tòa án Tối cao. Tòa đã đồng thời nghe lý lẽ của tất cả các bên. Lý lẽ của nguyên đơn da đen gồm có những số liệu và bằng chứng của các nhà tâm lý học và các nhà khoa học xã hội giải thích tại sao họ nghĩ rằng sự phân biệt đối xử ở đây có hại cho trẻ em da đen. Năm 1954, Tòa án tối cao đã nhất trí cho rằng: "... trong lĩnh vực giáo dục, thuyết "tách rời nhưng ngang bằng" không có chỗ đứng", và quyết định rằng sự phân biệt đối xử trong các trường công đã tước của trẻ em da đen "sự bảo vệ ngang bằng của luật pháp được bảo đảm trong Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 14". Các vụ Gideon kiện Wainwright (1963) và Miranda kiện Bang Arizona (1966) Hai quyết định của Tòa án Tối cao trong thập niên 1960 đã ủng hộ quyền của những người bị tố cáo là phạm tội. Clarence Earl Gideon bị bắt giữ vì đã đột nhập vào một phòng bỏ phiếu tại Florida năm 1961. Khi ông yêu cầu tòa cử một luật sư bào chữa cho mình thì thẩm phán khước từ yêu cầu của ông, nói rằng luật pháp bang chỉ yêu cầu cử luật sư trong những vụ trọng án - những vụ án liên quan đến cái chết của một người hoặc đòi hỏi một án tử hình. Gideon tự bào chữa cho mình và bị kết án là có tội. Ơ± trong tù, ông dành nhiều thời gian đến thư viện, nghiên cứu các sách luật và viết một kiến nghị gửi Tòa án Tối cao yêu cầu Tòa xem xét trường hợp của mình. Tòa cho rằng Gideon đã bị tước quyền có một cuộc xét xử công bằng và quyết định rằng các bang đều phải cung cấp luật sư cho những người bị tố cáo phạm tội mà không có khả năng tự mình thuê luật sư. Khi Gideon được xử lại với sự bào chữa của một luật sư thì ông được trắng án. Đúng 3 năm sau Tòa án Tối cao quyết định rằng kẻ bị tố cáo phải có quyền có một luật sư từ sớm trước ngày ra tòa. Ernesto Miranda bị kết tội ăn cắp và hiếp dâm tại một tòa án bang ở Arizona. Lời kết tội anh ta căn cứ vào một lời thú tội mà Miranda khai với cảnh sát sau 2 giờ bị thẩm vấn mà không được báo cho biết rằng anh ta có quyền yêu cầu sự có mặt của một luật sư. Trong quyết định của mình, Tòa án Tối cao yêu cầu các sĩ quan cảnh sát khi bắt giữ người phải báo cho người bị bắt giữ biết những điều mà nay được gọi là những lời cảnh báo Miranda, đó là kẻ bị tình nghi có quyền im lặng, rằng những điều anh ta nói ra có thể được dùng để chống lại anh ta, rằng anh ta có thể yêu cầu sự có mặt của một luật sư trong khi bị thẩm vấn, và một luật sư sẽ được cung cấp nếu anh ta không tự thuê được. Vụ Miranda kiện bang Arizona là một trong những quyết định nổi tiếng nhất của Tòa án Tối cao, do những lời cảnh báo Miranda đã được thường xuyên đưa lên nổi bật trong phim ảnh và chương trình truyền hình ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, năm 1999 một tòa phúc thẩm liên bang đã không thừa nhận quyết định này trong vụ Dickerson kiện Hợp chúng quốc, trong đó một tên phạm tội cướp nhà băng nói rằng hắn đã không biết đầy đủ các quyền của hắn. Tháng 6-2000, Tòa án Tối cao đã đảo ngược bản án Dickerson bằng một quyết định 7 phiếu trên 2 khẳng định lại mạnh mẽ giá trị của vụ Miranda. Vụ Thời báo New York kiện Sullivan (1964) Điều sửa đổi thứ nhất trong Hiến pháp Hợp chúng quốc bảo đảm quyền tự do báo chí, nhưng trong nhiều năm Tòa án Tối cao không chịu sử dụng Điều sửa đổi thứ nhất này để bênh vực các phương tiện thông tin báo chí chống lại những vụ kiện về tội phỉ báng - những vụ kiện căn cứ trên việc đăng những thông tin sai làm hại đến uy tín của cá nhân. Quyết định của Tòa án Tối cao trong vụ Thời báo New York kiện Sullivan đã làm đảo lộn luật về tội phỉ báng tại Hợp chúng quốc bằng cách quyết định rằng các quan chức nhà nước không thể khiếu kiện thành công về tội phỉ báng đơn giản bằng cách chứng minh rằng thông tin được đăng đó là sai. Tòa quyết định rằng ngươứi khiếu kiện còn phải chứng minh rằng các phóng viên hoặc biên tập viên đã hành động "cố tình ác ý" và đã đăng những thông tin "một cách bừa bãi, không đếm xỉa là nó sai hay không". Vụ này phát sinh do có một trang quảng cáo trên tờ Thời báo New York do Hội nghị Ban lãnh đạo Thiên Chúa giáo miền Nam (Southern Christian Leadership Conference) gửi đăng để quyên tiền ủng hộ việc bào chữa cho lãnh tụ nhân quyền Martin Luther King, Jr., sau khi ông này bị bắt giữ tại Alabama năm 1960. L.B. Sullivan, cảnh sát trưởng thành phố Montgomery, bang Alabama, phụ trách sở cảnh sát, cho rằng lời quảng cáo này đã phỉ báng ông ta bằng cách miêu tả sai những hành động của lực lượng cảnh sát thành phố. Sullivan khởi kiện 4 giáo sĩ đã cho đăng lời quảng cáo này và tờ Thời báo New York vì đã không kiểm tra tính chính xác của lời quảng cáo. Trang quảng cáo quả có chứa đựng một số điều không chính xác, và một đoàn bồi thẩm đã cho Sullivan được hưởng 500.000 đôla bồi thường. Tờ Thời báo New York và các lãnh tụ nhân quyền kháng cáo lên Tòa án Tối cao và Tòa này đã nhất trí phán quyết ủng hộ họ. Tòa án Tối cao quyết định rằng luật về tội phỉ báng không thể áp dụng "để áp đặt sự trừng phạt đối với việc thể hiện lời chỉ trích hành vi chính thức của các quan chức nhà nước", và việc đòi phải bảo đảm tính chính xác của những điều phát biểu của họ sẽ dẫn đến việc tự kiểm duyệt. Tòa án Tối cao không thấy có bằng chứng nào cho thấy tờ Thời báo New York hoặc các giáo sĩ kia đã “ cố tình ác ý” khi cho đăng lời quảng cáo này. Chương 7: MỘT ĐẤT NƯỚC NHIỀU CHÍNH QUYỀN "Những quyền mà Hiến pháp không trao cho Liên bang cũng không ngăn cấm đối với các bang, thì được dành cho các bang cụ thể, hoặc cho nhân dân" - Hiến pháp Hợp chúng quốc, Điều sửa đổi thứ mười, 1789
Chương 8: CHÍNH QUYỀN CỦA NHÂN DÂN: VAI TRÒ CỦA CÔNG DÂN "Chức năng của công dân là giữ cho chính quyền khỏi rơi vào sai lầm" - Robert H. Jackson, Phó chánh án Tòa án Tối cao Hợp chúng quốc, vụ Hội Truyền thông Mỹ kiện Douds, 1950 Với việc soạn thảo Hiến pháp Hợp chúng quốc năm 1787, các Nhà khai quốc của nước này đã lập ra một hệ thống chính quyền mới. Ý tưởng đằng sau hệ thống đó - hoàn toàn mang tính cách mạng ở thời bấy giờ - thoạt nhìn có vẻ đơn giản và rõ ràng. Quyền cai quản đến thẳng từ nhân dân, không phải do thế tập hay bằng sức mạnh của vũ khí, mà thông qua những cuộc bầu cử tự do và công khai của công dân Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Trên lý thuyết có vẻ dễ dàng và thẳng tắp, song trong thực tiễn vấn đề còn xa mới được khép gọn. Điều phức tạp ngay từ buổi ban đầu là vấn đề quyền bầu cử: ai được phép bỏ phiếu, và ai không được phép. Đương nhiên, các Nhà khai quốc là những con người của thời đại mình. Theo họ, hiển nhiên là chỉ những người có quyền lợi trong xã hội mới có tiếng nói quyết định ai sẽ là người cai quản xã hội đó. Họ tin rằng, do chính quyền được lập ra để bảo vệ tài sản và tự do cá nhân, những ai tham gia vào việc lựa chọn đó phải có đôi chút gì của cả hai thứ này. Lúc bấy giờ điều đó có nghĩa là chỉ những người đàn ông da trắng theo đạo Tin Lành có tài sản mới được bầu cử. Phụ nữ không, người nghèo không, tôi tớ làm thuê không, người theo đạo Thiên Chúa và Do Thái không, nô lệ từ châu Phi hay người bản địa Mỹ không. Nhà sử học Michael Schudson viết: "Cũng như nô lệ và tôi tớ, phụ nữ được xác định bởi sự lệ thuộc của họ. Tư cách công dân chỉ thuộc về những ai làm chủ cuộc sống của mình” . Do những hạn chế đó, chỉ có khoảng 6% số dân của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ vừa mới ra đời lựa chọn George Washington làm vị tổng thống đầu tiên của nước này năm 1789. Cho dù những người Mỹ mới này tự hào về việc họ đã rũ bỏ chế độ quân chủ và qúy tộc, người dân "thường" ban đầu vẫn tiếp tục trọng vọng tầng lớp "cao sang". Vì vậy, thành viên các gia đình giàu có và có những mối quan hệ cao sang thường giành được những chức vụ chính trị mà không mấy bị phản đối. Tuy nhiên, tình trạng đó không kéo dài. Khái niệm dân chủ, tỏ ra mãnh liệt đến nỗi không thể kiềm chế được nó, và những người không thật giàu lắm và không thật có những quan hệ cao sang lắm bắt đầu tin rằng cả họ nữa cũng phải có cơ hội giúp vào việc cai quản công việc. Mở rộng quyền bầu cử Trong suốt thế kỷ XIX, sân khấu chính trị tại Hợp chúng quốc, một cách chậm chạp nhưng không gì ngăn lại được, bắt đầu mở rộng hơn. Những cách làm cũ bị bãi bỏ, những nhóm trước kia bị gạt ra ngoài nay tham gia vào tiến trình chính trị, và quyền bầu cử, dần dần từng bước, được mở rộng ra cho ngày một nhiều người hơn. Trước hết là việc loại bỏ những hạn chế về mặt tôn giáo và sở hữu tài sản, khiến cho đến giữa thế kỷ, hầu hết những người đàn ông da trắng trưởng thành đều có thể đi bầu. Tiếp đến, sau cuộc Nội chiến (1861-1865) về vấn đề chế độ nô lệ, ba điều sửa đổi Hiến pháp Hợp chúng quốc đã làm thay đổi đáng kể quy mô và bản chất nền dân chủ Mỹ. Điều sửa đổi thứ 13, được phê chuẩn năm 1865, bãi bỏ chế độ nô lệ. Điều sửa đổi thứ 14, được phê chuẩn năm 1868, tuyên bố rằng sinh ra hoặc nhập quốc tịch Hợp chúng quốc đều là công dân của nước này và của bang trong đó họ sinh sống và do đó các quyền của họ về sinh sống, tự do, sở hữu tài sản, và quyền được sự che chở bình đẳng của pháp luật sẽ được chính quyền liên bang thực thi. Điều sửa đổi thứ 15, được phê chuẩn năm 1870, ngăn cấm các chính quyền liên bang hoặc bang có sự phân biệt đối xử đối với các cử tri có thể có với lý do chủng tộc, màu da hay điều kiện nô lệ trước đây. Cái từ then chốt "giới tính" đã được để ngoài danh sách này, không phải vì bị lãng quên; do đó, phụ nữ tiếp tục không được đi bỏ phiếu. Việc mở rộng quyền bầu cử để bao gồm cả những nô lệ cũ đã đem lại một sức sống mới cho chiến dịch âm ỉ lâu đòi quyền bầu cử cho phụ nữ. Cuộc chiến đấu này cuối cùng đã giành được thắng lợi vào năm 1920, khi Điều sửa đổi thứ 19 nói rằng không được khước từ quyền bỏ phiếu "vì lý do giới tính". Trích:
Một thay đổi cuối cùng được đưa vào Hiến pháp để mở rộng quyền bầu cử. Sự dính líu của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam vào thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 đã đem lại một đã thúc đẩy mới cho ý tưởng này, được bàn đến lần đầu tiên trong Chiến tranh Cách mạng và được làm sống lại trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào diễn ra từ đó đến nay, đó là những ai đủ tuổi cầm vũ khí chiến đấu vì đất nước mình thì cũng đủ tuổi để đi bầu. Điều sửa đổi thứ 26, được phê chuẩn năm 1971, hạ thấp tuổi đi bầu từ 21 xuống còn 18. Ngày nay, hầu như mọi công dân trưởng thành của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, sinh ra trên đất này hoặc nhập quốc tịch Hoa Kỳ, trên 18 tuổi đều có quyền đi bầu. Những hạn chế pháp lý chỉ tước quyền đi bầu đối với một số kẻ nguyên là tội phạm và đối với những người bị coi là thiểu năng về tinh thần. Nền dân chủ trực tiếp Vấn đề quan trọng nhất trên chính trường bầu cử tại Hợp chúng quốc bây giờ không phải là ai có quyền đi bỏ phiếu, mà là có bao nhiêu người trong số những người có quyền bầu cử sẽ thực tế dành thời gian và công sức đi bỏ phiếu. Câu trả lời hiện nay, đối với cuộc bầu cử tổng thống, là vào khoảng một nửa. Trong cuộc bầu cử năm 1876, số cử tri đi bầu lên tới con số kỷ lục là 81,8%. Trong suốt các thập niên 1880 và 1890, trung bình khoảng 80%, nhưng sau đó bắt đầu bước suy giảm dần dần xuống đến mức thấp là 48,9% năm 1924. "Liên minh New Deal" của Đảng Dân chủ trong thời kỳ Đại suy thoái kinh tế của những năm 1930 đã khơi lại một sự hào hứng mới trong cử tri, dẫn đến con số trung bình được nâng lên khoảng 60%. Tỷ lệ cử tri đi bầu lại bắt đầu giảm xuống vào năm 1968, còn có 49,1% trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1996. Sự việc thêm nhiều người dân không đi bầu khiến cho nhiều người lo ngại. Nhà khoa học chính trị A. James Reichley trong cuốn sách Bầu cử phong cách Mỹ viết: "Hiện nay có một cảm nghĩ lan rộng, mà các cuộc điều tra dư luận và những lời phàn nàn của các nhà quan sát thông thạo cho thấy, là chế độ bầu cử của Mỹ đang gặp khó khăn. Một số người cho rằng khó khăn này là nhỏ bé và có thể giải quyết bằng những cải cách ôn hòa; những người khác lại cho rằng nó đã ăn sâu và cần có một phẫu thuật chính trị rộng lớn, có lẽ kèm theo những thay đổi mạnh mẽ trong trật tự xã hội rộng lớn. Những điều phàn nàn gồm có: những cuộc tranh cử kéo dài và tốn kém, sức mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc hình thành những nhận thức của công chúng đối với các ứng cử viên, và ảnh hưởng không thích đáng mà "những lợi ích đặc biệt" tác động lên cả các ứng cử viên của các đảng và cử tri". Nhiều nhà bình luận tin rằng chế độ bầu cử Hoa Kỳ cần có một nền dân chủ trực tiếp, bớt tính chất đại diện hơn. Nhiều cuộc họp được truyền hình tại tòa thị chính, chẳng hạn, tại đó cử tri có thể nói chuyện trực tiếp với các quan chức dân cử và các ứng cử viên chính trị, đã được khuyến khích như một cách "trao quyền" cho nhân dân. Và việc áp dụng những sáng kiến bỏ phiếu, trưng cầu ý dân, bãi miễn, đang tăng lên nhanh chóng. Cơ chế chính xác tại mỗi bang một khác, song nói chung các sáng kiến cho phép cử tri bỏ qua các cơ quan lập pháp bang bằng cách thu thập khá đủ chữ ký vào các kiến nghị để đưa ra những quy chế dự kiến, và ở một số bang, những điều sửa đổi hiến pháp đã được trực tiếp ghi vào lá phiếu. Những cuộc trưng cầu ý dân đòi hỏi một số loại luật nhất định, chẳng hạn như luật nhằm quyên tiền bằng cách phát hành công trái, được đưa vào cuộc bầu để nhận được sự tán thành của dân chúng; cử tri cũng có thể sử dụng các cuộc trưng cầu dân ý để hủy bỏ những đạo luật mà các cơ quan lập pháp bang đã thông qua. Một cuộc bầu cử bãi miễn sẽ để cho công dân bỏ phiếu xem có nên cách chức các quan chức trước khi họ hết nhiệm kỳ hay không. Các sáng kiến, hiện nay đã được 24 bang cho phép, đặc biệt được dân chúng ưa thích tại miền Tây: các sáng kiến này đã được sử dụng hơn 300 lần tại bang Oregon, hơn 250 lần tại bang California, và gần 200 lần tại bang Colorado. Mọi loại vấn đề đã xuất hiện trên lá phiếu tại các bang, kể cả quy chế nghề nghiệp và các ngành kinh doanh, luật chống hút thuốc lá, mức bảo hiểm phương tiện chuyên chở, quyền phá thai, cờ bạc hợp pháp hóa và việc dùng cần sa trong y học, sử dụng năng lượng hạt nhân và kiểm soát vũ khí. Các trách nhiệm của công dân Công dân Hợp chúng quốc Hoa Kỳ rõ ràng là có rất nhiều quyền đem lại cho họ những sự tự do mà mọi dân tộc đều tha thiết: tự do suy nghĩ những gì họ muốn, nói lên ý kiến của mình, nói lên một cách cá nhân với các đại diện dân cử của mình, hoặc nói lên một cách tập thể trong những cuộc hội họp nhỏ hoặc lớn; thờ phụng như họ muốn hoặc không thờ phụng gì cả; được yên ổn không bị những cuộc khám xét vô lý về thân thể, nhà ở hoặc giấy tờ riêng tư. Tuy nhiên, thuyết chính quyền dân chủ cho rằng cùng với những quyền đó là những trách nhiệm: tuân thủ pháp luật; đóng những khoản thuế hợp pháp; phục vụ trong các đoàn bồi thẩm khi được yêu cầu; được thông tin về những vấn đề đang tranh cãi và về các ứng cử viên; thực hiện quyền bầu cử đã giành được cho biết bao nhiêu ngươứi bằng mồ hôi và nước mắt của các bậc tiền bối. Một trách nhiệm lớn khác là phục vụ công cộng. Hàng triệu người Mỹ, nam cũng như nữ, đã gia nhập các lực lượng vũ trang để bảo vệ đất nước trong những thời kỳ khẩn cấp của quốc gia. Hàng triệu người khác đã phục vụ trong thời bình nhằm duy trì sức mạnh quân sự của đất nước. Người Mỹ, trẻ cũng như già, đã gia nhập Đội Hòa bình và các tổ chức tình nguyện khác nhằm thực hiện sự phục vụ xã hội trong nước hoặc ở nước ngoài. Tuy nhiên, trách nhiệm có thể tạo ra sự khác biệt lâu bền nhất là tham gia tiến trình chính trị. Như giáo sư Craig Rimmerman nói trong cuốn sách Vai trò công dân mới: Những hoạt động chính trị không quy ước, sự năng động và phục vụ: "Những người chủ trương nền dân chủ tham gia lập luận rằng tăng cường sự tham gia của công dân vào sinh hoạt cộng đồng và vào việc quyết định các vấn đề tại nơi làm việc là điều quan trọng nếu như muốn cho dân chúng thừa nhận vai trò và trách nhiệm của họ với tư cách là những công dân trong cộng đồng lớn. Các cuộc hội họp của cộng đồng chẳng hạn đem lại cho công dân tri thức về nhu cầu của các công dân khác. Trong một bối cảnh thực sự mang tính tham gia, công dân không chỉ hành động như những cá nhân tự trị theo đuổi lợi ích riêng của mình, mà trái lại thông qua một tiến trình quyết định, bàn cãi và thỏa hiệp, họ cuối cùng sẽ gắn nối những mối quan tâm của họ với các nhu cầu của cộng đồng". Tom Harkin, thượng nghị sĩ bang lowa, nói rằng những lớp người hoạt động đã từng đổ sức vào những phong trào đòi quyền công dân, phong trào chống chiến tranh Việt Nam và phong trào bảo vệ môi trường, nay tập trung sức lực của họ "vào chỗ gần gũi hơn với nơi ở của họ, tổ chức những người láng giềng của họ đấu tranh cho những vấn đề như có nhà ở tốt hơn, thuế má công bằng, mức đóng góp công ích thấp hơn, và dọn dẹp những phế thải độc hại... Vượt qua những ranh giới chủng tộc, giai cấp và địa lý, những hành động này đã khiến cho hàng triệu người dân thấy rằng những lợi ích chung của họ vượt xa những sự khác biệt giữa họ với nhau. (Đối với chung tất cả), thông điệp về hành động công dân là như nhau: "Chớ điên rồ, chớ thất vọng, chớ bỏ cuộc. Hãy tổ chức và quật lại". Những cộng đồng Một số cử tri Mỹ quan tâm đến vấn đề này đã chọn cách tham gia bằng việc tiếp xúc với các quan chức dân cử của họ, đặc biệt là tổng thống và các thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ của họ. Họ đã viết thư, gửi điện, gọi điện thoại và đích thân đến văn phòng của quan chức đó, bất kể là tại Washington hay tại bang hoặc quận nhà. Tuy nhiên, trong mấy năm qua, một phương tiện truyền thông mới đã xuất hiện trên sân khấu và đem lại cho cử tri một cái quyền phi thường – quyền được biết những gì diễn ra trong thế giới của họ, được bình luận về những sự kiện đó, và được hành động nhằm làm thay đổi những sự việc mà họ không ưa thích. Phương tiện đó là Internet, là mạng Web, là Siêu xa lộ thông tin. Cho dù được gọi bằng cái tên nào đi nữa thì nó cũng đang làm thay đổi các hoạt động chính trị ở Mỹ một cách mau lẹ và không thể ngăn cản. Internet có thể là "một công cụ hùng mạnh cho hành động tập thể, nếu như muốn sử dụng nó như vậy", như lời nhà hoạt động chính trị Ed Schwartz trong cuốn sách NetActivism: Công dân sử dụng Internet như thế nào: “ Nó có tiềm năng trở thành công cụ hùng mạnh nhất giúp cho việc tổ chức chính trị phát triển trong 50 năm qua, và là một công cụ mà bất cứ công dân nào cũng có thể sử dụng... Cái mà những nhà hoạt động cộng đồng nhiều khi cần đến nhất là thông tin chính xác, cả về việc các cơ quan chính quyền và các chương trình cụ thể lẫn việc hệ thống chính trị hoạt động như thế nào". Họ có thể tìm thấy thông tin này một cách dễ dàng và hầu như không tốn kém trên Internet. "Các cộng đồng ảo" của những người, nam cũng như nữ, có lợi ích giống nhau, những người có thể sống cách xa nhau hàng nghìn dặm và có thể chưa bao giờ được biết về nhau qua bất cứ một cách nào khác, nay tập hợp lại với nhau trên Internet. Rất nhiều khi, những người này chưa hề gặp mặt nhau, nhưng họ khá hiểu biết nhau thông qua những cuộc trò chuyện thông minh kéo dài về những vấn đề mà họ quan tâm nhất. Một thay đổi sâu sắc khác là việc tiếp cận nhanh chóng với Internet đem lại cho người dân những thông tin về chính quyền, về các hoạt động chính trị, và về những vấn đề trước đây không thể tìm hiểu được, hoặc khó tìm hiểu, đối với hầu hết người dân. EnviroLink chẳng hạn là một địa chỉ Web dành cho những vấn đề môi trường. Các tổ chức cộng đồng có thể thu thập những thực tế cụ thể từ địa chỉ này về những mối quan tâm như khí thải gây hiệu ứng nhà kính, những chất phế thải gây nhiều rủi ro, hoặc những hóa chất độc hại. Trước kia, những nhóm người này có lẽ bị hạn chế ở việc chỉ được nói về những vấn đề này bằng những lời lẽ chung chung. Nay, EnviroLink cung cấp ngay tức thời những tài liệu chi tiết. Địa chỉ này cho phép tiếp cận các nguồn tài liệu về giáo dục, về các cơ quan chính quyền, các tổ chức và ấn phẩm về môi trường, tất cả được liệt kê theo chủ đề. EnviroLink còn cung cấp thông tin và lời khuyên về cách làm thế nào để có hành động trực tiếp bằng cách cung cấp tên và địa chỉ thư tín điện tử của những người cần tiếp xúc về những vấn đề môi trường cụ thể, và nó có cả những "phòng chuyện gẫu" để những người sử dụng có thể thảo luận và chia sẻ ý kiến. Trích:
Những nhóm lợi ích tư nhân
Tài liệu đọc thêm về Chính quyền Hợp chúng quốc Hoa Kỳ |
||||||||||||
| Last Updated ( Tuesday, 11 March 2008 ) | ||||||||||||
| < Prev | Next > |
|---|



