Dịch từ http://en.wikipedia.org/wiki/Knights_Templar
Poor Fellow-Soldiers of Christ and of the Temple of Solomon (Latin: Pauperes commilitones Christi Templique Solomonici), thường được biết đến với cái tên Knights Templar hay Order of the Temple (tiếng Pháp: Ordre du Temple hay Templiers)
là một trong những tổ chức quân sự Thiên Chúa giáo nổi tiếng nhất. Tổ
chức này tồn tại trong xấp xỉ hai thế kỷ thời Trung Cổ. Nó được thành
lập do kết quả của cuộc Thập Tự Chinh thứ nhất năm 1096, với mục đích
ban đầu là bảo vệ cho những người Thiên Chúa giáo hành hương đến
Jerusalem sau cuộc chinh phạt.
Chính thức được xác nhận bởi giáo hội năm 1129, Hội trở thành tổ chức
từ thiện được những người Thiên Chúa giáo yêu mến và nhanh chóng phát
triền về số hội viên cũng như thế lực. Các hiệp sĩ Templar được nhận
biết với áo choàng màu trắng được chia thành 4 phần bởi chữ thập đỏ, là
nhũng chiến binh thiện chiến nhất của đoàn quân Thập Tự. Những thành
viên không chiến đấu của Hội quản lý một cơ sở kinh tế rộng lớn khắp
các nước Thiên Chúa, đã đưa vào ứng dụng những phương pháp tài chính
mới, chính là hình thức ban đầu của ngân hàng, xây dựng nhiều thành lũy
trên Vùng Đất Thánh và Địa Trung Hải.

Thành công của các hiệp sĩ Templar gắn liền với các cuộc Thập Tự Chinh;
khi Vùng Đất Thánh thất thủ, sự ủng hộ với Hội mất dần. Những đồn đại
về các nghi thức kết nạp bí mật của các hiệp sĩ tạo ra sự hồ nghi, và
vua Philip V của Pháp, người lún sâu vào nợ nần với Hội bắt đầu gây sức
ép với Giáo hoàng Clement V để chống lại Hội. năm 1307, rất nhiều thành
viên của Hội ở Pháp vị bắt, bị tra tấn để ép nhận tội và rồi bị thiêu
trên cọc. Năm 1312, Giáo hoàng Clement, tiếp tục chịu sức ép từ vua
Philip, giải tán Hội. Sự biến mất đột ngột của một bộ phận quan trọng
cơ sở xã hội đã làm rộ lên những suy đoán và truyền thuyết, khiến cho
cái tên "Templar" sống mãi cho đến ngày nay.
 Lịch sử
Sự phát triển

Tổng hành dinh đầu tiên của Knights Templar, Al Aqsa Mosque.
Sau khi chiếm Jerusalem trong cuộc Thập Tự Chinh thứ nhất năm 1099,
nhiều người hành hương Thiên Chúa giáo đã tới đây để thăm cái mà họ cho
là Vùng Đất Thánh. Tuy nhiên, dù thành phố Jerusalem được bảo vệ tương
đối nhưng phần còn lại của Outremer (vùng đất những người Thiên Chúa
giáo giành được trong cuộc Thập Tự Chinh - vương quốc Jerusalem) thì
không. Kẻ cướp nhan nhản, những người hành hương bị tàn sát hàng ngày,
có khi đến hàng trăm người, khi họ cố gắng thực hiện cuộc hành trình từ
bờ biển Jaffa đến Vùng Đất Thánh.
Khoảng 1119, hai cự chiến binh của cuộc Thập Tự Chinh thứ nhất, hiệp sĩ
người Pháp Hugues de Payens và người họ hàng Godfrey de Saint-Omer, đề
nghị thành lập một tổ chức tu viện để bảo vệ người hành hương. Vua
Jerusalem Baldwin II đã chấp thuận yêu cầu của họ, và cho họ đặt tổng
hành dinh ở Temple Mount, trong nhà thờ Al Aqsa Mosque. Temple Mount có
một sự thần bí, vì nó nằm trên cái mà người ta tin là phế tích của Đền
thờ Solomon. Bởi vậy những người tham gia cuộc Thập Tự Chinh xem Al
Aqsa Mosque như là Đền thờ Solomon, và vì vị triínày mà Hội lấy tên là
Những hiệp sĩ nghèo của Chúa và Đền thờ Solomon (Poor Knights of Christ
and the Temple of Solomon) hay Templar Knights. Hội có 9 hiệp sĩ, có
vài nguồn tài chính và dựa vào sự quyên góp để hoạt động. Biểu tượng
của họ là hai hiệp sĩ cưỡi chung một con ngựa, nhấn mạnh vào sự bần
cùng của Hội.
Tình trạng nghèo nàn của các Hiệp sĩ Templar không kéo dài lâu. Họ có
sự ủng hộ mạnh mẽ của Thánh Bernard ở Clairvaux, người nắm giữ tiền bạc
của nhà thờ và là cháu của một trong các hiệp sĩ sáng lập. Ông ta đã
nói và viết nhân danh họ, và đến 1129 tại Hội đồng Troyes, Hội chính
thức được nhà thờ thừa nhận. Với sự may mắn này, các Hiệp sĩ Templar
trở thành tổ chức từ thiện được ưu đãi khắp các quốc gia Thiên Chúa
giáo, có tiền bạc, đất đai, việc kinh doanh, và những người dòng dõi
quý tộc từ các gia tộc luôn háo hức với việc chiến đấu ở Vùng Đất
Thánh. Một nguồn lợi quan trọng khác đến vào năm 1139, khi Hiến chương
Omne Datum Optimum của Giáo hoàng Innocent II cho phép Hội không chịu
sự kiểm soát của pháp luật địa phương các vùng. Quyết định này có nghĩa
là các Hiệp sĩ Templar có thể tự do vượt qua mọi biên giới mà không cần
trả một khoản thuế nào, cũng như không chịu sự khống chế của ai trừ
Giáo hoàng.
Trích:
"Một Hiệp sĩ Templar là một hiệp sĩ dũng cảm, và được bảo vệ từ mọi
mặt, linh hồn của anh ta được bảo vệ bởi áo giáp của niềm tin, cũng như
thân thể của anh ta được bảo vệ bởi áo giáp sắt. Vì thế anh ta có hai
lớp giáp, không cần sợ quỷ dữ cũng như con người."
Bernard de Clairvaux, c. 1135, De Laude Novae Militae—In Praise of the New Knighthood
|
Với nhiệm vụ rõ ràng và nguồn lợi phong phú, Hội phát triển mạnh
mẽ. Các Hiệp sĩ Templar trở thành lực lượng tiên phong trong các trận
đánh quan trọng của các cuộc Thập Tự Chinh, vì các hiệp sĩ trên những
con ngựa chiến được trang bị giáp sắt nặng của họ có thể phi nước đại
với tốc độ nhanh nhất về phía kẻ thù, phá vỡ hàng ngũ đối phương. Một
trong những chiến thắng nổi tiếng nhất của họ là trận Montgisard năm
1177, nơi 500 Hiệp sĩ Templar đã giúp đánh bại 26000 quân Saladin.
Mặc dù nhiệm vụ chính của Hội là quân sự, nhưng chỉ có vài thành viên
là chiến sĩ. Những người khác hoạt động ở vị trí hỗ trợ các hiệp sĩ và
quản lý các cơ sở tài chính. Mặc dù các thành viên đã thề giữ các cá
nhân trong sự nghèo nàn nhưng Hội lại nắm giữ số của cải vượt xa sự
quyên góp trực tiếp. Một nhà quý tộc thích tham gia Thập Tự Chinh có
thể đặt toàn bộ tài sản dưới sự quản lý của Hội trong khi anh ta đi
vắng. Của cải tích lũy theo cách này trải khắp các nước Thiên Chúa giáo
và Outremer, năm 1150 Hội bắt đầu đề ra letter of credit (một kiểu tín
dụng) cho những người hành hương tới VÙng Đất Thánh: người hành hương
gửi tiền cho thầy giáo Templar địa phương trước khi lên đường, nhận văn
bản xác nhận số tiền họ gửi và dùng văn bản này để nhận lại tiền khi
đến Vùng Đất Thánh. Sáng kiến này là hình thức ban đầu của ngân hàng,
và có thể là hệ thống chính thức đầu tiên hỗ trợ sử dụng séc; nó nâng
cao sự an toàn cho người hành hương bằng cách làm họ trở thành những
mục tiêu kém hấp dẫn đối với đạo tặc, và cũng đóng góp cho túi tiền của
các Hiệp sĩ Templar.

Dựa trên sự pha trộn của hình thức quyên góp và kinh doanh này, các
Hiệp sĩ Templar đã thiết lập một mạng lưới tài chính trải khắp các nước
Thiên Chúa giáo. Họ giành được các vùng đất rộng lớn ở cả châu Âu lẫn
Trung Đông; họ mua và quản lý các trang trại và ruộng nho; họ lao vào
các ngành sản xuất phức tạp, xuất nhập khẩu; họ có đội tàu của riêng họ
và sở hữu một hòn đảo ở Cyprus. Hội của các Hiệp sĩ Templar được cho là
tập đoàn đa quốc gia đầu tiên trên thế giới. Sự sụp đổ
Vào giữa những năm 1100, chiều hướng bắt đầu thay đổi trong các cuộc
Thập Tự Chinh. Thế giới Hổi giáo trở nên đoàn kết hơn dưới những lãnh
tụ năng động như Saladin, và những bất đồng bắt đầu nảy sinh giữa các
bè phái của người Thiên Chúa giáo trong và liên quan tới Vùng Đất
Thánh. Các Hiệp sĩ Templar thỉnh thoảng lại xung đột với hai tổ chức
Thiên Chúa giáo khác là các Hiệp sĩ Hospitaller và các Hiệp sĩ Teuton,
và thời kỳ 10 năm tương tàn giữa các thái ấp đã làm suy yếu vị thế,
chính trị và quân sự của người Thiên Chúa giáo. Sau khi các Hiệp sĩ
Templar vướng vào vài chiến dịch thất bại, bao gồm cả trận đánh then
chốt ở Horns, Hattin thì Jerusalem bị quân Saladin chiếm năm 1187. Các
chiến sĩ Thập Tự Chinh đã tái chiếm thành phố năm 1229 mà không có sự
giúp đỡ của các Hiệp sĩ Templar, nhưng chỉ giữ được trong một thời gian
ngắn. Năm 1244, đế quốc Khwarezmi chiếm Jerusalem, và thành phố không
chịu sự điều khiển của phương Tây cho đến tận năm 1917 khi người Anh
đoạt lại nó từ tay đế quốc Ottoman.

Trận chiến ở Horns, Hattin năm 1187.
Các Hiệp sĩ Templar bị buộc phải chuyển tổng hành dinh tới một nơi khác
ở phương bắc, cảng biển Acre, và họ giữ nó trong một thế
kỷ tiếp theo. Nhưng rồi họ cũng mất nó, năm 1291, sau khi để mất các
thành lũy cuối cùng trên lục địa như Tortosa (nay là Syria) và Atlit.
Tổng hành dinh của họ phải chuyển tới Limassol, Cyprus và họ cũng cố
gắng duy trì việc đóng quân ở hòn đảo nhỏ Arwad, ngoài khơi Tortosa.
Năm 1300 họ cố gắng tập hợp một lực lượng hỗn hợp để giao tranh với
quân Mông Cổ qua một cuộc xâm lược mới nhằm vào Arwad. Tuy nhiên năm
1302 hay 1303, các Hiệp sĩ Templar để mất hòn đảo vào tay đội quân
Mamluk của Ai Cập trong cuộc vây hãm Arwad. Qua đó các chiến binh Thập
Tự đánh mất chỗ đặt chân cuối cùng của họ ở Vùng Đất Thánh.

Ngôi nhà của các Hiệp sĩ Templar ở Saint Martin des Champs, Pháp.
Với việc nhiệm vụ quân sự của Hội giờ đây bớt quan trọng hơn, sự ủng hộ
của các hoàng thân cũng giảm dần. Mặc dù tình thế trở nên phức tạp, với
hơn 200 năm tồn tại, các Hiệp sĩ Templar đã trở thành một phần trong
cuộc sống hàng ngày trên khắp các nước Thiên Chúa giáo. Hàng trăm ngôi
nhà Templar của tổ chức là của hồi môn trên khắp châu Âu và Cận Đông,
đem lại cho họ sự hiện diện phổ biến trong cấp độ địa phương. Các Hiệp
sĩ vẫn kiểm soát nhiều việc kinh doanh, nhiều người châu Âu có liên lạc
hàng ngày với mạng lưới của các Hiệp sĩ, để đề nghị làm việc ở các
trang trại hay ruộng nho, hay sử dụng dịch vụ ngân hàng để cất giữ tài
sản cá nhân. Hội tiếp tục không chịu sự quản lý của chính quyền địa
phương, trở thành "nước trong một nước" ở mọi nơi. Hội cũng có một đội
quân thường trực có thể tự do đi lại qua các biên giới, nhưng không còn
nhiệm vụ xác định. Việc này làm gia tăng căng thẳng với một vài quý tộc
châu Âu, đặc biệt khi các Hiệp sĩ Templar tỏ ra thích thú với việc
thành lập một quốc gia tu viện của riêng họ, như các Hiệp sĩ Teuton đã
làm ở Prussia hay các Hiệp sĩ Hospitaller với Rhodes.
Bắt giữ và tan rã
Năm 1305, Giáp hoàng mới Clement V, gốc Pháp, gửi thư cho cả thống lĩnh
Templar Jacques de Molay và thống lĩnh Hospitaller Fulk de Villaret để
bàn về khả năng hợp nhất hai tổ chức này. Không được chấp nhận nhưng
Giáo hoàng Clement vẫn kiên trì, năm 1306 ông mời cả hai vị thống lĩnh
đến Pháp để bàn bạc. De Molay đến trước vào đầu năm 1307, nhưng de
Villaret thì đến chậm vài tháng. Trong khi chờ đợi De Molay và Clement
bàn luận về số tiền chi trả 2 năm trước bởi một Hiệp sĩ đã bị trục
xuất. Nhận định chung là khoản chi trả đã thất bại, nhưng Clement đã
gửi thư yêu cầu vua Pháp Philip IV giúp đỡ điều tra. Vua Philip đang
mắc nợ ngập đầu với các Hiệp sĩ Templar do cuộc chiến tranh với Anh và
đã quyết định thổi phồng những lời đồn để trục lợi. Ông ta bắt đầu gây
sức ép với nhà thờ để chống lại Hội, như một cách rũ bỏ nợ nần.

Vua Philip IV (1263-1314)
Vào thứ sáu ngày 13 tháng 10 năm 1307 (cái ngày thỉnh thoảng vẫn được
liên hệ với khởi đầu sự mê tín về thứ sáu ngày 13 mặc dù không có liên
quan thật sự) Philip ra lệnh bắt đồng thơi De Molay và nhiều Hiệp sĩ
Templar người Pháp khác. Các Hiệp sĩ Templar bị buộc tội dị giáo và bị
tra tấn để nhận tội báng bổ. Lời nhận tội, sự lăng mạ được thực hiện
trong sự cưỡng ép đã gây ra lời dị nghị ở Paris. Sau khi chịu thêm áp
lực từ Philip, Giáp hoàng Clement ra sắc lệnh Pastoralis Praeeminentiae
ngày 22 tháng 11 năm 1307 chỉ thị cho các tu viện trên toàn châu Âu bắt
giữ các Hiệp sĩ Templar và tịch thu tài sản của họ. Giáo hoàng cho các
thuộc hạ của mình quyết định xem các Hiệp sĩ có tôi hay vô tội, và khi
thoát khỏi sự tra tấn của tòa án dị giáo, nhiều Hiệp sĩ đã công khai
rút lại lời nhận tội. Vài người có đủ kinh nghiệm về luật pháp đã tự
bảo vệ mình trước các phiên xét xử, nhưng vào năm 1310 Philip đã ngăn
chặn sự nỗ lực này, dùng lời thú tội bị cưỡng ép trước đó để thiêu
nhiều Hiệp sĩ trên cọc gỗ ở Paris.

Các Hiệp sĩ bị thiêu.
Với việc Philip đe dọa về các hành động quân sự trừ khi Giáo hoàng chấp
thuận ước muốn của ông ta, Giáo hoàng Clement cuối cùng đã đồng ý giải
tán Hội, xét xử công khai lời dị nghị đã phát sinh do lời thú tội. Ở
Hội đồng Vienne năm 1312, ông ta đã ban bố một loạt sắc lệnh, bao gồm
cả Vox in excelso, chính thức giải tán Hội và sắc lệnh Ad providam
chuyển hầu hết tài sản của các Hiệp sĩ Templar cho các Hiệp sĩ
Hospitaller.
Với tư cách là người đứng đầu Hội, vị thống lĩnh già Jacques de Molay,
người bị tra tấn để nhận tội, đã phản cung. Phụ tá của ông Geoffrey de
Charney, thầy giáo xứ Normandi, noi theo tấm gương của Molay khẳng định
sự vô tội của mình. Cả hai bị buộc tội theo dị giáo lần nữa và bị thiêu
sống ở Paris ngày 18 tháng 3 năm 1314. De Molay vẫn ngang ngạnh cho đến
phút cuối, yêu cầu được trói sao cho có thể đối mặt với Notre Dame
Cathedral (một nhà thờ ở Paris), và giữ chặt tay như cầu nguyện. Theo
truyền thuyết, ông ta đã kêu gào trong ngọn lửa rằng cả Giáo hoàng
Clement và vua Philip sẽ sớm gặp ông ta trước Chúa. Giáo hoàng Clement
chết chỉ một tháng sau, còn vua Philip chết trong một tai nạn kúc đi
săn trước cuối năm.

Tu viện ở lâu đài Tomar, Bồ Đào Nha. Được xây năm 1160 như là thành lũy
của các Hiệp sĩ Templar, trở thành tổng hành dinh của Hội của Chúa sau
này.
Với việc thống lĩnh cuối cùng đã mất, các Hiệp sĩ Templar còn lại ở
châu Âu cũng bị bắt và điều tra (hầu như không bị kết án), gia nhập một
tổ chức quân sự khác như Knights Hospitaller hoặc về hưu và được phép
sống yên ổn. Vài người bỏ trốn khỏi tầm kiểm soát của Giáo hoàng như
Scotland hay Thụy Sĩ. Các Hiệp sĩ Templar ở Bồ Đào Nha đơn giản chỉ đổi
tên Knights Templar thành Knights of Christ (Hiệp sĩ của Chúa).
Năm 2001, một văn bản được biết đến với cái tên Chinon Parchment được
tìm thấy ở Cơ quan lưu trữ bí mật Vatican, rõ ràng là bị đặt sai chỗ
năm 1628. Đó là bản ghi chép việc xét xử các Hiệp sĩ Templar, cho thấy
ban đầu Clement đã xá tội cho các Hiệp sĩ năm 1308, trước khi chính
thức giải tán Hội năm 1312. Tháng 10 năm 2007, nhà xuất bản Scrinium
chuyên phát hành các văn bản cho Vatican đã phát hành những văn bản bí
mật về việc xét xử các Hiệp sĩ Templar, trong đó có Chinon Parchment.
Ngày nay quan điểm của Giáo hội Thiên Chúa La Mã về việc ngược đãi các
Hiệp sĩ Templar thời Trung Cổ là không đúng đắn; rằng không có gì sai
với Hội hay với Luật; và rằng Giáo hoàng Clement đã vội vã trong hành
động bởi tính chất quan trọng của vụ việc và bởi sự chi phối của vua
Philip IV. Tổ chức
Các Hiệp sĩ Templar được tổ chức như một hội tu viện, tương tự Hội
Cistercian của Bernard, được xem như là tổ chức quốc tế đầu tiên có ảnh
hưởng ở châu Âu và Cận Đông. Cơ cấu tổ chức có mối liên hệ mạnh mẽ với
nhà cầm quyền. Các nước có nhiều sự hiện diện trong Hội (Pháp, Anh,
Crown of Aragon, Bồ Đào Nha, Poitou, Apulia, Jerusalem, Tripoli,
Antioch, Anjou, và Hungary) đều có một Master trong khu vực đó. Tất cả
bọn họ đều thần phục thống lĩnh (luôn luôn là một hiệp sĩ người Pháp),
được bổ nhiệm cả đời, trông coi cả mặt quân sự ở phía đông cũng như mặt
kinh tế ở phía tây. Không có số liệu chính xác nhưng người ta ước đoán
vào lúc đỉnh cao các Hiệp sĩ Templar có khoảng 15000 đến 20000 người,
khoảng một phần mười là hiệp sĩ thật sự.
Bernard de Clairvaux và người sáng lập Hugues de Payens đã nghĩ ra bộ
luật riêng cho Hội, được các nhà sử học hiện đại gọi là Latin Rule. Nó
có 72 điều quy định cách ứng xử của các Hiệp sĩ, như kiểu quần áo hay
số ngựa có thể có. Các Hiệp sĩ ăn trong sự yên tĩnh, không ăn thịt quá
3 lần một tuần, không có quan hệ thân xác với bất kì phụ nữ nào kể cả
người trong gia đình. Một Master được quyền có 4 con ngựa, một giáo sĩ,
một thư ký với 3 con ngựa, một hạ sĩ với 2 con ngựa, một người hầu mang
khiên và giáo với một con ngựa. Cùng với sự phát triển của Hội, nhiều
điều được thêm vào, cuối cùng thì từ 72 điều ban đầu trở thành hàng
trăm điều.
Có 3 cấp thứ hạng đối với các Hiệp sĩ Templar: hiệp sĩ quý tộc, hạ sĩ
và tăng lữ. Các hiệp sĩ cần phải có dòng dõi hiệp sĩ, mặc áo choàng
trắng. Họ được trang bị như một thiết kỵ binh, với 3 hay 4 con ngựa, và
1 hay 2 cận vệ. Cận vệ không phải thành viên của Hội mà là người bên
ngoài được thuê theo thời hạn. Ở dưới các hiệp sĩ và được chọn ra từ
các tầng lớp xã hội thấp kém hơn là các hạ sĩ. Họ được trang bị như một
khinh kỵ binh với 1 con ngựa, hoặc là làm công việc quản lý tài sản của
Hội hay nhiệm vụ người hầu và buôn bán. Giáo sĩ, tầng lớp thứ ba trong
Hội, là những thầy tu được phong chức, lo về vấn đề tinh thần cho các
Hiệp sĩ.
Các hiệp sĩ mặc áo khoác trắng với dấu thập đỏ, và áo choàng trắng; các
hạ sĩ thì mặc áo chẽn màu đen với dấu thập đỏ ở trước và sau, với áo
choàng đen hay nâu. Áo choàng trắng được quy định cho các Hiệp sĩ ở Hội
đồng Troyes năm 1129, dấu thập được thêm áo họ vào ở buổi phát động
cuộc Thập Tự Chinh thứ hai năm 1147, khi Giáo hoàng Eugenius III, vua
Pháp Louis VII và nhiều quý tộc khác tham dự cuộc họp của các Hiệp sĩ
Templar Pháp tại hành dinh gần Paris. Theo luật, các Hiệp sĩ mặc áo
choàng trắng mọi lúc, thậm chí không được phép ăn uống trừ khi đang mặc
nó.
Ban đầu, lễ kết nạp là một nghi lễ trọng thể phức tạp với lời cam kết
sâu sắc. Người ngoài bị cấm tham dự, điều này đã gây sự ngờ vực với các
tòa án dị giáo thời Trung Cổ trong các phiên xét xử sau này.
Các thành viên mới phải tự nguyện ký trao tất cả tài sản của họ cho Hội
và thực hiện lời thề về sự nghèo nàn, giản dị, trung thành và vâng
mệnh. Hầu hết mọi người gia nhập cả đời, dù có vài người được phép gia
nhập theo thời hạn. Thỉnh thoảng một người đàn ông đã có gia đình được
phép gia nhập nếu anh ta được sự cho phép của vợ, nhưng anh ta không
được mặc áo choàng trắng.
Dấu thập đỏ trên áo các Hiệp sĩ Templar là biểu tượng cho sự tử vì đạo,
và chết trong chiến trận là một cái chết danh dự, sẽ có chỗ trên thiên
đường. Có một điều luật chủ yếu là các chiến binh không bao giờ được
phép đầu hàng trừ khi lá cờ của Hội đổ xuống, cho dù họ là những người
đầu tiên cố gắng tái hợp với các hội Thiên Chúa khác như Hospitaller.
Chỉ sau khi tất cả các lá cờ đổ xuống họ mới được phép rời khỏi chiến
trường. Nguyên tắc không thỏa hiệp này, cùng với danh tiếng về sự dũng
cảm, đào tạo xuất sắc, lực lượng vũ trang mạnh, đã làm cho các Hiệp sĩ
Templar trở thành một trong những đội quân đáng sợ nhất thời Trung Cổ. Grand Masters
Bắt đầu từ người sáng lập Hugues de Payens năm 1118-1119, người chỉ huy
cao nhất của Hội là Grand Master, vị trí được nắm giữ cả đời, mặc dù
xét cho kĩ thì với tính chất quân sự của Hội, điều đó có nghĩa là một
nhiệm kì rất ngắn. Tất cả các Grand Master, trừ hai người, đều chết khi
còn đương chức, vài người chết trong các chiến dịch quân sự. Ví dụ,
trong cuộc vây hãm Ascalon năm 1153, Grand Master Bernard de Tremelay
thống lĩnh 40 Hiệp sĩ vượt qua lỗ thủng ở tường thành. Khi phần còn lại
của đội quân Thập Tự không theo họ, các Hiệp sĩ, bao gồm cả Grand
Master đã bị bao vây và bị chặt đầu. Grand Master Gérard de Ridefort bị
Saladin chặt đầu năm 1189 ở cuộc vây hãm Acre, vì ông ta thường xuyên
phá bỏ các hiệp ước.
Grand Master trông côi tất cả các hoạt động của Hội, bao gồm các hoạt
động quân sự ở Vùng Đất Thánh và Đông Âu cũng như mặt tài chính và việc
kinh doanh ở Tây Âu. Vài Grand Master còn là những người chỉ huy chiến
trường, mặc dù điều này không phải lúc nào cũng khôn ngoan: những sai
lầm trong việc chỉ huy trận chiến của de Ridefort đã góp phând vào thất
bại ở trận Hattin. Grand Master cuối cùng Jacques de Molay bị thiêu
trên cọc gỗ ở Paris năm 1314 bởi lệnh của vua Philip IV.
Sự thừa kế
Với nhiệm vụ quân sự và nguồn lợi tài chính dồi dào, các Hiệp sĩ
Templar có một lượng lớn các dự án xây dựng ở châu Âu và Vùng Đất
Thánh. Rất nhiều công trình vẫn còn tồn tại. Nhiều nơi giữ cái tên
"Temple" bởi mối liên quan hàng thế kỷ với các Hiệp sĩ. Ví dụ, vùng đất
của các Hiệp sĩ ở Luân Đôn sau này được các luật sư thuê, có tên như
cổng Temple Bar và ga điện ngầm Temple. Hai trong số bốn Inns of Court
(Hiệp hội luật sư ở Anh) là Inner Temple và Middle Temple.
Yếu tố kiến trục đặc biệt của cac s công trình Templar bao gồm việc sử
dụng hình ảnh hai hiệp sĩ cưới trên một con ngựa, tiêu biểu cho sự
nghèo nàn của các Hiệp sĩ, và các tòa nhà chung quanh thiết kế giống
với Nhà thờ mộ chúa Jesu ở Jerusalem.

Dấu thập của Hội của Chúa ở Bồ Đào Nha ngày nay

Nhà thờ Temple ở Luân Đôn.
Các tổ chức Templar ngày nay
Bởi sắc lệnh của Giáo hoàng, tài sản của các Hiệp sĩ Templar được
chuyển cho Hospitaller, có cả các thành viên của Templar nữa. Kết quả
là, sự tan rã của các Hiệp sĩ Templar có thể xem như là sự hợp nhất
giữa hai tổ chức thù địch.
Câu chuyện về những bí mật to lớn của các Hiệp sĩ Templar, đặc biệt là
sự ngược đãi và tan rã đột ngột của họ, là nguồn cảm hứng cho nhiều
nhóm khác vin vào sự liên hệ với các Hiệp sĩ như là một cách để nâng
cao hình ảnh và sự thần bí. Ít nhất từ những năm 1700, York Rite of
Freemasonry đã kết hợp các biểu tượng và lễ nghi của Templar, và có địa
vị như ngày nay là Hội Temple. Sovereign Military Order of the Temple
of Jerusalem, thành lập năm 1804, đã giành được địa vị pháp lý là một
tổ chức phi chính phủ của Liên Hợp Quốc, một tổ chức từ thiện. Không có
mối liên hệ lịch sử rõ ràng giữa các Hiệp sĩ Templar và các tổ chức
khác, mà nổi lên sớm nhất vào những năm 1700. Tuy nhiên, có một sự mập
mờ công khai thường xuyên và nhiều lỗ hổng chưa được chú ý suốt 400 năm. Truyền thuyết và thánh tích
Các Hiệp sĩ Templar có quan hệ với các truyền thuyết về những bí mật và
sự huyền bí được thu thập từ thời cổ đại. Lời đồn đại lan truyền suốt
thời đại của các Hiệp sĩ. Các nhà văn Freemasonic đã nghiên cứu thêm
vào thế kỷ 19, và những điều hư cấu tưởng tượng được đưa vào các bộ
phim hiện đại như Kho báu quốc gia (National Treasure), Tử chiến thành
Jerusalem (Kingdom of Heaven), trò chơi điện tử, và các bộ tiểu thuyết
bán chạy nhất như Ivanhoe và Mật mã Da Vinci (The Da Vinci Code).

Dome of the Rock, một công trình ở Yemple Mount.
Nhiều truyền thuyết có liên quan tới sự có mặt ban đầu của Hội ở Temple
Mount, Jerusalem và việc điều tra về các thánh tích mà các Hiệp sĩ có
thể tìm thấy ở đó như Chén Thánh (Holy Grail) hay Ark of the Covenant.
Việc các Hiệp sĩ sở hữu vài thánh tích là chắc chắn. Nhiều nhà thờ vẫn
trưng bày các thánh tích như xương của một vị thánh, mảnh quần áo của
một người thần thánh, hay sọ của những người tử vì đạo: các Hiệp sĩ
cũng làm như thế. Có những tài liệu chứng minh rằng họ có một phần của
True Cross (cây thánh giá đóng đinh Chúa) mà giám mục xứ Arce mang theo
trong trận đánh tai hại ở Hattin. Sau khi trận chiến kết thúc, Saladin
đã lấy thánh vật, sau đó được các chiến binh Thập Tự chuộc lại khi quân
Hồi giáo từ bỏ thành phố Arce năm 1191. Họ cũng sở hữu đầu của Thánh
Saint Euphemia xứ Chalcedon. Vấn đề thánh vật cũng được đưa ra tại tòa
án dị giáo, các văn bản xét xử cho thấy vài kiểu sùng bái thần tượng,
trong vài trường hợp là con mèo, cái đầu có râu, hay vài trường hợp là
Baphomet, nhìn chung được giải thích là một lỗi chính tả của người Pháp
về cái tên Mahomet (Muhammad).
Việc sùng bái các thần tượng tưởng tượng được đem ra chống lại ảnh
hưởng của các Hiệp sĩ dẫn tới việc bắt giữ họ đầu thế kỷ 14. Sự tố cáo
này cũng khiến cho ngày nay nhiều người tin rằng vài Hiệp sĩ Templar có
liên quan tới ma thuật.
Có một mối quan tâm đặc biệt về huyền thọai Chén Thánh trong thời kỳ
Thập Tự Chinh, liên quan tới các Hiệp sĩ templar từ thế kỷ 12. Sự thêu
dệt đầu tiên, câu chuyện Le Conte du Graal, do Chrétien de Troyes,
người đến từ nơi Hội đồng Troyes chính thức phê chuẩn các Hiệp sĩ
Templar. Trong truyền thuyết Arthur, người anh hùng của cuộc truy lùng
Chén Thánh, Sir Galahad (một thầy tu sáng tác văn học trong Hội
Cisterci của Thánh Bernard) miêu tả hình vẽ tấm khiên với dấu thập của
Thánh George giống với huy hiệu của các Hiệp sĩ Templar. Trong thiên
anh hùng ca của thời đại Parzival, Wolfram von Eschenbach cho rằng các
Hiệp sĩ Templar đang bảo vệ Chén Thánh. Truyền thuyết kể rằng, khi các
Hiệp sĩ đặt tổng hành dinh ở Temple Mount tại Jerusalem ho đã đào bới
và tìm ra Chén Thánh, giữ nó trong vòng bí mật và bảo vệ nó bằng cả
mạng sống của chính họ. Tuy nhiên, các văn bản về phiên tòa xét xử các
Hiệp sĩ chưa bao giờ nhắc tới cái gì như Chén Thánh, bỏ qua việc sở hữu
nó của các Hiệp sĩ. Thực tế, hầu hết học giả nhất trí rằng câu chuyện
về Chén Thánh chỉ là hư cấu, bắt đầu lưu truyền từ thời Trung Cổ.
Một vật truyền truyết có liên quan tới các Hiệp sĩ Templar là tấm vải
liệm ở Turin. Nó được trưng bày công khai lần đầu bởi gia đình người
cháu trai của Geoffrey de Charney, người bị thiêu cùng với Jacques de
Molay năm 1314. Nguồn gốc của nó vấn là vấn đề gây tranh cãi. Năm 1988,
một cuộc phân tích carbon kết luận nó được làm trong khoảng từ năm 1260
đến 1390, một khoảng thời gian bao gồm nửa thế kỷ cuối cùng của các
Hiệp sĩ Templar. Sự bất đồng về thời điểm chính xác vẫn tiếp tục.
|