|
Tựa Vua Thái-tổ Cao-Hoàng-đế của ta, ứng Trời, thuận người, nhân thời mở
vận, khởi nghĩa ở núi Lam, quét nhanh lũ giặc Minh. Kịp khi Kiền-khôn
đã trở lại như cũ, Vũ-trụ đã thay-đổi sang mới, khi ấy mới làm sách
"Thực lục".
Trong đó: nào ý trời xui-khiến, nào việc người chăm-nom; nào vì nghĩa
cất quân; nào ra nguy vào hiểm; nào khi lấy ít địch nhiều; nào khi lấy
thực đánh hư; nào khi làm giấy tờ phản-gián để quấy-rối tình giặc; nào
khi lấy lời-lẽ phủ-dụ để yên-ủi lòng dân.
Rồi ra, trăm trận đánh, trăm trận thắng, để có được thiên-hạ. Cùng với:
bài đại-cáo khi bình giặc Ngô, đều là những lời trung, nghĩa, trí,
dũng; lẽ phải-chăng dạy lại con-cháu, đều là những đạo tu, tề, trị,
bình, ...
Xét ra những việc mà chính mình Nhà Vua đã làm, không việc gì là không
chép đủ. Bộ sách này, cốt ý bày-tỏ sự khó-khăn về việc gây-dựng nghiệp
đế, bảo cho con-cháu được biết, để làm của báu gia-truyền mãi mãi; há
những chỉ là khoe-khoang tài võ như thần, tài văn như thánh mà thôi
đâu!
Phiền nỗi thế-đạo giữa chừng sa-sút, mà bộ sách này cơ-hồ bị ngọn lửa
tàn-ác đốt cháy, trong hồi lấn ngôi, cướp nước. Thế nhưng công-đức ở
trong Trời Đất nào phải không còn; lẽ phải ở trong lòng người có mất
sao được?
Tới đức Hoàng-đế Bệ-hạ ngày nay, sớm chịu mệnh trời, nối giữ nghiệp
báu; đức, nghĩa, ngày một tiến; sức học ngày một cao; thực là nhờ chúa
Công-đức Nhân-Uy-Minh-Thánh Tây-Vương, lĩnh chức Đại-nguyên-soái,
Chưởng-quốc-Chính, Thái-sư, Thượng-phụ, có công nuôi-nấng, đúc-hun,
giúp-đỡ, gầy-dựng; ghi nhớ ơn đức của Tiên-vương, sửa-sang giềng-mối
của lễ-nhạc, để làm cỗi-gốc cho việc nương-tựa, phù-trì; chuyên ủy cho
chúa Định Nam-Vương lĩnh chức Nguyên-soái Điển-quốc-chính, duy trì
danh-giáo, gây nên thái-bình. Cùng các quan quân-thần, huân-thần, giảng
cầu đạo trị nước.
Dở coi sách-vở, nhìn vào tục cũ, thấy đấng Tiên-tổ dựng nghiệp thật là
khó-khăn; được nước thật là chính-đáng; từ khi nước Việt ta lập thành
nước đến giờ, chưa từng có việc như thế. Nếu chỉ coi xem qua-loa, mà
không kén-lựa những điều cốt-yếu, thì sao có rõ-rệt được nền công-đức
trăm đời không thể dời-đổi, mà khiến cho muôn thủa còn như trông thấy
trước mắt được?
Bèn nhân những ngày rỗi, thường vời quan Tể-tướng cùng các nho-thần bàn
đến việc kinh-doanh nghiệp lớn của các bậc đế-vương tự đời xưa. Cho là
bản sách cũ tuy có sao chép lại, thỉnh-thoảng còn có chỗ lẫn sót, chưa
dễ hiểu cho hết.
Vậy nay muốn soạn lại cho thật kỹ-lưỡng, thuần-túy, dùng để khắc vào
bản gỗ, ngõ hầu công-nghiệp của bậc Tiên-đế lại sáng tỏ với đời! Bèn
sắc chúng tôi, tham-khảo với bản chép cũ của các nhà mà sửa-sang lại;
lầm thì chữa; sót thì bù; để đọc coi cho tiện, truyền-bá cho rộng.
Chúng tôi vâng lĩnh lời vàng, đâu dám không gia công tìm-tòi, chắp-vá,
sắp lại thành sách, kính chép dâng lên, để đợi trí sáng-suốt coi tới.
Được cho tên là bộ "Lam-sơn thực-lục sửa lại". Lập tức sai thợ mộc khắc
bản, để lại lâu-dài. Khiến cho trong thiên-hạ, ai ai cũng biết đến đức
Tiên-đế; công lấy lại nước ở tay giặc Ngô, còn trội hơn là việc trừ
quân tàn-bạo của Hán Cao; ơn cứu được dân khỏi vòng nước lửa, nào có
kém gì việc chữa nạn lụt-lội của Hạ Vũ. Ơn-đức ngài chót-vót như núi
Kiền, núi Thái; công-nghiệp ngài rực-rỡ như mặt trăng, mặt trời.
Than ôi! Người chép bộ sách này, nào phải như kẻ viết Lĩnh-nam trích
quái, bày ra những chuyện hoang-đường; như kẻ viết Việt Điện u-linh góp
lại những lời quái-gở! Chỉ là ghi lại những việc thực, để cho ngôi nước
được chính, nghiệp vua được rõ mà thôi! Rồi đây sẽ thấy huân-nghiệp của
Tổ-tông chói-lọi ở trên tờ ngọc; công-lao của Tổ-tông sáng ngời để giữa
sách vàng! Công ấy, đức ấy, thường rực-rỡ với nghìn, muôn đời vậy. Bèn
viết để làm lời tựa.
Khi ấy là ngày tốt-lành, tháng cuối Xuân, năm đầu niên-hiệu Vĩnh-trị.
Đặc-tiến Kim-Tử Vinh-Lộc Đại-phu, Tham-tụng, Công-bộ Thượng-thư, kiêm
Đông-các Đại-học-sĩ, coi việc chép Quốc-sử, Duệ-quận-công, Thượng-trụ
quốc, tôi là Hồ Sĩ Dương. Gia-Tĩnh đại-phu, Bồi-tụng, Lại-bộ
Tả-thị-lang, vào hầu việc Giảng Sách. Sử-quán Đô-tổng-tài, tôi là Đặng
công Chất. Quang-Tiến Thận-lộc đại-phu, Bồi-tụng, Lại-bộ Hữu thị-lang
vào hầu việc Giảng Sách, Sử-quán Tổng-tài, Lại-An-nam, tôi là Đào Công
Chính. Triều-Liệt Đại-phu, Tham-Chính trong ty Tân-trị Thừa-chính ở các
xứ Sơn-nam...
Sử-quán Toản tu, tôi là Thiều sĩ Lâm. Mậu Lâm-lang, Bồi-tụng, Đông-các
Hiệu-thư, Sử-quán Phó Toản-Tu, tôi là Nguyễn công Vọng. Mậu Lâm-lang,
Hiến-sát-sứ ở ty Hiến-sát-sứ, coi các xứ Nghệ-an... Sử-quán Phó
Toản-tu, tôi là Lê hùng Xưng. Nội-sai Thái-giám trong Thị-Nội giám,
Tư-Lễ giám, Lĩnh-Xuyên hầu, tôi là Phạm thế Vinh. Nội-sai Hữu-đề-điểm
trong Tư-Lễ giám, Khoan-Thái-bà, tôi là Phạm đình Liêu. Cùng vâng sắc
coi việc sửa sách.
Trị trung trong sở Thủ-hợp Thị-Nội Thư-tả tôi là Ngô thục Đức. Chính tự
trong sở Thủ-hợp Thị-Nội Thư-tả tôi là Hàn Tung. Huyện-thừa trong sở
Thị-Nội Nhưng Thư-tả tôi là Nguyễn Luân. Tự-thừa trong sở Thị-Nội Nhưng
Thư-tả tôi là Nguyễn đăng Doanh. Huyện-thừa trong sở Thị-Nội Nhưng
Thư-tả tôi là Lê tiến Nhân. Sứ coi sở Thị-Nội Nhưng Thư-tả tôi là Lê
duy Lương. Huyện-thừa trong sở Thị-Nội Nhưng Thư-tả tôi là Nguyễn đăng
Khoa. Cùng vâng sắc viết: Thợ mộc, người các xã Hồng-lục, Liễu-chàng
vâng sắc khắc bản in.
Quyển 1 Đức Tằng-tổ nhà vua, họ Lê, tên húy là Hối người thôn Như-áng, huyện
Lương-giang (tức là huyện Ngụy-nguyên ngày nay) phủ Thanh-hóa. Tính
trời chất-phác, ngay-thẳng, giữ mình như kẻ ngu; thấy rõ việc từ lúc
chưa xảy ra; biết sâu mà lo xa. Lấy bà là Nguyễn-thị Ngọc Duyên, (người
trại Quần-đội huyện Lôi-dương); làm nghề ông thày.
Có một hôm Ngài đi chơi, thấy các loài chim liệng quanh ở dưới ngọn
Lam-sơn, như vẻ đông người hội-họp, liền nói rằng: "Chỗ này tốt đây!".
Nhân dời nhà tới ở đấy. Thế rồi dọn gai-góc, mở ruộng-nương, chính mình
siêng-năng việc cày-cấy.
Qua ba năm mà gây nên sản-nghiệp. Con-cháu ngày một đông; tôi-tớ ngày
một nhiều. Việc dựng nước, mở đất, thực gây nền từ đấy. Từ đó, đời đời
làm chúa một miền. Đức Hoàng-tổ húy là Đinh, nối được nghiệp nhà, để kế
chí người trước. Hiền-hòa để trị dân; khoan-nhân mà thương người.
Gần, xa đều đem lòng phục, càng ngày càng mến, theo dần. Bèn có đến hơn
nghìn người dân. Bà là Nguyễn thị Khoác, giữ nhà bằng cách siêng-năng,
tần-tiện, tính-nết rất hiền. Trong chốn buồng the, giúp-đỡ ông được
nhiều việc lắm. Sinh hai con: trưởng là Tòng, thứ là Khoáng. Khoáng tức
là đức Hoàng-Khảo sinh ra Nhà-vua. Tính ngài hoà-nhã, hiền-lành,
vui-vẻ, thích làm việc thiện. Chiều-đãi khách-khứa, yêu-thương nhân
dân. Phàm kẻ đói-khó, túng-thiếu, ốm-đau, chết-chóc, tất là Ngài có
chu-cấp giúp-đỡ.
Những dân ở hạt láng-giềng, coi cũng như người một nhà. Vì thế mọi
người không ai là không cảm Ngài về ơn-đức mà phục Ngài về nghĩa-khí.
Bà là Trịnh-thị Ngọc Thương, lại chăm-chỉ về đạo đàn-bà: thờ cha, mẹ
hết lòng hiếu-kính; đãi họ hàng có ơn; dạy con, cháu, lấy lễ. Buồng the
hòa-thuận, đạo nhà ngày một thịnh thêm. Sinh ba con trai: trưởng là
Học, thứ là Trừ, út tức là Nhà-vua. Học nối nghiệp ông cha truyền lại,
chẳng may ngắn số.
Nhà vua kế nghiệp cha, anh, không dám để sa-sút; suy-nghĩ sâu-sắc, sao
cho nối chí, noi việc, trọn được đạo thường! Lúc sinh Nhà-vua có
ánh-sáng đỏ đầy nhà, mùi hương đầy xóm. Lúc nhỏ, tinh-thần và vẻ người
coi rất mạnh-mẽ, nghiêm-trang; mắt sáng; miệng rộng; mũi cao; mặt
vuông; vai trái có bảy nốt-ruồi; đi như rồng; bước như hổ, tóc, lông
đầy người, tiếng vang như chuông; ngồi như hùm ngồi! Kẻ thức-giả biết
là bậc người cực sang!
Kịp khi lớn, thông-minh, khôn, khỏe, vượt hẳn bọn tầm-thường; làm
Phụ-đạo làng Khả-lam. Khi ấy Hồ Quý Ly cướp nhà Trần, lấn ngôi vua, đổi
hiệu nước là "Đại Ngu". Lại làm nhiều điều lầm-lỡ về chính-trị, mấy lần
để thiếu các đồ cống.
Năm Giáp-ngọ (1414), thứ mười-hai hiệu Vĩnh-lạc (niên-hiệu của vua
Thành-tổ nhà Minh), vua Minh sai bọn Trương Phụ, Mộc Thạnh, Trần Trí,
Sơn Thọ, Mã Kỳ, Lý Bân, Phương Chính qua cửa ải lấn chiếm nước ta.
Nhà-vua tuy gặp đời rối-loạn, mà chí giữ càng bền; lẩn dấu ở núi rừng
làm nghề cày cấy; tự mình vui với Kinh, Sử, nhất là càng chuyên tâm về
các sách Thao Lược; hậu-đãi các tân khách; chiêu-nạp kẻ trốn, kẻ làm
phản; ngầm nuôi ác kẻ mưu-trí; bỏ của, phát thóc để giúp cho kẻ
côi-cút, nghèo-nàn; hậu lễ, nhún lời, để thu bọn anh-hùng hào-kiệt; đều
đợc lòng vui-vẻ của họ.
Từ đó tướng giặc ngày càng kiêu-kỳ, thế giặc ngày càng rông-rỡ! Giam,
giết kẻ trung-lương; hành-hại bọn côi-cút. Trong nước than-phiền,
nhân-dân không sao sống nổi! Chính-lệnh ngặt-nghèo, hình-phạt tàn-ác,
không cái gì là chúng không làm. Cấm muối, mắm, để cho dân thiếu ăn;
năng sưu-thuế để cho dân hết của! Lặn bể tìm nọc, khoét núi lấy vàng.
Ngà voi, sừng tê, gỗ thơm, lông trả, ...
Phàm ta có bao nhiêu sản-vật, chúng tất hết sức lùng tìm, không cái gì
là bỏ sót, để cho đầy ham muốn, túi tham. Phàm ta có bao nhiêu
nhân-dân, chúng tất kiếm phương lừa-dối, đem dời đi nơi xa, để cho hả
lòng lang, dạ thú! Lại đắp hơn mười tòa thành, chia quân đóng giữ, để
trấn-áp lòng người. Khiến cho những trang mưu-trí của ta, cất tay, động
chân không được!
Lại khéo định ra danh-mục, bắt hiếp phải làm quan, giả-vờ cho vào chầu,
để ở luôn đất Bắc! Chỉ có Nhà-vua bền giữ lòng xưa, không bị quan-tước
dỗ-dành; không chịu oai-thế hà-hiếp. Tuy giặc có khéo-léo, khôn-ngoan
nhiều ách, mà tráng-chí của Nhà-vua, trước sau vẫn chẳng chịu chùng!
Thế nhưng trong khi thế giặc còn mạnh, chưa dễ đánh được nào. Nhà-vua
thường hậu lễ, nhún lời, đem nhiều vàng, bạc, của báu, đút lót cho các
tướng giặc là bọn Trương Phụ, Trần Trí, Sơn Thọ, Mã Kỳ; mong thư bớt
tấm lòng hãm-hại Nhà-vua; để Nhà-vua được đợi thời, lừa dịp.
Đảng của giặc là Lương Nhữ Hốt bàn với bọn giặc, nói rằng:
Chúa Lam-sơn chiêu vong, nạp bạn, đãi quân-lính rất hậu, chí nó chẳng nhỏ.
"Nếu thuồng-luồng gặp được mây-mưa, thì tất không phải là vật ở trong
ao đâu!". Nên sớm trừ đi, đừng để sau sinh vạ! Năm Mậu-tuất (1418) khi
ấy Nhà-vua ba mươi ba tuổi, khởi quân-nghĩa ở Lam-sơn. Ngày mồng-chín
tháng giêng, bị giặc vây bức, bèn lui về đóng ở Lạc-thủy, đặt quân phục
để đợi.
Ngày mười-ba, giặc kéo quân đến đông. Nhà-vua tung cả quân phục ra,
xông đánh quân giặc. Cháu Nhà-vua là Lê Thạch, cùng bọn Đinh Bồ, Lê
Ngân, Lê Lý, đánh hãm vào trận giặc trước, chém được hơn ba nghìn đầu.
Quân-lương, khí-giới, cũng bắt được kể nghìn ! Ngày mười-sáu, có tên
bầy-tôi làm phản, tên là Ái (người trại Nguyệt-ấn), cùng với Đỗ Phú dẫn
quân Minh đào lấy tiểu đựng hài-cốt ở xứ Phật-hoàng, treo ở sau thuyền,
hẹn Nhà-vua phải ra hàng.
Nhà-vua sai Trịnh Khả, Lê Bí (người thôn Hắc-lương), hai người, đội cỏ,
bơi xuồng đến bến thôn Thượng-rao-xá, rình giặc ngủ say, lên thuyền ăn
trộm được tiểu xương đem về trình Nhà-vua. Nhà-vua mừng rỡ, trọng
thưởng hai người, rồi rước về xứ Phật-hoàng, lại táng y theo chỗ cũ.
Hôm sau bị tên Ái dẫn lối, đem giặc Ngô đánh úp quân Nhà-vua, bắt được
vợ, con, cùng người nhà của Nhà-vua rất nhiều! Quân của Nhà-vua không
còn lòng hăng-hái muốn đánh, thật là cùng-khốn ngặt-nghèo!
May nhờ có các bậc trung-thần là bọn Lê Lễ, Lê Vấn, Lê Bí, Lê Xí, Lê
Đạp, theo Nhà-vua lẩn-lút vào trong núi Chí-linh. Tuyệt lương hai tháng
trời! Đợi khi giặc đem quân lui, mới lại về đắp lũy ở quê cũ là
Lam-sơn. Nhà-vua thu lại tàn quân, chỉ chừng hơn trăm người! Lại đem
quân Mường ở Lam-sơn, trai, gái, khiêng gánh lương-thực. Ra vào nơi
hiểm-hóc; phủ-dụ các quân-lính; ước-thúc lại cơ đội, sửa-sang lại
khí-giới.
Quân lính cảm-khích, thề không cùng sống với quân giặc! Nhà-vua biết
quân-lính ấy có thể dùng được, bèn sai bọn binh lanh-lẹ ra khiêu chiến
trước. Giặc cậy mạnh, vào cả đất hiểm để bức Nhà-vua. Nhà-vua đặt quân
phục ở xứ Vấn-mang, dùng tên thuốc bắn hai bên, giặc mới tan chạy.
Nhà-vua lại tiến quân đến xứ Ninh-mang, ngày đêm xông đánh, quân giặc
lại bị thiệt-hại. Giặc lui giữ xã Bả-lạc-thượng.
Nhà-vua lại tiến quân tới trại Hà-đả, hằng ngày khiêu-chiến. Giặc ở
vững trong trại không ra. Hôm sau, giặc lại giao-chiến với Nhà-vua ở xứ
Mỹ-mỹ. Bắt được tướng chỉ-huy của giặc là Nguyễn Sao, và chém được hơn
nghìn đầu. Khi ấy quân ta chỉ mới được nhỏ, mà thế giặc đương mạnh,
Nhà-vua bèn vời các tướng mà bảo rằng: - Ai có thể thay mặc áo vàng của
Trẫm, lĩnh năm trăm quân, hai thớt voi, đánh vào thành Tây-đô. Thấy giặc ra đối-địch, thì tự xưng tên: "Ta là chúa Lam-sơn đây!". Để
cho giặc bắt? Cho ta được náu mình, nghỉ binh, thu-họp cả quân-sĩ, để
mưu tính việc về sau! Các tướng đều không dám nhận lời. Chỉ có Lê Lai
thưa rằng: - Tôi bằng lòng xin thay mặc áo Nhà-vua. Ngày sau Bệ-Hạ gây
nên Đế-nghiệp, có được thiên-hạ, thương đến công tôi, cho con-cháu muôn
đời được chịu ơn nước. Đó là điều tôi mong mỏi!
Nhà-vua lạy Trời mà khấn rằng: - Lê Lai có công thay đổi áo. Sau này
trẫm cùng con-cháu, và các tướng-tá, hay con-cháu các công-thần, nếu
không thương đến công ấy, thì xin đền-đài hóa ra rừng núi; ấn-vàng hóa
ra đồng sắt; gươm thần hóa ra đao-binh! Nhà-vua khấn xong, Lê Lai liền
đem quân đến cửa trại giặc khiêu-chiến.
Giặc cậy quân mạnh xông đánh. Lê Lai cưỡi ngựa, phi vào giữa trận giặc,
nói rằng: - Ta đây là chúa Lam-sơn! Giặc bèn xúm lại vây, bắt lấy đem
về trong thành, xử bằng hình-phạt cực ác, ra hẳn ngoài những tội thường
làm! Năm Kỷ-hợi, (1419), Nhà-vua ở Lam-sơn, cùng các tướng tá, tu-tạo
thành-lũy, chữa-sửa khí-giới, phủ-dụ và chu-cấp các quân-sĩ, nuôi oai
chứa mạnh, chưa rỗi đến việc chiến đấu.
Năm Canh-tý, (1420) năm ấy giặc Minh lại đem thật đông quân đến.
Nhà-vua liệu giờ Mùi chúng tất đến bến Bổng. Nhà-vua đặt trước quân
phục để đợi. Giờ Mùi, quả-nhiên quân giặc tới đông, quân phục bốn mặt
nổi dậy. Bọn giặc vỡ to. Quân ta chém đầu không biết bao nhiêu mà kể,
bắt được hơn trăm con ngựa. Các khí-giới của giặc, nhất thời bị đốt
hết. Cùng năm ấy, giặc nước ta tên là Cầm Lạn, dẫn đường cho các tướng
Minh là bọn Lý Bân, Phương Chính, đem hơn mười vạn quân, từ địa-phương
của Cầm Lạn, tiến thẳng vào Thôi-mang, để đánh Nhà-vua.
Nhà-vua trước hết sai bọn Lê Triệu, Lê Lý, Lê Vấn, đem vài trăm người,
mai-phục ở xứ Bồ-mộng để đợi. Giặc đến, quân phục đều nổi dậy. Quân
giặc vỡ to. Quân ta chém được hơn ba trăm đầu. Giặc cậy quân còn mạnh,
tiến sát đến dinh Nhà-vua. Nhà-vua trước hết chia quân ra mai-phục ở
những chỗ hiểm-yếu.
Ngày mai giặc đến, Nhà-vua tung quân ra đánh, cả phá ở xứ Bồ-thi-lang,
chém hơn nghìn đầu. Bọn Lý Bân, Phương Chính, chỉ chạy thoát được thân!
Quân ta thừa thắng xô đuổi, luôn sáu ngày đêm mới trở về. Nhà-vua lại
tiến quân đóng ở trại Ba-lẫm thuộc Lỗi-giang, trêu giặc ra đánh. Giặc
không dám ra! Tướng giặc là bọn Tạ Phượng, Hoàng Thành, lui đóng đồn ở
Nga-lạc.
Rồi về giữ Quan-du và thành Tây-đô, đóng bền ở trong trại không chịu
ra! Nhà-vua ngày đêm tìm nhiều cách xông đánh để quấy rối và làm mệt
quân giặc. Lại chia quân sai bọn Lê Hào, Lê Sát, tiến đánh trại
Quan-du, cả phá được giặc, chém hơn nghìn đầu, bắt được khí-giới của
giặc rất nhiều. Từ đó thế giặc ngày một suy. Nhà-vua bèn chiêu phủ
nhân-dân ở các miền trong nước, không đâu là không hưởng ứng. Cùng nhau
góp sức, tiến đánh các đồn, đốt phá các dinh, trại.
Năm Tân-Sửu (1421), ngày hai-mươi tháng mười một, tướng giặc là bọn
Trần Trí, đem quân giặc cùng đảng giặc người bản-thổ, tất cả hơn mười
vạn, lại tiến đến sát đánh Nhà-vua ở ải Kinh-lộng, trại Ba-lẫm. Nhà-vua
hội các tướng bàn rằng: - Nó đông, ta ít: nó mỏi-mệt, ta nhàn-hạ.
Binh-pháp dạy rằng: "Được, thua quan-hệ ở tướng, chứ không do ở ít hay
nhiều". Quân nó dù đông, nhưng ta đem quân nhàn-hạ để đón quân mỏi-mệt,
thì quyết là phá được!
Bèn đêm chia quân ra đánh úp trại giặc. Thúc trống, hò reo, cùng tiến
sát đánh vào trại giặc, chém được hơn nghìn đầu. Quân-lương, khí-giới,
bắt được rất nhiều! Sau giặc biết ta ít quân, hơi có ý coi thường ta.
Lại mở đường núi tiến vào. Nhà-vua ngầm phục quân ở ải Úng là nơi
hiểm-trở để đợi chúng.
Giờ ngọ, quân giặc từ đường núi kéo ra, Nhà-vua tung quân đánh giáp hai
bên, quân giặc quả-nhiên thua lớn. Nguyên xưa Nhà-vua giao-hảo với
Ai-lao không hề có điều gì xích-mích. Nhưng bị tên Lộ văn Luật, làm
quan với giặc, trốn sang nước ấy, du-thuyết để làm kế phản-gián.
Vì thế nước Lào hiềm-khích với Nhà-vua. Khi ấy Nhà-vua cầm cự với giặc
Ngô, được thua chưa quyết. Kịp khi giặc thua chạy, Ai-lao liền đem vài
vạn quân, một trăm thớt voi, thình lình đến trại ta, giả-vờ sang giúp
ta; nói phao lên rằng cùng ta góp sức đánh giặc. Nhà-vua thật bụng tin
người, không ngờ-vực gì khác. Nào dè nó mặt người dạ thú, nghe mưu-gian
của Lộ văn Luật, đêm đánh úp trại ta.
Nhà-vua thân ra đốc chiến, tự giờ Tý đến giờ Mão. Quân-lính đua sức
tranh nhau tiến trước, cả phá được chúng, chém hơn vạn đầu; bắt được
voi mười bốn thớt; quân-lương, khí-giới, lấy vạn mà kể! Thừa thắng đuổi
theo, đi luôn bốn ngày đêm, tới thẳng nơi sào-huyệt của chúng. Viên
tù-trưởng của chúng tên là Bồ Sát vờ xin giảng-hòa, nhưng thực thì muốn
cố-gắng giằng-giai, để đợi viện-binh.
Nhà-vua đoán biết mưu gian không cho. Nhưng các tướng cố nài, cho là
quân-lính mỏi-mệt lâu ngày, hãy nên tạm nghỉ ngơi. Chỉ có con người anh
con bác của Nhà-vua là Lê Thạch, một mình hăng hái xông đánh, không
đoái-hoài chi cả, lỡ dẫm phải chông mà mất! Thạch sức khỏe hơn người,
tính trời nhân-ái. Lại rất ham học và khéo nuôi dạy quân-lính.
Nhà-vua rất đem lòng yêu. Vả chăng người bác xưa từng nuôi Nhà-vua làm
con, nên Nhà-vua yêu Thạch còn hơn con mình. Cất riêng làm tướng
Tiên-phong. Đánh đâu được đấy! Chỉ đáng tiếc là "có khỏe nhưng ít có
mưu" mà thôi! Năm Nhâm-dần (1422) ngày hai-mươi-bốn tháng chạp, giặc
Ngô lại cùng Ai-lao hẹn nhau, bên trước mặt, bên sau lưng, chẹt đánh
Nhà-vua ở trại Da-quan. Quân ta đánh luôn, nhiều người bị thương, hơi
có thiệt hại. Bèn ngầm rút về trại Khối, yên-ủi lính-tráng, sửa-chữa
khí-giới, để đợi quân giặc.
Vừa được bảy ngày quả-nhiên giặc kéo đến. Nhà-vua bảo các tướng-sĩ
rằng: - Giặc tới vây ta bốn mặt, muốn chạy thì chạy đi đâu! Đây tức là
nơi mà binh-pháp gọi là "đất chết". Đánh mau thì còn! Không đánh mau
thì mất! Nói rồi sa nước mắt. Các tướng-sĩ đều cảm-khích thi nhau liều
chết đánh giặc. Bọn Lê Lĩnh, Lê Vấn, Lê Hào, Lê Triện, chính mình xông
vào trận trước, bắt được tướng giặc là Phùng Quý.
Quân giặc thua lớn. Mã Kỳ, Trần Trí chỉ chạy thoát được thân! Ta chém
được hơn nghìn đầu, bắt được hơn trăm ngựa. Thế rồi Nhà-vua lại thu
quân về núi Chí-linh. Quân-lính thiếu-lương ăn đến hơn hai tháng, chỉ
đào củ, đẵn măng, hái rau để ăn mà thôi! Nhà-vua giết bốn thớt voi,
cùng ngựa của mình cưỡi, để cho quân-lính ăn. Nhưng thường thường vẫn
có kẻ trốn đi! Nhà-vua liền ra lệnh bó-buộc thật ngặt; bắt được viên
tướng trốn đi tên là Khanh, liền chém đầu đem rao.
Các tướng lại nghiêm-trang như cũ. Khi ấy gặp luôn những việc gian-nan,
quân-sĩ mỏi-mệt, muốn được nghỉ-ngơi, đều khuyên Nhà-vua nên hòa với
giặc. Nhà-vua cực chẳng-đã, bèn giả-vờ hòa-hảo, cho sứ đi lại với tướng
giặc là bọn Sơn Thọ, Mã Kỳ. Mà giặc bị ta đánh thua luôn, ý cũng muốn
lấy mưu dụ Nhà-vua. Nhà-vua cũng nhân nó muốn dụ mình, định hãy cho
quân-sĩ nghỉ-ngơi, đặng đợi thời mà làm việc. Năm Quý-Mão (1423), tháng
tư, ngày mồng mười, Nhà-vua lại đem quân về Lam-sơn.
Giặc biết ý Nhà-vua: bề ngoài giả-vờ hòa-thân mà bên trong có bụng muốn
đánh-úp; từ đó tuyệt đường đi lại, hai bên không có tin-tức, sai sứ
sang nhau nữa. Binh-tình bên giặc nôn-nao, ngày đêm sợ-hãi. Nhà-vua dò
biết chuyện ấy. Khi ấy có cháu ngoại của họ Trần, tên là Cầm Quý, lánh
họ Hồ, trốn vào rừng núi, xưng láo là dòng dõi vua Trần. Nhà-vua bèn
đón về dựng làm vua, lấy hiệu là Thiên-khánh. Nhà-vua đánh-chọi với
giặc, cay-đắng, khó-khăn.
Đến khi Thiên-hạ sắp yên, chỉ có Đông-kinh là chưa hàng, bấy giờ
Thiên-khánh ở thành Cổ-lộng. Nhà-vua ủy cho con trai của Tư-quận-công
Lê Lãng là Lê-Ngang, giữa thành và túc-trực.
Thiên-khánh thấy Nhà-vua dẹp yên giặc Ngô, rất là sợ-hãi, bèn trốn vào Nghệ-an. Lê Ngang đuổi theo bắt được đem về.
Nhà-vua hỏi rằng:
- Đã được lập lên làm vua, cớ sao lại sinh lòng kia khác mà đi trốn?
Thưa rằng:
- Quả-nhân không có công gì! Tướng-quân thì công trùm cả thiên-hạ! Ai
là người trồng được cây để cho kẻ khác ăn sẵn quả? Nên sợ chết mà trốn,
chứ không có ý gì khác! Nay xin cho được toàn thân mà chết!
Nhà-vua thấy nói thế còn chưa nỡ! Các quan nói: - "Trời không hai mặt
trời! Nước không hai vua!". Bèn cho hắn được tự thắt cổ. Năm Giáp-thìn
(1424) ngày hai-mươi tháng chín, Nhà-vua chia quân đánh úp thành
Đa-căng, phá được thành.
Quân giặc bị chém đầu và chết đuối có hơn nghìn người. Viên Tham-chính
của giặc là Lương Nhữ Hốt chỉ chạy thoát được thân. Ta bắt được
lương-thực, khí-giới không biết bao nhiêu mà kể. Trại, lũy của giặc, bị
đốt cháy hết! Chốc lát, tướng giặc là Hoa Ánh lại đem quân đến cứu.
Nhà-vua thừa thắng đánh tràn, giặc lại thua to, chạy vào thành Tây-đô.
Phàm vợ, con của giặc bị bắt, không nỡ giết hại một người nào, đều thả
về tất cả. Rồi đó kén-lựa trai tráng, sắm-sửa khí-giới, chỉnh-tề voi,
ngựa, tiến thẳng vào Châu Trà-long, (tức phủ Trà-lân ngày nay) thuộc
thành Nghệ-an.
Gần tới xứ Bồ-lạp, thình-lình gặp tướng giặc là Sư Hựu, cùng bọn làm
quan với giặc là Cầm Bành Cầm Lạn, lĩnh hơn năm nghìn người, đón chẹn
lối trớc mặt.
Lại có bọn tướng-giặc là lũ Trần Trí, Phương Chính, Sái Phúc, Lý An,
đem quân tiến sát phía sau. Quân ta trước bụng, sau lưng, đều bị có
giặc. Mặt trời lại sắp chiều. Nhà-vua bèn dàn quân, dàn voi để đợi.
Trong chốc lát, quân giặc quả tới nơi. Nhà-vua tung quân-phục ra xông
đánh. Quân của bọn Phương Chính vỡ to. Ta chém hơn nghìn đầu, và bắt
được hơn trăm ngựa.
Ngày mai, Nhà-vua lại đem voi và quân-lính xông thẳng vào trại của bọn
Sư Hựu. Quân giặc lại thua to. Ta chém hơn nghìn đầu. Quân-lương,
khí-giới, đốt cháy không còn sót. Khi ấy bọn Cầm Bành là trùm-trưởng
của giặc, đóng giữ đất ấy, không chịu hàng-phục.
Nhà-vua chiêu-dụ nhân-dân trong miền, khiến trở lại nghiệp xưa. Ai nấy
đều mừng được yên thân, đem lòng cảm-khích, hăng-hái giúp Nhà-vua hết
sức vây Cầm Bành. Hơn hai tháng, Cầm Bành giữ bền ở trong núi, để đợi
quân cứu-viện của giặc. Nhưng giặc hất-hải, ngờ-sợ, vẫn không dám tiến.
Quân của Bành oán mà làm phản, kế nhau đến hàng. Bành tự xét mưu-chước
đã cùn, viện-binh đã tuyệt, liền mở cửa trại ra hàng.
Nhà-vua ra lệnh với trong quân rằng: - Tướng giặc đã hàng, mảy-may cũng
không được xâm-phạm. Bất cứ tội to, tội nhỏ, đều xá cho hết! Về sau Cầm
Bành lại sinh lòng khác, đêm trộm quân trốn đi. Nhà-vua sai người đón
đường bắt được liền xử chém! Thế là dẹp được châu Trà-long. Nhà-vua bèn
ủy-lạo các tù-trưởng, phủ-dụ các nhân dân. Ai nấy đều cám ơn đội đức,
xin ra sức lập công. Bèn biên-soát các tay trẻ khỏe, thu vào trong quân
ngũ, được hơn năm nghìn người.
Khoảng niên-hiệu Hồng-hy bên nước Minh, giặc lại cùng với các Nội-quan
(quan Hoạn được cắt đi giám-quân) là lũ Sơn Thọ đem lời quỷ-quyệt, để
dỗ-dành Nhà-vua. Nhà-vua đã biết trước ý ấy, liền nói: - Giặc sai lừa
ta, ta phải nhân khoé của bên địch mà dùng nó! Bèn cho sứ đi lại, dò
xét tình-hình quân giặc, để mưu đánh úp thành Nghệ-an. Giặc biết mưu
ấy, bèn không đi lại nữa.
Thế là Nhà-vua liền chỉnh-đốn thật nhiều ngựa, voi, quân-lính, tiến cả
về mặt thủy, lẫn mặt bộ, đánh úp thành Nghệ-an. Quân sắp đi, xẩy có tin
báo: giặc đã đem khá nhiều voi, ngựa, thuyền-bè; mặt thủy, mặt bộ đều
tới. Nhà-vua hội các tướng bàn rằng: - Quân địch đông, quân ta ít, đem
ít đánh đông chỉ ở những đất hiểm là có thể lập được công. Vả chăng
binh-pháp nói: "Nhử người tới, chứ không để người dữ tới".
Bên chia hơn nghìn quân, sai bọn Lê Liệt theo đường tắt giữ huyện
Đỗ-gia, cướp thế tranh tiên của giặc. Còn Nhà-vua thì chính mình cầm
đại-quân, đóng giữ vào nơi hiểm-trở để đợi. Chừng ba, bốn ngày, giặc
đem hết cả quân, mặt thủy, mặt bộ đều tới ải Khá-lưu, đắp lũy, đóng
trại, ở miệt dưới. Nhà-vua ở miệt trên, dương cờ, đánh trống, đêm thì
đốt lửa. Lại ngầm sai quân tinh-nhuệ và bốn thớt voi, qua sông phục nơi
hiểm-yếu.
Trời sắp sáng, giặc bèn dẫn quân, trên cạn, dưới sông đều tiến, để đánh
dinh-trại của Nhà-vua. Nhà-vua giả vờ lui, nhử giặc vào chỗ có quân
phục. Giặc không ngờ, đem hết quân vào sâu. Quân phục bốn mặt nổi lên,
xông đánh, cả phá được trận giặc. Giặc bị chém đầu và chết đuối lấy vạn
mà kể. Thế rồi giặc tựa núi, đắp lũy để ở, không lại ra đánh nữa. Khi
ấy lương giặc khá nhiều, mà quân ta không đủ ăn lấy mười ngày. Nhà-vua
liền bảo các tướng-sĩ rằng:
- Quân giặc nhiều lương, đắp lũy để làm kế lâu dài. Quân ta ít lương
không thể giữ giằng-giai được với nó. Bèn đốt hết dinh, trại, nhà-cửa,
vờ trốn lên miệt trên. Và đi ngầm đường tắt, đợi giặc đến thì đánh.
Giặc cho là ta đã chạy, bèn đem quân lên đóng vào dinh-trại cũ của ta,
lên núi đắp lũy. Hôm sau Nhà-vua thân đem quân lanh-lẹ ra trêu đánh.
Giặc kéo ra ngoài lũy giao chiến.
Nhà-vua đêm kén quân tinh-nhuệ, phục ở chỗ hiểm. Giặc lại không ngờ,
đem hết cả quân ra, Nhà-vua liền tung quân xông phá trận giặc. Bọn Lê
Sát, Lê Vấn, Lê Bí, Lê Lễ, Lê nhân Chú, Lê Ngân, Lê Chiến, Lê tông
Kiều, Lê Khôi, Lê Bôi, Lê văn An, đều thi nhau hãm trận.
Giặc vỡ to thua chạy, bị chém đầu không thể đếm xiết. Thuyền giặc trôi
nghiêng, thây chết đuối tắc cả dòng sông. Khí-giới vất đầy ra giữa núi.
Bắt sống được tướng giặc là Chu Kiệt, chém được Tiên-phong của giặc là
Hoàng Thành. Trói được quân giặc hơn nghìn người. Thừa thắng đuổi dài,
ba ngày đêm, thẳng tới thành Nghệ-an. Giặc vào trong thành, đắp thêm
lũy, cố giữ. Quyển 2 Năm Ất-tỵ (1425), ngày hai mươi-lăm tháng giêng, Nhà-vua tới Nghệ-an, ra lệnh cho các tướng rằng:
- Dân ta khổ với quân nghịch-tặc đã lâu. Phàm đến châu, huyện nào, tơ
hào không được xâm phạm. Nhân-dân không ai không mừng-rỡ, thi nhau đem
trâu, rượu, đón khao, để giúp vào việc dùng trong quân.
Nhà-vua bèn đem chia cho các tướng cùng lính-tráng. Ai nấy đều
nhảy-nhót, xin đem sức liều chết. Thế rồi Nhà-vua tiến vào Nghệ-an.
Trong khoảng một tuần, quân-lính họp đủ, cùng nhau góp sức. Tới thành
cửa sông Hưng-nguyên, chỗ ấy có đền thờ thần, (tục gọi là thần Quả).
Nhà-vua đêm chiêm bao thấy thần-nhân nói với Nhà-vua rằng: "Xin một
người vợ lẻ của Tướng-quân sẽ xin phù-hộ Tướng-quân, đánh được giặc
Ngô, để gây nên nghiệp Đế". Ngày mai Nhà-vua vời các vợ lẻ đến hỏi rằng:
- Ai chịu làm vợ lẻ cho Thần? Ta được Thiên-hạ sẽ truyền cho con làm Thiên-tử!
Khi ấy mẹ vua Thái-tông húy là Trần thị Ngọc Trần, quỳ xuống nói với Nhà-vua rằng:
- Túc hạ giữ đúng lời giao-ước, thiếp xin chịu nhận việc ấy. Ngày sau chớ phụ con thiếp.
Nhà-vua giao-ước với các quan văn, võ, y như lời ấy. Ngày 24 tháng ba,
Nhà-vua giao Ngọc Trần cho thần Phổ Hộ bắt lấy, chết ngay trước mắt!
Đến khi bình giặc Ngô, Nhà-vua lên ngôi, nói rằng: "Ta là chúa Bách Thần!".
Sai người động Nhân-trầm là Lê Cố đem hài-cốt về đến xã Thịnh-mỹ. Chiều
đến chưa kịp qua sông, ngủ ở nơi chợ! Một đêm mối đùn thành đống đất,
lấp lên huyệt thành mộ.
Sứ-giả thấy điềm lạ về tâu. Nhà-vua nói:
- Thần-nhân đã y lời hẹn! Liền truyền ở lại nơi ấy, lập điện Hiển-nhân
để phụng thờ. Ấy là đức Cung-từ Hoàng Thái Hậu. Nhà-vua vây thành
Nghệ-an.
Giặc giữ bền trong trại, không dám ra nữa. Thế là đất toàn hạt Nghệ-an
là của ta có hết! Nhà-vua huấn-luyện tướng-sĩ, sửa-sang khí-giới chưa
đầy mười ngày, chiến-cụ đã đầy đủ.
Ngày rằm tháng tư năm ấy, tướng giặc là Lý An lại đem quân thủy từ
Đông-đô tới cứu-viện. Nhà vua đoán thế giặc đã cùn-quẫn, hằng ngày đợi
viện binh tới, tất nhiên là mở cửa trại ra đánh. Bèn phục quân ở bờ
sông, đợi quân giặc nửa sang sông thì đổ ra đánh.
Đến ngày hai-mươi-bảy, quân giặc quả-nhiên đại-đội kéo ra, đánh trại Lê
Thiệt. Quân phục của Nhà-vua đổ ra đánh cho vỡ to! Chém hơn nghìn đầu.
Quân chết đuối rất nhiều.
Từ đó giặc càng sợ-hãi, lại đắp thêm lũy, họp sức chống giữ. Nhà-vua nói:
- Quân giặc đến hết cả để cứu Nghệ-an. Các nơi tất là trống rỗng.
Nhà-vua bèn kén hai nghìn tinh-binh, hai thớt voi, sai cháu ngoại là
bọn Lê Lễ, Lê Sát, Lê Bị, Lê Triện, Lê nhân Trú, đi suốt ngày đêm, đánh
úp thành Tây-đô (Thanh-hóa). Giặc đóng cửa thành chống giữ. Quân ta
đánh cho vỡ, bắt được đảng giặc rất nhiều, chém hơn năm trăm đầu. Phàm
những dân ở gần thành giặc, tơ-hào không xâm-phạm.
Từ đó dân cả một lộ Thanh-hóa, cùng thân-thuộc, bạn cũ của Nhà-vua, đều
tranh nhau tới cửa trại quân, xin liều mình ra sức, để mưu việc báo
đền. Chưa đầy ba ngày, bộ ngũ đã sắp xong cả, bèn vây thành Tây-đô. Lê
Lễ, Lê Triện vỗ về, yên-ủi nhân-dân, dạy-dỗ, luyện-tập quân-sĩ, để tính
việc tiến đánh.
Khi ấy thành giặc ở mấy nơi Thuận-hóa, Tân-bình, cùng với Nghệ-an, Đông-đô, tin tức cắt đứt đã lâu. Nhà-vua bảo các tướng rằng:
- Các bậc tướng giỏi đời xưa, bỏ chỗ vững, đánh chỗ núng; lánh chỗ thực, công chỗ hư.
Như vậy thì dùng sức có nửa mà được công gấp đôi. Bèn sai bọn Lê Nỗ, Lê
Bồ lĩnh hơn nghìn binh, một thớt voi, ra đánh các thành Tân-bình,
Thuậnhóa, và chiêu-mộ nhân-dân.
Đến Bá chính gặp giặc, bèn dẫn quân vào chỗ hiểm mai-phục. Khi giặc đến
sát quân ta, Lê Nỗ đem một thớt voi, cùng các quân khoẻ-mạnh, xông đánh
trận giặc. Giặc bị chém đầu và chết đuối hơn nghìn người. Nhà-vua sai
bọn Lê Triện, Lê Bôi, Lê văn An, đem bảy chục chiếc thuyền, vượt bể
quấy thẳng vào sào-huyệt của quân giặc.
Kịp khi được tin quân nỗ, bèn thừa thắng cả phá được các nơi. Tân-bình,
Thuận-hóa, hết thảy thuộc về ta cả. Vả chăng Tân-bình, Thuận-hóa, là
nơi tâm-phúc của ta. Đã được đất ấy rồi, tất không còn mối lo nội-cố.
Khi ấy quân giặc tuy chưa diệt hết, nhưng quân ta thanh-thế ngày càng
to, lòng người ngày càng vững. Nhà-vua liệu chừng tinh-binh của giặc ở
hết cả Nghệ-an, còn các thành Đông-đô, đều đã trống rỗng, yếu-đuối hết
thảy, bèn thêm voi, ngựa, quân-lính, sai bọn Lê Triện, Lê Khả, Lê Bí,
lĩnh hơn hai nghìn người, ra các lộ Thiên-quan, Quốc-oai, Gia-hưng,
Lâm-thao, Tam-đái, Tuyên-quang, cướp lấy đất cát, thu-phục nhân-dân, để
tuyệt lối quân cứu-viện ở Vân-nam sang.
Lại sai bọn Lê Bị, Lê nhân Chú, lĩnh hơn hai nghìn binh, ra các phủ
Thiên-quan, Thiên-trường, Kiến-hưng, Kiến-xương, để chẹn đứt đường về
của Phương Chính, Lý An.
Đã chiếm được các đất ấy rồi, bèn chia quân đóng giữ. Lại sai Lê Bị, Lê
nhân Chú, lĩnh hơn ba nghìn quân Thanh-hóa, cùng hai thớt voi, ra các
lộ Khoái-châu, Thượng-hồng, Hạ-hồng, Bắc-giang,Lạng-sơn, để ngăn đứt
quân cứu viện ở Ôn-khâu. Lại kén hai ngàn tinh-quân, sai quan Tư-không
là Lê Lễ, Lê Xý, đem quân tiến đánh Đông-đô, để phô trương thanh-thế.
Quân ta tiến đến đâu, mảy may không hề xâm phạm.
Vì thế các Lộ ở Đông-kinh, cùng các nơi phiên trấn, không ai là không
vui mừng, tranh nhau đem trâu, rượu, lương-thực để khao các tướng-sĩ.
Khi ấy bọn Lê Triện, Lê Khả, Lê Bí, thường đem quân đi lại, tiến sát
thành giặc.
Nhưng người ta còn sợ giặc, chưa quy-phục hết. Năm Bính-ngọ (1426),
ngày hai-mươi tháng tám, giặc cậy thế khỏe, cất quân đến đánh. Bọn
Triện, Bí đặt quân phục, đánh riết ở Ninh-kiều, cả phá được quân giặc,
thừa thắng đuổi theo đến thôn Nhân-mục (tức làng Mọc thuộc tỉnh Hà-đông
ngày nay).
Trong khoảng vài chục dặm, xác chết chồng lên nhau! Từ đó giặc không
dám ra nữa. Giặc tự liệu thế ngày cùn-quẫn, viện binh lại không đến,
bèn đưa "ống thiếc" (?) cáo cấp với Nghệ-an.
Ngày hai-mươi-sáu tháng chín, bọn Phương Chính, Lý An, bỏ thành Nghệ-an
mà về, chỉ để lại Sài Phúc, đóng cửa trại cố chết chống giữ. Bọn An,
Chính lật đật không lên được trên bờ, tự cưỡi thuyền xuống bể, đêm trốn.
Bọn Lê Khả nghe tin giặc tới, từ Ninh-kiều gấp đường mà tiến, gặp giặc
ở cầu Luội (?) đón đánh cho quân giặc thua to, bị chém hơn nghìn đầu,
và chết đuối rất đông. Còn tàn quân đem nhau chạy vào thành Tam giang. Sau đó tướng giặc là Vương Thông, lại từ Ôn-khâu tiếp đến. Mới trong
năm ngày, đem đại quân hợp với hơn mười vạn quân của hai Nội-quan Trấn
thủ là Sơn Thọ, Mã Kỳ cùng lũ Phương Chính, Lý Lượng. Trần Hiệp, mặt
thủy, mặt bộ đều tiến, đánh Lê Triện, Lê Bí, ở các trại Cỗ-sở,
Độ-ngoại.
Chúng đóng trại chạy dài đến mười dặm, mũ, giáp lòa trời! cờ tàn rợp
nội! Tự cho là đánh một trận có thể quét sạch quân ta! Bọn Lê Triện
liệu chống không nổi, bèn cáo cấp với Lê Lễ, Lê Hối, Lê Chiếu, Lê Xí.
Lê Lễ khi ấy đã phục quân ở Thanh-đàm để đợi giặc.
Nghe tin báo của Triện tới nơi, bèm đêm đem hơn ba nghìn quân
tinh-nhuệ, và hai thớt voi, đến cứu bọn Triện. Cùng nhau góp sức xông
đánh ở mấy nơi Tố-động, Ninh-kiều, cả phá quân giặc chém Trần Hiệp, Lý
Lượng và hơn năm vạn đầu giặc.
Quân giặc chết đuối rất đông, bị bắt sống hơn trăm người. Khí-giới, lừa
ngựa, bạc, vàng, vải lụa, cùng các xe lương-thảo bỏ lại rất nhiều không
thể đếm xiết. Tướng giặc là bọn Vương Thông, Ánh, Mã Kỳ, Sơn Thọ, chỉ
chạy thoát được thân, vào thành Đông-đô cố giữ để đợi chết! Bọn Khả,
Lễ, Bí, Xí, thừa thắng tiến thẳng sát thành bổ vây. Khi ấy Nhà-vua
đương đóng dinh ở Thanh-hóa, hội-họp các quân ở Hải-tây (?).
Kịp khi được thư báo tin thắng trận của Lê Lễ, bèn chính mình cầm đại
quân, và hai mươi thớt voi, chia hai đường thủy bộ ngày đêm cố sức
tiến. Tháng mười-một năm ấy, đến cầu sông Luống. Sai bọn Lê Bị lĩnh
thủy-quân từ sông nhỏ thẳng tiến lên miệt thượng nguồn.
Còn Nhà-vua thì thân đem đại quân, hội-đồng với bọn Lê Lễ, vây thành
Đông-đô. Cả mặt thủy, mặt bộ giáp đánh, đêm phá được trại ngoài của
giặc, gỡ được hết những người nước ta bị giặc bắt hiếp, cùng cướp được
thuyền giặc và khí-giới rất nhiều. Giặc biết các quân-dân ở phụ thành
đều theo về với ta.
Xem thế càng ngày càng quẫn, bèn lại đắp thêm tường lũy, cố chết giữ để
đợi quân cứu viện. Nhà-vua tới Đông-đô trong ba ngày đầu, nhân-dân ở kẻ
chợ cùng các phủ, huyện, châu và các tù-trưởng ở biên-trấn, đều tấp-nập
đến cửa trại quân, xin ra sức liều chết, để đánh thành giặc ở các nơi.
Nhà-vua đem lòng son để phủ-dụ, yên-ủi. Bảo cho biết rõ lẽ thuận,
nghịch, lui, tới.
Phàm sĩ thứ tới cửa trại quân, Nhà-vua đều nhún mình, hậu lễ tiếp đãi.
Và đều tùy tài cao thấp, cắt-đặt làm các chức. Đem tước thưởng mà cổ-lệ
họ, khiến ai nấy đều tự cố gắng; lấy hình-phạt mà bó-buộc họ, khiến ai
nấy đều tự e dè. Vì thế người ta thảy đều nô-nức, thề hết sức liều
chết.
Nên đến đâu cũng được thành công. Nhà-vua bèn chính mình dốc các
tướng-sĩ đánh thành Đông-đô. Mà giặc thì đánh trận nào thua trận nấy,
khí đã nhụt, lòng đã nản, kế đã cùn, viện-binh đã tuyệt! Giặc bèn cho
sứ sang giảng hòa, xin cho được đem toàn quân về nước.
Nhà-vua xét ý họ đến nói, cũng hợp với lòng Nhà-vua. Vả chăng binh pháp
dạy rằng: "Không đánh mà khuất được quân của người, ấy là mưu hay nhất
trong các mưu hay!". Bèn hứa cho, và giao-hẹn với chúng, cần nhất phải
đưa thư lấy các quân đóng giữ ở các nơi về.
Nhất thời quân giặc phải họp cả ở Đông-đô, cùng nhau về nước Nhà-vua
cũng sắp ngay ngựa, voi, binh-lính, đi lại và giao-thông mua bán với
giặc. Giặc quả y lời hẹn, thân tự tư giấy, lấy các quân giặc ở
Diễn-châu, Nghệ-an, Tân-bình, Thuậnhóa, họp đủ ở trại Bồ-đề, hẹn ngày
về nước, trả lại địa-phương cho ta.
Không ngờ những kẻ làm quan với giặc là lũ Nhữ Linh, Nhữ Hốt, nghiệp dĩ
bán nước để lấy chức trọng, quyền cao của giặc, thật là ác sâu tội
nặng! Sợ sau khi giặc về, tất không có lý nào sống được, bèn ngầm bày
mưu phản gián. Nói rằng: "Xưa kia Ô Mã Nhi thua ở sông Bạch-đằng, đem
quân ra đầu hàng, rồi bị ông quận Vạn-kiếp (tức Hưng đạo Vương) dùng
mưu đánh lừa. Lấy tàu lớn chở cho về nước. Lại sai bọn người tài lặn,
sung làm phu chở tàu.
Khi ra ngoài bể, đêm rình cho ngủ kỹ bèn lặn xuống nước đụt đáy tàu ra
cho chết đuối hết, không một người nào được về!". Giặc nghe mưu ấy, bèn
sinh lòng ngờ. Mới lại đắp thêm lũy, đào thêm hào, làm kế sống tạm bợ!
Bề ngoài nói giảng hòa, bên trong tính mưu khác. Nhà-vua sợ nó
tráo-trở, bèn ở bốn bên cửa thành, ngầm đặt quân phục. Rình giặc ra
vào, bắt hơn ba nghìn quân thám-thính của giặc, cùng năm-trăm con ngựa.
Từ đó giặc không dám ra nữa.
Việc cho sứ đi lại bèn cắt đứt. Khi ấy quân ta có hơn năm vạn tinh
binh, cùng lòng góp sức. Mà quân giặc thua hoài, ngồi để chờ chết!
Trong khoảng chỉ, vạch, bắt, tha, quyền ở cả ta. Nhà-vua bèn sai các
tướng chia quân ra đánh các thành. Quốc Hưng lĩnh quân đánh hai thành
Điêu-kê, Thị-kiều (Đáp-cầu), chúng đều ra đầu cả.
Bọn Khả, Đại đánh thành Tam-giang, hơn một tháng thì thành ấy hàng. Bọn
Lê Triện, Lê Sát, Lê Lý, Lê Thụ, Lê Lãnh. Lê Hốt đánh thành
Xương-giang. Bọn LêLự, Lê Bôi đánh thành Ôn-khâu. Trong khoảng quay gót
mấy thành đều vỡ.
Chỉ có bốn thành Đông-đô, Cổ-lộng, Tây-đô, Chí-linh, là chưa hạ mà
thôi. Lúc trước Nhà-vua đóng dinh ở thành Phù-liệt, hơi xa với giặc.
Sau bèn dời về dinh Bồ-đề ở bên Bắc sông, đối diện với thành Đông-đô,
để đón đường về của chúng. Ngày đêm luyện-tập các tướng; kén thêm
quân-sĩ; sắp đồ dùng đánh thành; chứa oai nuôi sức; tập nghề võ; giữ
hiệu-lệnh phân minh. Chia sai các tướng chẹn giữ các đường quan-ải, dứt
quân cứu-viện của giặc. Khi ấy các tướng-sĩ phần nhiều dâng thư khuyên
Nhà-vua đánh các nơi thành Đông-đô.
Nhà-vua nói:
- Đánh thành là hạ sách! Ta đánh vào thành vững, hàng tháng, hàng năm
không hạ nổi. Quân ta sức mệt, khí nản. Nếu viện-binh của giặc lại đến
thì trước mặt, sau lưng đều bị giặc đánh, đó là thế nguy! Không bằng
nuôi oai chứa sức, để đợi ít ngày.
Viện-binh dứt thì thành tất phải hàng. Làm một được hai, đó mới là kế
vạn-toàn vậy. Năm Đinh-vị, ngày mồng-mười tháng sáu, tướng giặc là Trần
viễn Hầu đem năm vạn quân, một nghìn ngựa, từ Quảng-tây sang, cứu-viện
các thành. Đến ải Pha-lủy (Nam-quan), tướng giữ ải của ta là bọn Lê
Lựu, Lê Bôi, đánh cho thua to, chém hơn ba nghìn đầu, bắt được hơn năm
trăm ngựa, cả phá đước giặc mà về.
Nước Minh cậy mình mạnh lớn, không trông gương bánh xe đổ trước, lại
cho đem hơn hai mươi vạn quân, ba vạn con ngựa, sai bọn Tổng-quản là
An-viễn-hầu Liễu Thăng, cùng Kiềm-quốc-công là Mộc Thạnh, Bảo-định-bá
là Lương Minh, Đô-đốc là Thôi Tụ, Thượng-thư là Lý Khánh, Hoàng Phúc,
đi chia làm hai đường. Bọn Liễu Thăng từ Ôn-khâu tiến sang, bọn Mộc
Thạnh từ Vân-nam đi lại. Ngày mười-tám tháng chín, đều đến cả đầu
biên-giới.
Nhà-vua triệu các tướng bàn rằng: - Giặc vốn khinh ta, cho người nước
ta tính nhút-nhát, lâu nay vẫn sợ oai giặc. Nghe tin đại-quân đến, tất
là khiếp sợ. Huống chi lấy mạnh lấn yếu, lấy nhiều thắng ít, là sự chi
thường.
Giặc nào phải không biết luận đến; thế thua được của đấy, đây; cơ
tuần-hoàn của thời-vận. Vả chăng quân đi cứu-cấp, cần nhất phải cho
mau-chóng. Quân giặc tất nhiên cố sức đi gấp đường. Tức như lời
binh-pháp đã dạy: "Xô tới chỗ lợi mà ngày đi năm mươi dặm, tất quệ bậc
thượng tướng".
Nay Liễu Thăng sang đây đường-sá xa xôi. Đem ba nghìn gái đẹp (?), khua
chiêng, dóng trống, hẹn cùng đi bằng ngày; long quân khổ vì mệt-nhọc.
Ta lấy thong-thả mà đợi quân mệt-nhọc, không có lẽ nào là không thắng!
Bèn sai bọn Lê nhân Chú, Lê Sát, Lê Thụ, Lê Lãnh, Lê Liệt, đem một vạn
tinh binh, năm thớt voi, ngầm phục ở ải Chi-lăng để đợi.
Nguyên trước Lê Lựu giữ ải Pha-lũy, thấy giặc đến lui giữ ải Truy. Giặc
lại tiến đánh ải Truy. Bọn Lê Sát, Lê nhân Chú giữ Chi-lăng, giặc lại
tiến bức Chi-lăng. Bọn Lê Sát, Lê nhân Chú sai Lựu ra đánh, rồi giả vờ
thua mà chạy. Quả-nhiên quân giặc mừng rỡ, Liễu Thăng thân đem đại-quân
tiến vào chỗ phục.
Bọn Chú, Sát tung hết quân phục ra, bốn mặt đều vây, xông đánh quân
giặc, cả phá được chúng chém bọn Liễu Thăng, Lý Khánh, cùng hơn một vạn
quân giặc. Chiến-cụ của giặc, nhất thời bị đốt hết. Nhà-vua lại sai bọn
Lê Lý, Lê văn An, đem quân đến tiếp. Tỳ-tường của giặc là bọn Thôi Tụ,
Hoàng-Phúc, thu nhặt đám quân tàn, lại gượng tiến đến ải núi Mã-yên.
Bọn Sát, Chú, Lý, đem các tướng tung hết quân ra đánh. Giặc lại thua
to.
Ta chém được hơn hai nghìn đầu; bắt được lừa, ngựa, trâu, bò,
quân-lương, khí-giới, không biết bao nhiêu mà kể! Quân giặc cho là
thành Xương-giang chưa vỡ, tự lấy làm chắc. Kịp khi tới Xương-giang,
thấy thành đã bị hãm rồi, tưng-hửng thất-vọng, càng hoảng-hốt cả sợ.
Liền ngày đêm đắp lũy tự giữ lấy pháo hiệu làm tin, để thông tin với
các thành ở Đông-đô, nghe tiếng pháo thì đến tiếp-ứng.
Thế nhưng các thành ở Đông-đô, tự cứu mình không rồi, biết đâu đến
chuyện khác! Nhà-vua liền sai các tướng, mặt thủy, mặt bộ đều tiến, vây
đánh quân giặc. Lại chia quân ra, chặn giữ các ải Mã-yên, Chi-lăng;
Pha-lũy, Bàng-quan. Bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc muốn tiến không được; muốn
lui không xong, bèn giả vờ xin hòa. Nhàvua nhất định từ chối không cho.
Sai bọn Lê Hối, Lê Vấn, Lê Khôi, lĩnh ba nghìn quân, bốn thớt voi, cùng
bọn Lý, Sát, Nhân Chú, Văn An đánh phá quân giặc.
Giặc toàn quân bị hãm mất. Ta chém năm vạn đầu, bắt sống được Thôi Tụ,
Hoàng Phúc cùng hơn ba vạn quân giặc. Giáo, mác, lừa, ngựa, vàng, bạc,
lụa là, gấm, đoạn, từng hòm, từng đống, chứa chất như núi, không thể kể
xiết!
Còn bọn Kiềm-quốc-công là Mộc-Thạnh, Bảo-định-hà là Lương Minh, từ
Vân-nam sang năm vạn quân, đóng đồn ở chợ Lê-hoa, cầm cự với bọn Lê
Khải, Lê Trung, Lê Đại. Nhà-vua liệu chừng Mộc Thạnh tuổi già, trải
việc đã nhiều, lại vốn nghe tiếng quân ta, tất ngồi nhìn sự thắng bại
của quân Liễu Thăng, không dám tiến liều!
Liều viết thư kín bảo bọn Sát, Khả, Đại, chỉ nên đặt quân phục để chờ,
hãy chớ đánh nhau với giặc. Kịp khi quân Liễu Thăng đã thua, Nhà-vua
bèn lấy một viên Chỉ-huy, ba viên Thiên-hộ trong đám quân bắt được,
cùng là bằng sắc, ấn-tín của Liễu Thăng; đưa sang trại quân Mộc Thạnh!
Bên Mộc Thạnh trông thấy cả kinh, bèn chạy trốn, vỡ lỡ, giầy, xéo lên
nhau!
Bọn Khả, Trung, Đại thừa thắng tung quân đuổi đánh, chém hơn vạn đầu,
bắt được năm nghìn con ngựa; cùng là khí-giới, vàng bạc, của báu, lụa
là, không thể đếm xiết. Khi ấy các thành giặc ở Đông-đô cùng các nơi
khác, nghe tin hai lộ cứu binh đều đã thua vỡ, nhưng lòng còn
nghi-hoặc, có điều chưa tin hết, nên vẫn còn đóng cửa thành chống giữ.
Nhà-vua bèn đem các tướng giặc bắt được là bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc cùng
hơn ba vạn quân, hai vạn ngựa, và các thứ gươm, giáo, chiêng, trống, cờ
tàn, sổ sách, quả ấn Song-hổ-phù của giặc, để rao bảo các thành! Quân
giặc mới khiếp sợ, đều cởi áo-giáp xin hàng.
Ngày mười-sáu tháng chạp, tướng giặc là Vương Thông, Mã Ánh, Lý An,
Trần Trí, Nội-quan là Mã Kỳ, Sơn Thọ, Phương Chính, Đặc Khiêm, cùng các
viên chỉ-huy giữ thành Tây-đô là Hà Trung, giữ thành Chí-linh là Cao
Tường, bèn đem tất cả các hạng ngụy quan (người nước ta làm quan với
giặc) lớn, nhỏ, và những nhân-dân nước ta bị bắt hiếp vào trong thành,
đưa trả về đủ số.
Chỉ xin được cho đem quân về Tàu. Các tướng sĩ cùng nhân-dân nước ta,
không kể già, trẻ, trai, gái, bấy lâu khổ vì mọi sự tàn-ác của giặc:
giết hại cha, mẹ, bà con họ, bèn đem nhau cố xin Nhà-vua giết cho hết
bọn chúng để bỏ giận cho Trời, Đất, Thần, Dân; để hả lòng các
trung-thần, nghĩa-sĩ; để yên-ủi các hồn vô tội chịu oan khuất; để gột
rửa nỗi nhụt vô cùng cho Nước-Nhà! Nhà-vua với các tướng cùng người
trong nước mà bảo họ rằng:
- Một lòng báo oán là thường tình của con người ta. Nhưng không thích
giết người là bản-tâm của bậc nhân-giả. Vả chăng người ta đã ra hàng mà
ta lại giết đi thì không còn gì không lành hơn nữa!
Dữ kỳ hả cái giận trong một sớm, mà chịu mang tiếng giết kẻ đầu hàng
với muôn đời, thì sao bằng để sống hàng ức, vạn mạng người, mà dứt mối
chiến-tranh về sau trong hai nước? Sử xanh chép lại, nghìn thủa còn
thơm!
Như thế lại không tốt đẹp hay sao? Bèn không nghe lời họ. Rồi sai các
tướng giải vây lui ra. Lại đưa cho hơn năm-trăm chiếc thuyền, chi cấp
cho đủ lương-thảo.
Và đem các tướng giặc bắt được là bọn Thôi-Tụ, Hoàng Phúc; quân mới
sang hơn hai vạn; quả ấn Song-hổ-phù của Liễu Thăng; cùng quân giặc
trấn thủ ở các thành, trai, gái, lớn nhỏ, hơn ba mươi vạn; giao cả cho
tướng giặc là bọn Vương Thông; bằng lòng cho hoặc thủy, hoặc bộ, tùy
tiện muốn về đường nào thì về.
Lại sai sứ dâng biểu xin lỗi. Khi bọn Vương Thông về tới Long-châu, vua
Minh đã biết trước quân Minh cùn-quẫn, việc đã đến thế, không còn làm
thế nào được. Bèn sai sứ-thần đem sắc-thư, truyền cho các tướng đem
quân về Tàu, trả lại đất cho An-nam. Còn việc vào chầu dâng cống, lại
theo lệ cũ đời Hồng-vũ, thông sứ đi lại.
Từ đó giáo, mác dẹp tan; đất đai lấy lại; trong nước thái-bình,
nhân-dân yên nghiệp như cũ. Nhà-vua từ khi khởi nghĩa, đến lúc bình
được giặc, lấy lại được nước, bao nhiêu giấy tờ đi lại ở trong quân,
đều sai văn-thần Nguyễn Trãi làm ra.
Quyển 3 Năm Mậu-thân (1428), tháng ba, Nhà-vua hội hết cả các tướng cùng các
quan văn, võ, định phong, hành thưởng. Cứ theo công cao, thấp, mà sắp
đặt phẩm cấp. Lại chia trong nước làm mười lăm đạo. Mỗi đạo đặt quân
coi giữ.
Mỗi quân đặt một viên tổng-quản; lớn, nhỏ ràng-buộc nhau; trong ngoài
gìn-giữ nhau. Các đạo lại đặt ra chức Hành-khiển, chia giữ sổ-sách quân
và dân.
Sai sứ đi các nơi, tế các thần kỳ của Núi, Sông, Đền, Miếu; lễ tạ các
lăng-tẩm các triều vua trước. Truy-tôn các Tổ-tông và dâng thêm thụy
hiệu. Ngày mười bốn tháng tư, Nhà-vua lên ngôi Hoàng-đế, lấy niên hiệu
là Thuận-thiên. Bèn sai Nguyễn-Trãi làm bài Bình Ngô Đại Cáo. Phụ Lục Âm không cùng thì Dương không nẩy. Loạn không cực thì đức không sinh.
Đó là lời bàn thông thường xưa, nay! Nước Việt ta từ nhà Nhuận-Hồ trái
đạo, trong nước mất trông mong. Người Minh nhân dịp ấy đem quân sang
lấn. Giả-vờ làm quân nhân-nghĩa; ngấm-ngầm tính việc xâm-lăng!
Tàn-hại nhân dân; cướp lấy của báu. Rồi đó gồm nuốt nước ta, chia đặt
quận, huyện. Thay-đổi phong-tục của ta; hiếp trao quan-tước của họ. Dân
ta trong lúc ấy, đã khổ về chính-lệnh nhà Hồ nghiêm-ngặt, lại thảm nỗi
quan-lại bên Minh rút-bòn! Quần-chúng thở-than, không kêu-gọi vào đâu
cho được!
Dù đương-thời có những trang quyền-biến, trí-thức, cũng chẳng qua náu
hình, lẩn bóng, tránh tiếng, trốn đời để giữ mình cho khỏi bị hại mà
thôi! Ví không có bậc Thánh-nhân ra, thu lại đám dân tan-tác, cứu cho
vận nước long-đong, thì ngôn ngữ ta đã nói theo Tàu; áo-mũ ta đã mặc
theo Tàu, dân-chúng biết lấy ai nương-nhờ? Ngôi nước biết bao giờ
khôi-phục? Trời giúp nước ta, đốc sinh ra đức.
Thái-tổ Cao hoàng-đế chúng ta, lấy tài thông-minh, trí, dũng; làm việc
hỏi tội, cứu dân. Trong lúc mới cất quân khởi nghĩa; Không để cho
quan-tước dụ nổi; không để cho oai-thế hiếp nổi.
Tuy gặp lúc nhiễu-nhương, mà lòng càng vững; trải cơn cùn-quẫn mà chí
càng hăng. Tới khi tiếng nghĩa đồn dậy, gươm thần vung dài, mà các
dũng-tướng, mưu-thần xúm lại như mây họp! Tướng võ thì bọn Trịnh Khả,
Lê Xí, thường lập được công to. Tướng văn thì bọn Nguyễn Trãi, Văn
Linh, hằng bày ra kế giỏi...
Cho nên có thể lấy được ít mà địch được nhiều, lấy yếu mà chống nổi
mạnh! Vả chăng trong lúc xông-pha hàng trận, không quên nghiên-cứu
lược-thao. Có khi đặt mai-phục mà dùng kỳ-binh. Có khi nó định lừa mà
ta phản lại!
Tiến quân Vua như chẻ cây nứa! Phá lũ giặc như bẻ cành khô! Các tướng
bên Minh, dùng hùng-hổ như bọn Liễu Thăng, Lương Minh, đều thua trận mà
mất đàu! mưu-trí như bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc, cũng hết kế mà dương mắt!
Lũ giặc hơn hai mươi năm, quét trừ trong một sớm! Mặt non sông từ đó
đổi mới!
Ánh Nhật, Nguyệt, từ đó lại trong! Đất-cát lại đất-cát nước Nam!
Nhân-dân lại nhân-dân giống Việt! Áo-xiêm, phong-tục, lại đúng như xưa!
Nền-nếp, mối-giềng, lại sáng như cũ! Nhà-vua đã làm xong việc đuổi trừ
quân tàn-bạo, lại suy rộng tấm lòng "không ham giết người". Phàm những
quân, tướng người Minh bị bắt, đều cấp thuyền cho đưa về nước, khiến
cho hơn mười vạn người được đội đức tái sinh.
Nếu chẳng phải bậc Thần Võ không cần giết người, có sao được thế?
Gia-dĩ hiểu đạo giao-hảo láng-giềng, rõ nghĩa tôn-trọng nước lớn. Liền
sai sứ-thần, sửa lại việc hòa-hảo cũ. Tỏ ra rằng: công-việc thuận trời,
giữ nước, nếu chẳng phải bậc người hiểu sâu về nghĩa-ý của Thánh-hiền,
có dễ được như thế đâu! Xin xét về đời cổ mà bình-phẩm chuyện đó: Vũ-đế
nhà Triệu cùng vua Hán đều tự làm vua nước mình, gồm có đất ở ngoài
Ngũ-lĩnh, đóng đô ở Phiên-ngu, thật là vua anh-hùng.
Thế nhưng chẳng qua cũng là một người Tàu sang cai-trị nước ta, chưa
được chính-thống. Vua Tiên-hoàng nhà Đinh, đánh tan mười hai Sứ-quân,
thống nhất được bản-đồ, dựng nên nước ta, thực là vua chính-thống. Thế
nhưng lỡ vì không cẩn-thận đề-phòng việc nhỏ, gây ra sự chẳng lành, mà
nước cũng mất theo.
Vua Thái-tổ nhà Lý, nhân vua Ngọa-triệu thất đức, bèn có Thiên-hạ.
Nhưng về nghĩa vua, tôi, sai, trái danh-phận, không thể không mang thẹn
ở trong Trời, Đất! Vua Thái-tông nhà Trần, nhân vua Chiêu-hoàng quá
yêu, bèn chiếm ngôi báu; nhưng về trong buồng-the, ở lỗi đạo hằng,
không thể không để cười mãi đến muôn đời!
Còn Nhà-vua thì từ núi Lam mà khởi nghĩa, giận giặc Tàu mà cất quân.
Rút lại có thể lấy nhân mà giết lũ bất nhân; lấy chính mà đánh phường
bất chính; khôi-phục nước ta sau hồi giặc Minh; gồm lấy thiên-hạ ở tay
người Minh ...
Tới khi mảnh giáp dẹp yên, bốn phương phẳng-lặng, ban lời đại-cáo, để
lên ngôi vua. Được nước như vậy kể rất là chính-đáng. Sách dạy rằng:
"Người quân-tử trọng sự ở cho chính". Lại nói rằng: Bậc vương-giả trọng
sự nhất-thống". Nhà-vua đã được như thế vậy! Lại rõ mực-thước trị nước,
biết phép-tắc truyền nhà, soạn ra sách Thực Lục, bày-tỏ nỗi khó-khăn
gây nên vương-nghiệp, để răn-bảo con-cháu đời sau: chớ lấy giàu-sang mà
sinh kiêu-xa; chớ lấy yên-vui mà nhãng phòng-ngừa.
Ấy, dựng nghiệp, để mối là thế! Kìa những việc làm của các vua Triệu,
Đinh, Lý, Trần, có sánh bì đâu được một phần muôn? Công-đức của Nhà-vua
to-tát: đất rộng, trời dài! Ân-trạch của Nhà-vua thấm-nhuần: non cao,
biển cả!
Vậy thì Tông-miếu được bền. Đế-nghiệp được vững, cho đến ức, vạn năm,
đều là nhờ ở công, đức của Nhà-vua gây nên vậy. Phải đề-phòng đầu mối
họa-loạn, có khi vì yên-ổn mà gây nên. Phải đón-ngăn ý-nghĩ kiêu-xa, có
khi vì sung-sướng mà sinh sự! Có như thế thì họa là mới giữ-gìn được.
Nên Trẫm nghĩ làm ra bộ sách này, thực là rất trông-mong cho con-cháu
đời sau!
|