Tác giả: Sơn Nam
Nguồn: vnthuquan.net
Nhận xét tổng quan
Nhận xét tổng quát
Đồng bằng sông Cửu Long, Ménam và Irraouaddi là ba trung tâm sản xuất
lúa gạo, có dư để xuất cảng, quan trọng nhứt trên thế giới. Việt Nam,
Xiêm, Miến Điện gồm đa số dân sống bằng nghề nông. Ba quốc gia này liên
ranh, nằm trong khu vực gió mùa với những nét lớn giống nhau :
— Lãnh thổ phát triển lần hồi từ Bắc xuống Nam.
— Biết làm ruộng cấy ở đồng sâu, nhờ đó mà sản lượng đạt mức cao so với ruộng tỉa ở đất khô.
— Mức sống thấp kém.
Nam tiến không phải là mãnh lực huyền bí của riêng dân tộc Việt Nam.
Những dân tộc chịu ảnh hưởng ấn độ vẫn đạt được kỹ thuật cày sâu cuốc
bẫm không kém nước ta. Việc tôn thờ rắn thần và rồng để cầu mưa, vài
môn giải trí như thả diều, trai gái đối đáp nhau nào phải chỉ xảy ra ở
Việt Nam.
Dân Việt gặp dân Miên vốn có nền văn hóa cổ kính khá cao. Vào thế kỷ
13, người Miên đã tìm ra giống lúa và dẫn thủy nhập điền thích ứng giúp
họ thâu hoạch 3 hoặc 4 vụ trong một năm. Cuộc Nam tiến của người Xiêm,
người Miến Điện gặp hoàn cảnh khá tốt về địa lý, hai con sông Ménam và
Irraouaddi thuận lợi cho việc thông thương, trong khi Hồng Hà và sông
Cửu Long có nhiều thác đá. Từ hạ lưu sông Hồng, dân Việt len lỏi theo
mấy cánh đồng nhỏ bé dọc theo bờ biển Đông nhiều giông tố để lần hồi
đến hạ lưu sông Đồng Nai, sông Cửu Long.
Tuy là đặt chân trên đất Cao Miên nhưng đối thủ đáng nể của người Việt
đi khẩn hoang lại là người Xiêm đang nuôi tham vọng đô hộ vùng Vạn
Tượng, Cao Miên và Mã Lai. Xiêm quốc lúc bấy giờ đang thời hưng thịnh,
với tướng giỏi, quân sĩ có kinh nghiệm về chiến đấu đường bộ và đường
thủy.
Người Việt đã giữ được thế chủ động trong hoàn cảnh gay go.
Khi đặt chân ở đồng bằng sông Cửu Long, nước Việt bị chia cắt từ sông
Gianh, công trình khẩn đất và giữ đất lúc đầu chỉ do một số dân từ
Quảng Bình trở vào gánh vác. Bấy giờ, ưu thế của người Việt khong là kỹ
thuật canh tác cao, nhưng là ưu thế về tổ chức chính trị và quân sự. Bộ
mấy hành chính khá hoàn hảo đã giúp chúa Nguyễn theo dõi được tình hình
ở những địa phương xa xôi, quân đội có thể tập trung khá nhanh khi cần
thiết. Đơn vị xã hội nhỏ nhất là thôn ấp đủ khả năng tự trị, các tổ
chức đồn điền có thể tự quản trị về kinh tế và an ninh.
Quân đội Xiêm hùng mạnh, nhưng đi xa thì mất hiệu năng. Nước Cao Miên
bấy giờ quá suy nhược, vua chúa kém năng lực chỉ biết cầu viện với
ngoại bang, dân chúng thì ly tán : người Xiêm thường lùa bắt từng loạt
dân Cao Miên đem về xứ họ để làm nông nô phục dịch.
Vua chúa Việt Nam thúc đẩy việc khẩn hoang vì những lý do sau đây :
— Mở rộng địa bàn thống trị, đất rộng, dân giàu thì kinh đô được bảo vệ chu đáo hơn.
— Thuế điền và thuế đinh gia tăng nhanh chóng.
— Nạn đói kém được giảm thiểu, nơi này thất mùa, nơi kia bù lại, ít có nguy cơ nội loạn.
— Dân số gia tăng, thêm lính tráng, thêm dân xâu.
Bộ Đinh và bộ Điền tiêu biểu cụ thể cho nhân lực, tài lực. Với binh sĩ
giữ gìn bờ cõi và trấn áp nội loạn, với tiền bạc và nhân công làm xâu,
vua chúa tha hồ phung phí, sống xa hoa, xây đắp cung điện lăng tẩm, ưu
đãi người trong giòng họ, mua chuộc quan lại, để ngôi vị được ổn định,
chống các âm mưu ly khai ở địa phương.
Về phía dân chúng, khẩn hoang là việc tích cực, không phải là hưởng thụ, thụ động, chờ thời vận.
* Phải có yếu tố thiên nhiên tương đối thuận lợi, đất quá thấp thì lúa
dễ bị ngập, quá cao thì gặp nạn thiếu nước. Từ nơi cư trú đến thửa
ruộng, đường đi phải gần để khỏi phí thì giờ lui tới, lúa đem về nhà
không mất nhiều công lao và phí tổn chuyên chở.
* Đủ nước ngọt để uống, nấu cơm và cho trâu bò uống.
* Gia đình đủ vốn liếng, đủ lúa gạo ăn trong khi chờ lúa chín. Lại còn
quần áo, tu bổ nhà cửa, thuốc uống, trầu cau, lúa gạo để nuôi heo gà,
ghe xuồng, nông cụ. Thêm vào đó, còn yếu tố xã hội vì làm ruộng đòi hỏi
sự hợp quần cần thiết :
— Sức một người, một gia đình chỉ có giới hạn. Một khoảnh ruộng ở giữa
tư bề đất hoang thì hoa mầu sẽ bị chim chuột từ các vùng lân cận tập
trung lại phá nát. Năm bảy gia đình góp sức canh tác liên ranh nhau thì
sự tổn thất vì chim chuột được giảm thiểu.
— Mùa cấy tuy là co giãn, xê xích mươi ngày nhưng nằm trong thời gian
quy định. Cấy quá sớm, thiếu nước, cấy quá trễ, cây lúa mọc không kịp
nước mưa. Mỗi người chỉ có thể cấy chừng 4 mẫu tây trong một mùa mà
thôi, đàn bà lo cấy ở nơi này thì đàn ông lo dọn đất ở nơi kia. Dọn đất
cấy quá sớm, cỏ mọc trở lại, trì hoãn thì nước trong ruộng lên cao,
không dọn đất được. Lúa chín mà gặt trễ chừng năm bảy ngày là hư hao.
Phát cỏ, cấy lúa, gặt lúa đòi hỏi sự tập trung nhân công, mướn hoặc đổi
công, theo lịch trình không được bê trễ. Phải nhờ người lân cận hoặc ở
địa phương khác đến. Ngay trong một khoảnh đất nhỏ, mặt đất chưa bằng
phẳng, nơi cao nơi thấp, việc đắp bờ, tát nước vẫn là công trình của
nhiều người.
Vùng định cư để khẩn hoang cần liên lạc với vùng phụ cận dễ dàng để
giải quyết vấn đề nhân công. Trong một ấp, nhà này không được ở quá xa
nhà kia. Gần thôn ấp, phải có nơi bán tạp hóa, có người cho vay, người
tiêu thụ lúa. Việc sanh đẻ, cưới hỏi, may chay đòi hỏi các phương tiện
tối thiểu. Nhà cửa, tính mạng người dân phải được bảo vệ, chống trộm
cướp, loạn lạc. Lại còn nhu cầu học vấn, nhu cầu về tâm linh với đình,
chùa, miễu, hát xướng.
Đơn vị tối thiểu về xã hội vẫn là một làng.
Khẩn hoang đòi hỏi nhiều yếu tố căn bản. Khẩn hoang ở đồng bằng sông
Cửu Long là cuộc vận động lớn, toàn diện về chính trị, quân sự, kinh
tế, văn hóa.
Vua chúa quy định chính sách điền địa, thuế khóa, quân dịch và thưởng
phạt. Tùy nhu cầu mà có khi quân sĩ, lưu dân và tù nhân phải đóng đồn,
lập ấp, cày cấy ở nơi mất an ninh. Đất kém mầu mỡ, khó canh tác nhưng
chính quyền lại cưỡng bách đến định cư. Có những giai đoạn, những khu
vực mà chính phủ kiểm soát chặt chẽ việc khẩn hoang, nhưng cũng có lúc
người dân được dễ dãi. Nhiều vùng đất tuy người Cao Miên chưa chánh
thức nhượng cho ta nhưng dân ta đã đến khẩn hoang, hoặc ngược lại, đã
nhượng từ lâu nhưng vẫn còn hoang phế.
Cuộc vận động phối hợp quân sự, chính trị và kỹ thuật này có thể chia ra từng thời kỳ :
1) Từ các chúa Nguyễn đến những năm cuối đời Gia Long : Khai khẩn vùng
đất phù sa tốt, đất giồng ven sông, đất cù lao theo nhu cầu phát triển
xứ Đàng Trong, phục quốc và củng cố quốc gia.
Còn lại các vùng nước ngập sâu vào mùa mưa, đất quá phèn, rừng Sác.
Vùng người Miên tập trung, trên nguyên tắc thì để nguyên vẹn (Rạch Giá,
Sóc Trăng, Trà Vinh, Châu Đốc).
Thành lập các trấn Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và Vĩnh Thanh.
2) Từ cuối đời Gia Long tới cuối đời Minh Mạng : Khai khẩn phía hữu
ngạn Hậu Giang, nối qua vùng đồi núi Thất Sơn, vì nhu cầu xác định biên
giới Việt Miên. Khai khẩn vùng đồi núi, vùng đất thấp, canh tác những
lõm đất nhỏ mà cao ráo, giữa vùng nước ngập lụt.
Thành lập tỉnh An Giang, tách ra từ trấn Vĩnh Thanh.
3) Từ đời Thiệu Trị tới đời Tự Đức : Khai khẩn những điểm chiến lược,
nhằm đề phòng nội loạn ở phía Hậu Giang, chánh sách đồn điền được thúc
đẩy mạnh.
Thực dân Pháp đến, nhằm mục đích bóc lột nhân công rẻ tiền, và xuất cảng tài nguyên, đã thực hiện được vài việc đáng kể :
1) Cho đào kinh để chuyên chở lúa gạo, giúp giao thông vận tải được dễ
dàng, đồng thời rút bớt nước vào mùa lụt từ Hậu Giang ra Vịnh Xiêm La.
Vùng đất phèn, tạm gọi là phù sa mới, không còn bị nước ngập quá cao.
Việc chuyên chở sản phảm về Sài Gòn ít tốn kém hơn trước.
Thành lập các tỉnh mới : Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, vùng
này trở thành nơi dư lúa gạo, nhờ dân ít mà mức sản xuất cao. Khai khẩn
rừng tràm và đồng cỏ.
2) Thúc đẩy việc làm ruộng sạ, nhờ chọn các giống lúa thích hợp hơn,
giúp vùng đất thấp ở Long Xuyên, Châu Đốc và Đồng Tháp Mười canh tác
được. Còn lại là vùng rừng Sác Cần Giờ, rừng Đước Cà Mau, vùng than bùn
U Minh, vùng đất quá nhiều phèn chung quanh Hà Tiên và Đồng Tháp Mười.
3) Lập đồn điền cao su ở miền Đông. Chương 1 - 1
Nhu cầu phát triển xứ Đàng Trong, phục quốc và củng cố quốc gia
Những hành động quyết định
Từ lâu, các chúa Nguyễn đã biết về vùng đất ở Đồng Nai và Cửu Long,
nhưng cơ hội chưa thuận lợi để đẩy mạnh cuộc phát triển về phía Nam.
Năm 1623, một phái bộ của chúa Nguyễn đến Oudong yêu cầu được lập cơ sở
ở Prei Nokor (vùng Sài Gòn) để thu thuế hàng hóa.
Năm 1658, khi còn bận rộn giao tranh với chúa Trịnh ở phương Bắc, chúa
Hiền cho quan Khâm mạng đến Trấn Biên dinh (Phú Yên) đem 2000 quân đến
Mỗi Xui (Mô Xoài) để đánh phá, bắt vua Nặc Ông Chân giải về Quảng Bình.
Khi ấy ở Mỗi Xui (vùng Bà Rịa ngày nay) và ở Đồng Nai, “đã có lưu dân
của nước ta đến sống chung lộn với người Cao Miên khai khẩn ruộng đất.
Người Cao Miên khâm phục oai đức của triều đình đem nhượng hết cả đất
ấy rồi đi lánh chỗ khác, không dám tranh trở chuyện gì”.
Năm 1672, tình hình vô cùng thuận lợi cho Hiền Vương, ngài đã thắng
chúa Trịnh, lấy sông Gianh làm ranh giới. Năm 1764, Cao Miên có loạn,
thêm lý do để quân chúa Nguyễn can thiệp, lần này phá luôn được các đồn
binh Cao Miên ở Sài Gòn, Gò Bích và Nam Vang sau khi thắng ở Mô Xoài.
Bảy năm sau, 1679, Trần Thắng Tài và Dương Ngạn Địch đem binh biền và
gia quyến hơn 3000 người và chiến thuyền hơn năm chục chiếc đến gần
kinh đô.
Hiền Vương cho phép bọn di thần nhà Minh vào Nam. Chi tiết đáng chú ý
là đoàn chiến thuyền này được đưa vào Nam có người hướng dẫn. Đây là
cuộc hướng dẫn thần tình, chứng tỏ thời chúa Nguyễn bản đồ và khung
cảnh ở đồng bằng sông Đồng Nai và Cửu Long được nghiên cứu khá tường
tận. Chúa Nguyễn và người hướng dẫn đã đánh giá đúng mức giá trị chiến
lược của vùng Mỹ Tho và vùng Biên Hòa — nơi bọn di thần nhà Minh được
phép đến định cư — sự đánh giá ấy mãi đến sau này vẫn còn là đúng.
Miền Nam vẫn còn hai nơi quan trọng khác ở phía Tây và Tây Nam. Năm
1699, Nguyễn Hữu Cảnh đem binh lên tận Nam Vang để can thiệp về quân
sự. Chuyến về vào khoảng tháng tư năm canh thìn (1700), ông cho quân sĩ
theo dòng Tiền Giang, trú đóng tại Cái Sao (vùng chợ Thủ của Long
Xuyên) “Ba quân bị phát bịnh dịch và ông cũng bị nhiễm bịnh”. Thời gian
trú quân ở đây là hơn nửa tháng, binh kéo đi hai ngày sau là ông mất.
“Ông có công dẹp yên Cao Miên rồi khai thác đất này”. Ai trực tiếp khai
thác ? Chắc chắn là số binh sĩ bị bịnh, hoặc một số tình nguyện ở lại
vùng Cái Sao mà khai thác trước khi đất đai này được vua Cao Miên
nhượng cho. Bấy giờ nhóm này sống cheo leo bên kia sông Tiền. Họ được
gọi là dân Hai Huyện, trực thuộc phủ Gia Định từ xưa.
Năm 1705, Nguyễn Cửu Vân thừa lịnh hành quân lên Cao Miên để đánh quân
Xiêm, khi trở về lại cho trú quân ở Vũng Gù (nay là Tân An) lập đồn
điền, “làm thủ xướng cho quân dân”, đắp đồn và đào kinh cho rạch Vũng
Gù và rạch Mỹ Tho ăn thông với nhau, nối liền sông Vàm Cỏ Tây qua Tiền
Giang.
Về phía Vịnh Xiêm La, khoảng năm 1680, Mạc Cửu đã lập ấp rải rác từ
Vũng Thơm, Trủng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá, Cà Mau. Hà Tiên trở thành
thương cảng quan trọng, thôn ấp định cư nằm sát mé biển, thuận tiện cho
ghe thuyền tới lui, hoặc ở đất cao theo Giang thành, sông Cái Lớn, sông
Gành Hào, Ông Đốc để canh tác.
Trần Thắng Tài (Đồng Nai), Dương Ngạn Địch (Mỹ Tho), Nguyễn Hữu Cảnh
(Tiền Giang), Nguyễn Cửu Vân (Vàm Cỏ), Mặc Cửu (Hà Tiên) và quân dân đã
đi những bước tiên phong trong thời gian ngắn. Nhóm di thần nhà Minh và
dân Việt thật sự làm ruộng và định cư nơi đất lạ. Bao nhiêu khó khăn
dồn dập xảy tới : cuộc tranh chấp về quân sự với người Cao Miên, người
Xiêm. Mãi đến 134 năm sau (1834), vùng đất mà ông Nguyễn Hữu Cảnh khai
sáng còn gặp chinh chiến với quân Xiêm, mặc dầu cuộc Nam tiến hoàn tất
vào năm 1759. Lại còn việc tranh chấp dằng dai với anh em Tây Sơn,
khiến việc khẩn hoang bị đình trệ hoặc hư hại.
Chúa Nguyễn nắm nguyên tắc căn bản là phát triển các đơn vị hành chính
liền ranh nhau. Thoạt tiên dinh Trấn Biên đóng ở vùng Phú Yên. Năm
1698, chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh đặt ra Gia Định phủ gồm có :
— Xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên.
— Xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn;
Rồi lần hồi, vùng Long Hồ nối vào đất Gia Định, vùng Mỹ Tho nối vào Gia
Định, vùng An Giang nối vào Long Hồ (Vĩnh Long). Lúc Hà Tiên quá suy
sụp, năm 1805 (đời Gia Long) dinh Vĩnh Trấn (Vĩnh Long) cai quản từ hữu
ngạn Tiền Giang đến Rạch Giá, Cà Mau, tức Vịnh Xiêm la để rồi năm 1810
trả lại cho trấn Hà Tiên như cũ.
Từ ngàn xưa, dân Việt học được kinh nghiệm về định cư : miền rừng núi
bao giờ cũng bất lợi, ít đất thịt, nhiều sỏi đá, nhứt là bịnh rét rừng
(sơn lam chướng khí) nguy hại có thể gây nạn diệt chủng. Nhà cửa nên
cất nơi đồng bằng, nhưng đất phải cao ráo, gần sông rạch càng tốt,
tránh nơi nước đọng ao tù. “Sông sâu nước chảy” là cuộc đất lý tưởng về
phong thủy (tài lợi dồi dào) nhưng trong thực tế là ngừa được bịnh rét,
giao thông thuận lợi, có nước để làm ruộng, có nước để uống, nếu là nơi
nước mặn gần biển thì trên giồng cao vẫn đào giếng được.
Năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh đặt hai huyện đầu tiên, tình hình khẩn hoang được mô tả như sau :
— Đất đai mở rộng 1000 dặm, dân số được hơn 40000 hộ, chiêu mộ lưu dân
từ Bố Chánh châu trở về Nam đến ở khắp nơi, mọi người phân chiếm ruộng
đất, chuẩn định thuế đinh điền và lập hộ tịch đinh điền. Từ đó con cháu
người Tàu ở nơi Trấn Biên thì lập thành xã Thanh Hà, ở nơi Phiên Trấn
thì lập thành xã Minh Hương, rồi ghép vào sổ hộ tịch.
Nhóm di thần nhà Minh đến ở cù lao Phố và vùng Mỹ Tho gồm 3000 người
khi tiên khởi. Hai mươi năm sau, con cái của họ lớn lần. Một số người
Trung Hoa khác lần hồi đến làm ăn buôn bán, rồi định cư luôn. Ta thấy
còn lại trên ba chục ngàn gia đình Việt Nam gồm có :
— Những người lập nghiệp từ trước ở Mô Xoài (Bà Rịa).
— Những người từ Bố Chánh (Quảng Bình) trở vào đến lập nghiệp. Số người
này sống rải rác từ Bà Rịa đến cù lao Phố (Biên Hòa), vùng Sài Gòn, Mỹ
Tho. Địa danh Trấn Biên bao gồm một vùng rộng rãi từ ranh Bình Thuận
đến tận Nhà Bè. Phiên Trấn bao gồm Tân Bình đến phía Cần Giuộc, Cần
Đước, Tân An. Phủ Gia Định thuở ấy ăn đến tận vùng Cái Bè (tả ngạn Tiền
Giang) sau này là châu Định Viễn. Đây là những lưu dân. Nhưng nên chú ý
số người “có vật lực” từ miền Trung đến. Không vốn liếng thì không làm
ruộng được, người có chút ít vốn nếu chịu mang vào “đất mới” sẽ dễ trở
thành điền chủ, phú hào.
Lỵ sở thường đặt ở những nơi quan trọng, dân đông, kinh tế dồi dào,
thuận lợi cho việc thương mãi và là vị trí có giá trị chiến lược quân
sự. ở lưu vực sông Đồng Nai và Cửu Long, dân ta thiết lập được :
Vùng cù lao Phố : nòng cốt của Biên Hòa
Đây là vị trí xứng danh ải địa đầu (Trấn Biên) với đường bộ đường thủy
nối liền về miền Trung, đường bộ lên Cao Miên và đường thủy ăn xuống
Sài Gòn. Nhóm dân Trung Hoa theo chân Trần Thắng Tài gây cơ sở lớn ở cù
lao Phố, chọn vị trí thuận lợi, sát mé sông. Năm năm sau khi định cư,
chùa Quan Đế dựng lên.
Trần Thắng Tài chiêu nạp được người buôn nước Tàu, xây dựng đường phố,
lầu quá đôi từng rực rỡ trên bờ sông, liên lạc năm dặm và phân hoạch ra
ba nhai lộ, nhai lớn giữa phố lát đá trắng, nhai ngang lát đá ong, nhai
nhỏ lát đá xanh, đường rộng, bằng phẳng, người buôn tụ tập đông đúc,
tàu biển, ghe sông đến đậu chen lấn nhau, còn những nhà buôn to ở đây
thì nhiều hơn hết, lập thành một đại đô hội.
“Đại Phố” bấy giờ là đệ nhứt thương cảng ở miền Nam, phồn thịnh nhờ lý do sau đây :
— Việc thương mãi tổ chức khéo léo, Trần Thượng Xuyên chiêu tập người
buôn nước Tàu đến kiến thiết, đây là bọn thương buôn chuyên nghiệp, có
vốn to và giàu kinh nghiệm, đến sau chớ không phải là người đi theo
Trần Thượng Xuyên trong đợt tiên phong (số người đi đầu gồm đa số là
quân sĩ, tức là nông dân nghèo, không vốn).
— Sông sâu có chỗ thuận lợi cho tàu biển đậu (đây là vực sâu gần đền thờ ông Nguyễn Hữu Cảnh).
— Việc tồn trữ và phân phối hàng hóa được điều hành hợp lý. Nhà lầu,
phố xá bên các nhai lộ lát đá là kho hàng và cũng là nơi nghỉ giải trí
của chủ tàu và thủy thủ. Tàu chạy buồm gặp gió thuận thì mới đến hoặc
đi được. “Xưa nay thuyền buôn đến hạ neo xong là lên bờ thuê phố ở, rồi
đến nhà chủ mua hàng, lại đấy kê khai những hàng hóa trong thuyền và
khuân cất lên, thương lượng giá cả, chủ mua hàng định giá mua bao tất
cả hàng hóa tốt xấu không bỏ sót lại thứ gì. Đến ngày trương buồm trở
về gọi là “hồi đường”, chủ thuyền có yêu cầu mua giúp vật gì thì người
chủ buôn ấy cũng chiếu y ước đơn mua dùm chở đến trước kỳ giao hẹn, hai
bên chủ khách chiếu tính hóa đơn thanh toán rồi cùng nhau đờn ca vui
chơi, đã được nước ngọt tắm rửa sạch sẽ lại không lo sự trùng hà ăn
lủng ván thuyền, khi về lại chở đầy thứ hàng khác rất là thuận lợi”.
Chưa thấy tài liệu cụ thể về các sản phẩm mua bán lúc ấy, nhưng ta đoán
là thương gia Hoa kiều nắm độc quyền về xuất nhập cảng từ khi bắt đầu
khẩn hoang, ngoài những sản phẩm đất Đồng Nai như gạo, cá khô, còn một
số sản phẩm từ Cao Miên đem xuống : các loại thảo dược, ngà voi. Sản
phẩm nhập cảng gồm tơ lụa, vải bô, dược phẩm cho đến những xa xí phẩm.
Người Tàu thích dùng đồ bên Tàu : gạch ngói, đá xây cột chùa, nhang
đèn, giấy tiền vàng bạc. Họ cưới vợ Việt Nam, bày ra những thói ăn xài,
phung phí vào dịp Tết.
Những địa điểm định cư lúc ban đầu là vùng Bà Rịa, Đồng Môn, Long
Khánh, Tân Uyên, những cánh đồng ở hai bên bờ sông Đồng Nai gần cù lao
Phố. Đất Trấn Biên lúc bấy giờ ăn đến Thủ Đức, Giồng Ông Tố, vùng Thủ
Thiêm, Nhà Bè; phía Tây thì ăn qua vùng Thủ Dầu Một, Lái Thiêu.
Vùng Bến Nghé Sài Gòn : nòng cốt của Gia Định
Đây là vùng đất giồng ở sông Sài Gòn, rạch Thị Nghè lên Hốc Môn, Gò
Vấp; vùng Chợ Lớn ngày nay ăn xuống Bình Điền, Bình Chánh; Gò Đen, nối
liền đến Cần Đước, Cần Giuộc, những giồng thuận lợi để làm ruộng và làm
rẩy. Nếu vùng cù lao Phố được ưu thế là có nước ngọt quanh năm, thì
vùng Sài Gòn lại bị ảnh hưởng nước mặn từ biển tràn vào, giồng cao ráo,
đào giếng có thể gặp mạch nước ngọt, phần còn lại là đất quá thấp.
Vùng Sài Gòn là Prei Nokor (chùa Cây Mai được gọi là Vat Prei Nokor)
nằm trên giồng, phía Chợ Lớn ngày nay. Năm 1739, đồn Dinh đóng ở thôn
Tân Mỹ, có tài liệu ghi là Tân Thuận, phải chăng vì quân sĩ muốn ở gần
bờ sông lớn (gần Nhà Bè) để dễ di chuyển và kiểm soát an ninh ? Thoạt
tiên từ cù lao Phố đến Bến Nghé — Sài Gòn chỉ dùng đường thủy, chợ Nhà
Bè thành hình, ứng dụng vào nhu cầu như một chợ nổi ở giữa ngã ba. Hanh
Thông xã (Gò Vấp) trở thành đơn vị hành chánh từ năm 1698, Phú Thọ năm
1747, Tân Sơn Nhứt năm 1749. Ngay từ năm 1698, người Hoa kiều lập xã
Minh Hương ở vùng Sài Gòn, nơi đây họ cũng nắm việc thương mãi. Năm
1770, sử chép chuyện ông Tăng Ñn đánh cọp tại chợ Tân Kiểng (Tân Cảnh),
năm 1774 chùa Giác Lâm dựng lên, trên gò đất cao ráo (do người Minh
Hương là Lý Thụy Long quyên tiền), chùa Kim Chương lập năm 1775. Phú
Lâm, vùng Bình Điền là đất giồng. Nhưng nơi thuận tiện cho việc canh
tác phải kể là vùng Cần Giuộc, Cần Đước. “Gạo Cần Đước nước Đồng Nai”
nổi danh là ngon và trong mát. Vùng ven biển Nam kỳ (trừ ra rừng Sác —
Cần Giờ và rừng Đước mũi Cà Mau) còn nhiều đất rất tốt. Bên kia Cần
Đước là Gò Công với nhiều giồng và đất phù sa ở bờ Cửa Đại, Ba Lai (trở
thành vựa lúa quan trọng đời Gia Long).
Đất đã tốt lại ở ven biển, lưu dân có thể đi ghe bầu từ miền Trung vào
vàm mà lập nghiệp, ngoài huê lợi ruộng nương còn huê lợi cá tôm. Đánh
lưới ngoài biển vốn là sở trường của dân Việt. Làm ruộng ở những nơi xa
lỵ sở thì dễ trốn thuế, tha hồ chọn lựa đất tốt. Nhờ đường biển, việc
liên lạc về quê xứ miền Trung được thuận lợi.
Trấn Biên và Phiên Trấn khi mới khẩn hoang tuy đất không tốt bằng phía
Cửu Long nhưng vẫn là phì nhiêu so với vùng Bình Thuận. Vì ở gần lỵ sở,
gần thương cảng nên lúa gạo bán có giá. Về mặt an ninh vì xa sông Tiền
sông Hậu nên khỏi sợ nạn chinh chiến khi chúa Nguyễn và Xiêm La gây hấn.
Vùng Ba Giồng : nòng cốt của Định Tường
Sông Cửu Long khác hơn sông Đồng Nai và sông Vàm Cỏ. Hằng năm, Cửu Long
có nơi nước lụt tràn bờ. Đất giồng ven bờ sông, đất cù lao ở Cửu Long
khác hơn mấy gò ở gần Đồng Nai. Vùng Cửu Long đất thấp, đào xuống vài
lớp xuổng là gặp nước, việc trồng cây ăn trái lại dễ dàng, khỏi tưới.
Múc nước giếng, hay gánh nước từ mé rạch lên nhà, lên rẫy lại ít tốn
công. Bờ Cửu Long thường có bãi bùn, bồi đắp nhanh chóng, đất cù lao
lan ra trong vài năm là thấy cuộc biển dâu. Việc vận tải, giao thông
dùng ghe xuồng thay vì dùng xe bò hoặc đi bộ, khiêng gánh. Kỹ thuật cày
bừa cùng là ngày tháng cấy hái phải thay đổi cho thích ứng với hoàn
cảnh mới.
Dương Ngạn Địch “đem binh lính ghe thuyền chạy vào cửa Soi Rạp và Đại
Tiểu hải khẩu rồi lên đồn trú ở xứ Mỹ Tho”. Đây là cuộc định cư có sắp
đặt, “xá sai Văn Trinh và tướng thần lại Văn Chiêu đưa dụ văn sang Cao
Miên bảo Thu Vương chia đất để cho bọn Dương Ngạn Địch ở. Tháng 5, Văn
Trinh dẫn cả binh biền Long Môn và đưa ghe thuyền đến đóng dinh trại ở
địa phương Mỹ Tho rồi dựng nhà cửa, tụ tập người Kinh, người Thượng
(người Miên) kết thành chòm xóm”, “sau này mới lập dinh trấn, đều là
tùy thời dời đổi, hoặc hướng Nam, hoặc hướng Bắc, hoặc đem tới, hoặc
rút lui cũng chẳng ngoài địa cuộc ấy”.
Trên 1000 binh sĩ của Dương Ngạn Địch làm ăn tại đâu ?
Họ không rời khỏi “địa cuộc” tốt chọn lựa lúc ban đầu như tài liệu trên
cho biết. Chúng ta có thể xác nhận là giồng Cai Yến ăn đến vùng Ba
Giồng, khởi đầu là Tân Hiệp (nay còn gọi là giồng Trấn Định) đến Thuộc
Nhiêu, Cai Lậy, giữa Tiền giang và Đồng Tháp Mười.
Lúc mới khẩn hoang, hai lỵ sở chính là Biên Hòa và Phiên An ở gần nhau
phía Đồng Nai. Các quan thì muốn cho dân chúng phân tán ra chiếm cứ đất
phía Tây Nam nên đặt quy chế rộng rãi, không câu thúc. Về nguyên tắc,
người khẩn hoang ở Vũng Gù (Tân An, sông Vàm Cỏ) hoặc Mỹ Tho, đều là
dân của hai huyện Phước Long và Tân Bình. Để khỏi chuyên chở đường xa
khi đóng thuế bằng lúa và bằng tiền mặt, họ có thể nạp tại các kho thuế
ở địa phương, vừa thuận lợi cho dân, cho các quan cũng khỏi lo sợ nạn
thất thâu. Một số người làm nghề rừng, nghề biển hưởng quy chế riêng
khỏi lập thôn ấp, chỉ cần đôi người thay mặt đứng ra chịu trách nhiệm
để kết họp thành trang trại, man, thuộc, nậu. Họ sống định cư hoặc lưu
động, với người cai trại hoặc người bộ trưởng, người đầu nậu cầm đầu.
Chín kho thâu thuế (cửu khố trường) dành cho các trại, các nậu, mang tên sau đây (đặt ra từ năm 1741) :
— Quy An
— Quy Hóa
— Cảnh Dương
— Thiên Mụ
— Gian Thảo
— Hoàng Lạp
— Tam Lịch
— Bả Canh
— Tân Thạnh
Ba kho Tân Thạnh, Cảnh Dương, Thiên Mụ, làm chỗ cho dinh Trấn Biên
trưng thâu tô thuế để nạp tải về Kinh, đều ở phía bắc Hậu giang tức là
sông Cát, phía đông cù lao Phố.
Kho Tam Lạch (Tam Lịch) ở vùng Mỹ Tho (theo cha Jean de Jésus thì Tam
Lạch là nơi mà quân Đông Sơn khởi sự xưng danh tánh), ta hiểu là vùng
Ba Giồng.
Kho Bả Canh ở vùng Cao Lãnh ngày nay.
Kho Gian Thảo ở cách phía nam thành Gia Định 4 dặm rưỡi, sau sửa lại gọi là kho Bốn Trấn.
Kho Hoàng Lạp ở huyện Phước Long (Biên Hòa). Phải chăng kho này dùng để
thâu sáp ong và lâm sản do thợ rừng phía biên giới Việt Miên đóng góp ?
Kho Quy An và Quy Hóa ở đâu ? Có nên suy luận là vùng An Hóa ở cửa Đại
ngày nay, lấy hai tiếng sau chót nhập lại ? Nguyễn Khoa Thuyên ghi rằng
ở Quy An có hơn 100 thôn, tên Quy An được nhắc tới theo thứ tự sau Tam
Lạch và Tân Bình. Bả Canh được Nguyễn Khoa Thuyên ghi lại như là một
trại, cùng với hai trại khác là Ba Lai và Rạch Kiến.
Trên bản đồ, ta thấy có đến 4 kho tập trung ở cù lao Phố và Bến Nghé để
thuận đường chở chuyên về kinh đô Huế và các tỉnh miền Trung khi chúa
Nguyễn còn nắm chủ quyền. Mấy kho kia ở Ba Giồng (Tam Lạch), Cao Lãnh
(Bả Canh), Qui An có lẽ gần một vàm sông nhánh của Cửu Long, hoặc Ba
Lai, hoặc cửa Đại.
Đời vua Hiển Tôn (1691—1725), lập phủ trị ở phía bắc chợ. Năm 1772 lập
Trường Đồn đạo, năm 1779, lấy phần đất nằm giữa trấn Biên, Phiên trấn
và Long Hồ đặt làm Trường Đồn dinh có Lưu thủ, Ký lục và Cai bộ coi
việc quân sự, hành chánh, thuế vụ và bãi bỏ các kho trên. Trường Đồn
dinh đóng ở giồng Cai Yến (giồng này bắt đầu từ vùng Khánh Hậu thuộc
Tân An ngày nay), rồi lại đổi tên là Trấn Định, đóng ở Tân Hiệp. Hai
tiếng Định Tường chỉ xuất hiện từ năm Gia Long thứ 7 (1808).
Vùng Long Hồ : nòng cốt của Vĩnh Long, An Giang
Kiểm soát sông Tiền, sông Hậu là vấn đề mà các chúa Nguyễn quan tâm
nhứt, về mặt quân sự và về canh tác. Muốn dùng binh lên Cao miên, phải
cho chiến thuyền đi ngược dòng Tiền giang để đến Ba Nam rồi Nam Vang.
Tiền giang là sông nhiều nhánh, gần vàm biển mỗi nhánh khá rộng với bờ
đất phù sa cao ráo, thuận lợi để trồng đậu, trồng khoai, đặc biệt là
trồng dâu nuôi tằm, trồng cau, trồng trầu, trồng dừa, các loại cây ăn
trái. Đất còn lại là ruộng tốt. Đây là cuộc đất lý tưởng “sông sâu nước
chảy”. Thoạt tiên, hai tiếng Long Hồ phát xuất từ tả ngạn Tiền giang.
Năm 1732 chúa Nguyễn sai quan khổn súy Gia Định chia phần đất của Gia
Định (sau này là của Định Tường) lập châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ
tại Cái Bè, gọi là Cái Bè dinh.
Năm 1756 và 1757, cuộc Nam tiến hoàn tất về mặt chính trị. Trước mặt
dinh Cái Bè — ở vàm rạch Cái Bè phì nhiêu, bên cạnh rạch Cái Thia nhiều
phù sa — là những cù lao lớn giữa các sông Ba Lai, Hàm Luông và Cổ
Chiên, chưa kể đến mấy cù lao tuy nhỏ nhưng quan trọng ở giữa Tiền
giang. Bên kia Tiền giang là nơi tập trung nhiều sốc Miên, vùng Trà
Vinh. Có thể là trước khi sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam, lưu dân đã
đến làm ăn rải rác nhưng cuộc khẩn hoang được xúc tiến quy mô hơn từ
khi trở thành lãnh thổ Việt Nam, danh chánh ngôn thuận. Hai địa danh cù
lao Bảo, cù lao Minh xuất hiện sau này, xứng danh là trái châu của Cửu
Long.
Phía cù lao Bảo có tám giồng, phía cù lao Minh có 11 giồng. Đặc điểm
của những giồng này là chịu ảnh hưởng nước lớn nước ròng do thủy triều,
nhưng không bao giờ bị ngập vào mùa lụt của sông Cửu Long.
Nguyễn Cư Trinh và Trương Phúc Du xin dời dinh Long Hồ từ Cái Bè qua
đất Tầm Bào, tức là vùng chợ Vĩnh Long ngày nay, đồng thời đặt những
đồn ở Tây Ninh, Hồng Ngự, cù lao Giêng, Sa Đéc, Châu Đốc.
Dinh Long Hồ kiểm soát Tiền giang và hai bên bờ Hậu giang. Đồng thời
dinh này cũng bao trùm luôn vùng biên Vịnh Xiêm La với Long Xuyên đạo
(Cà Mau), Kiên Giang đạo (Rạch Giá). Riêng về vùng Ba Thắc (Sóc Trăng)
nơi người Miên sống quá tập trung thì việc cai trị vẫn thuộc về họ.
Dụng ý của chúa Nguyễn là dùng nơi này để khống chế Cao Miên. Sông Cửu Long là biên giới Việt Nam ở miền ba biên giới.
Năm 1779, chúa Nguyễn duyệt xem bản đồ, nâng vùng Mỹ Tho làm dinh
(Tường Đồn dinh) đồng thời cũng thử bày một chuyến phiêu lưu : dời dinh
Long Hồ đến cù lao Hoằng Trấn, ở giữa Hậu giang. “Đương thời có người
bàn rằng địa thế Hậu giang rộng lớn, rừng núi mù mịt, vùng Ba Thắc, Cần
Thơ, Trà Vinh có nhiều sốc của Cao Miên mà cách xa dinh Long Hồ, nên
đặt một đai trấn để khống chế, mộ dân đến khai khẩn ruộng đất”. Dinh
Long Hồ dời đến Hoằng Trấn năm trước là năm sau (1780) lại lui về chỗ
cũ (tức là vùng chợ Vĩnh Long), đổi tên là Vĩnh Trấn dinh.
Kinh nghiệm cho thấy rằng con đường từ Hậu giang lên Cao Miên quá xa,
không thuận bằng đường Tiền giang, phía Vĩnh Long. Cù lao Hoằng Trấn ở
Hậu giang được khai thác sớm, còn mang tên là cù lao Tân Dinh, gợi lại
hình ảnh của dinh Long Hồ ngày trước. Giữa Tiền giang và Hậu giang, có
s≥n nhiều sông rạch lớn nhỏ liền lạc nhau lại còn nhiều giồng đất tốt,
quanh năm nước ngọt, mùa nước lụt không ngập (vùng Sa Đéc). Những cù
lao trên sông Tiền, sông Hậu đều đáng giá, nhiều cù lao vừa rộng vừa
dài, đất biền chung quanh cù lao rất màu mỡ, năng xuất cao : cù lao
Dung, cù lao Trâu, cù lao Dài, cù lao Giêng, cù lao Mây, cồn Bình Thủy,
cù lao Năng Gù. So với sông Vũng Gù (Vàm Cỏ Tây) luôn cả sông Đồng Nai
thì Tiền giang và Hậu giang đất tốt hơn, khí hậu khá lành. Dân cư còn
thưa thớt, đòi hỏi nhiều đợt lưu dân đến khai thác. Duy có điều bất lợi
là xa Gia Định, người Miên sống tập trung tại nhiều vùng lớn rộng có
thể khuấy rối an ninh ; vùng Thất Sơn chưa thám hiểm được, lại còn cánh
đồng bát ngát (Rạch Giá, Cần Thơ) nằm giữa hữu ngạn Hậu giang và vịnh
Xiêm la. Nước Xiêm đang hồi hăng sức, có thể đột nhập miền biên giới —
một biên giới chưa rõ rệt, khó định cư vì nước ngập quá sâu, không
thích hợp với lối cày cấy đương thời (đồng Châu Đốc, Láng Linh, Tháp
Mười).
Những chuyến đi về “tẩu quốc và phục quốc” của vua Gia Long được thực
hiện dễ dàng là nhờ ngài am hiểu địa thế của vùng đất rộng ấy hơn quân
Tây Sơn. Nào là sông Mân Thít nối ngang Ba Kè tới vùng Trà Ôn, nơi
nhiều người Miên sống tập trung. Nào vùng Nước Xoáy tấn thối dễ dàng,
lại còn vùng Cần Thơ với rạch Cần Thơ ăn thông qua sông Cái Bè rồi sông
Cái Lớn với vùng U Minh. Sông Gành Hào, sông Ông Đốc ở tận mũi Cà Mau.
Thời thạnh trị của họ Mạc quá phù du vì không đủ dân và không đủ quân
để kiểm soát một vùng Hậu giang quá rộng mà trên danh nghĩa thì họ Mạc
được chúa Nguyễn giao cho cai quản.
Sơ kết thành quả :
Thương cảng Sài Gòn thành hình và phát triển
Người Hoa kiều nắm nội và ngoại thương ngay từ buổi đầu, họ lại có thế
lực quân sự. ở cù lao Phố, Trần Thắng Tài sống thuận hòa với chúa
Nguyễn, năm 1700, ông cùng quân sĩ tùy tùng tham gia trận đánh quyết
định, chiến thắng tại Nam Vang. Con Trần Thắng Tài là Trần Đại Định
cưới con gái Mạc Cửu, tức là em gái của Mạc Thiên Tứ (vợ Mạc Cửu là
người Việt Nam, quê ở Đồng Môn, thuộc Biên Hòa), về sau Trần Đại Định
vì bị hiểu lầm nên buồn tủi, chết trong ngục. Dương Ngạn Địch chết vì
phó tướng là Hoàng Tấn làm phản, Hoàng Tấn lại bị quân sĩ Việt Nam
trừng trị. Họ Mạc ở Hà Tiên được chúa Nguyễn cho hưởng quy chế tự trị.
Dòng họ này trung thành với chúa Nguyễn nhưng lại bị Xiêm Vương là Phi
Nhã Tân quấy rối (ông vua Xiêm này gốc người Triều Châu). Một viên
tướng Triều Châu tên là Trần Liên đã đem binh qua đốt phá Hà Tiên,
quyết sanh tử với Mạc Thiên Tử. Hai tên cướp Triều Châu khác là Hoắc
Nhiên và Trần Thái cũng gây khá nhiều rắc rối cho họ Mạc ở Hà Tiên.
Có người cho rằng người Trung Hoa hải ngoài thường tự tôn, ôm ấp giấc
mơ làm bá chủ một cõi. Nếu có thật vậy, thì những giấc mơ ấy không bao
giờ thực hiện được ở đất Đồng Nai, ít ra là về mặt chánh trị và quân
sự. Chỉ một lần hồi năm 1747 khi có thương gia người Phước Kiến là Lý
Văn Quang đến cư ngụ tại cù lao Phố, nhân thấy việc phòng bị lơ là nên
cấu kết với hơn 300 bè đảng, xưng là đại vương. Cuộc khởi loạn bị dập
tắt, Lý Văn Quang và đồng bọn bị áp giải về Phước Kiến (bấy giờ, ta
ngại rắc rối về ngoại giao với nhà Thanh).
Năm 1772, chúa Nguyễn suy yếu, Trương Phúc Loan lộng quyền nhưng quân
sĩ Đàng Trong vẫn còn mạnh, 10000 quân ở dinh Bình Khương, Bình Thuận
cùng 300 chiến thuyền hợp với quân ở dinh Long Hồ kéo lên Cao Miên đánh
thắng một trận lớn để cứu vãn tình thế nguy ngập ở Hà Tiên, cứu Mạc
Thiên Tứ khi quân Xiêm chiếm cứ thành này ;
Tình thế ở Đàng Trong trở nên bi đát khi anh em Tây Sơn khởi nghĩa.
Tháng hai năm 1776, Nguyễn Lữ kéo vào đất Gia Định. Tháng năm năm ấy,
Nguyễn Lữ rút lui sau khi cướp lấy lúa kho, chở hơn 200 thuyền chạy về
Quy Nhơn. Con số này giúp chúng ta thấy phần nào thành quả của việc
khẩn hoang ở Đồng Nai và Cửu Long.
Một viên cai bộ ở phủ Gia Định là Hiến đức hầu Nguyễn Khoa Thuyên báo
cáo lại những con số cụ thể về lực lượng quân sự và tình hình chánh
trị, kinh tế. Sau đây là vài chi tiết về xứ Đồng Nai :
— Huyện Phước Long (vùng Trấn Biên) có hơn 200 thôn, dân số 8000 người, lệ thuế ruộng hơn 2000 hộc.
Các thuộc Cảnh Dương, Thiên Mụ, Hoàng Lạp có phỏng 40 thôn nậu, dân số 1000 người phải nạp thuế.
Thuộc Ô Tất gồm phỏng 30 nậu, dân số ước 500.
— Huyện Tân Bình có hơn 350 thôn, số dân hơn 15000 dinh, thuế ruộng hơn 3000 hộc.
Quy An có hơn 100 thôn, số dân 3000 đinh, ruộng hơn 5000 thửa.
Tam Lạch có hơn 100 thôn, số dân 4000 đinh, ruộng hơn 5000 thửa.
Các trại Bả Canh, Ba Lai, Rạch Kiến, có 100 thôn, dân 4000 đinh, ruộng hơn 4000 thửa.
— Châu Định Viễn có lối 350 thôn, dân 7000 đinh, ruộng 7000 thửa.
Nhìn con số trên, ta thấy Cửu Khố (còn gọi 9 trường biệt nạp), dành cho
vùng đất ở xa Trấn Biên và Phiên Trấn (sau này là Trấn Định, trở thành
Mỹ Tho), gồm các thuộc :
Cảnh Dương, Thiên Mụ, Hoàng Lạp, Ô Tất (đóng thuế về Phước Long).
Tam Lạch, Quy An, Bả Canh, Ba Lai, Rạch Kiến (đóng thuế về huyện Tân Bình, vùng Sài Gòn).
Tài liệu của Nguyễn Khoa Thuyên cũng nêu rõ quân số, các nơi trú quân
của chúa Nguyễn. Nhiều thủ ngự đặt ở Tiền giang và Hậu giang gần vàm
rạch mà ta tin rằng ở vùng phụ cận có thôn xóm khá sung túc : vàm Ông
Chưởng, Tân Châu, chợ Thủ, Sa Đéc, Vũng Liêm, Láng Thé, Lấp Vò, Trà Ôn,
Cần Chung (Cần Chong nay là Tiểu Cần), cù lao Tân Dinh, Bắc Trăng
(thuộc Trà Vinh).
Thành tích này khá lớn lao : những vùng đất phù sa ven sông
rạch, những cù lao thuận lợi cho việc canh tác cổ truyền (ruộng cày,
mỗi năm một mùa gặt) đều có người chú ý đến, không bỏ sót. Đồng bằng
Cửu Long hơn đồng bằng Đồng Nai rõ rệt về mặt canh tác, sản xuất lúa
gạo, với nhiều triển vọng tươi sáng hơn.
Trước 1776, thương cảng lớn nhất của miền Nam là cù lao Phố.
Năm 1776 và 1777 quân Tây Sơn tràn vào Gia Định, đánh cù lao Phố “chiếm dỡ lấy phòng ốc, gạch đá, tài vật chở về Quy Nhơn”.
Nông Nại Đại Phố tức là thương cảng cù lao Phố suy sụp luôn, thương gia
Hoa kiều bèn kéo nhau xuống vùng Chợ Lớn ngày nay để lập chợ Sài Gòn,
sát với chợ Tân Kiểng thành hình từ trước 1770.
Thương cảng Sài Gòn (nên hiểu là Chợ Lớn ngày nay) thành hình và phát
triển nhanh từ năm 1778. “Từ khi Tây Sơn nổi lên, quan quân hội cả ở
trấn Phiên An, thuyền buôn cũng dời đậu ở sông Tân Bình (sông Sài
Gòn)”. Nhưng 4 năm sau, năm 1782, Nguyễn Nhạc tới thôn Vườn Trầu, bị
phục kích thua thảm bại, hộ giá Ngạn của Tây Sơn tử trận. Nhạc nhận ra
bọn phục kích là đạo binh Hòa Nghĩa gồm nhiều người Tàu theo giúp
Nguyễn Ánh. “Nhạc bèn giận lây, phàm người Tàu không kể mới cũ đều giết
cả hơn 10000 người. Từ Bến Nghé đến sông Sài Gòn, tử thi quăng bỏ xuống
sông làm nước không chảy được nữa. Cách 2, 3 tháng người ta không dám
ăn cá tôm dưới sông. Còn như sô, lụa, chè, thuốc, hương, giấy, nhất
thiết các đồ Tàu mà nhà ai đã dùng cũng đều đem quăng xuống sông, chẳng
ai dám lấy. Qua năm sau, thứ trà xấu một cân giá bán lên đến 8 quan, 1
cây kim bán 1 quan tiền, còn các loại vật khác cũng đều cao giá, nhân
dân cực kỳ khổ sở”.
Ngoài việc trả thù riêng người Tàu, Nguyễn Nhạc còn có dụng tâm tiêu
diệt đầu não kinh tế của miền Nam, nơi chúa Nguyễn nắm được nhân tâm từ
lâu.
Suốt thời gian tẩu quốc và phục quốc, Sài Gòn được xem là kinh đô của Nguyễn Ánh (1779—1801).
Sài Gòn được ưu thế là gần vùng Mỹ Tho và Long Hồ. Việc chuyên chở lúa
gạo và sản phẩm từ Tiền giang tuy khó khăn nhưng lúc bấy giờ kinh rạch
vẫn tương đối thuận lợi cho loại ghe có sức trọng tải nhẹ. Nhìn trên
bản đồ, ta thấy sông rạch chằng chịt ; vào mùa mưa nước sông tràn đầy,
nhưng mùa nắng thì nhiều khúc không lưu thông được, hoặc lưu thông khó
khăn phải sang qua ghe nhỏ, kéo bằng sức người hoặc sức trâu, sông rạch
lại quanh co, không đủ nhân công để vét. Công trình đào kinh khởi đầu
với sáng kiến của Nguyễn Cửu Vân để cố gắng nối liền sông Vũ Gù (Vàm Cỏ
Tây) qua sông Mỹ Tho tức là Vàm Cỏ Tây qua Tiền giang, sau lại đào sâu
thêm. Tuy nhiên, vì có giáp nước khiến phù sa hai đầu dồn vào nên bị
cạn, thuyền to phải chờ khi nước lớn mới qua lại được. Đã có tạm đường
thông thương từ Mỹ Tho qua Vũng Gù. Vũng Gù thông qua Vàm Cỏ Đông đến
Bến Lức, theo đường nước đến Ba Cụm rồi theo sông Bình Điền đến Chợ
Lớn. Năm 1772, Nguyễn Cửu Đàm (con của Nguyễn Cửu Vân) đào kinh Ruột
Ngựa, nối liền Rạch Cát đến kinh Lò Gốm mà trước kia ghe thuyền không
qua lại được, chỉ có “một đường nước đọng móng trâu”. Phía Gò Công, Cần
Giuộc cũng có đường thủy lên Rạch Cát. Phía Hậu giang, khi tranh chấp
bằng quân sự với Tây Sơn, Nguyễn Ánh vẫn tấn thối theo đường sông từ
Sài Gòn Gia Định đến tận Sa Đéc, Cần Thơ, Cà Mau, Rạch Giá.
Dời đến Sài Gòn thì thể thức phân phối và tích trữ hàng hóa không được
thuận lợi như lúc ở cù lao Phố : “Khi thuyền cặp bến, không có chủ lớn
bao trữ nên phải gánh đến các chợ bán lẻ linh tinh, kịp khi muốn mua
thổ hóa đem về, thì đi tìm đông hỏi tây rất nhọc sức. Lại có bọn thổ
côn giả dạng làm người giàu có nói dối, mua xong rồi tìm nơi trốn
tránh, nếu mất số vốn một ít thì còn gắng chịu mà về, thảng hoặc mất
vốn quá nhiều thì phải cầm ghe lấy tiền ở đến mùa đông để truy tầm bọn
ấy, làm cho kẻ viễn thương ngày càng cực khổ”.
Tệ đoan xảy ra vì địa bàn hoạt động của Sài Gòn rộng hơn cù lao Phố,
nhưng chỉ là lúc giao thời. Về sau, cũng chính thương gia Hoa kiều đứng
ra tổ chức hệ thống mua bán hoàn hảo hơn.
Ở vàm Hậu giang, từ lâu người Miên sống tập trung tại vùng Ba Thắc (Sóc
Trăng) trên đất giồng cao ráo, làm ruộng khéo léo, gạo nổi tiếng là
ngon. Thay vì chở lên Sài Gòn, thương gia địa phương đứng ra chịu mối
với các ghe buôn từ nước ngoài đến. Một thương cảng thành hình từ xưa,
phỏng đoán là ở vùng Bãi Xàu (Mỹ Xuyên ngày nay) nơi sông Ba Xuyên ăn
thông ra Hậu giang. Theo nhựt ký của cố đạo Levavasseur vào năm 1768,
thì thương cảng này mang tên là Bassac thành lập ở mé sông, nơi đất
thấp với nhà lợp lá. ở đây dùng tiền quan (quan 600 đồng của Việt Nam)
; một đồng bạc Con ó trị giá 5 quan tức là 3000 đồng. Chợ bán gạo,
nhiều loại trái cây, rau, gà vịt, heo. Phải chờ nước lớn ghe thuyền mới
vào được. Thuyền chủ toàn là Trung Hoa, dân ở chợ đa số là người Trung
Hoa, quan cai trị là người Cao Miên. Thuyền buôn đều của người Trung
Hoa, đậu san sát từ 100 đến 150 chiếc để mua gạo và mua đường. Không
hiểu họ đem tới đây bán những món gì.
Nên nhắc đến thương cảng Hà Tiên mà các thương gia ngoại quốc thường đề
cập tới, được phồn thịnh một thời nhờ xuất cảng sản phẩm của Cao Miên
phần lớn, khi Mạc Cửu và Mạc Thiên Tử còn hưng thời.
Việc tổng động viên năm 1789
Cuộc tranh chấp bằng võ lực giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh làm nguy hại cho
nông nghiệp. Nói chung thì quân Tây Sơn không thâu phục được nhân tâm,
trừ một trường hợp là cuộc chiến thắng quân Xiêm ở rạch Gầm, Xoài Hột
vào năm 1874. Quân Xiêm do hai tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương với lực
lượng hùng hậu kéo đến nhưng Trịnh Hoài Đức, người viết sử thiên vị rõ
rệt về phe Nguyễn Ánh cũng đã thú nhận : “Binh Xiêm đến đâu đều cướp
bóc khó bề hạn chế nên vua (Nguyễn Ánh) lấy làm lo. Đã vậy mà binh Xiêm
lại kiêu hãnh, lòng dân bất phục”. Ở trấn Vĩnh Thanh, trong lúc Tây Sơn
vào chiếm cứ thì dân chúng “đều chôn cất của cải không dám phơi bày ra,
cho nên bọn cường đạo không cướp lấy được vật gì”. “Chợ phố lớn Mỹ Tho,
nhà ngói cột chàm, đình cao chùa rộng, ghe thuyền ở các ngả sông biển
đến đậu đông đúc làm một đại đô hội rất phồn hoa huyên náo. Từ khi Tây
Sơn chiếm cứ, đổi làm chiến trường, đốt phá gần hết, từ năm 1788 trở
lại đây, người ta lần trở về, tuy nói trù mật nhưng đối với lúc xưa
chưa được phân nửa”.
Chánh sách của Tây Sơn ở miền Nam là phá căn cứ địa, chận các đường
thủy từ Sài Gòn, Cần Giờ đến vùng vàm sông Cửu Long, chận các vị trí
chiến lược nối Tiền giang qua Hậu giang, Hậu giang đến vịnh Xiêm La, từ
vùng Long Xuyên (Cà Mau) ra Phú Quốc, qua Xiêm. Thủy quân của Tây Sơn
đồn trú hoặc tuần tiểu tới lui vùng Băng Cung, Ba Thắc, Phú Quốc, vàm
sông Mân Thít, Trà Ôn, Sa Đéc, sông Ba Lai. Khi chiếm đóng, chính sách
kinh tế và việc tổ chức hành chính thay đổi như thế nào ? Nguyễn Huệ
chịu trách nhiệm từ Huế ra Bắc phần. Nguyễn Lữ, phò mã Trương Văn Đa,
lưu thủ Hóa ở đất Gia Định không biểu dương được tài năng gì lạ ngoài
những hàng động quân sự.
Quân Tây Sơn bị cô lập ở đất Gia Định vì những lý do sau đây :
— Dân khẩn hoang mang ơn các chúa Nguyễn, họ được khá giả hơn lúc ở
miền Trung, đất tốt còn nhiều, chưa cần một chánh sách điền địa mới,
hoặc một sự thay trào đổi chúa.
— Quân Tây Sơn không thâu phục được người Hoa kiều (đốt chợ cù lao Phố,
đốt chợ Sài Gòn, Chợ Lớn, phá chợ Mỹ Tho), là hậu thuẫn kinh tế cho
Nguyễn ánh.
— Người Cao Miên ở Trà Ôn, người Đồ Bà (Chà Châu giang) đều có cảm tình
và tích cực ủng hộ Nguyễn Ánh, nhờ đường lối chính trị mềm dẽo. Lúc bấy
giờ quân Tây Sơn nặng lo những vấn đề ở Bắc hà (cựu thần nhà Lê) và còn
lo đối phó với quân nhà Thanh. Quân Tây Sơn đánh giá quá thấp sức chịu
đựng của Nguyễn Ánh, nhứt là chuyện Nguyễn Ánh cầu viện với nước Pháp.
Pháp quốc lúc bấy giờ đang nuôi nhiều tham vọng, việc tổ chức quân đội
của Pháp đạt kỹ thuật cao, với hải quân mạnh và võ khí tốt. Hành động
của Bá Đa Lộc tuy phiêu lưu nhưng gây nhiều hậu quả trầm trọng. Tháng 9
năm 1788, chiến thuyền và sĩ quan Pháp đến trong khi Nguyễn Huệ lo ứng
phó với Tôn Sĩ Nghị ở Thăng Long.
Tháng 8 năm 1788, Nguyễn Ánh thâu phục thành Gia Định. Tại Gia Định năm
ấy lập ra kho Bốn Trấn làm kho chung cho cả bốn trấn Phiên An, Biên
Hòa, Vĩnh Thanh và Định Tường để thâu trữ thuế khóa, chi cấp bổng
hướng. Tháng sáu năm 1789, Nguyễn Ánh đưa ra chánh sách rõ rệt, lấy
việc tăng gia sản xuất làm trọng, đặt ra các điền toán gồm 12 người
(trong đó có Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu, Hoàng Minh
Khánh) đi khắp bốn dinh Phiên Trấn, Trấn Biên, Trấn Vĩnh, Trấn Định để
đốc xuất dân chăm làm việc ruộng. Ai không làm ruộng phải đi lính. Ai
làm ruộng đất tốt được 100 thúng lúa, hoặc làm ruộng đất xấu được 70
thúng lúa trở lên thì được tưởng thưởng, nếu là phủ binh (binh lính
phục vụ tại các công sở) được miễn một năm khỏi làm việc quan (làm
xâu). Những người dân lậu (không vô sổ bộ) có thể làm ruộng dưới quyền
chăm sóc của các quan điền toán, xem như là lính, nếu thiếu vốn thì
được vay trước, sau sẽ trả.
Vào tháng 10 năm 1890, ngài đặt thêm sở Đồn Điền nhằm khuyến khích quân
sĩ tại ngũ tích cực cày cấy, bấy lâu vì chiến tranh nhiều vùng đất phải
bỏ hoang. Binh sĩ thuộc dinh Trung quân và quân các vệ thuyền đến khẩn
ruộng tại Tháo Mộc Câu (sông Vàm Cỏ) gọi là trại Đồn Điền, nhà nước cấp
ngưu canh điền khí và lúa giống, đậu, bắp giống, hễ cắt hái xong rồi
đem nạp vào kho, chánh cơ Nguyễn Bình coi việc ấy.
Các quan địa phương phải lập đội đồn điền, mỗi năm một người trong đồn
điền nạp 6 hộc lúa, ai mộ được 10 người trở lên cho làm quản trại, trừ
tên trong sổ làng (khỏi đi lính).
Về mặt quân sự, ngài sai lựa quân chiến tâm, tức là quân tinh nhuệ, hết
lòng đánh giặc, tập luyện kỹ càng được cấp lương và tiền rất hậu.
Để tích trữ thêm lúa gạo phòng khi hành quân tái chiếm các thành ở miền
Trung, ngài đặt ra lúa thị túc, thị nạp, tức là thứ thuế phụ thu (ngoài
thuế điền).
— Năm 1792, mỗi người nộp thuế thị túc từ 1 đến 5 phương.
— Năm 1799, vùng Bình Định, Phú Yên mỗi mẫu ruộng nộp 17 thăng gạo.
— Năm 1800 ở Gia Định, mỗi người nạp 2 phương, người già tàn tật nộp
phân nửa. Ruộng một mẫu nộp một phương gạo; một phương gạo bấy giờ trị
giá 7 tiền 30 đồng. Những năm dùng binh, số thuế và số thị túc phụ thu
vẫn không đủ để chi tiêu, nhà nước thu trước thuế năm tới. Về thuế
ruộng, mỗi năm nhà vua thâu hai kỳ.
Nhà nước giữ độc quyền mua những hóa hạng liên hệ tới nhu cầu quân sự
như kẽm, sắt, đồ đồng, diêm, lưu hoàng. Năm 1791, đặt thêm lệ về việc
khẩn hoang : sau khi khẩn, 3 năm mới thâu thuế, ai muốn khẩn thì nộp
đơn trong thời hạn ngắn là 20 ngày, quá thời gian ấy, đất hoang sẽ giao
cho quân sĩ cày cấy, dân không được giành nữa.
Lúa gạo đất Gia Định tích cực góp phần vào việc phản công của Nguyễn
Ánh. năm 1795 và 1796, chở tiền gạo ở Gia Định ra trữ tại thành Diên
Khánh. Năm 1799 lúc ngài ra Quy Nhơn, quân lính lại chở thêm quân
lương, “chẳng hề thiếu thốn”. Năm 1802, sử chép là Gia Định đói lắm,
ngài sai quan trấn phát gạo kho cho dân mượn, cùng ra lịnh giảm thuế
ruộng cho tỉnh Gia Định. Phải chăng vì lúa gạo dùng vào việc quân quá
nhiều ?
Tháng 2/1790, Nguyễn Ánh cho xây thành Sài Gòn, theo hình bát quái (còn
có tên là Quy Thành) kiểu thành Vauban của Pháp (do Olivier de Puymanel
vẽ kiểu và coi xây cất). Đây là Gia Định kinh, Nguyễn Ánh xem như kinh
đô của mình, với thái độ tự tin. Từ thành này có đắp quan lộ lên Biên
Hòa, và quan lộ xuống Trấn Định (Mỹ Tho) đến Cai Lậy, đường rộng 6 tầm,
hai bên đường có trồng cây mù u và cây mít là thứ cây thổ nghi.
Nguyễn Ánh tự tin là phải. Bấy giờ lúa gạo Gia Định có nhiều, quân sĩ
đang thừa thắng, một số sĩ quan Pháp lại trực tiếp giúp đỡ. Ngài ra
lịnh tấn công Quy Nhơn lần thứ nhất (1790). Nguyễn Huệ băng hà, lại có
cuộc tấn công lần thứ hai, lần thứ ba để rồi năm 1801, đến Huế.
Về sau, năm 1814, vua Gia Long còn nhắc nhở : “Gia Định là nơi trung
hưng, ngày xưa chỉ có một đám đất và một toán quân mà khôi phục đất
cũ”. Nên nói thêm rằng đó là “đám đất” tuy diện tích nhỏ hẹp nhưng tốt,
gồm đất giồng và đất cù lao của Đồng Nai và Cửu Long, và toán quân
không quá đông đảo nhưng gồm toàn những nông phu đã chịu cực khẩn
hoang, đến khi đi lính cầm gươm rồi mà còn phải cày cấy, phải đóng
thuế. Đó là hình ảnh của Võ Tánh với 10000 quân ở vựa lúa Gò Công xin
theo chân ngài.
Nguyễn Ánh vĩnh viễn rời đất Đồng Nai để về Huế đô, nhưng đất Đồng Nai,
Gia Định vẫn còn giữ vai trò cũ : vai trò vựa lúa, vai trò tiền đồn của
nước Việt. Vua Cao Miên và vua Xiêm càng thèm thuồng vùng đất phì nhiêu
này.
Những năm thái bình đời Gia Long
Gia Long xưng Hoàng đế ở Huế, vùng Gia Định dứt nạn binh đao trong
khoảng thời gian ngắn, nhưng là khá dài so với thời chúa Nguyễn và các
trào vua kế tiếp. Từ Bình Thuận trở vào, về mặt hành chánh đặt ra Gia
Định thành với quan Tổng trấn cầm đầu, nắm khá nhiều quyền hạn, lãnh
coi các việc binh dân, xâu thuế và hình phạt của năm trấn : Phiên An,
Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên. Lại coi luôn trấn Bình
Thuận về mặt quân sự. Dân số lần hồi đông đúc, các tổng trước kia đa số
đều thăng làm huyện, huyện thăng làm phủ.
Việc phồn thịnh của thương cảng Sài Gòn và lỵ sở của các trấn được ghi
khá đầy đủ qua Gia Định thành Thông chí do Trịnh Hoài Đức, người đương
thời biên soạn. Đường giao thông vận tải nắm ưu thế vẫn là đường thủy.
Du khách Hoa Kỳ là John White năm 1819 có đến Sài Gòn, ghi lại trong
quyển sổ tay như sau :
— Thành lũy Sài Gòn xây bằng đá ong, kế bên một cơ thủy trại, gần đó là
xóm nhà của dân cư gồm những lều lụp xụp, thấp hẹp. Xóm buôn bán ở về
hướng Đông. Khi đức Gia Long dẹp yên giặc Tây Sơn thì dân chúng tụ về
thành rất đông. Họ sửa sang nhà cửa lại mới, một phần lớn các gia đình
này dồn về hướng Tây của thành lũy nhà vua”. ... “Thời buổi ấy, dọc
theo hai bên bờ sông và bờ kinh rạch có vài chỗ đã được cẩn đá hay xây
gạch kỹ càng, chạy nối dài non ngàn thước tây. Về công lộ, có đường đã
lót đá nguyên miếng lớn dễ coi, nhưng phần nhiều vẫn quanh co uốn khúc
và không được săn sóc tu bổ nên không được sạch”.
Về nhân số thì thành Sài Gòn phỏng độ lối :
— 180 000 dân bổn thổ
— 10 000 người Trung quốc.
Năm 1822 “lại có một thú y sĩ qů danh là ông Finlayson tháp tùng phái
đoàn Crawfurd cũng có đến viếng Sài Gòn. Finlayson viết : Sài Gòn gồm
hai thành phố, mỗi cái đều rộng lớn bằng kinh đô nước Xiêm La, ấy là :
— Sài Gòn.
— Pingeh.
Nên hiểu Pingeh là Bến Nghé (Sài Gòn ngày nay), còn Sài Gòn là Chợ Lớn ngày nay.
Mức sản xuất lúa gạo lúc bấy giờ gia tăng như thế nào ?
Chúng ta không có con số cụ thể. Chỉ biết là năm 1804, vua Gia Long sai
các quan địa phương trữ lúa thuế vào kho cho nhiều. Kho Đồn Điền của
Gia Định thành dựng năm 1805 gồm hai dãy kho ngói, mỗi dãy gồm sáu
gian, trữ số lúa đồn điền để làm số lưu trữ, còn dư thì trữ theo kho ở
các trấn.
Năm 1804, nước Lữ Tống (Phi Luật Tân) đói, xin đong gạo Gia Định, vua
cho đong 500000 cân gạo, năm 1817 vùng Long Hồ, Sa Đéc đủ sức bán cho
Cao Miên, nhân nạn đói đến 10000 hộc lúa. Năm 1816, có lịnh cấm thuyền
buôn không được chở lúa gạo ra nước ngoài. Đường thủy cũng được tu
chỉnh lại, nhằm chuyên chở lúa gạo từ sông Cửu Long lên Sài Gòn : năm
1819, sửa lại cho rộng và cho sâu con kinh nối liền từ Vũng Gù (Tân An)
đến rạch Mỹ Tho mà Nguyễn Cửu Vân đã cho đào từ năm 1705, dùng non
10000 dân phu trong trấn Định Tường. Đào xong, vua đặt tên là Bảo Định
Hà.
Cũng năm 1819, sai Huỳnh Công Lý đốc xuất dân phu đào con kinh nối liền
từ cầu Bà Thuông (Thị Thông) đến kinh Ruột Ngựa (kinh Ruột Ngựa đào từ
năm 1772), vua đặt tên là An Thông Hà vừa rộng, vừa sâu, hai bên bờ để
đất trống, đưa sản phẩm từ Tiền giang lên Sài Gòn “dòng sông sâu rộng,
ghe thuyền đậu dài 10 dặm, theo hai con nước lên, nước ròng, thuyền bè
qua lại chèo chống ca hát, ngày đêm tấp nập, làm chỗ đô hội lưu thông
khắp ngả, thật là tiện lợi”.
Hương binh được bãi cho về cày ruộng (1810). Lúc chiến tranh, nhiều
cường hào lợi dụng thời cơ, chiếm đất của dân nên vua định lệ quân cấp
công điền công thổ (1804), và công điền công thổ không được bán vì bất
cứ lý do gì. Ai làm ruộng ẩn lậu, không khai báo để đóng thuế thì có
thể mất đất, đất giao cho người tố giác.
Vấn đề cho vay được đặt ra, trên nguyên tắc một vốn một lời (tức bất
quá bổn), người cho vay trái phép và con nợ lường gạt đều có tội. Từ
năm 1806, khi mất mùa vì thiên tai, hạn hán, lụt lội thì có lệ là chủ
ruộng phải khai báo trước khi gặt để được miễn thuế. Khai báo gian hoặc
quan lại mà giấu không chịu khai báo thì tội đồng nhau. Khi thâu thuế
có người đáng tin cậy ngồi coi, đề phòng nạn người coi kho làm khó dân,
chê lúa xấu tốt, đong ít đong nhiều để ăn hối lộ.
Trịnh Hoài Đức ghi chép rằng người địa phương ít dùng những địa danh về
hành chánh. Họ dùng tên của “những lỵ sở hoặc chỗ nhóm họp đông lớn,
hoặc chỗ địa đầu” mà gọi đại khái, tổng quát.
Trong dân gian gọi trấn Biên Hòa là Đồng Nai Bà Rịa, trấn Phiên An là
Bến Nghé Sài Gòn, trấn Định Tường là Vĩnh Gù Mỹ Tho, trấn Vĩnh Thanh là
Long Hồ Sa Đéc, trấn Hà Tiên là Cà Mau Rạch Giá.
Trong một trấn tại sao chỉ chọn lựa hai vị trí, và tại sao lựa vị trí
này mà không lựa vị trí khác ? Dân gian nói thành thói quen ắt có lý do
riêng. Theo chúng tôi nghĩ đó là họ muốn xác nhận nơi làm ăn sung túc,
“làm ăn“ có nghĩa là mua bán, cày cấy.
Sài Gòn là thành phố của người Trung Hoa dựng lên lúc ban đầu, nặng về
bán sỉ, trong khi thành phố Bến Nghé do người Việt xây dựng về sau,
nặng về bán lẻ và là khu hành chính. Vũng Gù tức là chợ Tân An ngày
nay, tuy không có chợ lớn nhưng đáng chú ý nhờ khẩn hoang lâu đời, đất
khá tốt. Sa Đéc nằm trong trấn Vĩnh Thanh, là nơi sung túc dân cư trù
mật, sống nhờ huê lợi ruộng tốt và vườn cây ăn trái. Trấn Hà Tiên, với
lỵ sở nổi danh là đẹp nhưng nghèo, không thể sản xuất đủ lúa gạo, cá
mắm, chỉ có vùng chung quanh chợ Cà Mau và chợ Rạch Giá là dễ đánh lưới
và làm ruộng dễ trúng mùa, tàu buồm Hải Nam ra vào chở cá khô, gạo.
Gia Định thành Thông chí (trong mục Cương Vực Chí) đã nêu rõ danh sách
các huyện, tổng, thôn ở toàn cõi Gia Định thành hồi đời Gia Long. Vùng
nào tập trung nhiều làng xã trên diện tích nhỏ thì nhứt định là đất
tốt, khẩn hoang có kết quả. Vùng nào có quá ít làng xã trên diện tích
quá rộng thì đất xấu. Nguyên tắc lập làng xã là có người, tức là dân
bộ. Dân bộ phải nhiều đến mức nào đó (thường là 10 người) mới lập được
một làng.
Mục Cương Vực Chí giúp ta thấy hình ảnh khá rõ rệt về tình hình khẩn
hoang lúc bấy giờ. Một thí dụ cụ thể là vùng Kiến Hòa ngày nay (tức là
khái quát vùng cù lao Bảo và cù lao Minh của Bến Tre thời Pháp thuộc)
tuy diện tích nhỏ nhưng là một huyện, lấy tên là huyện Tân An với hai
tổng Tân Minh 72 thôn và An Bảo 63 thôn. Riêng tổng Hòa Bình (vùng Gò
Công, Chợ Gạo và An Hóa) có đến 86 thôn, không kém vùng đông dân Sài
Gòn, Chợ Lớn.
Trong khi ấy, một huyện ở vùng khó khẩn hoang với diện tích to rộng chỉ
có 37 thôn : huyện Vĩnh Định, bao gồm phía hữu ngạn Hậu giang, từ biên
giới Châu Đốc đến vàm Ba Thắc ở biển Nam Hải và chưa phân ra thành tổng
như ở miệt trên;
Một nơi khác, đất phèn và nước mặn là mũi Cà Mau (nay là An Xuyên và
một phần của Bạc Liêu) chỉ có 40 xã thôn. Vùng Rạch Giá (Kiên Giang
ngày nay, trừ Hà Tiên) gồm một huyện với 2 tổng, tổng thứ nhứt là Kiên
Định có 7 thôn, tổng thứ nhì là Thanh Giang có 4 thôn. Trong số này lại
có những nậu, những thuộc, tức là xã thôn chưa thành hình đầy đủ.
Đồng ruộng ở Sài Gòn gồm dân số đông đúc, lúa bán cao giá, hoa màu phụ
dễ khai thác: Hóc Môn, Bà Điểm, Gò Vấp, hoặc phía Phú Lâm, Bình Tiên,
Bình Tây, Bình Đông.
Những con số trên chỉ ghi những thôn xã do người Việt Nam thành lập.
Phía Hậu giang, ruộng nương chưa đến đổi ít oi, dân số không quá thưa
thớt, chỉ vì phần Cương Vực Chí không ghi lại nhân số, diện tích các
sốc Cao Miên, tập trung ở vùng Trà Vinh, Rạch Giá, Bạc Liêu, Cần Thơ,
Sóc Trăng.
Riêng về vùng gần chợ Hà Tiên ghi 6 phố, sở của người Tàu, 26 sốc Cao
Miên và 19 xã thôn Việt Nam (trong số này có 12 thôn ở đảo Phú Quốc).
“Huyện Kiến Hòa đất ruộng phì nhiêu, mênh mông bát ngát. Nhiều người lo
việc canh nông làm gốc, trong nhà có chứa vựa lúa gạo đầy dẩy”. Mục
Phong Tục Chí của Trịnh Hoài Đức ca ngợi trường hợp huyện Kiến Hòa
(trấn Định Tường). Định Tường lúc bấy giờ khá rộng rãi, huyện Kiến Hòa
nói trên bao gồm trọn vùng Gò Công, vùng Chợ Gạo, luôn cả vùng đất giữa
sông Ba Lai và Cửa Đại (tức là An Hóa ngày nay). Vùng Gò Công nổi danh
đất tốt, gạo ngon. Đất ở bờ Cửa Tiểu và Cửa Đại là phù sa cao ráo. Nói
riêng về từng trấn, Định Tường (với Gò Công làm nòng cốt) là vựa lúa
quan trọng nhất của xứ Gia Định.
Về đất ruộng, ở nơi có núi đồi và có đồng bằng như miền Trung, theo lệ
từ lâu, cứ phân chia ra sơn điền và thảo điền. Sơn điền có năng xuất
kém, thảo điền năng xuất cao, vì vậy mà trong việc quy định thuế điền,
luôn luôn thảo điền chịu thuế cao hơn.
ở vùng đồng bằng Cửu Long, để tiện việc thuế khóa, nơi nào đất mới
trưng khẩn thì khai là sơn điền (mặc dầu không có núi) để chịu thuế
nhẹ, vài năm sau khi đất đã thành thục (trở thành đất thuộc) thì nâng
lên làm thảo điền.
Ruộng ở đồng bằng Đồng Nai và Cửu Long chia ra hai loại, đứng về mặt kỹ
thuật cày bừa mà xét (sự phân biệt này qua thời Pháp thuộc vẫn còn) :
— Đất cày
— Đất phát
Ruộng đất cày thường là tương đối cao, chờ mưa mới cày, thường là khai
thác lâu năm, nếu không cày thì mặt đất quá cằn cỗi thiếu chất màu mỡ,
cày để trộn đất lên.
Vùng Phiên An, Biên Hòa gồm loại ruộng cày.
Ruộng đất phát là đất thấp, còn mới, ít khai thác, mặt đất còn nhiều cỏ
và phân, nếu cày thì đất phèn phía dưới lại trồi lên làm hư lúa (Trịnh
Hoài Đức ghi là “trạch điền” để chỉ loại đất phát này).
Muốn làm ruộng đất phát, khi sa mưa, nước lên cỡ ba tấc tây thì phát cỏ
(Trịnh Hoài Đức dùng chữ trảm phạt, nhưng không nói rõ là phát bằng thứ
dụng cụ gì). Theo ý kiến chúng tôi, nông dân thời ấy dùng cây phãng mà
người Miên đã dùng từ trước. Phãng giống như cây mã tấu, cán phãng uốn
lại theo góc thước thợ, lưỡi phãng dài cỡ bảy, tám tấc tây. Người phát
cứ đứng nghiêng mình mà chém, dùng cây cù nèo gạt cỏ qua một bên rồi
chém tiếp. Phát cỏ xong xuôi, dùng cây bừa cào thứ to mà dọn cho đất
trống trải, sau đó là cấy với cây nọc (đất không cày nếu dùng tay mà
cấy thì không tài nào khoét lỗ để nhét cây mạ được).
Ruộng đất phát (trạch điền) ở Vĩnh Thanh một hộc giống thâu được 300
hộc, trong khi ruộng cày ở Phiên An, Biên Hòa một hộc lúa giống chỉ đem
lại 100 hộc.
Giống lúa sạ (lên cao theo nước lụt) tuyệt nhiên không thấy nhắc tới.
Lúc bấy giờ, việc mua bán, liên lạc với Cao Miên cũng khá thường xuyên.
Lúa sạ có nhiều ở Cao Miên, tại sao ta không cho du nhập để giải quyết
việc trồng tỉa ở phần đất rộng mênh mông phía Đồng Tháp Mười và phía
Châu Đốc ? Theo thiển ý chúng tôi, bấy giờ đất giồng ở bờ sông còn
nhiều, chưa cần khai thác quá xa tận vùng Châu Đốc và Đồng Tháp. Vả
lại, lúa sạ không ngon cơm, bán thấp giá trên thị trường.
Trong Gia Định thành Thông Chí, không lời lẽ nào đề cập đến lối canh
tác một năm hai mùa ruộng (khi người Pháp chiếm nước ta hồi cuối thế kỷ
19, ở Nam kỳ vẫn chưa làm một năm hai mùa). Ruộng hai mùa đòi hỏi đất
cao ráo, để có thể đắp bờ mà giữ nước hoặt tát nước vào ruộng cạn. Đắp
bờ và tát nước đòi hỏi nhân công, các thửa ruộng phải liền lạc, gần
nhau. Người nông phu lúc bấy giờ vì đất còn tốt và rộng nên chưa nghĩ
đến cách khai thác thâm canh ấy. Lúc rảnh rỗi, họ trồng đậu, bắp khao
dễ sinh lợi và ít tốn công hơn.
Doãn Uẩn từng là thự án sát tỉnh Vĩnh Long vào năm 1833 (sau làm đến
Tổng đốc An Hà) ghi lại vài chi tiết về cách làm ruộng : “Việc trồng
lúa thì cứ phát rạp lau sậy, bừa cỏ hai ba lần rồi cấy, không phí sức
nhiều. Như đã cấy rồi thì không cần trông nom tới, cũng khỏi phải lo
nước hạn. Vào những tháng 7, 8, 9 lục tục cày cấy, đến những tháng 11,
tháng chạp mới lần lượt gặt hái, rồi gom nhóm lại để ngay ngoài ruộng,
tới ra giêng lối tháng 2, tháng 3 mới cho trâu đạp lấy lúa hột”. “Cổ
nhân nói : Xuân canh, hạ vân, thu thâu, đông tàng xét ra không thể hoàn
toàn đúng với mọi vùng, hoặc thổ ngơi không điều hợp, thổ tục thì theo
thói quen mà làm, hoặc giả khí hậu có sớm có tối khác nhau, riêng tôi
cũng chưa thấu đạt được vậy. Cũng như nói về hoa quả, tại nhiều tỉnh
dưa đều đại khái chín vào mùa hạ, mà Nam Kỳ lại chín vào đông xuân. Tại
Bắc kỳ, sen nở mùa hạ, mà Kinh kỳ (Huế) lại trỗ bông vào giữa thời gian
giao mùa đông xuân, còn Nam kỳ thì bốn mùa sen đều có hoa cả”.
Về phong tục ở miền Nam lúc bấy giờ, Trịnh Hoài Đức ghi lại khá nhiều
chi tiết, xin lược kê vài đoạn, chứng tỏ việc khẩn hoang đem lại mức
sống sung túc : “ở Gia Định, có khách đến nhà đầu tiên gia chủ dâng
trầu cau, sau dâng tiếp cơm bánh, tiếp đãi trọng hậu, không kể người
thân sơ, quen lạ, tông tích ở đâu, ắt đều thâu nạp khoản đãi, cho nên
người đi chơi không cần đem tiền gạo theo, mà lại có nhiều người lậu
xâu, trốn thuế đi đến xứ này ẩn núp, bởi vì có chỗ dung dưỡng vậy”.
“Đất Gia Định nhiều sông, kinh, cù lao, bãi cát nên trong 10 người đã
có 9 người biết nghề bơi lội, chèo thuyền, lại ưa ăn mắm, ngày ăn ba
bữa cơm mà ít khi ăn cháo”. Lại có thói đùa cợt, bằng cách thách đố
nhau ăn hoặc uống thật nhiều. Doãn Uẩn chép : “Cũng có kẻ nghèo phải đi
ăn xin, nhưng mỗi tháng họ chỉ đi xin một lần cũng đủ sống rồi. Họ
thường tựu nhau nơi đình miếu, mỗi người đều có mùng màn riêng. Trộm
cắp cũng ít xảy ra, trâu thì có chuồng nhốt ngoài đồng”. Họ rất thích
ca hát, không ngày nào là không có múa hát.
Người Tàu còn khai thác ruộng muối ở vùng biển Sóc Trăng (Ba Thắc).
Biên Hòa nổi danh với nghề trồng mía, làm đường. Rừng Tây Ninh sản xuất
nhiều gỗ tốt, đặc biệt là dầu rái để trét ghe, làm đuốc. Chương 1 - 2
Nhu cầu xác định vùng biên giới Việt Miên
Đời Gia Long, vấn đề biên giới ở Gia Định thành được tạm ổn định. Các
hải đảo quan trọng đều có người Việt đến khai thác. Tại đảo Côn Lôn
lúa, bắp, khoai, đậu tuy không đủ dùng nhưng dân ở đảo kết đoàn làm
binh sĩ, gồm 3 đội, khai thác hải sản, trồng cau. Giặc cướp Mã Lai chỉ
đến khuấy rối tạm thời. Đảo Phú Quốc phía vịnh Xiêm La được bố trí
phòng thủ cẩn thận, dân Phú Quốc đã từng hết lòng ủng hộ lúc Gia Long
tẩu quốc, gồm 12 thôn xã và thuộc. Hòn Sơn Rái có dân, lập thành một
thôn.
Riêng về Hà Tiên thì không còn quan trọng, từ khi bị giặc Xiêm đốt phá
năm 1771. Hậu duệ của họ Mạc tuy được Gia Long chiếu cố nhưng thiếu tài
kinh bang tế thế, vả lại, trọng tâm việc thương mãi đã nghiêng hẳn về
phía Sài Gòn, Đà Nẵng ; việc mua bán với Cao Miên thì đã có Sa Đéc, Cái
Bè. Vua Gia Long cho các tàu buôn và ghe buôn ở hạt Hà Tiên được miễn
thuế (1810), đồng thời di chuyển một số quan lại, viên chức ở bốn trấn
miền trên đến tăng cường cho trấn Hà Tiên, gia tăng binh sĩ để lo việc
tuần phòng giặc biển. Năm sau (1811) vua cho Trương Phước Giáo và Bùi
Đức Mân đến Hà Tiên để tu chỉnh thành phố, chiêu dụ lưu dân : người
Trung Hoa, người Cao Miên, người Chà (gọi là chà Châu Giang), đều có
dành khu vực cư trú riêng, khá phân minh. Tuy nhiên, thương cảng Hà
Tiên không sao hưng thịnh được như trước.
Vua Gia Long đặt quan bảo hộ ở Cao Miên, nhưng như đã nói, đối thủ của
dân Việt Nam vẫn là vua Xiêm với chính sách hung hăng đang tìm cách mở
rộng biên giới. Từ năm 1795, Xiêm chiếm cứ luôn vùng Battambang và
Siemrap của Cao Miên. Năm 1814, lấn luôn vùng Mélouprey và Stungtreng
thuộc tả ngạn sông Cửu Long, thọc sâu giữa lãnh thổ Lào và Miên. Vua
Xiêm còn có tham vọng “Nam tiến” xuống bán đảo Mã Lai.
Về mặt nội an, từ lúc tẩu quốc, Gia Long nắm được tình thế đối với các
vùng tập trung sốc Miên. Năm 1780, người Miên ở Trà Vinh làm loạn,
nhưng tướng Đỗ Thanh Nhân dẹp được với chiến thuật khá tinh vi. Năm
1757, nhờ lãnh tụ Miên là Nguyễn Văn Tồn theo chúa Nguyễn nên vùng Trà
Ôn sống yên lành, chẳng có mầm mống phản loạn. Người Miên trở thành dân
binh giữ an ninh, đóng đồn tại địa phương, họ hưởng chế độ tự trị khá
rộng rãi, nhờ đó mà “những chỗ gò hoang đất trống đã được khai khẩn
thành ruộng vườn trồng tỉa”. Vua Gia Long cũng ra lịnh cho quân và dân
trong đất Gia Định trả lại những phần ruộng đất chiếm của người Cao
Miên và không tán thành việc dùng người Miên làm đầy tớ (1816).
Việc bảo vệ biên giới Việt-Miên
Địa thế Châu Đốc, Hà Tiên không kém Bắc thành. Vua Gia Long đã quan
niệm rõ rệt như thế. Bắc thành để ngăn ngừa nạn xâm lăng của Trung Hoa;
Hà Tiên, Châu Đốc để ngăn ngừa giặc Xiêm và giặc Cao Miên.
Giữa ta và Cao Miên, biên giới có phần giáp vào trấn Phiên An và Đồng
Tháp Mười, nhưng con đường chiến lược bấy lâu vẫn là sông Cửu Long, cụ
thể là Tiền giang, nơi đối phương có thể từ Nam Vang đổ xuống nhanh
chóng rồi thọc vào Định Tường. Về phía vịnh Xiêm La, còn Rạch Giá, Hà
Tiên ở sát mé biển.
Đồn lũy ở Hà Tiên và Châu Đốc đã có từ lâu, kể cả đồn Tân Châu, đồn Sa Đéc.
Lằn ranh biên giới giữa ta và Cao Miên khi Cao Miên dâng đất Tầm Phong
Long là vùng người Miên gọi là Méat Chruk (tức là mõ của con heo, ta âm
lại là Ngọc Luật, Mật Luật), đại khái lấy sông Châu Đốc làm ranh giới.
Đồn Châu Đốc ở phía tây sông Châu Đốc, thủ sở phủ Mật Luật Cao Miên ở
bờ phía đông sông Châu Đốc, ấy là địa đầu quan ải trấn Vĩnh Thanh và
nước Cao Miên. Vua Gia Long đặt tên vùng Châu Đốc là Châu Đốc Tân
Cương, đặt chức Quản đạo. Từ đồn Châu Đốc đến vịnh Xiêm La, đường ranh
giới quá mơ hồ : Vàm sông Châu Đốc (ngược về phía bắc) tiếp đến vùng
Thất Sơn và rạch Giang Thành. Năm thứ 14 (1815), Gia Long ra lịnh cho
trấn thủ Vĩnh Thanh là Lưu Phước Tường đem dân binh trong trấn hạt 3000
người để xây đồn, chung quanh có hào thông với sông cái, xây vào tháng
chạp. Ngài giải thích với vua Cao Miên rằng đắp đồn Châu Đốc là để giữ
yên trấn Hà Tiên, làm nơi tiếp ứng cho thành Nam Vang. Ngài muốn nói
đến việc quân Xiêm sẽ can thiệp vào Cao Miên. Ngài ra lịnh xây đồn cho
nhanh kẻo bận rộn đến việc cày cấy của đám người đi làm xâu. Đồn Châu
Đốc vừa xây xong, vua Gia Long xem địa đồ, nêu ý kiến : “Xứ này nếu mở
đường thủy thông với Hà Tiên thời nông thương đều lợi cả, ngày sau dân
ở càng đông, đất mở càng rộng, sẽ thành một trấn to”. Nhưng Nguyễn Văn
Nhân tâu can nên ngài bỏ ý kiến ấy.
Tuy nhiên đó chỉ là bỏ tạm thời. Ngài muốn lập một trấn mới, tách ra
khỏi trấn Vĩnh Thanh quá dài (trấn Vĩnh Thanh ăn từ biên giới Cao Miên
đến biển Nam Hải). Ngài muốn cho lưu dân quy tụ để mở đất. Một người
Tàu làm quan cho ta bên Cao Miên tên là Diệp Hội được gọi về, bấy lâu
Diệp Hội được tiếng là mẫn cán “xử việc gì dân cũng bằng lòng”. Diệp
Hội được cử làm Cơi phủ Châu Đốc, khiến chiêu tập người ta, người Thổ
và người Tàu vào đó cho đông, hễ có biết nghề trồng cây, nuôi súc vật,
buôn bán hay làm nghề gốm, cho tùy nghề nghiệp làm ăn, người nào thiếu
vốn thì nhà nước cho vay. Lại truyền dụ quan Tổng trấn Gia Định rằng :
dân mới phủ tập, nên dạy làm các việc lợi ích khiến dân được an cư lạc
nghiệp, chờ các việc thành rồi sẽ tâu lên.
Vua Gia Long hiểu rõ tình hình vùng biên giới Châu Đốc ; xứ này có đồi
núi, chăn nuôi súc vật dễ dàng ; từ xưa, người Miên giỏi về nghề làm đồ
gốm, nên thử cải tiến lại. Rất tiết là đất ở vùng Thất Sơn quá xấu, chỉ
có thể làm nồi, cà ràn, gạch ngói, chớ không làm tô chén được. Việc quy
dân lập ấp lúc bấy giờ cũng khó vì dân Việt thưa thớt ; ở phía nam, gần
Cần Thơ và gần Vĩnh Long còn nhiều đất tốt chưa khẩn hết, đi làm ăn ở
tận biên giới Châu Đốc là chuyện phiêu lưu. Người Tàu, người Cao Miên
với nghề làm đồ gốm, nghề chăn nuôi, trồng cây được nhắc tới là phải.
Trước khi muốn khơi động sinh hoạt kinh tế cho vùng Châu Đốc, ngài ra
lịnh cho Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu) đào con kinh sau này gọi là
Thoại Hà (gọi nôm na là kinh Núi Sập) trong năm 1817, vào tháng 11,
dùng 1500 dân xâu gồm người Việt và người Cao Miên, đào hơn một tháng
mới xong. Đây là con đường mà trước kia dân gian thường đi, nhưng chật
hẹp, nay đào nới rộng thêm. Thoại Hà đã có sẵn ở khúc đầu và đoạn chót,
chỉ vét lại phần giữ để nối liền từ Hậu giang qua Rạch Giá bên bờ vịnh
Xiêm La (ngọn của Rạch Giá là rạch Sốc Suông, địa danh Miên, sử ghi là
Khe Song). Mục đích trước tiên của việc đào kinh vẫn là quân sự. Ngài
nghĩ : chỗ ấy gần Chân Lạp, địa thế rậm rạp lắm, đàng thủy đi qua Kiên
Giang thì lắm bùn và cỏ. Ngài ra lịnh cắm dân không được chặt cây trên
núi Sập, nơi con kinh này đi ngang qua, chắc vì muốn giữ phong thủy.
Nhưng việc đào kinh nối liền Châu Đốc qua Hà Tiên ở biên giới vẫn là
mối bận tâm của ngài. Kinh Thoại Hà đào xong ở phía Nam cũng như con
kinh Vĩnh Tế sắp đào ở phía Bắc vẫn nhằm mục đích đưa thủy quân của ta
từ Hậu giang ra vịnh Xiêm La thật nhanh, để giữ Kiên Giang và chợ Hà
Tiên, ngừa quân Xiêm đem binh đến thình lình. Khi vỗ về và động viên
dân trong trấn Vĩnh Thanh, ngài nói thẳng là “công trình đào sông ấy
(nối Châu Đốc qua Hà Tiên) rất khó. Việc nhà nước và cách phòng giữ bờ
cõi quan hệ rất lớn. Bọn ngươi tuy là khó nhọc một lần mà ích lợi cho
muôn đời về sau, phải bảo nhau biết, chớ nên sợ nhọc”. Trước khi đào
kinh, ngài cũng trấn an sứ giả của Cao Miên.
Kinh Vĩnh Tế đào năm năm mới xong, ngưng rồi lại tiếp tục. Có đoạn dễ
đào vì nhằm nơi đất ruộng, sình lầy (khúc kinh này qua vùng Bến Đổi),
nhưng có khúc ở đất cứng, có đá, sát chân núi. Mùa nắng phải ngưng lại
vì thiếu nước uống cho dân phu. Vua Minh Mạng tiếp tục công trình do
Gia Long đề xướng. Lê Văn Duyệt huy động đến 55000 dân công, gồm người
Việt ở Vĩnh Thanh, Định Tường và người Miên ở đồn Uy Viễn (Trà Ôn do
Nguyễn Văn Tồn cầm đầu).
Mãi đến nay, dân gian còn nhắc lại những khó khăn khi đào con kinh này,
lớp thì chết vì bịnh, lớp thì trốn về dọc đường bị sấu ăn thịt. Nói đến
kinh Vĩnh Tế, vua Minh Mạng không che giấu mục đích quân sự : “Đức
Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta (Gia Long) mưu sâu, nghĩ xa, chú ý
việc ngoại biên...”. Việc ấy (việc đào kinh) không lợi gì cho Chân Lạp.
Những thành quả đầu tiên
Nên nhớ trấn Vĩnh Thanh đời Gia Long và đầu Minh Mạng bao gồm các tỉnh
thời Pháp thuộc : Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc, Sóc Trăng, Long
Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ.
Nói chung thì phía Nam đã có dân cư, đất không bị ảnh hưởng ngập lụt
hằng năm của sông Cửu Long và Hậu Giang, phía Bắc thì quá thưa thớt,
trừ vùng Sa Đéc, Tân Châu. Vùng ngày nay thuộc Cần Thơ (Phong Dinh),
Long Xuyên, Châu Đốc chưa có người Việt đến định cư nhiều. Tại Cần Thơ,
Ô Môn, Thốt Nốt đất khá cao và tốt, dân ta đến lập thôn xóm, nhưng
người Miên còn chen chúc gần đấy. Hữu ngạn Hậu giang, phía biên giới
hầu như không người ở, trừ mấy cù lao trên sông. Đây là vùng bị ngập
lụt quá sâu, cấy lúa không được, ai siêng năng thì chỉ có thể chọn vài
giồng đất nhỏ, vài gò ở ven sông hay giữa đồng mà làm ruộng kiểu “móc
lõm” tức là theo hình thức “da beo”, nhưng lối làm ăn này quá phiêu
lưu, khi nước sông lên quá mức bình thường là bị lụt, hoặc mùa màng bị
chim chuột cắn hại, đầu hôm sớm mai.
Kinh Vĩnh Tế đào chưa xong là Thoại Ngọc Hầu cho phép dân lập làng với
quy chế rộng rãi, từ cù lao Năng Gù đến Bình Thiên theo sông Hậu, và
dọc theo bờ kinh Vĩnh Tế, từ Châu Đốc đến Thất Sơn. Người khẩn đất cứ
dâng đơn, Thoại Ngọc Hầu lúc bấy giờ được trọn quyền ở biên giới (với
chức vụ Khâm sai thống chế, án thủ Châu Đốc đồn, lãnh bảo hộ Cao Miên
quốc ấn, kiêm quản Hà Tiên trấn biên vụ), phê vào đơn rồi đóng ấn son
“Bảo hộ Cao Miên quốc chi dương” là xong. Tờ đơn được đóng dấu này có
giá trị như tờ bằng khoán. Dọc theo kinh Vĩnh Tế, nhiều người thử làm
ruộng trên phần đất phía Nam, bờ kinh đắp cao, dễ cất nhà. Kinh rút bớt
nước, lại thuận lợi giao thông. Một số lưu dân đến mấy vùng đất cao ở
chân đồi, chân núi phía Thất Sơn mà canh tác. Rải rác trên bờ kinh,
quân sĩ xây nhiều đồn bão nhỏ, giữ an ninh, lại còn đường lộ đắp từ bờ
kinh chạy vòng quanh, liền lạc nhau (gọi là xa lộ). Để tiện việc di
chuyển và để khi mùa lụt nước ruộng rút nhanh, người khẩn hoang lúc bấy
giờ nghĩ ra sáng kiến đào nhiều con kinh ngắn (gọi là cựa gà) đổ ra
kinh Vĩnh Tế, bên phần đất mới khẩn để thăm ruộng hoặc chở lúa từ ruộng
về nhà dễ dàng hơn. Lịnh của triều đình cấm ngặt không được khẩn vào
phần đất hiện có người Cao Miên làm chủ. Núi Sam, gần Châu Đốc nối liền
vào chợ với con lộ đắp đất. Làng Vĩnh Tế thành lập (gọi là Vĩnh Tế Sơn
thôn, làng ở núi Vĩnh Tế tức là núi Sam). Thoạt Ngọc Hầu tỏ ra xứng
đáng, làm đúng lời dụ mà vua Minh Mạng đưa ra vào năm thứ hai (1821)
“Châu Đốc là một vùng xung yếu, nhà ngươi phải khéo léo trong mọi
trường hợp, trấn an phủ dụ nhân dân địa phương. Trước hết phải chiêu mộ
dân buôn, xây dựng xóm làng, làm cho đinh số hộ khẩu ngày càng tăng,
ruộng đất ngày càng được khai khẩn thêm”. Thoại Ngọc Hầu mất năm 1829,
thống chế Nguyễn Văn Tuyên thay thế, rồi năm 1832 người lãnh bảo hộ
Chân Lạp, giữ đồn Châu Đốc là Ngô Bá Nhân. Tính đến năm Minh Mạng thứ
19 (1838), dọc theo kinh Vĩnh Tế qua phía Thất Sơn, các thôn sau đây
thành hình, lần hồi dân chúng xin khẩn thêm đất, đa số là vu đậu thổ,
tức là đất làm rẫy :
— Vĩnh Tế Sơn thôn (từ Châu Đốc vào)
— Nhơn Hòa thôn
— An Qů thôn
— Thân Nhơn thôn (giữa An Qů và Vĩnh Bảo)
— Vĩnh Bảo thôn (giữa Thân Nhơn và Long Thạnh)
— Long Thạnh thôn (giữa Vĩnh Bảo và Vĩnh Nguơn)
— Toàn Thạnh thôn (giữa Nhơn Hòa và An Thạnh)
— Vĩnh Gia thôn (giữa Vĩnh Điền và Vĩnh Thông)
— Vĩnh Lạc thôn (giáp với An Nông)...
Từ biển Nam Hải trở lên Châu Đốc, tức là hữu ngạn sông Hậu giang có vài
khu vực đáng kể không chịu ảnh hưởng nước lụt. Vùng Ba Thắc, Sóc Trăng
đã có người Miên khai khẩn từ lâu rồi. Phía Sóc Trăng từ đời Gia Long
thấy ghi làng Tân An (rạch Cần Thơ), làng Thới An (Ô Môn), làng Thới
Thuận, Tân Thuận Đông (vùng Thốt Nốt), làng Bình Đức ở rạch Long Xuyên,
làng Bình Lâm ở Năng Gù. Làng này cách làng kia hàng chục cây số, nằm
trên các vùng đất gò, đất giồng. Các thôn xóm này đều bám sát vào bờ
Hậu giang. Cù lao ngoài bờ sông cái thì phì nhiêu hơn : ven cù lao là
đất cao ráo, thích hợp để trồng khoai, trồng đậu. Nhìn các bản đồ kèm
theo đơn xin khẩn đất đời Minh Mạng ở vùng này, ta thấy đa số đồng bào
khẩn theo lối móc lõm, ở ngọn, ở ngay ngả ba rạch. Đông đúc nhất là
vùng Năng Gù, Chắc Cà Đao, đất khẩn liên ranh nhau. Tiếp giáp vào phần
đất làm ruộng làm rẫy là đất lâm (ở vùng mé sông là rừng tre, thanh
trúc lâm). Vì là bờ sông cái nên chim cò bay tới lui, đáp xuống bãi
sông, tre chịu được ngập lụt hằng năm mà không chết. Ta có thể đoán
rằng mực nước ở đồng ruộng vùng Cần Thơ, Thốt Nốt, Ô Môn hồi đời Minh
Mạng tương đối cao hơn bây giờ. Vào mùa lụt (bấy giờ chưa có nhiều kinh
đào đổ nước ra vịnh Xiêm La như sau khi người Pháp đến).
Rạch Cần Thơ nổi danh là phì nhiêu, đất tốt, không bị ngập. Vùng Cái
Răng trở thành làng vào đời Minh Mạng rồi phát triển thêm. Năm Minh
Mạng thứ 15 (1834), làng Thường Thạnh của Cái Răng tăng thêm dân cư,
tách ra một làng mới lấy tên là Trường Thạnh.
Rạch Bò ót được dân khẩn hoang chú ý.
Rạch Cái Côn đã có làng từ đời Gia Long (làng Phú Mỹ), ấy thế mà năm
Minh Mạng thứ 19 (1838) còn đến năm khoảnh rừng rậm hoang vu. Làng Bình
Mỹ cũng thành lập từ đời Minh Mạng, ăn tới rạch Cái Dầu. Vùng Thốt Nốt,
đời Gia Long chỉ có làng Thới Thuận, qua Minh Mạng thêm các làng Tân
Thuận Đông, Vĩnh Trinh.
Những làng vừa kể trên trở thành phần đất của các tổng mới lập : Châu
Phú, Định Thành, Định Phước, thuộc huyện Tây Xuyên (có nghĩa là bờ phía
Tây của Hậu Giang). Từ Cần Thơ trở xuống thuộc về huyện Vĩnh Định với
các tổng Định Thới, Định An, Định Khánh. Phía Sa Đéc, vùng Cái Tàu
Thượng, Cái Tàu Hạ, Nha Mân và những cù lao trên Tiền giang đã đông đúc
dân cư từ đời Gia Long. Đời Minh Mạng còn lưu lại vài văn kiện xác nhận
việc xúc tiến khẩn hoang ở huyện Vĩnh An, với nhiều đơn xin khẩn đất :
— Năm Minh Mạng thứ 12, khẩn thêm ở các thôn Tân Dương, Tân Đông, Tân Phú Đông, Phú Mỹ, Tân Hòa, Tân Quý, Tân Thuận.
— Năm Minh Mạng thứ 19 và 20, khẩn thêm ở các tổng An Thới, An Thạnh,
An Mỹ, An Trường, những vùng Nha Mân, cù lao Tòng Sơn, rạch Cái Vồn
được chú ý nhứt.
Từ đời Minh Mạng về sau, phần đất phì nhiêu, nhiều huê lợi của An giang vẫn là phía Tiền giang với Sa Đéc và các vùng phụ cận.
Việc lập làng — Sự phân chia điền địa
Vua Minh Mạng đặc biệt khuyến khích việc lập ấp ở vùng Châu Đốc. Năm
1830, thành thần trấn Gia Định tâu : Hạt Châu Đốc là vùng biên cương
mới mẻ, ruộng đất chưa được khai khẩn hết, xin triển hoãn việc thâu
thuế. Vua phán : “Đó là vùng biên giới quan trọng của quốc gia, trẫm
muốn vì nhân dân mà gìn giữ cho nên phải đặc biệt chú ý tới việc cai
trị. Đó chính là kế hoạch biên phòng. Còn vấn đề thuế khóa đinh điền,
đâu phải là việc cần tính toán trước”. Rồi ngài cho miễn thuế ba năm.
Ba năm sau, thành thần Gia Định tâu xin thâu thuế. Ngài ra lịnh :
“Những xóm làng tân lập được miễn thuế thêm ba năm nữa. Riêng thuế
thân, thuế điền thổ được hoãn thêm một năm nữa”. Một tài liệu khác cho
biết thêm con số : đồn Châu Đốc mới lập được 41 xã, thôn, phường; dân
đinh chỉ mới được hơn 800 người. Nhưng năm sau (1831), Tổng trấn Gia
Định thành lại tâu với lời lẽ bi quan : “Đồn Châu Đốc xã dân mới thiết
lập, địa thế ruộng đất khó khai khẩn”. Vua cho bộ Hộ biết : “Đồn ấy là
nơi địa đầu quan yếu, ta đã từng xuống chỉ chiêu tập dân buôn bán, cho
vay tiền gạo để lập ấp khẩn điền, quây quần sinh sống. Đó là ý niệm
quan trọng của ta trong việc củng cố vùng ngoại biên cương. Nhất sơ
việc khai khẩn còn khó khăn nên đã được triển hạn nhiều lần. Năm ngoái
đây, quan trấn thành đã có lời xin, lần thứ hai trẫm đã khoan miễn cho
ba năm tiền dung (tiền xâu) cùng dịch vụ, và đã phán bảo phải dùng
nhiều phương pháp để chiêu dụ thu nạp, để cho đồng áng ngày càng mở
mang, sinh sống dồi dào, đã hơn một năm nay mà vẫn chưa thấy thi thố
phát triển điều gì, liền vội cho là vì tình trạng khó khăn. Đó phải
chăng là lối làm việc tắc trách cho xong chuyện ? Nay truyền chỉ cho
thành thần (quan trấn Gia Định) phải nghiêm sức các công chức của đồn
phải tất tâm thi thố, hầu làm cho đất rộng đông dân, hạn đúng ba năm
phải có đủ hồ sơ về triều đình khen thưởng, không thể đổ cho là tại
tình hình khó khăn mãi được”.
Vua quan tâm đến vấn đề biên giới Châu Đốc, và tiên đoán những rắc rối
sắp xảy ra giữa Việt Nam và Xiêm La, không riêng ở mặt trận Cao Miên mà
còn ở cả mặt trận Lào. Ngài muốn quy dân gần như vô điều kiện, miễn
thuế hai đợt.
Hai năm sau, cuối năm 1833, quân Xiêm tràn qua.
Làng ấp ở vùng kinh Vĩnh Tế và Thất Sơn lúc bấy giờ thành lập với quy
chế dễ dãi, như trường hợp làng Phú Cường, tách ra từ làng An Nông. Năm
Minh Mạng thứ 12 (1831), vào tháng 3, Trương Văn Nghĩa đứng đơn, xin
khẩn vùng đất hoang từ núi Chân Tầm Lon tới núi Trà Béc, bấy lâu thuộc
làng An Nông. Lúc đầu, Trương Văn Nghĩa và đồng bọn 11 người đến khai
phá, sau chiêu mộ thêm được 4 người nữa, đã có nền tảng để lập làng mới
lấy tên là Phú Cường. Cả bọn xin đến năm thứ 17 (1836) sẽ đóng đủ thuế,
khi mộ được thêm dân và lập hộ. Đơn được phú hồi cho Tuy Biên phủ để
tra khám và chuẩn cho vào tháng 11, năm Minh Mạng thứ 15 (1834). Qua
văn kiện trên, ta thấy việc cứu xét kéo dài từ 1831, khi Trương Văn
Nghĩa khẩn đất, xin sẽ lập bộ và đóng thuế; quan địa phương thâu đơn,
chờ đến ba năm sau mới chánh thức chấp nhận. Trong thời gian chờ đợi,
bọn người khẩn hoang tha hồ làm ăn, khỏi đóng thuế, khỏi khai báo gì cả.
Làng Trường Thạnh tách ra từ làng Thường Thạnh, rạch Cái Răng (Cần Thơ)
lập vào năm Minh Mạng thứ 15 (1834) do hai người đứng đơn. Làng tân lập
này gồm 8 người dân có tên trong bộ làng Thường Thạnh, 8 người dân lậu
và một niên lão 67 tuổi. Họ chịu đóng thuế 5 khoảnh đất, hạng sơn điền
(thuế nhẹ). Đây là vùng có an ninh, đất tương đối tốt, cách xa Châu Đốc
hàng trăm cây số ngàn, nên không thấy ghi những điều khoản dễ dãi dành
cho vùng biên giới.
Sử thường nhắc tới việc cho phép tù nhân đi khẩn hoang. Chúng tôi gặp
tài liệu về một hộ thợ săn, tập trung thợ săn thú rừng, gọi là “Thuộc
Tỉnh Biệt Nạp Lạp Hộ” được hưởng quy chế của một làng, nhưng không có
đất đai. Cầm đầu là Hộ trưởng tên Nguyễn Văn Luật, người ở kinh Vĩnh
Tế, 55 tuổi. Hộ trưởng phải chịu trách nhiệm về thuế vụ cho 7 người do
ông ta bảo lãnh, thuế đóng bằng ngà voi, 150 mỗi năm. Gia nhập hộ thợ
săn, có mọt người quê ở Cái Thia (Định Tường), 1 người ở vùng Chợ Gạo
(Định Tường), đặc biệt là 1 người quê ở Vĩnh Tế can tội đồng lõa ăn
cướp, đang bị phát vãng (lưu đày) lên Trấn Tây (Cao Miên) để làm đồn
điền binh.
Về sự phân chia đất sai, đặc biệt là vùng Thốt Nốt, nhiều điền chủ khẩn
đất rộng tới 26, 28 hoặc 60 mẫu, trong khi tính trung bình mỗi phần đất
của dân khẩn hoang là 2 hoặc 3 mẫu. ở đất tốt mé sông Cái hoặc cù lao,
việc phân khoảnh nhỏ bé hơn, trung bình từ 1 đến 2 mẫu.
Mãi đến năm Minh Mạng thứ 19 (1839) tỉnh An Giang vẫn còn được triều
đình nâng đỡ so với các tỉnh khác. Tỉnh thần dâng bộ sổ, ghi rõ số dân
đinh, vì dân đinh có phần tăng, nên xin tăng thêm ngạch lính giản. Vua
xuống dụ rằng : Hạt ấy lâu nay mong được dìu dắt dạy dỗ, hộ khẩu mỗi
năm một tăng, nay lại nhân được thái bình nên cùng với dân nghỉ ngơi,
khiến cho cùng lo việc cày cấy, đào giếng mà an nghiệp, để dân chúng
ngày càng thêm đông đảo, thịnh vượng, hà tất phải xin thêm ngạch lính
giản làm chi. ý vua muốn nói tới việc xâm lăng của Xiêm mà vùng Châu
Đốc hứng chịu hậu quả nặng nề nhất, trong thời gian vừa qua...
Vài vấn đề nội an : Loạn Lê Văn Khôi. Các vùng người Miên đông đảo
Tháng 7 năm 1832, Tả quân Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Gia Định thành mất.
Vì có thù hằn lâu đời với Tả quân, vua Minh Mạng thừa cơ hội này đưa
toán vệ binh Minh Nghĩa về Quảng Ngãi. Sau khi chôn cất Tả quân xong,
vua Minh Mạng còn ra lịnh đưa cơ An Thuận về Kinh. Tháng 10 năm ấy, Gia
Định thành không còn là đơn vị quan trọng nữa. Vua bãi bỏ chế độ Tổng
trấn, tất cả đổi là tỉnh, trực thuộc vào triều đình Huế. Tháng 11 năm
ấy, vua cho nguyên Tổng đốc tỉnh Sơn Tây là Lê Đại Cương làm Tổng đốc
An Hà kiêm lãnh ấn Bảo hộ Chân Lạp.
Việc thuyên chuyển một viên chức từ Sơn Tây vào Nam không là điều lạ
nếu ta biết rõ chính sách của vua Minh Mạng là triệt hạ uy thế và nhân
tâm mà Tả quân Lê Văn Duyệt đã gây được ở kinh Vĩnh Tế do ngài đốc xuất
đào ra trong hoàn cảnh khó khăn. Tỉnh An Giang chánh thức thành hình
với hai phủ Tuy Biên và Tân Thành, năm 1835 lấy thêm đất Ba Thắc lập
thành phủ Ba Xuyên. An Giang chiếm trọn miền hữu ngạn của Hậu giang,
phía Bắc thì gồm luôn vùng Vĩnh an (Sa Đéc) cắt ra khỏi trấn Vĩnh Thanh
lúc trước.
Lê Văn Khôi nổi loạn, thành công nhanh chóng trong đợt đầu, chiếm lần
hồi 6 tỉnh, nhưng giữ không được lâu. Dân chúng tuy mến một công đức Tả
quân Lê Văn Duyệt, nhưng cá nhân Lê Văn Khôi không đủ uy tín. Hơn nữa
ngày qua tháng lại, dân chúng thấy Lê Văn Khôi không tin vào dân trong
nước, lại còn trực tiếp hoặc gián tiếp làm việc cõng rắn cắn gà nhà.
Lê Văn Khôi có chút ít tinh thần tiến bộ, chống lại chế độ tập quyền hà
khắc của vua Minh Mạng ? Một tài liệu cho biết là khi được hỏi về ruộng
nương và tình hình an ninh tại các tỉnh, tỉnh thần Vĩnh Long tâu rằng :
“Trước đây bọn giặc (Lê Văn Khôi) chiếm cứ tỉnh thành, các thôn ấp đều
bị chúng đốt phá rồi chúng còn chiếu theo nóc nhà dân, đem tiền trong
kho ra tán cấp đến hơn một ngàn quan, nay dân tình nguyện y số đem nạp
lại”. Vua ra lịnh miễn cho. Việc lấy tiền trong kho chia đều cho dân,
lúc đang xảy ra, chắc là được dân hoan nghinh. Và dân đem nộp lại cho
quan khi bọn phản loạn bị dẹp, chưa chắc vì tình nguyện, vì sợ đúng hơn.
Loạn Lê Văn Khôi chỉ là một trong những mối lo sợ của vua Minh Mạng, vì
lúc bấy giờ ở Bắc kỳ loạn lạc nổi lên với cường độ đáng kể, lý do chánh
là nạn đói kém, là quan lại tham nhũng. Nhưng cuộc khởi loạn Lê Văn
Khôi tạo cơ hội cho quân Xiêm đánh ta trong đó có mặt trận Lào, riêng
mặt trận An Giang là quan trọng hơn cả.
Từ lâu, vua chúa nhà Nguyễn lo lắng về các vùng người Miên định cư tập
trung, nhiều nhứt là ở địa phận trấn Vĩnh Thanh ngày xưa :
— Vùng Trà Ôn được yên ổn nhờ có Nguyễn Văn Tồn (một người Miên hữu
công, trong thời gian phục quốc, được mang họ Việt Nam) nắm được nhân
tâm. Nguyễn Văn Tồn chết, con là Nguyễn Văn Vị được trưng dụng và có ra
tận Huế đô bái kiến vua.
— Vùng Lạc Hóa (Cầu Kè, Tiểu Cần). Năm 1835 đặt ra xã thôn, tùy theo
sốc lớn nhỏ, quan đến tận nơi khám xét, để định rõ thuế khóa.
— Vùng Ba Thắc (Sóc Trăng, Kế Sách). Vua Gia Long khi còn ở đất Gia
Định thì cho người Miên ở địa phương lập đồn điền mỗi năm nạp lúa sưu
thuế. Năm 1792, Nặc ấn ở Xiêm về, vua đem đất ấy cho lại ; năm 1835,
các quan lại người Miên ở địa phương yêu cầu ta giúp đỡ, vua Minh Mạng
cho người Miên hưởng chế độ tự trị rộng rãi với quan phủ coi việc nội
an, mãi đến khi người Pháp đánh nước ta, quan phủ vẫn là người Miên.
— Vùng Ô Môn (phía bắc Cần Thơ) là nơi người Miên tập trung đáng kể. Về
sau, họ phân tán, rút về phía hậu bối, xa bờ Hậu giang (Đại Nam Nhứt
thống chí ghi là “thổ huyện Ô Môn”).
— Vùng chợ Hà Tiên, rạch Gianh Thành, vùng Thất Sơn là những trung tâm
gần biên giới, nơi mà vấn đề an ninh không được toàn hảo, mặc dầu triều
đình đã chú ý từ đời Gia Long, Hà Tiên đất nhiều phèn, quá xấu, trừ vài
lõm nhỏ ở sườn đồi mà người Trung Hoa đến làm rẫy, người Việt đến đánh
cá ven biển. Vị trí chợ Hà Tiên tuy “tốt” về phong thủy, trên lý
thuyết, nhưng quân Xiêm đánh chiếm chớp nhoáng. Người Miên ở Thất Sơn
và ở Hà Tiên thường liên lạc với họ, hễ cơ hội đến là nổi loạn, vào
cuối đời Minh Mạng. Năm 1835, theo lịnh nhà vua, tuần phủ Trần Chấn lập
đồn điền ở núi Đá Dựng (chữ gọi là Châu Nham) sát biên giới, binh sĩ
vừa cày ruộng, vừa luyện tập.
Chánh sách của vua Minh Mạng đối với người Miên (luôn cả người Lào,
người Mường...) là “nhứt thị đồng nhân” (xem tất cả cùng là người),
nghe qua thì như là dân chủ, nhưng thực chất là muốn bắt buộc các sắc
dân phải theo luân lý, theo cách tổ chức thôn xóm, cúng tế của Việt Nam
và Tàu, lại buộc lấy họ (như họ Sơn, Thạch, Kim, Kiên...)
Biến cố quân sự ở An Giang và ở Cao Miên
Tháng 6, Lê Văn Khôi nổi loạn thì tháng 11 quân Xiêm đem binh đánh nước
ta (1833), bề ngoài như để cứu Lê Văn Khôi nhưng bên trong là quân Xiêm
chọn lựa đúng thời cơ để thủ lợi. Quân sĩ ta lúc bấy giờ bị tiêu hao và
bị cầm chân khá nhiều, một số vào trong thành Phiên An theo Lê Văn
Khôi, một số thì bao quanh chờ cơ hội tái chiếm.
Trong đợt tấn công đầu tiên, quân Xiêm làm chủ tình thế, tướng Xiêm chỉ
huy cuộc hành quân cấp tốc này là tay có tài, tên là Phi Nhã Chất Tri
(sử gia Tây phương gọi là tướng Bodin, Phi Nhã chỉ là chức tước). Tháng
11 năm 1833, Hà Tiên mất, tháng 12 thành Nam Vang rồi đến đồn Châu Đốc
cũng mất theo.
Nhưng vua Minh Mạng bình tĩnh đối phó, bố trí cẩn thận và giữ bí mật.
Quân Xiêm thừa thắng, từ Ba Nam cho chiến thuyền đổ xuống theo Tiền
giang. Đây là con đường chiến lược vô cùng quan trọng, nếu cứ tiến thêm
thì đến Sa Đéc, rạch Gầm, Định Tường, thọc vào trung tâm miền Nam, nơi
nhà cửa đông đúc, nhiều tài nguyên.
Quân ta liền phản công. Tại Tiền giang, nơi Vàm Thuận (sử ghi là Thuận
Cảng, Thuận Phiếm cửa của Vàm Nao phía Tiền giang) ta chiến thắng. Giặc
phải dừng lại rồi tạm rút lui về Ba Nam với dụng ý đánh theo đường bộ
đến Tây Ninh, nhưng mặt trận này không mở ra được.
Vài mươi ngày sau, qua tháng giêng năm 1834, thủy quân Xiêm lại theo
đường cũ, đến vùng mà chúng đã thu hôm nọ để quyết chiếm yết hầu Tiền
giang, đến Vàm Thuận không thấy gì xảy ra, chúng thử tiến thêm đến rạch
Củ Hủ (vùng chợ Thủ). Khi ấy, giặc nhân lúc nước xuống, theo bờ sông
phóng hỏa đốt bè, ngăn trở thủy quân ta rồi chúng lại sấn tới đánh,
Quản vệ Phạm Hữu Tâm đốc binh đánh từ giờ Dần đến giờ Tỵ, quân giặc
chết nhiều, thây chồng nhau, giặc liền lui. Đây là trận đánh kéo dài từ
ba bốn giờ khuya đến chín mười giờ trưa, giặc chết nhiều, thây chồng
lên nhau. Trận này khiến ta nhớ tới trận rạch Gầm ở dưới Mỹ Tho vào năm
1784 Nguyễn Huệ đã thắng quân Xiêm. Từ Vàm Thuận đến chợ Thủ thuộc
huyện Đông Xuyên, tỉnh An Giang, bao nhiêu tàn phá diễn ra. Nhưng quân
ta lại thừa thắng thâu phục đồn Châu Đốc, thâu phục thành Hà Tiên rồi
chiếm thành Nam Vang từ tay quân Xiêm.
Giặc Xiêm đồng thời cũng đánh ta theo mặt Quảng Trị và Nghệ An trên đất Lào, nhưng bị chặn lại.
Ta rượt theo đến vùng Biển Hồ (Tonlé Sap) tận căn cứ địa của quân Xiêm.
Cũng năm 1834 này, vào tháng tư, Trương Minh Giảng (bấy giờ là Tổng đốc
An Giang, Hà Tiên) từ Nam Vang trở về ra lịnh tu bổ đồn Châu Đốc, rồi
nghĩ đến việc dời tỉnh lỵ Hà Tiên qua phía Giang Thành (xa bờ biển, dễ
phòng thủ hơn). Vừa lúc ấy, lại hay tin quân Xiêm cũng do Phi Nhã Chất
Tri cầm đầu đang kéo qua Cao Miên với lực lượng là 5000 quân. Quân ta
đến nơi trấn áp, đóng đồn tại Vũng Xà Năng (Kompong Chnang).
Năm thứ 16 (1835), vua Minh Mạng cho đổi đồn An Man ở Nam Vang làm
thành Trấn Tây, định chế độ cai trị, đứng đầu là một vị tướng quân, hai
vị tham táng, quan lãnh binh, quan đồn điền. Việc này chỉ gây thêm mệt
nhọc cho quân dân ta. Từ năm trước, nước Chân Lạp bị đói kém đến đổi có
người phải ăn các thứ tấm cám nên phải xuất ra từ các kho hai tỉnh Định
Tường và Vĩnh Long chở lên Cao Miên một vạn vuông gạo để phát chẩn cho
dân khỏi xiêu tán.
Chánh sách đồn điền được ban hành ở Trấn Tây, người đi đồn điền gồm tù
phạm của Nam kỳ lục tỉnh. Ai trốn về thì bị tập nã gắt gao. Theo lời
Trương Minh Giảng năm 1839 thì ở Trấn Tây, dân tâu của Việt chiêu tập
thành lập được 25 xã thôn, với 470 dân binh, 340 mẫu điều, theo quy chế
thì ba năm sau mới đóng thuế. ở Trấn Tây, người Tàu cư ngụ khá đông, số
người có sản nghiệp là 220, xin thành lập 5 bang.
Năm 1837, Trương Minh Giảng mở rộng thêm ảnh hưởng, lấn sát vùng mà
người Xiêm chiếm đóng ở Biển Hồ. Biển Hồ (Tonlé Sap) được gọi là Hồ Hải
(vì hình dáng có eo giống như cái bầu đựng rượu). Đây là khu vực nhiều
huê lợi. Trương Minh Giảng xin lập ba phủ Hải Đông, Hải Tây và Sơn Định
ở phía đông, phía tây Biển Hồ và ở núi Đậu Khấu (dãy Cardamomes), đồng
thời lập đồn điền, tập lính, trử lương, cho người Việt và người Miên
đến khẩn hoang, tìm cách dạy tiếng Việt, dạy chữ cho người địa phương
để việc cai trị được dễ dàng.
Một ngàn người Xiêm trốn khỏi vùng quân Xiêm kiểm soát để theo ta năm
1837 ; năm 1839 dân Miên ở vùng Battambang do Xiêm kiểm soát cũng trốn
về, tạo thêm nhiều gánh nặng cho quan quân đến bảo hộ, như cấp phát gạo
muốn cho họ. Nhưng một số người Miên thích nếp sống lưu động. Vua Minh
Mạng bắt buộc họ phải có gia cư để dễ lập số bộ. Lính Miên thì chia
nhau cày ruộng, phân nửa ở tại ngũ, phân nửa về quê, mỗi năm chỉ tập
trung đầy đủ vào tháng mười, mùa nắng. Lúa gạo sản xuất ở Cao Miên lúc
bấy giờ không đủ cung cấp cho việc binh, vua Minh Mạng hiểu thị cho dân
sáu tỉnh Nam kỳ : Ai nạp lúa xay gạo để làm quân nhu lên thành Trấn Tây
thì được thưởng phẩm hàm, miễn thuế thân, miễn đi lính và làm xâu, ai
cấp 2500 hộc lúa thì được thưởng chánh cửu phẩm.
Cuối đời Minh Mạng (1840) xảy ra cuộc tranh tài giữa Phi Nhã Chất Tri
và Trương Minh Giảng. Nếu từ lâu Trương Minh Giảng thắng thì phen này
lần hồi lâm vào thế yếu. Nhân tâm ở Cao Miên lúc bấy giờ rất bất lợi,
loạn lạc nổi lên đối phó không kịp, phần lớn do các quan của ta cai trị
không công bình lại thêm tham nhũng.
Việc đóng quân ở Cao Miên có thể tạm tổng kết như sau :
— Về chánh sách, vua chúa phong kiến Việt Nam cũng như Xiêm là cứ luôn
luôn mở mang bờ cõi. Đất Cao Miên là nơi tranh chấp. Đánh qua Cao Miên,
đưa các quan cai trị là phiêu lưu, nhưng thử hỏi nếu không làm việc ấy
để cho Xiêm chiếm đóng ở Cao Miên sát Châu Đốc, Hà Tiên, sát Tây Ninh,
liệu lãnh thổ ta có được yên ổn, vẹn toàn ? Đây là cuộc tấn công để
phòng ngự.
— Về quân sự, khi nào quân Xiêm tiến vào lãnh thổ của ta thì họ thua.
Hễ nắm vững đường thủy chiến lược từ Nam Vang đến Tân Châu là ta thắng.
Cứ điểm quan trọng nhứt là Ba Nam (Ba Cầu Nam) trên sông Tiền giang.
Ngược lại, khi nào quân ta phiêu lưu đến vùng Biển Hồ, sát căn cứ của
quân Xiêm La là ta bị khó khăn, nếu không nói là thua. Nguyễn Công Trứ
từng dẹp giặc Nồng Văn Vân ở Bắc kỳ đã dâng sớ và so sánh : So với sự
thế đảng giặc Nồng Văn Vân thời việc dẹp yên giặc Thổ (Cao Miên) này
hơi khó mà chậm... Nay, giặc Thổ dậy khắp nơi, trong chỗ hoang mảng,
trông bốn mặt đều là tre gai rậm rạp, nước sâu bùn lầy, không phải như
cây lớn, núi cao có thể đốn phá tìm đường đi băng được... Huống chi
đường đem lương từ Trấn Tây (Nam Vang) đến chỗ quân thứ, một lần đi tám
ngày đường mà chỉ đủ ăn một tháng... Chúng tôi trộm nghĩ trước phải
đánh được giặc Xiêm rồi sau đó giặc Thổ mới dẹp yên được.
Tình hình năm 1840 thật bi đát. Cũng theo lời tâu trên của Nguyễn Công
Trứ, thời bấy giờ từ An Giang đến Trấn Tây, từ An Giang đến Hà Tiên,
quân giặc đóng đồn cả.
— Về chính trị, có sự kỳ thị rõ rệt, nhưng nặng nhứt là vì lý do văn
hóa. Người Cao Miên chịu ảnh hưởng văn hóa ấn độ với những tập tục địa
phương, thích sống rày đây mai đó. Vì còn tàn tích mẫu hệ, việc cưới gả
của người Miên hơi khó hiểu, không giống người Việt theo phụ hệ, vì vậy
bị hiểu là loạn luân. Cách mặc, cách ăn (ăn bốc, mặc sà rong) của người
Miên không hợp với cảm quan của nho sĩ Việt, cùng là tục lệ hỏa thiêu.
Ngay đến đạo Phật, người Miên theo hình thức Tiểu Thừa, nghĩa là khác
với cách tụng niệm, cách ăn uống của chùa theo Đại Thừa. Và quyền hạn
của giai cấp tăng lữ ở Cao Miên cũng khá rộng. Quan lại Cao Miên, dưới
thời đô hộ của vua Minh Mạng phải mặc áo, đội mão như quan lại Việt
Nam. Từ việc tuyển chọn quan lại, cách thu thuế, nói chung công việc
hành chánh ở Cao Miên ngày xưa rất khác với Việt Nam. Doãn Uẩn viết
trong Trấn Tây Kỷ Lược: Họ cũng chưa biết đạo dựng nước, ta chỉ còn
mong ở sau này ngày càng củng cố mở rộng thêm chánh thể duy tân dần,
chắc sẽ không còn phác lậu như trước nữa vậy.
Trong khi ấy, giới bình dân Việt Nam và người Miên sống chung đụng nhau
dễ dàng. Lúc canh tác, bắt cá, chế biến thức ăn, ta cũng bắt chước vài
kỹ thuật của người Miên; việc người Việt cưới vợ Miên không phải là
không có.
Lập địa bộ năm Minh Mạng thứ 17 (1836)
Đây là lần đầu tiên mà ở đất Gia Định lập địa bộ với quy mô lớn, lưu
lại bằng chứng cụ thể. Mỗi thôn vẽ bản đồ các sở đất, loại đất, diện
tích, ranh giới bốn phía, ghi tên chủ điền. Lịnh vua ban ra vào tháng
2, phái đoàn này do Trương Đăng Quế cầm đầu, với Nguyễn Kim Bảng, cả
hai đều sung chức Kinh lược đại sứ (nhưng Nguyễn Kim Bảng mang bịnh,
Trấn tây đại tướng là Trương Minh Giảng thay thế). Trương Đăng Quế là
Binh bộ Thượng thư, Nguyễn Kim Bảng là Lại bộ Thượng thư. Hai vị Phó sứ
là Tôn Thất Bạch và Nguyễn Khắc Trí. Tháng 7 năm ấy, phái đoàn trở về,
công tác hoàn thành. Vua ban thưởng và xuống dụ cho nội các : Trương
Đăng Quế là người công bằng vô tư nên việc làm đến chỗ thành tựu, đúng
như mệnh lệnh của trẫm, tuy không thể sánh với việc đi dẹp biên cương,
mở rộng bờ cõi được phân minh, so với việc mở đất đai cho rộng biên
giới có khác gì ?
Sử chép tiếp : Sau đó 6 tỉnh Nam kỳ không phải tăng thuế ruộng mà tiền
tài vẫn bội thu. Thuế điền thổ Nam kỳ được định lại, sau khi đạc điền.
Kết quả là tăng thuế cho công quỹ, nhưng người khẩn đất chịu thiệt thòi
nhiều là không được giữ ruộng đất ẩn lậu như trước.
Năm 1836 rồi 1839, vua Minh Mạng quy định về thể lệ thưởng phạt dành
cho các viên chức địa phương, đất khẩn thêm thì thưởng, bỏ hoang thì
phạt. Hậu quả đi tới đâu ? Việc đạc điền có lẽ đã làm cho dân khẩn
hoang mất hào hứng phần nào, vì thuế vụ. Năm 1837, liền sau khi đạc
điền và ban hành lệ khen thưởng, theo báo cáo của “các tỉnh Hà Tiên,
Vĩnh Long, Định Tường thì con số khẩn thêm không được bao nhiêu, riêng
tỉnh Biên Hòa lại càng thấy vắng vẻ. Đến như Gia Định An Giang tới nay
vẫn còn chưa tâu báo... Làm việc không đứng đắn như vậy thiệt nên trị
tội xứng đáng... Hãy dặn Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, án sát mấy nơi
ấy nhắc nhở các phủ huyện sở tại hãy hết lòng khuyến khích, làm cho
nông dân vui vẻ quay về việc nông, đem những ruộng đất hoang phế trong
hạt mà khai khẩn cho hết”. Chương 1 - 3
Nhu cầu chỉnh đốn về nội trị :
Những đồn điền chiến lược ở Hậu giang
Vua Minh Mạng mất, để lại gánh nặng ở phía biên giới Việt Miên. Loạn
lạc đã phát khởi ngay từ khi cuộc chinh phạt của tướng Trương Minh
Giảng đang diễn ra tại phía Biển Hồ, tuy rằng về hình thức là dẹp xong
nhưng mầm mống còn đó. Người Miên cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam dường
như sẵn sàng hưởng ứng, chống đối quan lại địa phương khi ở Cao Miên
phong trào lên cao. Quân Xiêm lại khéo phao tin tuyên truyền. Người Cao
Miên lúc bấy giờ ở Nam kỳ lại bực dọc với chính sách “nhứt thị đồng
nhơn” của vua Minh Mạng, bắt buộc họ phải lấy tên, lấy họ như người
Việt để đồng hóa. Lại còn chủ trương cải cách tổ chức nông thôn cổ
truyền của sốc Miên khiến họ mất quyền tự trị. Vùng biên giới Hà Tiên,
An Giang bắt đầu xáo trộn khi vào năm 1838, tên Gi — làm chức An phủ
cho ta — cấu kết với người Xiêm. Năm sau, viên quản cơ người Miên ở An
Giang là Hàn Biện cùng đồng bọn làm phản rồi bỏ đi, một số đông lính
Miên cũng chạy theo chúng nhưng rồi một số quay trở lại. Vua truyền
lịnh tha tội những người biết hối cải. Năm 1840, tình hình thêm bi đát
: người Miên ở Tịnh Biên (An Giang) nổi loạn khiến quan tri phủ bỏ
trốn, loạn quân kéo về phía biên giới Hà Tiên đánh đồn Châu Nham (Đá
Dựng), quan binh nhiều kẻ bị hại. Tháng 10 năm ấy, giặc từ Thất Sơn gồm
hơn 2000 người kéo qua tận Kiên Giang, phá chợ Rạch Giá, đắp đồn ở hai
bên bờ rạch này; vùng Xà Tón (Tri Tôn) cũng bị khuấy động. Năm Thiệu
Trị nguyên niên, tất cả các vùng người Miên sống đông đúc đều nổi loạn,
quan quân vô cùng vất vả. Ba khu vực quan trọng nhứt là :
— Vùng Trà vinh (nay là Vĩnh Bình) bao gồm các khu vực rộng lớn từ Tiền
giang qua Hậu giang (Trà Vinh, Cầu Kè, Tiểu Cần, Cầu Chong), sử gọi là
vùng Lạc Hóa. Cuộc khởi loạn dai dẳng và có quy mô kéo dài từ tháng 3
đến tháng 10 năm 1841, người cầm đầu là Lâm Sâm (còn đọc Lâm Sum, người
địa phương gọi là Xà Na Xom hoặc Xà Xom, tức là viên tướng tên Xom).
Thủ đoạn xách động là dùng bùa ngãi, do các tên thày bùa đưa ra rồi
loan tin thất thiệt : Ai không theo chúng sẽ bị Trời Phật hại, ai theo
thì được cứu thoát, võ khí là đao mác, chà gạc, phãng kéo cổ thẳng (trở
thành cây mã tấu). Thoạt tiên loạn quân chiếm Trà Vinh (đồn Nguyệt Lãng
của ta). Giặc lại lôi cuốn được mấy sốc Miên ở rạch Cần Chong (nay là
Tiểu Cần) xuống đến Bắc Trang ra đến mé sông Hậu giang, vùng Trà Điêu.
Có lúc giặc thắng thế, chiếm giữ một vùng dài hơn 30 cây số, gồm toàn
sốc Miên. Trận gay go nhất xảy ra ở vùng Trà Tử (nay gọi là Hiếu Tử),
bố chánh Trần Tuyênvà tri huyện Huỳnh Hữu Quang đều tử trận. Số loạn
quân lên đến bảy tám ngàn, ngoài Lâm Sum còn tên tổng Cộng (chắc là cai
tổng tên Cộng) và một tên tự xưng là phó mã Đội. Tham dự cuộc tảo thanh
ở vùng Lạc Hóa, gồm có tổng đốc Bùi Công Huyên, tham tánh thành Trấn
Tây là Nguyễn Tấn Lâm và Nguyễn Công Trứ cũng rút về nước tiếp tay,
ngoài ra còn có tướng Nguyễn Tri Phương. Nguyễn Tri Phương dời binh
tiến đánh, tuy phá tan được luôn, nhưng chỗ này tan rã thì chỗ kia quy
tụ, cứ đánh phía đông, giữ phía tây, không thể nào diệt hết được. Khi
Trương Minh Giảng rút lui về An Giang, ta được thêm 3000 quân sĩ đến
tiếp ứng ở mặt trận Lạc Hóa. Trong đám loạn quân đầu thú, có cả người
Việt và người Tàu. Phải chăng là những người Việt trước kia theo Lê Văn
Khôi, nay trốn lánh ?
— Vùng Sóc Trăng, trung tâm cuộc khởi loạn là Ba Xuyên, Trà Tâm, từ
tháng ba cũng năm tân sửu. Thoạt tiên giặc bị phân tán rồi tập trung
tại Sóc Đâm đóng đồn mà chống cự. Tháng 11, quân của Nguyễn Tấn Lâm và
Nguyễn Tri Phương đánh hai mặt giáp lại. Giặc tan, vua Thiệu Trị cho
Nguyễn Tấn Lâm ở lại Ba Xuyên dẹp đám tàn quân và lập an ninh. Theo
truyền thuyết, lãnh tụ loạn quân ở đây là Xa Ne Tia.
— Vùng Thất Sơn, Vĩnh Tế. Nếu Trà Vinh và Sóc Trăng nối liền nhau (bên
này và bên kia sông Hậu Giang), dân đông, kinh tế phì nhiêu, người Miên
sống tập trung thì vùng Thất Sơn lại là nơi mà người Miên dễ tấn thối
và khuấy động, với hàng chục ngọn đồi lớn nhỏ, nhiều thung lũng, dân cư
thuần nhứt lại ở sát biên giới Cao Miên. Năm nguyên niên, giặc tụ tập
tại Lẹt Đẹt, quân ta dẹp tan rồi đánh luôn tới Cần Sư. Phía Tịnh Biên
cũng có loạn vài ngàn tên, nhưng dẹp được. Nguyễn Tri Phương đến núi
Tượng để đánh loạn quân. Ở hai huyện Hà Dương và Hà Ñm, tình hình khuấy
động. Hà Dương gồm vùng núi Cấm, núi Tượng; Hà Ñm gồm các làng dọc theo
biên giới bên kinh Vĩnh Tế. Sở dĩ loạn quân dám kiêu ngạo vì bên kia
biên giới, Phi Nhã Chất Tri “đem quân Xiêm đến dựng đồn lũy ở bờ sông
Vĩnh Tế rồi qua lại gây sự với những đồn bảo của quân ta. Quan binh bèn
chia đường đi tiễu trừ, giết và làm bị thương rất đông, chiếm lấy được
bảy đồn, hai bên bờ sông Vĩnh Tế một loạt được dẹp yên. Bọn giặc ở
trong các đồn ở núi Cấm, núi Tượng nghe tin bèn chạy trốn. Quân Xiêm
gặp sự thất bại tan rã ấy muốn tăng thêm binh và chiến thuyền để trở
lại một lần nữa giúp dân Miên gây sự, vừa lúc ấy nước họ có việc nên
ngưng.
Nhưng tình hình ở Cao Miên, Thất Sơn và kinh Vĩnh Tế chỉ là tạm thời
lắng đọng. Năm sau, cuộc xâm lăng đại quy mô lại diễn ra. Nếu lần trước
chiến sự xảy ra tại Tiền giang, từ Vàm Thuận đến Chợ Thủ thì lần này
mặt trận chánh lại diễn ra ở vùng Thất Sơn và kinh Vĩnh Tế.
Ngăn chận giặc Xiêm năm 1842
Trong khi nội loạn xảy ra ở Lạc Hóa (Trà Vinh) thì tình hình trên Cao
Miên rất tồi tệ, vua Thiệu Trị đồng ý với các đại thần là nên rút quân
về An Giang, thật khéo và lặng lẽ. Voi đem về không tiện thì làm thịt
cho quân sĩ ăn, những người Việt trước kia gồm đa số là tù phạm lên Cao
Miên làm ăn thì lựa chỗ mà cho ở lại. Tháng 9 năm 1841, quân sĩ ta rút
về An Giang. Khi về đến nơi, tướng Trương Minh Giảng mất vì bịnh, nhưng
lý do chánh là vì buồn giận triều đình. Quân Xiêm không bỏ lỡ cơ hội,
mở ngay cuộc xâm lăng vào lãnh thổ Việt Nam. Lần này sự bố trí của Xiêm
khá chu đáo, chiến thuật thay đổi hẳn. Lại còn một yếu tố đáng chú ý :
yếu tố chính trị. Đó là những người Việt đa số là tù phạm bị đày làm
đồn điền. Khi mới lên ngôi, vua Thiệu Trị đã nghĩ tới số phận của họ.
“Nhưng trong xứ Trấn Tây, giặc Thổ chưa yên mà những tên tù phạm khi
trước can án phát quân hiện đương sai phái ở đó, phải đợi khi yên giặc
rồi sẽ nghỉ”. Bấy giờ ở Nam Vang có người con trai tự xưng là con của
hoàng tử Cảnh, lấy hiệu là Hoàng Tôn (có nghĩa là cháu nội vua Gia
Long) đang tụ tập một số đông gồm Xiêm, Lào, Hán (Việt Nam), Thổ, những
đứa trốn tội cũng theo nhiều lắm. Phải chăng trong số tù nhân bị phát
quân lên Cao Miên, đời Minh Mạng, gồm nhiều người can tội dính líu xa
gần tới cuộc khởi loạn của Lê Văn Khôi, ở Sài Gòn và các tỉnh ?
Đưa kẻ tự xưng là Hoàng Tôn về nước chỉ là một trong những lý do của
quân Xiêm; hành động chính trị này không gây được xúc động tâm lý đáng
kể. Dù sao đi nữa, ta cũng thấy Phi Nhã Chất Tri là kẻ tinh tế và đa
mưu.
Tháng giêng năm 1842, chiến thuyền Xiêm đến vùng đảo Phú Quốc, tấn công
để dò xét. Nguyễn Công Trứ, người đã từng dẹp giặc Tàu Ô ở vịnh Hạ Long
thử trổ tài, nhưng bị “sóng gió ngăn trở”.
Bọn Hoàng Tôn đưa 5000 người đến Sách Sô, thành phần toàn người Xiêm và
Lào (người Xiêm có thói bắt dân vùng bị chiếm làm nô lệ, làm lính).
Sách Sô là vị trí quan trọng ở giữa Tiền giang và Hậu giang. Tướng
Nguyễn Tri Phương nhận định rằng Tiền giang là con sông quan trọng ăn
thông giữa trung tâm An Giang, Vĩnh Long và Định Tường, xin đem binh
thuyền bố trí sẵn.
Việc xảy ra nhằm lúc vua Thiệu Trị đang ra Hà Nội để nhận lễ thụ phong của sứ Tàu.
Tháng 2 quân Xiêm lại tăng cường hải quân, đến gần Cần Vọt (Quảng Biên,
Kampot), ta bố trí giữa tại cửa Hà Tiên (Kim Dữ). Rồi binh thuyền của
Xiêm kéo tới Bạch Mã (Kép) đông đảo hơn với ý định chiếm Lư Khê (Rạch
Vược, phía nam Hà Tiên, bờ biển) và chiếm Tô Môn (cửa Đông Hồ, bên cạnh
núi Tô Châu) để bao vây Hà Tiên. Xiêm kéo mấy vạn binh tràn vùng kinh
Vĩnh Tế, ta chống đỡ không kịp. Cánh quân chánh của Xiêm đánh từ bờ
biển vịnh Xiêm La qua theo đường Hà Tiên, chớ không từ Nam Vang mà thọc
xuống theo sông Tiền giang như mấy lần trước. Trước nguy cơ ấy, vua
Thiệu Trị cho quân lực từ Huế kéo vào tăng cường, cùng với lính thú từ
Quảng Nam, Quảng Ngãi. Đợt tấn công đầu tiên của quân Xiêm bị chận lại,
ở khắp các mặt trận Vĩnh Tế, Tiền giang và Hậu giang. Nhưng quân Xiêm
chưa rút lui, cho củng cố thành lũy, chiếm trọn vùng núi Cô Tô (Tô Sơn,
thuộc dãy Thất Sơn). Tháng năm năm ấy, ta kéo vào chiếm lại khu Cô Tô
mà quân Xiêm vừa xây dựng trên lãnh thổ của ta. Đây là nơi người Miên
sống tập trung từ lâu đời. Binh ta gồm năm đạo, mỗi đạo 1000 quân, đem
súng lớn đặt tại Tri Tôn (Xà Tón) mà bắn phá lũy giặc. Nguyễn Tri
Phương đem đại binh đến núi Cô Tô, giặc tan, một số đông ra đầu thú gồm
người Tàu và người Miên có đến số ngàn. Vua Thiệu Trị sai Nguyễn Công
Trứ điều động việc lập ấp, khuyến khích khẩn ruộng. Nhưng ta tin rằng
việc làm này không đi tới đâu cả, đất ở chân núi từ lâu đã được người
Miên canh tác, họa chăng các quan của ta chỉ lo chỉnh đốn an ninh trong
các sốc Miên.
Rồi ta kéo quân lên phía Nam Vang, truy nã. Tháng 7 năm 1845, giặc Miên
lại đến bờ kinh Vĩnh Tế tại làng Vĩnh Điền, phá rồi Trường Lũy (Trường
Lũy là bức trường thành mà ta dựng lên, trồng tre gai, xa xa có đồn nhỏ
dọc theo kinh Vĩnh Tế, khi Pháp đến còn di tích này). Nhưng giặc bị
đánh lui.
Năm 1845, ta thắng vài trận đáng kể. Đến lượt Nguyễn Tri Phương và Doãn
Uẩn thi tài với Phi Nhã Chất Tri. Ta tiến đến Vũng Long (Kompong
Luông). Cao Miên nhìn nhận sự bảo hộ song phương của Xiêm và Việt Nam.
Thành lập các đồn điền chiến lược
Hậu quả những năm loạn lạc ở vùng An Giang, Trà Vinh, Ba Xuyên, Hà Tiên
như thế nào ? Chắc là trầm trọng lắm. Hễ loạn lạc là đốt nhà cướp của,
bộ sổ mất mát, quan lại tham nhũng, cường hào thổ mục tha hồ húng hiếp
dân. ở những vùng người Miên sống tập trung, việc bình định chỉ có
nghĩa là gìn giữ được an ninh. Mầm mống bất mãn vẫn còn. Vua Thiệu Trị
mất năm 1847, ngài gánh tất cả những hậu quả của vua Minh Mạng để lại.
Tình thế không suy sụp là nhờ tướng tài, giàu kinh nghiệm chiến trường
và quân sĩ hết lòng. Doãn Uẩn dựng chùa Tây An ở núi Sam năm 1847 là
việc có nhiều ý nghĩa đối với nhân tâm thời bấy giờ và nhứt là đối với
cá nhân một nho sĩ hăng hái nhưng thấm mệt.
Công tác khẩn hoang ngưng trệ, nếu không nói là bị đổ vỡ phần nào ở Hậu
Giang. năm Thiệu Trị thứ ba (1843), đào thêm con kinh nối liền Tiền
Giang (từ Tân Châu) đến thủ Châu Giang phía Hậu Giang. Kinh này ngắn
nhằm mục đích quân sự để chiến thuyền đi nhanh từ Tân Châu đến vịnh
Xiêm La khi hữu sự, qua kinh Vĩnh Tế. Dân phu từ hai tỉnh Vĩnh Long và
An Giang tập trung lại. Đợt đầu đào dở dang rồi ngưng, số dịch lại coi
việc đào kinh đã bức hiếp khiến dân phu bất mãn, trốn né rất nhiều. Sau
mùa gặt, dân phu lại được huy động lần thứ nhì. Một tài liệu của phủ
Hoằng Đạo tỉnh Vĩnh Long (Bến Tre, cù lao Bảo) cho biết dân phu phủ này
đi đào kinh Vĩnh An gồm 8 đội, mỗi đội 50 người, có viên phó tổng hoặc
lý dịch coi sóc. Mỗi đội mang theo 10 cây cuốc, 10 cây mai, phãng, rìu,
cây mù u, gàu nước, gióng, gánh, ky, mỗi thứ 30 cái, lại còn dây tre
dài hơn 1 trượng. Viên chức ở tỉnh tới địa điểm đào kinh từ trước để
cất trại cho dân phu ở. Cứ 15 ngày thay đổi một lần cho dân nghỉ ngơi.
Kinh đào xong vào tháng 4 năm 1844, đặt tên là Long An Hà.
Nội loạn vừa dẹp xong, tổng đốc An Hà là Nguyễn Tri Phương và Tuần phủ An Giang là Doãn Uẩn điều trần ba biệc (1844) :
— Xin lượng bớt các điều lệ thanh tra.
— Xin tước trừ ngạch hư trong bộ sổ dân.
— Xin tha các hạng thuế thiếu lâu nay.
Mấy điều trên chứng tỏ dân An Giang, đặc biệt là vùng kinh Vĩnh Tế xiêu
tán quá nhiều, lắm người đến nơi khác làm ăn, kẻ ở lại bám đất thì đành
chịu trực tiếp ảnh hưởng chiến tranh. Các sở đồn điền ở Biên Hòa, Định
Tường được khả quan hơn, giao lại cho dân địa phương cày mà nạp thuế
làm ruộng công (trở thành công điền cho dân mướn), lính khai thác đồn
điền thì triệt về tỉnh, lo việc khác. ở Tây Ninh, giáp biên giới Miên,
cũng xúc tiến lập đồn điền từ năm 1843.
Vua Tự Đức lên ngôi, gánh bao nhiêu hậu quả. Trương Quốc Dụng dâng sớ
tâu : “Tài lực trong dân, soi với năm trước mười phần kém đến năm sáu
mà các quan địa phương thường hay trau dồi tiếng tốt, hỏi số dân thì
tâu rằng tăng, hỏi mùa màng thời tâu rằng được, chỉ muốn cho mình được
tiếng khen”. Vua Tự Đức răn các quan đã dụng tâm làm nặng nhẹ, bắt lính
đòi thuế, lo hối lộ quan trên, góp tiền kẻ dưới. Đời Minh Mạng, Thiệu
Trị đã xảy ra nội loạn rồi. Vua Tự Đức cố đề phòng nhưng khó cứu vãn,
nhứt là đối với miền Bắc và miền Trung nơi đói kém thường xảy ra. Lại
còn nạn ngoại xâm của thực dân Pháp mà ngài không tiên đoán nổi mức
trầm trọng.
Tháng giêng năm 1850, cho Nguyễn Tri Phương là Thượng thơ bộ Công làm
Kinh lược đại sứ Nam kỳ. Nguyễn Tri Phương giữ chức vụ này đến cuối năm
1858 để rồi trở về Kinh, lo đối phó với thực dân Pháp.
Nguyễn Tri Phương am hiểu tình hình các tỉnh Tiền giang, Hậu giang,
luôn cả Cao Miên từ hồi Thiệu Trị. Ông đã đặt chân đến những nơi hẻo
lánh và nguy hiểm nhứt như Thất Sơn, Vĩnh Tế, Trà Vinh, Ba Xuyên. Tóm
lại, những vùng mà người Miên sống tập trung.
Năm 1853, vua Tự Đức cho phép lập đồn điền, lập ấp ở xứ Nam kỳ theo lời
tâu của đình thần. Tại sao có việc lập đồn điền này ? Từ trước đã có
chánh sách đồn điền rồi. Nhưng lần này đưa ra cấp bách nhằm đối phó kịp
thời với tình hình điêu tán ở vùng biên giới và Hậu giang. Nguyễn Tri
Phương nói thẳng mục đích : “Đất Nam kỳ liền với giặc Miên, dân xiêu
tán nhiều. Nay mượn điều chiêu mộ để dụ dân về đốc việc khai khẩn để
nuôi dân ăn, thật là một cách quan yếu để giữ giặc và yên dân đó”.
Lập đồn điền và lập ấp là hình thức tổ chức nhằm phục vụ chiến lược lớn : giữ giặc và yên dân. Nội dung tóm tắt như sau :
— Thành phần : dân ở khắp Lục tỉnh Nam kỳ cùng các tỉnh từ Bình Thuận trở ra phía Bắc, theo nguyên tắc tình nguyện.
— Địa điểm thành lập : ở hai tỉnh An Giang và Hà Tiên còn dư thì cho qua vùng kinh Vĩnh Tế, Tịnh Biên, hoặc Ba Xuyên.
— Hình thức tổ chức : có hai hình thức, lập đồn điền và lập ấp.
Mộ dân lập đồn điền
Dân sống tập trung làm lính đồn điền, đây là hình thức bán quân sự.
Ai mộ được 50 người thì tổ chức thành một đội, người mộ được làm suất
đội. Về sau, khi cày cấy có kết quả, đội này cải ra thành một ấp, viên
suất đội mặc nhiên trở thành ấp trưởng, theo quy chế dân sự.
Ai mộ được 500 người thời tổ chức thành một cơ (gồm 10 đội), người mộ
được bổ nhiệm làm chánh đội thí sai phó quản cơ, khi đất trở nên thành
thuộc, cơ này trở thành một tổng, người đứng mộ trở thành cai tổng,
theo quy chế dân sự.
Mộ dân lập ấp
Dân trong ấp sống theo quy chế dân sự, không bị câu thúc nhiều. Con số
tối thiểu để lập một ấp là 10 người, đủ số ấy mới được chọn đất mà khai
khẩn, lập bộ. Nên hiểu đây là 10 người dân cam kết chịu thuế, lần hồi
ấp này quy tụ thêm một số lưu dân, bọn này không cần vô bộ, cứ sống
theo quy chế dân lậu. Khi ruộng đất thành thuộc, dân đông hơn thì nâng
lên thành một làng.
Người Tàu cũng có thể đầu mộ, lập ấp.
Có lệ khen thưởng những người mộ dân lập ấp : được 30 người thì tha xâu
thuế trọn đời, 50 người thời thưởng chánh cửu phẩm, 100 người thời
thưởng chánh bát phẩm. Nên nhớ là muốn mộ dân thì phải có vốn lớn để
nuôi dân, cho vay làm mùa trong mấy năm đầu (vay tiền và vay lúa ăn).
Các ông bá hộ, tức là chủ nợ (đồng thời cũng là ân nhân) khi chết thì
trở thành tiền hiền, thờ trong đình làng. Đây là nội dung lời tâu đặc
biệt của Nguyễn Tri Phương :
— Người Cao Miên ở các sốc thuộc Ba Xuyên và Tịnh Biên mới quy tụ về
theo ta (sau các biến loạn đời Thiệu Trị) đáng lý thì phải đem phân tán
khắp nơi, nhưng ta lại cho họ trở về quê quán, nếu tiếp tục sống như
thế họ sẽ có cơ hội để làm loạn như trước. Bởi vậy dân khắp Nam kỳ lục
tỉnh nếu muốn ứng mộ qua Tịnh Biên, Ba Xuyên để lập ấp thì cứ cho,
nhưng họ phải sống trong các tổng đã thành lập rồi (nhưng nay thì đã
xiêu tán, dân không còn đủ số).
— Tù phạm ở Lục tỉnh, ai mộ được một đội hoặc một thôn (50 người) thời
cho làng chúng nó bảo kiết, sẽ tha tội rồi đưa đến vùng kinh Vĩnh Tế
(thuộc tỉnh An Giang) hoặc vùng rạch Giang Thành (tỉnh Hà Tiên) để cày
ruộng, tùy theo công việc kết quả tới đâu, hạnh kiểm ra sao sẽ liệu
định mà giải quyết.
Qua lời tâu của Nguyễn Tri Phương, ta thấy có dụng ý cho tù phạm đoái
công chuộc tội vì vùng Vĩnh Tế và Giang Thành là nơi khó khai khẩn, lại
ở sát biên giới, nguy hiểm hơn các vùng khác.
Năm sau, 1854, sáng kiến của Nguyễn Tri Phương gặp nhiều sự khen chê
của các quan, thấu tai vua. Nguyễn Tri Phương tâu về việc ích lợi của
chánh sách nói trên và nhìn nhận rằng : “Tôi xét việc đồn điền vẫn lợi
nước lợi dân mà không lợi cho Tổng, Lý. Vậy nên Tổng, Lý đặt điều để
phỉnh dân, những người nói bất tiện đó chẳng qua bị chúng phỉnh mà
thôi”.
Tổng, Lý tức là cai tổng và lý trưởng, họ chống đối vì chính sách này
khiến cho dân trong làng trong tổng có thể qua vùng đất khác mà làm ăn.
Làng tổng của họ trở nên thưa thớt, thiếu người đóng thuế và làm xâu.
Hoặc những phần đất hoang trong làng trong tổng sẽ bị cắt ra để trở
thành một làng, một ấp khác, địa bàn hoạt động và số dân mà họ cai trị
bấy lâu nay bị thâu hẹp lại.
Nhân dịp ấy Nguyễn Tri Phương báo cáo kết quả đầu tiên sau một năm :
lập được 21 cơ đồn điền và phỏng chừng 100 làng. Đồng thời Nguyễn Tri
Phương cũng xin khen thưởng những địa phương mà việc khẩn hoang thâu
kết quả tốt.
Một trăm làng (ấp) nói trên quy tụ 10500 người. Năm 1866, nha Dinh điền
xứ An Giang, Hà Tiên và vùng có nhiều người Miên ở Vĩnh Long (Lạc Hóa).
Đồng thời với các tỉnh nói trên, những tỉnh còn lại ở Nam kỳ cũng tổ
chức đồn điền để khẩn hoang; đáng chú ý nhất là đồn điền ở Gia Thuận,
huyện Tân Hòa (Gò Công) thuộc tỉnh Gia Định do Trương Định cầm đầu. Lực
lượng bán quân sự của đồn điền trợ giúp đắc lực cho quân sĩ triều đình
khi giữ thành Chí Hòa và còn tham gia các cuộc khởi nghĩa về sau.
Những chi tiết cụ thể
Lập đồn điền là chánh sách tốt, tuy nhiên người dân chịu khá nhiều hy
sinh, cực nhọc? Họ bị cưỡng bách, như trường hợp đám dân nghèo ở làng
Tân Niên Tây (nay thuộc Gò Công). Họ là dân lậu, hương chức làng tống
khứ họ qua Gia Thuận để gia nhập đồn điền. Nhưng vài ngày sau, họ bỏ
trốn, qua cư ngụ tại làng Kiểng Phước. Để cho dân số trong đồn điền
khỏi bị hao hụt, viên đội của đồn điền Gia Thuận là Bùi Văn Cẩm báo cáo
lên, và quan huyện cho phép viên đội này truy nã bọn dân vừa trốn, gồm
5 người. Dầu sao đi nữa, làm dân lậu trong một làng có nếp sinh hoạt
thuần thục vẫn khỏe thân hơn là bị bắt đi nơi khác để làm đồn điền.
Trường hợp nói trên xảy ra vào năm Tự Đức thứ 11 (1858). Người dân có
phản ứng vì khi bận rộn cày cấy thì làm sao họ có thể diễn tập về quân
sự như quan trên mong muốn ? Vả lại cày cấy ở đất hoang đòi hỏi nhiều
công phu hơn ở vùng đất thành thuộc, tốn công nhiều nhưng huê lợi không
thu được bao nhiêu, trong những năm đầu tiên.
Vì nhu cầu gìn giữ biên giới, tổng đốc An Hà (An Giang, Hà Tiên) là Cao
Hữu Dực đã đưa nhiều kế hoạch thúc ép dân, đến đỗi các quan ở Nội các
phải can thiệp. Năm Tự Đức thứ 7 (1854), một năm sau khi ban hành quy
chế đồn điền, Trương Đăng Quế, Trương Văn Uyển và Võ Đức Nhu bái yết
vua, nhắc lại việc làm và những yêu sách của Cao Hữu Dực, rồi đi đến
một kết luận mà nhà vua đã đồng ý : Phải mộ người và tập luyện lần lần
thì việc làm mới có kết quả. Cứ chờ ba năm rồi hãy hay. Nhà vua hiểu
rằng các quan địa phương thấu rõ hoàn cảnh và có xin nhiều việc vấn đề
đồn điền. Tóm lại, phải cho dân sống dễ dàng, góp công từ từ. Không cần
con số quá đông. Cao Hữu Dực xin việc chế quân phục (dân đồn điền khi
thao diễn có sắc phục riêng) và việc thao diễn thường xuyên. Hai việc
ấy không cần kíp lắm. Nên làm sổ sách để ghi số lưu dân, dân lậu, từ từ
gom thành đội để khai khẩn cho hợp với hoàn cảnh. Sau 3 năm chuẩn bị
thì hai điều trên (sắc phục và thao diễn) mới làm được.
Cũng năm 1854, ta có một tài liệu về việc lập đồn điền. Đây là một đội
(50 người dân lậu) xin khẩn 2 khoảnh đất tổng cộng là 200 mẫu của làng
Thường Thạnh (nay là Cái Răng, Cần Thơ). Đội trưởng Nguyễn Văn Tấn đứng
đơn, có thôn trưởng, hương thôn và dịch mục ký tên. Thôn trưởng làng
giáp ranh (làng Như Lăng) ký vào để xác nhận vấn đề ranh giới, viên cai
tổng cũng ký vào. Đơn này được quan Tổng đốc An Hà phê.
Đồn điền nói trên thu hút dân của làng Thường Thạnh và cắt đất làng này
bớt ra đến 200 mẫu. Ta hiểu tại sao việc lập đồn điền thường bị các
làng có đất tốt chống đối, nếu là cắt đất xấu ở nơi nước mặn đồng chua
thì chẳng ai tranh cản làm chi.
Năm Tự Đức thứ 9 (1856), có một tài liệu theo đó các ấp trưởng của 9 ấp
(Thanh Thiện, An Mỹ, Phú Hữu, Vĩnh Lộc, Phú Thạnh, Mỹ Thành, Vĩnh Thới,
Phú Mỹ, Phú Khai) họp cùng đội trưởng và bốn ông bá hộ cùng đi tu khám
điền địa để đo đạc rồi khai vào sổ bộ. Chẳng hiểu ngày nay các ấp nói
trên nằm trong địa phương nào, nhưng ta thấy sự phối hợp giữa ấp trưởng
(đội đồn điền) và vai trò các ông bá hộ giúp vốn.
Chúng tôi thử xác nhận vị trí của vài đồn điền thành lập dưới thời Tự
Đức. Việc làm này khó khăn vì một số đồn điền lần hồi trở thành làng
xã, một số khác về sau bị thực dân Pháp giải tán.
— Vùng Tân Châu còn tài liệu liên quan đến ông Đội Chín Tài ở Vịnh Đồn,
theo đó vào những năm 1853 và 1856, ông được viên chỉ huy bảo Tân Châu
cho làm ấp trưởng, rồi tác đắc cử ấp trưởng. Năm 1860, ông được cấp cho
một “vi bằng cấp sự” để đi mộ lính ở thôn Phú Lâm. Ông Đội Chín Tài sau
thăng chức hiệp quản, trong đội binh Giang Nghĩa.
— Dọc theo kinh Vĩnh Tế, những làng mạc thành lập từ đời Minh Mạng và
Thiệu Trị ắt đã tiêu điều, lúc quân Xiêm tràn tới và chiếm đồn Châu
Đốc. Trung tâm quy tụ lưu dân được nói nhiều nhất trong vùng này đời Tự
Đức là Tịnh Biên và bờ kinh Vĩnh Tế. Nhưng ở đây, như Nguyễn Tri Phương
quy định “họ phải sống trong các tổng đã thành lập rồi” tức là bổ sung
vào các làng cũ, có ranh giới, có bộ đinh, bộ điền từ đời Minh Mạng để
tránh việc lấn vào ruộng đất người Miên. Riêng về các đội do tù phạm
lập ra, đưa về Giang Thành hoặc Vĩnh Tế thì không thấy dấu vết cụ thể,
ngày nay tìm lại cũng quá khó khăn vì người địa phương nếu là con cháu
của tù phạm thì cũng che giấu, hoặc không biết rõ việc này (và chính
ông cha của họ cũng che giấu lai lịch, vì thể diện đối với các làng
khác).
Tu sĩ Đoàn Minh Huyên, sau này là Giáo chủ của Phật giáo Bửu Sơn Kỳ
Hương đã đến vùng Tịnh Biên, tại Thới Sơn để lập trại ruộng, quan địa
phương không ưa thích nhưng ta không thấy tài liệu nào nói đến việc
ngăn cản, chứng tỏ khẩn hoang ở vùng biên giới đời Tự Đức là công tác
được khuyến khích.
— Người Chàm sống tập trung ở Châu Giang (ngang Châu Đốc) tổ chức lại thành từng đội, có quan hiệp quản cầm đầu.
— Tại vùng Trà Vinh (Lạc Hóa) nơi người Miên từng gây náo động hồi đầu
đời Thiệu Trị, Nguyễn Tri Phương đã lập đồn điền ở vùng Cầu Ngang, Trà
Cú ước vài ngàn dân, một người Miên là Thạch In được làm hiệp quản đồn
điền (khi Pháp đến ông này ra làm cai tổng). Tại ngả ba Trà Cú, có ông
đội Mười Nhơn.
— Tại vùng Mỹ Tho, Nguyễn Tri Phương lập đồn điền ở miền Xoài Tư.
— Tại vùng Ba Xuyên, việc lập ấp, lập đồn điền phát triển nên lập thêm một huyện mới ở Nhu Gia, năm Tự Đức thứ 13 (1860).
Nói chung các đồn điền chiến lược, các ấp nói trên được thiết lập xen
kẽ vào vùng có người Miên cư ngụ tập trung. Vì vậy mà ngày nay du khách
phải ngạc nhiên khi gặp những xóm đông đúc người Việt Nam, với nếp sống
thuần thục, ở nơi chung quanh toàn là sốc Miên, nhứt là ở Trà Vinh,
Thất Sơn, ở vùng Sóc Trăng.
Việc lập ấp, lập đồn điền xúc tiến trong vòng non 6 năm là thực dân
Pháp đánh chiếm thành Gia Định. Tuy nhiên, sau khi cắt ba tỉnh miền
Đông cho Pháp, năm 1864, vua Tự Đức chuẩn cho Trần Hoán làm tuần phủ Hà
Tiên kiêm sung chức Dinh điền ở An Giang, Hà Tiên, Vĩnh Long : kết quả
chắc là mong manh vì thực dân lại đánh vào ba tỉnh miền Tây năm 1867.
Đồng thời với quy chế lập ấp và lập đồn điền năm 1835, vua Tự Đức định
lệ người cày mướn ruộng : Gặp năm mất mùa, nếu nhà nước miễn thuế cho
chủ điền theo tỷ lệ nào thì chủ điền phải theo tỷ lệ ấy mà bớt lúa
ruộng cho tá điền. Đây là việc làm có chút ít tiến bộ.
Năm 1850, khi được sung Nam kỳ kinh lược sứ, Nguyễn Tri Phương chú ý
đến nạn cho vay nặng lời. Từ lâu, theo lệ triều đình thì cho vay riêng
tư hoặc cầm cố tài vật, bất luận là năm tháng lâu mau thì chỉ lấy một
vốn một lời mà thôi, mỗi tháng tiền lời không quá 3 phân, ai trái lịnh
thì bị phạt 40 roi. Lời dạy của Hình Bộ nói rất kỹ : như mượn một lượng
bạc, cứ mỗi tháng 3 phân mà lấy lời, kéo dài tới 33 tháng thì bạc lời
đã đầy một lượng tức là ngang với số vốn rồi. Như con nợ không trả tiền
lời đều đặn, trả kéo dài năm mười năm thì cũng giữ nguyên tắc “một vốn
một lời” là dứt nợ. Nguyễn Tri Phương nhắc lại nguyên tắc không quá 3
phân mỗi tháng. “Gần đây, nghe Gia Định tỉnh có phú hộ cho vay, phần
nhiều trái lịnh cấm cho nên con nợ không thể trả, thường bị chủ nợ làm
khổ. Người lính (mang nợ) không yên trong cơ ngũ, mà dân sống không yên
cho nên có người sinh tâm phải ăn trộm, chớ không phải nhứt thiết vì
tham. Cổ nhân thường nói : cho vay tiền không bằng cho vay đức (trái
tài bất như trái đức), nên giảm thuế, bớt tô. Triều đình thường ra kế
an dân, sao người ta lại tham để làm hại nhau ? Bởi vậy bản chức thể
đức ý của triều đình, lấy an dân làm nhiệm vụ, đã sức cho phủ huyện bảo
cho người phóng trái : trừ người từ trước đã trả được ít nhiều, còn kỳ
dư là bất lực, hãy hoản cho họ một năm để cho họ an cư sinh sống, chậm
việc thúc bách đòi nợ họ”.
Mấy nét trên đây giúp soi sáng một khía cạnh quan trọng của việc lập ấp
di dân : các ông bá hộ đứng ra đỡ đầu đều thủ lợi quá đáng. Lời kêu gọi
của Nguyễn Tri Phương chắc ít được lưu ý. Nguyễn Tri Phương khuyên các
chủ điền (cũng là bá hộ, là chủ nợ) nên giảm địa tô. Điều này lại càng
khó được hưởng ứng vì luật pháp không hề quy định rõ rệt, cứ để cho
người chủ đất thao túng.
Năm Tự Đức thứ 13 (1860) là năm bi đát. Tháng giêng, quân sĩ Cao Miên
gây sự đánh vào An Giang và Hà Tiên, nhưng ta đuổi được (quân Cao Miên
qua chiếm vùng Thất Sơn). Tướng Nguyễn Tri Phương được phái vào Nam để
lo chiếm lại thành Sài Gòn, sau khi nguyên soái Pháp (Page) đưa ra một
dự thảo hòa ước rất ngặt nghèo cho ta.
Tổng đốc Vĩnh Long Trương Văn Uyển truyền cho dân dũng trong đồn điền,
trong ấp phải thao diễn tại tỉnh, các đồn ở trong làng canh phòng cẩn
mật, dân trong ấp phải chăm lo việc nông, các nhà phú hộ thì tích trữ
lúa thóc để bán cho nông dân hoặc cho vay, ai bán hết thì bị phạt nặng.
Mặt khác, phải ngừa gian thương chở lúa gạo bán ra vùng giặc. Đất không
được bỏ hoang, lúa phải tích trữ để dân khỏi bị khốn trong lúc “thanh
hoàng bất tiếp” (lúa bắt đầu chín, chưa gặt ăn được). Chương 1 - 4
Làng xóm, điền đất và người dân thời đàng cựu
Trước khi người Pháp đến, đất Nam kỳ đã là nơi việc cai trị tổ chức
thành nền nếp khá minh bạch. Người Pháp nghiên cứu kỹ lưỡng, sửa đổi
hoặc noi theo phần nào để áp dụng có lợi cho việc thực dân. Những tài
liệu sau đây phần lớn rút từ “Những bài giảng về cách cai trị thời đàng
cựu” do viên tham biện nhiều kinh nghiệm là J.B. Eliacin Luro đem dạy
tại trường Hậu Bổ Sài Gòn vào năm 1875. Luro từng là sĩ quan tham gia
đánh chiếm và bình định xứ Nam kỳ. Thời ấy, tài liệu tuy bị mất mát
nhưng còn khá nhiều, vài viên chức thời đàng cựu đã giúp Luro biên
soạn, đặc biệt là ông Trần Nguơn Vị (bát phẩm cựu trào, tục danh ông
Hạp) làm việc cho Pháp thăng lần đến Đốc phủ sứ. Theo quy chế đàng cựu
(thời Tự Đức) ở mỗi tỉnh có năm phòng : phòng Lại, phòng Hộ, phòng
Lễ... Ông Hạp là viên chức đứng đầu một phòng, tương đương với chức vụ
trưởng ty ngày nay. Mỗi công văn đều lần lượt do thơ lại thảo ra, trình
cho ông Hạp, ông Hạp trình cho viên kinh lịch hoặc thông phán xem kỹ
trước khi trình lên quan Tổng đốc. Ông Hạp Trần Nguơn Vị là người vùng
Lấp Vò (Long Xuyên) nên trưng ra nhiều tài liệu về vùng này.
Về địa bộ năm Minh Mạng thứ mười bảy
Như đã nói, ở Nam kỳ đây là lần duy nhất triều đình tổ chức việc đo đạc
do Trương Đăng Quế cầm đầu, cùng với một số viên chức chuyên môn từ
kinh đô vào. Nên phân biệt địa bộ và điền bộ :
— Địa bộ ghi rõ từng khoảnh đất : diện tích, loại đất, ranh giới tứ cận, tên người chủ.
— Điền bộ, gọi nôm na là bộ điền, chỉ ghi tên người chủ đất, diện tích, loại đất, đặc biệt là số thuế phải đóng.
Địa bộ nặng về chi tiết liên quan đến tên họ chủ đất, ranh giới, diện
tích mà không ghi số thuế hàng năm trong khi điền bộ chỉ chú trọng vào
thuế má : thuế ấy ai phải trả ?
Năm Minh Mạng thứ 17, mỗi làng phải lập một địa bộ gồm 3 bổn giống nhau.
— Bổn Giáp, gởi về Hộ Bộ ở Kinh đô.
— Bổn ất, giữ tại tỉnh, nơi văn phòng quan Bố chánh.
— Bổn Bính, giữ tại làng.
Từ đó về sau, mỗi khi mua bán đất, nhà nước lấy địa bộ Minh Mạng này ra điều chỉnh.
Xin đơn cử làm thí dụ bổn địa bộ Minh Mạng của thôn Tân Bình, thuộc Tân
Phú tổng, Đông Xuyên huyện, Tân Thành phủ, tức vùng Lấp Vò, thuộc tỉnh
An Giang.
Hương chức gồm Thôn trưởng, Hương thân, Hương hào đứng tên lập ra, có Cai tổng và Phó tổng “Thừa nhận thiệt”.
Sau đó là viên Tri huyện “Thừa duyệt thiệt”.
Các viên chức của tỉnh (tỉnh phái) cũng ký vào, theo thứ tự :
— Thơ lại của án sát sứ ty “Thừa cứu”
— Thông phán của Bố chánh sứ ty “Thừa tỷ”
— Quan Bố chánh và quan án sát của tỉnh An Giang “Thừa hạch thiệt”
Các viên chức từ Kinh đô đến (Kinh phái) ký vào theo thứ tự :
— Thơ lại của Tào chánh ty, thuộc Bộ Công “Thừa Cứu”
— Viên ngoại lang của Bộ Lễ “Thừa tỷ”
— Chủ sự của Bộ Binh “Thừa phúc cứu”
Tổng cộng các hạng điền thổ trong làng Tân Bình là 208 mẫu.
Trong số này, ruộng canh tác gồm 88 mẫu : 19 mẫu thảo điền và 69 mẫu sơn điền.
Đất ruộng đổi thành vườn cau, có gia cư : 11 mẫu.
Đất ruộng đổi thành vườn chuối, tre, có gia cư : 13 mẫu.
Đất trồng dâu và trồng mía : 10 mẫu.
Đất trước kia trồng dâu, nay trồng đậu, khoai : 17 mẫu.
Đất trồng tre : 30 mẫu.
Đất trồng lá dừa nước : 30 mẫu.
Đất trước kia trồng dâu, nay đổi thành đất lập chợ phố : 5 mẫu.
Ngoài ra còn đất gò quá cao, đất làm nghĩa địa, đất bỏ hoang không đo đạc diện tích.
Về sự phân khoảnh đất ruộng, 19 mẫu thảo điền đã kê khai chia làm ba sở : 5 mẫu, 8 mẫu, 6 mẫu.
Về sơn điền, chia ra 4 sở : 18, 17, 12 và 20 mẫu.
Địa bộ của làng chỉ có tên họ năm bảy ông điền chủ mà thôi.
Khu đất dành để cất chợ là 5 mẫu, do hai người đứng tên làm chủ. Cuối
bổn địa bộ, hương chức làng cam kết không khai thêm bớt, nếu sai lạc
hoặc còn đất ẩn lậu mà không khai thì chịu tội.
Về điền bộ, (tức là bộ ghi thuế điền) trước sau chỉ lập ra có bốn lần
từ hồi nhà Nguyễn tới khi thực dân Pháp đến, gọi là Đại Tu Điền Bộ, làm
chuẩn để thêm bớt vào những năm sau.
Bốn lần ấy là :
— Năm Thiệu Trị thứ ba.
— Năm Tự Đức nguyên niên.
— Năm Tự Đức thứ 11.
— Năm Tự Đức thứ 16.
Cũng làng Tân Bình (Lấp Vó) nói trên, so với địa bộ Minh Mạng hồi 12
năm về trước, có sự thay đổi rõ rệt : đất ruộng chịu thuế đã giảm về
diện tích trong khi các loại đất trồng đậu, khoai và trồng tre vẫn như
cũ. Trong địa bộ Minh Mạng không ghi đất công điền, nhưng trong điền bộ
sau này ghi rõ các sở công điền. Có lẽ diện tích sút giảm vì dân qua
các làng khác làm ăn, hoặc có sự ẩn lậu diện tích để trốn thuế. Đây là
một làng thuộc tỉnh An Giang, thành lập từ đời Gia Long nên dân lậu rút
bớt qua các làng tân lập, khiến các chủ điền vì sợ đóng thuế không nổi
nên hiến cho làng để làm công điền ; một số đất khác thì lần hồi canh
tác rồi cũng bỏ hoang.
Đất thiệt trưng, tổng cộng 165 mẫu trong đó “điền” (đất làm ruộng) là 58 mẫu và “thổ” (các loại trồng tỉa khác) là 106 mẫu.
Thảo điền gồm một sở công điền 5 mẫu và 10 mẫu tư điền khác chia làm hai sở.
Sơn điền gồm 42 mẫu, trong đó công điền ba sở, tư điền hai sở. Đáng chú
ý là có một sở 12 mẫu do Mai Văn Ngọc làm chủ, ông này vì can án theo
ngụy (phải chăng là theo ngụy Khôi) nên đất bị tịch biên đem vào công
điền.
Ngoài số đất ruộng nói trên, những phần đất trồng tre, trồng dâu, trồng khoai đậu không thay đổi mấy.
Trong làng Tân Bình, bộ điền ghi 18 mẫu liệt vào loại “hoang phế” (vì
dân đã thất lạc) từ năm Thiệu Trị thứ 5, bỏ hoang dưới 5 năm.
Lại còn 28 mẫu ghi vào loại “cửu kinh hoang phế” tức là bỏ hoang lâu
hơn. Một số đất lần hồi trở thành xấu, lúc trước canh tác được nhưng về
sau đất chai lần, sanh ra sỏi (loại đá ong). Lại còn vài mẫu đất phù sa
mới bồi, ghi vào bộ. Một số người khẩn đất trước kia bỏ xứ mà đi, không
biết lý do, đất trở thành công điền. Lại có người chết không có con
cháu thừa tự nên đất cũng trở thành công điền.
Về thuế đất, năm Tự Đức nguyên niên, thấy ghi rõ trong bộ như sau :
Thảo điền, mỗi mẫu thâu tô túc 26 thăng, thập vật tiền là 3 tiền.
Sơn điền, mỗi mẫu tô túc 23 thăng, thập vật tiền là 3 tiền.
Tang căn thổ (đất trồng dâu), mỗi mẫu 2 quan.
Viên lang thổ (đất lập vườn cau), mỗi mẫu 1 quan 4 tiền.
Vu đậu thổ (đất trồng khoai đậu), mỗi mẫu 8 tiền.
Thổ trạch, mỗi mẫu 8 tiền.
Thanh trúc thổ (đất trồng tre), mỗi mẫu 4 tiền.
Dà diệp thổ (đất trồng lá dừa nước), mỗi mẫu 4 tiền.
Biểu thuế trên đây tính theo lệ đã ban hành từ năm Minh Mạng thứ 17.
Lập làng mới
Đời Tự Đức, ở Nam kỳ Lục tỉnh, nhà nước khuyến khích lập làng để thúc
đẩy khẩn hoang, thâu thêm thuế đinh và thuế điền. Việc lập làng được
hưởng ứng, bất kể dân giàu hay dân nghèo.
— Người giàu (thường là bá hộ) được dịp ban ơn bố đức cho dân đi khẩn
đất. Trong giai đoạn đầu, người khẩn đất cần vốn liếng để sắm nhà cửa,
ghe xuồng, nông cụ, quần áo, gạo để ăn, tiền để xài. Ông bá hộ cho vay
tiền, vay lúa với mức lời rất nặng, trên 50 phần trăm mỗi năm. Ngoài
ra, nếu ông bá hộ trực tiếp khẩn đất thì có thể canh tác với nhân công
mướn rẻ, đó là những người bạn làm ruộng ăn lương hàng năm, khi rảnh
việc cày cấy gặt hái thì chủ bắt chèo ghe, sửa nhà, đắp bờ, đào mương
vườn. Bạn làm công luôn luôn mượn tiền trước với tiền lời rất nặng, lắm
khi vì đau yếu hay cờ bạc, vợ và con phải làm việc thay thế để trừ nợ.
— Người nghèo không gia cư, đã túng thiếu đổ nợ ở các làng cũ nếu có
chí thì đi nơi khác xin lập làng mới, chịu khó làm ăn thì có thể trở
thành điền chủ nhỏ, được làm hương chức. Trong nhiều trường hợp, người
đi lập làng thường lôi kéo theo nào là bạn thân, nào là bà con xa, bà
con gần để trong việc làm ăn hàng ngày họ sống trong bầu không khí thân
mật và tin cậy hơn.
Đơn xin lập làng làm ra hai bổn, dâng lên quan Bố chánh. Trong đơn ghi rõ :
— Ranh giới tứ cận của làng mới lập.
— Tên những người gia trưởng (điền hộ).
— Ranh giới các sở đất xin khẩn, tên chủ đất, diện tích, loại đất gì (sơn điền, thảo điền hoặc vu đậu).
— Nêu rõ tên làng mới (xin đặt tên).
— Xin miễn thuế, miễn sưu và miễn lính trong ba năm.
— Ghi tên những người dân bộ (bộ đinh) để bảo đảm có số thuế tối thiểu trong tương lai.
Quan Bố chánh nhận đơn, chỉ cần biết rõ ranh giới làng mới và tên tuổi
của dân lập làng (gồm dân đã từng đứng bộ trong làng khác và dân lậu)
rồi phê vào mấy chữ : “Phú hồi sở tại phủ viên khám biện”.
Khi nhận được lịnh, quan phủ bèn đến tận nơi với vài nhân viên (lại
lệ), đòi hương chức các làng kế cận, luôn cả viên cai tổng để xác nhận
rằng làng mới xin lập không lấn ranh vào những làng đã có ở bốn phía và
chẳng ai ngăn cản. Dân xin lập làng phải có mặt để xác nhận chịu khẩn
và chịu đóng thuế, sở đất của người này không lấn ranh vào sở của người
kia. Dân lậu xin lập làng cũng đến để được điều tra xem có tội trạng,
tiền án, hoặc có giả mạo tên tuổi không. Quan phủ cho đo diện tích để
biết lần đo trước của dân làng có chính xác chăng (dư hoặc thiếu), xem
ranh giới từng sở đất, tên người chủ, loại sơn điền, thảo điền hoặc đất
trồng dâu, trồng khoai đậu... Luôn dịp ấy, quan phủ nhìn nhận cho người
xin lập làng làm chức thôn trưởng, cấp cho con dấu nhỏ, hình chữ nhựt,
theo nguyên tắc con dấu phải làm bằng cây (vì vậy gọi là mộc ký, hoặc
nói gọn là con mộc). Đồng thời quan phủ cho phép làng cũ hủy bỏ tên
những người dân đã di chuyển để ghi vào bộ sổ của làng mới lập.
Quan phủ soạn tờ phúc bẩm, trình với quan Bố chánh việc mình đã làm,
kèm theo bản đồ tổng quát của làng tân lập, vị trí các sở đất, loại
đất, tên người xin khẩn, diện tích. Trên bản đồ thường vẽ hình cây lâm
vồ, chòm tre, lung bàu hoặc hình chùa miễu để làm chuẩn. Thôn trưởng ở
mấy làng giáp ranh đồng ký vào.
Tờ phúc bẩm này được quan phủ dâng cho quan Bố chánh, làm hai bổn. Khi
nhận được, quan Bố chánh phê “trình biện”; chuyển lên quan Tổng đốc thì
được phê “chiếu biện” khi chấp thuận.
Một bổn có lời phê trên đây lại gởi trả xuống cho quan phủ hoặc quan
huyện. Lập tức, quan phủ hoặc quan huyện đến làng tân lập nọ, lần thứ
nhì, để làm tờ khám án (Luro dịch là jugement procès verbal). Trong tờ
này ghi là đã đến nơi, gọi các viên cai tổng, thôn trưởng kế cận đến để
xác nhận, rồi kê khai các sở đất, diện tích, loại đất, tên người khẩn
như trong tờ phúc bẩm. Bên dưới là chữ ký của thôn trưởng, hương thân,
của dân làng tân lập cùng các ông cai tổng sở tại và lân cận.
Tóm lại, việc lập làng chia ra ba giai đoạn :
— Dâng đơn lên quan Bố chánh
— Quan phủ hoặc quan huyện đến nơi làm tờ phúc bẩm
— Khi được quan Tổng đốc đồng ý, quan phủ trở lại làng, làm tờ khám án
Trường hợp làng Châu Quới tân lập, tách ra từ làng Châu Phú (nay là
vùng chợ Châu Đốc) lúc mới làm đơn xin chỉ có 7 người dân đứng tên (2
người dân có bộ cũ, 5 người dân lậu), đất khẩn các loại tổng cộng 66
mẫu (trong đó chỉ có 2 mẫu thảo điền và 3 mẫu sơn điền) giúp ta thấy rõ
tình trạng làng xóm lúc bấy giờ, quan trên tỏ ra dễ dãi, những người
đứng tên là tiểu điền chủ, sau này sẽ quy tụ thêm dân đến làm công hoặc
làm tá điền cho họ.
Nói chung, hương chức làng (hương dịch) chia ra làm 2 hạng : “các chức
lớn” và “các chức nhỏ”. Các chức nhỏ là người thi hành, đi gặp dân để
truyền lịnh của các chức lớn. Muốn được hương chức cần có điều kiện tuy
đơn giản nhưng gắt gao : phải cư ngụ trong làng, có hằng sản hoặc uy
tín lớn (thí dụ như người nghèo nhưng ông cha ngày xưa làm quan hoặc đã
sáng lập làng). Lúc ban đầu chỉ đặt ra thôn trưởng (xã trưởng) và hương
thân (theo Luro, chức hương thân do Nguyễn Tri Phương bày ra). Lần hồi
khi làng đông dân, thuế má dồi dào thì cử thêm ấp trưởng, cai tuần,
trùm cả, thủ hộ, biện lại, biện đình. Hương chức lớn thì có thêm hương
hào, hương sư, hương chánh, hương lễ...
Nhiều người cho rằng hương chức làng là tổ chức dân chủ. Đó là nói quá
đáng, nếu không sai lạc : tổ chức phong kiến, của phe đảng thì đúng
hơn. Khi thiếu một người hương chức thì mấy người sáng lập làng hoặc
những người đang làm hương chức bèn nhóm lại rồi cử người trong nhóm,
trong phe. Dân nghèo không hằng sản, tức là không điền đất hoặc không
vốn liếng to để làm nghề mua bán thì chỉ được quyền đứng ngoài xa mà
nhìn, hoặc là nấu nước pha trà cho các ông hương chức uống khi họ bầu
cử lẫn nhau. Vua chúa ngày xưa nhắc nhở đến dân, “dân vi quý” hoặc gọi
tổng quát là bá tánh. Nhìn qua bộ điền hoặc địa bộ của làng, ta thấy
tên họ của những người dân mà thời phong kiến đề cập tới : đó là những
điền chủ lớn nhỏ, những ông bá hộ. Dân lậu, không tên trong bộ, không
được nhìn nhận là dân.
Việc khẩn đất
Lần hồi, khi Gia Long bắt đầu cai trị thì việc khẩn hoang không còn quá
dễ dãi như lúc mới bắt đầu Nam tiến. Nhà nước kiểm soát kỹ lưỡng việc
khẩn đất, nhằm mục đích thâu thuế. Đời Tự Đức, trên nguyên tắc thì đất
hoang (hoang nhàn) ai làm đơn xin khẩn trước là người đó được.
Hễ đất bỏ hoang, không đóng thuế là đem cho người khác trưng khẩn để nhà nước khỏi bị mất thuế.
Đất tạm bỏ hoang, trong trường hợp chủ đất chết, không con, thân nhân
chưa hay biết thì giao tạm cho người khác, chờ có người đến nhìn nhận.
Không đóng thuế, đất có thể bị mất. Muốn đóng thuế, phải đăng vào địa bộ. Muốn đăng vào địa bộ thì phải làm đơn theo thủ tục.
Nhà nước luôn luôn thúc giục dân khẩn đất, ghi vào địa bộ và đóng thuế
để khỏi bị tranh cản về sau, nhứt là trường hợp đất tốt ở nơi đông dân
cư, gần đường giao thông tiện lợi.
Nhiều sự trừng phạt đích đáng dành cho kẻ ẩn giấu diện tích, canh tác lậu.
Năm Gia Long thứ 9, theo lệ thì khi gặp đất canh tác lậu thuế (đất
không xin ghi vào bộ), kể tố giác được hưởng phần đất ấy, xin ghi vào
bộ để làm chủ, tức là hưởng công lao khẩn hoang của kẻ đi trước. Nếu
người tố giác không muốn khẩn thì đất vẫn còn là của chủ cũ, chủ cũ
phải lập tức hợp thức hóa.
Nếu là vùng đất tốt, tên Giáp khai 5 mẫu nhưng trong thực tế cày cấy
đến 8 mẫu, người tố giác có thể xin trưng khẩn 3 mẫu thặng dư.
Lệ năm Minh Mạng thứ 15, sửa đổi chút ít : kẻ nào canh tác trên phần
đất ruộng hơn diện tích đã khai trong bộ thì bị phạt, tiền phạt đem
thưởng cho kẻ tố giác (đất lậu ấy không bị tịch thâu).
Nếu khẩn một khoảnh đất riêng rẽ, hoàn toàn trốn thuế từ lâu thì đất bị
tịch thu, giao cho kẻ nào chịu đến canh tác và chịu đóng thuế.
Lệ năm Tự Đức nguyên niên đặt ra : hễ đất mới khẩn mà chưa làm ruộng,
chủ hoàn toàn trốn thuế thì giao cho người tố giác làm chủ, ghi vào bộ.
Nếu đất trước đó có canh tác, có đóng thuế nhưng trải qua một thời kỳ
bỏ hoang lâu hay mau, chủ trở lại canh tác mà không chịu đóng thuế thì
chủ đất bị phạt 3 quan mỗi mẫu, đất không bị tịch thâu. Tóm lại, đời Tự
Đức đất chỉ bị tịch thâu giao cho người khác khi là đất hoang, mới khai
khẩn. Kẻ bị tố giác phải chịu đóng thuế năm trước và những hình phạt
bằng roi cho kẻ khai gian diện tích.
Luật lệ khẩn đất ngày xưa định như sau :
— Đất đã ghi vào bộ, biết rõ ranh giới và diện tích mà bỏ hoang vô thừa
nhận thì dân làng cứ làm đơn xin phục khẩn, quan Bố chánh có trọn quyền
định đoạt. Đất mới bỏ hoang dưới 5 năm, được miễn một năm thuế điền,
đất bỏ hoang quá lâu (cửu kinh hoang phế), miễn 3 năm.
— Chủ đất chết, không con thừa tự thì làng cho người khác tới lãnh, ghi tên vào bộ (diện tích đã biết rõ rồi).
— Nếu muốn khẩn nới rộng thêm một sở đất đã vô bộ từ trước, chủ đất cứ
làm đơn, quan trên sẽ chấp nhận sau khi khám xét (trường hợp tăng
trưng).
— Nếu là sở đất to, ở vùng hoang nhàn chưa ai khai khẩn thì theo thủ tục khá phức tạp, giống như thủ tục xin lập một làng mới :
* Làm đơn dâng lên quan Bố chánh để xin khẩn, kèm theo bản đồ sơ sài,
ghi tứ cận ranh giới. Quan Bố chánh sẽ phú hồi cho quan huyện sở tại
khám xét.
* Quan huyện gọi hương chức làng và những người chủ đất giáp ranh đến,
khám xét lại, mục đích chánh là đề phòng trường hợp lấn vào phần đất mà
người khác đang khai khẩn nhưng chưa xin vô bộ kịp, rồi lập tờ phúc
bẩm, chờ quan Bố chánh duyệt xem.
* Quan huyện cho viên chức tới lập tờ án khám, xác nhận cấp đất.
Trên thực tế, thủ tục khẩn đất quá khó khăn. Ngày xưa đường giao thông
bất lợi, dân ở vùng Sóc Trăng phải vượt đường xa, đến tận chợ Châu Đốc
để dâng đơn lên quan Bố chánh, hơn trăm cây số. Lại còn bao nhiêu sở
phí linh tinh : lo lót cho lính lệ, cho các viên chức và quan huyện đi
làm phúc bẩm và án khám, lo lót cho hương chức làng. Người dân nghèo
thiếu vốn liếng để giao thiệp và lo hối lộ thì chẳng bao giờ làm chủ
đất được. Lương bổng của các quan rất ít oi; đứng về pháp lý và luân lý
Khổng Mạnh, các quan lớn nhỏ được phép tha hồ nhận tiền hối lộ (gọi là
lộc). Làm chuyện ích lợi cho dân, dân đền ơn thì cứ hưởng một cách
thoải mái, lương tâm chẳng ray rứt !
Chủ điền, chủ nợ và tá điền
Dân trong làng phải ghi vào bộ để chịu thuế; dân có nghĩa là đàn ông,
con trai. Tất cả dân, làm bất cứ nghề gì cũng phải ghi. Trên nguyên tắc
thì vậy nhưng ở làng có rất nhiều người không ghi tên vào bộ đinh. Họ
là dân lậu. Rốt cuộc, chỉ những người điền chủ mới ghi tên, chịu thuế.
Luro giải thích : Hương chức làng đã qua mặt Triều đình và Triều đình
làm ngơ vì nếu áp dụng luật lệ quá gắt gao, một số đông dân làng sẽ bỏ
trốn vì đóng thuế không nổi, chi bằng cứ chấp nhận một số ít dân đóng
thuế mà làng xóm tồn tại, việc ruộng nương được điều hòa.
Dân lậu là ai ? Là tá điền, tức là những người không đủ thế lực, không đủ vốn khẩn đất, họ mướn lại đất của chủ điền.
Là tá điền, khi mướn đất họ phải làm tờ tá điền (gọi tắt là tờ tá) tức
là tờ mướn đất để làm ruộng. Mỗi mùa, họ đong cho điền chủ một số lúa
gọi nôm na là lúa ruộng (chữ nho gọi là “tá túc”), lúa mướn đất. Nên
phân biệt với “tô túc” là số lúa mà chủ điền đóng cho nhà nước trong
thuế bằng hiện vật, cộng với một số tiền mặt.
Thời phong kiến (luôn cả đến thời Pháp thuộc) giữa chủ điền và tá điền
không có quy định nào rõ rệt do nhà nước đưa ra về số lúa ruộng (tá
túc) mà tá điền phải đóng cho chủ điền, theo tỷ lệ hoặc giá biểu nào
cả. Tá điền chỉ biết trông cậy vào lòng nhân đạo của chủ điền mà thôi.
Luân lý Khổng Mạnh thường nhắc đến hai tiếng “tích đức”, là nhắm vào
chủ điền trong việc đối xử với tá điền, giới tá điền dầu có lòng tốt
thì cũng chẳng có ai dưới tay để mà ban bố.
Về pháp lý, tờ tá (tờ mướn đất) là văn kiện do chủ điền và tá điền tự ý
ký kết. Nếu tá điền vi phạm điều giao kết thì chủ điền tố cáo, nhờ quan
làng xử. Năm nào tá điền trả không nổi thì chủ điền giữ giấy ấy lại,
xem như là giấy nợ hợp pháp.
Một số hương chức và thân hào tuy không đứng bộ, không làm chủ sở đất
nào trong làng nhưng lại có ưu thế đối với đất gọi là công điền, do
làng làm chủ (nhưng hương chức làng không được tự ý bán, trong bất cứ
trường hợp hoặc vì lý do nào). Họ đứng ra mướn đất công điền với giá rẻ
rồi cho dân mướn lại với giá cao hơn, họ đóng vai trung gian mà ăn lời.
Trên lý thuyết thì sự thành lập công điền nhằm mục đích giúp cho công
quỹ của làng thâu thêm lúa và tiền để dùng vào công ích, đồng thời giúp
một số tá điền có đất làm ruộng. Nhưng người tá điền chẳng được hưởng
ân huệ gì cả.
Người chủ điền thời xưa được quyền hưởng “lộc” do tá điền đền ơn cho,
vì chủ điền đã giúp tá điền có đất mà cày, có nơi cất nhà, có chỗ vay
mượn lúc đau ốm. Khi vay, con nợ phải mang ơn; chủ điền là ông vua nho
nhỏ trong đất đai của họ, tá điền đóng vai thần dân của tiểu giang sơn.
Chủ điền bắt buộc tá điền làm “công nhựt”, tức là làm thí công, mỗi năm
vài ba ngày, (tùy theo lòng nhân đức của mỗi chủ điền) lúc có đám giỗ,
lúc chủ điền gả con, ăn mừng tuổi thọ ngũ tuần, lục tuần. Đặc biệt là
trước ngày Tết, tá điền phải đến làm cỏ vườn, bửa củi, xay lúa, chèo
ghe. Ngoài số lúa ruộng ghi trong giấy mướn đất, tá điền còn góp một số
hiện vật gọi là “công lễ”, thì dụ như vài lít rượu nếp thứ ngon, một
thúng nếp trắng, một cặp vịt vào dịp đám giỗ trong gia đình chủ điền
hoặc ngày Tết, theo kiểu chư hầu cống sứ cho thiên tử. Đáp lại, nhiều
chủ điền tỏ ra rộng lượng, bố thí và tích đức cho con cháu mình bằng
cách đốt bỏ giấy nợ của tá điền, loại giấy nợ không thanh toán nổi từ
mấy năm trước vì mất mùa hoặc đau yếu.
Thân phận đàn ông làm tá điền gẫm lại còn khỏe hơn đàn bà. Đàn bà trong
gia đình nghèo lo lắng cực nhọc, trong ngoài : gặt lúa, cấy lúa, bửa
củi, nuôi heo gà, xay lúa giã gạo, lại còn nuôi con. Con trẻ lớn lên
đôi khi trở thành một thứ động sản mà cha mẹ đem cầm cố cho người khác
để chăn trâu, khi nào dứt nợ hoặc đủ tiền chuộc thì mới được về nhà.
Về mức sống cụ thể của chủ điền, chúng tôi không sưu tầm được tài liệu
để so sánh, hoặc trường hợp tiêu biểu. Trong tài liệu của Luro, có sao
lục lại tờ chia gia tài của một chủ điền ở Tân Thành phủ, Vĩnh Phước
thôn, tỉnh An Giang tức là địa phận Sa Đéc đất ruộng phì nhiêu. Ông
điền chủ này kê khai tài sản để chia cho con cái :
— 3 sở đất cộng là 75 mẫu
— 2 đôi xuyến vàng
— 7 đôi bông vàng
— 10 đôi xuyến bằng vàng (tử kim)
— 4 bộ ngũ sự (chưn đèn, lư hương...)
— 10 xâu chuỗi hổ (hổ phách)
— 50 đính bạc, mỗi đính 10 lượng, tức là 500 lượng bạc.
— 1000 đồng bạc “điểu ngân” (bạc con ó Mễ Tây Cơ)
— 15000 quan tiền kẽm
và một số nợ mà người khác chưa trả cho ông.
Ông điền chủ nói trên làm tờ chia gia tài vào năm Minh Mạng thứ 20
(1839), để lại một nhà ngói ba căn, chẳng hiểu ngoài nghề làm điền chủ,
cho tá điền vay, ông còn buôn bán gì khác chăng ?
Về giá đất, có vài tài liệu như sau, lẽ dĩ nhiên giá thay đổi tùy theo
địa phương, tùy loại đất hoặc vị trí gần xa đường giao thông, chợ phố.
— Đất tốt (thảo điền) ở Định Tường : 10 mẫu, 9 sào, 8 thước trị giá 1682 quan, bán đứt, năm Thiệu Trị thứ 7.
— Đất hơi xấu (sơn điền) ở Phú Mỹ thôn (vùng Thị Nghè), Gia Định : 5
mẫu, 6 cao, 7 thước, cố vô thời hạn (mại lai thục) với giá 650 quan,
khi có tiền cứ chuộc lại đúng số tiền trên không ăn lời, năm Tự Đức thứ
5.
— Đất ở Long Thành (Biên Hòa) loại sơn điền : 2 mẫu, 3 sào cầm với giá
190 quan, hẹn 3 năm thì chuộc lại, trả vốn và lời theo luật định (3
phân), năm Tự Đức thứ 5.
Về lúa ruộng (nay gọi là địa tô, xưa gọi là tá túc) ở làng Nhơn Ngãi,
tổng Dương Hòa Trung, tỉnh Vĩnh Long : 10 mẫu đất cho tá điền mướn với
giá là 50 phương lúa, hẹn tháng 2 âm lịch năm sau, khi làm mùa xong
phải đong cho chủ điền. Thuế điền thì do chủ điền đóng, năm Tự Đức thứ
4.
Về lúa ruộng ở làng Vĩnh Điền, phủ Tịnh Biên, tỉnh Châu Đốc : mướn sơn
điền 10 mẫu trong 10, mỗi năm 500 quan tiền mặt hoặc thay vào đó, đong
lúa hột (húc tử) 500 giạ. Tá điền phải đong lúa hoặc trả tiền vào tháng
2 âm lịch, sau khi làm mùa. Chủ điền chịu đóng thuế điền cho nhà nước,
nếu trong thời gian trên tá điền không canh tác hết, còn đất bỏ hoang
phế thì khi giao trả đất cho chủ điền, phải làm cỏ cho sạch, năm Qů Dậu
(1873) khi người Pháp vừa xâm chiếm nước ta.
Về việc mướn trâu của chủ điền để cày và kéo lúa, ở làng Mỹ Trà (Cao
Lãnh) : mướn một con trâu đực 6 tuổi, một con trâu cái 5 tuổi, mỗi năm
trả 80 giạ, vào năm Bính Ngọ (đời Thiệu Trị, 1846). Nếu trâu đau thì
cho chủ biết kịp thời, phòng khi trâu chết có chứng cớ.
Bán trâu ở làng Tân Sơn (Vĩnh Long) : một con đực 5 tuổi, một con cái 4
tuổi và một con nghé chưa đủ 1 tuổi với giá 400 quan, năm Giáp Tuất
(1874) khi người Pháp đã qua xứ ta.
Tài liệu nói trên chỉ là giấy tờ, trên thực tế chắc có khác. Lại còn
vài tài liệu về giấy nợ, nhưng chỉ ghi là ăn 3 phân lời theo luật định
(trong thực tế, theo Luro, việc cho vay lúa ăn làm mùa tính lời 50 phần
trăm trong vòng năm ba tháng). Lại còn vài chủ điền bắt ép tá điền phải
vay mặc dầu tá điền đã đủ ăn, nếu không vay nợ thì chủ điền không cho
mướn đất ruộng.
Người có đất thì ít khi nào chịu bán đứng vì còn bận bịu về tình cảm,
về thể diện với xóm làng. Hơn nữa, còn chữ hiếu. Ông bà để đất lại, con
cháu phải gìn giữ cho bằng được, nhiều khi mồ mả ông bà còn nằm trong
ấy. Bởi vậy, túng tiền thì đem đất mà cầm hoặc cố; cầm thì phải chịu
lời, trong khi cố thì không chịu tiền lời. Lắm khi vì cần tiền nhiều và
nhắm sức mình khó trả, chủ đất đem cố trong thời hạn 10 hoặc 20 năm (lệ
quy định quá 30 năm, con nợ không được quyền chuộc lại). Trong suốt
thời gian đất bị cầm hoặc cố, thường là người chủ nợ hưởng lợi, đem đất
ấy cho người khác canh tác mà thâu lúa ruộng.
Việc cầm cố thường xảy ra, nhứt là đối với người có đứng bộ vài sở đất.
Họ không dám vay nợ quá nhiều, vì vay nhiều thì chẳng cách nào trả nổi.
Vay bạc (không có đất cầm hoặc cố) thường chịu lời hơn 50 phần trăm mỗi
năm; dầu cho tiết kiệm và mùa màng thâu hoạch ở mức trung bình, huê lợi
ruộng nương chỉ đem lời độ 20 phần trăm mà thôi.
Cách đo lường thời đàng cựu
Đời Tự Đức, đơn vị để đo là một thước, còn gọi là thước quan, lấy tiêu
chuẩn là 22 đồng tiền đời Gia Long sắp liền nhau; phỏng định tương đối
chính xác là 526 ly (tức là hơn 5 tấc 2, tính theo mét).
Một thước quan chia ra 10 tấc, 1 tấc 10 phân.
Để đo diện tích ruộng đất, lệ xưa định một mẫu là diện tích của một
hình vuông mỗi góc 150 thước quan ; tính ra mẫu tây (hectare) là 62
ares, 2521. Theo cố đạo Tabert thì một mẫu thời đàng cựu to hơn, là 73
ares, 0890.
Một mẫu chia ra 10 sào.
Một sào chia ra 15 thước, còn gọi là cao.
Người thời xưa quan niệm đơn giản rằng mẫu là sở đất hình vuông; sào là
sở đất hình chữ nhật với bề ngang là 15 thước, bề dài là 150 thước.
Người Pháp ra nghị định ngày 3/10/1865 để thống nhứt việc đo đạc, họ
quy định đại khái 2 mẫu ta ngày xưa là một mẫu tây (hectare). Như vậy
có sự sai biệt, thật ra, hai mẫu ta là 125 ares tức là to hơn một mẫu
tây.
Một mẫu tây chia ra 100 sào tây (100 ares).
Về đong lường, trên nguyên tắc thì dùng hộc để đong lúa, dùng vuông để đong gạo.
Một hộc chia ra 26 thăng, một thăng là 10 hiệp, một hiệp là 10 thược. Một hộc tính ra 71 lít, 905, đem cân nặng cỡ một tạ.
Một vuông chia ra 13 thăng (phân nửa của hộc) tính ra nhằm 35 lít, 953.
Một hộc lúa khi xay ra thì được một vuông gạo, tính đổ đồng.
Trong thực tế, khi mua bán đổi chác, người dân thường đong lúa gạo bằng vuông, gọi nôm na là “giạ”.
Người Pháp quy định một vuông là 40 lít, lúc ban đầu còn thâu thuế điền
bằng lúa và một số tiền mặt theo lệ đằng cựu. Một vuông nâng lên là 40
lít thay vì non 36 lít như thời xưa, có lợi cho nhà nước thực dân hơn,
dễ tính toán, với con số tròn trịa là 40 lít. Chương 2 - 1
Nghĩa quân thất trận và nông dân mất ruộng
Thực dân Pháp gây xáo trộn toàn diện cho việc khẩn hoang ở miền Nam,
mạng sống người dân không được bảo đảm, nói chi đến mùa màng, đất
ruộng. Thực dân không dung túng hạng dân lậu như hồi cựu trào. Đất
ruộng cũng thay đổi chủ. Giới quan lại, nho sĩ bị phân hóa, một số ít
theo thực dân Pháp nhưng chỉ được chúng xài lúc ban đầu, vắt chanh rồi
bỏ vỏ. Một số khác thì giữ thái độ tùy thời, tự biện hộ là minh triết
bảo thân. Nhưng ở miền Nam, thực dân đưa ra miếng mồi khá ngon là khẩn
đất, cơ hội tốt cho ông nhiêu, cậu ấm trở thành điền chủ để rồi rảnh
rang uống rượu ngâm thơ, công kích vu vơ, chán đời lúc về già. Một số
đông cố ý lẩn tránh, không hưởng bất cứ ân huệ nào của tân trào, sống
nghèo với nghề dạy trẻ, hốt thuốc, coi quẻ diệc, dạy đờn ca, về thôn
xóm mà vui với điền viên, mơ đời Nghiêu Thuấn, biết vinh biết nhục, tuy
nhiên sinh kế khó khăn khiến cho các ông phải lâm vào cảnh “chỉ nhện
lăng nhăng, cò vướng cánh ; bãi lau lẩn bẩn, cá quên sông”. Nho sĩ dùng
võ lực kháng Pháp nổi danh là Thủ khoa Huân, đáng danh chí sĩ ; chiến
sĩ văn hóa là ông Đồ Chiểu. Liều mạng đến mức gàn là ông Cử Trị, ông
Nhiêu Phang. Thiên hộ Dương là điền chủ. Trương Định coi việc đồn điền,
cũng là điền chủ. Nguyễn Trung Trực là nông dân, dân chài (anh chài
Lịch).
Thoạt tiên, thực dân lúng túng, chưa tìm ra thể thức cai trị thích hợp
: Việt Nam là dân có trình độ văn hóa khá cao và có nét độc đáo khác
hơn các thuộc địa “da đen” ở Phi Châu. Thực dân cố ý dùng chánh sách :
— Đồng hóa về mặt hành chánh để dễ cai trị, sửa đổi lề lối làm việc
cùng là cách soạn thảo công văn, cách thâu thuế, dự trù thuế, cách giam
giữ, cách đấu thầu, tức là sắp đặt bộ máy hành chánh quan liêu mới thay
cho những thủ tục quan liêu cũ.
— Bảo vệ những tệ đoan phong kiến, gọi cho ra vẻ sang trọng là bảo vệ
văn hóa dân tộc : Duy trì hủ tục ở thôn quê, đình làng xôi thịt, các
ông hương chức làng vẫn tha hồ bầu cử lẫn nhau trong phe phái, duy trì
chế độ bắt dân làm xâu, “xá bẩm” các quan to quan nhỏ. Tham biện chủ
tỉnh Pháp được gọi là quan Lớn trong công văn, với lời lẽ sợ sệt của
người dân thời đàng cựu (trăm lạy quan Lớn, xuống phước cho con dân
nhờ). Không quy định giá biểu mướn ruộng, chủ điền muốn cho mướn giá
nào tùy theo lòng nhân đạo. Nhưng điểm đáng chú ý hơn hết trong lúc đàn
áp các phong trào chống đối là dùng luật bổn xứ tức là luật Gia Long,
với những biện pháp vô nhân đạo : tra tấn công khai, kẻ tòng phạm bị
kết tội như chánh phạm, tru di tam tộc (bắt vợ con, cha mẹ của tội
nhân). Quan Thống đốc được đón rước theo nghi lễ ngày xưa dành cho vua
hoặc cho quan kinh lược với bàn hương án.
Ba nhân vật đắc lực nhứt
Lúc đánh chiếm và bình định xứ Nam kỳ Lục tỉnh, thực dân đã may mắn gặp
được ba tên tay sai độc ác mà chúng dung túng lúc ban đầu. Đành rằng
nếu kẻ này không làm Việt gian đắc lực thì còn kẻ khác, nhưng phải nhìn
nhận rằng chính vì bọn này mà phong trào kháng Pháp bị suy giảm nhiều.
Đó là Lãnh binh Tấn, Tổng đốc Phương, Tổng đốc Lộc.
Khi Pháp đánh thành Sài Gòn (1859), cả ba đều còn trẻ : Lộc 20 tuổi, Phương 18 tuổi, Tấn 22 tuổi.
Lãnh binh Huỳnh Công Tấn
Trước là tay chân của Trương Định chống Pháp ở Gò Công, bị Pháp bắt
cung khai mọi việc và lập công lớn là dẫn quân Pháp bao vây “Đám lá tối
trời” để giết chủ cũ. Tấn cũng tham gia trận bao vây đảo Phú Quốc để
nhìn mặt và bắt Nguyễn Trung Trực. Nói chung thì Tấn không nuôi tham
vọng lớn, chỉ có khả năng giới hạn, Pháp xài Tấn để gìn giữ vùng Gò
Công và Bến Tre là nơi Tấn từng lui tới nhiều, am hiểu nhân dân và địa
thế. Tấn lãnh trách nhiệm dọ thám, theo dõi những người kháng Pháp, lợi
dụng địa vị để bắt bớ người này tha lỏng người kia, lẽ dĩ nhiên là vì
tư lợi. Tấn làm giàu nhờ tổ chức sòng bạc, chiếm đất, bắt dân làm xâu
phục vụ cho việc làm ăn riêng tư. Quan Tham biện (người Pháp) ở địa
phương chán ngán lối làm việc luông tuồng và thất nhân tâm vì Tấn lấn
quyền. Thực dân phong cho chức lãnh binh của lính mã tà, tức là chức vụ
quân sự cao nhứt trong một tỉnh thời đàng cựu. Về sau, thực dân không
phong chức này cho ai nữa vì ở thuộc địa, quyền chỉ huy quân sự nằm
trong tay người Pháp, chẳng qua là sự khích lệ lúc ban đầu để Tấn hăng
hái hoạt động. Tấn là người thất học, quê mùa nên ngây thơ đến mức dám
chê bai, tố cáo đến quan Giám đốc Nội vụ lề lối cai trị của quan Tham
biện Pháp ở hạt Bến Tre : “bởi quan Tham biện chúng tôi xưa là quan coi
binh chưa từng biết việc dân cho nên ra việc quan, làm thì làm bậy, nói
thì chẳng thông lý sự bằng dường như kẻ ngu si dốt nát”. Tấn lại lập
công, tố cao : “Chúng tôi nghe bà con hai cậu (con Phan Thanh Giản)
những người làm giặc trốn ở trong làng Bảo Thạnh nhiều lắm”. Quan Giám
đốc Nội vụ (directeur de líintérieur) phẫn nộ, trách mắng và tìm cách
đổi Tấn về miền Đông Nam kỳ, nhưng Tấn lại được chút tín nhiệm nhờ qua
Cần Giuộc bắt phó Đốc binh đàng cựu là Bùi Duy Nhứt đang hoạt động
chống Pháp với danh nghĩa Tham biện toàn hạt (bắt năm 1869). Thời kỳ
bắt giết bừa bãi đã qua, Pháp muốn chiêu an và Tấn lọt vào “mê hồn
trận”. Pháp cho một tay sai khác là huyện Vĩnh tố cáo Tấn về tội lạm
quyền, Tấn tự bào chữa bằng cách tố lại sự lạm quyền của huyện Vĩnh.
Sau cùng, Tấn chết năm 37 tuổi, vì bịnh, trong chiếc ghe hầu trên đường
Gò Công Sài Gòn.
Tổng đốc Đỗ Hữu Phương
Sanh quán ở Chợ Đũi, Pháp chiếm Sài Gòn, Phương trốn lánh lên Bà Điểm
chờ thời. Khi thành Chí Hòa thất thủ, nhờ cai tổng Phước ở Bình Điền
dẫn ra trình diện với Francis Garnier bấy giờ, làm Tham biện hạt Chợ
Lớn. Lãnh phận sự dọ thám và kêu gọi những người khởi nghĩa ra hàng. Về
mặt quân sự, Phương rất khôn ngoan, chỉ tham gia vài trận đánh cho Pháp
tin cậy : trận đánh Ba Điểm, lúc bấy giờ lọt vào tay cậu Hai Quyền (con
Trương Định) vào tháng 7/1866, vài ngày sau, truy nã tới Bến Lức. Tháng
11/1867 cùng Tôn Thọ Tường đi Bến Tre để chiêu dụ hai cậu trai con ông
Phan Thanh Giản; tháng 6/1868 xuống Rạch Giá dẹp loạn Nguyễn Trung
Trực, tàu mắc cạn, nghĩa quân đóng đồn ở Sóc Suông (gần chợ Rạch Giá)
chống cự mãnh liệt, Phương và bọn mã tà gần 200 người đã hết đạn nhưng
vẫn cố thủ để chờ viện binh. Tháng 7/1868 được làm Đốc phủ sứ ở Vĩnh
Long, góp phần truy nã nghĩa quân khi tên phó tổng ác độc ở Vũng Liêm
bị giết.
Năm 1878, qua Pháp dự hội chợ Quốc Tế, năm 1881 gia nhập Pháp tịch, và
lại qua Pháp chơi, thăm các con đang du học, hai lần vào những năm 1884
và 1889. Là một trong những người đề xướng việc thành lập trường Nữ
trung học ở Sài Gòn. Xin chép vài chi tiết liên quan đến việc đàn áp
của Phương để chứng minh rằng tuy lọt vào tay Pháp nhưng ở vùng Chợ
Lớn, phong trào chống Pháp vẫn mạnh :
— Bắt quản Thiện và quản Việt ở Lò Gốm.
— Năm 1866, có cuộc khởi loạn ở vùng Chợ Lớn (nên hiểu là tỉnh Chợ
Lớn), Nguyễn Văn Hoan bị bắt. Năm 1867, xảy ra nhiều vụ ám sát cũng ở
Chợ Lớn, Pháp gọi Phương đến để cho thêm tài liệu và điều tra.
— Năm 1871 và 1875, có khởi nghĩa ở Phước Lộc (Cần Giuộc), Phương ra công dọ thám.
— Năm 1873, Phương trình cho thực dân danh sách một số lãnh tụ kháng
Pháp, sắp khởi loạn ở các tỉnh miền Tây. Cuộc khởi loạn này do Trần
Tuân điều khiển từ Khánh Hòa.
— Năm 1879, tố giác kịp thời âm mưu khởi loạn của nhóm Thiên Địa Hội ở Sóc Trăng.
— Năm 1881, cùng với một cha sở ở Lương Hòa (Tân An) kịp thời tố giác
âm mưu khởi loạn ở Long Hưng, Lộc Thành và ở vùng Thất Sơn.
— Năm 1878, điều khiển việc sửa con kinh Nước Mặn, bắt dân ở tổng Lộc Thành Hạ làm xâu, dân vùng này nổi tiếng là cứng đầu.
Nhiệm vụ quan trọng của Phương vẫn là dọ thám vùng Chợ Lớn, Cần Giuộc
và Tân An. Về mặt chánh quyền, trước tiên làm hộ trưởng (bấy giờ, thành
phố Chợ Lớn chia ra làm 20 hộ); năm 1868 Phương trình cho thực dân danh
sách những người đáng tin cậy có thể làm chức hội tề. Năm 1872, được
chỉ định làm hội viên Hội đồng thành phố Chợ Lớn. Năm 1879, làm phụ tá
cho Xã Tây Chợ Lớn. Như ta biết, Chợ Lớn là nơi tập trung thương gia
Huê kiều, Phương không bỏ qua cơ hội để làm giàu, giải quyết mọi
“áp—phe” giùm cho thương gia, đãi tiệc viên chức Pháp, làm trung gian
lo hối lộ. Nhờ vậy mà làm giàu nhanh chóng, uy thế lên cao đến mức quan
Toàn quyền Paul Doumer khi vào Nam còn ghé nhà Phương ăn uống, có lẽ
nhờ dịp này mà được quan Toàn quyền cho khẩn trưng sở đất ruộng lớn đến
2223 mẫu tây. Trong lúc dọ thám, Phương tỏ ra khéo léo, tránh gây thù
oán công khai, nhờ đó mà so với Lãnh binh Tấn và Tổng đốc Lộc, bề ngoài
thấy như là Phương hiền lành, cứu người này, bảo lãnh người kia.
Nhưng trời bất dung gian đảng, Phương bị mất tín nhiệm vì đã bảo lãnh,
xin chứa chấp để theo dõi Thủ khoa Huân trong nhà. Suốt khoảng 3 năm
(sau khi bị đày ở Cayenne rồi được ân xá), Thủ khoa Huân biết lợi dụng
hoàn cảnh để liên lạc với những Huê kiều theo Thiên Địa Hội ở Chợ Lớn
và tới lui vùng Tân An để cổ súy, tổ chức cuộc kháng Pháp. Chuyện vỡ lỡ
ra, tưởng chừng Phương mang họa. Bấy lâu ngoài Thủ khoa Huân, Phương đã
từng bảo lãnh nhiều người mà thực dân Pháp không tin cậy cho lắm. Kẻ
thù của Phương là Tổng đốc Lộc thừa dịp này làm núng, đưa điều kiện là
giam lỏng Phương trước khi dẹp loạn Thủ khoa Huân. Nhưng rốt cuộc,
Phương vẫn ung dung, càng mau giàu thêm và được thang Tổng đốc — nên
hiểu là Tổng đốc hàm — vì theo quy chế quan lại bản xứ do thực dân ở
Nam kỳ bày ra, chỉ đến ngạch đốc phủ sứ là hết.
Tổng đốc Trần Bá Lộc
Đây là tay sai đắc lực số một, vượt hẳn hai nhân vật trên : háo thắng,
ham địa vị, ưa tàn sát theo lối phong kiến. Khi Pháp chiếm thành Mỹ
Tho, Lộc sốt sắng tìm cơ hội bèn tản cư với chiếc ghe chở đầy tiền kẽm
(tiền của ai ?), đến trình diện với Cha Marc, bấy giờ cha sở này kiêm
luôn chức tham biện. Năm 1861, ngay sau khi xin việc, Lộc được cấp cho
căn nhà lá, gia nhập lính mã tà rồi lập công lên cai, lên đội. Ngoài
thời giờ làm lính, Lộc còn lãnh trách nhiệm giữ kho lúa cho nhà nước và
được quan tham biện cho ân huệ là đem cơm dư của lính về nhà mà nuôi
heo. Nhờ hăng hái điềm chỉ và bắn giết, năm 1865 làm huyện, ngồi tại
Cái Bè để canh chừng vùng Đồng Tháp. Cái Bè là vị trí chiến lược trên
Tiền giang, có thể đi thẳng lên Cao Miên. Bấy giờ một số quan lại đàng
cựu gom về Bình Cách, Thuộc Nhiêu, Cai Lậy, lập đồn để liên lạc với
Thiên Hộ Dương trong bưng. Lộc đánh quân sĩ đàng cựu ra khỏi Cai Lậy
rồi cuộc tấn công đại quy mô của Pháp diễn ra, Lộc đóng vai trò quan
trọng, đánh từ Cần Lố để nối với mấy cánh quân khác đánh từ đồn Hữu
(phía Bến Lức) và đồn Tiền (phía Cai Lậy). Năm 1867, thăng làm phủ rồi
năm sau góp công đánh đuổi và bắt sống Tổng binh Bút khi ông này đánh
vào toán quân Pháp trú đóng tại Sa Đéc (đình làng Tân Qů Đông). Lộc coi
huyện Tân Thành (Sa Đéc), sau được gọi về Cái Bè, thăng đốc phủ sứ
(15/8/1868). Bấy giờ ở Rạch Giá, Nguyễn Trung Trực khởi nghĩa, tỉnh lỵ
này bị tái chiếm, Nguyễn Trung Trực chạy ra đảo Phú Quốc. Pháp kéo binh
bao vây đảo. Lộc dùng thủ đoạn cố hữu là bắt giết thân nhân những người
trong cuộc. Nguyễn Trung Trực phải ra mặt để cứu sống những người bị
bắt làm con tin. Lộc lãnh trách nhiệm điều tra rồi trình cho Pháp danh
sách 170 người liên can với Nguyễn Trung Trực.
Từ 1868 tới 1871, Lộc góp phần giảy vây đồn Cái Bè, bấy giờ bị bốn ông
Long, Thận, Rộng, Đước tấn công (bốn ông này đều bị Lộc giết). Rồi đến
vụ tham biện Vĩnh Long là Salicetti bị giết khi đến Vũng Liêm đàn áp
cuộc khởi loạn : Lộc đụng với nghĩa quân ở Láng Thé, gồm đa số là người
Miên, cuộc chiến khá sôi nổi, nhiều phen tưởng chừng Lộc thua trận
nhưng sau rốt nhờ khí giới tốt nên thắng.
Năm 1875, lại nổ lực dẹp cuộc khởi nghĩa của Thủ khoa Huân, có Phủ Đức
tiếp tay để chận phía cửa Tiểu (đề phòng Thủ khoa Huân trốn theo đường
biển). Lộc ruồng vùng còn lại, Thủ khoa Huân bị bắt gần Chợ Gạo. Trận
này Pháp giao trọn quyến bắn giết nên lính của Lộc ruồng các lùm bụi,
đến mức nai, chồn, cọp chạy tán loạn vào xóm.
Năm 1878, dẹp cuộc khởi loạn của Ong và Khả ; hai vị này toan đánh
thình lình chợ Mỹ Tho. Năm 1883, đàn áp cuộc khởi nghĩa của người Miên
ở Trà Béc (Cao Miên).
ở miền Trung bấy giờ Mai Xuân Thưởng nổi lên, Pháp dẹp không nổi nên
nhờ bàn tay gian ác của Lộc. Lộc mộ 1050 lính mã tà, đem về thành Ô Ma
(Sài Gòn) tập dượt rồi đến chiến trường thi hành thủ đoạn bắt thân nhân
của Mai Xuân Thưởng và của những người theo quân khởi nghĩa. Lộc tỏ ra
hách dịch, làm việc lấn quyền các sĩ quan Pháp ở địa phương. Lúc hành
quân, Lộc dùng con dấu “Thuận Khánh Tổng đốc”, tức là Tổng đốc của hai
tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa. Khi xong việc, về Cái Bè vẫn thích dùng con
dấu ấy. Lộc lại đề nghị với Pháp tách hai tỉnh này ra khỏi Trung kỳ,
nhập vào Nam kỳ vì chính quân sĩ Nam kỳ (tức là của Lộc) đã ra tay dẹp
loạn, nhưng đề nghị này khó thi hành !
Về già, Lộc đau ung thư bao tử nhưng vẫn hăng hái ra tài “kinh bang tế
thế”. Loạn lạc không còn, Lộc ra tay chỉnh trang vùng Cái Bè. Học được
phép đo đạc nên đem áp dụng, phóng mấy con lộ ở chợ này. Lộc lại xin
bắt dân xâu để đào kinh trong vùng Đồng Tháp, ban đầu đào thử (kinh bề
ngang rộng 3 mét), nhưng lại bắt dân xâu đợt nhì nới rộng ra 10 mét,
nối liền từ Bà Bèo tới Rạch Ruộng (1897) gọi là kinh Tổng đốc Lộc (thực
dân cho phép đặt tên). Lộc trở thành người điền chủ lớn nhứt của tỉnh
Mỹ Tho khi mua lại cù lao Năm Thôn và đất ở cù lao Rồng.
Tóm lại, Lộc đóng vai tích cực trong việc đàn áp các phong trào Thiên
Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, Thủ khoa Huân, Mai Xuân Thưởng. Pháp dung
túng cho Lộc làm những việc dã man, vô nhân đạo mà chúng không muốn
làm, sợ mang tiếng xấu về chúng. Nhưng được chim thì treo ná, thực dân
lần hồi tỏ ra lạnh nhạt đối với kẻ đã quá sốt sắng với nhiệm vụ — lỗi
thời. Pháp cho người nói xấu công khai rằng chức Tổng đốc của Lộc là
bất hợp lệ, chỉ dùng ở Trung kỳ chớ không dùng ở xứ thuộc địa, do đó
phải sửa lại là “Tổng đốc hàm” (honoraire). Lại còn chức vụ Khâm sai mà
Lộc đã tự phong khi in thiệp chúc Tết năm 1888. Lộc cho rằng Khâm sai
là chức vụ hợp pháp, vì ông ta thừa lịnh quan Thống đốc Nam kỳ ra ngoài
Trung dẹp giặc, nhưng có người tố cáo rằng Lộc tự xưng Khâm sai của
triều đình Huế, với dụng ý làm loạn về sau.
Lộc thích đánh giặc với đạo quân riêng lúc ban đầu gồm hơn 100 người
nhưng về già, thực dân chỉ để cho 5 người lính hầu mà thôi.
Một chi tiết đáng chú ý là vào năm 1868, Lộc đã đi “bắt quân làm ngụy ở
phía Trà Đư” đem về Châu Đốc nộp cho quan tham biện. Đây là những người
thuộc nhóm Bửu Sơn Kỳ Hương ở Thất Sơn.
Lời phê của các quan tham biện giúp chúng ta hiểu rõ thái độ của thực
dân. Đại khái, họ biết Lộc tàn ác nhưng họ xài trong thủ đoạn dùntg
người và luật lệ bổn xứ để đàn áp người bổn xứ : “Một viên chức quá kỹ
lưỡng, quá tận tâm trong vài trường hợp”, “không cẩn thận trong việc
dùng phương tiện, nhưng lại đạt mục đích chắc chắn”. Lộc sanh tật uống
rượu, tánh tình thay đổi rõ rệt. Ba năm trước khi chết, Lộc được viên
tham biện Mỹ Tho phê như sau : “Người ta có thể phàn nàn lão già này về
những hành động ác độc lúc trước đã trở thành chuyện huyễn hoặc, khó
tin, nhưng tôi cho là trong hàng ngũ viên chức bổn xứ hiện nay khó tìm
được một người biết kính bề trên, dám tận tụy với chính nghĩa của nước
Pháp bằng ông ta”.
Tình trạng xáo trộn về gia cư, tài sản
Trong giai đoạn khá dài, dân chúng chịu cảnh ly tán, kẻ lương thiện có
thể bị vạ lây. Chỉ cần bị tình nghi là bị tù, bị đày ra Côn Nôn hoặc
Đại Hải (đảo Bourbon) hoặc qua tận Mỹ Châu, ở thuộc địa Pháp nổi danh
ma thiêng nước độc : xứ Cayenne (gọi là Cai Danh quận). Hoặc qua tận
đảo Antilles sát Nam Mỹ Châu, hoặc qua nhà tù ở Toulon.
Ngoài chuyện nhắm mắt cho bọn Việt gian bắt giết, tống tiền và hăm họa,
thực dân còn ngang nhiên phán quyết những bản án hành chánh (jugement
administratif) theo đó, tham biện chủ tỉnh được quyền đề nghị bỏ tù,
đày ra Côn Đảo hoặc các lãnh thổ ngoại thuộc Pháp những người chỉ bị
tình nghi, vu cáo là làm loạn nhưng chưa tìm được bằng chứng gì cụ thể.
Thống đốc Nam kỳ hoặc Giám đốc Nội vụ (directeur de líIntérieur, lúc
đầu dịch ra chữ Nho là Lại Bộ thượng thơ), xét lại rồi chuẩn y. Một dịp
cho bọn Việt gian địa phương tha hồ báo cáo để giựt ruộng vườn nhà cửa.
Thoạt tiên, bọn tham biện chủ tỉnh bắt bớ tù đày quá nhiều, đến mức ba
tháng sau (23/11/1868), đô đốc Ohier gởi văn thư khiển trách viên tham
biện hạt Vĩnh Long đã lạm dụng. Ngày 9/3/1875, Duperré ra lịnh dứt
khoát rằng tài sản của những người bị lên án phản loạn đều bị tịch
thâu, tiền bán tài sản này dùng trợ cấp cho gia đình bọn lính mã tà tử
trận lúc đi ruồng bố. Nhưng năm sau, ngày 25/8/1876 lại có lịnh : tài
sản của bọn phiến loạn đem bán ra, thay vì đem thưởng cho kẻ tố giác
thì lại thuộc về nhà nước ; nhà nước tùy trường hợp mà thưởng riêng.
Trong thực tế, ruộng đất do con của Trương Định làm chủ đã bị bán đấu
giá từ năm 1869, nhưng không ai ra mua. Kinh nghiệm vụ khởi loạn Thủ
khoa Huân cho thực dân biết rằng một số không ít hương chức hội tề làm
việc cho Pháp đã tán trợ trực tiếp hoặc gián tiếp những người làm loạn.
Do đó, đô đốc Nam kỳ ký nghị định số 123 ngày 20/5/1875 quy định từ rày
về sau làng nào làm loạn hoặc đồng lõa với loạn quân thì bị xóa tên,
giải tán, sáp nhập qua làng lân cận, tài sản của hương chức hội tề bị
tịch thâu, hương chức hội tề bị quản thúc ở tỉnh xa. Nghị định ngày
25/5/1881 ban hành quy chế thổ trước (indigénat) theo đó tham biện chủ
tỉnh được quyền xét xử bỏ tù trong vài trường hợp, khỏi cần đưa qua tòa
án (gọi nôm na là ở tù bố, tức là ở tù theo lịnh của tòa Bố, lúc Pháp
mới qua, có quan Bố chánh như thời đàng cựu, nhưng là quan Bố người
Pháp). Bộ Thuộc địa tán thành việc bắt giam một số đông người mà không
cần truy tố ra tòa, để đề phòng cuộc khởi loạn mà thực dân được tin là
sắp bùng nổ ở Mỹ Tho vào năm 1883, cho đó là áp dụng quy chế thổ trước.
Đồng thời, Bộ cũng cho phép thống đốc Nam kỳ được quyền câu lưu trong
thời hạn nhứt định những phần tử bị tình nghi, và ân xá họ khi nào thấy
thuận lợi (5/9/1884).
Đối với người Tàu, Bộ Thuộc địa tán thành biện pháp mà Thống đốc Nam kỳ
áp dụng để trừng phạt những người theo Thiên Địa Hội ở Sóc Trăng
(1/9/1882) theo đó nạn nhân bị trục xuất về Tàu, tịch thâu tài sản.
Bang Triều Châu ở Sóc Trăng phải xuất tiền trả lương cho bọn lính mã tà
do nhà nước tuyển thêm để giữ an ninh trong tỉnh, đồng thời Bang này
phải chịu phạt nếu trong hàng ngũ Thiên Địa Hội lại có người trong Bang
gia nhập.
Việc kháng Pháp ở Nam kỳ Lục tỉnh khá rầm rộ, thực dân và tay sai đã
dẫm nát những vùng gần tỉnh lỵ đến tận thôn xóm hẻo lánh. Dân chúng
hăng hái vì bấy giờ triều đình Huế hãy còn. Họ đặt hy vọng vào sự can
thiệp của triều đình. Đi theo Pháp thì sợ về sau sẽ bị trừng trị. Việc
Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông với hiệp ước 1862 không làm cho dân chúng
tuyệt vọng. Họ sẵn sàng tản cư qua ba tỉnh miền Tây. Ngay sau hiệp ước
1862, trong bức thư trả lời cho nguyên soái Bonard đề mùng 6 tháng 8 âm
lịch năm Tự Đức thứ 15, ông Phan Thanh Giản tỏ thái độ đứng đắn về việc
giải giới những người còn cầm khí giới ở ba tỉnh miền Đông. Những người
này được ông Phan gọi là dân mộ nghĩa (mộ nghĩa nhân) ; ông viện cớ là
“già nua và bất tài” nên chưa thể nào thực thi chuyện tước khí giới đám
dân mộ nghĩa ấy được. Việc ấy, nhà cầm quyền Pháp ở ba tỉnh miền Đông
cứ ra lịnh kêu gọi những người quản suất quân nghĩa dõng.
Sau khi mất ba tỉnh miền Tây, dân chúng vẫn tiếp tục chiến đấu. Dân ở
nông thôn dời chỗ nhiều lần, xa sanh quán, họ hàng thất lạc, thay tên
đổi họ để khỏi bị tập nã. So với cõi Bắc kỳ và Trung kỳ, làng mạc miền
Nam bị phá tán nhiều hơn, ngoài mục đích bình định, thực dân còn nhằm
hủy hoại văn hóa ; thành lũy bị san bằng trăm phần trăm tại Sài Gòn
cũng như ở các tỉnh, gia phả không còn, người có căn cư trở thành lưu
dân, đất ruộng đổi chủ. Sau khi hạ thành Chí Hòa, thực dân muốn giữ các
tổ chức đồn điền như cũ để việc sản xuất lúa gạo không bị đình trệ và
việc cai trị ít bị xáo trộn. Nhưng đến ngày 22/8/1861, lại giải tán vì
đồn điền là cơ sở chống đối mạnh mẽ.
Vài thí dụ điển hình
Vào cuối năm 1868, đô đốc Ohier ba hành quyết định số 473 ra giải
thưởng cho những ai bắt nộp những lãnh tụ kháng Pháp gồm 11 người với
giá 1000 quan mỗi người : cậu Hai Quyền (con Trương Định) bấy giờ cỡ 25
tuổi ; Hàn Lâm Phu ; Tổng binh Thành ; ấp Quyền (phó của Trương Định) ;
Nguyên soái Thân (người đã đánh đồn Mỹ Tho) ; Tổng binh Hinh ; Tổng
binh Cách ; cậu Tư, cậu Năm (hai con của Phan Thanh Giản), Tổng binh
Thành (gốc ở Thất Sơn, trước đấy có ở Rạch Giá) ; phó Nguyên soái Dương
(vượt ngục Mỹ Tho năm 1867, hiện đang ở Ba Động).
Tổng binh Thành mà thực dân hài rõ gốc ở Thất Sơn chính là nhân vật quan trọng thuộc giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương (đức Cố Quản).
Hàn lâm Phu, không rõ là ai (trong nguyên văn không bỏ dấu).
Và 2 người với giá 500 quan : Đốc binh Sắc, Đề đốc Đạo (trước đấy, Đạo ở Mỹ Tho).
Quyết định nói rõ là lính hoặc viên chức bổn xứ hữu công có thể lên cấp
bực, ngoài tiền thưởng. Các viên cai tổng, hương chức hội tề nếu có
hành động cản ngăn việc truy tầm, không sốt sắng tập nã sẽ bị trừng
phạt theo luật đàng cựu (lois annamites). Vào dịp khởi nghĩa Thủ khoa
Huân, thực dân Pháp cố ý phá tan cơ sở nông thôn đến tận gốc rễ, khủng
bố luôn những ai sống dưới sự cai trị của chúng nhưng còn thái độ úp
mở. Cả một vùng rộng lớn từ Tân An, từ vùng Chợ Gạo đến sát chợ Mỹ Tho,
dài theo Tiền giang phía rạch Gầm đều chịu họa lây. Đồng bào nhân dĩ Mỹ
Tho, Chợ Gạo đã hết lòng ủng hộ cuộc khởi nghĩa này với sự tán trợ của
hương chức hội tề.
Chủ tỉnh Mỹ Tho được quan Thống đốc cho xuất ra 6550 quan để trả những
chi phí về cuộc hành quân chống Thủ khoa Huân là 4481 quan, tiền còn
lại thì dành trợ cấp cho vợ bọn lính tử trận. Nhưng thực dân không mất
gì cả, lại có lời cho ngân sách khi ra lịnh phạt những người đã tham
gia khởi nghĩa nhưng không ra đầu thú và trình diện kịp thời, phạt bằng
tiền theo quyết định của Thống đốc Nam kỳ ngày 5/7/1875. Và Thống đốc
Nam kỳ cũng trừng phạt 47 làng trong tỉnh Mỹ Tho đã gián tiếp hoặc trực
tiếp ủng hộ Thủ khoa Huân (quyết định ngày 5/7/1875) tổng số là 53700
quan, lẽ dĩ nhiên, hương chức làng gánh chịu và dân làng phải chia sớt
để khỏi bị rắc rối.
Lúc hành quân và truy nã, thực dân còn tịch thâu được 1515 quan, Hương
chức hội tề ở hai làng Song Thạnh và Bình Dương đã góp cho quân khởi
nghĩa 387 đồng (trị giá 2147 quan) là tiền do làng thâu thuế được ; nhà
nước ra lịnh bồi thường bằng cách tịch thâu và bán tài sản của hai vị
hương chức hội tề làng Song Thạnh có tham gia khởi nghĩa (đã bị giết),
số tiền còn lại thì một ông hương chức hội tề làng Song Thạnh và 5 ông
ở làng Bình Dương phải bồi thường cho đủ, các người này lẽ dĩ nhiên là
bị cách chức.
Vào tháng 9, cũng năm 1875, Thống đốc Nam kỳ ra quyết định phạt hương
chức làng Mỹ Đức, tỉnh Châu Đốc về tội cho phép một người “phản loạn”
từ Mõ Cày (Bến Tre) đến trú ngụ mà không bắt buộc kẻ lạ mặt phải xuất
trình giấy của địa phương cũ cho phép thay đổi nơi cư trú.
Nhóm người muốn “tạo lập đời” theo quan niệm tôn giáo tụ họp lần hồi
đến Thất Sơn hẻo lánh, có cọp beo nhưng xa khu vực thực dân kiểm soát,
lại được ưu thế là gần biên giới Việt Miên. Tuy nhiên, những làng tân
tạo này vẫn bị thực dân đến quấy rối : vùng An Định ở núi Tượng bị phá
xóm, đốt chùa về tội lập Hội kín.
Đầu năm 1872, vùng rạch Cái Tàu (ven rừng U Minh Hạ) tuy là thưa thớt,
nghèo nàn, làng xóm chưa thành nền nếp nhưng hai anh em Đỗ Thừa Luông
và Đỗ Thừa Tự đã khởi nghĩa, giết được lính mã tà. Đỗ Thừa Tự có lần ẩn
lánh ngoài khơi vịnh Xiêm La, tận hòn Sơn Rái nơi thảo am của thầy Đước
: người tu hành ở cheo leo ngoài biển khơi vẫn nặng lòng vì nước. Về
sau, hai anh em họ Đỗ bị bắt và xử tử, nghĩa quân thì bị đày. Tham biện
Rạch Giá xử họ trong phiên tòa gọi là “tòa án bổn xứ”, chính ông ta làm
Chánh án. Tên chủ tỉnh Benoist nổi danh là tàn ác (và thích khảo cứu)
đã “nhân danh dân chúng nước Pháp” mà buộc tội và tuyên án đúng “luật
An Nam” theo đó “người làm loạn bị xử trảm, kể luôn những bọn đồng lõa,
không cần phân biệt tội nặng nhẹ giữa chánh phạm và tòng phạm”. Tuy
nhiên, viên chủ tỉnh cho ân giảm đổi án tử hình ra 20 năm lưu đày
(trường hợp Phạm Tấn Trì). Một can phạm cũng trong vụ khởi nghĩa này là
Võ Văn Trước, người làng Đông Thái bị xử lưu đày chung thân.
Nay hãy còn nhiều danh tánh can phạm do thực dân xử theo biện pháp cao
hứng, tùy theo sự tố cáo với tang chứng mơ hồ. Họ là chiến sĩ vô danh,
đa số bị lưu đày từ thanh niên đến kẻ già nua, từ kẻ thất học đến kẻ
đậu tú tài, ngụ ở làng mạc vùng Mỹ Tho, Tây Ninh, Bà Rịa, Cao Lãnh, Tân
An, Cần Thơ, Sóc Trăng, Sa Đéc, Gò Công, Thủ Dầu Một, Long Xuyên, Vĩnh
Long, Châu Đốc, Bến Tre. Thân nhân của họ nhờ các quan địa phương
chuyển đơn kêu nài. Trường hợp ông Võ Văn Tòng từng làm đội quản (lãnh
bằng cấp để khởi nghĩa) bị bắt vào cuối năm 1864, vừa bị đày ra Côn Nôn
một tháng là chết bịnh ; ấy thế mà 15 năm sau, vì gia đình chưa hay tin
nên con là Võ Văn Toán lại làm đơn xin ân xá vì cha đã thọ án được 15
năm rồi ! Trường hợp của ông tú tài Trần Văn Trà bị đày qua Cayenne, vợ
làm đơn xin ân xá, xin giảm án quá nhiều lần mà không được chấp thuận,
mặc dầu có tri phủ Tôn Thọ Tường đứng ra làm tờ bảo lãnh với quan trên
: “Như ông còn hồ nghi sự gì thì xin khi tha nó ra rồi dạy nó phải ở
tại Sài Gòn sau nó còn làm sự gì quấy quá thì tôi cũng xin chịu tội
chung với nó”.
Vụ ông Quản Hớn giết phủ Ca ở Hóc Môn được xử tại Gia Định vào
12/9/1885 gồm 37 người lãnh án, trong đó 14 người bị lên án tử hình.
Cũng năm 1885 này, ở Cao Miên phong trào chống Pháp lên cao.
Người Miên ở Hà Tiên và người Việt hợp tác nhau đánh Pháp vài trận,
quân khởi nghĩa gom đến trăm người ở vùng Mũi Nai (chợ Hà Tiên) và Rạch
Vược, Ba Hòn.
Vấn đề lưu dân ở Sài Gòn
Sự khủng bố ở thôn quê khiến nhiều người mất công ăn việc làm, kéo lên
Sài Gòn, Chợ Lớn và vùng ngoại ô nhưng họ chưa thích ứng được với hoàn
cảnh sinh sống mới. Do đó, thực dân gặp nhiều khó khăn trước phong trào
mà chúng gọi là “lưu manh, du côn” Sài Gòn. Từ năm 1864, đô đốc
Lagrandière ra quyết định bắt buộc những người Việt cư trú ở Sài Gòn
phải ghi tên vào bộ vì nhiều vụ cướp bóc (?) xảy ra từ lâu, hạn 8 ngày
không đến làng để khai lý lịch và ghi tên vào bộ thì bị phạt từ 5 đến
10 quan và ở tù từ 8 ngày đến hai tháng. Non hai tháng sau có lịnh
nghiêm nhặt hơn : xét bắt những người Việt hiện đang cư trú chung quanh
thành Sài Gòn cũ và vùng rạch Thị Nghè, luôn cả người Tàu ; ai có giấy
tờ của làng cũ thì bị đuổi trở về, ai không căn cư, chẳng làng xã nào
nhìn nhận thì bị nhốt để chờ ngày đày ra Côn Đảo hoặc đảo Bourbon. Thực
dân đề phòng gắt gao vì được tin sắp có khởi nghĩa tại Sài Gòn. Mãi đến
năm 1875, vùng ngoại ô Sài Gòn vẫn chưa yên tịnh, một tay sai đắc lực
của thực dân từng điềm chỉ những người cầm đầu khởi loạn lại bị giết bỏ
xác gần chùa ở ranh giới ba làng Tân Thới, Bình Hưng và Bình Hưng Đông
; thống đốc Nam kỳ ra lịnh phạt hương chức hội tề ba làng nói trên về
tội không phát giác kịp thời và giấu nhẹm ; tiền phạt cộng chung là
1000 quan, trong đó 500 quan xuất ra trợ cấp cho gia đình nạn nhân. Đến
năm 1887, quan tham biện hạt thứ 20 (sau đổi lại là tỉnh Bình Hòa rồi
đổi là tỉnh Gia Định) báo cáo tỉ mỉ hơn, nhận định rằng thành phần bọn
bất hảo gồm nào thợ thất nghiệp, lao công Việt và Tàu, bọn đánh xe
ngựa, bọn làm bồi cho Tây đang thất nghiệp, đông đảo nhứt là bọn lưu
dân từ khắp các tỉnh Nam kỳ tựu về tìm phương kế sinh sống. Bọn này
thường tỏ ra ngạo mạn, bất phục tùng luật pháp. Vì có lịnh không cho áp
dụng quy chế thổ trước tại quận Gia Định nên viên chức không còn khả
năng trừng trị họ. Họ cứ ung dung làm điều sai quấy, hễ bị bắt là 24
giờ sau họ được thả ra, theo luật định. Năm 1899, tình hình ở tỉnh Gia
Định và ngoại ô Sài Gòn thêm bi đát hơn. Du đãng tụ tập ở Bà Điểm Bà
Quẹo để lộng hành, chỉ huy bọn nài ngựa ở trường đua, cầm đầu bọn ăn
trộm ở Hòa Hưng ; hương chức làng Hòa Hưng không dám hó hé. Én cướp
đánh tại làng Bình Sơn, trên sông Sài Gòn, có tên cướp xăm mấy chữ “anh
hùng nhứt xứ”. Tổng đốc Phương nhận định rằng từ năm 1895 việc du côn
ngày càng thêm, hiệp với bọn Thiên Địa Hội mà hà hiếp dân sự, ai giận
ai thì mướn nó đánh phá, muốn được cử làm hội đồng, cai tổng thì mướn
du côn coi chừng, ai không bỏ thăm cho phe thì chận đánh, ở nhà quê, du
côn lại nhà giàu mượn tiền 50, 30 đồng, ai thưa với làng thì nó đốt
nhà, mượn không bao giờ trả, chẳng ai dám tố cáo. Bọn du côn hăm he
hương chức làng rằng nếu bắt chúng, sau khi ở tù về, chúng giết chết.
Bắt thì tòa theo luật Lang Sa không cầm tù lâu. Bởi vậy, chẳng ai dám
bắt, trở về tụi nó sẽ dữ hơn. Nếu tòa phạt năm bảy ngày, cả bọn góp
tiền mướn thày kiện lãnh ra. Tổng đốc Phương yêu cầu đày bọn du côn đi
làm xâu vào dịp mở đường xe lửa Lang Bian, du côn thứ dữ thì phạt một
năm tù, thứ vừa thì phạt sáu tháng, làng xã phải kê khai tên tuổi bọn
du côn trong làng.
Năm 1901, bọn du côn đánh nhau giữa ban ngày, cách tòa Bố Gia Định có
500 thước, đánh nhau mà không bao giờ thưa gởi tới cò bót. Tại sòng bạc
ở Gò Vấp, lính mã tà phải xin lỗi bọn du côn chứa bạc vì đã trót đến
xét bắt. Mỗi xứ đều có anh hùng riêng, đường Monceaux, vùng Đất Hộ, Phú
Nhuận, vùng Bình Hòa, vùng Gò Vấp. Nổi danh nhứt là bọn Ba Thiên và Sáu
Thắm, chúng hẹn nhau đến Lăng Cha Cả hoặc ngả tư Phú Nhuận mà so tài,
theo luật giang hồ. Du côn ở Đất Hộ mà quan cầu thì bị du côn Phú Nhuận
hành hung. Bên trong vấn đề trừng phạt bọn du côn là cuộc tranh chấp về
quyền hành giữa các tham biện chủ tỉnh và các cơ quan tư pháp vào năm
1901—1902. Nha Tư pháp Đông Dương muốn áp dụng luật pháp, chống những
bản án hành chánh mà tham biện các tỉnh bấy lâu đã lạm dụng để đày ra
Côn Đảo những kẻ mà quan làng không thích, mặc dầu không bằng cớ. Các
viên chức hành chánh thì cho là nếu căn cứ vào luật pháp thì làm sao
bắt bọn du côn được ? Điển hình nhứt là lập luận của tham biện tỉnh Gia
Định bảo rằng dân thuộc địa chỉ sợ sức mạnh của người Pháp mà thôi,
không nên đối xử bình đẳng vì dân du côn xem việc ở tù sướng hơn là
sống ở ngoài đời. Và làm sao trưng được bằng cớ cụ thể để buộc tội, khi
bọn du côn ăn thề, kết nghĩa với nhau trong quán rượu chớ không ghi
trên giấy trắng mực đen.
Phong trào gọi là “du côn Sài Gòn” vào đầu thế kỷ gồm những thành phần như sau :
— Bọn bất lương, đâm thuê chém mướn, không lý tưởng gì cả.
— Một số người theo Thiên Địa Hội muốn tạo khu vực ảnh hưởng riêng để làm ăn, nắm độc quyền về bến xe, chứa cờ bạc.
— Một số nông dân mất cơ sở làm ăn ở thôn quê, lên thành phố nhưng chưa
thích ứng được với hoàn cảnh mới, họ vẫn giữ óc tự tôn cho rằng xã hội
nông nghiệp đàng cựu đẹp hơn xã hội mà người Tây phương đặt trên đầu
dân ta. Họ có tinh thần chống Pháp.
Mãi đến đệ nhứt thế chiến, “anh chị” ở Sài Gòn Chợ Lớn còn là đề tài
lưu truyền trong dân gian. Những áng thơ bình dân, những người mù nói
thơ đờn độc huyền vẫn ca ngợi Năm Tỵ, Sáu Nhỏ, Sáu Trọng hoặc tiết tháo
của thày Thông Chánh, cậu Hai Miên mặc dầu thực dân tìm cách ngăn cấm.
Bến Nghé Sài Gòn trong sanh hoạt mới
Trong khi vùng ngoại ô Sài Gòn chưa bình định xong thì thực dân chánh
thức cho phép tàu ngoại quốc vào thương cảng Sài Gòn mua bán
(22/2/1860). Năm 1860, có 246 chiếc tàu máy và thuyền buồm của các nước
Ñu Châu và của Trung Hoa tổng cộng sức trọng tải là 63299 tonneaux, đã
ăn 53939 tonneaux gạo trị giá khoảng 5184000 quan và các sản phẩm linh
tinh khác trị giá một triệu quan. Đồng thời hàng hóa nhập cảng vào Sài
Gòn trị giá ước lượng một triệu quan, cộng thêm 500 000 quan á phiện để
tiêu thụ trong xư.
Đây là năm mđầu mà thương cảng mở cửa, xuất cảng hơi nhiều vì gạo từ
năm trước còn ứ đọng lại, thành Sài Gòn mất nên ghe bầu từ ngoài Trung
không vào ăn gạo như trước được. Năm 1861, mức xuất cảng gạo sụt, năm
1862 lại sụt hơn vì ảnh hưởng cuộc khởi nghĩa của Trương Định ở vựa lúa
quan trọng miền Nam lúc bấy giờ là Gò Công. Nhưng năm 1862 lại xuất
cảng thêm 1 200 000 quan cá khô của Cao Miên, do thương cảng Sài Gòn.
Ba loại gạo mà giới xuất cảng chuộng nhứt là gạo Gò Công, rồi đến gạo
Vĩnh Long; gạo sản xuất từ Sóc Trăng, vùng Bãi Xào (gạo Ba Thắt) thì
được giá trên thị trường Trung Hoa hơn.
Ngày 16/6/1865 đô đốc Roze cho phép thành lập Ű ban nghiên cứu phát
triển Canh Nông và Kỹ nghệ ở Nam kỳ, bốn tháng sau ủy ban ra tạp chí
chuyên môn, dành nhiên cứu các loại sản phẩm nông nghiệp và kỹ nghệ mà
Nam kỳ có thể phát triển trong tương lai, nhằm giúp đường hướng cho bọn
thực dân làm ăn.
Ngoài ra, nhiều tờ Công báo cũng ra đời từ 1862, 1865, đáng chú ý là
bọn thực dân ở Sài Gòn chia phe nhóm, ra báo Pháp ngữ công kích lẫn
nhau như “Líindépendant de Saigon, Ere Nouvelle...” và công kích luôn
chính sánh của Thống đốc. Tờ Gia Định Báo ra vào tháng 4/1865 bằng chữ
quốc ngữ nhằm mục đích phổ biến thông cáo, nghị định đến các làng các
tổng.
Năm 1865, dân đinh trong bộ ở 3 tỉnh miền Đông là 35 778 người, năm
1866 được 39369 người, một phần do sự đăng bộ của đám dân ậu, một phần
là những người chạy giặc trở về trình diện để bảo vệ đất đai ruộng vườn
cho khỏi mất. Năm 1867, Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây, nhờ đó mà dân
số Nam kỳ được thêm khoảng 477000 người (kể cả nam phụ lão ấu), diện
tích ruộng đất tăng thêm khỏang 123000 mẫu tây và nhiều huê lợi khác
chừng ba triệu quan.
Năm 1883, đường xe lửa Sài Gòn Mỹ Tho bắt đầu hoạt động, hãng Tàu chạy
sông ra đời vào 1883, gọi nôm na là tàu Mỹ (xuất phát từ Mỹ Tho, rồi từ
đó nối về Sài Gòn bằng xe lửa) hoặc tàu Nam Vang vì chạy tới kinh đô
chùa Tháp.
Thoạt tiên, để thử phát triển các giống lúa, thảo mộc và gia súc, thực
dân cho lập nông trại làm thí điểm do nhà nước tài trợ tại khu đất Ô Ma
ăn lên đồng Tập Trận rộng hơn 50 mẫu, trồng một mẫu lúa giống đem từ
Miến Điện nhưng thất bại, còn dư là để cho cỏ mọc, thử nuôi ngựa giống.
Cũng năm 1885, Ű ban thành lập “Viện Bảo tàng thuộc địa” hoạt động lai
rai, thu lượm những mảnh tượng đá xưa, sưu tập cây cỏ ngoài Côn Đảo,
trồng cây kỹ nghệ và vài trăm loại thảo dược đem về từ Thượng Hải.
Riêng về cây cà phê, từ năm 1873, Thống đốc Nam kỳ khuyến khích, trợ
cấp cho những người Pháp thử trồng tỉa.
Dưới mắt một số thực dân và sĩ quan hải quân Pháp thì vùng Sài Gòn
(không kể vùng Chợ Lớn ngày nay) giống như quê hương của họ ở xứ
Normandie, họ khen ngợi vùng Chợ Quán và vùng Gò Vấp, nơi dân Việt định
cư lâu đời, có vườn tược, mỗi nhà đều có hàng rào bằng cây tươi, với
đường xá quanh co nối liền xóm nhỏ, bên đường là cây cổ thụ che mát.
Thực dân nghĩ đến việc thiết kế thành phố, và trong việc “làm đẹp”
thành phố, họ cố ý làm cho đất Sài Gòn mất vẻ cổ kính mà dân Việt đã
tạo được từ 170 năm qua. Nhà và đất có bằng khoán, cứ đóng thuế thổ cư
rồi đều mặc nhiên bị truất hữu theo quyết định của đô đốc, chỉ huy quân
lực khiêm chức thống đốc ký ngày 20/2/1862. Đất chia từng lô bán bằng
bạc con ó (không nhận trả bằng tiền kẽm), tất cả nhà cửa, vườn tược
trên lô đất đều bị bán luôn. Nếu chủ đất đấu không kịp giá thì có thể
xin bồi thường với người đấu giá được, muốn khiếu nại phải xuất trình
toa vé xác nhận sở phí cất nhà trước kia, nếu có.
Luật lệ tàn ác này khiến nhiều gia đình cố cựu ở vùng Sài Gòn phải mất
nhà, mất đất vì họ không đủ tiền để đấu giá cho kịp bọn thực dân và bọn
cường hào đang có tiền, chưa nói tới một số đông người đã chạy giặc
không dám về trình diện. Để cho những người mất đất tạm thỏa mãn, nhà
nước ra quyết định ngày 6/5/1862 dành vùng đất giữa kinh Tàu Hũ, rạch
Ong Bé và rạch Ong Lớn cho những người bị mất đất phía Sài Gòn và
khuyên những người chủ đất ở vùng Rạch Ong nên khiếu nại trong vòng 30
ngày : những người mất đất ở Sài Gòn lại trở thành kẻ thù của người mất
đất ở Rạch Ong. Ngày 2/2/1863, để xẻ đường lộ và phòng kinh đào ở vùng
Sài Gòn, thực dân ra lịnh ai có mồ mả của thân nhân phải hốt cốt trong
vòng 15 ngày.
Phía Chí Hòa, Hòa Hưng, Phú Thọ xưa kia là làng xóm trù mật mà dân đã
tản cư từ khi Nguyễn Tri Phương cho đắp thành Chí Hòa (ăn từ Chí Hòa
đến tận Bà Quẹo). Phần đất này lại chia ra từng lô từ 20 mẫu đến 35
mẫu, bán hoặc cho mướn dài hạn, chỉ dành riêng cho người Pháp mà thôi.
Vùng bên kia sông, thuộc Khánh Hội và Thủ Thiêm cũng phân lô, bán từ
năm 1861. Mấy chợ nhỏ ở mé sông Sài Gòn ngày xưa bị dẹp bỏ, dành cất
phố xá và công sở. Quyết định ngày 12/8/1864 cho phép cất một nhà chợ ở
đầu cầu Ông Lãnh, công việc không trôi chảy như ý muốn, mãi đến tháng
6/1874 chợ này mới cất xong. Một số đất tốt được cấp vô điều kiện cho
thân hào nhân sĩ hữu công vào năm 1873 để cất nhà. Tháng 8/1880, cho
đấu giá đất thổ cư Chợ Lớn và Bình Tây, đa số người mua được là Huê
kiều và ấn kiều.
Thể thức mà người Pháp dùng bấy giờ là cho đấu thầu mọi dịch vụ, quan
lại tha hồ tham nhũng và thương gia giỏi chạy áp phe thì làm giàu nhanh
chóng.
Thương gia Pháp và Đức kiều tha hồ làm mưa làm gió, nào là đấu giá xây
cất đồn bót, dinh thự ở Quy Nhơn, ở Bắc kỳ, Hải Phòng, cung cấp mùng
mền cho bọn lính sơn đá, đèn thắp ngoài đường, thức ăn cho lính, cho
tù, cho bệnh viện, nhứt là cung cấp vôi, xi măng, cây, ván, gạch. Người
Trung Hoa nhiều thế lực nhứt là Wang Tai. Lại còn nhiều dịch vụ đấu
thầu khác mà người Trung Hoa chiếm ưu thế : khi chiếm ba tỉnh miền Tây
vừa xong, công ty Hoa kiều Ban Hop nắm độc quyền về bán á phiện ở ba
tỉnh này (28/8/1867). Và số tiền kẽm thu thuế của dân cũng được Hoa
kiều đấu giá mua lại : Công ty Tang Keng Sing và Ban Hop mua 90000 quan
tiền kẽm ở kho bạc Sa Đéc (1868), mua luôn 120000 quan ở Mõ Cày, 25000
quan ở Mỹ Tho. Hoa chi góp chợ, bến đò ở Sài Gòn và các tỉnh thường lọt
vào tay người ấn.
Từ 1861, riêng vùng Chợ Lớn, Pháp cho đấu thầu hoa chi sòng bạc, quy
định là mười sòng, cuối năm ấy lại áp dụng cho vùng Sài Gòn, năm sau
(1862) cho toàn ba tỉnh miền Đông. Người Trung Hoa rành về tổ chức sòng
bạc nên nắm độc quyền khai thác. Người Trung Hoa được ưu đãi, vì đã
giúp đắc lực để xuất cảng lúa gạo và phân phối các sản phẩm nhập cảng.
Không nên chê trách dân Nam kỳ thuở ấy không biết nắm độc quyền to lớn
này, ta nên thấy rõ vấn đề : người Trung Hoa đã tạo lập hệ thống buôn
bán từ khi mới khẩn hoang, lập chợ cù lao Phố, chợ Sài Gòn. Dầu cho
người Việt muốn tranh thương thì cũng chẳng tài nào làm nổi. Huê kiều ở
Chợ Lớn dính líu với các nhóm tài phiệt ở Tân Gia Ba. Và những Huê kiều
chuyên mua lúa gạo ở Tân Gia Ba đến Chợ Lớn lại được phép thành lập một
bang riêng, với ít nhiều tánh chất tự trị. Người Huê kiều có vốn lớn
đem từ ngoại quốc sang mà tung khắp hang cùng ngõ hẻm. Để cờ bạc,
thưởng thức nhan sắc của ca nhi, họ được phép thành lập nhà “xẹc” riêng
để giải trí, bàn chuyện đầu cơ, chuyện lo hối lộ với bọn Pháp hoặc là
buôn lậu. Hàng chục nhà “xẹc” khác trở thành nơi tụ tập riêng của từng
tổ hợp: nào của người Phước Kiến, của Nhóm thương gia Huê kiều ở Tân
Gia Ba, Thương gia chuyên mua bán lúa gạo, Nhóm thương gia chuyên mua
lúa gạo Quảng Đông, Thương gia Huê kiều ở Chợ Lớn hoặc Thương gia Huê
kiều ở Chợ Lớn thuộc quốc tịch Anh... Họ cất chành trữ lúa, mỗi nhóm
giữ quyền lợi riêng, hoặc lập nhà máy xay lúa, mua ghe chài.
Luật lệ về công thổ
Danh từ công thổ chỉ những loại đất còn hoang, hoặc có chủ khai khẩn
rồi bỏ phế trở thành vô thừa nhận. Ngày trước, đất là của Vua. Người
Pháp đến, xác nhận ruộng đất là của Thuộc địa, mặc nhiên nhà nước làm
chủ tất cả đất đai trong toàn cõi thuộc địa, muốn là sở hữu chủ phải có
sự chấp nhận về mặt pháp lý của Thống đốc Nam kỳ, ở tỉnh thì chủ tỉnh
là người được ủy quyền của quan Thống đốc trong phạm vi nhỏ.
Nhiều nghị định liên tiếp ra đời rồi điều chỉnh lại vì sự thi hành
không trôi chảy như ý. Đại khái, nghị định 30/3/1865 và 29/12/1871 định
rằng nhà nước sẽ đo đạc, điều tra về đất đai để lần hồi cho dân khẩn.
Những điền chủ cũ có ghi tên trong địa bộ hồi đời Tự Đức phải trình
diện để khiếu nại trong vòng 3 tháng để từ ngày dán yết thị tại địa
phương và đăng trên Công báo, quá thời hạn trên thì đất ấy thuộc về nhà
nước, xem là công thổ. Nhà nước bán theo giá thuận mãi với giá là 10
quan mỗi mẫu tây. Riêng những ngừười hữu công với nhà nước, đất có thể
cấp không.
Người dính líu đến việc chống Pháp, trong điều kiện ấy làm sao dám
trình diện ? Một số đất có chủ lại trở thành công thổ. Những người
không dính dấp gì tới quốc sự cũng bị thiệt thòi quyền lợi, họ tiếp tục
đệ đơn khiếu nại mặc dầu thời gian ba tháng niêm yết đã trôi qua. Họ
không biết chữ, hương chức làng lắm khi giấu giếm bảng yết thị đó để
thủ lợi, hoặc người chủ đất tản cư qua vùng khác, khi hay biết thì về
quá trễ (châu tri của Giám đốc Nội vụ ngày 7/5/1879). Trong tờ phúc
trình lên Hội đồng quản hạt đề ngày 11/10/1881 của Giám đốc Nội vụ thì
cách chức khẩn đất hiện hữu quá rắc rối. Trước kia, thời đàng cựu hễ
ghi tên vào bộ điền, đóng thuế là làm chủ đất. Theo luật mới, khi khẩn
trưng 10 mẫu đất xong, muốn làm chủ thiệt thọ thì phải mua với giá 10
quan mỗi mẫu và nộp bản đồ (gọi nôm na là bông đồ) đo đạc chính xác
theo phương pháp mới và được quan Thống đốc chuẩn phê. Như vậy là bất
lợi cho dân và cho nhà nước, nhà nước thiếu nhân viên chuyên về khám
đạc (gọi nôm na là họa đồ, kinh lý) để đi khắp các tỉnh các làng; tiền
vốn vẽ bản đồ, tiền in tờ bằng khoán lại cao hơn giá bán 10 quan mỗi
mẫu. Nghị định năm 1878 cho phép dân khẩn đất được miễn thuế bốn năm
đầu tiên nên người nghèo vào đơn xin trưng khẩn quá nhiều. Nay cứ đặt
ra điều kiện dễ dãi, hễ ghi tên vào bộ điền, chịu đóng thuế là coi như
đã làm chủ, nhưng người khẩn đất chỉ được miễn thuế trong năm đầu mà
thôi, năm sau phải đóng đủ. Tờ phúc trình này cũng khuyến cáo các tham
biện chủ tỉnh không nên cấp những lô đất to hơn 20 mẫu, đề phòng nảy
sinh ra giai cấp đại điền chủ.
Năm 1885, nhìn chung là ít ai chịu khẩn đất với diện tích rộng hơn 20
mẫu (đa số dân nghèo đều làm đơn xin trưng khẩn dưới 10 mẫu) vì sợ đóng
thuế không nỗi. Kẻ nào xin khẩn sở đất to là nhắm vào đất tốt để đầu
cơ, bán lại. Từ năm 1882 đến 1885 số đất được dân xin khẩn là 9055 mẫu.
Về công điền, tên tham biện Nicolai đã làm tờ phúc trình dứt khoát để
tước đoạt không cho hương chức làng hưởng quyền hạn rộng như xưa.
Nicolai trình bày :
— Theo nghị định 29/10/1871 và 22/8/1882 hễ phần đất nào không ghi vào
địa bộ với sở hữu chủ rõ rệt thì phải theo quy chế đất công thổ. Trước
khi người Pháp đến, hương chức làng có quyền đối với đất hoang trong
địa phận họ cai trị, quan Bố chánh chỉ can thiệp khi đất ấy đã có người
canh tác nhưng người ấy không đóng thuế hoặc đóng thuế ít so với diện
tích. Hương chức làng ngày xưa được quyền gọi dân tới khẩn, bắt buộc họ
làm đơn, vẽ bản đồ sơ sài rồi chịu thuế.
Nicolai nhắc lại những nguyên tắc của nghị định 1871 :
— Đất hoan, chưa vô bộ, chỉ có quan Thống đốc Nam kỳ mới được phép cho trưng khẩn, bán hoặc đổi.
— Chỉ có tham biện chủ tỉnh, thừa ủy quyền của Thống đốc Nam kỳ mới được phép quy định ranh giới công thổ.
— Đất nào có chủ thời đàng cựu, nhưng sau ba tháng truyền rao trên Công
báo mà chủ không nhìn nhận, hoặc thiếu bằng cớ cần trưng ra khi nhìn
nhận, thì sẽ không được tranh chấp nữa và trở thành công thổ. Tóm lại,
công thổ (đất hoang, vô chủ trong địa phận mỗi làng) không phải là đất
của làng, dẫu là về mặt tinh thần, tượng trưng. Hương chức không có
quyền cấp đất hoang, hoặc cho dân tạm khẩn hoặc cày cấy tạm. Quyền ấy
là của tham biện chủ tỉnh, thay mặt cho nhà nước. Bấy lâu vì chưa hiểu
nguyên tắc ấy, nhiều nơi hương chức còn tự ý cấp đất hoang. Quan Toàn
quyền Đông Dương đã ký nghị định 2/1/1892 để ngăn cản tình trạng trên.
Với sự quy định ấy, thôn xóm chỉ còn tự trị về mặt hình thức mà thôi,
vì trong thực chất, hương chức làng chẳng còn quyền hạn gì đối với đất
đai bỏ hoang cả. Ngay đến sở đất gọi là công điền của làng, phải được
nhà nước thừa nhận thì mới là hợp pháp.
Tình hình các tỉnh dưới mắt người Pháp
Tài liệu vào thời người Pháp mới đến tuy dồi dào nhưng phiến diện, chỉ
là sự nhận xét và báo cáo chủ quan của vài viên chức nặng óc thực dân.
Xin lược kê đôi ba tài liệu, gọi là chỉ dẫn mà thôi :
— Báo cáo của Paul Vial, Giám đốc Nội vụ vào tháng 9/1865 : tỉnh Mỹ Tho
ở vào ải địa đầu (Vĩnh Long, bấy giờ thuộc quyền triều đình Huế) chia
ra bốn hạt tham biện, mỗi hạt do người Pháp trực tiếp trông coi, dân
làng đã tự động chống quân làm loạn. Tháng rồi, 4 lãnh tụ trước kia
theo Trương Định bị bắt và giết ở phía Gò Công, do người bổn xứ giết
(nên hiểu là bọn theo Pháp như lãnh binh Tấn).
So với năm rồi, diện tích làm ruộng tăng thêm 50 phần trăm. Dân ở Sài
Gòn và Biên Hòa tăng thêm, đó là dân hồi cư. Tỉnh Biên Hòa được khả
quan từ khi lập đồn Bảo Chánh, một số dân miền Thượng giúp đỡ Pháp để
chận loạn quân từ Bình Thuận đột nhập. Người Thượng theo Pháp vì dư
đảng của Trương Định đối xử vụng về với họ.
Tỉnh Sài Gòn (Gia Định) không còn loạn quân nhưng bọn cướp còn đánh phá
ghe thuyền di chuyển lẻ tẻ. Có chừng 20000 ghe thuyền lớn nhỏ chở
chuyên hàng hóa, phân nửa số này di chuyển thường trực. Vial đề nghị
cho tàu máy đi tuần theo sông rạch, mỗi tàu chỉ cần 2 người Pháp, 6 tên
lính mã tà là đủ. Trước kia, chợ quan trọng ở nơi xa, nước cạn, vì vậy
bọn giặc Tàu Ô khó khuấy rối, bây giờ cũng vì nước cạn mà tàu máy khó
tới (phải chăng muốn ám chỉ vùng Ba Cụm lừng danh). Gần sông Vàm Cỏ (có
lẽ Vàm Cỏ Tây) còn một nhóm 7 người Tagal và một số loạn quân ẩn náu,
trước sau gì chúng cũng bị dẹp (đây là lính Tagal từ Phi Luật Tân qua
đánh ta lúc trước). Vial nhận định rằng quan lại thời đàng cựu hống
hách với dân ; nạn nhân của chế độ cũ là những điền chủ và thương gia
giàu có. Hai hạng này được Pháp chú ý trọng dụng. Vial khen ngợi họ
hăng hái hoạt động và có óc thực tế, họ sẽ giúp người Pháp thâu phục
nhân tâm.
á phiện đem cho nhà nước hoa chi 1 200 000 quan mỗi năm. Vial cho rằng
người bổn xứ đã hút trước khi Pháp đến, á phiện không hại gì cả, nếu
hút có độ lượng. Đề nghị nên tiếp tục cho hút vì dân Trung Hoa hút khá
nhiều nhưng vẫn giữ được đức tánh cố hữu là hăng hái, siêng năng.
Hoa chi sòng bạc thâu được 400 000 quan vào năm rồi nhưng gây xáo trộn
ở làng xóm. Hương chức làng vì mê cờ bạc nên ăn cắp công quỹ và ăn hối
lộ. Nông phu đánh bài, trẻ con cũng vậy, sanh nạn trộm cắp. Đề nghị dẹp
hoa chi cờ bạc, nếu cần thì chỉ cho phép mở sòng bạc tại Sài Gòn mà
thôi.
Về thuế bến thì tàu Pháp và tàu Tây Ban Nha hưởng ưu tiên khỏi đóng. Đề
nghị nên bỏ thuế này cho tàu buôn bán các nước khác, để thương cảnh
thêm tấp nập.
Gạo tăng giá 5 lần lúc hơn trước, nhờ xuất cảng được.
Ruộng làm nhiều vì lúa bán cao giá. Ruộng canh tác lậu thuế quá nhiều,
có đến phân nửa diện tích trốn thuế. Vài năm nữa, nếu đo đạc xong, thuế
điền sẽ thâu được gần bằng hai mà khỏi cần tăng giá biểu thuế. Vial cho
rằng giá biểu thuế điền còn quá thấp.
Số dân công làm xâu trị giá 1 triệu quan mỗi năm. Với số bạc mặt tương
đương, chưa chắc mướn được nhân công để đào kinh, đắp lộ như người Pháp
đã làm (đây là việc cưỡng bách làm xâu thời đàng cựu mà người Pháp duy
trì).
Giá đường, non 1 quan 1 kí lô. Dầu phộng, 60 quan 1 tạ dầu, dầu dừa 8
quan 10 lít, cau khô bán qua Trung Hoa (?) từ 60 đến 80 quan mỗi tạ...
Điền chủ bổn xứ cho tá điền vay ăn lời từ 5 đến 10 phân mỗi tháng, tá
điền phải chịu điều kiện là dùng hoa màu thu hoạc được để thế chân.
Thông lệ là tháng 7 dương lịch năm tới là trả điền vay, tới tháng 1
dương lịch năm tới là trả gấp đôi. Vial nhận xét thêm về mức sống và
trình độ văn minh của dân Nam kỳ : khá cao, sang trọng, mỗi chợ đều có
đủ thứ nghề, nào là dệt chiếu, nào trại mộc, lò đặt rượu, nhà dệt, lò
nhuộm. Trại hòm hoạt động mạnh, hòm (quan tài) hạng thường nbán 30
quan, mỗi năm sản xuất từ 20 đến 20 ngàn cái tức là trong 3 tỉnh miền
đông Nam kỳ xài 1 000 000 quan về hòm, người Việt chú trọng đến cái hòm
của mình từ khi còn sống.
Về tiền tệ, Vial nêu vài chi tiết đáng chú ý :
Một quan tiền kẽm gồm 600 đồng, ăn 1 quan tiền Pháp.
Một quan tiền kẽm đời các vua sau này cân nặng từ 1 kí lô 10 đến 1 kí
lô 1, trong khi tiền kẽm đời Gia Long cân nặng hơn : từ 1 kí lô 20 đến
1 kí lô 25. Trong quan tiền kẽm thông dụng, có khoảng 5/7 là tiền đời
Gia Long.
Bạc nén, mỗi nén nặng 374 g (10 lượng) nhà nước nhận khi thâu thuế với
giá là 74 quan 61, nhưng bạc nén đem ra chợ đổi được từ 95 đến 100 quan
tiền ta, hoặc từ 16 đến 20 đồng bạc con ó.
Một nén vàng, mà Vial cho là ít khi thấy xài, cân nặng khoảng 336 g,
dân xài với giá từ 1400 đến 1500 quan, kho bạc nhà nước nhận xài với
giá chính thức là 1050 quan.
Đồng bạc con ó lúc đầu khó xài trong dân gian, một đồng con ó đổi 3
quan mà thôi, phổ biến rất chậm. ở thôn quê chưa thấy xài. Thời ấy vì
xài nhiều thứ tiền khác nhau nên có nạn đầu cơ tùy theo mùa, có thể đem
lợi cho bọn người chuyên đổi tiền.
— Báo cáo của Paul Vial ngày 17/9/1867 : giúp thấy sơ qua tình hình 3
tỉnh miền tây vừa bị Pháp chiếm từ 20/6 tức là non 3 tháng trước. Mục
đích của viên Giám đốc Nội vụ này là tìm hiểu nguyện vọng, giải thích
cho dân hiểu thiện chí của người Pháp. Mặt khác, thử nghiên cứu cách
thức thâu thuế điền bằng tiền mặt, thay vì thâu bằng lúa như thời đàng
cựu.
Theo Vial, lúc trước ở 3 tỉnh miền Tây có từ 4 đến 5000 lính đàng cựu,
nay chỉ cần tuyển chọn 900 người là đủ dùng vào việc trị an (bớt tốn
công quỹ để nuôi lính). Nên tuyển chọn lính mã tà trong gia đình dân có
bộ (khá giả), được bảo đảm hơn là lựa trong đám lưu dân. Vial xuống tàu
ngày 31/8/1867 (từ Mỹ Tho) với 25 lính mã tà từ Gò Công gởi qua tăng
cường cho Trà Vinh, trước đó có 50 lính mã tà đã đến Trà Vinh rồi. Tới
Bến Tre, Vial còn thấy di tích của dinh phủ Hoằng Trị thời đàng cựu đã
bị bắn sập từ 1862, quan tham biện làm việc trong căn nhà lá, tiếp tay
với tham biện là hai quan huyện : một là cựu cai tổng ở Gò Vấp, một là
tay phú hộ ở Gò Công. Tham biện Bến Tre lúc bấy giờ là Champeaux. Theo
ý kiến Champeaux thì dân Bến Tre sẵn sàng đóng thuế bằng tiền.
Champeaux thắc mắc về sự hiện diện của một số quan lại cựu trào đang cư
ngụ dưỡng già tại Bến Tre, xem như là những phần tử có hại cho an ninh
(chắc ám chỉ những người ở Ba Tri như ông Đồ Chiểu ?) Tàu đến vàm rạch
Cầu Ngang. Cách chỗ tàu đậu chừng 4000 thước, quân sĩ đang giao chiến
với loạn quân, lát sau, Pháp tái chiếm Cầu Ngang. Đêm đến, Vial ngủ tại
Cầu Ngang, được biết rằng tất cả dân làng đều theo bọn phiến loạn. Từ
ngày 28/8, tại làng Tân Lập, dân nổi loạn giết một thư kỳ và 3 lính mã
tà. Một tốp Cao Miên chừng 200 người tới xin quy thuận và điềm chỉ bọn
cầm đầu phản loạn gồm chừng 54 tên nhưng bọn này đã trốn mất. Đến Vĩnh
Long, bấy giờ dân đang còn lo sợ, chợ Vĩnh Long có đường sá lót bằng
gạch vụn. Chợ Sa Đéc rộng rãi và náo nhiệt. Viên tham biện Sa Đéc mách
cho Vial biết : huyện Phong Phú (Ô Môn, Cần Thơ) ở quá xa, cần lập tại
đó một hạt tham biện. Phong Phú là vùng giàu có nhưng chưa kiểm soát
được. Vial đi từ Sa Đéc qua Rạch Giá theo rạch Lấp Vò, ở chặng đầu,
thấy dân đông, sung túc. Ra Hậu giang, đến Đông Xuyên (tức là Long
Xuyên ngày nay), thấy cù lao trên sông có nhiều rẫy mía khá tốt. Vial
tiếp tục hành trình qua Rạch Giá theo kinh Núi Sập (Thoại Hà), kinh
nhiều cỏ, tàu khó chạy vì chân vịt tàu thường bị vướng, muỗi quá nhiều,
không thấy nhà cửa ở hai bờ kinh. Sáng ngày 9/9 đến Rạch Giá, khúc gần
chợ, bề ngang rạch chừng 30 đến 40 thước, hai bên đầy nhà cửa và ghe
xuồng. Nước chảy mạnh, tại vàm biển ngoài những ghe cỡ nhỏ còn có một
chiếc goélette (Vial muốn nói loại tàu buồm Hải Nam ?) trọng tải chừng
80 tonneaux của người Tàu ở Kampot đến đậu từ 3, 4 tháng rồi, chờ khi
thuận gió sẽ rời bến.
Vàm Rạch Giá cạn, vì vậy đã cho cắm mấy hàng nọc dài ra biển để hướng
dẫn cho tàu khỏi rướn lên bãi bùn. Quân sĩ và tham biện Rạch Giá ngụ
trong đồn cũ thời cựu trào, tu bổ khéo léo, mỗi góc đồn chừng 80 mét
(đồn này không đầy một năm sau là bị Nguyễn Trung Trực đốt rụi). Tư
thất tham biện lợp lá, còn tốt. Dinh tham biện ở hữu ngạn Rạch Giá,
trên giồng cao, nhiều cát, gần đấy có xóm nhà và vườn cây ăn trái. Thời
cựu trào, người Tàu ở đây có quyền hạn nhiều (ít nhiều tự trị) phỏng
định chừng 800 người, khó tin cậy, đề nghị tăng cường cho Rạch Giá vài
người lính Pháp.
Mấy ông cai tổng ở Cà Mau (bấy giờ, Cà Mau thuộc về hạt tham biện Rạch
Giá) đang gom mấy khẩu thần công thời cựu trào đem về đồn. Tại Cà Mau,
có 20 lính mã tà nhưng xin thêm 120 lính nữa để tăng cường. Hạt Rạch
Giá ruộng ít, dân ít, nếu bắt thêm 100 lính thì dân chịu không kham,
không như ở Sa Đéc và Vĩnh Long nơi dân đông hơn. Người Cao Miên ở Rạch
Giá đông gần bằng người Việt Nam, có nuôi bò nhưng không phải nuôi để
ăn thịt. Vial muốn cho lính và viên chức Pháp ở Bến Tre, Trà Vinh, Sóc
Trăng, Rạch Giá được ăn thịt bò đầy đủ.
Trở về Đông Xuyên (Long Xuyên) để xuồng Ba Xuyên, từ vàm rạch Ba Xuyên
đến chợ Sóc Trăng tốn 10 giờ vì nước cạn. Tàu chạy được một khoảng,
khoảng còn lại phải đi ghe. Trên đường tới Sóc Trăng có nhà thờ Công
giáo nhỏ, chợ Sóc Trăng nhiều gạo, gạo ngon và bán thật rẻ, nhiều ghe
từ Vĩnh Long, Sa Đéc, Mỹ Tho, Chợ Lớn đến mua. Lính mã tà ở Sóc Trăng
gồm một số ở Hóc Môn đổi tới nên khi gặp ông phủ Trần Tử Ca (cùng đi
với Vial) thì họ quá mừng, họ nhớ nhà, tới đây 25 người, đã chết 3
người. Sáu năm về trước, người Miên Sóc Trăng đã nổi loạn chống cựu
trào, từ đó về sau họ thù hằn người Việt. Ông phủ U là người Miên hợp
tác với Pháp. Lúc ở Sóc Trăng, Vial được tin gởi về cho biết lính mã tà
ở Cà Mau vừa bắt được bá hộ Chương, người cầm đầu phản loạn bấy lâu.
Chuyến về, Vial được phủ Trực cho biết : có con rạch đi tắt từ Mỹ Tho
đến Trà Vinh, đó là rạch Lách Cần Thay (nay là Chợ Lách). Vial cho biết
: các tham biện mà ông ta gặp đều đồng ý là nên giải tán hẳn các đồn
điền đàng cựu, đất ruộng thì giao trả lại cho làng cũ vì đa số dân đồn
điền theo phe làm loạn trong thời gian qua. ở tỉnh Sài Gòn (Gia Định),
việc giải tán đồn điền đã thi hành có kết quả từ 1861.
Hình ảnh miền quê dưới mắt một người Việt
Năm 1894 ông Dương Tế Mỹ làm chức kinh lịch (lettré, một chức vụ khong
quan trọng chuyên phiên dịch những giấy tờ chữ Nôm, chữ Nho ra quốc
ngữ) gởi về Nam kỳ Soái phủ một tờ trình, góp vài ý kiến để cải cách xã
hội, đề tháng 10/1894. Bấy giờ, Dương Tế Mỹ đã nghỉ việc, cư ngụ tại
làng Minh Đức, tỉnh Trà Vinh. Xem qua, ta hiểu phần nào bộ mặt của miền
quê hồi cuối thế kỷ 19. ý kiến của ông Mỹ có thể tóm tắt như sau :
— Nạn đánh me lan tràn, người Huê kiều làm chủ sòng mà thủ lợi, việc
đánh me được nhà nước hợp thức hóa để thâu hoa chi. Vì cờ bạc mà sanh
nạn trộm cắp, con nít 12 tuổi cũng biết đánh me. Đề nghị nhà nước ta
nên kiểm soát nghề nghiệp và lý lịch của dân cho kỹ hơn.
— Bọn làm bồi cho Tây sống lưu động, là bọn du đảng nguy hiểm. Nên nhốt bọn chúng
— Nên mở mang tiểu công nghệ cho dân có thêm công ăn việc làm, nên phát triển trồng bông vải.
— Yêu cầu nhà nước đừng đánh thuế rượu đế (rượu nếp nấu theo phương
pháp cổ truyền). Người Tàu chịu đóng thuế, đặt rượu nếp bán lại cho
dân, mấy nhà máy rượu ấy bỏ hèm : hèm là thứ mà dân ta dùng nuôi heo
rất tốt. Để bù vào thuế rượu, nhà nước có thể tăng thuế thân hoặc thuế
điền. Hồi đàng cựu, ai muốn nấu rượu thì cứ tha hồ, nhờ đó mà dân nhậu
thưởng thức nhiều thứ rượu nếp với hương vị độc đáo khác nhau, chẳng
khác nào rượu nho bên Pháp gồm nhiều loại. Người Hoa kiều nắm độc quyền
lập nhà máy đặt rượu nên dân chỉ thưởng thức có một thứ rượu mà thôi.
Hễ được tự do đặt rượu dân có thể tìm thứ rượu ngon theo sở thích mà
uống. Nếu nhà nước bỏ thuế rượu, sẽ có chừng 15 phần trăm dân chúng
được nhờ, họ xay nếp đặt rượu bán, lấy hèm để nuôi thêm heo; do đó, giá
thịt heo sẽ rẻ.
— Có đến 3/4 dân chúng mang tật cờ bạc.
— Mấy ông cai tổng ở Trà Vinh đã thật sự trở thành tai họa lớn cho dân.
Mỗi lần bầu cử cai tổng, nhiều người dám tốn 1000 hoặc 2000 đồng để lo
hối lộ với quan trên hoặc bày tiệc mua chuộc cảm tình trước. Tuy tốn
kém lớn nhưng trong năm đầu tiên, các ông lấy được vốn và thêm lời,
tiền thâu vô phỏng định từ 2500 đến 3000 đồng với chi tiết như sau :
* Nhận lễ vật của dân và của làng vào dịp Tết : 120 đồng.
* Nhận lễ vật của dân vào ngày mùng 5 tháng 5 : 120 đồng.
* Nhận của hương chức làng, mỗi tháng khi hương chức đến hầu là 80 đồng.
* Nhận hối lộ của hương chức khi làng lập bộ thuế đinh và thuế điền, khai thêm khai bớt cho nhẹ thuế : 300 đồng.
* Cho chứa cờ bạc, mỗi tháng thâu 50 đồng.
* Én hối lộ rải rác khi đi thăm các làng : 200 đồng.
* Bắt dân làm công nhựt, tức là làm xâu cho cá nhân : làm ruộng, phát cỏ vườn, đào mương vườn, chèo ghe thí công.
* Én hối lộ khi xử kiện, 700 đồng một năm. Ai lo tiền nhiều là thắng kiện.
* Chứa chấp bọn ăn trộm, chia tiền bạc với chúng.
* Cướp đoạt ruộng đất của dân để cho mướn lại.
lại.
* Ai muốn làm đám giỗ phải làm đơn, muốn được phép phải lo tiền.
* Bọn tay sai của cai tổng (biện, người chạy giấy) tha hồ tống tiền
hương chức, hưởng huê hồng riêng là 17 phần trăm. Bọn này trở nên giàu
có.
* Vài viên cai tổng có từ 10 đến 15 bà vợ, tất cả đều do các ông trợ cấp.
* Cai tổng thường lạm quyền, khám xét thơ từ của dân hoặc tờ trát của quan trên gởi về làng.
— Đề nghị cho các ông cai tổng đổi vùng để bớt những tệ đoan nói trên...
Mười phần thế nào cũng có tám chín hoặc hơn nữa. Đây là tiếng nói của
một viên chức thân Pháp, tuy còn máu phong kiến nhưng bất mãn, vì thực
dân đã tỏ ra “phong kiến hơn phong kiến” với hình thức giả hiệu tự do,
bình đẳng, bác ái. Đáng chú ý là chuyện cướp đoạt ruộng đất.
Trường hợp một vụ người Việt cướp đất của người Việt
Tài liệu rút từ bản báo cáo của đốc phủ sứ Trần Tử Ca, đề ngày
29/11/1869 (hai năm sau khi mất ba tỉnh miền Tây), xảy ra ở tỉnh Vĩnh
Long. Phủ Ca là người tận tụy với người Pháp, về sau bị giết ở Hóc Môn,
ấy thế mà vẫn bất bình và can thiệp không được. Người bị tố cáo là cai
tổng Nguyễn Văn Dõng thuộc tổng Bình Chánh, huyện Vĩnh Trị, tỉnh Vĩnh
Long (Vũng Liêm), năm trước loạn quân còn hăng hái hoạt động. Phủ Trực
được thực dân tinh cậy giao cho huyện này.
Tổng Dõng xin với phủ Trực cho mộ 30 người để làm lính giữ trật tự
trong vùng, nhưng lại dùng số người này để phục dịch việc riêng tư.
Bấy giờ phủ Trực cho khai con kinh tại Bưng Trường, hai bên bờ đất tốt,
phát cỏ rồi cấy là xong, khỏi cày. Phủ Trực truyền cho dân lậu ở các
làng cứ đến đó mà khẩn đất, sau ba năm thì nộp thuế, lập làng mới,
giống như thời đàng cựu. Dân lậu kéo đến làm ruộng, lập được 3 tổng,
tính hơn 20 làng (mỗi làng 10 tên dân, khẩn ruộng 20 mẫu). Một số dân
khác cũng tới con kinh này vì đất ở quê quán quá xấu, họ làm ruộng
thêm, lấy huê lợi đem về đóng thuế ruộng ở quê quán.
Vì là cơ hội để khẩn đất nên số lính mà tổng Dõng đã mộ trước kia bèn
trốn tới kinh này làm ruộng, gia nhập vào các làng mới lập. Tổng Dõng
kêu nài, phủ Trực lần sau chỉ cấp cho 5 người tùng giả, do dân làng nạp
(tùng giả là người sai vặt, cận vệ của cai tổng hoặc hương chức làng,
theo quy chế xưa, có ăn lương tượng trưng).
Tổng Dõng quá khôn, nhân cơ hội này làm đơn đến tham biện chủ tỉnh, xin
khẩn riêng đất hoang 20 mẫu (tức là diện tích quy định cho một làng),
phần đất này giáp Bình Thắng thôn (Đông), Bình Thọ thôn (Tây), Thạnh Mỹ
thôn (Nam), Long Khánh thôn (Bắc). Đơn được chấp thuận, phủ Trực đã chỉ
rõ ranh giới phần đất như trên cho tổng Dõng biết.
Vì mẹ chết nên phủ Trực nghỉ phép ba tháng, thừa cơ hội ấy, tổng Dõng
trở thành vua một cõi, từ sở đất vừa được phép khai khẩn ông ta lấn
ranh qua thôn Bình Thắng phía Đông, lấn 150 mẫu dành cho bà con bên vợ
làm.
Tổng Dõng bèn dâng đơn lên quan phó tham biện mà tố cáo : Vì có đào
kinh mới nên dân đã bỏ làng do ông vừa lập mà đi, xin quan trên ra lịnh
cho dân trở về làng cũ. Quan phó tham biện chấp thuận và cho Dõng một
tờ trát để đuổi dân. Dân mới làm ruộng đang lúc bắt mạ (gieo mạ) nên do
dự, không chịu về, Dõng bắt họ mà đóng trăng (một thứ gông làm bằng ván
khoét) và đánh đập.
Đỗ Hữu Phương (sau này là tổng đốc Phương) bấy giờ là đốc phủ sứ ở tại
chợ Vĩnh Long lo việc dẹp loạn, bèn thâu lại lịnh đuổi ấy giao cho phủ
Trực vừa mãn thời gian nghỉ phép, trở lại nhiệm sở. Bấy giờ dân làng
Bình Thắng giáp ranh đất của Dõng lại đâm đơn tố cáo Dõng về tội lấn
đất làng họ. Phủ Trực đòi Dõng tới, nhưng Dõng lánh mặt rồi đi thẳng
lên tỉnh mà tố cáo phủ Trực với phó tham biện.
Trở về, tổng Dõng khoe với dân rằng phó tham biện dạy làng Bình Thắng
phải thường cho ông ta mỗi công đất là 8 giạ lúa và 8 quan tiền; ruộng
1638 công (tức là non 150 mẫu mà Dõng đã lấn ranh) bồi thường với giá
10944 quan, năm sau đất tốt hơn, phải bồi thường đến 13680 quan.
Bấy giờ (có lẽ phủ Trực làm hậu thuẫn bên trong vì khi cho đào kinh,
ông ta đã có tham vọng chiếm đất), dân làng Bình Thắng tố cáo Dõng 13
khoản, làng Long Hội tố cáo 27 khoảng, làng An Hội tố cáo 21 khoản.
Quan tham biện giao cho phủ Ca xét xử. Phủ Ca đến huyện Vĩnh Trị, hai
làng khác tố cáo thêm. Và khi đến làng Bình Thắng lại nhận đơn tố cáo
khác. Tổng Dõng không chịu đến để giáp mặt với làng. Phủ Ca đành đến
Mân Thít (nguyên văn ghi là Mơn Thích) gặp tổng Dõng.
Cuộc điều tra của phủ Ca cho thấy rõ tổng Dõng phạm vào các tội :
Chiếm làng Bình Thắng 150 mẫu, chiếm của làng Bình Thọ hơn 100 mẫu.
Dõng còn mượn tiền bạc, lúa gạo của làng và của dân 512 quan mà không
trả. Nhưng tham biện Vĩnh Long chỉ cho phép phủ Ca xử vụ chiếm đất làng
Bình Thắng mà thôi, các khoản khác đều bỏ qua. Phủ Ca đề nghị tịch thâu
cây súng riêng của Dõng, đày Dõng lên Sài Gòn hoặc Trảng Bàng một năm
“để sửa mình”. Phủ Ca cho biết thêm là Dõng lợi dụng những người “theo
nghịch” mà Dõng tha tội cho, sau khi thông dâm với mẹ của tội nhân, và
bắt tội nhân làm đày tớ riêng. Lại còn bắt dân làm đày tớ riêng cho vợ
bé, bắt hương chức làng đóng thuế cho phần đất của anh vợ. Ai muốn được
cử hương thân, hương hào phải lo hối lộ mỗi người 5 quan, bằng không
thì đánh 40 hoặc 50 roi, và nhiều khoản khác.
Sự việc kết thúc ra sao ? Ai phải ai quấy ? Điều chắc chắn là bọn theo
Pháp thời bấy giờ giành giựt quyền lợi, ăn thua nhau và dựa vào những
gốc to là bọn Pháp. Bọn Pháp sử dụng dân bản xứ trong việc trừ nội loạn
và đồng thời cũng thích ăn hối lộ. Chỉ tội cho người dân chịu oan khổ,
nào quan tây, quan ta, tốn công khẩn hoang ; luật lệ, nghị định của các
quan Thống đốc chỉ là hình thức.
Điển hình một vụ người Pháp lập tiểu quốc ở cù lao Năm Thôn :
công ty Taillefer
Trước khi chiếm ba tỉnh miền Tây, nhà nước đã kêu gọi người Pháp nên
mua đất ruộng vì là dịch vụ có lời nhanh chóng, thí dụ như ruộng ở làng
Bình Lập (Tân An) vào 1865 mỗi mẫu (ha) đem lại lợi tức 140 quan mỗi
năm, nhưng bán chỉ có 100 quan mỗi mẫu. Thực dân tiên đoán : gạo xuất
cảng dễ và cao giá nên nhứt định giá ruộng sẽ tăng lên. Khi trước mỗi
mẫu đem lại lợi tức từ 30 đến 40 quan, nhưng từ khi hương cảng Sài Gòn
mở cho tàu buôn ngoại quốc vào, giá gạo tăng gấp bốn lần hồi đàng cựu.
Một trong những người Pháp lạc quan, táo bạo nhứt trong vụ làm ăn về
ruộng đất là Taillefer. Vốn là sĩ quan hải quân, từng tham gia chiến
trận. Ông ta xin phép nghỉ không ăn lương, dành thời giờ mà khai thác
nông nghiệp. Cha của Taillefer làm dân biểu bên Pháp, nhà giàu, có vườn
nho. Vào cuối 1864, Taillefer đệ trình với viên Tổng tham mưu quân đội
viễn chinh ở Sài Gòn một dự án. Bấy giờ là giai đoạn quân sự nên nhà
binh nắm rất nhiều quyền hạn. Taillefer muốn dẫn thủy nhập điền để làm
ruộng mỗi năm hai mùa, nhờ đó mà mức sản xuất lúa gạo sẽ tăng gấp đôi.
Kinh Bảo Định (nối từ chợ Tân An đến chợ Mỹ Tho, Vàm Cỏ Tây đến Tiền
Giang) có thể chọn làm địa điểm, kế hoạch tiến hành như sau :
— Đắp đập chận hai đầu kinh này, lấy nước ngọt tát lên ruộng, dùng 3
máy chạy bằng hơi nước (mỗi máy 50 mã lực); chạy mỗi ngày 12 giờ là tát
được 486000 thước khối.
— Mỗi mẫu tây chỉ cần 1000 thước khối nước là đủ làm ruộng. Nếu trừ hao
nước bốc hơi là 10 phần trăm, cứ 10 ngày, máy chạy 1 lần là đủ. Ai có
đất hai bên bờ kinh thì cứ đào mương mà hứng nước vào ruộng, trả lại
cho công ty mỗi mẫu và mỗi mùa lúa là 100 quan.
— Việc tát nước vào mùa nắng giúp mỗi năm làm được hai mùa, nước dưới
rạch tát lên có sẵn phù sa là thứ phân quá tốt, dân khỏi tốn tiền mua
phân bón ruộng. Lần hồi sẽ khai thác thêm, áp dụng cách tát nước bằng
máy này khắp cánh đồng bao la giữa Cao Miên và Sài Gòn !
Thoạt tiên, kế hoạch được chú ý, nhà cầm quyền nhờ các viên tham biện
tìm thử ở Trảng Bàng, Tây Ninh hoặc Mỹ Tho một sở đất liền lạc rộng
khoảng 1000 mẫu để thực thi, nhưng tìm không ra.
Kế hoạch đẹp đẽ trên giấy tờ bị dẹp qua. Nhưng Taillefer không thối
chí. Khoảng 1866, lại lập một công ty lấy tên là công ty Trồng Tỉa và
Dẫn Thủy ở Nam kỳ, hoạt động chừng 5 năm là phá sản luôn, gây bao nhiêu
thắc mắc cho nhà nước. Taillefer muốn lập một tiểu quốc ở cù lao Năm
Thôn (Mỹ Tho) trên Tiền giang mà ông ta chiếm trọn, (ngoài ra, còn khẩn
đất ở Tân An 189 mẫu đất, lập một đồn điền khác).
Đất ở Tân An và ở cù lao Năm Thôn mà Taillefer trưng khẩn không phải là đất hoang, nhưng là giựt của dân.
Vốn của công ty là 300 000 quan.
Cù lao Năm Thôn là vùng trù phú nhứt nhì của sông Tiền giang, khai khẩn
từ hồi chúa Nguyễn, nổi danh nhờ huê lợi ruộng, trồng cau dừa, trồng
dâu nuôi tằm. Trước khi thực dân đến, đã lập xong 5 thôn (vì vậy mà gọi
là Năm Thôn). Cù lao bỏ hoang vì dân chạy giặc (nên nhớ đây là vùng sát
bên Cái Bè, nơi Tổng đốc Lộc trấn đóng). Mãi đến 6 năm sau, chỉ có 8
gia đình trở về xin lãnh phần đất mà trước kia họ làm chủ, viên tham
biện cho phép. Số đất được dân nhìn nhận trở lại có 36 mẫu mà thôi.
Taillefer đến, thoạt tiên trưng khẩn một lô 300 mẫu tây, nhà nước cấp
cho bằng khoán. Rồi xin khẩn trọn cù lao nhưng nhà nước đưa ra giá quá
cao nên việc không xong. Khi làm bá chủ phần lớn cù lau này (trong thực
tế là chiếm trọn), Taillefer đến gặp số người đã hồi cư, họ hứa sẵn
sàng bán đất cho y (36 mẫu vừa kể trên) sau khi họ có bằng khoán. Tạm
thời, họ sẵn sàng mượn tiền của công ty để làm ăn. Lẽ dĩ nhiên công ty
hài lòng, muốn làm ruộng mà thiếu dân thì sao thực hiện được. Điều đáng
chú ý là trước khi cấp cho Taillefer lô đất to này, nhà nước đã niêm
yết suốt ba tháng trong tỉnh Mỹ Tho nhưng mấy người chủ đất cũ chẳng ai
ra tranh cản (không dám tranh cản thì đúng hơn).
Taillefer trở nên hống hách, công khai tuyên bố rằng cù lao này thuộc
trọn quyền sở hữu của y, dân ở trên cù lao bị đối xử như tá điền, như
cu—li. Lại còn quả quyết rằng nhà nước không được quyền lập lại làng
xóm như thời đàng cựu, vì lập làng là phải bớt ra mộ số đất để làm công
điền.
Việc bóc lột bắt đầu. Trước tiên, lập một nhà máy xay lúa. Để có đủ lúa
cung cấp cho nhà máy hoạt động, y bèn mua lúa đứng (lúc lúa gần chín)
của dân trên cù lao, với giá rẻ. Đây là hình thức cho vay gọi là “cho
bạc lúa”. Lại còn cho vay bạc ăn lời với tỷ lệ lời cao, không thua mấy
ông điền chủ thời đàng cựu (50 phân một năm). Và cho vay cắt cổ : một
người nọ vay nợ 250 quan, phải trả vốn và lời trong 5 tháng với tiền
lời 50 phần trăm. Đồng thời con nợ phải ký giấy để cố miếng đất trị giá
1000 quan, không trả được số bạc nói trên thì phải chịu mất đất.
Taillefer còn mơ ước viễn vông là loại bỏ trung gian Huê kiều trong
việc mua lúa. Y cho người đem tiền đến các chợ phụ cận mua lúa về, với
triển vọng là sẽ mua ghe chài mà chở lên Sài Gòn, bán thẳng ra ngoại
quốc sau khi xay tại cù lao. Từ cù lao Năm Thôn, y dòm ngó qua Sóc
Trăng, toan cạnh tranh mua lúa ở Hậu giang và lập chành trữ lúa, lại
yêu cầu quan tham biện Sóc Trăng cho bắt dân địa phương làm xâu để cất
chành lúa tại chỗ thí công cho y, nhưng đơn bị bác bỏ.
Y nhập cảng thẳng từ bên Pháp một số nồi niêu, soong chảo, vải bô, khăn
mu soa, luôn cả rượu chát (do gia đình bên Pháp sản xuất) để bắt buộc
dân trong cù lao mua lại hoặc đổi lúa mà họ canh tác được. Đây là bắt
chước người Hoa kiều dùng hàng hóa đổi lúa, nhưng hàng hóa của y đổi
lại không có giá trị thực tiễn đối với dân.
Thấy việc làm ruộng không được khả quan như dự định, bèn đặt kế hoạch
trồng cây va—ni để chế bột thơm gia vị, trồng bông vải, trồng dâu nuôi
tằm, trồng mía.
Hằng ngày, áp dụng chế độ cai trị riêng : sáng và chiều, cho đánh
trống, các gia trưởng trong đám tá điền phải tập họp để điểm danh, như
ở trại lính. Dân trên cù lao chỉ phải đóng địa tô cho y và khỏi đóng
thuế cho bất cứ ai cả. Khi gặp chuyện thắc mắc, y viết giấy đòi dân tới
văn phòng mà khoát nạt, tự xưng là “ông quan ba”, ai làm sái quấy cứ
phạt tiền và phạt vài chục roi, như quan thời đàng cựu.
Đến năm 1868, theo lời y, dân thêm đông đảo, già trẻ bé lớn chừng 1200
người. Y cho lập hai làng, canh tác chừng 250 mẫu, những làng này không
được quyền có đất công điền.
Nhưng việc gì phải đến lại đến. Vào năm 1868, mùa màng thất bát, đa số
dân trên cù lao trốn qua đất liền mà ở để giựt nợ; những người lãnh
tiền để mua lúa cung cấp cho nhà máy xay cũng biệt tích.
Y làm đơn thưa với tham biện và tòa án Mỹ Tho, nhờ xét xử bọn giựt nợ
và bọn không chịu đong lúa ruộng. Trong thời gian khai thác cù lao, y
tỏ ra hách dịch, khinh thường bọn quan lại người Pháp ở địa phương nên
đây là dịp tốt để họ trả thù : những con nợ đều được xử trắng án, vì y
đã ăn lời quá cao hơn luật định. Y làm đơn thưa với Thống đốc Nam kỳ,
nhưng viên chức đi điều tra bèn tố cáo ngược lại. Y tự biện hộ rằng cho
vay nặng lời là để bù trừ những vụ giựt nợ. Y ăn hiền ở lành, vì nếu ác
độc thì đã bị dân nổi loạn giết rồi ! Y khoe khoang đã phát thuốc thí,
giúp dân chúng bớt bịnh hoạn. Theo y, phải dùng biện pháp mạnh đối với
dân bổn xứ vì họ là bất hảo.
Sau cuộc điều tra, nhà cầm quyền cho phép lập trở lại trên cù lao 5
làng như trước, với công điền. Taillefer nổi giận cho rằng người “An
Nam” nhờ y giúp đỡ lập nghiệp, nay lại muốn đuổi y ra khỏi cù lao thay
vì mang ơn.
Rốt cuộc công ty phá sản, vì nhà nước thực dân không muốn dung túng
trường hợp lập tiểu quốc mà tư nhân kinh doanh nắm trọn quyền về quân
sự, hành chánh và tư pháp. Về nhân tâm, chính Taillefer cũng nhìn nhận
là có một số tá điền giựt nợ rồi trốn đi làm ăn cướp hoặc theo phiến
loạn.
Người vui mừng nhứt khi thấy công ty phá sản là tổng đốc Lộc. Lộc thèm
thuồng cù lao phì nhiêu này từ lâu nhưng không dám tranh giành. Lộc
liền mua đấu giá phần đất của Taillefer khẩn (dân ở cù lao thời đàng
cựu phải chịu mất đất luôn). Lộc chết, giao lại cho con là Trần Bá Thọ,
và Thọ lại tự tử vì khai thác lỗ lã lúc sau này trên cù lao. Chương 2 - 2
Khái quát về việc khai khẩn thời Pháp thuộc ở Nam Kỳ
Sau đây vài con số, gọi là để chỉ dẫn lúc người Pháp cai trị đến cuối
năm 1929, rút phần lớn từ tài liệu do viên chức Pháp soạn ra. Lúc bấy
giờ, việc thống kê đã tương đối chính xác, ranh giới các tỉnh đã cố
định, chỉ trừ giai đoạn sơ khởi. Tuy nhiên, có nhiều việc ghi trên giấy
tờ, trên nghị định nhưng không áp dụng đúng mức hoặc bị méo mó (trường
hợp những nghị định cho khẩn đất, trường hợp Nhà Băng Canh nông cho
vay), hoặc những báo cáo chánh thức căn cứ vào tài liệu do hương chức
thời xưa sưu tầm về dân số, sản lượng.
— Dân số vào năm 1873 : 1 500 000 người.
Đất đã khai thác : 600.000 mẫu tây làm ruộng và 90.000 mẫu tây vườn tược, hoa màu phụ (dừa, cau, thuốc, mía, bắp...)
— Dân số vào năm 1929 : 4.500.000 người (tăng gấp ba lần).
Đất đã khai thác : 2.440.000 mẫu tây làm ruộng và 170.000 mẫu trồng
bắp, mía, dừa, thuốc, đậu... (trong số này kể luôn 87.000 mẫu trồng cây
cao su). Ngoài ra, còn vườn cây ăn trái từ 12.000 đến 15.000 mẫu.
Như vậy riêng về ruộng nương, diện tích tăng gấp 4 lần, sau khoảng 60 năm thực dân cai trị.
— Đường giao thông vào năm 1929 :
Quốc lộ (gọi là lộ Đông Dương) : 1.013 km
Liên tỉnh lộ : 1.083 km
Tỉnh lộ 1.728 km
Tổng cộng : 3.824 km, ngoài ra còn 3.243 km hương lộ xấu và nhỏ, lắm khi mùa mưa không dùng được.
— Kinh đào (kinh xáng múc hoặc đào tay) : 1.664 km
Miền Đông Nam kỳ đất cao, nhiều rừng, là khu vực đa canh. Miền Tây Nam là khu vực độc canh.
Đất miền Đông đại khái chia ra 150.000 mẫu làm ruộng, hơn 80.000 mẫu
trồng cao su, 7.5000 mẫu trồng mía, 800 mẫu vườn tược, đậu, thuốc
(trong tỉnh Gia Định), 600 mẫu trồng gòn ở Thủ Dầu Một, 450 mẫu trồng
cà phê (trong đó 300 mẫu ở Thủ Dầu Một), lại còn vài vườn tiêu ở Bà Rịa.
Đất miền Tây Nam dành ưu tiên cho ruộng lúa, chiếm khoảng 2.400.000 mẫu
trong tổng số đất có trồng tỉa của miền này là 2.460.000 mẫu, tức là 97
% diện tích trồng trọt, ngoài ra nên kể thêm khoảng 20.000 mẫu vườn cây
ăn trái.
Ruộng lúa miền Tây Nam đứng hàng đầu, chiếm 92 % diện tích trồng tỉa
của Nam kỳ, và là 37 % diện tích của toàn lãnh thổ Nam kỳ. Mức sản xuất
ước định như sau :
Mùa 1924—1925 : 22.270.000 quintaux
Mùa 1925—1246 : 19.900.000
Mùa 1926—1927 :
Mùa 1927—1928 : 28.239.500
Mùa 1928—1929 : 21.500.000
Tính đổ đồng, mỗi người ăn từ 175 đến 219 kg mỗi năm, ngoài ra còn dùng
để nấu rượu, nuôi gia súc. Số dư đem xuất cảng. Lúc trước Miến Điện là
nước xuất cảng lúa đứng đầu thế giới nhưng từ năm 1925, Nam kỳ lại dẫn
đầu. Gạo Nam kỳ kém phẩm chất hơn gạo Miến Điện vì quá nát, nhiều tấm.
Về cao su, tuy phát triển mạnh nhưng chỉ có 1,9 % của tổng số sản xuất trên thế giới.
Năng xuất lúa còn kém, đất tốt thâu hoạc 1.600 kg lúa mỗi mẫu, đất
trung bình và đất xấu từ 400 kg đến 600 kg, thua xa các nước khác. Lúc
bấy giờ, ở các tỉnh miền Hậu giang chưa biết phân hóa học là gì.
Ảnh hưởng của kinh đào
Trước khi Pháp đến, những vùng thuận lợi có sông rạch đều làm ruộng
rồi. Trong thời cai trị của người Pháp, có thêm hai việc lớn :
— Đào kinh thêm ở những nơi có thể làm ruộng được, tạo đường giao thông chuyên chở, rút bớt nước lụt, rút bớt phèn.
— Vài giống lúa sạ được canh tác có kết quả ở những nơi mực nước lụt quá cao là loại lúa thường (lúa cấy) không sống nổi.
Việc đào kinh cứ gia tăng từ năm 1880 :
1880—1890 đào 2.110.000 thước khối đất. Năm 1890, diện tích ruộng là 932.000 mẫu, tăng 169.000 mẫu, so với thời đàng cựu.
1890—1900 đào 8.106.000 thước khối. Năm 1900, diện tích ruộng là 1.212.000 mẫu, tăng 280.000 mẫu so với năm 1890.
1900—1910 đào 27.491.000 thước khối đất. Năm 1910, diện tích canh tác là 1.542.000 mẫu, so với năm 1900, tăng 331.000 mẫu.
1910—1920 đào 66.104.000 thước khối đất. Năm 1920, diện tích canh tác
là 1.953.000 mẫu, tức gia tăng 410.000 mẫu so với năm 1910.
1920—1930 đào 72.042.000 thước khối. Diện tích canh tác năm 1930 là 2.452.000 mẫu, so với năm 1920, tăng thêm 499.000 mẫu.
Nhìn qua thì thập niên đầu (1880—1890) đến thập niên chót, số thước
khối đất phải đào để khẩn thêm một mẫu ruộng là 12 thước khối, rồi tăng
lên đến 28, đến 83, rồi phải 161, đến mức 144 thước khối.
Như vậy có nghĩa là trong tổng quát, càng ngày việc đào kinh càng tốn
kém hơn. Năm 1890, muốn khai thác một mẫu đất mới, chỉ cần đào 12 thước
khối. Năm 1930, muốn khai thác thêm một mẫu đất phải đào đến 144 thước
khối, hơn 10 lần.
Hiện tượng trên đây có thể giải thích :
— Trước khi người Pháp đào kinh xáng đã có một số đất ruộng khá tốt, có
năng xuất cao sẵn rồi, không đào thêm một thước khối đất nào nữa thì
cũng có dư lúa để bán ra ngoài.
— Diện tích đất hoang chỉ có giới hạn, càng đào kinh thì diện tích ấy càng thu hẹp lại.
— Tới mức chót, có đào thêm kinh nơi đất quá xấu thì diện tích ruộng
canh tác cũng không tăng bao nhiêu. Người khẩn đất không thích đến, làm
ăn thưa thớt, không như trong đợt đầu tiên đào kinh qua vùng đất tốt.
Hơn nữa, việc sản xuất lúa gạo đòi hỏi nhiều yếu tố khác, ngoài yếu tố
thuần túy kỹ thuật : vay mượn vốn để làm mùa, quy chế cho trưng khẩn,
giá cả trên thị trường quốc tế.
Tính đến năm 1930 thì những tỉnh có đất phù sa tốt như Bến Tre, Chợ
Lớn, Gia Định, Gò Công, Mỹ Tho, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng
đã khai thác xong, kể luôn những phần đất giồng ở Long Xuyên, Châu Đốc,
Tân An, Sa Đéc. Trong các tỉnh này chỉ còn lại chừng 150.000 mẫu đất
chưa trồng tỉa ở vùng Đồng Tháp, vùng Láng Linh và phụ cận tỉnh lỵ Hà
Tiên là nơi đất quá phèn.
Từ năm 1880, các tỉnh trù phú như Bến Tre, Chợ Lớn, Gia Định, Gò Công,
Mỹ Tho, Trà Vinh, Vĩnh Long đã khai thác xong trên diện tích hơn phân
nửa diện tích canh tác vào năm 1929, tức là ở các tỉnh nói trên việc
khẩn hoang xúc tiến rất chậm, trong khoảng 50 năm người Pháp cai trị
chỉ tăng chừng 40 %.
Cũng từ năm 1880, các tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, Tân An, Hà Tiên, Sa
Đéc tính đến năm 1929, tăng thêm 3/4 so với diện tích canh tác cũ, đối
với các tỉnh Sóc Trăng, Cần Thơ thì tăng 2/3.
Khi mới chiếm cứ, thực dân chỉ chú trọng vào phần đất tốt, đông dân, có
sẵn đường giao thông ở miền Tiền giang. Các tỉnh này xem như giải quyết
xong từ năm 1910 tổng số là 651.000 mẫu, đến năm 1930 tổng số là
705.000 mẫu.
Từ năm 1910 trở về sau, thực dân mới chú ý các tỉnh ở xa, hoặc đất xấu
hơn thuộc Châu Đốc, Long Xuyên, Tân An, Sa Đéc, phía Đồng Tháp. Diện
tích đã canh tác ở các tỉnh nói trên cộng lại như sau :
1910 241.000 mẫu
1920 399.999 mẫu
1930 534.000 mẫu
Các tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng cũng phát triển từ năm 1910 về sau :
Cần Thơ
1910 132.000 mẫu
1920 202.000 mẫu
1930 205.000 mẫu
Sóc Trăng
1910 176.000 mẫu
1920 188.000 mẫu
1930 212.000 mẫu
Việc đào kinh đã thúc đẩy công tác khai khẩn ở hai tỉnh Cần Thơ và Sóc
Trăng từ năm 1890 đến 1920. Riêng về tỉnh Cần Thơ, khoảng 1900 đến
1920, có hơn 350 km kinh đào thêm nối qua Rạch Giá và Sóc Trăng.
Lúa sạ giúp khai thác phần đất bấy lâu bỏ hoang, nhờ đó mà Châu Đốc có thêm 90.000 mẫu, Long Xuyên 47.000 mẫu (năm 1929).
Trường hợp đặc biệt ở Bạc Liêu, Rạch Giá
Đây là khu vực nhờ đào thêm kinh mà diện tích canh tác gia tăng với
những con số hùng biện nhứt. Đời Tự Đức, ít ai chịu tới làm ăn, lý do
chánh là đất quá phèn, đường giao thông chuyên chở khó khăn và quá xa
Sài Gòn. Hầu hết mấy con sông lớn vùng này đều đổ ngược qua phía vịnh
Xiêm La.
Mãi đến năm 1897 (trường hợp Bạc Liêu) và năm 1916 (trường hợp Rạch
Giá) mới có đường xe nối liền với Sài Gòn, trong khi đường xe lửa Sài
Gòn, Mỹ Tho đã có từ năm 1883. Việc đào kinh xáng giúp các vùng Bạc
Liêu và Rạch Giá bán lúa nhanh và có giá hơn trước, đồng thời đất ráo
phèn, nước bớt sâu dễ cày cấy hơn. Diện tích canh tác của hai tỉnh này
gia tăng như sau :
1880 20.000 mẫu
1890 83.000 mẫu
1900 136.000 mẫu
1910 265.000 mẫu
1920 405.000 mẫu
1930 600.000 mẫu
Ruộng hai tỉnh này chiếm 1/4 trong tổng số diện tích làm ruộng của toàn cõi Nam kỳ.
Ngay khi vừa đào xong những con kinh đầu tiên, dân tứ xứ tới cất nhà,
làm ruộng mà nhà nước khỏi cần giúp đỡ về vốn liếng, gia súc, hoặc cây
lá gì cả. Họ đến cánh đồng bao la giữa Hậu giang và vịnh Xiêm La, mạnh
ai nấy chiếm, nấy cấm ranh. Chỉ trong 3 năm (1927—1930) họ tự động
chiếm 17.000 mẫu. Việc chiếm hữu này xảy ra :
— Do những nông dân nghèo ở các tỉnh miền trên đến lập nghiệp. Họ muốn làm chủ phần đất tương đối đầy đủ để nuôi sống gia đình.
— Do những người đem vốn lớn từ các tỉnh khác đến, họ mướn dân địa
phương cắm ranh, khẩn hoang đợt đầu tiên cho họ rồi họ gom lại, trở
thành đại điền chủ.
Rồi tình trạng hỗn loạn, tranh chấp, tham nhũng lại xảy ra. Nhiều người
có uy thế, nhìn xa và rành luật lệ đã nộp đơn tại Sài Gòn xin trưng
khẩn, vì trên bản đồ những phần đất này vô chủ. Khi thấy đất khai thác
xong, bắt đầu có huê lợi thì họ đến địa phương để tranh chấp với những
người thật sự khai khẩn (nhưng không có giấy tờ).
Nhà nước phàn nàn rằng dân đã tự động chiếm đất công thổ, không có cách
gì ngăn được. Nhưng một số thân hào nhân sĩ, hội đồng, cai tổng hoặc
đại điền chủ ở những tỉnh khác thì lại vui mừng vì rốt cuộc, những vùng
đất này rơi vào tay họ. Một số người Pháp cũng lợi dụng tình thế để lập
đồn điền. Nhà nước lại xúc tiến việc đạc điền, để ghi vào bộ và đánh
thuế. Dân địa phương nổi lên tranh chấp, ngăn cản những kẻ chiếm đoạt
đang mướn chuyên viên đến đo đạc. Hoặc dân địa phương dùng khí giới bén
mà ngăn chận những người tự xưng là “chủ đất hợp pháp” đến đòi thâu lúa
ruộng. Hoặc họ tự đứng đơn tập thể, kéo nhau đến Tòa bố (tòa Hành chánh
tỉnh) để ngồi lì, hoặc tự vệ một cách tuyệt vọng.
Luật lệ về trưng khẩn
Nhiều luật lệ về trưng khẩn đất ruộng ra đời, ban đầu thể thức dễ dãi,
lần hồi thì siết lại thêm khó khăn. Xin lược kê những nghị định căn
bản, với nét chánh :
— Những nghị định năm 1864, 1871 và 22/8//1882 : ngoại trừ những đất đã
canh tác rồi hoặc đất thổ cư (đặc biệt là đất thổ cư ở Sài Gòn, Chợ
Lớn) thì đất công thổ cho trưng khẩn không, tức là không bán lại bằng
tiền. Muốn khẩn thì làm đơn, ghi diện tích, ranh giới, rồi đóng thuế.
Những nghị định trên không nêu điều kiện là bắt buột người trưng khẩn
phải khai thác, không được bỏ đất hoang (về sau, nghị định 15/10/1890
bổ túc chi tiết này). Tham biện chủ tỉnh được quyền cho trưng khẩn
những sở đất nhỏ dưới 20 mẫu (nghị định 9/6/1886 rút lại còn 10 mẫu).
— Nghị định 15/10/1890 bắt buộc phải canh tác trong thời gian là 5 năm
cho xong và định rằng nhà nước có quyền lấy lại đất khi có nhu cầu công
ích (đào kinh, đắp lộ...)
— Nghị định 10/5/1893 định rằng đất trưng khẩn không được ăn dài theo
mé kinh, mé sông rạch quá 1/4 của chu vi sở đất (tránh trường hợp người
tham, chỉ khẩn đất phía mặt tiền kinh rạch, đất mặt tiền thì luôn luôn
có giá hơn đất ở hậu bối).
— Nghị định 27/1/1896 quy định những lố đất đã xin tạm khẩn mà người
thừa kế không nhận làm chủ, trường hợp đất quá xấu, thì phải hoàn trả
lại để nhà nước ấp cho kẻ khác.
— Nghị định 13/10/1910 lần đầu tiên quy định đất công thổ được tư nhân
trưng khẩn phải bán theo giá thuận mãi, đặc biệt là đất trồng cao su.
Nhà nước chánh thức bán đất công thổ cho dân.
Nghị định của phủ toàn quyền ngày 27/12/1913 và của Thống đốc Nam kỳ
ngày 11/11/1914 định rằng đất ruộng chỉ cấp với điều kiện là đem đấu
giá công khai hoặc theo thể thức thuận mãi. Không bao giờ cấp cho không
(khỏi mua) những sở đất trên 300 mẫu như trước kia đã làm. Việc trưng
khẩn đất trên 1.000 mẫu phải do phủ Toàn quyền Đông Dương cho phép.
— Nghị định của phủ Toàn quyền ngày 26/11/1918 bổ túc nghị định
27/12/1913 : những người trong một gia đình chỉ có thể xin cấp cho
không (khỏi mua) một lần dứt khoát tối đa là 300 mẫu mà thôi. Chỉ có
thể xin cấp cho không một lần thứ nhì là 300 mẫu, nếu đã canh tác xong
ít nhất là 4/5 của sở đất cấp cho không lần trước. Và đương sự không
được quyền xin cấp cho không một lần thứ ba.
— Nghị định 4/10/1928 quy định chặt chẽ việc khẩn đất, tuyệt đối cấm
không được chiếm đất công thổ theo kiểu tiền trảm hậu tấu, làm ruộng
rồi sau đó mới khai xin vào bộ. Cũng vì nghị định này mà số người xuống
Rạch Giá, Bạc Liêu để lập nghiệp phải giảm bớt, họ chẳng còn cơ hội
khai khẩn nơi nào họ thích, dành quyền ưu tiên như trước kia.
— Nghị định 25/6/1930 quy định những vùng còn cho phép và những vùng
không còn cho phép trưng khẩn. Đại khái, sau khi áp dụng nghị định này
thì chỉ có khoảng 150.000 mẫu ở Bạc Liêu và 80.000 mẫu ở Rạch Giá là
còn được phép cho trưng khẩn mà thôi, lẽ dĩ nhiên, chỉ còn loại đất
phèn, đất nước mặc quá thấp và xấu, thiếu kinh thoát thủy.
Hậu quả của những nghị định trên là tạo ra một thực tế bi đát. Người
Pháp cho rằng họ cố ý phát triển chế độ tiểu điền chủ mà thôi nhưng
trong thực tế, đại điền chủ lại phát triển.
Luật định rằng những phần đất 10 mẫu mà tham biện chủ tỉnh có quyền cấp
phát (gọi nôm na là đất công nghiệp) không được phép bán trong thời
gian tạm khẩn, chỉ 3 năm sau khi chánh thức làm sở hữu chủ, chủ đất mới
được bán cho người khác. Nhưng thực dân lại cố ý dung túng việc cho vay
nặng lời, khiến người tiểu điền chủ không đủ vốn canh tác mang nợ, vốn
lời chồng chất đến mức giao phần đất công nghiệp của mình cho kẻ khác
để trừ nợ.
Một số viên chức thực dân đã bào chữa cho rằng chế độ đại điền chủ ở
Nam kỳ, đặc biệt là ở các tỉnh miền Tây lần hồi tự nó suy sụp : về lâu
về dài, không còn đất trống để khẩn thêm và gia đình người đại điền chủ
lại đông con, đất chia ra mãi đến đời cháu nội thì chỉ còn là từng mảnh
nhỏ !
Nhà nước có tổ chức những nhà băng Canh nông nhưng trong thực tế chỉ
một số nhỏ điền chủ vay được, họ đem về cho tá điền vay lại với tiền
lời cao hơn. Người Chà Chetty cũng cho vay với tiền lời theo luật định
(năm 1930, phỏng định họ cho điền chủ Nam kỳ vay khoảng 30 triệu đồng)
nhưng người được vay phải chịu tiền lời cao, trên giấy tờ ghi đã nhận
một ngàn đồng mà thật sự chỉ nhận có 900.
Điền chủ cỡ nhỏ, luôn cả điền chủ cỡ lớn thường thích vay bạc lúa (lấy
bạc lúa) của thương gia Hoa kiều vì thủ tục giấy tờ gần như không có,
lấy tiền rồi đến mùa thì đong lúa trả lại. Thương gia Huê kiều đưa tiền
ra mua lúa khi chưa tới mùa, với giá rất thấp so với giá thị trường lúc
gặt hái. Họ thâu lợi nhiều nhưng họ khéo đối xử với chủ điền. Tùy giá
thị trường do họ tiên đoán, tùy sản nghiệp của ông điền chủ (con nợ),
tùy sự tín nhiệm trong quá khứ mà họ cho vay nhiều hay ít. Nét đặc biệt
là trong việc cho vay này là nếu con nợ giựt thì họ không cho vay nữa,
gần như chẳng khi nào họ truy tố hoặc nhờ pháp luật tịch thu đất đai.
Trường hợp vay tiền của Chà Chetty hoặc của nhà băng Canh nông thì trái
ngược lại : ăn lời rất ít nhưng khi thất hẹn thì đất đai bị tịch ký.
Về địa tô (lúa ruộng) thì giống như thời đàng cựu, thực dân Pháp không
đưa ra luật lệ nào cả, chủ điền cứ thỏa thuận với tá điền. Giá biểu địa
tô cao thấp tùy theo đất tốt xấu, tùy theo “lòng nhân đạo” của chủ
điền. Nhưng ta có thể nắm lấy nguyên tắc : chủ điền đã tính toán thật
kỹ để đến khi lúa chín, bằng mọi cách, họ thâu 80 % sản lượng mà tá
điền gặt hái được. Tá điền chỉ còn đủ lúa để mua sắm quần áo, ăn chơi
trong mấy ngày Tết, ra giêng là bắt đầu vay nợ mới. Nhiều chủ điền tỏ
ra nhân đạo, thâu địa tô rất thấp nhưng bắt buộc tá điền phải vay thêm
tiền mặt và lúa để ăn với tỷ lệ lời quá cao.
Xin miễn đề cập đến việc tổ chức cho vay của nhà nước vì bấy giờ trong
thực tế, người điền chủ bực trung không hưởng gì ráo. Cũng như xin bỏ
qua việc khuyến nông, việc nghiên cứ về kỹ thuật trồng tỉa, cùng cách
tổ chức quan sát khí tượng mà trên báo cáo về mặt chính quyền thì rất
“tiến bộ”, đầy đủ. Vào năm 1930, chừng 30 máy cày trong vòng thí nghiệm
ở các điền của người Pháp. Lưỡi cày, vòng gặt, nọc cấy, cây bừa cào,
cách thức trị định trâu bò nếu được cải tiến chút ít so với thời Tự Đức
thì hoàn toàn do người Việt bày ra mà thôi.
Trong tổng số đất đai trồng tỉa ở Nam kỳ là 2.700.000 mẫu, người Việt
đứng tên làm chủ được chừng 2.400.000 mẫu, tức là 8/9 diện tích. Trong
đất đai trồng tỉa, nên chia ra :
— Đất trồng cao su : 80.000 mẫu của người Pháp, người Việt chỉ có 5.300 mẫu.
— Đất làm ruộng : người Pháp đứng bộ 243.000 mẫu tức là hơn 1/10 diện
tích tổng quất trồng lúa, con số này kể luôn đất của người Việt nhập
Pháp tịch ; người Pháp chánh gốc đứng bộ khoảng 150.000 mẫu.
Các bảng thống kê nêu con số hơi khác nhau về chi tiết, nhưng đại để
các tỉnh Rạch Giá, Bạc Liêu, Cần Thơ là nơi tập trung đại điền chủ vì
là đất mới.
Vựa lúa miền Nam thành hình trong hoàn cảnh mới
Đời Gia Long, vùng sản xuất lúa gạo nhiều nhứt của đất Gia Định nói chung là vùng Gò Công, thuộc trấn Định Tường.
Khi người Pháp đến, trung tâm điểm của vựa lúa di chuyển lần hồi về
miền Tây Nam. Muốn có lúa gạo thặng dư để xuất cảng, cần hai điều kiện :
— Diện tích canh tác rộng.
— Dân số địa phương ít, mức tiêu thụ tại chỗ không cao.
Sau đây là vài con số về diện tích canh tác của từng tỉnh. Thời Pháp
thuộc, việc phân chia ranh giới các tỉnh không đồng đều, tỉnh thì quá
lớn, tỉnh thì quá nhỏ. Số lượng đất đai chỉ là chỉ dẫn, vì đất tốt xấu
khác nhau.
Năm 1873 :
Chợ Lớn 37.340 mẫu (tỉnh Chợ Lớn gồm Cần Đước, Cần Giuộc là nơi sản xuất lúa tốt và nhiều)
Mỹ Tho 34.238
Vĩnh Long 28.784
Gò Công 28.146 (Gò Công là tỉnh có diện tích tổng quát rất nhỏ nhưng
đứng hạng tư về đất canh tác, tức là vẫn còn giữ vị trí bực nhứt).
Năm 1900 :
Sóc Trăng 158.439 mẫu (đứng đầu Nam kỳ)
Cần Thơ 124.588
Trà Vinh 120.419
Mỹ Tho 91.748
Năm 1930 :
Rạch Giá 358.900 mẫu (đứng đầu Nam kỳ)
Bạc Liêu 330.030
Sóc Trăng 212.909
Cần Thơ 205.000
Long Xuyên 186.049 (đa số lúa sạ, gạo xấu)
Mỹ Tho 154.662 (dân đông đúc, một phần lúa sạ phía Đồng Tháp)
Trà Vinh 152.000
Theo P. Bernard, mấy tỉnh Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà
Vinh là vựa lúa thật sự của Nam kỳ để xuất cảng. Năm tỉnh nói trên gồm
966.000 mẫu ruộng, những năm bình thường cung cấp hơn phân nửa tổng số
lúa xuất cảng của Đông Dương. Các tỉnh ấy xuất cảng 986.000 tấn. Dân số
trong hiện tại (ở các tỉnh vừa kể, khoảng năm 1930) phỏng chừng
1.130.000 người, tính đổ đồng mỗi mẫu ruộng là 1,15 người và mỗi mẫu
ruộng xuất cảng được một tấn.
Theo bác sĩ Trần Như Lân thì buổi bình thường trước khi xảy ra kinh tế
khủng hoảng, Nam kỳ và Cao Miên mỗi năm xuất cảng 1.300.000 tấn gạo;
trong số này có 200.000 tấn gạo của vùng Battambang (Cao Miên) và
900.000 tấn của miền Hậu giang.
Nhiều tài liệu đề cập đến việc đào kinh xem là yếu tố quan trọng để vựa
lúa thành hình với các chi tiết kỹ thuật. Xin ghi lại vài nét chánh :
— Vùng Cần Thơ đào từ 1890 đến 1900 : kinh Trà ết, kinh Xà No, kinh
Long Mỹ, Bassac (gọi nôm na là kinh Lái Hiếu); từ 1900 — 1920 : kinh
Thốt Nốt qua Giồng Riềng, kinh Thới Lai, Ô Môn, Xuân Hòa, Phong Điền,
Cái Răng, Trà Lồng, kinh Cái Vồn...
— Vùng Sóc Trăng : đào từ 1890 — 1900 : kinh Bocquillon, kinh
Saintenoy...; từ 1900 — 1920 : kinh Phụng Hiệp, Sóc Trăng (1905), kinh
Maspéro (1911), kinh Cái Trầu (1914—1917), kinh Quan lộ, Nhu Gia
(1925), kinh Cái Trầu qua Chàng Ré (1917), kinh Nàng Rền (1911), kinh
Tiếp Nhựt (1911)...
Một phần lớn kinh do xáng đào từng chặn, sửa chữa nới rộng và vét tới
vét lui nhiều lần; một số kinh thì đào tay, bắt dân làm xâu. Tỉnh Rạch
Giá được ảnh hưởng tốt nhờ mấy con kinh đào từ Cần Thơ và Sóc Trăng ăn
qua.
Để nhiên cứu vựa lúa Hậu giang cũng là vựa lúa quan trọng của Nam kỳ và
Việt Nam, chúng tôi chọn ba tỉnh Rạch Giá, Bạc Liêu và Cần Thơ.
Rạch Giá và Bạc Liêu là hai tỉnh rất mới mà việc khai khẩn vẫn chưa
hoàn tất mãi đến khi người Pháp rời xứ Nam kỳ. Nghiên cứu hai tỉnh này,
ta thấy rõ việc làm của người Pháp và những nét đặc biệt của vùng đất
rộng người thưa mà vùng Tiền giang không có.
Tỉnh Cần Thơ điển hình cho sự sung túc của Hậu giang, nơi gọi là thủ đô
miền Tây, với nhiều đồn điền của Pháp. Một phần đất của Cần Thơ đã được
khai khẩn từ thời Minh Mạng, Tự Đức. Cần Thơ là nơi người Việt chiếm đa
số, phong tục thuần tục, nước ngọt, đất tốt, đường giao thông thuận lợi
về Sài Gòn, với vùng Ngả Bảy (Phụng Hiệp), một quận thành hình nhờ việc
đào kinh thời Pháp thuộc. Chương 2 - 3
Vùng Rạch Giá đất rộng người thưa
Rạch Giá là hậu bối khá rộng của bờ biển vịnh Xiêm La. Bờ biển từ Rạch
Giá (vàm sông Cái Lớn) ăn về phía Nam là khu rừng sác với cây mắm, cây
giá, cây cóc, loại cây tạp không đem huê lợi gì đáng kể, trừ huê lợi
sáp và mật ong, hoặc cua, ba khía sống nhun nhúc trong bãi bùn (khu vực
của cây đước chỉ ở về phía cực Nam tận mũi Cà Mau). Hậu bối tức là sau
lưng, giáp vào rừng sác. Có thể nói đất Rạch Giá là rừng tràm minh
mông, nhiều phèn và thấp; xa bờ biển hàng đôi chục cây số ngàn vẫn còn
là rừng tràm cầm thủy (trầm thủy). Nổi danh nhứt là U Minh Thượng và U
Minh Hạ. U Minh Thượng là rừng chồi, có từng lõm “đất cháy” (than bùn)
nằm bên tả ngạn sông Cái Lớn. U Minh Hạ là rừng tràm tốt và mọc dày,
dọc ven biển chạy dài tới Cà Mau. Đất Rạch Giá khi người Pháp đến hãy
còn nhiều cọp, khỉ, sấu, heo rừng, huê lợi chánh vẫn là mật và sáp (nhờ
bông cây tràm, cây giá). Ngoài ra còn cây tràm (làm củi, cột nhà), lá
dừa nước (để lợp nhà), cá đồng và cá biển. Đáng chú ý là voi thường tới
lui cánh đồng nối liền với Cần Thơ mà ăn lau sậy.
Hai con sông đáng kể là Cái Bé và Cái Lớn từ đất thấp phía Đông chảy ra
vịnh Xiêm La, hiệp lại ở một vàm khá rộng. Hai con sông này chia ra
nhiều nhánh nhóc. Ngọn sông Cái Bé ăn qua rạch Cần Thơ, về bờ Hậu
giang. Sông Cái Lớn ăn xuống Ba Xuyên, thuộc Sóc Trăng hoặc xuống phía
chợ Cà Mau nhưng là những đường liên lạc nhỏ bé, vào mùa nắng có nhiều
chặng cạn và hẹp, đầy cỏ. Dân ở vùng Rạch Giá, trước khi đào kinh xáng,
phần lớn sống nhờ nước mưa, trừ trường hợp chợ Rạch Giá hứng nước ngọt
từ kinh Thoại Hà (đào từ cuối đời Gia Long) nối qua Hậu giang. Giếng có
thể đào trên mấy giồng cao ráo, chắc thịt bên bờ sông. Vùng ven biển
vịnh Xiêm La định cư được là nhờ nước suối chở từ Hòn Tre. Bên bờ Cái
Lớn, Cái Bé và các phụ lưu, rải rác nhiều giồng, nhiều gò, nơi người
Miên đến lập từng sốc : những ốc đảo hoang vắng, chung quanh là rừng
che kín chân trời. Muỗi mòng, rắn và vô số chim cò tha hồ nẩy nở.
Trước đời Gia Long, dân chúng đã chọn lựa vài gò cao lập được bảy xã
theo sông Cái Bé và chợ Rạch Giá (tổng Kiên Định), bốn xã theo sông Cái
Lớn (tổng Thanh Giang). Nhưng dân số người Miên và diện tích ruộng đất
do họ canh tác từ xưa vẫn đáng kể tuy không có con số chánh thức. ít ra
họ cũng dư khả năng tự túc về lúa gạo. ở Rạch Giá, người Miên đứng vào
hàng đầu (Rạch Giá : 80.000 người, Trà Vinh : 80.000, Sóc Trăng :
50.000, Châu Đốc : 30.000, Bạch Liêu : 23.000).
Vĩnh Long mất, Hà Tiên lại mất, thực dân chiếm huyện Kiên Giang không
tốn một phát đạn. Viên tham biện đầu tiên là Luro. Paulin Vial đến Rạch
Giá thanh tra nhưng năm sau Nguyễn Trung Trực đánh một trận thần tình,
giết gần trọn người Pháp vừa lính vừa viên chức ở tỉnh lỵ này
(16/6/1868).
Dạo ấy, Rạch Giá là hải cảng tấp nập, tàu buồm Hải Nam tới mua bán luân
lưu giữa khu vực Cao Miên (thương cảng Kampot), Xiêm (Vọng Các), Tân
Gia Ba và Nam Dương. Nhà cửa san sát ở hai bờ rạch sát vàm biển. Thoạt
tiên, hạt Rạch Giá bao gồm luôn trọn mũi Cà Mau, tức là huyện Kiên
Giang và huyện Long Xuyên thời Tự Đức. Sông rạch nhỏ chằng chịt, tháng
nắng dùng không được, chỉ thuận lợi cho ghe xuồng cỡ nhỏ. Nhiều con
đường mòn dành riêng cho dân địa phương sử dụng ở nơi đi bộ không được
đi xuồng không xong; đó là đường cộ, dùng cộ có trâu kéo (không bánh
xe, kiểu cộ trượt tuyết ở Bắc Ñu). Mãi đến năm 1879, vùng Rạch Giá còn
trong vòng thám hiểm của thực dân, bản đồ chưa được chính xác, nhiều
con rạch dân chúng sử dụng được nhưng chưa ghi, lại còn vị trí nhiều
xóm nhỏ ẩn lánh ở ngọn rạch của bọn người đốn củi lậu thuế hoặc ăn ong
(lấy sáp và mật). Bọn thợ rừng sử dụng những con đường quanh co để chở
củi lậu thuế. Việc cai trị ở thôn quê xa tỉnh lỵ chưa thành nền nếp.
Theo báo cáo của tham biện thì năm 1879, tỉnh này tuyệt nhiên chưa có
địa bộ, tất cả đất trong tỉnh đều được xem như là công điền. Hương chức
làng kê khai diện tích tổng quát, chịu thuế rồi gán ép lại cho dân. Vài
người tự nhận là chủ của phần đất đang canh tác, vì chính họ khai phá
hoặc do cha mẹ để lại. Trường hợp làng Vĩnh Lộc (vùng Ngan Dừa, còn gọi
là Ngan Gừa) : hương chức làng chịu thuế điền là 406 quan để rồi bắt
buộc dân gồm đa số là Cao Miên phải đóng gấp đôi gấp ba. Hương chức cứ
ở không mà hưởng, đến độ dân địa phương phẫn nộ, đòi tản cư luôn qua
Sóc Trăng nếu họ không được phép lập một làng riêng.
Đầu năm 1880, tham biện chủ tỉnh làm tờ trình về tình hình thuế khóa và dự án thâu như sau (Rạch Giá và Cà Mau) :
— Thuế điền ănm 1879 : 11.068 quan, tính trên tổng số đất ruộng và rẫy là 2.847 mẫu.
Dân đinh gồm người Việt và Cao Miên : 2744 người (2.010 Việt và 734 Miên).
Mấy giồng chung quanh chợ Rạch Giá trồng xoài, vì lâu năm nên hóa xoài
rừng. Người Huê kiều và người Minh Hương làm rẫy rau cải, đất ngoại ô
cũng như tại chợ đều không có bộ sổ chi cả.
Thuế kiểm lâm thất thâu, dân chúng lén đốn cây tràm trong rừng rồi theo
đường quanh nẻo tắt mà chở qua Sóc Trăng thay vì đi ngang qua trạm kiểm
soát.
Nguồn lợi lớn nhứt của ngân sách vẫn là thuế phong ngạn (đấu giá từng
lô rừng cho dân khai thác sáp, mật) : năm 1879 đã thâu : 29.546 quan
(trong khi thuế điền chỉ có 11.068 quan).
Nguồn lợi thứ yếu là đấu thầu sân chim : năm 1879 đã thâu : 25.000 quan.
Tóm lại, năm 1880, Rạch Giá không được chánh phủ Nam kỳ chú ý nhiều.
Riêng về sân chim thì các viên tỉnh trưởng xem như là “kỳ quan”. Tuy
nhiên, những nguồn lợi sáp mập cùng là sân chim giảm bớt trong những
năm sau, dân phá rừng lần hồi để bán cây. Cây tràm tuy không là danh
mộc nhưng làm cột nhà rất tốt, bán qua các tỉnh lân cận. Sân chim mỗi
lần khai thác là giết cả trăm ngàn con vừa lớn vừa nhỏ để lấy lông kết
quạt.
Trong khi ấy ở một tỉnh xưa như tỉnh Sa Đéc (tức huyện Vĩnh An, tỉnh An
Giang đời Tự Đức, thuộc trấn Vĩnh Thanh đời Gia Long) dân số và bộ điền
đã khá rành mạch :
Chúng ta thử so sánh tạm.
Diện tích ruộng vườn và rẫy, trong bộ sổ của Pháp mới lập :
Rạch Giá 2.2847 mẫu
Sa Đéc 53.386
Dân đinh ở Rạch Giá, Cà Mau 2.744 người
Sa Đéc 128.902 người
Vì là tỉnh xưa, ở Sa Đéc nhiều vùng đông đúc, mật độ cao đến 241 người
mỗi cây số vuông, đất bị cắt manh mún theo chế độ tiểu điền chủ, những
sở đất dưới 5 mẫu chiếm 4/10 của tổng số đất khai thác. Và 6/10 của đất
khai thác là đất thổ cư và vườn tược.
Sáu năm sau, năm 1886, tình hình tỉnh Rạch Giá bắt đầu khả quan hơn. Báo cáo của tham biện ngày 8/8/1886 nêu vài chi tiết :
— Trong 7 người dân, tỷ lệ là 4 người Cao Miên, 3 người Việt.
— Biến cố ở Kinh thành Huế (vụ Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi 1885) chẳng gây xúc động gì rõ rệt trong dân gian;
— Đường bộ quá ít, dân chúng ao ước đường thủy phát triển thêm. Mọi việc xê dịch đều dùng đường thủy.
— Dân ra chợ mua bán thường dùng đường biển cho nhanh hơn. ở vùng Cái Lớn (Mũi Gảnh) nạn chìm ghe thường xảy ra.
— Năm 1883, đã bắt dân xâu đào con kinh, gọi là kinh Ông Hiển, để đi từ
sông Cái Bé, từ rạch Tà Niên ra chợ mà khỏi vượt biển. Kinh này tiếp
tục đào đến năm 1886. Đường liên lạc từ Rạch Giá đến Châu Đốc gần như
không có, dân chúng dùng xuồng nhỏ, theo đường quanh len lỏi giữa rừng
tràm.
— Đào xong con kinh từ Cạnh Đền ăn xuống Cà Mau (kinh Bạch Ngưu), dùng dân xâu làng Vĩnh Lộc.
— Con lộ chiến lược quan trọng nhứt trong tỉnh chạy từ chợ Rạch Giá vô
Minh Lương (khoảng 15 cây số). Minh Lương làm xóm sung túc từ lâu đời,
gồm đa số người Miên. Lộ này vạch sẵn hồi xưa, nay tu bổ lại để đem thơ
từ, chạy ngựa.
— Trường học tại tỉnh lỵ lợp lá, ngưng dạy từ mấy năm qua đang bắt đầu hoạt động trở
— Năm 1885, trong toàn tỉnh có 6 trường tổng, trường ở Minh Lương không đem lại kết quả vì thiếu giáo viên.
— Dân bộ chịu thuế năm 1883 là 8.000 người, năm 1886 là 10.000 người. Kết quả này thâu được là nhờ lập bộ kỹ lưỡng hơn trước.
— Bộ điền năm 1883 : 8000 mẫu; năm 1886 : 10000 mẫu.
Đất ruộng khó kiểm soát vì dân làm ruộng không đều, hễ thất mùa thì họ dời chỗ. Nhiều vùng đất 3 năm mới có làm một mùa ruộng.
Tại chợ, từ 4 năm qua đã lập một lò gạch nhưng xấu về phẩm chất. Vì
chưa cấp bằng khoán thổ cư nên chẳng ai dám xây nhà gói, sợ sau này bị
đuổi.
— Việc mua bán xáo trộn vì giá tiền kẽm bị sụt. Tiền điếu (bằng đồng
phiếu) lại khó xài, nhà nước phát ra khi dân lãnh ngân phiếu, nhưng dân
đem tiền điếu đóng trở lại cho “công xi” khi mua á phiện và rượu.
Tóm lại, tỉnh Rạch Giá (gồm luôn Cà Mau) là miếng mồi khó nuốt so với
các tỉnh miền Tiền giang như Sa Đéc, Mỹ Tho, Vĩnh Long hoặc Long Xuyên.
Huê lợi, thuế khóa quá thấp kém. Các viên tham biện không rành về hành
chánh, những bản phúc trình chánh thức gởi về cho Giám đốc Nội vụ về
hình thức cũng như nội dung gần như là thơ riêng gởi cho bạn, viết
tháu, báo cáo đại khái vài nét, nhận xét tùy hứng, không thứ tự.
Trong thực tế, muốn báo cáo kỹ lưỡng cũng không được vì tỉnh này vừa
khi mới thành lập đã thiếu người hợp tác; các tỉnh Tiền giang dầu sao
đi nữa cũng thừa một số người lịch lãm biết chữ nho hoặc chữ quốc ngữ,
am hiểu địa phương. Sau cuộc đánh úp đồn chợ Rạch Giá vào năm 1868,
người Pháp nghi kỵ tất cả người Việt vì đa số lính mã tà, đến viên quản
mã tà cũng đều làm nội ứng. Thực dân không muốn xài người Việt ở Rạch
Giá và nhân dịp tu chỉnh lại bộ máy cai trị, chúng cố ý dùng người Miên
để trị người Việt, cổ xů chia rẽ. Vài người hữu công được nâng lên làm
huyện, bấy giờ đóng vai phụ tá của tham biện để cai trị, đi điều tra
miền quê. Đây là những người kém văn hóa, háo sát, ham danh vọng. Những
người Miên hoặc Miên lai Tàu này đều lấy tên họ như người Việt :
— Phó quản mã tà người Miên tên là Cao Thiên gọi nôm na là phó quản
Thiên làm phủ, lập công sau cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực bằng cách
điềm chỉ, bắt giết. Năm 1873, nghỉ việc vì già (60 tuổi), Pháp cho chức
phó quản là để tưởng lệ công lao, chẳng có năng lực chuyên môn gì cả.
— Huyện Xiêu được làm huyện sau khi Nguyễn Trung Trực rút khỏi Rạch
Giá, kiêu hãnh tới mức dám tố cáo chuyện xấu của tham biện Rạch Giá lên
quan trên. Tám tháng sau khi nhận chức thì bị Pháp cách chức.
— Huyện Trần Lương Xuân, cũng người Miên được tin cậy cho trấn nhậm
vùng Minh Lương, khu vực đông dân và phì nhiêu. Tự xưng trong công văn
“Kiên Giang huyện, Tri huyện Trần Lương Xuân”, được giữ một khẩu súng
lục, 2 khẩu súng hai lòng, 1 khẩu súng 1 lòng, 4 cây giáo, 1 khẩu súng
Le Faucheux.
lại.
— Trịnh Lục Y, người Miên, từng được cựu trào phong chức cai tổng, cư
ngụ vùng áp lục (Rạch Tìa, Thủy Liễu) rồi theo Pháp. Sau thời gian làm
cai tổng dài dẵng là 48 năm, thấm mệt xin nghỉ, được huy chương bạc
hạng nhứt.
— Cai tổng Hà Mỹ Phiến (tên ngoài là Phến) người Tàu lai Miên làm vua
một cõi ở tổng Kiên Hảo, chữ nghĩa kém, được sắm 4 cây mác thông cho
bọn hộ vệ khi đi hầu quan vì đường sá còn rừng rậm (con và cháu đều làm
cai tổng nối tiếp đến năm 1945).
— Cai tổng Trần Quang Huy (con của cai tổng Trần Quang Sô) cũng người
Miên, làm phó tổng Kiên Hảo. Cai tổng Sô tận tụy với thực dân từ buổi
đầu, bị nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực giết. Sau đó, Pháp ban chức
phó tổng cho Huy là nghĩ tới công lao của cha. Ngày trước, Pháp cho
tổng Sô hai cây súng, súng này giao lại cho Huy.
Người Việt Nam duy nhứt được Pháp tin cậy ban chức cai tổng là Nguyễn
Văn Nguơn, coi tổng Kiên Định, ngụ ở Tân Hội, một làng đông dân khi
Pháp đến và có công lớn là báo tin trước cho tên tham biện Rạch Giá về
việc Nguyễn Trung Trực sắp tấn công nhưng tên tham biện không tin lời
(vì oán xã Nguơn nên nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực đã giết lây một
số người công giáo ở Tân Hội, xóm của Nguơn cư ngụ). Cai tổng Nguơn làm
chúa một vùng, được cấp cho 6 khẩu súng, đặc biệt là 1 khẩu thần công
mà quân sĩ của Nguyễn Trung Trực bỏ rơi lại.
Với bọn cộng sự viên như thế, các tham biện ở giai đoạn đầu tỏ ra chán
nản. Chung quanh chợ, ngoài vài xóm đông đúc là rừng rậm, họ không muốn
đi thanh tra. Mãi đến năm 1901, viên bếp trạm (đi thơ từ công văn,
ngạch bếp) còn kêu nài để xin được giữ cây súng vì vùng Ngan Dừa (làng
Vĩnh Lộc) là nơi nguy hiểm, khó di chuyển, đi trát cho làng nọ làng kia
thì đường đi rừng bụi vắng vẻ quá, “có nhiều lần tôi gặp cọp nó làm dữ
với tôi, thì tôi cũng nhờ có cây súng tôi bắn nó chết, có khi nó ra phá
xóm làng thì người ta tới kêu tôi cùng đi cứu giúp mà bắn cho đặng bình
an trong xóm”.
Vì không thấy có huê lợi dồi dào về thuế má trong tương lai gần nên vào
khoảng 1889, hạt Rạch Giá bị sáp nhập vào hạt Long Xuyên cho đỡ tốn kém
về mặt bố trí cơ sở hành chánh cùng là lương bổng nhân viên. Rạch Giá
lúc bấy giờ trên con dấu chánh thức là “Kiên Giang huyện” của tỉnh Long
Xuyên, còn con dấu của tham biện Long Xuyên ghi “Arrondissement de Long
Xuyên” chính giữa là “Long Xuyên, Rạch Giá”.
Nhưng đôi năm sau, Rạch Giá tách trở lại làm một tỉnh như trước, chánh
phủ đang trù liệu kế hoạch khai thác quy mô vùng Hậu giang với ngân
sách của chánh quốc cho mượn : đào kinh nối liền từ vịnh Xiêm La lên
Sài Gòn.
Chỉnh đốn tỉnh lỵ Rạch Giá và các vùng phụ cận
Chợ Rạch Giá là cơ sở tốt với giồng cao ráo sát bờ biển, lại còn nhiều
giồng đất phì nhiêu vùng phụ cận. Quy chế khẩn đất đặt ra rành mạch,
các tỉnh miền Tiền giang không còn đất tốt vô chủ khiến nhiều người đổ
xô về Rạch Giá là nơi dễ làm ăn, đặc biệt là dân từ Long Xuyên đến.
Tháng 10/1895, chủ tỉnh báo cáo về Thống đốc Nam kỳ với ý kiến của Hội
đồng địa hạt đưa nhiều đề nghị :
— Từ vài năm qua dân số gia tăng gấp đôi.
— Diện tích canh tác tăng hơn 10 lần.
— Đề nghị vét kinh Rạch Giá, Long Xuyên (Thoại Hà) để tàu Lục tỉnh từ
Sài Gòn đến chợ Rạch Giá ít nhứt là 3 lần trong mỗi tuần như các tỉnh
khác. Bấy lâu, Rạch Giá và Hà Tiên không có chuyến nào trong tuần (tức
là khoảng 10 ngày mới có một chuyến).
— Bảo vệ bờ biển Rạch Giá đừng cho lở, bằng cách cẩn đá mà chận sóng
biển. Đồng thời, xây một con đê bằng đá chạy ra ngoài biển để vào mùa
hạn tàu bè có thể cất hàng hóa (nhưng không thực hiện được).
Bấy lâu đường giao thông từ Rạch Giá lên Sài Gòn khó khăn vì kinh Thoại
Hà quá cạn, nhứt là vào mùa hạn. Hành khách từ Sài Gòn đến Rạch Giá
dùng xe lửa Sài Gòn, Mỹ Tho, rồi đi tàu Lục tỉnh từ Mỹ Tho đến Long
Xuyên. Từ Long Xuyên, dùng ghe mà chèo chống qua Rạch Giá.
Để thiết kế tỉnh lỵ, năm 1896, 4 xã Vĩnh Lạc, Vĩnh Hòa (Huề), Vân Tập,
Thanh Lương nhập lại gọi là làng Vĩnh Thanh Vân. Đến năm 1908 mới đặt
tên đường sá lại chợ và năm 1910, đưa dự án dùng đèn thắp bằng “ga” ở
đường phố.
Tàu buồm Hải Nam ra vào cửa Rạch Giá tấp nập. Vào tháng gió chướng (gió
mùa từ Đông Bắc), nhiều khi 20 chiếc cặp bến một lượt. Ty Thương chánh
hoạt động với quyền hạn không phân định rõ rệt vì cho rằng chỉ chịu sự
chỉ huy từ Sài Gòn mà thôi, không can hệ gì đến nhà cầm quyền ở tỉnh.
Năm 1887, viên chức Thương chánh xét bắt Hoa kiều ở chợ, tha hồ làm
tiền vì quả thật các tàu buôn Hải Nam vào bến chở theo á phiện lậu thuế
để bán lén theo hệ thống riêng cho các tỉnh miền Tây là nơi tập trung
người Huê kiều khá giả. Người Huê kiều thì ăn chịu với viên chức địa
phương. Ngoài ra, viên chức Thương chánh (bấy giờ gọi là Công—xi) lại
còn bắt buộc người làm nước mắm ở hòn Sơn Rái, thuộc tỉnh Rạch Giá phải
đóng thuế nhập cảng, lấy cớ trong nước có mắm muối, xem mấy người làm
nước mắm như đã chở muối lậu thuế. Mấy bang Huê kiều yêu cầu đừng đánh
thuế quá nặng những hàng hóa chở từ bên Xiêm vào chợ Rạch Giá, nhưng
không được chấp thuận. Bấy giờ, tàu Hải Nam chở vào nhiều nhứt là vải,
từ Xiêm hoặc từ Tân Gia Ba, đặc biệt có loại vải thông dụng (gọi là vải
Xiêm, vải tám Hạ, tức là từ Hạ Châu đem đến). Mặc nhiên, hàng hóa xuất
xứ từ Anh quốc lại cạnh tranh với hàng hóa Pháp ! Mấy viên cai tổng
đồng thanh phản đối việc tra xét của mấy ông tây “Công—xi”, khi đồng
bào đến chợ theo đường biển phải đi ngang qua Thương cảng. Năm 1886,
hải quân Pháp ra tận hònCổ Tron (Poulo Dama) để thám hiểm nhưng ngoài
ấy chẳng có nguồn lợi gì về kinh tế.
Việc bán gạo từ hải cảng Rạch Giá đã có từ đời Mạc Cửu do người Huê
kiều đảm trách độc quyền. Dịch vụ xay lúa tổ chức theo kỹ thuật cổ
truyền, dùng loại cối to, mỗi cối có bốn người cầm giàng xay, hai người
sàng, một người quạt, một người giần tấm.
Năm 1884, chợ có 6 trại xay lúa, sử dụng gần 40 cối to. Khi tàu Hải Nam
gần đến để ăn gạo, trại hoạt động suốt ngày đêm, dùng toàn sức người.
Dọc theo bờ rạch gần mé biển, người Huê kiều cất khi dự trữ hàng hóa.
Tàu Hải Nam đến mua nhiều nhứt là gạo, chiếu, tiền kẽm, nước mắm, cá
khô, mắm ruốc cà ròn (bao bằng vàng), mật, sáp. Họ chở đến tô chén, bài
tứ sắc, vải bô, giấy tiền vàng bạc, mền, thuốc Bắc, pháo, nhang, trái
cây khô.
Lần hồi, thương cảng bớt hoạt động. Gạo xay máy từ Sài Gòn chở qua
Hương Cảng bằng tàu máy ít tốn sở phí hơn là gạo xay bằng sức người,
chở bằng ghe buồm ở Rạch Giá.
Về đường sá trong tỉnh, mãi đến năm 1907 chỉ thấy vài khúc lộ dở dang.
Theo sáng kiến của tham biện, con lộ từ chợ Rạch Giá đến Hòn Đất thành
hình, bắt dân làm xâu, đường trải đá ong Biên Hòa và trải đất hầm (đất
ruộng đốt cho chín rồi đập ra từng cục nhỏ). Dụng ý của bọn Pháp ở địa
phương là đắp đường theo mé biển ăn tới Hòn Đất nơi chúng chọn làm căn
cứ nghỉ mát ; từ trên Hòn nhìn ra vịnh Xiêm La, khung cảnh khá thơ
mộng. Điều bất lợi là con lộ này chạy ngang vùng còn rừng tràm, người
Miên sống rải rác. Trong tương lai, nhà nước hy vọng là nối lên Hòn
Chông thuộc Hà Tiên. Nhưng công tác này trở thành tốn kém vô ích, khí
hậu Hòn Đất không tốt cho lắm, đất hai bên lộ quá xấu, mở đường mà
chẳng ích lợi gì cho việc canh tác ! Bọn Pháp ở địa phương cố duy trì
kế hoạch, lấy lý do là để tới lui giữ an ninh đồng thời làm bờ đê chận
nước biển. Lộ bị dẹp bỏ vì rốt cuộc ai cũng nhìn nhận là lãng phí (lộ
hãy còn di tích sát theo bờ biển, song song với con lộ Rạch Giá, Hà
Tiên đắp xa biển hơn lúc sau này).
Con lộ thứ nhì là nền móng của lộ Rạch Giá, Cần Thơ. Năm 1907, nối liền
tới Minh Lương (khoảng 15 km), trải đá ong và đất hầm. Có kế hoạch nối
luôn tới Gò Quao rồi Long Mỹ. Mãi đến năm 1914, lộ Rạch Giá qua Cần Thơ
mới tiếp tục khởi công.
Việc chia ra quận (huyện) trở thành cấp bách, tham biện Rạch Giá nêu lý
do là dân số gia tăng, nhiều người từ tỉnh khác đến làm ăn nên khó kiểm
soát, diện tích của tỉnh lại quá rộng.
Vùng ở giáp ranh Cần Thơ và giáp ranh Bạc Liêu, Sóc Trăng cần mỗi nơi
một ông phủ hoặc ông huyện để coi sóc, ngoài ra, cần một quan huyện ở
Châu Thành. Năm 1898, tham biện Rạch Giá nhắc lại ý kiến nên lập một
phân khu hành chánh ở ngọn Cái Lớn (nhằm đề phòng trộm cướp) hoặc lập ở
làng Long Mỹ một quận mới. Nhưng cấp trên bác bỏ cho là tốn thêm tiền
xây cất cơ sở hành chánh, mướn thơ ký, mã tà ; nếu tỉnh quá rộng, tham
biện chủ tỉnh cứ đi thanh tra bằng tàu máy là đủ rồi. Bấy giờ, việc
khẩn hoang chỉ mới xúc tiến, thuế má chưa thâu nhiều. Nhưng đến năm
1907, quận Long Mỹ thành lập ở ngọn sông Cái Lớn, phía giáp ranh với
Cần Thơ. Chủ quận đầu tiên là Maurel nắm nhiều quyền hạn quan trọng.
Quận Gò Quao thành lập, trên con dấu ghi mấy chữ nho “Đại Hà huyện”
(tức là huyện lập ở sông Cái Lớn), quận Giồng Riềng ghi là Tiểu Hà
huyện (sông Cái Bé), quận Châu Thành tại chợ thì thêm mấy chữ nho “Kiên
Giang phủ”.
Việc phân chia ra tổng cũng chưa hợp lý và gây nhiều phiền phức : riêng
tổng Thanh Bình, năm 1907, rộng đến 250.000 mẫu tây (trong khi tỉnh Bến
Tre chỉ có 164.000 mẫu, tỉnh Gò Công 62.698 mẫu diện tích vào năm
1922), ăn từ vịnh Xiêm La đến ranh Sóc Trăng. Riêng làng Đông Thái
(thuộc về tổng này) dài cỡ 30 cây số từ rạch Thứ Năm đến rạch Mương
Đào, lý do chánh là đất quá rộng, dân ít, còn nhiều rừng, xóm này xa
cách xóm kia. Bấy giờ, cai tổng tha hồ xử kiện theo ý thích, xã trưởng
thì không thèm đi “hầu việc” quan trên, viện lý do là biển động, đi sợ
ghe chìm hoặc nộp thuế thì sợ bị ăn cướp dọc đường.
Đại khái, Rạch Giá là tỉnh chậm phát triển về đường sá, dân trí kém mở
mang, thua xa các tỉnh miền Tiền giang hoặc gần Sài Gòn nơi mà nhà nước
thực dân đã chú ý thiết kế từ trước năm 1900. Mãi đến 1910, 1911 hương
chức làng ở Rạch Giá mới bắt đầu có con dấu bằng đồng để đóng vào công
văn.
Những rắc rối đầu tiên trong việc khẩn đất.
Chủ tỉnh Rạch Giá báo cáo cho Thống đốc Nam kỳ ngày 17/3/1898 :
— Trên nguyên tắc, mỗi làng phải có địa bộ và điền bộ. Nhưng ở Rạch Giá
trước năm 1891 không nơi nào có địa bộ. Một số hương chức làng tự ý lập
địa bộ, vẽ bản đồ chia ra từng sở đất, ghi tên chủ đất nhưng thường là
ghi tên “ma”, ai đến xin khẩn thì bảo là hết đất, nếu muốn thì làng sẽ
đứng làm trung gian mua lại giùm cho. Hương chức làng tự ý sửa chữa,
sang tên các sở đất, hậu quả là địa bộ ở làng trên nguyên tắc là bản
phụ, lại không giống với địa bộ (bản chánh) nạp ở tỉnh.
— Ai muốn sao lục địa bộ (có giá trị như bằng khoán đất) thì làng đòi ăn hối lộ rồi mới chịu sao.
— Chủ tỉnh nhắc lại nguyên tắc : mọi sửa đổi về ranh giới hoặc tên
người chủ sở đất đều phải được phép của chủ tỉnh (theo nghị định
6/3/1891, chủ tỉnh là người quản thủ địa bộ).
— Để cứu vãn tình thế, chủ tỉnh Rạch Giá yêu cầu Thống đốc cho thành
lập một ủy ban gồm một chủ tỉnh từ tỉnh khác đến làm chủ tịch, một viên
kinh lý (họa đồ) cũng là cai tổng và hương chức sở tại để tu chỉnh, lập
địa bộ mới cho tỉnh.
— Không làm được việc ấy thì dân ở tỉnh khác không xuống Rạch Giá đông
đảo như trước nữa. Trong hiện tại, đa số người chiếm giữ đất để canh
tác không có bằng khoán hợp pháp, còn những người tranh chấp thì chẳng
có giấy tờ gì để chứng minh.
— Không lập được địa bộ thì dân làng chỉ làm công cho thiểu số người có thế lực hưởng huê lợi.
Nhiều vụ tranh chấp xảy ra.
Dân khẩn hoang thoạt tiên tin rằng nhà nước cho phép họ làm ruộng trước
rồi sẽ khai báo để hợp thức hóa về sau, với điều kiện khẩn không quá 10
mẫu (gọi là đất công nghiệp). Làm sao người dân hiểu rành cách thức làm
đơn và dám ra tỉnh lỵ để hầu quan chủ tỉnh ? Đường xa, lắm khi hơn 70
cây số, ra chợ lại không biết thưa bẩm với ai. Vài người hiểu luật lệ
đã chịu khó chạy chọt, tìm cách giựt đất.
Ở làng Vĩnh Hưng, năm 1904, một viên thông ngôn tòa án đang ăn lương
lớn lại xin nghỉ việc để tranh cử chức cai tổng, chưa đắc cử là cho vợ
đứng đơn xin khẩn chồng lên mấy sở đất mà người khác đã ruồng phá thành
khoảnh từ trước. Vai trò của cai tổng khá quan trọng khi lập địa bộ cấp
đất, vì là một ủy viên. Năm 1903 chủ tỉnh rất áy náy vì tình trạng
chiếm đất, do thiểu số nhiều uy thế và rành luật lệ. Ở làng Lộc Ninh,
nhiều sở đất có rừng tràm tốt hoặc có người đang canh tác lại bị kẻ lạ
mặt làm đơn xin trưng khẩn. Chủ tỉnh ra lịnh cho cai tổng Thanh Bình cứ
ghi tên những người thật sự đang canh tác và cho họ được ưu tiên vào bộ.
Theo thủ tục bấy giờ, hễ vô đơn xin tạm khẩn thì mặc nhiên được cấp cho
một biên lai. Với tấm biên lai có chữ ký của chủ tỉnh, bọn gian hùng cứ
đến địa phương mà tranh cản, tự nhận là sở hữu chủ, với diện tích rộng
hơn. Ai năn nỉ thì họ bán tấm biên lai với giá cao, bảo đó là tờ bằng
khoán chánh thức.
Khi hay tin kinh xáng Xà No sắp đào nối liền qua Rạch Giá, nhiều ông
hội đồng, cai tổng, thân hào đã vội làm đơn xin khẩn, căn cứ vào bản đồ
con kinh mà họ biết trước. Luôn luôn họ dành phía mặt tiền, giáp với bờ
kinh. Chủ tỉnh bác những đơn ấy không phải vì thương dân, chẳng qua là
muốn dành cho bạn bè, hoặc cho kẻ nào dám dâng tiền bạc hối lộ.
Có người vội cho rằng Pháp bày ra việc cử Hội đồng quản hạt, địa hạt,
cai tổng chỉ là để mua chuộc một số người Việt háo danh mà thôi. Thật
ra, những chức vụ ấy đem lại nhiều ưu thế trong việc khẩn đất. Nhờ chức
vụ mà giao thiệp dễ dàng nên họ biết kế hoạch đào kinh qua phần đất
nào, khi cho trưng khẩn thì họ vô đơn trước. Lại còn trường hợp nếu cho
ai trưng khẩn với diện tích lớn thì họ được hỏi ý kiến. Chủ tỉnh sẵn
sàng cho họ quyền ưu tiên trưng khẩn để bù lại việc họ làm ngơ cho chủ
tỉnh chi tiêu phí phạm ngân sách địa phương, hoặc tăng thuế, hoặc xuất
công qű tu bổ công sở... Họ vận động với quan trên, lo lót tiền bạc để
xin phép sắm súng cho bằng được, nhằm mục đích uy hiếp tinh thần dân
chúng khi cần chiếm đất. Khẩn đất cũng là cơ hội cho vài tên đầu cơ, mị
dân, gây uy tín cá nhân để ứng cử chức nghị viên Nam kỳ. Vào năm 1912,
ký giả thực dân hạng nặng là J. Adrien Marx đến quận Gò Quao để hướng
dẫn kẻ bị mất đất làm đơn tố cáo điền chủ và quan chủ quận về tội ăn
hối lộ, lấn hiếp dân : 12 người Miên đã khẩn được 108 mẫu từ năm
1907—1908, vô bộ ở làng rồi, thế mà điền chủ lại mướn tay em chừng 70
người đến đánh đập, tịch thâu nông cụ lúc họ đang canh tác. Lại còn bọn
kinh lý (họa đồ) Pháp thừa cơ hội và cậy quyền thế để giựt đất một cách
hợp pháp. Năm 1913, ấp Thành Lợi (sau này trở thành làng Ninh Thạnh
Lợi, phần đất cũ của làng Lộc Ninh) được thành lập do 3 người xin khẩn
nhưng ba năm sau, một viên kinh lý người Pháp đến trưng khẩn bao trùm
lên và bắt buộc 3 người nọ phải làm tờ mướn đất như là tá điền. Rốt
cuộc theo sự phân xử của chủ tỉnh, 3 người này thất kiện, mỗi người chỉ
còn giữ được 10 mẫu đất công nghiệp, còn bao nhiêu đất dư ra đã thành
thuộc rồi thì phải giao cho viên kinh lý. ở tỉnh lỵ Rạch Giá, có người
chuyên sống bằng nghề trung gian để lo hối lộ. Năm 1916, người nọ xin
khẩn 2.000 mẫu ở làng Vĩnh Bình, nhờ kẻ trung gian đút lót trước 2000
đồng cho chủ tỉnh, xong việc sẽ đưa thêm tiền. Chủ tỉnh trình việc ấy
lên Thống đốc Nam kỳ và bảo rằng phần đất ấy chắc chắn có người đang
khai thác từ lâu. Chủ tỉnh tố cáo, vì số tiền lo hối lộ quá ít hay vì
thanh liêm ?
Để làm điền chủ lớn, nhiều người dùng nhiều chiến thuật khác nhau :
— Họ làm đơn với chủ tỉnh, lo lót, ra mặt công khai chiếm đất. Rồi khi
tới địa phương, họ chịu bồi thường chút ít cho người đã khai khẩn từ
trước ; hoặc mua lại với giả rẻ lúc người dân cô thế đang tuyệt vọng
thấy mình chẳng bao giờ đủ khôn lanh và đủ tiền bạc để kêu nài hoặc lo
hối lộ.
— Họ không bao giờ đứng tên khẩn đất trong đợt đầu, tránh mọi việc
tranh chấp vụn vặt có vẻ vũ phu và bất lương. Họ đem tiền tới nơi (tiền
này thường là tiền vay) để mua đất trong những năm ruộng thất mùa. Hoặc
họ chuyên sống bằng nghề cho vay nặng lời, hoặc chứa cờ bạc để lần hồi
bắt con nợ phải bán đất cho họ mà trừ nợ. Họ công khai đưa con nợ ra
tòa, với giấy tờ hợp pháp về hình thức : người dân quê dốt chữ khi túng
thiếu vì đau ốm, vì thua cờ bạc đã ký tên, điểm chỉ vào sau khi nghe
đọc qua loa nội dung tờ giấy nợ chứa đựng nhiều cạm bẩy ngặt nghèo.
Kẻ quyền thế thường vận động với các quan lại cao cấp, chịu tốn kém về
tiệc tùng để được khẩn không tiền theo quy chế mà nhà nước dành cho
người hữu công : Tổng đốc Phương hưởng theo quy chế này 2.223 mẫu ở các
làng Hỏa Lựu, Hòa Hưng, Vĩnh Hòa Hưng ; Trần Chánh Chiến (sau này cổ
húy cho phong trào Duy Tân ở Nam kỳ) khẩn hơn 1000 mẫu ; một nho sĩ họ
Trần ở Rạch Giá cũng nhờ Tổng đốc Phương điền chủ ở Trà Vinh khẩn trong
địa phận Rạch Giá trên 1400 mẫu.
Những nguồn lợi thiên nhiên
Trước khi trở thành ruộng, rừng tràm là nguồn lợi thiên nhiên đáng kể.
Vào đời Gia Long, vùng Rạch Giá được chú ý nhờ sáp ong và cá tôm. Làng
Vĩnh Hòa, làng Đông Yên ở hữu ngạn sông Cái Lớn thành hình từ lâu nhờ
nguồn lợi sân chim (sử chép là Điểu đình), những khu rừng mà hằng năm
loại chàng bè, lông ô (còn gọi già sói, marabout) tụ họp về làm ổ, sanh
sôi nẩy nở hàng chục vạn con, thợ rừng đến sân (nơi chim tụ họp) bao
vây và giết sống để nhổ lông bó lại đem bán cho tàu buôn Hải Nam. Thuở
ấy người Việt cũng như người Tàu đều ao ước có cây quạt kết bằng lông
chim, với đứa tiểu đồng đứng hầu quạt phe phẩy, tiêu biểu cho nếp sống
phong lưu. Thuế điểu đình vẫn duy trì, nhà nước thực dân cho đấu thầu
nhưng giá thầu ngày càng thấp, dân giết quá nhiều không chừa chim con.
Gặp khi giông tố bất thường, chim kéo đến khu rừng khác, người thầu
không được quyền truy nã theo để khai thác. Người trúng thầu thường là
Huê kiều. Họ có hệ thống tiêu thụ ở nước ngoài : giá thầu là 21.000
quan (1879), 20.000 quan (1880). Việc thầu sân chim có lúc bị bãi bỏ
hoặc ngăn cấm. Năm 1908 cho khai thác trở lại. Những năm chót, nhà nước
hương chức làng thầu với giá tượng trưng. Năm 1912, một hội viên của
Phòng Canh nông Nam kỳ (cũng là tay khai thác đất đai nổi tiếng ở Hậu
giang) lên tiếng xin nhà nước cấm khai thác sân chim vì thuế thâu vào
chẳng bao nhiêu mà gây tai hại lớn. Theo bài toán của ông ta, chim có
đến hàng trăm ngàn con bị giết mỗi năm, mỗin gày một con chim già sói
(marabout) ăn đến 20 con chuột, mất chim thì hàng triệu chuột tha hồ
sinh sôi nẩy nở. Đây chỉ là bài toán không tưởng mà thôi.
Mật, sáp ong, cá tôm là nguồn lợi lớn và lâu dài hơn. Khi mới chiếm
vùng Hậu giang, đặc biệt là vùng Rạch Giá, những huê lợi này đều do nhà
nước giao lại với giá thầu tượng trưng cho các ông cai tổng, xem như là
hình thức mua chuộc rất có hiệu quả. Các ông cai tổng cứ chia ra từng
sở nhỏ, giao cho bọn tay sai thân tín thầu lại với giá cao. Kế đến là
giai đoạn giao cho hương chức làng thầu với giá phỏng định. Năm 1895,
hương chức làng thâu lợi quá nhiều đến mức dám hiến lại cho ngân sách
tỉnh phân nửa số lời mà họ thu được (2785 đồng).
Sáp là nguồn lợi làm cho xứ Rạch Giá nổi danh (người Miên gọi là vùng
Kramuôn—Sor tức là xứ sáp trắng) vì thời xưa ổ ong bám vào cây tràm,
lâu ngày rụng xuống rồi trôi trên sông, không người vớt. Thời Tự Đức
(và có lẽ trước hơn), quan lại địa phương chia rừng tràm ra từng “ngan”
tức là từng lô nhỏ, lấy những con rạch thiên nhiên làm ranh giới. Nay
hãy còn dùng làm địa danh. Ngan Trâu, Ngan Dừa, Ngan Rít, Ngan Vọp.
Nghề ăn ong gọi là “ăn ngan”, lô rừng đem đấu thầu gọi là sở phong ngạn
(phong là ong, ngạn là bờ ranh). Phong ngạn tập trung ở những làng
nhiều rừng tràm, năm 1905, làng Vĩnh Lộc có tới 19 sở, làng Sóc Sơn 13
sở. Làng Đông Thái có 4 sở to chạy theo địa phận làng, dài cỡ ba mươi
cây số.
Chủ tỉnh Rạch Giá thảo ra điều kiện sách nhằm dành ưu tiên cho người
khẩn đất làm ruộng. Điều 2 ghi rõ : “Rừng thì lần lần có người khai phá
làm ruộng vì việc canh nông có lợi hơn, nên sự đấu giá này (đấu giá
phong ngạn) không buộc 3 năm, buộc một năm mà thôi. Nhưng mà chủ ngan
phải thưa cho nhà nước biết trước ngày 15/1 kế đó”.
Nghề khai thác phong ngạn lần hồi trở nên khó khăn vì gặp sự tranh chấp
của người làm đơn khẩn ruộng. Thoạt tiên, chủ đất xem khu rừng tràm là
của mình, tha hồ đốn cây để lấy huê lợi đầu tiên. Hoặc dân làng cứ đốn
cây, phá rừng. Báo cáo của làng Mỹ Lâm ngày 12/12/1911 cho biết : Năm
nay bị thất mùa màng, dân nghèo nàn quá, không có phương thế chi mà làm
ăn. Chúng nó cứ việc hạ tràm tươi mà cưa làm củi bán đổi gạo ăn (Hồ sơ
Miel et Cire). Diện tích rừng để khai thác ong mật bị thu hẹp vì thỉnh
thoảng rừng cháy, ong bỏ ổ đi nơi khác.
Nhưng lý do chánh khiến cho nghề phong ngạn suy đồi là trận bão lụt năm
Thìn (1904) khiến đa số rừng tràm bị ngã sập, rễ tràm vì ăn bám trên
vùng đất sình lầy nên chịu đựng không nổi. Tràm ngã xuống, sau này khi
cày cấy hễ gặp là đào lên đem về chụm bếp, gọi là tràm lụt (bão lụt).
Đối với ngân sách làng và ngân sách tỉnh, đây là sự hao hụt đáng kể. Để
bù vào số thuế phong ngạn, chủ tỉnh Rạch Giá giải quyết bằng cách bắt
buộc dân phải chịu thêm một thứ thuế phụ trội, cộng thêm với thuế thân
mà dân phải đóng. ở làng Mỹ Lâm, trước kia ngân sách dồi dào nhờ thuế
phong ngạn, nhưng vì dân bộ quá ít nên khi chia ra thì mỗi đầu người
phải gánh đến bốn đồng.
Sáp là sản phẩm qů, theo lệ xưa và mãi đến khi người Pháp đến, đó là
món dùng để lo hối lộ thông dụng nhứt (gọi khôi hài là “đút sáp”).
Thủy lợi, theo nghĩa là huê lợi cá tôm ở sông rạch được chú ý từ thời
xưa. Người Pháp lúc ban đầu cũng dùng chánh sách mua chuộc cai tổng và
hương chức làng bằng cách cho họ mua lại (tức là thầu) với giả phỏng
định.
Rừng tràm phát triển ở nơi đất thấp, vào mùa mưa thì nước ngập tràn.
Rừng ở Rạch Giá và luôn cả rừng tràm ở Hà Tiên, Châu Đốc, Cà Mau có thể
so sánh với vùng Biển Hồ ở Cao Miên về phương diện sinh hoạt của cá
tôm. Nước mưa dâng lên, cá lên rừng mà sanh đẻ, di chuyển. Rừng rậm với
con lăng quăng do trứng muỗi nở ra là thức ăn lý tưởng của cá. Khi mùa
nắng vừa bắt đầu, gió chướng thổi thì cá biết là nước sắp cạn, từng bầy
tìm cách ra sông, xuống rạch để khỏi chết khô. Bởi vậy, rạch ở rừng
tràm là nơi tập trung cá; loại cá đồng đắt giá như cá lóc, cá trê chở
đem bán nơi xa được, không chết dọc đường.
Dân địa phương từ lâu đã biết các đào đìa. ở vùng cỏ hoang hoặc giữa
rừng tràm, cá rút xuống đìa mà sống. Và khi đã quen thói, hằng năm cá
lên rừng vào mùa mưa, trở về rạch, về đìa khi mùa nắng bắt đầu. Nhiều
đìa cá của dân làng đào sẵn trong rừng hoang lại trở thành đìa của điền
chủ vì phần đất ấy đã bị trưng khẩn. Đìa đào ở trong rừng thì nhiều cá
nhưng khó đem cá về, lắm khi phải gánh cá hàng năm bảy cây số, nếu đìa
ít cá thì bỏ luôn chẳng ai thèm tát (đìa ở xa trong rừng gọi là đìa U
Minh theo nghĩa là ở nơi u u minh minh, tối tăm như địa ngục, mặc dầu
không nằm trong vùng U Minh).
Nhà nước bày lệ đấu thầu để thâu thuế nhiều hơn, mỗi lần đấu cho phép
khai thác trong ba năm. Điều kiện sách ghi rõ là sự “ích lợi của nông
nghiệp phải trọng hơn các điều khác” nhưng trong thực tế, việc đấu thủy
lợi làm giàu cho một số trung gian. Họ chia ra từng phần nhỏ rồi cho
mướn lại với giá cao gấp đôi hoặc gấp ba. Để bắt hết cá, kỹ thuật hữu
hiệu nhất là xây rọ với đăng sậy, tùy theo hình thể con rạch mà lựa
chọn kiểu rọ thích hợp. Nhiều cuộc tranh chấp xảy ra, người đấu thủy
lợi nếu có thế lực thì cứ phá đập giữ nước (của kẻ khác đang làm ruộng)
để cá trên ruộng chạy xuống rạch, gây nạn lúa háp vì ruộng bị cạn quá
sớm. Hoặc người khai thác thủy lợi làm cản trở lưu thông, ngăn cản
không cho câu cá khiến người địa phương ăn uống khổ cực, thiếu cá làm
mắm dự trữ để làm mùa. Nhiều làng đã xin quan trên bỏ việc cho thầu
thủy lợi để dân làng tự do bắt cá mà ăn. Nhưng khoản dự thâu ngân sách
về thủy lợi hằng năm không thể bỏ được, quan trên thường giải quyết
bằng cách bắt buộc mỗi đầu dân đóng thêm năm cắc hoặc một đồng để bù
trừ lại.
Chủ đất có thế lực thường ngang nhiên đắp đập ở ngọn rạch, không cho cá xuống khiến người xây rọ chịu thất thâu.
Dân Châu Đốc xuống Rạch Giá dạy nghề xây rọ. Dân Gò Công tới vàm biển sông Cái Lớn phổ biến việc đóng đáy (trước năm 1912).
Việc thành lập làng mới
Người nhiều vốn để mộ dân đi khẩn hoang mà dám bảo đảm sẽ đóng đầy đủ
thuế thì được nhà nước chấp thuận cho lập làng mới. Đây là nguyên tắc
từ thời vua chúa nhà Nguyễn mà thực dân cho áp dụng trở lại để thâu
thêm thuế điền và thuế thân. Năm 1894, việc thành lập làng Vĩnh Hưng
cho thấy sự xuất hiện của bọn cường hào mới. Vùng đất này ở phía nam
tỉnh Rạch Giá, giáp ranh Sóc Trăng. Hai người giành nhau lập làng, cả
hai đều là bá hộ nổi danh thời bấy giờ, tuy là người Việt nhưng gốc Hoa
kiều.
— Phan Hộ Biết (tục danh là bá hộ Bì) ở Bạc Liêu xin lập làng mới. Dân
do ông ta quy tụ sẽ lần hồi đóng thuế cho nhà nước. Ông ta đã xuất tiền
túi ra xây cất xong một nhà việc (công sở làng) trị giá 200 đồng.
— Bành Trấn thì đưa kế hoạch đào kinh do chính ông xuất vốn, mướn nhân
công. Lại cam kết rằng sau khi được chấp thuận lập làng thì sẽ có 150
dân công do ông quy tụ, đóng thuế ngay (thuế này do chính ông xuất ra
cho dân mượn trước). Và tuy đất chưa thâu hoạch huê lợi, ông sẵn sàng
chịu thuế điền 1500 mẫu, đóng ngay cho nhà nước. Nếu nhà nước chịu cho
đứng tên làm chủ 1000 mẫu đất thì ông ta hứa bảo đảm đóng thuế cho 300
người trong những năm tới. Theo lời trong đơn, vùng này còn nhiều voi
và trộm cướp, lập làng thì đất trở thành tốt, thú rừng và bọn bất lương
không còn lai vãng. Kế hoạch của Bành Trấn được Thống đốc Nam kỳ chấp
thuận vì Bành Trấn vào đơn trước hơn Phan Hộ Biết. Nhưng lý do vẫn là
vì Bành Trấn chịu đóng thuế ngay, làng Vĩnh Hưng trở thành một tiểu
quốc của Bành Trấn, ông ta bèn bắt buộc bọn tá điền trả lại tiền thuế
thân đã ứng trước, rồi cho vay nặng lời. Rốt cuộc tất cả dân trong làng
trở thành tá điền, chẳng ai làm chủ mảnh đất lớn nhỏ nào cả. Đến năm
1911, nhà nước mới can thiệp vì lập làng như vậy là thất nhân tâm, có
lợi cho cá nhân đứng lập làng nhưng hại cho nhà nước.
Bởi vậy, khi cho lập làng Ninh Quới vào năm 1913, viên phó tham biện
đặc trách quận Long Mỹ đã tổng kết kinh nghiệm và nhận định về việc bầu
cự các hương chức hội tề :
— Trong ban hội tề, chức vụ xã trởng là quan trọng hơn hết, viên chức
này giữ mộc ký (triện) của làng. Xã trưởng lựa người thân tín, cho làm
chức hương xã, rồi đến chức hương thân, hương hào. Những chức vụ còn
lại thì do xã trưởng nêu điều kiện, ai muốn làm thì cứ thương thuyết,
lo hối lộ cho ông ta. Đây là tình trạng lập làng mà không có bầu cử về
hình thức.
— Nếu bày ra hình thức bầu cử, chỉ một thiểu số điền chủ được ứng cử và
có quyền bầu mà thôi. Dân làng không được tham khảo ý kiến. Và dân chỉ
muốn cuộc bầu cử diễn ra thật nhanh, ai làm cũng được, để họ biết ai là
người nhận tiền thuế mà họ phải đóng.
— Khi lập làng mới, công việc đầu tiên của hương chức là bắt buộc dân
phải ký giấy nợ, trả lại cho họ những sở phí lập làng (tiền mua bộ sổ,
tiền mua tặng phẩm để hối lộ cho quan trên). Dân không dám cãi lịnh vì
họ được khai khẩn vài mảnh đất nhỏ.
Bởi vậy, theo ý kiến của Marcel Roché (phó tham biện đặc trách quận
Long Mỹ) thì nên lưu ý việc sắp đặt hương chức hội tề ở làng mới lập :
nếu xã trưởng và hương cả thuộc một phe với nhau thì nhà nước nên cho
người thuộc về phe khác (lẽ dĩ nhiên hai phe này đều tham nhũng) làm
những chức vụ còn lại trong ban hội tề, để khi hai phe nói xấu, tố cáo
nhau thì nhà nước có lợi là biết được sự thật. Nếu chỉ một phe cường
hào nắm trọn một ban hội tề thì dân càng khổ. Cũng theo ý kiến viên phó
tham biện này, những người đứng ra sáng lập làng thường đem lá đơn được
chấp thuận ấy về địa phương mà dằn mặt dân, rồi bắt đầu lên “ngai vàng
mà thống trị như vua chúa”.
Trường hợp một làng khác ở quận Long Mỹ, có viên chức cho 17 người Miên
đến khẩn đất. Họ lo bắt cá, đốn củi, sau bão lụt năm Thìn, cây rừng ngã
xuống mới bắt đầu làm ruộng. Khi đất dọn xong thì mới hay rằng viên
chức nói trên đã làm đơn xin khẩn chồng lên phần đất ấy từ trước, có
biên lai. Cũng may là vụ này được giải quyết êm đẹp, dành ưu tiên cho
người Miên vì họ chịu cực khai phá từ trước.
Trường hợp làng quá rộng như làng Đông Thái dài 30 cây số, dân đến cư
ngụ lần hồi, khi đủ số thì những ấp ở xa trở thành làng mới, tách ra
lập thêm ba làng là Đông Hưng, Đông Hòa và Đông Thạnh từ năm 1914.
Lắm khi vì muốn kiểm soát an ninh ở mấy ấp hẻo lánh, nhà nước chấp
thuận cho tạm lập một làng mới. trong giai đoạn sơ khởi, lúc quan kinh
lý chưa đến phân ranh thì hương chức không được thâu thuế, chỉ được xử
kiện những vụ nhỏ và sắp đặt dân canh phòng mà thôi : làng Thạnh Lợi
tách ra khỏi làng Thạnh Hưng tháng 11/1912.
ở những làng quá đông người Miên, hương chức hội tề có thể ký tên bằng
chữ Miên và điều kiện để làm hương chức không cần là phải biết chữ quốc
ngữ. Quan trọng nhứt là chức xã trưởng, chỉ dành cho người hằng sản để
có thể bồi thường cho nhà nước trong trường hợp làm sổ sách sai lạc
hoặc gian lận thuế, lấy tiền công nho để cho vay nợ riêng, hoặc cờ bạc
thua. Người biện làng (thơ ký, nhân viên riêng của xã trưởng) lãnh
trách nhiệm viết lách, thảo đơn từ, phúc bẩm báo cáo.
Việc lựa chọn vài người háo danh và khờ khạo để làm hương chức lắm khi
là dụng ỳ của những tay có thế lực để dễ dàng thao túng. Tệ đoan lớn ở
mấy làng xa quận lỵ là nạn cờ bạc, chứa chấp bọn trộm cướp do hương
chức làng chủ mưu và chia phần. Nhiều ông điền chủ không thèm vào ban
hội tề, khi cần thế lực thì dựa vào quan trên hoặc đứng ngoài, sắp xếp
tay em của họ vào làm hội tề là đủ rồi.
Trong những làng mà đất đai đều do người Pháp làm chủ, về mặt hình thức
thì người Việt Nam vẫn cai trị lẫn nhau nhưng hương chức chỉ là tay
sai. Khôi hài nhứt là những báo cáo của làng gởi lên cấp trên : nếu là
trên lãnh thổ của điền Tây thì phải có chữ ký của chủ điền hoặc của
người quản lý thì mới có giá trị. Người “chủ điền Tây” có quyền thị
thực chữ ký hoặc xác nhận sự kiện trong công văn của làng. Trong điền
của Pháp, việc cử hương chức hội tề (chỉ định thì đúng hơn) không theo
tiêu chuẩn là có hằng sản vì tìm đâu ra một người có hằng sản ! Năm
1911, vào tháng 9, hương chức làng báo cáo khi chủ quận ra lịnh cử một
người thay thế cho vị hương chủ vừa chết : “Ông A. Isidore mới lập
làng, dân làng là người nghèo nàn và các nơi tới mướn đất làm ruộng
cấy, lúa tốt thì nó ở, lúa xấu thì nó trốn đi, dân không có vườn đất
tại làng. Xin đình lại tháng Décembre nhằm mùa lúa trổ, làng xét lại
lúa ai tốt là người khá trong làng và lựa người xứng đáng làng mới dám
cử”.
Vài nét lớn về điền của Pháp
Cần nhớ là bấy giờ ở Nam kỳ, danh từ đồn điền không được xài tới vì gợi
ý nghĩ không tốt, trùng hợp với những đồn điền thời đàng cựu mà Pháp
chánh thức giải tán (dân đồn điền thường là dân làm loạn khi người Pháp
mới đến). Gọi là điền, kèm theo tên của người chủ, thí dụ như điền ông
La—bách (Labaste) hoặc tên tục như điền ông Kho (Gressier), hoặc khôi
hài hơn : điền Tây Mập, điền Tây Tàu (tên này có tàu riêng để chở lúa)
hoặc điền Tây Đầu Đỏ (tóc đỏ). Nếu là của công ty thì gọi là điền hãng.
Người làm chủ đất thì gọi là điền chủ (gọi “địa chủ” nghe không thanh
tao, theo lối nói lái của người miền Nam). Chủ ruộng là người canh tác
trên đất mướn của người khác. Tá điền là người mướn đất làm ruộng
(không gọi là dân cày, vì dân chúng bấy giờ cho là trâu mới cày, người
đâu phải trâu mà cày).
Thoạt tiên, nhà nước định hễ người Pháp hoặc người Việt có quốc tịch
Pháp khai thác trên mười mẫu thì được hoàn toàn miễn thuế trong 5 năm
liền; đến năm thứ 6 là bắt đầu đóng 1/5 số thuế, cứ như vậy đến năm thứ
10 là đóng trọn. Nghị định ngày 4/1/1894 sửa đổi lại không miễn thuế 5
năm đầu, ngay trong năm đầu đóng số 1/5 thuế, đến năm thứ 5 là đóng
trọn. Nghị định 13/4/1909 cho phép những người Pháp có trên 80 tá điền
và khai thác một diện tích ít nhứt là 400 mẫu được quyền lập riêng một
làng mới, nếu chủ điền yêu cầu, dân trong điền được hưởng quy chế “dân
điền Tây”.
Với nhiều ưu đãi vừa kể, thực dân Pháp tha hồ làm mưa làm gió. Trước
khi có nghị định trên, từ năm 1906 ở Rạch Giá đã xảy ra một vụ lập làng
mới lấy tên là Vĩnh Báu, trên địa phận của làng Vĩnh Viễn. Chủ điền là
trạng sư Doutre cho người quản lý (gọi nôm na là cặp—rằn) đem 70 dân
đến lãnh thổ vừa được phép trưng khẩn để lập làng mới. Hương chức hội
tề địa phương can thiệp vì chưa có lịnh chánh thức của quan trên. Người
quản lý này (người Việt) cứ ra lịnh tiếp tục cất công sở mới và xúi dục
tá điền cầm dao rượt chém hương chức làng sở tại !
Thực dân khuyến khích cho người ở xa cũng khẩn đất, trường hợp Nam tước
Rothiacob cư ngụ ở Ba Lê làm đơn xin khẩn ở Vị Thủy (Rạch Giá) phần đất
1357 mẫu, vào năm 1911 vì nghe tin sắp đào kinh ở vùng này, nhưng chỉ
được cấp 642 mẫu để rồi không nhận lãnh. Phần đất tốt này lại được dân
địa phương canh tác mà không làm đơn trước vì họ tưởng là vô chủ. Hai
người Pháp là Duval và Guéry (đã có đất ở Cần Thơ) lấn qua đó 80 mẫu,
đến năm 1911, tên Labaste xin trưng khẩn (Labaste nổi tiếng là lãnh
chúa với những phần đất ở Sóc Trăng).
Vài người Pháp lanh lợi và thực tế đã khéo lợi dụng sự ưu đãi để giựt
đất của dân hoặc giựt tiền trợ cấp của chánh phủ thuộc địa, điển hình
là L. Bélugeaud, kinh lý hữu thệ. Năm 1911, ông ta trưng khẩn 500 mẫu
đất ở làng Hưng Điền (Mộc Hòa), xin trợ cấp cho 500 đồng để thí nghiệm
cơ giới hóa nông nghiệp theo một kiểu máy do chính ông ta sáng chế và
ráp tại chỗ. Đến nông trại, ông ta nhờ tham biện, nhờ hương chức làng
giúp mướn cu—li, mướn trâu và cất chòi. Khi lãnh tiền, ông ta cho bọn
cu—li cày bừa rồi lại báo cáo từng đợt để hưởng thêm trợ cấp, sau rốt,
ông ta bỏ căn chòi xơ xác nọ, bỏ mấy bộ phận sắt vụn đầy sét, giựt luôn
tiền mướn trâu và mướn cu—li. Đến mùa, ông ta hưởng phần hoa lợi do bọn
cu—li canh tác theo lối cổ truyền chừng 30 mẫu. Năm 1913, Bélugeaud đến
Rạch Giá mở văn phòng lãnh đo đạc ruộng đất, bấy giờ muốn có bằng khoán
thì phải có bản đồ do chuyên viên được chánh phủ thừa nhận lập ra. Dịp
tốt để Bélugeaud đòi tiền thêm, cao hơn giá mà nhà nước quy định. Và
sau khi đo xong, chủ đất phải lo hối lộ thêm 500 đồng thì mới có bản
sao của bản đồ. Trước đó, năm 1909, ông ta tìm cách giao thiệp với các
người giàu có ở Rạch Giá, nhận tiền rồi bảo là để vận động giùm với
quan trên, ai muốn khẩn đất to thì cứ đưa nhiều tiền. Dân địa phương
tin lời, vì ông ta là người Pháp. Năm 1913, thấy phần đất giữa làng Lộc
Ninh và làng Vĩnh Bình đã có dân khai thác từ lâu nhưng chưa được cấp
phát chính thức, ông ta làm đơn xin khẩn 1000 mẫu, với dụng ý bắt buộc
dân đang canh tác phải nạp địa tô cho ông ta.
Một tay khác là Beauville—Eynaud, làm chức còm—mi ở Rạch Giá đã quá chú
trọng vào việc khẩn đất. Khi thấy nhà nước soạn kế hoạch đào kinh xáng
giữa Rạch Ngan Dừa và Cạnh Đền, ông ta xin trưng khẩn 1300 mẫu, khẩn
xong, lại khai là mất mùa và không thèm đóng thuế !
Nhiều người Pháp nhờ bạn bè đứng tên giùm để khẩn thêm đất, hoặc có
những viên chức Pháp không thích canh tác nhưng cứ khẩn để bán lại cho
người Việt. Lại còn trường hợp tên Ernest Outrey (sau này là Thống đốc
Nam kỳ) lợi dụng danh nghĩa là nghị viên của Nam kỳ can thiệp với chủ
tỉnh để cho bạn bè ông ta được khẩn đất, nói đúng hơn là chiếm phần đất
mà dân quê đã khai phá từ buổi đầu.
Đời sống trong điền Tây
Điền của người Pháp là một tiểu quốc, người tá điền của điền Tây hưởng
quy chế đặc biệt về thuế thân. Họ được chủ đất bảo lãnh, dùng “giấy đỏ”
“(carte díengagé, in trên giấy cứng màu đỏ), thuế thân đóng một đồng
bạc thôi, trong khi dân ở thôn xóm làm lụng cho chủ điền Việt Nam phải
đóng cỡ 5 đồng. Họ chỉ đóng thuế chánh, khỏi những thuế phụ trội, khỏi
làm xâu, khỏi đóng tiền canh gác. Để đề phòng trường hợp họ trốn, loại
giấy đỏ này phải được chủ đất hoặc người thay mặt ký tên xác nhận, cứ 3
tháng gia hạn một lần, ai ra khỏi điền mà không có giấy phép đặc biệt
của chủ thì bị bắt, xem như chưa đóng giấy thuế thân.
Kẻ ở điền Tây phải làm giấy giao kèo “ở mướn cố công với chủ”, tùy theo
điền mà giá cả khác nhau ; mượn tiền, mượn lúa với số lời khá cao nhưng
trong giao kèo thì ghi thấp. Người làm ruộng nhiều thì được vay nhiều,
tùy theo sự tiến triển của mùa màng mà chủ đất lần hồi cho họ vay thêm.
Điền tây là nơi chứa chấp đủ thứ tội ác : cờ bạc, hút á phiện lậu, đặt
rượu lậu thuế. Hương chức làng, lính mã tà, nhân viên thương chánh khó
bề đột nhập để tra xét nếu không được phép của người chủ điền Tây.
Trong những điền lớn, chủ đất thường vắng mặt quanh năm, việc quản lý
giao cho hai ba người Pháp gọi là “surveillant agricole” được phép mang
súng, lắm khi họ là người Pháp dốt nát (lính sơn—đá nghỉ dài hạn hoặc
đã giải ngũ). Lại còn những cặp—rằn bổn xứ chuyên nghề tuần tra với cây
cù ngoéo, có thể đánh đập dân chẳng khác nào mấy ông hương quản, cai
tổng. Điền Tây còn là nơi chứa chấp trộm cướp ; bọn này hành nghề ở địa
phương khác rồi trở về ẩn náu, làm ruộng cho có hình thức. Đôi khi,
điền Tây lại vô tình thâu nhận những chánh trị phạm, những tay phiến
loạn bị tập nã từ các tỉnh miền Tiền giang.
Mùa lúa chín thì chung quanh điền Tây việc canh phòng bố trí nghiêm
nhặt như một cơ sở quân sự. Bọn cặp—rằn đánh mỏ canh tuần ghe xuồng di
chuyển gần điền phải bị tra xét phiền phức. Mục đích là đề phòng bọn tá
điền “lưu” lúa ra ngoài bán trước lấy tiền xài riêng, rồi khi chủ điền
tới đong, tá điền nói gạt rằng ruộng thất mùa. Người trong điền muốn
chở lúa đem bán nơi khác hoặc cho bà con thì phải xin giấy chứng nhận
là đã đóng đủ địa tô rồi.
Nơi trạm kiểm soát, bọn cặp—rằn treo lá cờ to làm hiệu, tùy sở thích
của chủ điền mà cờ này màu đỏ hay màu trắng (bởi vậy dân địa phương căn
cứ vào màu cờ mà gọi là điền Tây Cờ đỏ, điền Tây Cờ trắng...).
Về mặt trị dân, vài tên chủ điền Tây hoặc cặp—rằng tỏ ra đầy đủ bản
lĩnh, thí dụ như họ dám hòa mình với dân Việt : ăn mắm, uống rượu đế,
ăn thịt chó, cỡi trâu kình (trâu đua). Có tay còn gian hùng hơn, rước
thày về để làm lễ tống ôn, tống gió, ăn lễ hạ điền, tụng kinh cầu cho
quốc thái dân an với dụng ý cầm giữ dân và phát triển mê tín, óc xôi
thịt. Hoặc là ông Tây chủ điền già nua lại mặc áo dài xanh, đội khăn
đóng “cúc cung bái” khi cúng đình thần, với chức vụ là đại hương cả.
Bọn chủ điền Pháp là thế lực khá mạnh, thường đưa ra nhiều yêu sách với
chánh phủ thuộc địa như đòi tham gia Hội đồng địa hạt để bàn bạc hằng
năm về giá biểu thuế khóa trong tỉnh. Trong một bài báo, J. Delpit đòi
được miễn thuế “bách thân phụ trội” đánh vào thuế điền vì thuế này do
chủ tỉnh đặt ra, tham khảo với Hội đồng địa hạt An Nam chớ chủ điền
Pháp không được hỏi ý kiến. J. Delpit bảo rằng thuế ấy chỉ dành cho
người Việt đóng mà thôi. Nhà nước thực dân nhận định rằng nếu đưa người
Pháp vào Hội đồng địa hạt thì quá đáng : đa số điền chủ Pháp không cư
ngụ tại địa phương thì làm sao họ đại diện cho dân trong hạt được ? Vả
lại, đa số điền chủ Pháp đều là công chức hoặc chức sắc của công giáo.
Delphit khoe khoang rằng chủ điền Pháp đã góp công lớn vào việc xây
dựng thuộc địa Nam kỳ : Trong vòng 40 năm, họ đã khai khẩn đến 247.417
mẫu (do 300 người chủ đất), cao hơn diện tích mà suốt 15 thế kỷ qua
người Miên và người Việt đã khai khẩn (215.578 mẫu, năm 1868), chưa kể
đến 85.000 mẫu đất trồng cao su. Bên cạnh người Pháp, dân Việt đã khai
khẩn từ 215.578 mẫu năm 1868 đến mức 1.291.358 mẫu vào khoảng năm 1912.
Vào năm 1912, cũng theo con số mà J. Delpit trưng dẫn, Rạch Giá là tỉnh
mà người Pháp có nhiều ruộng đất nhứt : 12.304 mẫu đã canh tác cộng với
26.121 mẫu đang trên đà khai phá, sắp có huê lợi.
Đứng nhì là Sóc Trăng với 11.246 mẫu đã canh tác của người Pháp và
4.308 mẫu khác đang trên đà khai khẩn thêm. Hạng ba là Cần Thơ với
8.127 mẫu đã khai thác cộng thêm với 21.931 mẫu đang trên đà khai thác
của người Pháp. Tỉnh Rạch Giá cũng đứng đầu về số người Pháp làm điền
chủ : 23 người, (trong số này có 11 vị chức sắc công giáo).
Sống trong điền của Tây hay điền của người Việt sướng hơn ? Câu hỏi này
là cái vòng lẩn quẩn : nếu gặp năm thất mùa thì đâu cũng là cực khổ.
Chủ đất nào cũng đưa giá biểu địa tô tùy hứng, gom góp ít nhứt là 80 %
tổng số lúa thâu hoạch vì ở đâu cũng cho vay nặng lời, công khai hoặc
trá hình.
Cuộc tranh đấu của giới đại điền chủ
Từng lớp đại điền chủ bổn xứ thành hình nhờ khẩn đất nhiều và đất tốt,
nhứt là phần đất có nước ngọt từ Hậu giang dẫn qua nhờ kinh đào. Đặc
biệt ở phía sông Cái Bé, một mẫu đất trị giá bằng năm, bảy hoặc mười
mẫu ở phía Cái Lớn, nơi nước mặn. Kinh đào biến nhiều vùng thành ra phì
nhiêu, dễ sinh sống, nước ngọt mãn năm. Điền chủ vay nợ để khẩn đất.
Trong vài năm đầu, nếu gặp gió thuận mưa hòa thì lấy vốn được. Hễ thấy
đất tốt, tá điền ít chịu dời chỗ. Đất tốt dầu thất mùa vẫn thu hoạch
tương đương hoặc cao hơn nơi đất xấu vào những năm trung bình.
Trận bão lụt năm Thìn (1904) gây thiệt hại nặng nề cho mùa màng ở Rạch
Giá (bấy lâu, ta chỉ biết rằng thiệt hại to lớn là ở Mỹ Tho, Gò Công mà
thôi). Chủ điền lo ngại vì không kiếm ra tiền để đóng thuế điền. Mặt
khác, số vốn khá to mà họ đưa cho tá điền vay lại bị mất luôn. Một số
tá điền ngang nhiên bỏ đất, dời qua vùng khác, trong trường hợp chánh
đáng mà điền chủ không có lý lẽ để truy tố được.
Tại Rạch Giá, năm Thìn (1904) xảy ra hai trận bão lớn : 1/5 và 3/11. Năm sau (1905) lại thêm lụt rồi nắng hạn bất ngờ.
Trong điền của Gilbert Trần Chánh Chiếu, mức tổn thất được kê khai như sau với nhà nước :
— Đất ruộng ở làng Thạnh Hòa (Tràm Chẹt nhỏ) 1000 mẫu bị ngập suốt hai
tháng liên tiếp, rồi trận giông ngày 2/11/1904 làm sập nhà cất cho tá
điền ở, lẫm lúa bị tốc nóc. Đất khẩn ở phía Hòa Hưng gồm 200 mẫu, hư
trọn. Trong hiện tại, cần cấp dưỡng cho 200 tá điền sống lây lất.
— Từ bốn năm trước, lúa trong lẫm gom từ 20 tới 25 ngàn giạ lúa, năm
1904 chỉ còn thâu được từ 1000 đến 1500 giạ. Sự lỗ lã ước lượng là
15000 đồng. Xin nhà nước cho vay trợ cấp, để tiếp tục khai thác.
Đơn kêu nài gởi lên. Chủ tỉnh cho cai tổng tới điều tra, thấy phần đất
ở Thạnh Hòa của Trần Chánh Chiếu trước kia có 125 gia đình tá điền thì
nay 42 gia đình đã đào tẩu, còn lại 83 gia đình. Nhà cất cho tá điền ở
gồm 93 cái, cộng là 232 căn đã bị sập hết 72 cái, tức là 177 căn. Năm
1904, đất này canh tác 645 mẫu.
Riêng về phần đất ở Hòa Hưng gồm 14 người tá điền, còn lại 3, trốn hết
11. Nên nhớ là ở Rạch Giá chỉ làm ruộng mỗi năm một mùa, người cai quản
ruộng đất của ông Chiếu trình bày trong đơn : “Thiệt tội nghiệp, trong
dân tá điền ai ai cũng đều nghèo khổ, đói khát, rách rưới, ở ruộng thì
nhờ ruộng, một năm làm ruộng có một lần, trông đợi có bấy nhiêu song
chẳng đặng, bây giờ phải đợi qua năm khác, lâu không biết bao xa mà nói
cho cùng”. Và hiện tại, dân chỉ biết hy vọng cấy lúa ván ăn đỡ, kiếm
chút ít mạ hồi mùa rồi còn sót lại, chặt bớt rễ mạ mà cấy tạm khi nước
giựt xuống.
Một linh mục ở họ đạo Trà Lồng gởi thơ lên chủ tỉnh xin miễn thuế, cho
biết : vì đường giao thông khó khăn nên trong điền lúa hạ giá quá thấp
dân không bán được, trong khi những sản phẩm cần thiết thì mua với giá
gần gấp đôi ngày thường.
Phong trào tranh đấu chống thuế điền nổi lên, khi chủ tỉnh Rạch Giá hăm
he truy tố vài người chủ điền ra tòa và mặt khác, gởi trát đòi từng
người để thúc hối, cảnh cáo. Nhưng chủ tỉnh cho riêng Thống đốc Nam kỳ
biết là không thể nào đòi được số thuế điền trong tỉnh còn thiếu lại là
trên 135.000 đồng. Lại báo tin rằng điền chủ lớn đang xúi giục điền chủ
nhỏ đừng đóng thuế điền năm 1905 rồi theo đà ấy, không đóng thuế luôn
qua năm 1906.
Tòa án Rạch Giá đã xử làm gương hai vị điền chủ thiếu thuế. Lúc đầu,
hương chức làng mời tới công sở, họ không thèm tới gặp. Ra trước tòa,
họ tỏ thái độ ngạo mạn hơn. Khi được hỏi tại sao mà không tới gặp hương
chức làng, họ nói thẳng là “chỉ vì họ không muốn đóng thuế, và chẳng có
ai được quyền bắt buộc họ đóng”, nếu nhà nước đem phát mãi đất của họ,
nhứt định là chẳng ai dám mua (ngụ ý là nếu mua thì sẽ bị họ trả thù).
Chủ tỉnh Rạch Giá còn đưa ra đề nghị nên chia những tổng có diện tích
quá rộng ra làm đôi, để có thêm cai tổng đi thúc thuế. Đồng thời, cương
quyết phạt tù kẻ thiếu thuế, đem đất họ ra phát mãi, dán yết thị ở
những làng lân cận để người giàu ở tỉnh khác đến đấu giá.
Để đối phó lại, 81 người “điền chủ lớn” ở Rạch Giá đồng ký tên vào đơn,
trình cho chủ tỉnh để xin tha thuế năm 1905, đứng đầu là hai ông Trần
Chánh và Huỳnh Thiện Kế (đơn ngày 29/4/1906) với lập luận sắc bén :
— Muốn trở thành điền (tức là canh tác) một mẫu đất, phải nuôi tá điền 20 giạ lúa và vài ba đồng bạc là tối thiểu.
— Năm rồi (năm Thìn, 1904) chủ điền phải vay bạc của nhà băng Đông Dương mà nuôi nhân điền (tá điền).
— Như hạt Sa Đéc là chỗ điền thổ đã khai mở lâu năm thành khoảnh mà nhà
nước còn chuẩn cho các chủ điền đóng thuế hạng nhứt sụt hạng nhì, hạng
nhì sụt hạng ba, còn hạng ba thì tha thuế trọn, huống chi là hạt Rạch
Giá là hạt mới khai mở không đặng 10 năm, và phần nhiều trong số điền
thổ khai phá không đặng 4 năm nay.
— Nhà nước đã hứa miễn thuế cho điền chủ nghèo, còn với điền chủ lớn
thì đợi lúa thóc gặt rồi, cho đóng 1/3. Nay xin tha trọn thuế, vì đất
ruộng ở phía sông Cái Bé thất bát 7/10, nước vừa giựt xuống là bị nắng
hạn.
— Yêu cầu nhà nước áp dụng luật Gia Long về tỷ lệ miễn thuế, luật này
được nhà nước Lang Sa phê ưng và cho thi hành từ năm 1871 : theo đó hễ
ruộng thất mùa 1/10, không giảm thuế; ruộng thất 2/10, giảm 1/10; khi
thất mùa đến mức 8/10 hoặc hơn nữa thì miễn trọn thuế.
Kết quả là Thống đốc Nam kỳ chịu miễn thuế cho những ai chưa đóng thuế
năm 1904 mà thôi (tức là cho mùa gặt cuối năm 1903). Còn về hậu quả của
bão lụt năm Thìn thì đóng y như cũ. Nhưng điền chủ ở Rạch Giá chưa chịu
thua. Họ loan tin rằng nhà nước đã hoàn toàn miễn thuế, khiến cho một
số điền chủ bấy lâu rụt rè lại hăng hái lên không thèm đóng.
Theo đề nghị của chủ tỉnh, Thống đốc Nam kỳ cách chức viên cai tổng và
phó tổng tổng Kiên Tường (cả hai đều là người Miên) về tội phao tin
thất thiệt là hoàn toàn miễn thuế. Thật ra, nhà nước chỉ chấp nhận miễn
phần thuế quản hạt (budget local) mà thôi, chớ vẫn thâu trọn phần địa
hạt và bách phân phụ trội.
Thống đốc lại cho một viên chủ tỉnh nhiều năng lực là Albert Lorin
nghiên cứu vấn đề. Lorin phúc trình rằng Rạch Giá có 6 tổng, mỗi tổng
đều quá rộng nên khó theo sát từng điền chủ để làm áp lực. Trong vòng
hai năm mà ở Rạch Giá lại thay đổi 4 lần chủ tỉnh nên chánh sách không
được liên tục. Theo ý kiến của Lorin, chỉ nên giảm thuế cho chủ điền
nhỏ, chớ chủ điền lớn thì vẫn còn dư tiền để mua đất, khẩn đất thêm :
Hiện tại, ở tòa Bố Rạch Giá còn đến 439 đơn xin khẩn một diện tích là
14.031 mẫu, chứng tỏ điền chủ bốn xứ hãy còn hăng hái trong việc làm ăn.
Năm 1911, tỉnh Rạch Giá trải qua một cơn mất mùa trầm trọng, nhà nước
đành cứu xét miễn thuế, tuy miễn ít nhưng những ai lì lợm thì cũng bỏ
luôn.
Cuộc tranh đấu trên đã bộc lộ một sự thật khách quan : vào năm 1905,
giai từng điền chủ đã thành hình, có tinh thần chống Pháp nhứt là vào
những năm kế tiếp khi đa số điền chủ lớn ở Nam kỳ đều hưởng ứng cuộc
Minh Tân (phong trào Duy Tân) do Bùi Chi Nhuận và Trần Chánh Chiếu điều
khiển, ủng hộ ông Phan Bội Châu và ông Cường Để. Điền chủ trong nước
thấy rõ là thực dân pháp ngăn cản không cho họ tiến xa hơn để họ tự do
kinh doanh, trở thành những chủ xưởng, những thương gia như ở bên Nhựt.
Thực dân Pháp, thương gia Huê kiều (nắm độc quyền về mua bán, thao túng
giá lúa gạo). ấn kiều cho vay đều là những chướng ngại mà họ muốn san
bằng.
Còn vài chi tiết cần ghi nhớ về vai trò của giới điền chủ, không riêng gì cho tỉnh Rạch Giá :
— Mua nhiều trâu bò từ Cao Miên đem về (từ tỉnh Tà—Keo) nhờ đó mà việc
cày cấy thêm phát triển. Mua sắm nhiều ghe độc mộc từ sông Lớn (Cao
Miên, Lào) giúp phương tiện vận tải.
— Thích sống xa hoa theo lối Pháp, tiêu thụ rất nhiều hàng hóa nhập cảng, nhất là rượu Tây.
— Vào những năm lúa có giá và giá lúa được vững (1928, 1929 luôn cả năm
1930), mức sống lên cao tột bực, điền chủ bực trung ở Hậu giang dư sức
cho con qua Pháp du học, có gia đình đi cả hai ba người, học siêng năng
thì thành bác sĩ; ăn chơi thì trở thành “công tử”.
— Một số không nhỏ điền chủ ở Rạch Giá là người Minh Hương hoặc Huê
kiều. Người Huê kiều nếu làm điền chủ thì bị đồng hóa, trở thành Việt
Nam trong vài năm (khăn đóng áo dài khi làm hương chức hội tề, cúng
đình). Riêng người Huê kiều ở chợ chuyên nghề buôn bán thì giữ nếp sống
riêng.
Về đời sống của tá điền
Tá điền chẳng có quyền tham dự sinh hoạt chính trị nào cả. Hương ấp,
phó quản (gọi là hương chức nhỏ) do hương chức hội tề chỉ định. Hương
chức làng thì do bọn hương chức chọn lựa lẫn nhau, giới thiệu bà con
vây cánh, sau đó được cai tổng và chủ quận chuẩn y. Cai tổng và phó
tổng, ban biện được cử do một số thừa sai (người thay mặt); tùy theo số
dân bộ mà mỗi làng được gởi nhiều hay ít, đổ đồng 50 dân bộ có một
người. Các vị thừa sai thay mặt cho dân phải là hương chức làng (trừ xã
trưởng, hương thân, hương hào), phó xã hoặc điền chủ. Hội đồng canh
nông, hội đồng địa hạt hoặc hội đồng quản hạt là chuyện riêng của một
số hương chức làng và điền chủ đi bầu. Tóm lại, người dân nghèo chẳng
bao giờ được đi bầu cử ai cả.
Hai gánh nặng cho tá điền là thuế thân và xâu (sưu). Thuế thân thời
Pháp thuộc được quy định đồng đều (trừ những năm sau cùng của chế độ
thực dân, chia ra người có hằng sản và người không có hằng sản). Thuế
chánh chỉ là mọt đồng bạc nhưng dân phải đóng thêm một số tiền gọi là
bách phân phụ trội cho ngân sách. Số bách phân này thay đổi tùy theo
năm để cho ngân sách được quân bình chi tiêu. Ngoài ra mỗi người phải
chịu năm ngày làm xâu, có thể chuộc bằng tiền, lại còn phụ thâu về thủy
lợi, về rừng.
Nếu là dân ở xa tới, chưa vào bộ thì đóng thêm một số tiền gọi là thuế
dân ngụ. Tính trung bình vào những năm đầu thế kỷ, thuế thân cọng thêm
các khoản linh tinh vừa kể là 5 đồng, làng này đóng nhẹ nhưng làng kia
lại đóng nặng. Nên nhớ là lúc bấy giờ lúa bán vài cắc một giạ, một đứa
trẻ chăn trâu suốt năm chỉ được khoảng 10 đồng thôi. Có làng lại đặt ra
thuế nóc gia hoặc quy định tiền chuộc công sưu (đóng tiền để khỏi đi
làm sưu) với giá quá cao, thí dụ trường hợp làng Vĩnh Hòa Hưng, tổng
cộng là 8 đồng 3 xu về thuế thân, năm 1914.
Số đông tá điền không đóng nổi thuế thân hoặc không muốn đóng vì suốt
năm họ không có việc gì để đi ra khỏi làng. Thỉnh thoảng lính mã tà vào
làng xét hỏi, dân lậu thuế (gọi là trốn xâu lậu thuế) chạy trốn ngoài
ruộng hoặc vô rừng mà ẩn náu. Bị bắt về tội thiếu thuế thân là 5 ngày
tù với 15 quan phạt vạ. Khi mản tù phải đóng thuế, ai không tiền thì
làm cu—li cho nhà nước tại chợ lấy tiền mà bù vào.
Người nào trốn thuế quá lâu mà muốn vô bộ thì hương chức giải quyết
bằng cách ăn hối lộ rồi cấp cho một giấy thuế thân mà làng đã xin cho
người khác (nhưng người ấy đã trốn, bỏ làng). Trường hợp thay đổi tên
họ như thế thường xảy ra. Gặp năm mất mùa hễ không đóng nổi thuế thân
và không trả được địa tô cho chủ điền thì cứ trốn qua xứ khác mà làm
ruộng lưu động, để rồi tiếp tục dời chỗ (gọi nôm na là làm ruộng dạo,
làm ruộng hàng xáo).
Ngao ngán nhứt cho người dân là việc làm xâu. Trong những năm cần đào
kinh hoặc đắp đường, nhà nước trưng dụng quá thời hạn 5 ngày mà luật đã
định. Cai tổng và hương chức lợi dụng để bắt nạt tống tiền, ai muốn ở
nhà thì lo hối lộ. Mãn hạn thì người làm xâu được về nhưng hương chức
thường bắt buộc làm thêm vài ngày (trường hợp làm đường lộ Rạch Giá,
Hòn đất năm 1905). Năm 1911, khi bày việc đào kinh từ rạch Cái Su đến
rạch Thứ Nhứt, dân phải làm đến 20 ngày, tự túc đem theo ky, cuốc,
xuổng, gạo, nhà nước không cấp phát gì cả. Trong vài trường hợp nhà
nước có cấp phát tượng trưng bằng tiền mặt. Người ở gần sông, đặc biệt
là ở phía sông Cái Lớn hoặc Cái Bé tiếp giáp qua Cần Thơ lại phải làm
xâu vớt lục bình, đề phòng sông rạch bị chận nghẹt, ghe thuyền khó qua
lại. Thời thực dân hễ gom dân làm xâu, trong văn kiện làng công khai
gọi là “đuổi dân xâu ra nhà việc”. Khi phóng lộ hoặc tiếp tay với nhân
viên Công chánh đắp lộ, dân phải làm cu—li với giá rẻ, nhiều người bỏ
trốn.
Người Miên khổ cực hơn người Việt. Trong những địa phương người Miên
quá đông, hương chức làng đa số là người Miên. Họ bị cai trị hteo lối
phong kiến đặc sệt. Khi bị đòi tới làng, tới quận là họ sợ bị tù. Khi
cần hợp thức hóa đất ruộng mà họ dày công khai phá, họ lại vắng mặt. Họ
ít khi dám đòi hỏi quyền lợi chánh đáng, thà chịu thua thiệt mà được ở
nhà.
Thực dân Pháp khinh thường người Miên ra mặt. Trừ một số ít người mang
họ (Sơn, Thạch...) do ông bà truyền lại từ đời Tự Đức, hoặc lai Tàu (họ
Trần, họ Lý nhưng không có chữ lót) thì tất cả đều không họ. Trong bộ
sổ, cứ gọi tên này tên kia (Danh), đàn bà thì gọi là Thị.
Trong công tác khẩn hoang, người Miên góp công lao đáng kể. Họ làm công
hoặc làm tá điền cho người Việt, dầm mưa dãi nắng rất dẻo dai, sở
trường của họ là chèo ghe, đốn tràm, đào mương, tát đìa bắt cá. Đàn bà
Miên giỏi về cấy và gặt lúa, gặt cấy rất kỹ lưỡng và vén khéo tuy chậm
chạp. Gia đình Miên nào nghèo thì khó tả : ngủ nóp, hoặc ngủ trần với
bếp un, ở nơi muỗi mòng mà nhiều đứa trẻ từ khi lọt lòng đến tuổi mười
hai mười ba vẫn ở trần ở truồng, không biết áo quần là gì, ăn uống quá
đạm bạc. Vài người đã mất đất vì ham cờ bạc, quá cao hứng lúc uống rượu
say nên sẵn sàng điềm chỉ vào bất cứ giấy nợ hoặc giấy bán đất. Về thuế
thân thì mười người trốn hết bảy tám.
Đặc biệt là ở Rạch Giá, người Huê kiều lại tích cực khẩn hoang với sở
trường là làm rẫy ở đất giồng ven sông Cái Lớn và Cái Bé (những giồng
này gọi là thanh lang). Họ có mặt tại xứ Rạch Giá từ đời Mạc Cửu nhưng
con cháu số người cố cựu ấy đã trở thành Việt Nam từ lâu đời rồi. Đợt
người sang cư trú khi Pháp đến gồm đa số là người Triều Châu. Theo bảng
kê khai vào tháng giêng năm 1906, tỉnh Rạch Giá có :
Quảng Đông 266 người
Hẹ (Akas) 17 người
Hải Nam 331 người
Phước Kiến 108 người
Triều Châu 876 người
Người Triều Châu làm rẫy cư ngụ thành xóm đông đúc, siêng năng không ai
bì kịp, ăn ít, làm việc thì nhiều, bất chấp giờ giấc. Khóm (thơm) ở Tắc
Cậu, khoai lang ở Ngả Ba Đình, khoai lang ở Trà Bang (Long Mỹ), ổi ở
Bến Nhứt một dạo nổi danh toàn cõi Hậu giang. Đa số nghèo khó, không
được quyền làm thừa sai để bầu cử ông Bang vì muốn làm thừa sai thì
phải có hằng sản, đứng bộ điền hoặc đóng thuế môn bài. Họ cưới vợ Việt,
gặp năm rẫy thất mùa, đời sống nói chung là cơ cực vì còn phải trả tiền
mướn đất rẫy.
Thuế thân của Hoa kiều cao gấp ba lần thuế của người Việt. Người nào
làm ăn khá, còn sức khoẻ thì Bang trưởng đứng ra bảo đảm đóng thuế
giùm, sau này trả lại. Nhưng gặp trường hợp quá nghèo, đau yếu thì
chẳng ai dám bảo lãnh giùm cả. Thiếu thuế nhiều năm liên tiếp, theo
luật là bị trục xuất về Trung Hoa. Người thiếu thuế 4 năm nếu bị bắt
thì phải đóng 62 đồng, cộng thêm 30 đồng tiền phạt. Một số làm ăn thất
bại, trốn xuống tàu buồm Hải Nam mà đến xứ khác như qua Xiêm, Mã Lai,
rủi bị trục xuất về Tàu thì xảy ra cảnh chồng Bắc vợ Nam. Huê lợi về
rẫy không được bền, sau năm bảy năm, họ trồng các loại khác, kém huê
lợi hơn vì đất lần lần mất chất màu mỡ. Người quá nghèo không còn bà
con bên Tàu thì cố gắng ở lại xóm rẫy. Trong trường hợp thiếu thuế, họ
đành tự giam hãm trong làng, lo hối lộ từng chập cho hương chức hội tề
để khỏi bị bắt. Hoặc dời chỗ, cải trang như trường hợp của người mang
tên là Trần Văn Sơn, 60 tuổi, người Triều Châu để búi tó, mặc quần áo
như người Việt Nam bị bắt vào tháng chạp 1914 ở Gò Quao vì bị tình nghi
là theo Thiên Địa Hội. Ông này khai thật rằng qua Việt Nam hồi năm 38
tuổi, ở Bạc Liêu làm ăn 3 năm, ở Cần Thơ 8 năm, ở Cà Mau 3 năm, ở Rạch
Giá từ 3 năm qua nhưng rốt cuộc làm ăn không khá, đành mua tấm giấy lão
của người Việt tên Phạm Văn Lê. Vì sợ tung tích bại lộ nên ông ẩn lánh
ở sốc người miên.
Về tình trạng của nông dân nghèo năm 1908, nhà cách mạng Trần Chánh
Chiếu cũng là điền chủ lớn ở Rạch Giá đã viết bài đăng trên tờ Lục Tỉnh
Tân Văn số 42, tháng 9/1908 (hai tháng sau là ông bị bắt vì việc vận
động Đông Du). Bài lấy hai câu thơ “Nhị ngoạt mại tân ti. Ngũ ngoạt
khiếu tân cốc” làm nhan đề.
Người Nhiếp di Trung làm bài thơ Mảng Nông có câu thơ rằng : tháng hai
bán tơ mới, tháng năm bán lúa sớm, cắt thịt vá ghẻ nghĩa là đở ngặt vậy
chớ khổ cũng hoàn khổ.
Thương hại cho dân nghèo ra thân đi làm tá điền, vì trong tay không có
nghề sản nên mới chui đụt đỡ giấc, nói tiếng làm ruộng chớ kỳ trung đi
kiếm ăn cho qua ngày tháng. Làm ruộng gì mà mãn nhứt đại không có dư
một hột lúa dính tay, lẽ thì ba năm làm mới có một năm thiếu ăn, có đâu
hụt trước thiếu sau, lúa gặt vừa rồi đã đi lãnh ruộng giao, lãnh công
cấy công phát.
Một năm 12 tháng, làm ruộng thật sự có bốn năm tháng còn bảy tám thán
dư linh làm nghề chi ? Vì không có nghề trong tay nên mới rủ nhau đánh
cờ chó, hoặc đi coi đánh cờ bạc, chà lết mòn quần rách áo.
Thương ôi, dốt đặc hơn cá tôm, vụng về hơn trùng dế. Dân nước khác tiếc
tới giờ tới phú như tiền bạc, dân nước mình phí ngày tháng như nước
trôi.
Uổng thay, từ già tới trẻ, từ nam tới nữ đều luống những đêm ngày. Nghe
ai cho vay thì mừng hớn hở, hỏi rồi nào lo trông trả. Vì vô nghề nghiệp
nên mới sanh tệ trong xứ như thế. Làm người phải biết thương cái thể
diện của mình.
Kẻ thương quê hương phải hết sức giúp cho nền công nghệ thì có ngày trừ đặng việc tình tệ mới bày tỏ trước đó.
Hơn 20 năm sau, vài học giả Pháp nghiên cứu tình hình kinh tế, tình
hình đất đai miền Nam, cách khẩn hoang ở Hậu giang, vấn đề cho vay,
việc phân phối đất đai... rồi đưa ra vài biện pháp “xây dựng”. Nhưng
gẫm lại, việc nghiên cứu của họ chỉ là thương vay khóc mướn, không tiến
bộ bằng bài báo trên. Vấn đề chánh là tá điền sống trong tình trạng bán
thất nghiệp, ruộng một mùa, độc canh ; kỹ thuật thì không hơn thời vua
Tự Đức, nếu không nói là thời Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp.
Bi thảm nhứt là năm mất mùa, bao nhiêu lúa phải gom lại để trả địa tô
để rồi xuất cảng, trong khi “những người mạnh khỏe, nếu tìm được công
việc làm (làm mướn trong xóm) cũng khó đủ tiền để mua gạo ăn trong
ngày, vì giá lúa cứ tăng lên tại địa phương”. Chương 2 - 4
Vùng Bạc Liêu, Cà Mau xa xôi và phức tạp
Cà Mau là đất có dân từ thời Mạc Cửu, qua đời Gia Long thì những giồng
cao ráo ở ven sông Ông Đóc, sông Gành Hào, sông Bãi Háp và vài phụ lưu
đã thành xóm. Lúc tẩu quốc, Gia Long nhờ dân ở Cà Mau giúp nhiều về tài
lực, nhân lực ; vài người nổi danh, như Dương Công Trừng. Mũi Cà Mau là
vùng rừng đước, rừng vẹt, còn lại là rừng tràm. Phía Nam Hải, nhiều nơi
có bãi cát đen. Phần ở chót mũi Cà Mau gần như nước mặn tư niên, trừ
khi mưa già. Dân sống được là nhờ nước ngọt từ Hòn Khoai chở vào bờ.
Từ xưa, Cà Mau là nơi người Hoa kiều sống rải rác với người Miên. Nhằm
mùa đánh cá, ngư phủ ở Gò Công đến ven biển, cất chòi ở tạm rồi trở về
xứ. Đợt Huê kiều vào lập nghiệp khiến cho Bạc Liêu, Cà Mau trở thành
khá phồn thịnh là đợt cuối thế kỷ 19, khi người Pháp đến. Họ đi bằng
tàu buồm vào Cà Mau, khỏi ghé qua Sài Gòn. Lại còn một số người từ Sài
Gòn, Chợ Lớn đến lập nghiệp.
Nghề làm ruộng muối do người Hoa kiều nắm trọn. Vào thời Gia Long, nghề
dệt chiếu thành hình với kỹ thuật cao, cùng là nghề khai thác sáp ong,
mật ong và sân chim. Người Pháp nhận xét lệch lạc về vùng Cà Mau, Bạc
Liêu vì họ so sánh với các tỉnh miền Tiền giang. Dân địa phương đã khéo
léo nhắm vào nhu cầu thị trường, làm ruộng vừa phải, dư quá nhiều cũng
không ích lợi gì. Họ làm thêm rẫy khoai lang, nhứt là nghề đánh lưới và
đóng đáy để thu huê lợi to hơn : tôm khô, cá khô.
Các viên tham biện đầu tiên đến Cà Mau, Bạc Liêu ghi lại khung cảnh
hoang vắng thưa thớt, họ quên rằng lúc ấy hễ nghe tiếng máy tàu là ai
nấy chạy trốn. Nhà cửa thường cất khuất lấp ở ngọn rạch, nơi đất cao.
Vàm rạch là bãi bùn đầy cây cỏ. Chạy tàu ngoài sông cái, nơi nước sâu
thì khó bề nắm được tình hình. Lại còn sự kê khai sai lạc về đất ruộng
và dân số của hương chức làng. Người Huê kiều thì tỏ ra ương ngạnh,
không muốn nơi mà họ đã nắm ưu thế lại bị xáo trộn.
Về mặt hành chánh, thực dân lúng túng không biết nên tổ chức thế nào
cho hợp lý. Thoạt tiên sau khi chiếm ba tỉnh miền Tây, vùng mũi Cà Mau
nhập vào hạt Rạch Giá với tỉnh lỵ là chợ Rạch Giá. Vùng Bạc Liêu thì
nhập qua hạt Sóc Trăng.
Vào tháng 6/1871, vùng mũi Cà Mau nhập qua tỉnh Sóc Trăng, tách khỏi
Rạch Giá. Nhưng 6 tháng sau, hoàn lại tỉnh Rạch Giá như cũ. Đến ngày
18/12/1882, chánh phủ mới dứt khoát lập ra một tỉnh mới : lấy một phần
vùng Bạc Liêu thuộc hạt Sóc Trăng và vùng Cà Mau thuộc hạt Rạch Giá
nhập lại đặt ra tỉnh Bạc Liêu. Đây là hạt thứ 21 của Nam kỳ thuộc địa.
Nên phân biệt rõ về trường hợp tỉnh Bạc Liêu, tuy gom vào chung một đơn
vị hành chánh nhưng gồm hai phần đất khác nhau về địa chất và về mức
khẩn hoang :
— Vùng Bạc Liêu, theo địa danh thời Tự Đức, ăn từ rạc Bạc Liêu trở về
phía đông tiếp giáp qua Sóc Trăng. Mãi đến những năm 1930, người lớn
tuổi trong giới bình dân còn gọi vùng này của Bạc Liêu là hạt Ba Xuyên
(bài vè Nọc Nạn : Lục tỉnh có hạt Ba Xuyên, Bạc Liêu chữ đặt, bình yên
dân rày). Gọi như thế vì vùng này thời Tự Đức nằm trong địa phận phủ Ba
Xuyên rồi tách ra lập thành huyện Phong Thạnh do phủ trực tiếp kiếm
nhiếp. Khu vực này thoạt tiên được người Pháp cho nhập vào tỉnh Sóc
Trăng, gồm phần lớn là đất giồng tốt, cao ráo, nhà cửa sung túc với
ruộng gò, rẫy, vườn nhãn, ruộng muối. Vùng Bạc Liêu này là đất khai
thác từ xưa.
— Vùng mũi Cà Mau, tức là huyện Long Xuyên thời Tự Đức với rừng đước,
rừng tràm, phần lớn là đất thấp giống như khung cảnh phía nam vùng Rạch
Giá. Vùng Cà Mau này đáng nói hơn, vì là đất mới.
Điểm khó khăn cho vùng Cà Mau về mặt hành chánh là sự liên lạc với tỉnh
lỵ. Tham biện Rạch Giá cho biết là phải dùng đường biển dọc theo vịnh
Xiêm La. Nhập Cà Mau qua Sóc Trăng thuận lợi hơn, vì Cà Mau đến chợ Sóc
Trăng tương đối gần. Nhưng đó là nhìn trên bản đồ mà suy luận thôi.
Tham biện Sóc Trăng đưa ý kiến vào tháng 12/1869 rằng từ Cà Mau qua
tỉnh lỵ Sóc Trăng đường liên lạc quá khó khăn vào mùa nắng : nhiều đoạn
đường phải dùng trâu mà kéo ghe qua vùng lầy. Mùa mưa thì từ Cà Mau đến
Sóc Trăng đi và về tốn 6 ngày, mùa nắng thì lại tốn đến 10 ngày.
Thật vậy, trên bản đồ ta thấy nhiều con rạch tuy có thật nhưng lại cong
queo và quá cạn. Mùa mưa thì nước nổi nhưng không đủ sâu để ghe thuyền
lui tới dễ dàng. Muốn di chuyển, từ lâu đời rồi, dân địa phương dùng
xuồng nhỏ mà chống bằng sào hoặc dùng trâu để kéo cộ hay kéo ghe. Qua
mỗi mùa mưa, cỏ và bụi lùm ở hai bên bờ rạch cứ mọc cao hơn trước, che
khuất lối đi.
Nhiều vùng đất ở Cà Mau thuộc vào loại khó định nghĩa : có thể nói là một thứ đất lỏng bỏng hoặc là một thứ nước đặc sệt.
Hai năm sau, tham biện Rạch Giá cho biết : lúc trước vì có quyết định
giải tán tỉnh Rạch Giá (Rạch Giá nhập qua tỉnh Long Xuyên) nên đành cắt
vùng Cà Mau nhập qua Sóc Trăng. Nay đã duy trì tỉnh Rạch Giá thì nên
cho Cà Mau trở về Rạch Giá như cũ để cho số dân Rạch Giá thêm đông đảo
hơn :
Rạch Giá và Cà Mau nhập lại, được 100 làng.
Sóc Trăng và Cà Mau nhập lại, được 203 làng.
ý kiến nhập trở lại Rạch Giá được cấp trên nghe theo vì tham biện Rạch
Giá là Benoist là tay có uy tín, tàn ác với dân bổn xứ. Ông ta sợ mất
thuế phong ngạn (sáp và mật), mất thuế bến (đánh vào tào buồm Hải Nam)
và đưa ý kiến là đường liên lạc từ Cà Mau đến Rạch Giá không xa cho lắm
!
Sau rốt, tỉnh Bạc Liêu thành hình lấy tên là Bạc Liêu vì ngay chợ của
tỉnh lỵ có con rạch Bạc Liêu (có giả thuyết cho rằng do Poanh Lieu mà
ra, tức là nơi có đạo quân người Lào trú đóng thời xưa).
Lý do chánh để lập tỉnh Bạc Liêu do Thống đốc Nam kỳ nêu ra cho Tổng
trưởng Thuộc địa Pháp là vấn đề an ninh, sự khuấy rối ngấm ngầm của
Thiên Địa Hội. Giám đốc Nội vu trình bày với Hội đồng quản hạt ngày
28/8/1882 : nếu cái đầu của Thiên Địa Hội ở Chợ Lớn thì thân hình của
Thiên Địa Hội ở Bạc Liêu.
Ngoài ra, dưới mắt người Pháp, Cà Mau Bạc Liêu là nơi bấy lâu chưa được
ổn định đúng mức : nhiều kẻ bất lương từ bên Tàu, từ các tỉnh lân cận
tụ họp lại, lập sào huyệt.
Tham biện đầu tiên của tỉnh Bạc Liêu là Lamothe de Carrier báo cáo tổng quát vào năm 1882 :
— Trong hiện tại, Bạc Liêu chưa ra gì nhưng trong tương lai sẽ nhanh
chóng trở nên thành phố lớn nhứt của Nam kỳ, sau Sài Gòn. Chỉ cần đào
một con kinh nối liền Bạc Liêu xuống Cà Mau và cất một cây cầu nối liền
hai bên bờ rạch Bạc Liêu. Cây cầu này giúp cho 6000 người qua lại mua
bán mỗi ngày.
Theo báo cáo trên thì giữa Bạc Liêu và Cà Mau là đồng cỏ bao la che kín
chân trời, không một bóng cây cao, cỏ mọc dày, rễ bám vào bùn. Mùa
nắng, cỏ vẫn không chết. Mùa mưa nước ngập, cỏ lên cao đến một mét
rưỡi. Trong đồng cỏ, ai muốn đi hướng nào thì đi, muỗi mòng vô số kể.
Mùa mưa, xuồng nhỏ tha hồ di chuyển nhưng ghe to thì phải đi theo con
đường con queo hơn, gọi là “đường láng”. Đường này đầy cỏ, khi di
chuyển phải có người phát cỏ ngã rạp xuống, cào sang một bên rồi đẩy
ghe trên khoảng đất vừa dọn trống trải ấy. Nếu gặp nơi cỏ quá rậm rạp,
ghe chở nặng chỉ di chuyển một ngày có một cây số. Viên tham biện đề
nghị cho đào con kinh Bạc Liêu Cà Mau rồi lấy đất đào ấy mà đắp đường
lộ xe. Đồng thời, ông ta cho biết là dân số không quá ít oi nếu kiểm
tra lại kỹ lưỡng hơn. Riêng về người Huê kiều ở phía Bạc Liêu trước kia
khai 1900 người nay lại khai thêm 3000 người nữa cộng lại 4900 người,
chưa kể một số Huê kiều làm bạn chèo ghe hoặc ẩn náu ở ruộng muối.
Cũng trong năm 1882, dân bộ trong tỉnh phỏng chừng 2500 người (có thể
là 30000) tức là bằng số dân ở tỉnh Tây Ninh, cao hơn số dân Rạch Giá.
Diện tích toàn tỉnh là 810.000 mẫu tây, canh tác chừng 14.761 mẫu. Tổng
số thuế dự thâu năm 1882 là 36.183 đồng, trong đó tiền thâu to nhứt là
thuế thân của Huê kiều, kế đến là thuế điền 6.585 đồng, đến thuế thân
của người việt 4.792 đồng.
Chợ Bạc Liêu nằm trên địa phận làng Vĩnh Hương. Vùng ngoại ô ăn qua các
làng Vĩnh Hinh, An Trạch, Tân Hưng (năm 1890, nhập lại gọi là làng Vĩnh
Lợi, hương chức các làng An Trạch và Tân Hưng kêu nài vì trong tên Vĩnh
Lợi không có dấu vết tên làng của họ, đề nghị quan trên sửa Vĩnh Lợi ra
làng Tứ Hòa, nhưng không được chấp thuận). Từ năm 1873, đất làng Vĩnh
Hương đã đem ra đấu giá với giá một cắc hai xu một thước vuông. Năm
1880, khai trong bộ ở chợ Bạc Liêu là 2.757 người nhưng năm 1882 là
6000 người.
Việc thành lập tỉnh Bạc Liêu gây khó khăn cho ngân sách Nam kỳ, năm
1882, phỏng định tốn kém chừng 45.000 đồng để xây cất dinh thự, công
sở, cộng thêm chừng 8.000 đồng lương bổng cho nhân viên. Thuế phỏng
định chắc chắn sẽ thâu được là 35.000 đồng nhưng nếu thiếu tiền cứ dùng
bàn ghế cũ từ tòa Bố Sóc Trăng gởi tặng. Và còn dự thu thêm một số tiền
phạt những người nào theo Thiên Địa Hội.
Thoạt tiên, nhà lồng chợ cất bằng lá. Năm 1885, làng Vĩnh Hương xin cất
chợ lợi ngói, hy vọng rằng tiền góp chợ sẽ tăng gấp đôi và xin vay
trước của nhà nước 6100 đồng để xây cất, làng sẽ trả lại cho nhà nước
cả vốn lẫn lời trong vòng 12 năm. Năm 1892, tham biện bắt buộc những
nhà lá ở chợ phải dỡ bỏ để cất lại phố ngói có lầu.
Tiến triển của việc cai trị
Bộ máy hành chánh khá chặt chẽ vừa thiết lập làm cho người Huê kiều và
người Minh Hương bực bội vì họ đã quen với quy chế tự trị tương đối
rộng rãi hồi thời đàng cựu. Họ xem vùng Bạc Liêu như đất riêng của họ.
Ngoài ra, còn nhiều người từ Rạch Giá đổ xuống, đa số là người lãnh
bằng cấp của quân khởi nghĩa để chuẩn bị âm thầm dấy binh giữa vùng
Rạch Giá và Châu Đốc, nhưng cuộc này không xảy ra được.
Năm 1885, lập được 5 trường tổng với 326 học sinh ghi tên, đa số đều
vắng mặt khi bắt đầu mùa ruộng hoặc đau ốm vì bịnh rét rừng, tất cả đều
là trường lợp lá, thiếu bàn ghế, nhiều trường không có sách gì cho học
trò học ngoại trừ tờ Gia Định báo, tức là Công báo do làng phát cho.
Con Đường Láng tức là đường kéo ghe từ Bạc Liêu qua Cà Mau vẫn còn sử
dụng vì chưa đào kinh được. Nhà nước giúp đỡ người đi ghe bằng cách cắm
nọc làm dấu hai bên đường, mỗi năm hai lần, cắm vào lúc đầu mùa và lúc
dứt mùa mưa. Kinh Mương Điều nối Rạch Đầm qua sông Gành Hào đào gần
xong nhờ bắt dân làm xâu, chỉ còn lại 480 thước chót.
Trong mùa 1884—1885, ghe chở ra khỏi tỉnh 174.693 tạ lúa và 79.349 tạ
muối. Việc khẩn đất thì đang tiến hành, dân ở miền trên đến, tha hồ
khai khẩn để mong được làm điền chủ nhỏ ở vùng đất sình lầy, vô chủ. Về
đất đai, năm 1885, chưa phân khoảnh để làm bằng khoán được, ngoại trừ
tổng Thạnh Hưng và tổng Thạnh Hòa.
Quận Cà Mau còn nguyên vẹn, chưa đo đạc. Nhờ điều tra lại nên chủ tỉnh
biết thêm về vùng Cà Mau : dân không giàu nhưng ai nấy đều đủ ăn, có
chùa, có đình làng, có nhà ngói. Nhưng đi về phía mũi Cà Mau thì chạy
tàu nhiều tiếng đồng hồ mà không gặp một căn chòi nào cả. Nghề đóng
đáy, làm tôm khô bán cho ghe Hải Nam càng phát triển. Chiếu Cà Mau được
giá, nhiều người bỏ nghề ruộng để dệt chiếu và vô rừng khai thác mật
ong, sáp. Mùa mưa, đường vận tải dễ dàng, họ đốn cây mà bán lậu qua Sóc
Trăng hoặc lên chợ Bạc Liêu.
Theo sự phỏng định lạc quan của chủ tỉnh Caffort thì trong vòng hai năm
tới, Bạc Liêu sẽ là vùng giàu có, chỉ cần cho người từ Bắc kỳ vào canh
tác với kỹ thuật cổ truyền là đủ làm cho huê lợi tăng lên gấp mười.
Tỉnh Bạc Liêu phía giáp Sóc Trăng là nơi Huê kiều và người Cao Miên
đông đúc, ruộng tốt, dân chúng thích nói tiếng Triều Châu. Riêng về
quận Cà Mau, người Việt đông hơn, gần như là thuần túy, chỉ trừ hai
làng có sốc Miên mà thôi.
Năm 1887, Lamothe de Carrier trở lại Bạc Liêu làm chủ tỉnh và nhận định
rằng tình hình thay đổi khả quan so với nhiệm kỳ trước của ông ta. Việc
kiểm tra cho biết ở Bạc Liêu sau người Việt thì đông đảo nhứt là người
Cao Miên, kế đến người Minh Hương gốc Triều Châu. Trong 2.500 Huê kiều,
người Triều Châu chiếm đến 2000. ở tổng Thạnh Hưng, nhiều gia đình chỉ
nói toàn tiếng Triều Châu và các ông hương chức hội tề không biết nói
tiếng Việt. Nạn Thiên Địa Hội, ăm trộm trâu, ăn trộm ghe, nhứt là buôn
lậu á phiện còn đầy dẫy. Dân hút thêm á phiện nhưng nhà nước bán ra ít
hơn năm trước :
— Năm 1884, nhà nước bán ra 56.000 đồng.
— Năm 1886, nhà nước bán ra dưới 40.000 đồng vì nạn á phiện lậu thuế.
Viên chủ tỉnh này lại báo động : điền chủ trong tỉnh mượn của Đông
Dương ngân hàng trên 35.000 đồng để làm mùa, nhưng có lẽ họ thua cờ bạc
hết rồi. Đề nghị cho dân ngoài bắc vào, cắp đất cho họ. Năm 1882, phỏng
định 36.000 dân, nay được hơn 50.000. Đang làm đường nối qua Sóc Trăng,
đường ở chợ Bạc Liêu đã tráng đá.
Để kiểm soát vùng đất rộng, giao thông khó khăn và dân số phức tạp,
thực dân đã cố ý đưa về Bạc Liêu và Cà Mau một số công thần với tác
phong kiêu binh và hách dịch. Phủ Đức, từng góp công dẹp loạn lúc trước
ở Mỹ Tho đến làm mưa làm gió ở Cà Mau. Cai mã tà tên là Cang, người đã
trực tiếp bắt Thủ khoa Huân ở Chợ Gạo được về Bạc Liêu làm chức phó
quản mã tà. Lính tập hữu công đã từng viễn chinh ở Bắc kỳ, dẹp loạn ở
Cao Miên cũng trở về Bạc Liêu làm chức quan trọng.
Một viên thông ngôn từng trấn đóng, cướp giựt, ăn hối lộ ở Hạ Lào đã về
tận Bạc Liêu rồi mà chủ nợ ở Hạ Lào vẫn năn nỉ xin nhà nước can thiệp
vì số nợ quá nhiều. Lại còn viên chức Pháp chuyên ăn hối lộ, làm ở sở
“Tào cáo” (Thương chánh) đã từng có thành tích xấu ở tỉnh khác. Nhà
nước chọn người “đáng tin cậy” để làm hương chức làng nhưng bọn này lại
xài thâm công quỹ, đánh bài và hút á phiện, đến mức chủ tỉnh nổi giận
đề nghị với Thống đốc Nam kỳ đày họ ra Côn đảo để làm gương.
Vụ phủ Đức ở Cà Mau là điển hình nhứt. Năm 1897, chủ tỉnh Bạc Liêu nhận
định Cà Mau là quận xa xôi và nghèo nàn nên không cần đưa một phó tham
biện đến cai trị, vả lại cơ sở quận lỵ thiếu tiện nghi. Phủ Đức đổi tới
Cà Mau rồi gặp rắc rối với một công chức Pháp làm nhân viên Công chánh.
Tên bồi của viên chức này ra chợ mua đồ, cứ theo thói quen là nửa mua
nửa giựt, dân trong chợ phản đối, tên bồi đánh luôn người thầu góp chợ
rồi chưởi luôn phủ Đức. Tên bồi này bị bắt, chủ tỉnh giải hắn ta lên
Khám lớn Sài Gòn để rồi hắn được tha tội. Viên chức Pháp hồi nghi phủ
Đức đã yêu cầu bắt giam người bồi, nên trả thù bằng cách công khai tố
cáo phủ Đức là kẻ tiểu tốt vô danh, không biết nói tiếng Pháp mà đòi
cai trị Cà Mau với những luật lệ theo quy chế thổ trước, tức là muốn
giam ai thì cứ giam. Theo viên chức Pháp này thì chợ Cà Mau là nơi hỗn
loạn, dân chúng mở sòng bạc ngay ở ngoài đường, phủ Đức thì tưởng mình
nhiều oai quyền như thời đàng cựu, tha hồ ăn hối lộ, chợ phố thì chẳng
lo chỉnh trang, đến mức không còn tìm đâu một quán cà—phê, một tiệm tạp
hóa cho ra hồn !
Một số thơ rơi gởi đến Thống đốc Nam kỳ để tố cáo phủ Đức (đây là do
viên chức Pháp xúi dục, hay dân chúng thừa cơ ra tay tranh đấu ?).
Những khoản tố cáo giúp ta thấy lối cai trị thời ấy, ở nơi xa mặt trời :
— Phủ Đức cho cất nhà hầu mới (nhà hầu tức là dinh quận) rồi bắt buộc
cai tổng, các ông bang Huê kiều và hương chức làng dâng lễ, gồm sáp
ong, bốn tấm hoành phi (mỗi tấm đáng giá 20 đồng). Ngoài ra còn một số
bạc mặt.
— Gọi người Huê kiều và hương chức làng tới nhà hầu để đánh bài với ông ta, để ông ta lấy xâu. Nếu thua thì ông ta xin luôn.
— Cho chứa cờ bạc trong xóm, me và bài tây (bài cào), xâu một ngày một đem năm đồng.
— Mỗi người dân phải chuộc công sưu nhỏ (tức là phần làm xâu cho tỉnh)
là 2 ngày, theo quy định 2 ngày này là 5 cắc, nhưng phủ Đức bắt buộc
dân phải đóng 1 đồng bạc, năm cắc dư bỏ túi.
— Ngày Chánh Chung (lễ 14/7 của Pháp) lại chứa cờ bạc sau nhà, ông ta lấy xâu 15 đồng một ngày, 4 ngày là 60 đồng.
— Trong vòng một năm mà phủ Đức tổ chức kỵ cơm cho ông bà cở năm sáu
lần. Mỗi lần như thế, làng phải đi 4 nang sáp và 4 đồng, làng nghèo thì
2 nang (quận Cà Mau gồm 30 làng cả thảy).
— Đem về quận hai ghe hát (hát bội), bắt buộc các làng phải mướn hát
bao giàn một ngày một đêm là 10 đồng, con của phủ Đức làm kép hát, đến
từng nhà mà mượn tiền mỗi nhà một đồng.
— Phủ Đức lục lạo thùng thơ trước khi cho gởi, vì vậy các đơn tố cáo đều bị xem trước.
— Mỗi tháng phủ Đức chở sáp đem về xứ một lần, mỗi lần chở hai thùng đầy, thùng dài 1 thước rưỡi, cao 1 thước.
Lại còn đơn tố cáo phủ Đức có thành tích xấu hồi trấn nhậm ở Sóc Trăng,
Rạch Giá, Bạc Liêu. Chủ tỉnh Bạc Liêu binh vực phủ Đức, cho là vu khống
(phải chăng vì có ăn hối lộ của phủ Đức) nhưng chủ tỉnh cũng nhượng bộ,
yêu cầu cấp trên cho một người Pháp tới thay thế vì phủ Đức đã quá 60
tuổi rồi.
Vài nét về tình hình năm 1902 trở về sau
Thiên Địa Hội được tổ chức lan tràn khắp Bạc Liêu khiến người Pháp báo
động. Một số đông người Việt và Hoa kiều gia nhập, ăn thề với nhau
nhưng rốt cuộc dường như Hội chỉ còn hoạt động trong phạm vi cứu tế,
vài người lại lợi dụng hệ thống bí mật của Hội để buôn bán á phiện lậu
thuế.
Tuy nhiên, còn nhiều cán bộ trung kiên của Thiên Địa Hội biết kiên nhẫn
chờ thời để phối hợp hành động với toàn Nam kỳ vào năm 1913. ở Cà Mau
vào khoảng năm 1910, ông hội đồng Trần Đắc Danh và ông Lâm Mẫn Huệ hoạt
động mạnh, bị tù. Thực dân cứ xét bắt, phạt tiền kẻ vô tội mặc dầu
chẳng tìm được bằng cớ nào chứng tỏ người Huê kiều ở Bạc Liêu theo đuổi
mục đích chính trị chống Pháp. Thực dân cũng cố gắng kiểm soát hàng ngũ
lính mã tà và hương chức làng. Những người Việt quá hăng hái thì lén
trốn lên vùng Thất Sơn, gia nhập những nhóm Thiên Địa Hội mang tánh
chất Việt Nam hơn, nhằm mục đích đánh đổ thực dân.
Phong trào tranh đấu đáng kể của đồng bào Bạc Liêu, Cà Mau là việc
chống làm xâu. Con đường từ chợ Bạc Liêu nối xuống Cà Mau đã thành hình
nhưng nhiều nơi cần phải đắp cao lên, khó khăn nhứt là trải đá. Nhà
nước không giao cho nhà thầu vì quá tốn kém. Thay vào đó, bắt dân đốt
đất ruộng cho chín rồi đập nát đem trải mặt đường, xài tạm thay cho đá.
Thực dân bấy lâu chỉ chú ý tu bổ con lộ ăn từ Bạc Liêu qua phía Sóc
Trăng ; theo hệ thống giao thông thời ấy thì công văn, thư từ đưa từ
Bạc Liêu đến Sóc Trăng, để rồi từ Sóc Trăng ra Đại Ngãi (Vàm Tấn, bờ
Hậu giang) đến đây mới dùng tàu thủy đưa về Sài Gòn.
Làm xong con lộ Bạc Liêu, Cà Mau là kiểm soát thêm dân, thâu thêm thuế,
lúa gạo đưa về tỉnh lỵ nhanh hơn. Và ở hai bên bờ lộ, đất hoang sẽ có
người tới khẩn, nhà nước tha hồ bán đấu giá.
Lộ xe làm từng khúc, ngang tổng nào thì dân tổng ấy làm xâu, kinh đào
cũng vậy. Thoạt tiên khi có lịnh thì một số đông người đi làm lấy lệ để
rồi phản đối ra mặt.
Nhà nước bắt buộc mỗi người đắp lộ 14 mét bề dài, bề cao 5 tấc và mỗi người đốt đất 7 thước khối, hầm chín.
ở làng Vĩnh Mỹ, hương chức làng bắt mỗi người dân xâu đắp đến 28 thước lộ và cung cấp 7 thước khối đất.
Làng Hòa Bình và làng Vĩnh Mỹ trở thành trung tâm tranh đấu. Ngày
15/4/1902, dân làng Vĩnh Mỹ làm đơn trình bày là họ chỉ đồng ý làm trọn
2 ngày công sưu theo luật định mà thôi. Còn việc đốt hầm để trãi đường
thì “chúng tôi không biết làm chi mà đốt đủ để trả cho nhà nước, nay
chúng tôi đành ở tù” ; 58 người ký tên dưới lá đơn.
Hương chức làng đánh trống ở công sở gọi dân tập họp đi làm xâu, 32
người đến và ra mặt chống đối. Hương chức làng hăm he. Họ đưa yêu sách
: sẵn sàng làm xâu cho nhà nước 5 ngày, nhưng việc đốt đất thì không.
Ngày 15, tại làng Hòa Bình thì không ai chịu đi cả. Viên phó tổng đánh
trống thì 39 người tới công sở bảo rằng họ cương quyết không chịu làm
xâu. Một số khác không thèm tựu lại công sở, hỏi thì họ trả lời rằng sợ
bị trả thù, vì bọn chống đối hăm he đốt nhà rồi giết những ai đi làm.
Viên phó tổng yêu cầu chủ tỉnh phạt bọn chống đối mỗi đứa 8 ngày tù và
10 đồng tiền vạ.
Ông Hội đồng quản hạt (thuộc đơn vị Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu) là Hồ Bảo Toàn trình bày với Thống đốc Nam kỳ :
— Theo luật định, mỗi người dân chỉ phải làm 2 ngày công sưu nhỏ (phần
địa hạt) mà thôi. Nhiều người đã chuộc công sưu, chịu đóng 2 ngày là 5
cắc cọng vào tiền thuế thân rồi. Nay bắt họ đi làm xâu thì nhà nước
phải trả lại 5 cắc ấy cho họ.
— Việc đắp lộ và hầm đất vượt quá khả năng của người dân vì tốn nhiều
công để đào đất, đốt đất, đập đất cho nhỏ, chở đến lộ rồi trải ra với
mớ tro đã hầm (tro than củi). Tóm lại, chủ tỉnh Bạc Liêu đã “quá sốt
sắng”.
Hội đồng quản hạt can thiệp chỉ vì dân 2 làng nói trên gồm 150 người
đứng đơn kêu nài gởi thẳng đến Thống đốc Nam kỳ, một việc làm táo bạo
lúc bấy giờ vì họ dám trực tiếp chống viên chủ tỉnh Pháp là Chabrier.
Dân đưa ra lý lẽ :
— Làm xâu chỉ có 2 ngày theo luật mà nay nhà nước lại bắt hầm đất đắp
lộ, làm 2 tháng chưa chắc rồi. Hơn nữa, muốn đốt cho xong 7 thước khối
đất, dân phải xuất tiền túi ra mà mua củi.
— Năm ngoái (1901), nhà nước đã bắt làm xâu mỗi người 2 tháng (mà theo
luật định thì chỉ có 2 ngày) để đào kinh Bạc Liêu, Cà Mau mà chẳng thấy
nhà nước trả thêm đồng bạc nào.
— Làng Hòa Bình là nơi thiếu củi để hầm đất, hầm xong phải chở 10 cây số mới tới lộ xe.
— Cai tổng và hương chức làng đòi hối lộ, ai lo lót 15 đồng thì khỏi làm xâu, người nghèo phải đi làm vì không tiền lo.
Ngày 18/4/1902, dân trong 3 làng kéo nhau đến trước cửa tòa Bố. Họ bị viên phó tổng và bọn lính mã tà đàn áp, đánh đuổi.
Dân làng gởi liên tiếp 3 lá đơn đến Thống đốc Nam kỳ để tố cáo : “Vả
chăng quan Chánh bố là quan trong địa hạt mà hiệp với tổng mà khắc khổ
dân tình lắm”, dưới đơn có 83 người ký. Rốt cuộc, chủ tỉnh là Chabrier
bị Thống đốc rầy rà vì việc làm xâu đã vượt mức luật định và xa thực
tế, từ rày về sau “phải tránh những việc tương tự”.
Việc đắp đường cứ tiếp tục. Chủ tỉnh nhượng bộ, hạ mức 7 thước khối đất
hầm còn 2 thước khối và khoe khoang rằng mỗi ngày đã huy động từ 10.000
đến 12.000 dân xâu đắp lộ ; theo ông ta thì việc làm xâu quá luật định
cũng đã từng xảy ra ở tỉnh Sóc Trăng. Và ở Bạc Liêu chỉ có hai làng là
phàn nàn mà thôi.
Chưa xong việc đắp lộ, nhà nước lại thúc đẩy việc đào kinh Bạc Liêu, Cà
Mau : dân làm xâu được nhà nước phát cho rượu đế, vì là “thức uống hợp
vệ sinh”.
Việc làm xâu đã từng là tai nạn lớn cho dân ở Cà Mau từ khi người Pháp
mới đến : năm 1877, phủ Hòa bắt dân 3 tổng ở Cà Mau (Long Thủy, Quảng
Long, Quảng Xuyên) đào kinh Bạch Ngưu nối qua phía nam Rạch Giá, đánh
đập dân ; năm 1881, tự ý cho dân mướn thủy lợi trong kinh này nhân dịp
bắt dân xâu lần thứ nhì.
Năm 1895, mùa màng thất bát quá mức tưởng tượng : Bạc Liêu và Sóc Trăng
chỉ còn 1/10 hoa màu, mưa quá nhiều rồi gặp đại hạn. Vì mức thâu hoạch
chỉ còn 1/10 nên Hội đồng quản hạt đề nghị với Thống đốc Nam kỳ miễn
thuế điền ở Bạc Liêu năm 1896 cho 46.000 mẫu ruộng, huê lợi sút kém chỉ
còn đủ nuôi sống dân trong tỉnh là 46.498 người. Trong số này, có
11.484 dân bộ được bớt thuế thân để tiếp tục làm xâu đào kinh Bạc Liêu,
Cà Mau. Năm ấy đào được 46 cây số (con kinh dự định đào dài 72 cây số).
Cuối năm 1895, cai tổng Thạnh Hưng báo động, làm đơn xin miễn thuế với
Thống đốc Nam kỳ : “Bây giờ dân không biết đi đâu hết vì nội tổng tôi
không có lúa, nó đi kiếm ăn đỡ đói”.
Đất ruộng nói chung thì tập trung về phía Đông giáp qua Sóc Trăng, nơi
đã có người làm chủ từ lâu. Dân mới đến lập nghiệp chỉ còn vùng đất gần
biển hoặc đất quá thấp phía mũi Cà Mau. Năm 1902, vài người khẩn đất
lại phá sản, trả lại cho nhà nước vì đất không huê lợi, không sao đóng
thuế được. Người nọ khẩn 160 mẫu ở Tân Hưng, thiếu thuế rồi bị bỏ tù,
hương chức làng dán yết thị, rao bán đất ấy để bù tiền thuế nhưng chẳng
ai thèm mua.
Làng Tân Thuận phía Cà Mau khai với quan trên : “đất đồng không có, làm
đất ráng (tức là sình lầy có ráng mọc) theo mé sông, nước mặn tràn vô
làm hư lúa, nước không tràn khi nào mưa muộn”. ở Tân Duyệt, trừ số đất
cao ráo có người khẩn từ xưa thì “dân nó làm ruộng đất rẫy là đất dừa
nước, chà là và ráng ở gần biển”, đa số đất ở gần biển vùng mũi Cà Mau
đều là “nê địa ủng tắt”. Theo giá trị thường, một mẫu đất tốt ở Mỹ Tho,
Gò Công trị giá từ 200 đồng đến 300 đồng trong khi đất gọi là đốt ở
vùng Cà Mau trị giá không hơn 100 đồng.
Nhờ quy chế mỗi người được khẩn 10 mẫu (gọi là đất công nghiệp) nên dân
tứ xứ luôn cả những người đã thất bại ở Rạch Giá trong đợt khai thác
đầu tiên đều rủ nhau đến Cà Mau. Nói chung thì đất hoang ở tỉnh Bạc
Liêu quá thấp, có chân nước mặn, ba bốn năm đầu khó thâu huê lợi.
Mức trưởng thành của Bạc Liêu, Cà Mau khi chuyển mình góp phần lớn vào
vựa lúa miền Nam, có thể đánh dấu vào khoảng 1914, khi nhà nước cho
nghiên cứu đào kinh Quan Lộ, nối liền Phụng Hiệp xuống Cà Mau (gọi Quan
Lộ vì kinh này khởi đầu từ rạch Quan Lộ). Nhờ đó mà trong tương lai
gần, lúa gạo vùng Bạc Liêu, Cà Mau được chở về Sài Gòn theo đường thủy,
ngang qua Rạch Giá, Cần Thơ rồi Trà Ôn, Vĩnh Long (Mân Thít)...
Năm 1927, người Pháp chỉ làm chủ ở Bạc Liêu chừng 30.000 mẫu. Bạc Liêu tiến sau các tỉnh khác, nhưng theo tốc độ nhanh.
Năm 1893, bán ra 316.000 tạ gạo.
Năm 1921, bán ra 2.733.330 tạ.
Năm 1927, diện tích canh tác lúa gạo của Bạc Liêu đứng hạng nhì ở Nam
kỳ, chỉ sau Rạch Giá. Nhưng Bạc Liêu còn thêm nguồn lợi than đước,
ruộng muối, nhứt là rừng tràm và hải sản. Đến năm 1927, đất ruộng đã
chiếm 34 % diện tích của toàn tỉnh Bạc Liêu và chiếm 49 % diện tích của
toàn tỉnh Rạch Giá.
Trong thực tế, với trình độ kỹ thuật và cơ cấu xã hội kinh tế thời ấy, khó mà khai thác nhiều hơn.
ở Bạc Liêu vào năm 1927, nhiều làng rộng 20.000 mẫu tây, to hơn một
tỉnh bực trung ở Nam kỳ. Đứng đầu là làng Khánh An rộng đến 140.000 mẫu
tây. Tuy nhiên, ta không nên có ảo tưởng là dễ tạo nên ruộng lúa phì
nhiêu : đây là rừng tràm nê địa, dân khẩn hoang đến ở tuy gan lì nhưng
rốt cuộc phải ra đi vì chỉ thâu được huê lợi duy nhất là đốn củi lậu
thuế, bán từng xuồng nhỏ mà đổi gạo ăn ngày qua ngày. Một vài giồng đất
cao thì đã có chủ từ thời Gia Long tẩu quốc rồi. Chương 2 - 5
Cần Thơ, đầu cầu và thủ đô miền Hậu Giang
Vùng Cần Thơ thời Mạc Thiên Tứ mang tên là Trấn Giang, vào năm 1793.
Mãi đến khi người Pháp xâm chiếm, Cần Thơ là vùng không quan trọng.
Ngọn rạch Cần Thơ ăn thông qua sông Cái Bé rồi ra vịnh Xiêm La nhưng
không rõ rệt. Đời Tự Đức, Đại nam Nhất thống chí mô tả khúc đường ấy :
Cuối đông qua xuân, nước khô bùn cứng ghe thuyền qua lại không được, từ
mùa hạ qua đông, nước mưa tràn bờ thì ghe thuyền cỡi lên trên cỏ và bèo
mà đi, cứ trông theo phía tả hay phía hữu rừng cây mà nhận dấu đường.
Nơi đây không có bóng người, có rất nhiều muỗi và đĩa, người qua lại
rất khổ sở. Tóm lại, Cần Thơ chỉ đông đúc ở phía sát bờ Hậu giang.
Về giao thông và kinh tế, từ đời họ Mạc đến lúc người Pháp đến, lúa gạo
ở Rạch Giá và ở Cà Mau thì xuất cảng cho những ghe Hải Nam vào chợ Cà
Mau và Rạch Giá; lúa gạo ở Sóc Trăng và Ba Thắc thì bán theo cửa Ba
Thắc (bản đồ Pháp ghi là cửa Tranh De, chắc là do chữ Trấn Di, đọc trại
rồi âm lại). Vùng Cần Thơ chỉ là những xóm sung túc bên rạch Cần Thơ và
rạch Bình Thủy, phía bắc là vùng Ô Môn có đất giồng khá tốt.
Đời Gia Long, Cần Thơ thuộc về huyện Vĩnh Định, năm Minh Mạng thứ 13 (1832) nhập qua phủ Tân Thành (do Sa Đéc cai quản).
Vùng Ô Môn đời Tự Đức (và có lẽ từ các đời trước) là khu vực ít nhiều
tự trị của người Miên nên Đại nam Nhất thống chí gọi là “thổ huyện”.
Thoạt tiên người Pháp đặt Cần Thơ (vùng rạch Cần Thơ và Ô Môn) là hạt
nhưng không quan trọng bằng hạt Long Xuyên (Đông Xuyên) hoặc Sóc Trăng.
Nghị định ngày 30/4/1872 lại đặt ra Trà Ôn, phần đất của Cần Thơ nhập
qua Trà Ôn. Hạt Trà Ôn lại bị giải tán để rồi ngày 23/2/1876 tái lập
hạt Cần Thơ với chợ Cần Thơ là tỉnh lỵ; Trà Ôn chỉ còn vai trò quận lỵ,
nhưng là quận lỵ quan trọng nhứt nhì của tỉnh.
Pháp không lầm khi chọn Trà Ôn làm trung tâm quan trọng. Việc bán lúa
gạo ra nước ngoài lần hồi không còn do các hải cảng Cà Mau, Rạch Giá
(phía vịnh Xiêm La) hoặc Bãi Xàu (bờ Hậu giang) đảm nhận như trước nữa.
Ghe buồm Hải Nam tuy to, chở nặng nhưng làm sao cạnh tranh nổi với các
tàu sắt, chạy máy của Tây phương tại bến Sài Gòn.
Tàu máy chở gạo qua Hương Cảng với giá vốn nhẹ hơn. Dầu muốn hay không,
lúa gạo miền Sóc Trăng cũng phải mượn đường Trà Ôn để đem bán tại Chợ
Lớn. Rạch Trà Ôn nối qua sông Mân Thít bên Tiền giang, con đường mà
trước kia Nguyễn ánh và Tây Sơn giành nhau quyền kiểm soát.
Quan cai trị Pháp biết nhìn xa : dời tỉnh lỵ về rạch Cần Thơ thì chợ
Cần Thơ trở thành ải địa đầu quan trọng, nắm luôn nẻo thông thương thứ
nhì, cũng nối từ Hậu giang qua Tiền giang để lên Sài Gòn, Chợ Lớn. Đó
là con đường từ rạch Cái Vồn qua rạch Nha Mân, phía Sa Đéc. Lại còn
phía tây Cần Thơ là vùng Rạch Giá, Cà Mau bao la với nhiều triển vọng
về lúa gạo, đất hoang chưa khai phá.
Cần Thơ có khí hậu tốt, đất hoang tuy chưa được khai thác đúng mức
nhưng là rừng chồi thưa thớt, không như rừng tràm ở nước mặn phía Rạch
Giá, Cà Mau. Giữa Cần Thơ, Sóc Trăng và ranh tỉnh Rạch Giá còn một cánh
đồng bát ngát, nước ngọt, không quá thấp như Đồng Tháp Mười, không quá
sình lầy và nhiều phèn. Đó là cánh đồng sau này trở thành quận Phụng
Hiệp, đầy lau sậy, có voi (voi ăn sậy và lau). Thoạt tiên người Pháp
gọi đó là “Đồng Sậy” nhưng vì khai phá xong nên địa danh này không còn
thông dụng như trường hợp Đồng Tháp Mười hay rừng tràm U Minh.
Rạch Cần Thơ chạy dài tới Phong Điền, nhà cửa đông đúc. Rạch Cái Răng
là nơi đất tốt. Đất ở rạch Bình Thủy không đâu sánh bằng; rạch Cần Thơ
và rạch Bình Thủy như nối tiếp nhau ở cuối ngọn. Tuy không là văn vật
như miền Tiền giang nhưng dân ở hai con rạch này khá thuần thục, thông
hiểu lễ nghĩa “trai Nhân ái, gái Long Xuyên”.
Thực dân Pháp nhắm mục đích biến Cần Thơ thành trung tâm quan trọng nắm
giềng mối đường giao thông về Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cà Mau
trong giai đoạn mà đường thủy nắm ưu thế. Về sau, sau trận thế chiến
1914—1918, những con lộ xe cũng nhằm phục vụ mục tiêu chiến lược này.
Phải qua Cần Thơ mới lên Sài Gòn được, đa số lúa gạo gom về Cần Thơ vì
đây là con đường vận tải ngắn nhứt.
Khi Pháp đến, vùng Ba Láng (nhánh của rạch Cần Thơ) là nơi khởi nghĩa
của Đinh Sâm. Đinh Sâm thất bại nhưng vào tháng 3/1870, chừng 200 nghĩa
quân tụ tập lại ăn tiệc, chuẩn bị đánh tòa thâm biện Cần Thơ. Thực dân
phát giác kịp, bắt giam 141 người, trong số này chừng 55 người mà thực
dân cho là nguy hiểm bị đề nghị đày ra Côn Nôn hoặc đảo Réunion. Tham
biện lúc bấy giờ là Alexandre dùng dân địa phương làm xâu, cất nhà lá
chung quanh nhà lồng chợ để bán hoặc cho mướn lại.
Theo báo cáo thì ở Cần Thơ việc kiện thưa đất đai xảy ra quá nhiều
chứng tỏ người dân thấy tương lai sáng sủa của nghề nông. Chủ tỉnh ra
lịnh lập bộ điền cho kỷ hơn để thâu thuế. Năm 1887, đất canh tác là
85.000 mẫu, so với năm trước (khai để đóng thuế) tăng thêm 17.000 mẫu.
Diện tích của tỉnh là 205.000 mẫu, tức là còn lại 110.000 mẫu có thể
canh tác. Dân ghi trong bộ để chịu thuế trong toàn tỉnh là 26.500 người.
Đào kinh xáng Xà No
Kinh xáng Xà No là công trình lớn lao đầu tiên của Nam kỳ về đường
thủy, có thể so sánh với việc thiết lập đường xe lửa Sài Gòn, Mỹ Tho về
đường bộ. Kỹ thuật Tây phương đã biểu diễn với tất cả sức mạnh và hiệu
năng.
Đời Gia Long và Minh Mạng, vua và các quan đã nhận rõ vai trò quan
trọng của kinh đào đối với miền Tiền giang và Hậu giang. Kinh Thoại Hà,
kinh Vĩnh Tế là những công trình chiến lược đứng đắn, nối vịnh Xiêm La
qua Hậu giang để rồi lên Mỹ Tho, Chợ Lớn, Sài Gòn. Ai cũng biết đào
kinh thì đất ráo phèn, ruộng nương dễ khai phá, dân chúng thích quy tụ
ở nơi “sông sâu nước chảy”.
Kinh xáng Xà No nối Hậu giang qua vịnh Xiêm La, xuyên qua vùng đất tốt
và to rộng giữa nhánh sông Cái Lớn và rạch Cần Thơ (nhánh sông Cái Lớn
nơi ấy gọi là Rạch Cái Tư).
Từ năm 1866, nhà nước dùng xáng mà vét lại rạch Bến Lức và kinh Bảo
Định nhưng kết quả chưa được như ý muốn. Năm 1875, đô đốc Duperré cho
đào lại kinh Chợ Gạo và kinh Trà Ôn, dùng dân xâu. Năm 1893, quan toàn
quyền De Lanessan cho đấu thầu ở Paris. Công ty Montvenoux trúng thầu
với giá là ba cắc rưỡi một thước khối, trong tháng đầu phải đào 60.000
thước khối đất và năng xuất tăng thêm, trong tháng thứ 25 phải đào
200.000 thước khối.
Sáng kiến đào kinh Xà No trước tiên do hai người Pháp là Duval và Guéry
nêu ra vì quyền lợi ích kỷ. Họ thấy đất tốt và rộng nên xin trưng khẩn.
Và khi chưa được giấy phép trưng khẩn chánh thức là họ đã vận động với
quan toàn quyền Paul Doumer (17/5/1900). Chủ tỉnh Cần Thơ cho biết là
trước đó, năm 1896, đã đào kinh Ô Môn (nối ngọn sông Cái Bé từ Rạch Giá
qua Ô Môn) dùng dân xâu nhưng tạm ngưng vì ở vùng đào kinh xảy ra nạn
dịch khí. Kinh Xà No nếu đào được thì ích lợi vô cùng, giúp khai thác
hàng mấy chục ngàn mẫu đất tốt phía địa phận Cần Thơ. Nhưng Duval và
Guéry lại muốn nhà nước đào thật gấp, trong vòng một năm cho xong và
bắt đầu đào ở phần đất mà họ đang xin trưng khẩn (tức là khởi đầu từ
khoảng giữa) để họ thâu lợi sớm.
Kinh vừa khởi đào là Guéry được nghị định của Toàn quyền Đông Dương
Paul Doumer cấp cho không một sở đất tốt với diện tích khổng lồ là
2.500 mẫu nằm trên vùng đào kinh, tọa lạc tại làng Nhân Nghĩa, tổng
Định Bảo, tỉnh Cần Thơ (nghị định số 338 ngày 14/2/1901).
Kinh Xà No đào từ 1901 đến tháng 7/1903 là xong, bề ngang trên mặt rộng
60 mét, dưới đáy 40 mét tốn phí 3.680.000 quan. Lần này, nhà thầu sử
dụng loại xáng lớn chạy bằng hơi nước, với những giàn gàu bằng sắt. Máy
của xáng mạnh 350 mã lực, mỗi giàn mút được 375 lít, thổi bùn ra xa đến
60 mét. Giàn gàu của xáng chạy theo vòng tròn (như xe đạp nước). Từ xa,
chiếc xáng giống như chiếc chiến hạm, máy chạy vang rền suốt năm ba cây
số, mang theo một số chuyên viên, nhân công hàng trăm người. Dọc theo
hai bên bờ phải chở củi đem tới sẵn, vì xáng đốt nồi sốt—de bằng củi.
Vài chuyện khôi hài xảy ra, một số dân chạy theo xáng, dùng thúng mà
hứng bùn để tìm vàng, nhưng chỉ gặp xương người xương thú. Nhiều người
cho rằng cứ “cắm dùi” là đất ấy về phần mình, vì mình đến trước nhứt.
Cu—li của hãng xáng tụ tập, bày ra đánh bài, uống rượu hoặc đi ăn cướp,
bọn cặp—rằn đo đất thì hăm dọa những chủ nhà ở gần con kinh sắp đào để
tống tiền, ai cho tiền thì nhà cửa, vườn tược khỏi bị đào ngang. Bọn
chuyên viên người Pháp đứng cao trên xáng, hò hét như các vị chỉ huy
chiến hạm. Khung cảnh trầm hùng này đã in sâu vào giai thoại thời ấy,
trở thành ca dao, chiếc xáng của Tây là sức mạnh cơ khí vô địch.
Lễ khánh thành kinh Xà No là ngày trọng đại, có lẽ đó là lần đầu tiên
mà quan Toàn quyền Đông Dương chịu đặt chân đến miền Hậu giang. Quan
lại địa phương, thân hào nhân sĩ từ các tỉnh lân cận đến tề tựu đón
rước, ban quân nhạc từ Sài Gòn đến, lại có tổ chức dạ vũ.
Phần đất mà Duval và Guéry trưng khẩn thuộc vào loại tốt nhứt nhì của
Nam kỳ. Những năm 1908—1910, trong khi ở tỉnh Cần Thơ điền chủ bổn xứ
và điền chủ Pháp rầu lo vì nạn đói, nước mưa dâng quá cao thì phần đất
của Duval và Guéry chẳng bao giờ bị lỗ lã nhờ ở sát bờ kinh. Điền của
Guéry mướn bọn cựu quân nhân Pháp làm cai điền với súng ống hẳn hòi,
xét bắt ghe xuồng qua lại. Ai chở lúa lậu thì bọn cai điền được chủ
tỉnh cho phép lập biên bản giải tòa. Dân ở gần điền và các chủ điền lân
cận đều bực dọc về thể thức xét hỏi này : lúa của họ bị kiểm soát, khi
cần mượn đường nước để đi ngang qua điền. Kinh đào là của nhà nước,
nhưng bọn điền Tây xem như là khu vực quân sự riêng của họ.
Vào những năm đầu thế kỷ, ở Cần Thơ người Pháp và người Việt có Pháp
tịch làm chủ 36.000 mẫu (1910). Dường như chỉ có Duval và Guéry là
thành công nhứt, vài công ty khác như Société des Rizières
franco—annamites, hoặc Michel—Villaz et Cie đều lỗ lã, hoặc có những tư
nhân như Balmann đã phá sản.
Công ty Associaton Rizicole Indochinoise thành hình vào năm 1910, gởi
chuyên viên qua Mỹ quốc nghiên cứu các loại máy cày thích hợp rồi cho
một kỷ sư canh nông là Alazard đến Thới Lai (Ô Môn) mang theo máy cày,
máy bừa, máy gieo mạ, xin chánh phủ thuộc địa trợ cấp để thí nghiệm cải
tiến kỹ thuật nhưng không đạt kết quả khả quan. Tên Duquet thử thí
nghiệm việc cày máy vào mùa nắng, đầu năm 1911.
Tư nhân Pháp sẵn sàng góp tay với nhà nước để trong điền đất của họ có
kinh đào cho riêng họ thủ lợi, dân xâu phải tiếp tay (trường hợp Sambuc
và Belin trợ cấp 8.600 đồng nhân dịp đào kinh Thới Lai).
Năm 1907, để phục vụ cho mùa 1907—1908 nhà nước thiết lập ở Cần Thơ một
phòng Dinh Điền nhầm mục đích tìm nhân công cho các điền của người Pháp
ở Cần Thơ, mộ dân nghèo ở Bắc kỳ vào. Nhưng tốp dân mộ này vì bị quan
lại ở quê xứ cưỡng bách, nên khi đến Cần Thơ lại lãng công, thiếu thiện
chí. Rốt cuộc, nhà nước trả họ về quê để khỏi chịu tốn kém về cơm gạo.
Phòng Dinh Điền bèn kiên nhẫn thí nghiệm lần thứ nhì, nhờ quan Công sứ
tỉnh Thái Bình chọn lựa kỹ lưỡng hơn, nhằm khẩn hoang vùng Phụng Hiệp.
Người ứng một phải ký giao kèo chịu ở Nam kỳ ít nhứt là 3 năm, mỗi gia
trưởng khi đến Cần Thơ được tạm cấp 4 mẫu đất, 5 năm sau trở thành sở
hữu chủ, trong giai đọan khai thác đầu tiên được miễn 5 năm khỏi đóng
thuế điền và thuế thân. Sau này, đất bán lại với giá rẻ cho người khai
thác, lại còn giúp đỡ cụ thể về tiền bạc để sắm quần áo, nông cụ.
Đích thân viên đầu phòng Dinh Điền ra tới tỉnh Thái Bình để ký giao kèo
với các gia trưởng chịu vào Cần Thơ nhưng làm sao viên chức này biết rõ
cách thức tuyển mộ của quan Công sứ tỉnh Thái Bình ? Đợt người vào Nam
này gần như bị quan trên bắt buộc phải đi, gồm có : 84 gia đình tổng
cộng 328 người, chia ra 84 người cha, 85 người mẹ, 122 trẻ con, 37
người lớn tuổi.
Cuối tháng 5/1908, họ vào Cần Thơ, đưa đến vùng Phụng Hiệp (bấy giờ còn
hoang vu) cứ 8 ngày là phát gạo, 15 ngày là phát tiền. Họ lãng công,
một số chịu làm lụng nhưng không quen kỹ thuật làm ruộng ở địa phương,
một số đông thì trốn, bỏ vợ con. Theo báo cáo của quan huyện ở Rạch Gòi
thì tốp người ứng mộ này chỉ gồm chừng 5 hay 6 người là nông dân, còn
bao nhiêu là dân mà viên chức ngoài Bắc cứ lùa vào Nam, tạp nhạp, theo
kiểu bắt phu. Vì thế mà cuộc di dân không thu được kết quả gì ráo.
Từ tháng 12/1908 đến tháng 4/1909, họ lần lượt bị đưa về Bắc, còn sót
lại 19 người đang ở tù, vì bất hảo (phúc trình hằng năm về tình hình
tổng quát tỉnh Cần Thơ, niên khóa 1908—1909 của chủ tỉnh L. de Natra).
Trong đợt di dân đầu tiên, 50 người gọi là “cu li Bắc kỳ” tới điền của
Duval và Guéry với một viên đội và 2 người cai canh chừng, nhà nước yêu
cầu chủ điền cho lãnh lương hơi cao một tí để họ siêng năng làm việc.
Nên hiểu cuộc dinh điền của Pháp chỉ là mô phỏng vụng về hình thức lập
ấp đời Tự Đức. Đây là hình thức nô lệ trá hình, bị thất bại vì thiếu
chính nghĩa.
Câu hát “Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền. Anh thương em cho bạc
cho tiền, đừng cho lúa gạo xóm riềng họ hay” phản ảnh tâm trạng lạc
quan của người dân thời ấy.
Vàm Xáng (vàm của kinh Xáng) là nơi kinh Xà No khởi đầu bên phía Cần
Thơ (Xà No, Srok Snor, xóm có nhiều cây điên điển). Ngã ba này trở nên
tấp nập, ghe xuồng đậu để chờ con nước thuận lợi mà qua Rạch Giá hay ra
chợ Cần Thơ.
Năm 1908, hương chức làng Nhân ái đứng đơn xin lập chợ, gọi là chợ Vàm
Xáng để thâu huê lợi cho làng. Một thân hào tình nguyện cho làng khoảnh
đất để cất chợ, nhà canh và phố. Về sau, nhà tước tách địa phận này qua
làng Nhân Nghĩa. Hương chức làng Nhân ái lại phản đối, lấy lý do :
“Làng Nhân ái này là của ông bà cha mẹ chúng tôi lập ra hơn một trăm
năm nay, nên luôn luôn rất bình an”, nếu cắt đất chợ mà nhập qua làng
khác, e hư phong thủy (nhưng thật ra hương chức làng mất dịp làm ăn).
Năm 1913, một thân hào khác lại tặng cho làng sở đất 880 thước vuông để
cất nhà trường làng “dạy trẻ con học hành phong hóa”. Lúa từ phía Rạch
Giá theo kinh Xà No chở ra chợ Cái Răng, do người Huê kiều mua về, mướn
nhà máy xay ra gạo tại chỗ trước khi đem về Chợ Lớn mà xuất cảng. Nhờ
đó, chợ Cái Răng trở thành kho lúa gạo to lớn với nhiều dịch vụ mua bán
mà người Huê kiều thao túng trên thị trường nội địa.
Năm 1908, chợ Cái Răng đã sung túc đến mức hương chức hội tề sở tại bán
cái sườn nhà lồng chợ cho làng Thới Thạnh để mua cái sườn nhà chợ khác,
to và chắc chắn hơn.
Vào đầu năm 1911, nhiều người bày ra sáng kiến lập chành, thoạt tiên
chành cất bằng lá. Và cũng năm này, công ty Asiatic Petroleum xin phép
cất cây cầu sắt dài 15 mét tại bến Cái Răng cho tàu chở dầu cặp bến dễ
dàng hơn.
Cuộc tranh đấu của trí thức Cần Thơ
Đây là phong trào Duy Tân (gọi là cuộc Minh Tân) do Gilbert Trần Chánh Chiếu cầm đầu.
Cần Thơ là nơi mà giới điền chủ Việt có truyền thống văn hóa cao, tuy
kém các tỉnh miền trên như Mỹ Tho, Tân An nhưng đứng vào hàng đầu các
tỉnh Hậu giang. Người ở Cần Thơ liên lạc dễ dàng với các tỉnh miền
trên. Đặc biệt là giới công chức Cần Thơ có tinh thần dân tộc, đến mức
khiến thực dân Pháp phải khó nghĩ, lo ngại.
Phong trào Đông Du lôi cuốn con nhà khá giả ở Bình Thủy và Trà Ôn (nơi
giáp ranh vùng Tam Bình). Lão sư Nguyễn Giác Nguyên ở chùa Nam Nhã
(chùa Minh Sư, Bình Thủy) được ông Cường Để phong cho chức chủ tỉnh Cần
Thơ nếu việc lớn được thành. Về mặt công khai, phong trào Duy Tân khá
rầm rộ. Nhân sĩ yêu nước thời bấy giờ lập Hội khuyến học Cần Thơ vào
ngày 23/3/1906. Trên điều lệ, mục đích của hội là giúp hội viên học hỏi
trau giồi kiến thức về ngôn ngữ, văn hóa của nước Pháp bằng mọi phương
tiện. Hội trưởng hội này là Võ Văn Thơm, hai ông phó Hội trưởng là Hồ
Hưng Nhường và Nguyễn Háo Văn. Vì chê thành phần Hội khuyến học Sài Gòn
lúc bấy giờ kém tích cực và cũng vì muốn hoạt động riêng nên Hội Cần
Thơ không tán thành việc gia nhập vào Hội khuyến học Sài Gòn (20 phiếu
chống, 2 phiếu thuận). Ông Nguyễn Háo Văn là chiến sĩ đắc lực của phong
trào Duy Tân. Về sau, khi vụ án Gilbert Chiếu phanh phui ra, ông bị
cách chức vào ngày 19/4/1909 (ông là thư ký hạng nhứt). Và ba ngày sau
thực dân cũng cách chức ông tri phủ Nguyễn Công Luận ở Sa Đéc, ông
Huỳnh Công Bền, tri phủ Cai Lậy, ông Phạm Văn Bảy, tri huyện ở chợ Mỹ
Tho bị can đồng một tội.
Tuy nhiên, vì không dám khuấy động quá mức, thực dân lúc bấy giờ có
thái độ tương đối hòa hưởn, ông Nguyễn Văn Háo rút đứa con trai đang du
học bên Nhựt về, cho tiếp tục học tại Saint Joseph English College Hong
Kong (đây là ông Nguyễn Háo Vĩnh, có công trong việc chấn hưng ngành
xuất bản sách ở miền Nam).
Trong bài diễn văn đọc kỳ đại hội của Hội khuyến học Cần Thơ ngày
10/1/1908, ông Hội trưởng Võ Văn Thơm công khai đề cao tinh thần dân
tộc, cổ xúy người Việt nên hăng hái, bớt lười biếng, đứng lên tranh
thương với Hoa kiều và ấn kiều, và trong hiện tại, họ đã nể nang người
Việt. Lời lẽ trong bài diễn văn này không dính dấp gì với mục đích của
Hội là “phổ biến văn hóa Pháp” cả.
Khi báo cáo cho Thống đốc Nam kỳ về tình hình trong tỉnh, lần lượt các viên chủ tỉnh ở Cần Thơ thú nhận như sau :
— Báo cáo năm 1908—1909 của L. de Natra : Chủ tỉnh Cần Thơ hồi năm
ngoái nhận định rằng “vụ án Gilbert Chiếu và đồng bọn không gây phản
ứng gì rõ rệt đối với nhân tâm trong tỉnh. Tuy nhiên, ta phải nhìn nhận
rằng một số đông kẻ liên can trong vụ án đều là quê quán ở Cần Thơ. Họ
đang bị giam để chờ ngày ra trước tòa án Mỹ Tho...”
Chủ tỉnh de Natra nói là những biến cố năm 1908 chứng minh một cách khá
rõ rệt rằng dân Nam kỳ bấy lâu chỉ lo làm ăn và cầu mong được yên ổn,
lại bị xúi giục. Đa số người đi xúi dục này đều là những kẻ thọ ơn nhà
nước Pháp. “Người bổn xứ, mà ta có thể tin cậy là trung thành với chế
độ đã tìm mọi cách mà họ có thể có được để chuẩn bị khởi loạn”.
— Báo cáo năm 1909—1910 : Từ khi xảy ra vụ án Gilbert Chiếu tới nay,
chẳng có sự việc gì nổi bật, đáng ghi... “Nhưng khi tiếp xúc với người
bổn xứ, ngay đến những người đã từng phục vụ nhà nước Pháp một cách hữu
ích, ta phải giựt mình vì thái độ chỉ trích của họ đối với tất cả những
gì liên quan đến chính quyền thuộc địa, một lối chỉ trích mỉa mai, cay
cú”.
Báo cáo năm 1910—1911 : “Không có cuộc biến loạn, không có sự bộc lộ cụ
thể nào xảy ra. Tuy nhiên, dưới bề ngoài yên ổn này ta nhận ra một cách
dễ dàng là còn một phần của dân chúng — may thay số người này không
đông đảo cho lắm — họ có thái độ đối lập và thái độ chỉ trích không
nhân nhượng, tận gốc, đối với tất cả những gì của chánh quyền, những gì
xuất phát từ phía người Pháp”. Gilbert Chiếu được tòa xử miễn tố, vì
vậy mà họ càng lừng lẫy hơn, lại còn một số người đồng lõa trong vụ án
cũng được miễn tố. Dân trong tỉnh đủ sức đóng thuế, nhưng tình hình bên
Mãn Châu đã có ảnh hưởng ở toàn cõi Viễn Đông. Cầm đầu nhóm chống đối
chính quyền, có nhiều viên thư ký hoặc quan lại đã bị cách chức, họ
đang sống ngày qua ngày.
Thiên Địa Hội phát triển đặc biệt ở vùng Rạch Giá. Tháng 5/1909, nhà
nước phát giác từ 3 đến 400 người gia nhập hội, chừng 15 người cầm đầu
bị đưa ra tòa. Năm 1910—1911, chủ tỉnh Cần Thơ lại bực mình vì sau 50
năm thống trị của người Pháp mà những hội như thế ấy tại sao lại có thể
tồn tại và phát triển ? Theo viên chủ tỉnh này, lý do chánh là sự bất
lực của các tòa án đã xử phạt quá nhẹ nên dân không sợ.
Một tài liệu khám phá tổ chức Thiên Địa Hội ở vùng Cần Thơ thuộc về
Nghĩa Hòa đoàn (gọi theo giọng Tàu là Dì Hóa). Về cách tổ chức thì
giống như các nhóm Thiên Địa Hội khác, với chủ soái, phó chủ soái,
chánh chủ hương, phó chủ hương. Hội viên lấy bí danh, theo họ của các
vị ngũ tổ thời trước như Vạn Vân Long, Hồng Vạn Chương. Chỉ trừ một số
người Huê kiều làm chánh chủ soái, còn bao nhiêu đều là hương chức. Đặc
biệt là về chức vụ thảo hài, hồng côn, bạch phiến, có riêng một người
là võ bạch phiến, một người là văn bạch phiến, văn thảo hài, võ thảo
hài. Phải chăng họ chú trọng đến vấn đề quân sự để khởi nghĩa trong
ngày gần nhứt ?
Vào những năm 1907, vùng biên giới tỉnh Cần Thơ xảy ra nạn cướp bóc,
chuyên đánh ghe buôn và những chủ điền ở nơi hẻo lánh. Cần Thơ gồm đất
đai ở hai bên bờ Hậu giang, giữa sông lại có cù lao, bọn cướp hoành
hành nơi giáp ranh với Sóc Trăng, Vĩnh Long, Long Xuyên, Rạch Giá. Cầm
đầu bọn cướp gồm những tay khét tiếng đầy đủ bản lãnh, nổi danh nhứt là
Sáu Nhỏ. Theo lịnh của cấp trên, các làng được phép truy nã bọn cướp
qua làng bên cạnh, mặc dầu khác tỉnh. Vì bọn chúa đảng lần hồi sa lưới
nên các vụ cướp giảm lần từ 43 vụ, khoảng 1906—1907, sụt còn 14 vụ,
khoảng 1908—1909.
Lộ xe, chợ phố và trung tâm ngã bảy (Phụng Hiệp)
Nhiều con kinh tiếp tục đào nối liền các rạch nhỏ trong tỉnh, quan
trọng nhứt là công trình mở mang đường giao thông ở cánh đồng Phụng
Hiệp mà trước kia người Pháp gọi là Plaine des Roseaux. Đất Cần Thơ
phía tả ngạn Hậu giang đã có dân cư từ lâu. Phía hữu ngạn là đất tốt
tuy hoang vu đầy lau sậy nhưng dầu sao đi nữa với địa thế tương đối cao
(so với Châu Đốc hoặc Rạch Giá), với phù sa nước ngọt (dễ trồng hoa màu
phụ), nhứt là gần đường giao thông về Sài Gòn (lúa bán có giá) thì vẫn
là nơi lý tưởng mà ai cũng muốn bám vào, không xong thì mới xuống Rạch
Giá, Cà Mau là nơi đất thấp, nhiều muỗi mòng.
Liệt kê việc đào kinh ở tỉnh Cần Thơ là điều rắc rối vì nhiều con kinh
đào đợt đầu, rồi đợt nhì nối dài rồi mở rộng, rồi vét lại cho sâu nhiều
lượt.
Nên chú ý là số dân xâu dùng vào việc đào kinh nhỏ khá nhiều, cực khổ
nhứt là dân vùng Rạch Gòi (về sau quận lỵ dời về Ngã Bảy, Phụng Hiệp).
Chuyên viên thủy nông nghiên cứu không chính xác. Lắm vùng đất làm
ruộng được, nhưng bỗng nhiên lại trở thành đất thấp, bị ngập lụt triền
miên chỉ vì ảnh hưởng của mấy con kinh đào lân cận. Trong trường hợp
ấy, dân làng và điền chủ phải tự nguyện xin làm xâu, đào thêm kinh phụ
để cứu nguy cho ruộng đất của mình.
— Đào kinh Trà ết (1902), đào kinh Bà Thậm qua Tân Lược (1899), vét lại năm 1904.
— Đào kinh từ ngọn Cái Bé qua Thốt Nót từ 1908 đến 1910.
— Vét kinh Nhiêu Sự để nối liền Bò Hút qua Sa Đéc (1909).
— Vét kinh Vàm Bi (1909—1910), điều chỉnh lại kinh Ô Môn qua ngọn sông Cái Bé (1911—1912).
— Đào kinh Xẻo Vông (1908—1912).
Năm 1911, vào ngày 9/4, quận Rạch Gòi có đến 2150 dân xâu làm việc
thường trực để đào kinh. Riêng về rạch Ông Rầy (nối qua Rạch Giá) dùng
đến 1230 dân xâu. Năm 1910, quận Ô Môn cung cấp 3250 dân xâu (Định Thới
: 1130 người, Thới Bảo : 2120 người). Việc đào kinh không theo nguyên
tắc mà luật lệ đã định (5 ngày) nhưng là làm khoán, trung bình mỗi
chuyến làm xâu, mỗi người phải đào cho xong chừng 15 thước khối đất.
Năm 1909, một kế hoạch có ích lợi thực tế được thực hiện, đó là đào con
kinh ngắn, cắt ngang cù lao Mây để ghe chở lúa từ phía Phụng Hiệp đi
tắt qua vàm Trà Ôn, khỏi đi vòng quanh phân nửa cù lao như trước.
Lộ xe từ Cần Thơ đi Sóc Trăng, đi Long Xuyên, đi Vĩnh Long cứ đắp từ
từ, dùng dân xâu và cu li mướn rẻ tiền, từ năm 1908 về sau. Bấy giờ
chưa có hủ lô chạy máy nên dân phải thay phiên nhau đẩy “ống cán” để
cán đá. Đá đã tới bến thì dùng sức người để đẩy xe rùa trên đường rầy
bằng sắt mà đưa tới chỗ cán, hao tổn sức lực. Khi làm đường lộ, có cai
và đội lục lộ trông coi, ai lười biếng thì bị rầy la, ai muốn trốn về
nhà thì cứ lo hối lộ. Nhà nước phát chừng 4 cắc bạc mỗi ngày, nhưng
tiền này thường bị ăn bớt.
Cánh đồng Phụng Hiệp lần hồi có nhiều kinh quy tụ về một trung tâm, gọi là Ngã Bảy.
Voi rừng bị bắn chết, một mớ thì bị mấy thày ngải từ Nam Vang tới bắt;
nhà nước đã xuất ra 241 đồng để thưởng mấy thày ngải này.
Có thể nói khoảng 1908—1909 là những năm lạc quan nhứt về mặt phát
triển, xây dựng cơ cấu kinh tế : cất xong nhà chợ (chợ cá) tại chợ Cần
Thơ, ráp nhà lồng chợ mới ở Cái Răng, nhà lồng chợ Cái Răng thì bán cho
chợ Ô Môn, nhà lồng chợ Ô Môn thì bán cho chợ nhỏ hơn là chợ Rạch Gòi.
Cuối năm 1910, nhà thầu đã cẩn xong bờ sông Cần Thơ (chỗ vàm rạch Cái
Khế) : cẩn bằng cừ cây, lót vỉ sắt, tráng xi—măng bên ngoài cho nước
không làm lở và đồng thời cẩn đá luôn bờ sông tại chợ.
Năm 1911, chỉnh đốn lại mấy “mũi tàu” rạch Cái Vồn Lớn, Cái Vồn Bé và
bờ rạch Trà Ôn. Mấy nẻo yết hầu này là đường chở lúa gạo từ Hậu giang
qua Tiền giang; dùng kỹ thuật đặc biệt, cẩn từng cục xi—măng cứng (gọi
là cuirasse Decauville) để khỏi bị nước xoáy làm lở bờ. Năm 1908, chủ
tỉnh Outrey đưa ra kế hoạch biến Phụng Hiệp trở thành một thương cảng.
Xáng đào thêm con kinh nối Phụng Hiệp với Sóc Trăng, năm 1901.
Bấy lâu, lúa từ Cà Mau chở lên Mỹ Tho rồi lên Sài Gòn theo con đường
quanh co, không thuận lợi : từ Cà Mau theo kinh lên Bạc Liêu, qua Cổ
Cò, Sóc Trăng, ra Đại Ngãi, vượt Hậu giang rồi theo con rạch Tiểu Cần
đến Láng Thé, rồi qua Tiền giang đến Mỏ Cày, qua Bến Tre rồi Mỹ Tho.
Năm 1914, kế hoạch đào kinh Quan Lộ được nghiên cứu và thi hành gấp,
nối liền Cà Mau thẳng lên Phụng Hiệp để từ đó qua Cái Côn rồi qua Trà
Ôn, con đường rút ngắn hơn nhiều. Ngoài ra, hai bờ kinh Quan Lộ sẽ quy
tụ dân đến khẩn đất, nhà nước thêm lợi.
Năm 1915, quận lỵ Rạch Gòi dời đến Ngã Bảy, Phụng Hiệp, gọi là quận
Phụng Hiệp. Đây là quận thành hình giữa vùng lau sậy hoang vu, sau 10
năm đào kinh xáng, nằm trên đường thủy từ Cà Mau ra Hậu giang, đem lúa
và sản phẩm lên Sài Gòn.
Trên những nét chánh, việc khẩn hoang được hoàn tất, khi đường thủy nắm
ưu thế. Qua trận thế chiến thứ nhứt, đường bộ bắt đầu phát triển. Cần
Thơ vẫn nắm giềng mối của các tỉnh giàu có như Sóc Trăng, Bạc Liêu (và
Cà Mau). Đồng thời phân nửa tỉnh Rạch Giá cũng nhờ Cần Thơ mà đến Sài
Gòn theo đường bộ ngắn nhứt.
Nhờ dân đông đúc nên việc giáo huấn ở Cần Thơ phát triển mạnh hơn các
tỉnh khác ở Hậu giang. Năm 1903, đã lập trường nữ tiểu học với một nữ
giáo viên người Pháp cai quản, trường dạy thêm môn thêu thùa và có bàn
máy may biểu diễn cho học sinh và cha mẹ học sinh xem.
Từ năm 1910, dân ở Cần Thơ và ở Trà Ôn được xem chiếu bóng (chiếu bóng
câm) do nhóm Batisson cho chiếu lưu động những phim ngắn, khôi hài hoặc
thời sự khoa học. Năm 1917, An Hà nhựt báo ra đời tại Cần Thơ, đó là ấn
bản chữ Việt của tờ Courrier de líOuest cũng ra mắt tại Cần Thơ.
Năm 1926, trường Trung học Cần Thơ nhận học sinh năm đầu tiên (lớp thứ nhứt). Chương 2 - 6
Những triệu chứng bất ổn
Việc khai thác đất đai ở Nam kỳ đem lại nguồn lợi đáng kể cho thực dân
: bán đất công thổ, thâu thêm thuế điền, thâu thuế xuất cảng lúa gạo,
dân tiêu thụ thêm hàng hóa nhập cảng.
Sau trận thế chiến thứ nhứt, địa vị người Pháp ở thuộc địa được củng cố
hơn. Nước Pháp thắng trận, các nước ở Đông Dương góp phần để giúp mẫu
quốc với con số khá cụ thể :
— Trong 1000 dân, đổ đồng có 5 người sang Pháp (cỡ 2 người làm lính chiến, 2 người làm lính thợ).
— Tính đổ đồng, mỗi người dân ở Đông Dương gởi giúp sang Pháp là 2 cắc, trích trong quỹ của ngân sách Đông Dương còn dư lại.
— Năm 1916, quan toàn quyền Charles cho Pháp bằng tiền và bằng gạo trị giá 3 triệu bạc.
— Gần hồi đình chiến, Đông Dương cho Pháp vay lối 30 triệu bạc.
— Tiền quyên trợ cho Pháp lối 600 triệu bạc.
Sau năm 1919, nền kinh tế Đông Dương thêm dồi dào nhờ chánh sách đầu
tư. Năm 1921, Pháp cho một tập đoàn tài phiệt (trong đó có Đông Dương
Ngân Hàng) thử nghiên cứu việc nối liền đường xe lửa từ Sài Gòn lên
Battambang (Batambang là tỉnh nhiều lúa gạo dư để xuất cảng) và đường
xe lửa nối liền từ Mỹ Tho đến Bạc Liêu nhưng chỉ là kế hoạch dở dang
trên giấy.
Mức sản xuất ở Nam kỳ từ năm 1920 đến 1927 trung bình trên hai triệu
tấn mỗi năm, cao nhứt là năm 1927 với 2.291.333 tấn. So với 1926 thì
mùa 1927 ở các tỉnh miền Tây diện tích canh tác tăng thêm 72.440 mẫu
(Vĩnh Long, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng,
Rạch Giá, Bạc Liêu). Các tỉnh còn lại của Nam kỳ chỉ tăng chừng 16.000
mẫu.
Mức gia tăng này đạt được nhờ sự thành công lớn của giống lúa sạ đem
kết quả tốt ở Long Xuyên. Riêng tỉnh Châu Đốc, tăng thêm đến 5000 mẫu
lúa sạ và 9500 mẫu lúa ba trăng.
Con kinh Cái Sắn đã đào xong, lộ xe Rạch Giá Long Xuyên thành hình bắt
đầu cho lưu thông vào năm 1929, giúp cho cánh đồng Cái Sắn dễ khai thác
suốt 60 cây số ngàn..
Tại khu vực Bình Đông Bình Tây, người Huê kiều lạc quan tới mức lạm
phát nhà máy xay lúa gạo : năm 1925 có 46 nhà máy cỡ lớn, năm 1927 đến
66.
Cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu có ảnh hưởng đối với Đông Dương từ
giữa năm 1930. Đặc điểm của cuộc khủng hoảng này là lúa gạo vẫn có thể
bán ra được, có nơi tiêu thụ nhưng với giá quá rẻ.
Giá gạo tại Sài Gòn sụt lần từ 13,30 đồng mỗi 100 kí lô (vào tháng
4/1930) còn 3,20 đồng (vào tháng 11/1933). Theo P. Bernard, gạo mất giá
từ 72 đến 76 % so với lúc trước. Nhưng trong thực tế ta thấy khác hơn :
— Năm 1928, lúa bán một giạ (40 lít) là 1,2 đồng, theo bài vè Nọc Nạn “lúa thì một giạ bán thì đồng hai”.
— Năm 1933, vào tháng 12, phái bộ Nam kỳ ở Đại Hội đồng kinh tế lý tài
Đông Dương đánh điện cho Bộ Thuộc địa rằng “Dân chúng đói khát lầm
than... lúa bán 1 cắc (1 giạ) ở Nam kỳ”.
Nguy cơ lớn lại xảy ra cho điền chủ Việt và luôn cả điền chủ Pháp. Đặc
biệt là điền chủ Việt bấy lâu thiếu nợ quá nhiều của nhà Băng hoặc của
Chà Chetty, với giấy tờ và những điều kiện đặc biệt. Vay bằng tiền thì
phải trả bằng tiền, chớ không được trả bằng lúa. Ngày trước, khi chưa
có kinh tế khủng hoảng, muốn thanh toán 1200 đồng bạc để trả tiền lời
nợ, chỉ cần bán 1000 giạ lúa. Năm 1933, muốn thanh toán số nợ trên phải
bán đến 12.000 giạ lúa, tức là 12 lần nhiều hơn, một số lúa mà không
bao giờ chủ điền có dư nổi.
Tiểu điền chủ đã vay nợ của đại điền chủ với điều kiện ngặt nghèo hơn.
Họ đành chịu mất đất để trừ nợ. Một số lớn điền chủ đành chịu phát mãi
đất. Theo bác sĩ Trần Như Lân cũng là hội đồng quản hạt (quê ở Rạch
Giá, nên am hiểu tình thế khá cụ thể) thì vào năm 1933 nợ của điền chủ
thiếu nhà Băng và Chà Chetty lên tới 65 triệu đồng nhưng nhà nước chỉ
cho vay lại — trong thực tế — có 5 triệu. Số 5 triệu này, nhà nước
không đưa ra bạc mặt nhưng cho điền chủ mượn trên nguyên tắc, để trả nợ
số mà điền chủ đã thiếu nhà nước khi mua đất công thổ (trong khoảng
1921 đến 1930, chánh phủ bán cho điền chủ 4.987.167 đồng về đất công
thổ).
ở Hậu giang, ngay trong khi nền cai trị còn vững mạnh, hai biến cố lớn
đã làm lung lay chánh sách khẩn đất của thực dân Pháp : vụ Ninh Thạnh
Lợi ở Rạch Giá và vụ Nọc Nạn ở Bạc Liêu vào những năm 1927 và 1928. Báo
chí Sài Gòn nói nhiều, các chánh khách quốc gia thuộc đảng Lập Hiến
cũng lên án thực dân. Vụ Ninh Thạnh Lợi làm cho 17 người Miên chết vì
thực dân tàn sát. Vụ Nọc Nạn khiến cho 4 người Việt Nam chết. Họ là
những tiểu điền chủ, họ tự động chống cự với thực dân, tuyệt nhiên
không ai xúi dục; lúc bấy giờ ở miền Nam chưa có đảng Cộng Sản.
Khuyết điểm căn bản của nước ta hồi thời Tự Đức là chánh sách bế quan
tỏa cảng, vì vậy mà lúa bán không được giá. Người dân chỉ làm ruộng
trong mức đủ ăn. Điền chủ thì cho vay lấy địa tô để đóng thuế cho triều
đình và dành dụm tiền bạc mà ăn xài, hưởng thụ cá nhân, sắm vàng để lại
cho con cháu, lập vường tược để dưỡng già, nếu dư thì đầu tư vào việc
mua thêm đất ruộng.
Thực dân Pháp cho áp dụng chánh sách thông thương, phát triển xuất
cảng, tìm thị trường mới cho lúa gạo Nam kỳ với những tàu máy chở
chuyên nhanh và nhiều. Giá gạo tăng gấp 5 lần so với thời Tự Đức. Đó là
lý do chánh yếu khiến cho dân chúng lần hồi sống an phận và có phần vui
vẻ với Tân trào, các lãnh tụ cầm đầu nghĩa quân với mục đích phò vua
lần hồi chẳng còn ai theo.
Nhưng việc mở mang thương cảng Sài Gòn và phát triển thương mãi, thâu
vét tài nguyên và lợi dụng nhân công rẻ của thực dân Pháp đã gây thêm
nhiều mâu thuẫn trong nước :
— Phong trào Hội kín thành hình theo kiểu Thiên Địa Hội, đã liên kết
được một số nông dân có kỳ thị với văn hóa Tây phương. Phật giáo Bửu
Sơn Kỳ Hương ở vùng Thất Sơn phát triển thêm. Một lực lượng đáng kể
cũng tập họp ngay trong thành phố Sài Gòn gồm những nông dân chưa thích
ứng được với hoàn cảnh mới, vì vậy mà xảy ra hai cuộc khởi loạn năm
1913 và 1916 ở Nam kỳ (Sài Gòn, Chợ Lớn và nhiều tỉnh).
— Phong trào Duy Tân (gọi là cuộc Minh Tân) cùng việc vận động Đông Du
đã đánh dấu giai đoạn tranh đấu phối hợp với toàn quốc. Nam kỳ là nơi
có nhiều điền chủ và công chức sang giàu. Họ không muốn bị thực dân
Pháp kềm hãm bằng một chánh sách bế quan tỏa cảng mới, về mặt tinh thần
: Hoàng thân Cường Đễ có lẽ được người ở Nam kỳ ái mộ nhiều, so với
miền Trung hay Bắc.
Nhưng người Nhựt đã phản bội, nhân sĩ và điền chủ Nam kỳ thấy rằng vọng
ngoại là bất thành. Ngày nào còn thực dân Pháp thì họ không thể nào
phát triển kỹ nghệ bổn xứ hoặc nắm việc nội ngoại thương được. Phong
trào bị dập tắt nhưng dư âm cứ vang dậy. Thực dân rất lúng túng về sự
xuất hiện của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ : đàn áp thì khó vì đây là một tôn
giáo đã được hiện đại hóa, nhưng để cho phát triển thì e có hại vì
trong tôn giáo có nội dung dân tộc này, vài cựu chiến sĩ của phong trào
Duy Tân lại đóng vai trò quan trọng.
Việc đầu tư của thực dân Pháp khiến phát triển thêm một vài hãng xưởng
nhưng quan trọng nhứt là những công ty đồn điền cao su với số nhân công
cực khổ, thua sút thân phận người tá điền. Đấy là lực lượng lớn, tập
trung, khó kềm hãm.
Việc khai hóa của nước Pháp về hình thức là cho du nhập những tư tưởng
tự do, dân chủ và tư tưởng xã hội của Tây phương, đồng thời cũng chấp
nhận việc cho phép thanh niên Việt Nam du học sang Pháp nếu ngăn cấm
không cho họ sang Nhựt. Đám thanh niên này về nước, tuy một số đã hủ
bại, nhưng còn một số khác trở thành tai họa không nhỏ. Họ tranh đấu,
dùng những phương tiện mới, thấp nhứt là hình thức ra báo chí.
Ngày xưa, khi ông Cử Trị châm biếm Tân trào, khi ông Đồ Chiểu làm thơ
ca ngợi hào khí đất nước thì chỉ một số ít người biết. Nhưng với hai vụ
Ninh Thạnh Lợi và Nọc Nạn vào năm 1927 và 1928, lần đầu tiên ở toàn Nam
kỳ và các nhà “khảo cứu” Pháp phải giựt mình, nhờ vai trò của báo chí.
Hai biến cố trên là việc bộc phát tự động, chứng tỏ người lưu dân ở
Rạch Giá, Cà Mau tuy xa xôi, trình độ văn hóa kém nhưng đã trưởng
thành, cả người Việt lẫn người Miên.
Lịch sử khẩn hoang ở miền Nam ít ra cũng giúp ta thấy được một thực tế.
ý thức dân tộc phát triển mạnh khi sinh hoạt làng xóm thành nền nếp và
sinh hoạt vật chất được tạm ổn định. Nếu khi người Pháp chiếm Nam kỳ
vào cuối thế kỷ 19, vùng Ba Giồng được nổi danh là nhờ đất xưa, gọi là
địa linh, thì kể từ cuộc kinh tế khủng hoảng 1930—1933 người bình dân ở
Rạch Giá, Cà Mau cũng bắt đầu theo dõi chuyện Nhựt đánh Mãn Châu, vụ
Thượng Hải, Ngô Tùng qua báo chí, qua lời thuật lại của một vài thầy
giáo làng từ Sa Đéc, Tam Bình thuyên chuyển xuống.
Họ thấy chế độ Pháp quả là không hợp thời. Họ hiểu rõ khi cho đào kinh
xáng, mở mang lộ xe, thực dân có dụng tâm gì. Và biện pháp hữu hiệu
nhứt để cho người ở trong vựa lúa miền Nam được hạnh phúc không phải là
cắt Nam kỳ ra để lập một tiểu quốc, để rồi không lấy tiền thuế của dân
Nam kỳ mà đem tài trợ cho ngân sách Đông Dương, dành tiền thuế của
người Nam kỳ cho riêng người Nam kỳ xài, như một chánh sách của đảng
Lập Hiến đề xướng cho “Pháp — Việt đề huề”. Các chiến sĩ Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh đưa ra biện pháp tích cực, hợp với thực
trạng của dân tộc hơn. Phụ Lục
Người Pháp cố ý ém nhẹm những rắc rối xảy ra trong việc phân phối đất
đai. Thuở ấy, người dân thấp cổ bé miệng chỉ có thể kêu nài và nếu đem
phân xử thì người dân không rành luật lệ luôn luôn bị thất kiện.
Hội đồng phái viên đi xét đất gồm toàn là viên chức, thân hào của tỉnh,
quận, tổng và làng. Lề lối làm việc của Hội đồng này tuy nói là quan
sát tại chỗ, ghi vào biên bản rành mạch nhưng họ chỉ ngồi tại công sở
làng, với lính mã tà bảo vệ. Làng mạc ở Hậu giang quá rộng, dầu đủ
thiện chí các viên chức cũng khó lội bùn sình, phơi nắng dầm mưa hằng
đôi ba cây số dưới ruộng để xem đâu là ranh giới từng sở đất. Trên
nguyên tắc, nhà nước Pháp tự hào là dành nhiều dễ dãi cho dân, phát
triển chế độ tiểu điền chủ hơn là chế độ đài điền chủ nhưng trong thực
tế lại khác.
Dư luận của mọi giới kể cả dư luận của những tay thực dân Pháp đã xúc
động khi ở Hậu giang xảy ra hai biến cố quan trọng về quyền sở hữu đất
ruộng :
— Vụ Ninh Thạnh Lợi, năm 1927 ở Rạch Giá.
— Vụ Nọc Nạn, năm 1928 ở Bạc Liêu.
Lúc bấy giờ từ những tờ báo thân chánh quyền, ủng hộ thực dân đến báo có xu hướng ôn hòa đều lên tiếng vì những lý do sau đây :
— Nạn nhân là những người chí thú làm ăn, tuyệt nhiên không có những
người làm chánh trị xúi dục. Họ chỉ muốn bảo vệ phần đất ruộng mà họ đã
khai thác từ lâu.
— Những người phạm tội đã tìm đủ mọi cách để kêu nài trong mức cố gắng tối đa của họ.
— Thành phần xã hội của những bị can là điền chủ lớn hoặc nhỏ, chớ không phải là tá điền hoặc bần cố nông.
— Họ không bao giờ nêu khẩu hiệu chống chế độ thực dân Pháp hoặc đưa
yêu sách giùm cho người khác, nhằm mục đích khuấy động thành một phong
trào lan rộng.
— Bộ máy đàn áp của thực dân Pháp đã quá sốt sắng, trừng phạt quá đáng
thay vì dùng biện pháp ít tốn xương máu hơn. Luật lệ mà thực dân bấy
lâu đưa ra về vấn đề khẩn đất chỉ là những cạm bẫy để cho kẻ lương
thiện sụp xuống dễ dàng.
Thực dân đành thú nhận sự thiếu sót về mặt nghiên cứu tâm lý dân Việt, cũng như tâm lý người Miên.
Hai vụ Nọc Nạn và Ninh Thạnh Lợi vi phạm đến những nguyên lý thấp nhứt
về lòng nhân đạo : Có thể nói là chẳng một ai dám binh vực thái độ của
thực dân, mặc dầu đã tán thành ngấm ngầm chế độ ấy trong một mức nào
đó. Nhờ báo chí tường thuật và quảng bá tin tức, dư luận xúc động mạnh,
các chiến sĩ quốc gia dùng dịp này mà chỉ trích chánh sách của thực
dân; ôn hòa như ông Bùi Quang Chiêu mà cũng phải lên tiếng.
Các tài liệu hoặc sách nghiên cứu của người Pháp sau này không dám bỏ
quên hai biến cố nói trên nhưng họ chỉ đề cập vắn tắt trong vài hàng,
hoặc cố ý giảm thiểu tầm quan trọng.
Nhiều giai thoại được phổ biến truyền khẩu nên hai vụ án trên lần hồi
trở thành chuyện truyền kỳ, người thuật lại có thể vô tình hay cố ý
thêm thắt chi tiết hoặc sửa đổi nội dung. Chúng tôi thử ghi lại những
nét chánh.
Vụ án Ninh Thạnh Lợi
Tài liệu căn cản mà chúng tôi sử dụng là bản phúc trình của Thống đốc
Nam kỳ Blanchard de la Brosse gởi lên Toàn quyền Đông Dương, đề ngày
28/5/1927.
Làng Ninh Thạnh Lợi (quận Phước Long, tỉnh Rạch Giá) trước kia là vùng
đất thấp và phèn, cỏ mọc hoang vu, trên mấy giồng cao ráo thì người
Miên đã làm ăn lâu đời. Từ khi đào kinh Quan Lộ — Phụng Hiệp nối Cà Mau
đến Ngã Bảy (Cần Thơ), dân tới khai khẩn hai bên bờ ngày càng đông đúc,
lập ra quận Phước Long (khi trước làng này thuộc về quận Long Mỹ).
Thời đàng cựu tuy là dùng chánh sách đồng hóa nhưng vua chúa nhà Nguyễn
dành cho người Miên ở Nam kỳ nhiều quyền tự trị : đất đai của họ thì họ
gìn giữ, thủy lợi (huê lợi cá tôm dưới sông rạch) thuộc về họ hưởng.
Người Pháp lúc mới xâm chiếm đã gặp nhiều sốc Miên khá đông đúc nên vội
kết luận là người Việt không có tài “thực dân”, vì những vùng chung
quanh xóm Miên hãy còn nguyên vẹn, hoang vu.
Theo luật thông dụng của người Cao Miên từ xưa thì người dân được quyền
tự do canh tác nơi nào họ muốn; họ cứ đến cày cấy nơi vùng đất hoang.
Nếu có người canh tác từ trước thì phải đợi khi nào đất bỏ hoang trong
3 năm liên tiếp, kẻ khác mới được chiếm hữu.
Luật lệ phiền phức về khẩn đất mà người Pháp ban hành đã làm đảo lộn
tình thế. Vài cường hào thừa cơ hội lập bộ mới để chiếm đoạt, lấn đất
người Miên nhưng người Việt Nam vẫn thua người Pháp về phương diện này.
Năm 1922, một người Pháp là Beauville—Eynaud dùng thủ đoạn hợp pháp
nhưng bịp bợm, cho tay em đứng tên xin khẩn đất trong làng Ninh Thạnh
Lợi rồi hắn mua lại những biên lai xin khẩn ấy. Kết quả là hắn trở
thành người chủ điền lớn, chiếm đến 9/10 diện tích của làng. Nhưng
trước lời thánh oán của dân Miên, tên Eynaud phải trả đất lại, dân làng
lúc bấy giờ đã kêu nài tận quan Thống đốc Nam kỳ và Hội đồng quản hạt.
Nhưng một người xã trưởng (Huê kiều lai) vẫn giữ nhiều thế lực trong
làng. Ông ta vốn là tay sai thân tín của tên Beauville—Eynaud chiếm đất
dạo nọ. Ngoài ra, xã trưởng này cũng là người thân tín của cai tổng Tr.
Kế hoạch chiếm 9/10 đất đai của làng Ninh Thạnh Lợi đã thất bại. Nhưng
lần sau, tiếp tục kế hoạch này là cai tổng Tr. Viên cai tổng này làm
việc chậm rãi và thâm hiểm hơn, cho tay em là xã trưởng làm giấy tờ để
trưng khẩn từng sở đất nhỏ, do đó mà một phần đất của ông chủ Chọt bị
sứt mẻ.
Ông chủ Chọt bèn kiện viên xã trưởng và thắng kiện. Ông chủ Chọt, người
cầm đầu cuộc khởi loạn là điền chủ gốc Tàu lai Miên. Trong làng có tất
cả chừng 900 dân đinh, đại đa số là người Miên. Chủ Chọt đứng bộ 300
mẫu đất ruộng, góp địa tô và cho vay ăn lời, mỗi năm thâu ước 15.000
giạ lúa.
Vào đầu tháng 5/1927, chủ Chọ (người Pháp phiên âm là Chok) bắt đầu ra tay.
Hương chức làng lân cận và lính mã tà ở quận lỵ Phước Long cùng chủ
điền Pháp đều chú ý đến những cuộc hội họp bất thường, trong đó có chủ
Chọt, Mốc (em rể của ông ta) và một người thày bùa tên là Cồ Cui mà
nhiều người cho rằng em của chủ Chọt. Họ tụ họp chừng 40 người, làm lễ
cúng, phát bùa, khoe rằng hễ đeo vào người là súng bắn không lủng. Bọn
tay em mặc quần áo trắng, mấy người lãnh tụ thì mang cờ xí nhiều màu.
Họ cử hành liên tiếp nhiều cuộc lễ khác, thay đổi địa điểm trong làng
hoặc ở làng giáp ranh, phải chăng với mục đích củng cố tinh thần bọn
tay em và thâu nạp thêm người mới ? Mọi việc diễn ra êm thắm, không xúc
phạm đến tài sản hay tánh mạng ai cả.
Một biến cố nhỏ lại xảy ra. Khi chủ Chọt và bọn tay em làm lễ trên phần
đất đai của đồn điền Mézin (tên thực dân nổi danh về khai thác rừng
tràm, gần như độc quyền) thì tên cai điền của Mézin bèn thị oai, cầm
súng đưa lên như hăm dọa bắt buộc chủ Chọt phải giải tán (cai điền của
Pháp được quyền giữ súng). Bọn chủ Chọt và tay em liền phản ứng ngay,
bắt sống bốn người tá điền trên phần đất của Mézin rồi đem về “lãnh
thổ” của mình.
Tên cai điền hoảng hốt bèn đánh điện cho chủ tỉnh Rạch Giá mà báo nguy
(đây là làng gần quận lỵ). Trong khi đó, chủ Chọt và đồng bọn trở về
sào huyệt. Đó là căn nhà lớn của ông ta, hai bên là lẫm lúa và nhà cho
bọn làm công ở, ngoài ra còn tích trữ sẵn nào dao mác, nào phãng phát
cỏ kéo cổ thẳng trở thành loại gươm bén !
Một cuộc lễ khác diễn ra. Cồ Cui làm phép, cầu khẩn với thần linh. Bấy
giờ đạo Cao Đài bắtn đầu phát triển đến Hậu giang, hương chức mấy làng
lân cận suy luận qua sắc phục trắng của bọn tay em, cho là hình thức
giống như đạo Cao Đài. Có lẽ chủ Chọt và đồng bọn muốn lập một tôn giáo
mới, thế thôi.
Bức điện tín của người cai điền đến tay chủ tỉnh Rạch Giá vào lúc chủ
tỉnh hội thường lệ với các chủ quận. Chủ quận Phước Long và viên cai
tổng được lịnh trở về địa phương để xem xét tình hình và ứng phó gấp.
Bấy giờ, tình hình như căng thẳng hơn. Sau cuộc lễ lớn, chủ Chọt bước
qua giai đoạn mới : cho giăng tứ phía một sợi chỉ màu trắng tượng trưng
cho ranh giới bất khả xâm phạm, cấm ngặt không cho ai bước qua.
Quan chủ quận Phước Long đi ghe đến công sở làng Ninh Thạnh Lợơi vào
chiều ngày 6/5/1927. Ông lên bờ, thấy vài người Miên mặc quần áo trắng
đứng lãng vãng gần đó. Ông ra lịnh gọi họ lại để hỏi chuyện. Trong công
sở cũng còn một vài người Miên nhưng tất cả đều không thèm trả lời và
như theo một hiệu lịnh, họ kéo ra, chạy về phía quan chủ quận.
Quan chủ quận hoảng sợ, chạy trở xuống ghe trong khi bọn tay em của chủ Chọt rượt trên bờ và liệng đất theo ghe để khiêu khích.
Hôm sau, ngày 7, theo lịnh quan chủ quận, 2 người lính kín (mật thám),
4 lính mã tà và viên cai tổng cùng đến nơi để tái lập trật tự. Họ mang
theo loại súng bắn đạn chài. Khi gặp tay em của chủ Chọt, lính bắn vài
phát. Bọn tay em dùng dao mác và phãng mà rượt theo, chẳng ai bị thương
cả. Bọn lính mã tà và lính kín hoảng sợ chạy trở về dinh quận để báo
động.
Ngay trong đêm ấy, bọn chủ Chọt liền đến bao vây nhà của cai tổng Tr. ở
ngã tư Phó Sinh và nhà của viên xã trưởng Ninh Thạnh Lợi ở Cỏ Thum.
Viên cai tổng vắng mặt. Họ rút lui, không phá hại gì trong nhà cả.
Nhưng mặc dầu không có xã trưởng ở nhà, bọn người hăng máu nọ ra tay hạ
sát cha của ông này.
Viên cai tổng và xã trưởng vì quá khôn ngoan nên không dám ngủ nhà, điều này chứng tỏ rằng chủ Chọt hận về chuyện giựt đất.
Uy thế của chủ Chọt càng lẫy lừng, bọn tay em càng tin rằng với bùa
phép thì súng bắn không lủng, như lần bị bắn đạn chài hôm trước cho
thấy rõ.
Chủ tỉnh Rạch Giá bèn đích thân vào quận Phước Long để đàn áp. Cùng đi
với ông ta có viên thanh tra mật thám và một số lính mã tà. Khi đến
Phước Long thì đã 8 giờ tối. Và ông ta lại trở về chợ Rạch Giá vào lúc
hừng đông hôm sau. Ông ta thấy không nên ở lại Phước Long vì toán quân
gồm lính mã tà và tên cò Tây đã bị loạn quân đánh đại bại. Tên cò
Bouchet bị thương khá nặng, 3 người lính mã tà thì chết khi lâm trận.
Trận này xảy ra trước khi viên chủ tỉnh đến Phước Long vì ông ta đi
bằng tàu đò sung công, còn tên cò Bouchet thì lại dùng chiếc tàu khác,
mượn của ty Kiểm lâm.
Số là viên cò Bouchet quá khinh địch, khi tàu chạy ngang vùng cấm địa
của bọn chủ Chọt thì dừng lại rồi ra lịnh cho chừng 10 tên mã tà mang
súng trên vai đến tìm vài tên phiến loạn mà bắt sống làm con tin, để
dằn mặt và điều tra. Dọc đường, lính mã tà gặp bọn tay em của chủ Chọt
đang nghinh chiến với dao mác. Bọn lính dỗ dành, mời họ đi theo để gặp
mặt viên cò Tây mà kêu nài, trình bày nỗi oan ức.
Bọn tay em của chủ Chọt chịu nhận lời nhưng với điều kiện là họ được đi
thong thả phía sau, bọn lính phải đi phía trước. Bọn lính chấp thuận và
lại khinh địch, mang súng trên vai, đi trước.
Khi còn chừng 100 mét tới công sở (tức là chừng 120 mét thì tới chiếc
tàu mà viên cò Tây đang chờ đợi) thì theo hiệu lịnh bằng tiếng Miên,
bọn tay em của chủ Chọt xông tới, đâm bọn lính mã tà từ phía sau lưng,
khiến chẳng ai đề phòng kịp.
Hai ba người lính mã tà đủ thời giờ nạp đạn bắn trả lại, làm cho đối
phương bị thương và chết 6 người. Một viên mã tà và 2 người lính (có lẽ
lính kín) bị loạn quân giết tại trận.
Viên cò Bouchet bấy giờ đang đứng trên bờ, thấy chuyện náo động thì
hoảng sợ (mặc dầu bên cạnh ông ta còn 15 người mã tà), nên chạy lên tàu
trốn vào “ca—bin” riêng. Nhưng một tay em của chủ Chọt lanh tay, giựt
cây súng của tên mã tà tử trận (trong ấy có sẵn đạn), bèn nhắm vào viên
cò mà bắn gây thương tích trầm trọng. Phát đạn thứ nhì bắn lên tàu
trúng tên cai mã tà, gây thương tích. Lại còn một tên lính bị chém đứt
3 ngón tay.
Thế là tàu chạy nhanh để tẩu thoát, bỏ sót lại một tên lính mã tà. Tên
này nhảy xuống kinh xáng, lẩn trốn dưới cỏ để rồi lội nước qua bờ bên
kia.
Sau này, giới hữu quyền Pháp chê tên cò Bouchet quá vụng về và quá sợ
chết. Bấy giờ, trên bờ chỉ có chừng 30 loạn quân với võ khí thô sơ và 3
cây súng mà họ vừa giựt được. Nếu từ trên tàu mà bắn cho kéo tay thì
hàng chục người lính còn lại đủ sức giải tán và gây tổn thất nặng cho
đối phương, chớ không rút lui một cách thảm bại.
Viên chủ tỉnh gặp toán quân của tên cò Bouchet trên đường về Phước
Long. Lính mã tà của chủ tỉnh và của tên cò cộng lại cỡ 30 người, đủ
sức trở lại ăn thua với bọn người làm loạn. Nhưng viên chủ tỉnh không
làm chuyện đó được vì ông ta “đi tàu đò từ Long Mỹ đến, và chủ tàu này
không chịu chạy đến nơi bất an”. Vả lại, chủ tỉnh còn muốn đưa tên cò
Bouchet về Sài Gòn để điều trị gấp.
Quả thật là thắng lợi cho phe chủ Chọt về phương diện tâm lý : chủ quận
rút lui, chủ tỉnh cũng rút lui, tên cò bị thương... Vì vậy dân trong
vùng hoảng sợ, trong một đêm ai nấy vội vã tản cư trong khi chủ Chọt
treo bảng ra lịnh không cho bất cứ tàu bè nào qua lại khu vực của ông
ta kiểm soát, đồng thời mấy tiệm buôn Huê kiều phải mua bán như thường
lệ, bằng không thì sẽ bị phá cửa.
Chủ tỉnh Rạch Giá bèn đánh điện cầu cứu với tỉnh Cần Thơ. Hôm ấy, khi
nhận được điện văn là vào lúc xế trưa, các quan ăn lễ kỷ niệm nữ anh
hùng Jeanne díArc. Chủ tỉnh Cần Thơ nghỉ phép, vắng mặt. Phó chủ tỉnh
bèn ra lịnh cho trung úy cảnh sát tên là Turcot tức tốc qua Rạch Giá
với 30 lính mã tà của tỉnh Cần Thơ.
Họ đi xe hơi tới Long Mỹ. Nơi đây, trung úy Turcot gặp viên Thanh tra
Lao động từ Sài Gòn đến. Viên Thanh tra này biết nói rành tiếng Miên.
Khi bàn chuyện bạo động ở Ninh Thạnh Lợi, viên Thanh tra này hỏi về
cách ứng phó sẽ áp dụng thì Turcot bảo rằng khi đến nơi sẽ bắt bọn làm
loạn, nếu bọn này chống lại thì lính mã tà sẽ dùng súng đạn, không cần
dè dặt.
Toán lính của trung úy Turcot đến, tấn công ngay vào sào huyệt. Lẽ dĩ
nhiên, chẳng một ai chịu ra đầu hàng khi viên trung úy ra lịnh.
Súng nổ, bọn tay em của chủ Chọt chống cự hăng hái, họ dùng khí giới
bén và bốn khẩu súng giựt được của lính mã tà hôm trước. Họ bắn tất cả
80 viên đạn, tức là đến viên đạn cuối cùng. Bên chủ Chọt, 14 người chết
tại trận, gồm chủ Chọt, tên thày bùa và con gái của chủ Chọt. Cô gái
này đứng hàng đầu, xung phong khi nghinh chiến. Ngoài ra còn khoảng 20
người bị thương, bị bắt giam.
Tài liệu không nói rõ bên lính mã tà tổn thất ra sao (theo lời thuật
lại sau này của người địa phương thì lính mã tà bị thương khá đông,
nhưng nhẹ thôi).
Những người thuộc phe chủ Chọt, luôn cả chủ Chọt được chôn vào địa điểm
mà đến nay người địa phương còn gọi là “mã chủ Chọt” ở giữa ruộng (đến
vùng Phước Long hỏi ai cũng biết).
Quan Thống đốc Blanchard de la Brosse chứng minh rằng cuộc thảm sát xảy
ra là tất yếu, không có cách nào khác hơn (ông ta muốn binh vực bọn
thuộc hạ) nhưng nhìn nhận rằng tên cò Bouchet bị thương lần trước và
bọn lính mã tà đều quá dở.
Người địa phương thì “khen ngợi” viên xã trưởng, thầy cai tổng và quan
chủ quận Phước Long là khôn ngoan và am hiểu tình hình : thà rằng trốn
hoặc rút lui còn hơn là xông pha vào vòng giáo mác. Khôn ngoan nhứt là
viên chủ tỉnh Rạch Giá đã rút lui về chợ mà ở cho yên thân, để rồi chụp
mũ, cho cuộc khởi loạn có tánh cách chống Pháp. Chủ quận và hương chức
làng Ninh Thạnh Lợi cũng muốn chụp mũ như vậy để khỏi gánh trách nhiệm
về những bất công mà họ đã gây ra.
Quan Thống đốc không đồng ý rằng cuộc khởi loạn nhằm mục đích lật đổ
ách thực dân Pháp, vì người Miên ở các vùng phụ cận tuyệt nhiên không
hay biết. Chủ Chọt không ngu dại gì mà cử đồ đại sự với lực lượng vỏn
vẹn 40 người.
Lập luận thứ nhì, do một số đông báo chí Pháp ngữ đưa ra, lại thiên về
“khảo cứu chủng tộc” : người Miên vào mùa nắng thường nổi cơn “say máu
ngà” giống như trường hợp người Mã Lai say nắng, nổi cơn khùng (kêu là
Amok) trở nên cuồng dại, hung hăng bất cần thực tế, lý trí kiểm soát
không được hành động. Chẳng qua là dân ở Ninh Thạnh Lợi chưa được khai
hóa, còn manh tánh chất thời cổ sơ của chủng tộc “ấn độ, Mã Lai”. Họ
bảo rằng đây là vấn đề bịnh thần kinh, thuộc về y học !
Lập luận thứ ba, của báo chí Việt ngữ ở Sài Gòn lúc bấy giờ, cho đây là
cuộc khủng hoảng của chánh sách điền địa bất công do người Pháp bày ra;
viên chức địa phương tham nhũng, giành đất của dân.
Tuy không nói rõ rệt mình theo lập luận nào nhưng quan Thống đốc Nam kỳ
lại trình bày với quan Toàn quyền rằng theo ông ta thì “lịch sử của các
tỉnh miền Tây Nam kỳ trùng hợp với lịch sử của cách tổ chức về quyền tư
hữu ruộng đất, và sự phản ứng của dân bản xứ, của người Miên đối với
quy chế về đất đai (mà chánh phủ sắp đặt cho họ)”. Rốt cuộc, quan Thống
đốc chứng minh rằng mục tiêu đầu tiên của chủ Chọt chỉ là ăn thua với
cường hào địa phương (xã trưởng và cai tổng) vì hai cá nhân này lấn đất
của ông ta. Đây không phải là vụ khởi loạn có tính chất chính trị nhưng
là một vụ thường phạm.
Tuy nhiên, vẫn theo ý kiến của viên Thống đốc này, chánh phủ nên chú ý
hơn đến các sốc Miên hẻo lánh ở miền Tây. Ông ta cũng hứa với quan Toàn
quyền là sẽ cứu xét với tinh thần rộng rãi một số nguyện vọng của người
Miên, như việc đóng thuế, quy chế miễn đi lính cho sư vãi, đồng thời
thử nghiên cứu việc tách ra vài vùng đất ruộng dành đặc biệt cho người
Miên làm chủ. Và sẽ cứu xét một cách công bình những vụ khiếu nại về
ruộng đất ở làng Ninh Thạnh Lợi.
ít ra, giặc chủ Chọt cũng làm cho thực dân Pháp và cường hào giựt mình trong nhiều năm.
Vụ án Nọc Nạn
Cánh đồng Nọc Nạn thuộc làng Phong Thạnh, quận Giá Lai, tỉnh Bạc Liêu
thời Pháp thuộc. Về nguồn gốc của hai tiếng Nọc Nạn thì chưa ai giải
thích thỏa đáng, hoặc là nơi đây đất thấp, dân muốn cất nhà thì phải
xốc nạn theo kiểu nhà sàn. Hoặc là tiếng Miên, nói trại lại. Cánh đồng
này nằm trên đường Bạc Liêu, Cà Mau, với con rạch Nọn Nạn. Vùng này đất
cao ráo và tốt.
Những chiến sĩ quốc gia bấy giờ lên tiếng và theo dõi vì đây là cuộc
tranh đấu giữa người tiểu điền chủ chống cường hào, để giữ lại phần tư
hữu tài sản mà chính ông bà họ đã tạo ra. Không có gì chứng minh rằng
họ hành động vì có người xui giục để khuấy động trong địa phương.
Cuộc tranh đấu xảy ra chỉ vì cường hào địa phương được che chở bằng những luật lệ quanh co và phức tạp của thực dân Pháp.
Nhiều giai thoại truyền khẩu vẫn còn được nhắc nhở, chi tiết lần hồi có
thể sai lạc. Chúng tôi căn cứ vào hai nguồn tài liệu căn bản :
— Bài vè Nọc Nạn do tác giả vô danh được truyền tụng, lời lẽ mộc mạc, chi tiết khá cụ thể, lưu hành từ những năm 1930, 1931.
— Loạt bài do ký giả Lê Trung Nghĩa (tự Việt Nam) đăng trên báo La
Tribune Indochinoise do Bùi Quang Chiêu làm chủ nhiệm. Bấy giờ, Bùi
Quang Chiêu là chiến sĩ quốc gia tiến bộ. Ký giả Lê Trung Nghĩa là
người gốc ở Phong Thạnh, chuyển xảy ra tại quê quán nên ông hiểu rõ và
đến địa phương nhiều lần, giúp gia đình nạn nhân bằng mọi cách, khác
hơn trường hợp một vài ký giả khác chỉ tường thuật đại khái để bán báo.
Báo La Tribune Indochinoise từ ngày 17/8/1928 đến 24/8/1928 đặc biệt
dành cho vụ án này với những bài chiếm trọn cả trang nhứt; những số
trước đó cũng đã nhắc nhở từng chập.
Bài vè Nọc Nạn chúng tôi không sưu tầm được phần sau, nên ghi phần đầu mà thôi :
Trời Nam thiên hạ thái bình,
Kẻ lo nông nghiệp người gìn bán buôn.
Ngàn năm gió thuận mưa tuôn,
Lúa thì một giạ, giá thì đồng hai.
Nhân dân ai nấy mừng thay,
Rủ đi làm mướn giá rày đặng cao.
Dưới sông, ca—nốt, đò, tàu,
Lộ thì xe chạy, trước thì khách thương...
... Lục tỉnh có hạt Ba Xuyên,
Bạc Liêu chữ đặt, bình yên dân rày.
Mậu Thìn vốn thiệt năm nay,
Một ngàn hai tám, tiếng rày nói vang.
Phong Thạnh vốn thiệt tên làng,
Giá Rai là quận, chợ làng kêu chung.
Anh em Mười Chức công khùng,
Bị tranh điền thổ, rùng rùng thác oan.
Hăm lăm tháng chạp rõ ràng,
Lúc bảy giờ sáng xe quan đến liền.
Chợ đông đương nhóm tự nhiên,
Thấy cò lính lại, người liền đến coi.
Thuốc đạn, súng ống hẳn hoi,
Hai cò bảo lính : “Đòi làng đến đây.
Có trát biện lý bằng nay,
Sai ta xuống rày, đong lúa đương tranh !
Thị Trân là vợ huyện Lành,
Lãnh án đành rành mướn bọn ta đi.
Biện Toại nhà ở chốn ni ?
Làng phải dẫn lộ ta đi đến liền”.
Hai cò bước xuống đò nghiêng,
Bảo làng với lính đi liên một đò.
Phong Thạnh hương quản tên Cho,
Ngồi trước mũi đò, bàn luận gần xa :
“Xuống đây, ắt bọn nó ra,
Dữ lành chưa biết việc mà làm sao ?”
Nước ròng đò xuống đi mau,
Tám giờ đã tới lao xao lên liền.
Cò bảo lính đứng liên liên,
Còn làng phải đứng ra riêng một hàng.
Trong nhà Mười Chức luận bàn,
Than cùng từ mẫu hai hàng lâm ly :
“Dầu con thác xuống âm ti...
Về những bài báo do Lê Trung Nghĩa viết, chúng tôi sử dụng với sự dè
dặt. Bấy giờ có những sự thật mà ký giả biết rõ nhưng không thể viết ra
được, vì là cuộc vận động công khai trên báo chí để cứu nạn nhân.
Lời khai trước tòa án của những nhân chứng hoặc của người trong cuộc
phải được hiểu qua khía cạnh riêng : lắm khi, họ phủ nhận sự thật vì sự
thật ấy bất lợi cho họ trước tòa, hoặc họ biết nhưng lại khai rằng
không biết, chưa kể đến những người làm chứng bị mua chuộc bằng tiền
bạc.
Trước năm 1900, một nông phu đến khai phá rừng ở rạch Nọc Nạn trên diện
tích non 73 mẫu tây. Năm 1908, ông này chết để lại cho con là hương
chánh Luông. Đất thì rộng, sức người và vốn liếng có hạn, năm 1910, anh
em hương chánh Luông bắt đầu làm việc tích cực hơn. Đất khai phá phải
trải qua hai ba năm đầu không có huê lợi vì cây cỏ còn nhiều, nào gốc
cây, nào đất trủng quá thấp, nạn chuột bọ, heo rừng. Lúc bắt đầu khai
phá thì vùng này hoang vu, thưa thớt dân cư, chẳng thấy ai đến tranh
giành cả. Tỉnh Bạc Liêu hẻo lánh, việc đo đạc ruộng đất để lập bộ rất
chậm trễ so với các tỉnh miền trên.
Năm 1910, hương chánh Luông làm đơn xin khẩn chánh thức 20 mẫu và chịu
đóng thuế trên diện tích này. Đơn ấy được chấp thuận và được cấp biên
lai.
Năm 1912, họ làm ruộng thêm trên khoảnh đất ấy, canh tác trọn và xin
rước kinh lý (trường tiền) đến đo đạc theo luật định, để xin bằng khoán
chính thức. Viên trường tiền tên là Arboratie đến đo đạc, làm phúc
trình và chủ tỉnh Bạc Liêu trao cho ông hương chánh Luông bản đồ phần
đất nói trên.
Năm 1916, một người tên là Tăng Văn Đ. đứng ra tranh cản, viện lý do
phần đất mà hương chánh Luông và gia đình đang canh tác là công lao của
y một phần nào. Tăng Văn Đ. được chủ tỉnh đòi đến xử và thất kiện. Tuy
nhiên, viên chủ tỉnh lại cho Tăng Văn Đ. một sở đất nhỏ, cắt ra từ phần
đất của ông chánh Luông.
Phần đất của ông chánh Luông gồm 72,95 mẫu, bị cắt cho Đ. bốn mẫu rưỡi
tức là chỉ còn lại 68,45 mẫu mà thôi. Để giải quyết vụ này, viên chủ
tỉnh nói trên cấp cho hương chánh Luông một tờ bằng khoán tạm, số 303
đề ngày 7/8/1916.
Ông hương chánh Luông mất. Biện Toại là con trai lớn của gia đình và
các em đành nhường nhịn và chấp nhận, mặc dầu đất của tổ phụ để lại mất
hết 4 mẫu rưỡi. Nên nhớ rằng bằng khoán cấp cho Biện Toại là bằng khoán
tạm.
Tưởng rằng công việc canh tác được yên ổn, dè đâu năm 1917 xảy ra một
biến cố khác : sự can thiệp của một người Huê kiều giàu khét tiếng
trong tỉnh : ông bang Tắc, tên thật là Mã Ngân. Ông bang này muốn khẩn
đất bằng con đường quanh co nhưn hữu hiệu, ông ta rành luật lệ và biết
rõ những sơ hở.
Số là giáp ranh với phần đất của gia đình hương chánh Luông do Biện
Toại là con trai đứng thay mặt, có phần khác do Phan Văn Được làm chủ.
Sau khi chết, đất của Phan Văn Được để lại cho vợ hưởng, người vợ này
tên Nguyễn Thị Dương. Ông bang Tắc (Mã Ngân) chú ý nhiều vào phần đất
của Nguyễn Thị Dương, đến gặp bà này mà trả giá và tìm đến hương chức
làng Phong Thạnh để xem xét lại kỹ.
Hương chức làng Phong Thạnh tiết lộ rằng phần đất của anh em Biện Toại,
giáp ranh với phần đất của Nguyễn Thị Dương đã khai thác xong nhưng
chưa có bằng khoán chính thức.
Là người rành luật lệ, ông bang làm giấy tờ mua đất, cho thêm bà Dương
chút ít tiền để trong tờ bán đất ghi rằng “bán phần đất với ranh giới
bao trùm luôn khoảnh đất mà anh em Biện Toại đang khai thác”.
Lập tức, ông bang Tắc tìm cách hăm he, cho anh em Biện Toại biết rằng
đất mà họ đang canh tác là của ông ta, vì ông ta đã mua lại của bà
Nguyễn Thị Dương rồi. Lẽ dĩ nhiên, anh em Biện Toại phản ứng ngay, tìm
cách kêu nài lên quan trên rằng bà Nguyễn Thị Dương đã bán phần đất mà
họ đã có bằng khoán tạm cho bang Tắc, và bang Tắc đã lấn đất.
Đơn đã gởi bốn lần đến chủ tỉnh Bạc Liêu và bốn lần lên Thống đốc Nam
kỳ, luôn cả quan Toàn quyền Đông Dương để kêu nài. Nhưng việc khác lại
xảy ra.
Năm 1919, bang Tắc lại xúi dục tá điền của ông ta xông qua phần đất của
anh em Biện Toại, đốt một căn chòi ruộng và giết một con trâu để dằn
mặt. Nhưng anh em Biện Toại vẫn không nao núng, tin nơi công lý. Bấy
giờ, chủ quận ở Giá Rai là ông phủ H. Theo lời tự thuật của quan phủ
này thì khi đến trấn nhậm tại Giá Rai, hay tin có cuộc tranh chấp giữa
ông bang Tắc và anh em Biện Toại, ông ta đã đòi ông bang Tắc tới để
phân xử, đề nghị với ông Bang là nên nhân nhượng chia đất ra hai phần
đồng đều, ông bang phân nửa, anh em Biện Toại phân nửa (như vậy là
trong thực tế, ông bang đã lấn thêm một phần đất đôi chục mẫu). Quan
phủ H. cũng phân trần rằng chính ông đã nhờ hương cả trong làng để đưa
đề nghị ấy với anh em Biện Toại, nhưng anh em ông này không chấp nhận
sự chia hai đồng đều ấy.
Trong vụ án Nọn Nạn, dư luận đã đổ lỗi cho quan phủ H. Phải chăng quan
phủ này nhận số tiền của ông bang nên đưa đề nghị này ? Nếu là người vô
tư, tại sao ông không mời anh em Biện Toại đến dinh quận để phân giải
mà chỉ mời có một mình ông bang ? Quan phủ thanh minh với dư luận như
vậy thì ta tạm tin như vậy.
Cũng năm ấy (1919), quan phủ H. được làm chủ Tịch Hội đồng phái viên để
xác nhận sở hữu chủ của từng sở đất ở làng Phong Thạnh với diện tích
chính xác, ranh giới, để chánh thức cấp bằng khoán.
Mặc dầu anh em Biện Toại khiếu nại nhưng với thế lực của ông bang, với
sự hậu thuẫn của một số người, phần đất của anh em Biện toại lại bị
chính thức xem như là đất của ông bang Tắc. Về sau, ra trước tòa đại
hình, Biện Toại vẫn cả quyết đây là vụ ăn hối lộ, luôn cả viên họa đồ
là Roussotte cũng ăn vì thoạt tiên, khi đo đạc tên Pháp này cho rằng
đất ấy là của Biện Toại, nhưng khi đã nhận tiền của bang Tắc, hắn nói
ngược lại đó là của bang Tắc.
Mặc dầu vậy, anh em Biện Toại vẫn cương quyết chống đối. Đất đã mất rồi, họ ở đó mà chờ... đèn công lý của thực dân Pháp !
Bang Tắc cứ tiếp tục lo hợp thức hóa phần đất chiếm cứ mà Hội đồng phái
viên (có ông phủ H. làm chủ tịch) xác nhận là của chính bà Nguyễn Thị
Dương ưu tiên khai khẩn rồi bán lại cho ông ta. Ngày 13/4/1926, Thống
đốc Nam kỳ ký nghị định bán thuận mãi sở đất 50 mẫu với giá 5000 đồng
cho Mã Ngân (tên thật của bang Tắc).
Bang Tắc cứ hăm dọa, buộc anh em Biện Toại đong lúa ruộng vì với nghị
định trên và với tờ bằng khoán chính thức, anh em Biện Toại đã trở
thành tá điền trên phần đất của họ.
Anh em Biện Toại chống đối ra mặt. Bang Tắc không dám làm to chuyện vì
ông ta đã từng dính líu vào vài chuyện rắc rối về pháp lý, nếu sanh sự
thêm thì nhà nước thực dân lúc bấy giờ có thể dùng luật lệ mà trục xuất
ông ta về Tàu, cộng với mấy tọi trạng trước. Ông ta nghĩ ra một biện
pháp rất có lợi và rất ôn hòa để thắng đối phương. Ông ta bán sở đất
trên cho một bà rất có uy thế : bà Hà Thị Tr., mẹ vợ của người anh ông
phủ H. (vì vậy mà sau này, dư luận cho rằng vụ giựt đất là do phủ H.
tiếp tay với bang Tắc một cách đắc lực). bà này mua xong, bèn đòi thâu
địa tô trên phần đất mà anh em Biện Toàn đang canh tác.
Ngày 6/12/1927, bà Tr. xin được một án lịnh của tòa cho phép tịch thâu
tại chỗ tất cả lúa mà anh em Biện Toại gặt được. Anh em Biện Toại nghe
tin ấy, bắt đầu lo sợ.
Ngày 13/2/1928, lính mã tà tới gặp anh em Biện Toại để thi hành lịnh thâu lúa, anh em Biện Toại kháng cự.
Ngày 14, tức là ngày hôm sau, lính mã tà lại vô lần thứ nhì. Anh em Biện Toại cũng chống cự, lính mã tà lại rút lui.
Ngay trong đêm ấy, anh em Biện Toại đoán chắng rằng ngày mai, lính mã
tà sẽ đến với lực lượng đông đảo và thái độ cứng rắn hơn vì là lần thứ
ba, sau hai lần cảnh cáo.
Anh em trong gia đình tụ họp lại, làm lễ lạy ông bà. Mẹ là bà hương
chánh Luông cũng được mời ngồi để các con lạy, gọi là báo hiếu lần
chót. Anh em bèn trích huyết vào cái tô, thề ăn thua, không sợ chết. Để
thi hành kế hoạch, anh em bày ra chuyện bắt thăm để nhờ vong linh ông
bà chỉ định ai là người đứng ra hy sinh đầu tiên. Lần thứ nhứt, đứa em
gái tên Trọng lại rút nhằm thăm. Anh em không muốn thấy đứa em gái lại
đảm nhận sự hy sinh quá lớn lao nên đồng ý là cho bắt thăm lần thứ nhì.
Và lần thứ nhì này, cũng cô Trọng được lá thăm ấy. Cô Trọng bình tĩnh đứng dậy, bảo các anh :
— Ông bà đã dạy, em xin liều chết !
Nên nhớ một chi tiết : Trước đó, khi được án tòa và thấy thái độ quá
cứng rắn của anh em Biện Toại, hương chức làng tự ý bắt giam 24 giờ bà
hương chánh Luông để hăm dọa. Biện Toại vì thương mẹ nên hứa sự không
chống cự. Nhờ đó, bà hương chánh được về nhà để các con lạy lần chót.
Lúc đến công sở, thái độ của Biện Toại rất buồn rầu.
Lại còn một chi tiết khác : thày hương thân trong làng đã mướn người
gặt lúa của anh em Biện Toại, vì lịnh tịch thâu đưa tới nhằm lúc lúa
chín. Mười Chức, em Biện Toại đã xin phép vị hương thân để được tự mình
gặt lúa nhưng vị hương thân từ chối, hồ nghi rằng nhân cơ hội ấy Mười
Chức có thể giấu bớt lúa. Khi ra tòa, viên Chưởng lý thắc mắc : tại sao
số lúa mà hương chức làng mướn gặt chỉ có 2.080 giạ thay vì 3.500 giạ
như phỏng định ? Phải chăng hương chức làng đã lén ăn cắp bớt số lúa
này để xài riêng ? Và nếu lúa gặt được nhiều, sau khi đong lúa ruộng
theo án lịnh tòa mà còn dư lại đủ ăn trong mấy tháng đầu năm thì anh em
Biện Toại chưa ắt tuyệt vọng đến mức, để rồi thảm trạng lại xảy ra !
Biện Toại sống với mẹ và các em trong đại gia đình, số lúa thu hoạch
chia ra vẫn là ít. ở xứ Bạc Liêu, mỗi năm gia đình nào cũng phải dư
nhiều lúa để bán mà sắm quần áo, thuốc men, chớ không như ở Tiền giang
chỉ cần đủ lúa ăn, còn bao nhiêu món khác trong gia đình đều mua sắm
nhờ hoa màu phụ như vườn dừa, chuối, hoặc chăn nuôi.
Thảm trạng xảy ra vào sáng ngày 16/2/1928. Tìm lại sự thật, nhứt là các
chi tiết thì hơi khó khăn. Lính mã tà thì cương quyết đổ tội cho đám
anh em Biện Toại (trong giấy thuế thân, ghi sai là Tại). Những nạn nhân
trong cuộc thì muốn chứng minh rằng họ chỉ tự vệ. Một số người trong
cuộc đã chết, nếu còn sống thì họ sẽ đưa ra nhiều bằng chứng khác.
Đại khái, những nét lớn như sau :
Khoảng 7 giờ sáng, hai tên cò Tây là Tournier và Bouzou cùng bốn người
lính mã tà từ Bạc Liêu đến Phong Thạnh để tiếp tay với hương chức làng
mà thi hành lịnh án của tòa, đong số lúa hiện ở trên phần đất của anh
em Biện Toại. Hai viên cò này tưởng là chuyện thông thường, họ không
được cho biết là sẽ gặp khó khăn. Tên cò Tournier vừa mua được cây súng
săn nên đem theo, dọc đường anh ta còn lạc quan, bắn thử một phát chết
một con cò. Cùng đi với họ đến đống lúa có hương thân, hương hào và
hương quản làng sở tại;
Anh em của Biện Toại cất nhà rải rác hơi xa nhau, sát bờ rạch. Đống lúa thì ở ngoài ruộng, cách nhà họ chừng 500 thước.
Dọc đường, khi đi ngang qua nhà Biện Toại, hương hào kêu réo để mời
chứng kiến việc đong lúa nhưng không ai trả lời. Nhà cứ đóng cửa. Lập
tức, hương hào bèn đến nhà Biện Toại và đến nhà bà mẹ là bà hương
chánh. Chẳng ai chịu đến cả.
Đến gần đống lúa, tên cò Tournier yêu cầu hương chức làng phải mời một
người trong gia đình, thí dụ như một người em của Biện Toại đến chứng
kiến việc đong lúa.
Mười lăm phút sau, một cô gái đi ra, hướng về đống lúa : cô Nguyễn Thị
Trọng, em của Biện Toại. Theo sau là đứa cháu gái của Trọng, đứa bé này
tên là Tư, 14 tuổi.
Thoạt tiên, tên cò Tournier đuổi cô Trọng, bảo rằng con gái còn nhỏ làm
sao hiểu đầu đuôi cuộc tranh chấp đất ruộng này được ! Viên cò nói là
đến đây để trợ giúp hương chức làng đong số lúa theo lịnh tòa.
Cô Trọng phản đối bằng lời lẽ khẳng khái, trong đó có câu “Chết sống ở
đây”. Viên đội mã tà thông dịch lại. Tên cò Tounier ra lịnh đuổi lần
thứ nhứt. Cô Trọng cứ đứng đó, yêu cầu khi đong lúa xong thì hương chức
phải giao cho cô một giấy biên nhận ghi rõ bao nhiêu giạ.
Tournier trả lời rằng không có chuyện trao biên nhận. Rồi thì Tournier tát tai cô Trọng.
Cô Trọng rút trong áo ra một cây dao nhỏ, loại dao có miếng sặt chận ở
trước cán. Cò Tournier đập một báng súng khiến cô té xỉu. Cò Bouzou bèn
tiếp tay, giựt cây dao của cô bà Bouzou lại vụng về khiến lưỡi dao đâm
tay ông ta một vết xoàng không đáng kể. Rồi thì lính mã tà trói cô
Trọng để đó.
Đứa cháu nãy giờ đứng ở ngoài xa, khi thấy cô Trọng ngã gục và bị trói, bèn chạy về nhà, báo động.
Từ trong xóm nhà, anh em Biện Toại chạy ra, mang theo nào là dao mác,
gậy gộc. Họ chia ra hai tốp. Tốp thứ nhứt do Mười Chức, em ruột Biện
Toại cầm đầu; tốp thứ nhì do thị Nghĩa, vợ Mười Chức cầm đầu.
Tên cò Tournier ra lịnh cho bọn lính chuẩn bị ứng phó. Tournier bảo một tên lính ra lịnh cho Mười Chức đừng dùng vũ khí.
Mười Chức chạy đến quá gần, cò Tournier bèn bắn chỉ thiên một phát.
Nhưng Mười Chức cứ tiến tới và tên cò lại nhắm ngay Mười Chức mà bắn.
Tuy bị thương rất nặng, Mười Chức vẫn cầm mắc gượng nhào tới, đâm trúng bụng tên Tournier, rồi cả hai đều ngã xuống.
Anh em của Mười Chức tấn công bọn lính mã tà và tên cò Bouzou. Cò
Bouzou rút súng lục, bắn làm bị thương nặng bốn người. Cò Tournier tuy
bị thương nặng nhưng cũng bò lết lại gần cò Bouzou. Vì bắn không còn
một viên đạn, Bouzou bèn giựt khẩu súng lục của Tournier mà bắn tiếp.
Một số người bị thương, bị chết. Miều là em rể của Biện Toại giựt được
khẩu súng mút—cơ—tông của Bouzou. Với khẩu súng ấy, Miều chạy ra xa bắn
về phía bọn lính mã tà nhưng không gây thương tích cho ai. Lính mã tà
cũng rút lui một lượt.
Nhân viên công lực đến điều tra, được biết trong số người “làm loạn” có
5 người đàn ông, 2 người đàn bà và 3 người đàn bà khác không biết tên.
Ngay buổi sáng hôm ấy, Mười Chức và vợ (tên Nghĩa) đều chết, luôn cả người anh tên Nhẫn cũng chết.
Nhịn (trong giấy thuế ghi sai là Nhịnh, anh của Mười Chức), Liễu (em
gái của Mười Chức) đều bị thương nặng, được đưa tới nhà thương. Liễu
còn sống. Ba ngày sau, Nhịn chết. Tóm lại, về phía gia đình Biện Toại
thì có 4 người chết (ba đứa em ruột và một người em dâu là vợ Mười
Chức). Nên chú ý là vợ Mười Chức đang mang thai. Bài vè Nọn Nạn ở đoạn
chót kể lại với giọng trầm hùng là “Năm người đổi một thằng Tây” tức là
kể luôn đứa hài nhi còn trong bụng mẹ.
Về phía đối phương, chỉ có tên cò Tournier chết ngày 17, khi nằm ở nhà thương Bạc Liêu.
Bọn hương chức hội tề đã nhanh chân bôn tẩu từ khi thấy tình hình quá căng thẳng.
Cô Trọng bị bắt. Biện Toại với con trai là Tía thì ra chợ Bạc Liêu với
khẩu súng mà Miều đã giựt được. Ông Biện nộp súng và thưa với nhà nước
về chuyện các em bị cò Tây giết. Ông Biện và đứa con bị bắt luôn. Miều
thì hôm sau bị bắt. Còn một người duy nhất trốn thoát là Dậu.
Hoàn cảnh của bà hương chánh Luông thật đáng thương hại : các con của bà đều bị chết, không chết thì bị bắt. Bà ở nhà một mình.
Báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ đua nhau khai thác vụ Nọc Nạn. Ký giả xuống
tận nơi điều tra. Dư luận từ mọi giới, luôn cả giới thực dân đều thuận
lợi cho gia đình Biện Toại. Họ bị áp bức quá lộ liễu, họ là tiểu điền
chủ siêng năng nhưng bọn cường nào cấu kết với quan lại tham nhũng đã
đưa họ vào đường cùng. Hơn nữa, bấy giờ phong trào quốc gia đang sôi
nổi, xu hướng chống thực dân lan tràn, đám táng cụ Phan Chu Trinh vừa
xảy ra vào hai năm trước (1926). Đảng Lập Hiến ra đời, thủ lãnh là ông
Bùi Quang Chiêu còn đang hăng hái. Tuy là theo chủ trương Pháp, Việt đề
huề, ông cũng cố gắng làm một chuyện xây dựng mặc dầu ông phủ H. nối
giao cho bang Tắc, là người của đảng ông. Ngoài ra, còn sự giúp đỡ tận
tình của ký giả Lê Trung Nghĩa là cây bút phóng sự của tờ La Tribune
Indochinoise do chính Bùi Quang Chiêu chủ trương.
Trong giới trí thức Pháp, nhiều người tiến bộ đã bực mình vì biến cố
Nọc Nạn. Ký giả Lê Trung Nghĩa nhờ hai luật sư rất tận tâm là Tricon và
Zévaco biện hộ cho gia đình nạn nhân, cãi không ăn tiền. Người có chút
lý trí phải nhận rằng anh em Biện Toại chẳng mảy may gì thù oán cá nhân
tên cò Tournier cả.
Tòa Đại hình Cần Thơ xửa vụ án này vào ngày 17/8/1928. Ông Rozario ngồi
chánh án, công tố viên là Moreau. Ông Moreau này khá tốt và công bình.
Ngoài ra còn một ông hội thẩm là ông Sự, rất tốt.
Người Pháp đứng trước tình thế gay go. Mặc nhiên, họ đem ra xử những
hậu quả của luật lệ bất công do chính họ ban hành, tức là họ xử cái chế
độ của họ. Tha bổng tất cả nạn nhân thì không được, nhưng lên án thì
lên án làm sao ? Chuyện này cả nước đều hay biết.
Trừ báo La Dépêche lIndochine ra thì tất cả báo chí Sài Gòn đều có mặt,
theo dõi phiên tòa : báo LíEcho Annamite, Đông Pháp thời báo,
LíImpartial, LíOpinion, Le Courrier Saigonnais, Le Phare, La Tribune
Indochinoise.
Tòa tuyên án như sau : Biện Toại, Nguyễn Thị Liễu (em út của Toại) và
Tia (con trai của Toại) được tha bổng. Cô Nguyễn Thị Trọng, 6 tháng tù
(nhưng đã bị giam sáu tháng rồi). Miều, chồng của Liễu (em rể của Biện
Toại) : 2 năm tù vì có tiền án ăn trộm.
Đây là bản án rất nhẹ, so với những bản án khác thời thực dân. Qua lời
khai của can phạm và những người làm chứng, chúng ta biết thêm những
chi tiết quan trọng sau đây :
— Từ năm 1910, Biện Toại đã vào đơn xin trưng khẩn phần đất mà về sau
xảy ra tranh chấp. Bấy giờ, chủ tỉnh có cấp cho biên lai. Nhưng biên
lai ấy bị ăn cướp đánh lấy mất, Toại làm đơn xin bổn nhì. Điều rất lạ
là bộ sổ ghi đơn xin khẩn đất ở Bạc Liêu vào năm ấy lại bị mất. Ai làm
mất ? Phải chăng là sự cố ý đánh cắp, thủ tiêu hồ sơ trong văn khố cũ,
để cường hào tha hồ tung hoành ! Viên chức ở tòa bố Bạc Liêu lúc vụ án
xảy ra là ông phủ Tâm. Nưhng ông này xác nhận rằng tài liệu cũ bị đánh
cắp từ lâu rồi, trước khi ông nhận chức.
— Ông hội thẩm Sự đã nhấn mạnh cho tòa nhớ rằng tiếng Việt khó dịch,
thí dụ như mấy tiếng “Chết sống ở đây” mà cô Trọng trả lời với tên cò
Tournier. Nếu viên đội thông dịch sai thì viên cò có thể nổi giận.
“Chết sống ở đây” có hai nghĩa. Một là “Dầu chết hay sống, tôi vẫn đứng
tại đây, đuổi tôi, tôi không đi đâu hết”. Hai là “Mạng đổi mạng tại
đây”.
— Hương thân Hồ Văn Hi xác nhận rằng tên cò Tournier bắn trước, sau đó
Mười Chức mới đâm tên cò. Chi tiết này xác nhận lời đồng bào địa phương
đồn đãi cho rằng Mười Chức là người đầy đủ tiết tháo và chí khí anh
hùng : Bị đạn rồi, nhưng còn đủ thần lực và bình tĩnh để ngã về phía
trước mà đâm kẻ thù cho bằng được, đâm rất trúng, rồi mới chịu chết vì
bị thương quá nặng !
— Công tố viên Moreau lưu ý với tòa : Có thể là viên thơ ký lãnh trách
nhiệm ghi nhận đơn xin khẩn đất hồi năm 1910 đã trao cho Biện Toại một
biên lai nhưng không có đánh số, với dụng ý dành phần đất ấy cho người
khác.
— Lâm Văn Kiết từng có chân trong Hội đồng phái viên đã xác nhận với
Hội đồng : Phần đất tranh chấp là của Biện Toại khai khẩn trước tiên.
Công tố viên bèn nói tiếp : Lâm Văn Kiết chỉ là hương chức làng, làm
sao dám cãi lại ông phủ (ám chỉ ông phủ H., người theo phe của bang
Tắc).
— Tri phủ Ngô Văn H. khai rằng mặc dầu thấy có tranh chấp về đất đai,
nhưng hồi năm ấy với danh nghĩa là chủ tịch Hội đồng phái viên, ông ta
đành buông trôi vì đo lại ranh rấp đất đai là vấn đề phiền phức. Viên
họa đồ đã tốn công đo đất ở làng Phong Thạnh suốt 3 năm rồi. Công tố
viên bèn quở trách cho rằng vì công lý không thể viện lý do là mất thời
giờ, nếu thấy bất công là phải đo đạc, xem xét ranh đất trở lại. Công
tố viên nói thẳng : lề lối của phủ H. trong lúc làm chủ tịch Hội đồng
phái viên thật là bừa bãi, vì phủ H. bừa bãi nên xảy ra vụ án bi thảm
này.
Bị luật sư chất vấn, phủ H. đành thú nhận rằng chính anh của ông ta chớ
không phải ông ta là người đang hùn vốn với bang Tắc để khai thác hai
chiếc tàu đò đang chạy trên đường Bạc Liêu, Cà Mau mang tên là tàu Hồ
Nam và Hồ Bắc.
— Khi bang Tắc (Mã Ngân) ra làm chứng, ông ta bảo rằng khong hối hận gì
cả. Viên hội thẩm hỏi Mã Ngân : “Dân chúng cho rằng đáng lý ra ông phải
chết thay cho viên cò Tournier”. Mã Ngân nín, không trả lời.
— Qua lời khai của bà Hồ Thị Tr., công chúng thấy có sự sắp sặt của
bang Tắc để bán lại cho bà ta phần đất tranh chấp, vì ba ta đủ sức ăn
thua công khai hơn. Mã Ngân muốn phủi tay.
Trước khi buộc tội, Công tố viên Moreau yêu cầu Tòa nên thận trọng
trước khi phán quyết. Công tố viên nhắc lại rằng vụ này xảy ra sau vụ
án Ninh Thạnh Lợi hồi năm ngoái. Vụ này chứng tỏ dân chúng đang sống
trong tình trạng căng thẳng và vấn đề đất đai là chuyện nghiêm trọng.
Người ta có thể xúc phạm bất cứ chuyện gì, nhưng nên tránh xúc phạm tới
điền thổ. Mã Ngân chỉ là người mua đất để cho tá điền mướn lại, trong
khi Biện Toại là người đích thân canh tác. Công tố viên trách cứ bà Hồ
Thị Tr. là giàu có (tài sản ước từ 2 đến 300.000 đồng lúc bấy giờ) mà
quá nhẫn tâm đòi tịch thu tất cả lúa gặt hái được của Biện Toại lại còn
đòi thêm một số tiền khác. Công tố viên bảo rằng hoàn cảnh của Biện
Toại thật là khốn nạn : Những người không tình cảm đến giựt đất, rồi
bọn quyền thế lại tiếp tay với bọn người sang đoạt. Công tố viên Moreau
yêu cầu Tòa :
— Tha bổng Biện Toại và con là Tia.
— Cho cô Trọng được hưởng trường hợp giảm khinh (ra trước Tòa cô Trọng cứ chối là không có cầm dao, mặc dầu đủ bằng cớ).
— Cho Miều (em rể của Biện Toại) được hưởng trường hợp giảm khinh, mặc dầu Miều đã ba lần bị can án ăn trộm.
— Tha bổng cô Liễu (em Biện Toại, vợ của Miều) vì thiếu bằng cớ.
Luật sư Tricon đứng lên biện hộ, đại ý nhận định đây chỉ là vấn đề điền
địa. Ông cho rằng chánh sách trưng khẩn ruộng đất hồi thời nhà Nguyễn
thật là công bằng và thích hợp với thực tế, trong khi những luật lệ về
trưng khẩn đất đai do người Pháp đặt ra chưa được hoàn hảo có thể gây
nhiều rắc rối lúc áp dụng vào thực tế. Thời gian quá kéo dài, từ khi
đương sự được tạm cấp đất đến khi được cấp vĩnh viễn; vì vậy mà xảy ra
cưỡng đoạt, gian giảo. Những người trong Hội đồng phái viên chỉ ngồi
tại chỗ, không chịu bước chân xuốn bùn mà tới sở đất để xem xét. Họ
quyết định theo ý kiến cho những người lương thiện hoặc kém lương thiện
báo cáo lại.
Luật sư Tricon kết luận đại để :
— Biện Toại đã tranh đấu với rừng rậm để khai phá và tranh đấu với tử
thần. Sau một ngày làm lụng khổ nhọc, anh em trở về chòi, sau khi ăn
cơm, họ cho rằng chết có lẽ sướng thân hơn là sống trong hoàn cảnh nhọc
nhằn. Sau khi tranh đấu với tử thần (có lẽ luật sư muốn nói tới bịnh
rét rừng), anh em trong gia đình lại còn phải tranh đấu với những người
khác, tức là bọn người chỉ biết có đồng tiền, làm giàu bằng thủ đoạn
sang đoạt. Sau khi tranh đấu với bọn người nói trên, họ còn phải tranh
đấu với thủ tục pháp lý. Chúng ta, những người Pháp, nên xây dựng ở xứ
này một chế độ độc tài. Không phải độc tài bằng sức mạnh của súng đạn,
nhưng là sự độc tài của tình cảm cao đẹp.
Luật sư Zévaco đứng lên biện hộ, ca ngợi lời buộc tội của Công tố viên,
vì Công tố viên đã lưu ý đến sự thật, đến công lý và cả lòng nhân đạo.
Luật sư phân chia ra hai vụ án, vụ tranh chấp điền thổ và vụ án giết
người.
Luật sư cho rằng chánh sách của nhà nước thì tốt, nhưng nhiều người
thừa hành xấu đã làm cho chánh sách trở nên xấu đối với dân chúng. Việc
cai trị trở thành xấu nếu các quan phủ (chủ quận) là người ác độc. Sau
khi xảy ra thảm trạng, có lẽ nhà nước nên nói thẳng với Mã Ngân :
“Chúng tôi trả lại cho ông số tiền 1.080 đồng mà ông đã xuất ra theo
giá của nhà nước để mua phần đất của Biện Toại. Và xin ông để nhà nước
được yên”. Luật sư nhắc lại ý kiến của Công tố viên là muốn cho bộ máy
cai trị có lề lối đứng đắn thì phải sa thải những kẻ bất lương. Luật sư
nói thêm rằng : Đuổi những tên bất lương ở cấp dưới cũng chưa đủ, phải
đuổi những người ở cấp cao hơn mà bấy lâu nhà nước đã tin cậy. Nên sa
thải vài ông phủ, ông huyện bất hảo. Chúng ta đã thấy rõ hành động của
cặp bài trùng : Mã Ngân cấu kết với một ông phủ chủ quận. Tên chánh
phạm của tấn kịch đẫm máu này chính là phủ H.
Trạng sư Zévaco cũng xin tòa tha thứ cho các bị can và lên tiếng : Xin
qů ngài đừng đưa ra một bản án nghiêm khắc, một bản án được luận ra vì
phẫn nộ. Bởi vì những người nông phu khốn nạn này mai đây cũng sẽ bị
trừng phạt khá đầy đủ rồi, khi họ trở về tới nhà. Thừa phát lại sẽ tới
để tịch thâu số lúa của họ, và lần này, quý tòa có thể tin rằng không
bao giờ xảy ra vụ nổi loạn nữa đâu. Thưa qů tòa, lần này sẽ có một bà
lão khóc về cái chết của bốn đứa con. Bốn người này đã chết, vì họ
tưởng rằng có thể tự lực gìn giữ phần đất ruộng mà họ đã từng rưới mồ
hôi và máu của họ trên đó.
Một số người Pháp ở Cần Thơ và ở vài tỉnh lân cận đã đến xem phiên tòa
gay cấn này, họ tỏ ra hài lòng với bản án. Vài người ở Phong Thạnh xin
gặp những người bị tội và xin phép cho tội nhân ăn bữa cơm với thức ăn
đem sẵn.
Một tiệc bày ra tại Cần Thơ để thết đãi hai vị luật sư và ký giả của
các báo Pháp và Việt, do một số đồng bào ở Phong Thạnh và một số nhân
sĩ như các ông Huỳnh Minh Chí, Nguyễn Duy Biện, Nguyễn Viết Trọng ở Giá
Rài, ông Bùi Văn Túc ở Long Điền. Nên hiểu đây là thói trung hậu và hào
hoa cố hữu của dân Bạc Liêu xưa nay. Một đại diện đứng lên cám ơn hai
luật sư và bà hương chánh Luông cũng đến cám ơn họ. |