Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam_P3 PDF Print E-mail
Written by lichsuvn.info   
Tuesday, 17 February 2009

Chương III

Truyền thống và hiện đại 

I
TRUYỀN THỐNG QUÂN SỰ VIỆT NAM



LẤY NHỎ THẮNG LỚN, LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU, LẤY YẾU CHỐNG MẠNH.


Trên mấy nghìn năm lịch sử, từ khi vua Hùng dựng nước Văn Lang đến nay, dân tộc ta đã bao lần chiến đấu chống ngoại xâm phong kiến phương Bắc và đế quốc Âu, Mỹ thường mạnh hơn ta về tiềm lực chiến tranh.

Biết bao chiến tích oai hùng trước những kẻ thù mạnh nhất thời đại, như các đế chế phong kiến Trung Quốc đời Tần, Đường, Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, thực dân Pháp, và đế quốc Mỹ, còn vang dậy trong lòng nhân dân Việt Nam và được nhiều người trên thế giới biết đến và đánh giá cao.

Nước ta ở vào một vị trí địa lý đặc biệt, nơi tiếp xúc giữa đất liền và hải đảo, nằm ở góc cực Đông Nam của đại lục châu Á, nhìn ra Thái Bình Dương, ở trên con đường giao thông thủy bộ thuận lợi từ Nam lên Bắc, từ Đông sang Tây... Mặt khác nước ta vốn từ xưa đã nổi tiếng là nơi có “rừng vàng biển bạc”. Với vị trí trọng yếu và những nguồn tài nguyên phong phú, nước ta đã trở thành nơi gặp gỡ nhiều nhóm dân cư trên đường thiên di, nơi giao lưu nhiều luồng văn hóa phương Đông và cũng là địa bàn chiến lược, mà nhiều thế lực xâm lược thèm khát, nhòm ngó. Bởi vậy, ngay từ buổi đầu dựng nước, nhiệm vụ chống ngoại xâm đã trở nên cấp thiết trong sự nghiệp giữ nước. Quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước đã ăn sâu trong đầu óc người dân Việt Nam. Bác Hồ yêu quý của chúng ta đã căn dặn quân đội ta ngay từ khi giải phóng hoàn toàn miền Bắc năm 1954: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau ra sức giữ nước”.

Kẻ thù muốn đánh chiếm nước ta không chỉ để bóc lột nhân dân, vơ vét của cải, khai thác nguồn tài nguyên phong phú, mà còn muốn biến nước ta thành một đầu cầu chiến lược để bành trướng khắp vùng Đông Nam Á. Vì thế, trong tiến trình lịch sử, dân tộc ta phải luôn luôn trong tư thế sẵn sàng chống xâm lược và liên tiếp phải đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của những thể lực bành trướng cường bạo.

Trong lịch sử đấu tranh giữ nước nói chung, hầu hết các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta đều diễn ra trong hoàn cảnh so sánh lực lượng rất chênh lệch. Kẻ xâm lược là những quốc gia phong kiến lớn, là những đế quốc cường bạo vào bậc nhất thế giới.

Cuộc đụng đầu lịch sử đầu tiên giữa dân tộc ta với thế lực phong kiến bành trướng phương Bắc xảy ra vào thế kỷ thứ III trước công nguyên, cũng là một cuộc chiến tranh có quy mô lớn, nhưng lực lượng hai bên rất khác nhau. Bấy giờ, đế chế Tần đã lập ra một đế quốc phong kiến rộng lớn, còn nước Văn Lang mới có số dân khoảng 2 triệu, cư trú chủ yếu trên địa bàn rừng núi phía Bắc tổ quốc; Thế kỷ thứ X - XI, dân tộc ta hai lần kháng chiến chống xâm lược Tống. Lúc đó, nước Tống có khoảng trên 50 triệu dân, còn Đại Việt chỉ có chừng 4 triệu người.

Ở thế kỷ XIII, giặc Mông - Nguyên ba lần sang xâm lược Đại Việt. Ai cũng biết, đế chế Mông - Nguyên là một đế quốc khổng lồ, tàn bạo nhất thế giới đương thời, đang nuôi tham vọng làm bá chủ thế giới. Trước khi đánh vào Đại Việt, bè lũ Mông - Thát đã kiến lập được một đế quốc rộng lớn từ Bắc Á đến Đông Âu. Khi nhà Nguyên thành lập (1279), chúng đã thu phục cả lục địa Trung - Hoa và trở nên một đế quốc rộng lớn với số dân khoảng 60 triệu. Đến thế kỷ thứ XVIII, dân tộc ta có trên dưới 10 triệu người mà đã anh dũng chống lại và chiến thắng đế quốc Mãn Thanh to lớn, kẻ đã chinh phục thống trị cả một miền rộng lớn với trên 300 triệu dân. Trong thời kỳ cận đại và hiện đại, dân tộc ta đã phải chiến đấu chống đế quốc Pháp, Mỹ. Chúng đều là những đế quốc mạnh, không những đông quân hơn ta, mà còn hơn hẳn ta về trình độ phát triển kinh tế, kỹ thuật, trang bị và vũ khí.

Là những kẻ thống trị ôm mộng bá chủ thế giới, bọn đế quốc chủ tâm xây dựng những đạo quân lớn mạnh chuyên để đàn áp và xâm lược. Về quân số, kẻ thù bao giờ cũng có số lượng gấp ta nhiều lần.

Tóm lại, một quy luật phổ biến trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta là kẻ thù thường là những nước lớn, có quân đội đông, còn ta là một nước nhỏ, ít quân. Về số lượng quân đội của kẻ xâm lược bao giờ cũng gấp ta nhiều lần.

Thực tế trên chiến trường, quân địch đã tạo được một binh lực lớn hơn ta. Tạo nên được ưu thế lớn hơn đối phương về binh lực và hỏa lực là một nhân tố thắng lợi trên chiến trường. Song, trong chiến tranh, dân tộc ta không có điều kiện để thực hiện điểm này. Ta là một nước nhỏ, dân số ít, nên khả năng huy động quân đội ra chiến trường của ta có hạn. Trái lại, do tiềm lực của nước lớn, các đế chế Trung Quốc và Âu, Mỹ có khả năng huy động được những đạo quân xâm lược có ưu thế về số lượng, về trang bị, tiếp tế và có nguồn bổ sung to lớn.

Do đó, nhìn về binh lực trong các cuộc chiến tranh trước đây, ban đầu bao giờ quân xâm lược cũng có ưu thế hơn ta rất nhiều. Lý chống Tống (1077) ta có 10 vạn, địch có 30 vạn quân. Trần chống Mông - Nguyên lần thứ hai (năm 1285) và lần thứ ba (1288) ta có 20 vạn quân, địch có 50 vạn quân, thời kỳ Quang Trung chống quân xâm lược nhà Thanh: ta có 10 vạn, địch có 30 vạn quân. Trong chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ ta so với địch cả về số lượng và trang bị đều thua kém nhiều. Trong chiến tranh tháng 2-1979 chống xâm lược biên giới phía Bắc: ta 10 sư đoàn, đối phương 32 sư đoàn.

Như vậy, dân tộc ta không những phải chống ngoại xâm thường xuyên, mà còn phải chiến đấu trong hoàn cảnh rất gian khổ, ác liệt với so sánh lực lượng hết sức chênh lệch. Lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều là một quy luật xuyên suốt trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta. Phải thắng mọi thế lực xâm lược, bất kể đó là những thế lực to lớn và phản động như thế nào; phải bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc là một yêu cầu khách quan trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Nhìn lại lịch sử trong suốt hơn 2.000 năm (từ thế kỷ thứ III trước công nguyên đến nay), dù kẻ thù là đế quốc Tần hung ác, dù chúng là Tống, Nguyên, Minh, Thanh, hay Pháp, Mỹ to lớn, đông quân, lắm mưu mô xảo quyệt và tàn bạo, dù chúng là những đội quân đã lừng danh trên thế giới từ những cuộc chiến tranh nội bộ hay từ những cuộc chinh phục Đông - Tây, nhưng khi vào Việt Nam, cuối cùng chúng đều không thoát khỏi thất bại thảm hại. Tại sao vậy? Tại sao một nước nhỏ, dân ít mà lại chiến thắng những đế quốc to lớn gấp nhiều lần? Tại sao một đội quân không đông mà đánh tan những đạo quân viễn chinh khổng lồ, hiếu chiến và tàn bạo? Những kinh nghiệm truyền thống của dân tộc Việt Nam chống xâm lược đối với chúng ta thật có ý nghĩa.

LÒNG YÊU NƯỚC NỒNG NÀN.


Bác Hồ, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã từng nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

“Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, là quyết tâm sắt đá của dân tộc Việt Nam.

“Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”1.

Những lời nói đanh thép của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm rung động lòng người dân Việt Nam, như những lời nhắc nhủ, lời kể chuyện của ông bà, cha mẹ cho trẻ thơ Việt Nam. Đã là người Việt Nam, không ít thì nhiều, ai cũng nhớ trong tâm trí câu chuyện Phù Đổng Thiên Vương, hình ảnh chú bé làng Gióng “roi ngà, mảnh áo nhung, Thiên Vương 3 tuổi đã anh hùng”.

Ngay từ buổi đầu tiên kháng chiến chống xâm lược của nhà Tần, tinh thần thà hy sinh tất cả, chứ không đầu hàng giặc đã nổi bật trong nhân dân Âu Lạc. Sử ký Tư Mã Thiên chép: “Quân Tần đánh giữ lâu ngày, lương thực bị tuyệt và thiếu. Quân Tần đóng ở đất vô dụng, tiến không được, thoái cũng không xong”. Và Hoài Nam Tử thời Hán, trong Nhân gian huấn đã ghi: “Người Việt đều vào rừng ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người tuấn kiệt lên làm tướng, ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư. Quân Tần thân phơi máu chảy hàng mấy chục vạn người”.

Tinh thần bất khuất thà hy sinh tất cả, bỏ hết tài sản ruộng vườn, vào rừng sống với cầm thú để kháng chiến, nhất định không chịu sống nô lệ, đã ngày càng ăn sầu vào târn tư dân Việt trong quá trình mấy ngàn năm lịch sử chống ngoại xâm.

Biết bao lời kêu gọi của các lãnh tụ và hành động quyết hy sinh vì Tổ quốc đã được ghi trong sử sách và đã được thể hiện đậm nét qua cuộc kháng chiến trường kỳ giải phóng và bảo vệ Tổ quốc chống đế quốc Pháp - Mỹ vừa qua. Một câu nói tương truyền là lời Bà Triệu phát ra trên núi Nghĩa nghìn thu còn vang: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang san, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người ta”.

Bài thơ của Lý Thường Kiệt từ thể kỷ XI, đã nói lên quyền độc lập thiêng liêng của dân tộc Đại Việt.

“Nam quốc sơn hà nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,
Như hà nghịch lỗ, lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

Bài hịch kêu gọi tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn đã rung động lòng quân dân thời Trần:

“Từ xưa đến nay, trung thần nghĩa sĩ dâng mình cho nước, đời nào lại không có?... Ta thường đến bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ giận không được xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Tuy trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thân ta bọc trong da ngựa cũng nguyện xin làm... Làm sao bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở nơi cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai”.

Trong Đại Cáo Bình Ngô sau thắng lợi chống xâm lược nhà Minh năm 1427, có viết về tinh thần không đội trời chung với giặc thù như sau:

“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn dựng nền văn hiến đã lâu,
Cõi bờ sông núi đã riêng,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương.
Tuy mạnh, yếu có lúc khác nhau,
Mà hào kiệt không bao giờ thiếu.
Quân Minh cường bạo thừa dịp hại dân,
Đảng ngụy gian tà, manh tâm bán nước…
Tát cạn nước Đông Hải không rửa sạch tanh hôi,
Chặt hết trúc Nam Sơn khó ghi đày tội ác…
Nghĩ khó đội trời cùng quân địch,
Thề không chung sống với giặc thù”…

Trước khi xuất quân tiêu diệt quân Mãn Thanh xâm lược, Quang Trung đã kêu gọi tướng sĩ “Đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Các lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc từ xưa đến nay đều nói lên quyết tâm của nhân dân Việt Nam quyết giữ quyền độc lập của dân tộc và trong hành động thực tế của quá trình lịch sử, biết bao anh hùng đã hy sinh cho Tổ quốc.

Lời của Trần Bình Trọng “thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc” trong kháng chiến chống Mông -Nguyên năm 1285 còn hòa vang với lời hô cuối cùng của Nguyễn Văn Trỗi và biết bao người con anh hùng của dân tộc trên đoạn đầu đài, trước khi bị kẻ thù xử tử. Biết bao người Việt Nam sẵn sàng đem hết tài sản và cả tính mạng mình hiến dâng cho Tổ quốc. Không phải bất cứ đâu trên trái đất này, người dân đều sẵn sàng làm thanh dã, phá cửa nhà, phá bỏ các thành phố để đánh giặc. Nhưng nhân dân Việt Nam đã thực hiện tiêu thổ kháng chiến trong chống Pháp, phá các đô thị không cho địch lợi dụng, tản cư đi kháng chiến. Hàng triệu bà mẹ Việt Nam đã hiến dâng những đứa con thân yêu của mình cho Tổ quốc.

Truyền thống anh dũng bất khuất, yêu nước nồng nàn đã cứu dân Âu Lạc (Việt) khỏi bị Hán hóa đã hun đúc tinh thần quyết chiến quyết thắng, đánh Pháp, Nhật, Mỹ, quét sạch bóng quân xâm lược ra khỏi nước ta. Truyền thống đó là lời cảnh cáo với mọi kẻ thù muốn xâm lược, bắt dân Việt Nam lệ thuộc, dù chúng mạnh như thế nào đi chăng nữa. Những kẻ còn có ảo tưởng muốn xâm chiếm biên giới, hải đảo, lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam, muốn bắt chúng ta khuất phục trước sức của chúng.

Việt Nam trên bước đường tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn nhiều khó khăn, còn có nhược điểm, khuyết điểm, thậm chí có lúc có sai lầm nghiêm trọng, nhưng dân tộc Việt Nam đã có một lịch sử lâu dài chứng minh tinh thần bất khuất của mình. Những kẻ xâm lược mạnh nhất của thời đại, như Mông - Nguyên ở thế kỷ thứ XIII và đế quốc Mỹ trong thế kỷ thứ XX đã thất bại trước dân tộc Việt Nam, là bài học đáng nhớ cho những kẻ ôm mộng xâm lược.
____________________________________
1. Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb Sự Thật, t. 2, 1980, tr. 430. 

CẢ NƯỚC CHUNG SỨC ĐÁNH GIẶC
CHIẾN TRANH TOÀN DÂN.


Tổng kết thắng lợi của ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên, Trần Quốc Tuấn nêu lên một nguyên nhân chủ yếu là “bây giờ vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức chiến đấu, nên giặc phải bó tay”! sách An Nam chí lược cũng ghi rằng, đời nhà Trần “toàn dân đánh giặc”. Nhà sử học Phan Huy Chú cũng viết trong tác phẩm của mình “Đời nhà Trần nhân dân ai cũng là binh nên mới phá được giặc dữ làm cho thế nước được mạnh”. Đó là những biểu hiện cụ thể, là những tổng kết và kinh nghiệm lịch sử xuất phát từ những quan điểm chiến lược có ý nghĩa trong hệ thống tri thức quân sự, không chỉ thể hiện ở thời Trần mà cả trong tiến trình lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta.

Mỗi khi có xâm lăng, bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người dân sống trên lãnh thổ này. Ý thức độc lập tự chủ là tư tưởng, tình cảm của dân tộc. Ý thức đó, từ rất sớm đã trở thành mục đích đấu tranh chung của tất cả các tầng lớp, mọi dân tộc trong nước. “Tình làng nghĩa nước”, “nước mất thì nhà tan” là nếp sống, là những suy nghĩ chung. Cho nên, người dân ta từ ngàn xưa đã có ý thức rất sâu rộng, nếu để kẻ thù cướp nước dày xéo quê hương, thì mất cả gia đình, mất cả của cải, mất cả nền văn hóa dân tộc, mất cả lẽ sống và đạo lý làm người. Tất cả nhân dân đều nhận thức rằng: “Quốc gia hữu sự toàn dân hữu trách” (Quốc gia có ngoại xâm thì toàn dân đều phải có trách nhiệm). Đó là tình cảm lớn nhất thúc đẩy mỗi người dân yêu nước đứng lên chiến tranh giữ nước với những thử thách gian lao, dân tộc ta ai cũng hiểu rõ giá trị thiêng liêng của độc lập dân tộc, nên đã “dĩ thân tuẫn quốc” (sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc). Sự sống còn của dân tộc đoàn kết toàn dân, thúc đẩy mọi tầng lớp góc sức chiến đấu và chiến thắng quân thù cường bạo.

Ở nước ta, sức mạnh giữ nước không chỉ là sức mạnh của một nhà nước, mà là sức mạnh của cả nước. Thấm nhuần quan điểm đó trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh giặc Pháp cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, ai không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước”.

Quan điểm chiến tranh toàn dân được Đảng ta xác định năm 1951, trong chính cương của Đảng ở đại hội Đảng lần thứ 2, đã bắt nguồn từ truyền thống lịch sử lâu đời đó của dân tộc.

Tư tưởng chiến lược “cả nước chung lòng, toàn dân đánh giặc” cũng xuất phát từ yêu cầu khách quan của các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc. Đất nước ta đất không rộng, người không đông, nhân tài vật lực của ta có hạn, lực lượng quân đội của ta không nhiều. Trái lại, kẻ thù của dân tộc có đất rộng, người đông, có tiềm lực quân sự và kinh tế mạnh, chúng cậy số đông, trang bị mạnh và có nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh xâm lược. Với điều kiện tương quan lực lượng giữa ta và địch như vậy, nếu dùng lực lượng quân đội đơn thuần thì chắc chắn không thể đánh thắng được. Muốn thắng quân thù to lớn và cường bạo, thì phải dựa vào sức mạnh cả nước, huy động toàn dân đánh giặc.

Trải qua các giai đoạn lịch sử, tổ tiên ta đều nhận thức một các rõ ràng vai trò của toàn dân đánh giặc giữ nước. Quan điểm quốc phú binh cường thì gốc rễ là ở dân thể hiện trong nhiều triều đại. Cho nên, để động viên được sức mạnh tiềm tàng đó, tổ tiên ta đã phải thi hành nhiều chính sách tiến bộ để “an dân”. Lý Thường Kiệt coi “đủ ăn” là nguyện vọng của dân. Trần Quốc Tuấn chủ trương “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”. Buổi đầu đời Lê, triều đình đã ban lệnh “Không được khinh động đến sức dân” và Nguyễn Trải cho “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Đến thế kỷ thứ XVIII, Nguyễn Huệ đã có nhiều biện pháp để làm nước giàu, quân mạnh, trong đó có chủ trương “làm sao cho dân yên ổn, có ruộng cày...” hoặc “mở mang cửa ải, thông chợ búa, khiến cho các hàng hóa không ứ đọng, làm lợi cho dân”. Các triều đại phong kiến tiến bộ ở nước ta đều chú ý bồi dưỡng, khoan thư sức dân, ra chiếu khuyến nông, chăm lo thủy lợi, có khi giảm miễn tô thuế một phần để mở mang kinh tế, phần nữa để tăng cường khối đoàn kết giữa các dân tộc, giữa triều đình và dân chúng.

Khi quyền lợi của giới quý tộc phong kiến chưa đối lập với quyền lợi của bình dân, khi quyền lợi của giai cấp còn gắn liền với quyền lợi của dân tộc, thì các triều đại phong kiến có khả năng động viên được đông đảo nhân dân tham gia kháng chiến. Vào những thời kỳ đó, những chính sách tiến bộ của nhà nước là một nhân tố để triều đình tập họp toàn dân đánh giặc. Mặt khác, do hoàn cảnh luôn luôn bị kẻ thù hung bạo đe dọa xâm lược, nên các triều đại phong kiến đều chăm lo xây dựng tiềm lực đất nước.

Vì lợi ích của toàn dân Việt Nam mà phải bảo toàn nền độc lập của dân tộc, chủ quyền của đất nước, điều đó đã ăn sâu vào lòng người Việt Nam, trong bất kỳ tầng lớp nào qua các thời đại. Vì toàn dân mà cũng phải do toàn dân làm mới đánh được kẻ thù hung bạo mạnh hơn, cho nên, chính sách đúng đắn của các chính quyền nhà nước qua quá trình lịch sử Việt Nam, đều phải có sức phát huy khối đoạn kết toàn dân, chung sức đánh giặc.

Trong cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, trong chiến tranh giải phóng cũng như bảo vệ Tổ quốc, mục đích vì dân và do dân lại càng được phát huy lên trình độ cao, vì quyền lợi của chính quyền nhà nước, của giai cấp công nhân, của Đảng vô sản, cũng là quyền lợi của toàn dân.

Tư tưởng “Tận dân vi binh” được thực hiện ở các triều đại phong kiến ở nước ta. Tổ chức lực lượng quân sự phải như thế nào để khi cần nhân dân ai cũng có thể là binh. Đó cũng là đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh toàn dân và lực lượng vũ trang nhân dân. Ở thế kỷ thứ X, triều đình Đinh, Lê tổ chức lực lượng theo chế độ “thập đạo quân”. Về danh nghĩa, trong nước có một đạo quân đông đến một triệu người, song trên thực tế đó là chế độ tổ chức quân đội theo “ngạch biên số”. Lúc hòa bình, hầu hết số quân đó ở nhà sản xuất, lúc có chiến tranh, tất cả được huy động vào đội ngũ đã định sẵn. Đó là tiền đề của quốc sách “ngụ binh ư nông” của thời Lý - Trần. Theo cách hiểu của sử gia Ngô Thì Sĩ thì “bấy giờ binh và nông chưa chia, khi có việc thì gọi ra, xong việc lại giải tán về làm ruộng”1. Đây là biện pháp tổ chức toàn dân là lính, toàn dân tham gia luyện tập quân sự.

Tổ chức lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân, có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ như hiện nay để làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc bắt nguồn từ truyền thống tổ chức ba thứ quân, gồm quân triều đình, quân các lộ và hương quân của tổ tiên từ thời Lý, Trần.

“Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” là câu ngạn ngữ có từ ngàn xưa. Những tấm gương liệt nữ trong chiến tranh cứu nước triều đại nào cũng có: Hai Bà Trưng cùng các nữ tướng của mình đã anh dũng khởi nghĩa giành lại giang sơn và hy sinh trong cuộc kháng chiến chống quân Đông Hán xâm lược. Thái hậu Dương Vân Nga và sau đó là Ỷ Lan phu nhân, đã thể hiện vai trò lớn lao trong kháng chiến chống xâm lược Tống. Linh từ quốc mẫu, vợ thái sư Trần Thủ Độ trong kháng chiến chống quân Nguyên, nữ tướng Bùi Thị Xuân chỉ huy đạo tượng binh Tây Sơn hồi thế kỷ XVIII. Trong cuộc kháng chiến lâu dài vừa qua của dân tộc ta, biết bao phụ nữ đã tham gia đóng góp sức mình cho chiến thắng lịch sở của dân tộc. Đó là những biểu hiện cụ thể của truyền thống anh hùng của phụ nữ trong sự nghiệp đấu tranh giữ nước của dân tộc.

Hình ảnh Thánh Gióng là biểu tượng của thiếu nhi Việt Nam trong chiến tranh chống xâm lược với câu “phá tặc đản, hiếm tam tuế văn” (trừ giặc còn hiếm ba tuổi là muộn). Trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên, hình ảnh Trần Quốc Toản bóp nát quả cam vì hận mình còn nhỏ tuổi không được dự bàn kế đánh giặc ở Bình Than còn đậm sâu trong trí óc của người Việt Nam. Già, trẻ, trai, gái cùng đánh giặc là một hiện tượng phổ biến trong lịch sử nước ta. Truyền thống này lại càng được phát huy mạnh mẽ trong thời đại Hồ Chí Minh.

Trong đội ngũ điệp trùng chống xâm lăng có đủ các thành phần dân chúng, các tầng lớp dân tộc từ khắp mọi miền đất nước. Trên chiến trường diệt quân xâm lược Tống cùng với Lý Thường Kiệt, Hoàng Chấn, Chiêu Văn, có cả Tôn Đản, Hoàng Kim Mãn, Thân Cảnh Phúc, là những tộc trưởng của các dân tộc ít người. Trong quân đội thời Trần, bên cạnh những tướng chỉ huy xuất thân từ hàng ngũ quý tộc như Trần Quốc Tuấn, Trần Khánh Dư v.v... còn có những người xuất thân từ tầng lớp bình dân như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng. Người anh hùng “áo vải cờ đào” ở thế kỷ XVIII, được nhiều sĩ phu yêu nước cộng sự nhiệt tình trong kháng chiến. Nhân dân đứng lên tham gia kháng chiến đông đảo, hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp đánh giặc diệt thù “từ việc rèn đúc vũ khí, chuẩn bị chiến thuyền, sửa chữa cầu đường, đóng góp lương thực, vận tải tiếp tế cho quân đội, đến việc cất giấu lương thực, có khi đốt cả lúa má để thóc gạo khỏi lọt vào tay giặc” hoặc chạy vào rừng quyết không hợp tác với giặc, hoặc nhiều hình thức đánh giặc ngay ở các bản làng, thôn ấp, bảo vệ quê hương sứ sở của mình. Toàn dân là lính, cả nước chung sức đánh giặc là nét đặc sắc, một truyền thống lâu đời của dân tộc ta.

Việc Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương để mất nước là mối hận của mỗi một người dân Đại Việt thời bấy giờ. Nhà Hồ có quân đông, có vũ khí tốt và thành lũy kiên cố, nhưng do sai lầm về đường lối chính trị, đã không huy động được sức mạnh chiến đấu của toàn dân và do không có phương pháp đánh địch thích hợp, nên đã chịu thất bại cay đắng, để rồi dân tộc ta phải tiến hành cuộc kháng chiến kéo dài hơn chục năm mới đánh đuổi được giặc Minh, giành lại nền độc lập.

Người xưa nói “chúng chí thành thành”, nghĩa là ý chí của quần chúng là bức thành kiên cố.

Từ những nhận thức như vậy, các quan lại, quý tộc nhà Trần đều vững lòng tin vào sức mạnh của lực lượng kháng chiến. Lòng tin đó thể hiện trong hành động, trong chiến đấu và ngay cả trong những lời nói khảng khái trước mặt quân thù. Như trước sự hăm dọa láo xược của vua Nguyên là sẽ tiếp tục tiến công đập nát thành Thăng Long, sứ giả Đại Việt, Đào Tử Kỳ đã hiên ngang nói: “Thành Thăng Long kia chỉ là vật nhỏ mọn để phòng kẻ trộm cướp vặt, phá tan nó có khó gì. Còn như để chống với kẻ địch bên ngoài đến chực ăn cướp nước chúng tôi thì chúng tôi đã có một tòa thành vững vàng như núi, không kẻ nào phá được, đó là sức mạnh của nhân dân chúng tôi”.

Truyền thống chiến tranh toàn dân, toàn diện đã được phát triển cao độ trong thời đại Hồ Chí Minh, trong kháng chiến chống Pháp và đặc biệt là trong chiến tranh chống Mỹ giải phóng miền Nam. Đế quốc Mỹ mạnh nhất trong phe đế quốc hiện đại, có một tiềm lực quân sự, kinh tế lớn nhất thế giới đã huy động trên một triệu quân Mỹ và chư hầu (trong đó có trên 50 vạn quân Mỹ), với các phương tiện vũ khí hiện đại có uy lực lớn, có sức cơ động rất cao, hòng đè bẹp lực lượng kháng chiến Việt Nam. Chúng đã sử dụng lực lượng quân sự hùng hậu và sức mạnh kinh tế lớn lao của tên đế quốc giàu nhất thế giới vào cuộc chiến tranh mà từ xưa đến nay kẻ thù của nhân dân Việt Nam chưa hề có và sử dụng. Không những ta phải đấu tranh vũ trang chống lại một đạo quân đông, trang bị hiện đại, mà còn phải đấu tranh toàn diện trên các mặt kinh tế, chính trị, ngoại giao chống một kẻ thù giàu có và nhiều thủ đoạn chính trị ngoại giao xảo quyệt. Đế quốc Mỹ không phải chỉ dùng quân sự đánh ta mà còn dùng sức mạnh kinh tế để buộc dân ta phải khuất phục. Chúng đã dồn dân vào các ấp chiến lược, các thị trấn, thành phố hòng cô lập cách mạng, đây là một thủ đoạn hết sức nguy hiểm mà từ xưa đến thời kỳ kháng chiến chống pháp chưa từng có.

Đối với một kẻ thù như vậy, nhân dân Việt Nam đã phát huy mạnh mẽ chiến tranh toàn dân, toàn diện, đấu tranh của toàn dân trên các mặt trận chính trị, kinh tế, đã phối hợp với đấu tranh quân sự của lực lượng vũ trang trên quy mô chưa từng có trong lịch sử. Sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh đã đánh bại tên hung nô của thời đại, làm cho toàn thế giới sửng sốt, khâm phục và đem lại lòng tin cho cách mạng của các dân tộc nhỏ chống các đế quốc to trên phạm vi thế giới.

Sức mạnh đó được phát huy cao như vậy vì có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động Việt Nam, có sức mạnh của chính nghĩa độc lập dân tộc chống ngoại xâm. Nó đã đoàn kết toàn dân và phát huy tinh thần chiến đấu chống kẻ thù. Nó tạo ra sức sáng tạo phong phú trong việc tìm kiếm các thủ đoạn đánh địch trên các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế của mọi tầng lớp, mọi thành phần trong xã hội. Trong thời đại Hồ Chí Minh, phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân của ta là huy động toàn dân đánh giặc một cách toàn diện trên cả ba vùng chiến lược, phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và binh địch vận; kết hợp khởi nghĩa vũ trang với chiến tranh, kết hợp nổi dậy của quần chúng với tác chiến của lực lượng vũ trang; kết hợp tiêu diệt địch với giành và giữ quyền làm chủ của dân, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy.

Chiến tranh nhân dân ở nước ta đã huy động được hàng triệu người ra tiền tuyến, đã khai thác và phát huy đến mức cao nhất tiềm lực cửa đất nước.

Nó đã làm cho đội quân xâm lược khổng lồ bị sa lầy trong biển lửa của toàn dân, bị lúng túng, bị động, bị cột chặt vào mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung, giữa phòng ngự và tiến công, giữa đánh nhanh và đánh kéo dài, làm cho lực lượng địch ngày càng hao mòn, ý chí xâm lược ngày càng sa sút. Và cuối cùng, đế quốc Mỹ, đế quốc mạnh nhất thời đại chưa hề bị thất bại, đã phải nuốt hận chịu thua trong cuộc chiến tranh kéo dài nhất và tốn kém nhất trong lịch sử nước Mỹ.
______________________________________
1. Theo Phan Huy Chú - Lịch triều hiến chương loại chí, binh chế chí. NXB Sử học, Hà Nội, 1961, Tập 4, trang 4. 

NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ ĐỘC ĐÁO


Từ khi Vua Hùng dựng nước Văn Lang đến nay, dân tộc ta đã trải qua nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc chống ngoại xâm. Từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo, dân tộc Việt Nam đã mấy chục năm liên tiếp chiến đấu quyết liệt.

Trên các trang lịch sử còn lưu lại, ngay từ thế kỷ III trước công nguyên, nhân dân Việt (Âu Lạc) đã phải chống quân Tần xâm lược và đã chiến thắng. Trên 10 vạn quân Tần đã chịu thất bại trong một cuộc chiến tranh kéo dài 10 năm trên đất nước Âu Lạc.

Trong 1.000 năm Bắc thuộc, bắt đầu từ năm 179 trước công nguyên, An Dương Vương để mất nước trước mưu sâu của Triệu Đà, dân tộc Việt đã bao lần nổi dậy khởi nghĩa giành lại chủ quyền và kiên cường chiến dấu giữ chính quyền mới giành được. Cuộc đấu tranh anh dũng và bền bỉ của dân tộc chống xâm lược, chống đồng hóa dân tộc đã diễn ra hết sức quyết liệt trải qua bao thành công oanh liệt và cả thất bại đẫm máu. Bắt đầu bằng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Tnmg giành quyền trên 65 thành rồi đến các cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, Lý Bí, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, cuộc chiến tranh du kích kéo dài của Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử. Và kết thúc 1.000 năm Bắc thuộc với chiến thắng trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền dựng nước Đại Việt.

Từ thế kỷ thứ X, năm 938, với sự ra đời của nước Đại Việt tới nay, dân tộc ta đã phải trải qua trên 10 cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và giải phóng dân tộc chống ngoại xâm. Các cuộc chiến tranh chống Tống xâm lược năm 981 của Lê Hoàn và cuộc kháng chiến đời Lý năm 1077, dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt đã đem lại cho dân tộc ta gần 200 năm hòa bình xây dựng đất nước.

Sau khi đánh bại nhà Tống, đế quốc Mông - Nguyên trong 30 năm, từ 1258 đến 1288 đã gây 3 cuộc chiến tranh xâm lược lớn vào nước ta, có cuộc chúng huy động đến 60 vạn quân thiện chiến nhất của thời đại, như cuộc xâm lăng lần thứ hai năm 1285. Trong 3 lần kháng chiến đó, dân tộc Việt Nam đã lập nên những chiến công hiển hách ở Đông Bộ Đầu, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long, Vạn Kiếp, Bạch Đằng giang. Những thắng lợi rực rỡ đó đã bảo vệ nền độc lập của ta, đưa lại hòa bình cho đất nước trên 100 năm, và cũng góp phần chặn làn sóng xâm lăng xuống Đông Nam Á của đế quốc Mông Cổ hung bạo nhất thời đó.

Nhưng khi giành được chính quyền, nhà Minh lại mở cuộc xâm lăng Đại Việt. Cuộc kháng chiến chống nhà Minh xâm lược kéo dài 20 năm, bắt đầu từ 1407 với sự thất bại của Hồ Quý Ly, do sai lầm về chiến lược dựa vào phòng ngự cố thủ các thành quách kiên cố, ỷ vào quân đông 100 vạn, súng pháo mạnh. Nhân dân ta không cam chịu ách đô hộ của ngoại bang, đã liên tiếp đứng dậy kháng chiến dưới thời hậu Trần 7 năm ròng, và cuối cùng nhân dân ta đã chiến thắng trong một cuộc chiến tranh giải phóng bền bỉ, kiên cường trong suốt 10 năm trường, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi. Cuộc kháng chiến oanh liệt của nhân dân ta chống nhà Minh xâm lược đã làm nhụt ý đồ bành trướng của vua quan nhà Minh, và trên 300 năm đất nước ta không bị ngoại xâm từ phương Bắc.

Khi nhà Thanh giành được quyền cai trị Trung Quốc, lợi dụng lúc Đại Việt rối ren dưới thời vua Lê, chúa Trịnh, lúc Tây Sơn mới nắm được quyền lực trên một phần đất nước, vua Càn Long nhà Thanh lại phát động một cuộc chiến tranh xâm lược nước ta.

Năm 1788, 29 vạn quân Thanh, dưới sự thống lĩnh của Tôn Sĩ Nghị đã bị Quang Trung tiêu diệt trong một trận phản công mãnh liệt ngay tại Thăng Long, chỉ trong gần 10 ngày đêm, đất nước ta lại sạch bóng quân thù.

Bước vào lịch sử cận đại, từ thế kỷ XIX dân tộc ta lại bị thực dân Pháp xâm lược. Do sự sai lầm về chiến lược là chỉ dựa vào quân thành để phòng ngự bị động và đầu hàng giặc một cách hèn hạ của triều đình nhà Nguyễn, mà dân tộc ta đã bị rơi vào ách nô lệ gần trăm năm. Trong suốt thời gian dài này, nhân dân ta đã anh dũng nổi dậy kháng chiến khắp nơi, từ Nam đến Bắc. Các cuộc nổi dậy liên tiếp nổ ra dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Đốc Ngũ, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Thiện Thuật, Đinh Công Tráng, Hoàng Hoa Thám, và các cuộc nổi dậy, khởi nghĩa ở Yên Bái, Nghệ An, Bắc Sơn, Nam Kỳ, bị dìm trong bể máu, cho tới tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 thành công. Tiếp ngay sau đó, cuộc kháng chiến trường kỳ liên tục 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đã kết thúc với thắng lợi giải phóng hoàn toàn cả nước năm 1975.

Thắng lợi huy hoàng của nhân dân ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, kẻ thù mạnh nhất của thế giới tư bản đế quốc trong thời đại, đã đem lại độc lập và thống nhất cho Tổ quốc Việt Nam, góp phần vào việc chôn vùi chủ nghĩa thực dân cũ và làm thất bại bước đầu chủ nghĩa thực dân mới Mỹ, đã tô đậm nền nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và giải phóng dân tộc.

Trên 10 năm qua, nhân dân ta mong muốn được sống hòa bình, xây dựng đất nước, nhưng kẻ thù không để ta yên. Các cuộc chiến tranh xâm chiếm biên giới từ phía Tây Nam, và phía Bắc lại nổ ra và nhân dân Việt Nam lại phải vừa xây dựng Tổ quốc vừa phải chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu chống xâm lược dưới mọi hình thức.

Những chiến công chói lọi trong các cuộc chiến tranh yêu nước đó, chứng tỏ sức mạnh vật chất và tinh thần, phẩm giá cao quý và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

Trong quá trình đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm, dân tộc ta đã có quyết tâm lớn, có tinh thần yêu nước cao, và có nhiều sáng tạo kiệt xuất trong việc tổ chức lực lượng và nghệ thuật đánh giặc cứu nước.

Nghệ thuật đánh giặc cứu nước truyền thống được tích lũy trong mấy nghìn năm lịch sử chống ngoại xâm, mang tính đặc biệt của một dân tộc nhỏ, tiềm lực kinh tế, quân sự đều yếu so với đối phương, nhưng dân tộc đó có tinh thần yêu nước cao, có truyền thống toàn dân quả cảm chống xâm lược, chứ không phải chỉ có quân đội đánh theo kiểu chiến tranh thông thường.

Nghệ thuật đó có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Phương thức tiến hành chiến tranh:

Phương thức tiến hành chiến tranh của hai loại hình (chiến tranh bảo vệ tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc) có cái chung của chiến tranh toàn dân, nhưng cũng có đặc điểm riêng. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ta có chính quyền nhà nước, có quân đội, và lực lượng vũ trang. Công cuộc bảo vệ Tổ quốc đã được triển khai trong toàn dân ngay từ thời bình, được tổ chức, chuẩn bị theo một thế trận đã được hoạch định, từ trước khi quân địch tiến công. Quân địch phải từ ngoài tiến vào chứ không có sẵn trong nước, nên dù có sức mạnh và chủ động tiến công, chúng cũng có nhiều khó khăn, như bảo đảm hậu cần, không thông thuộc địa hình, không quen chịu đựng khí hậu khắc nghiệt của đất nước ta.

Để chống lại quân thù mạnh hơn, nhân dân ta đã có nhiều phương thức tiến hành chiến tranh khác nhau, trong điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau.

Về cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống quân nhà Tần ở thế kỷ thứ III trước công nguyên, lịch sử còn ghi:

“Người Âu Lạc đã rút vào rừng, tổ chức lực lượng kháng chiến, cử người giỏi làm tướng, phục kích ban đêm, đánh hàng chục năm ròng rã, diệt hàng chục vạn quân Tần”.

Sử ký Tư Mã Thiên chép: “Lúc bấy giờ, nhà Tần ở phía Bắc thì mắc họa với người Hồ, ở phía Nam thì mắc họa với người Việt. Đóng quân ở đất vô dụng, tiến không được, thoái cũng không xong. Trải hơn 10 năm, đàn ông phải mặc áo giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi, người ta thắt cổ tự tử trên cây dọc đường, người chết trông nhau, kịp khi Tần Thủy Hoàng mất (209 trước công nguyên) thì cả thiên hạ nổi lên chống”.

Như vậy phương thức cơ bản để đánh bại quân xâm lược là toàn dân chiến đấu, bất hợp tác với quân thù, rút vào rừng đánh du kích trong một cuộc kháng chiến trường kỳ 10 năm ròng. Cuối cùng khi quân Tần kiệt sức, khổ cực không sống nổi, và nhân lúc Tần Thủy Hoàng chết, thì ta tiến hành tổng khởi nghĩa và tiến công tiêu diệt quân thù, tướng Tần là Đồ Thư bị giết, quân Tần phải rút chạy về nước.

Sau khi đánh bại quân Tần, Âu Lạc nhanh chóng chuẩn bị để đề phòng xâm lược.

Sử chép rằng “Thục Phán dựng nước Âu Lạc, xưng là An Dương Vương, rời đô xuống Cổ Loa xây thành (207 - 208 trước công nguyên) với hàng vạn nhân công, 3 vòng quanh co 9 lớp, chân kè đá, mặt có ụ đất cao nhô ra làm vọng canh và pháo đài bắn cung tên. Ngoài có hào sâu và rộng thuyền bè đi được, có đầm Cả chứa được mấy trăm thuyền chiến. Thành có 4 cửa: Đông Nam; Tây Nam, Đông Bắc và Tây Bắc. Riêng ở 2 cửa Đông Bắc và Tây Bắc có hai tầng hào lũy, là hướng phòng ngự chủ yếu. Vận dụng địa hình lấy sông làm hào, gò cao làm lũy thành ở giữa vùng đầm vực, lầy úng, vừa là căn cứ bộ binh, vừa là căn cứ thủy binh quan trọng. Thuyền chiến có thể vận động suốt 3 vòng hào, phối hợp tác chiến với bộ binh, có thể từ Cổ Loa tỏa ra Hoàng Giang, theo sông Hồng, sông Thương ra biển. Vũ khí đã có nỏ Liên Châu với mũi tên đồng ba cạnh (năm 1959, phát hiện ở chân thành ngoài, phía Nam một kho hàng vạn chiếc, cùng với xiên đồng, qua đồng).

“Năm 207 trước công nguyên, Triệu Đà và quan lại nhà Tần, chiếm cả ba quận Nam Hải, Quế Lâm, Tượng, lập nước Nam Việt, xưng vương, đánh Âu Lạc nhiều lần không thắng phải rút về núi Vũ Minh cầu hòa”. Đó là kẻ xâm lược thứ hai bị An Dương Vương đánh bại, lần này không chỉ bằng cách rút vào rừng, dùng phục kích, tập kích, mà bằng cách phòng giữ Loa thành, đánh quân xâm lược cả bằng thủy binh và bộ binh.

Phải đến năm 179 trước công nguyên, tức là gần ba chục năm sau, Triệu Đà trá hàng, sai Trọng Thủy dò xét được các bí mật quân sự của An Dương Vương, dùng kế nội gián mới chiếm được Âu Lạc. Như vậy ta thấy, sau khi rời đô từ vùng rừng núi về đồng bằng, xây dựng một nước đã có nhiều nghề. Ngoài nghề nông, săn bắn, đã có các nghề khác như nuôi tằm, dệt lụa, đồ gốm, rèn sắt đồng, làm mộc, nung gạch ngói, xây thành, đóng thuyền, sản xuất nỏ Liên Châu có mũi tên đồng. Quân đã chia ra quân thủy và quân bộ. An Dương Vương đã chọn phương thức phòng ngự dựa vào thành kiên cố được xây dựng trên địa hình hiểm trở để chống ngoại xâm kết hợp với chiến tranh du kích đã có kinh nghiệm trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc lần vừa qua.

Phương thức này cũng đã thắng được quân của Triệu Đà nhiều lần tiến công xâm lược, An Dương Vương để mất nước do mắc mưu nội gián.

Từ khi Đại Việt dựng nước, nhiều lần quân phong kiến phương Bắc đã tiến hành xâm lược, nhiều cuộc chiến tranh đã giải quyết xong, chỉ trong một trận. Như cuộc kháng chiến của Ngô Quyền chống quân Nam Hán, với 2 vạn quân đã đánh bại 5 vạn quân bộ và 3 vạn quân thủy, kết thúc bằng trận thủy chiến mưu lược, giết tướng Hoàng Thao trên sông Bạch Đằng năm 938. Hoặc như cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất, mà Lê Hoàn, với 5 vạn quân, đã đánh bại quân xâm lược gồm 10 vạn ở Bạch Đằng và Chi Lăng, giết tướng Hầu Nhân Bảo năm 981.

Phương thức cơ bản tiến hành chiến tranh lúc đó chủ yếu là dùng trận chiến tiến công quy mô chiến lược của quân triều đình, đánh bại quân xâm lược mạnh hơn trên cơ sở thiết lập thế trận mai phục ở những địa hình hiểm trở, ở Bạch Đằng Giang, Chi Lăng lịch sử mà Nguyễn Trãi trong bài thơ “Bạch Đằng hải khẩu” đã có câu:

“Quan hà bách nhị do thiên thiết
Hào kiệt công danh thử địa tầng”.

(Trời dựng nên sông núi hiểm trở, ở đó 2 vạn người có thể địch nổi 100 vạn người; trên đất này người hào kiệt đã từng lập nên công danh).

Đến cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống Tống lần thứ hai năm 1077, Lý Thường Kiệt đã đánh bại đạo quân xâm lược 30 vạn của Quách Quỳ bằng phương thức phòng ngự tích cực, tiến công phá căn cứ chuẩn bị tiến công của đối phương ngay trên đất địch, rồi thiết lập phòng tuyến trên sông Như Nguyệt, tạo thế buộc quân địch phương Bắc mạnh về kỵ binh lâm vào thế bị chặn phía trước, bị đánh phía sau, thiếu thốn lương thực do dân ta làm thanh dã và thuyền thương bị chặn, quân sĩ ốm đau vì thủy thổ không hợp. Địch tiến công vượt sông không nổi, bị suy yếu, tiến công không được rút không xong, bị ta phản công tiêu diệt. Trong thế trận chiến tranh nhân dân được phát huy sau lưng địch, chủ lực thiện chiến của triều đình đã tiến hành phòng ngự tích cực kết hợp chặt chẽ phòng ngự với tiến công và phản công, theo phương châm “kiên thủ chờ suy, hoàn kích”.

Nhà Lý có thế lực mạnh, đúng như Trần Hưng Đạo đã nhận xét, có tướng giỏi như Lý Thường Kiệt biết phát huy sức mạnh của quân triều đình và quân địa phương, chọn địa lợi, xây dựng phòng tuyến, kiềm chế được kỵ binh địch, phát huy được sức mạnh của bộ binh và thủy binh ta, nên đã chiến thắng.

Dưới thời nhà Trần, từ 1258 đến 1288, ba lần quân Mông - Nguyên mạnh nhất thời đại lúc đó, “có kỵ binh mạnh, rong ruổi nhanh như chớp, đánh thành phá ấp” (theo Trương Phổ, học giả thời Minh), xâm lược Đại Việt có lần quân lên tới 60 vạn đều đã bị quân dân Đại Việt tiêu diệt phải tháo chạy về nước.

Phương thức tiến hành chiến tranh trong hai cuộc chiến tranh năm 1258 và 1285, vua Trần và tiết chế quận công Trần Hưng Đạo lúc đầu đã thiết lập trận địa phòng ngự chặn địch trên địa bàn Trung Du ở Bình Lệ (1258) và Nội Bàng, Vạn Kiếp (1285), nhưng đều không chặn nổi quân Mông - Nguyên, phải thực hiện rút lui chiến lược, rời bỏ Thăng Long để bảo toàn lực lượng, tránh sức mạnh lúc khởi đầu của đối phương. Với phương thức mới, toàn dân làm thanh dã, các vương hầu cùng hương binh trên các địa phương kiên quyết chặn đánh quân giặc làm chúng mệt mỏi tiêu hao, phải dàn mỏng quân đối phó khắp nơi. Phương thức này xuất phát từ quan điểm mà Trần Hưng Đạo đã viết trong Binh thư yếu lược: “Địch đem quân đến, thế không thể ở lâu được thì ta cầm... Nó ở thế hiểm, ta ở thế yếu thì ta cầm. Cầm cho nó đã mệt, bấy giờ ta nổi dậy mà đánh, thì sức vẹn mà công nhiều... đó là điều bí của phép binh”1. Sau đó ta tổ chức thực hiện phản công chiến lược, đánh vào quân địch ở Thăng Long, buộc địch phải rút chạy mà tiêu diệt chúng trên đường thoái lui.
____________________________________
1. Binh thư yếu lược - Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1977, tr. 190. 

Phương thức tiến hành chiến tranh sáng tạo của nhà Trần đã được thể hiện trong cuộc chiến tranh chống Mông - Nguyên lần thứ ba năm 1288, với những tư tưởng mà Trần Hưng Đạo nêu với vua Trần vào năm 1300 về kế sách giữ nước như sau:

- Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức.

- Giặc cậy trường trận, ta cậy đoản binh, dĩ đoản chế trường.

- Tướng và binh một lòng như ruột thịt.

- Khoan thư sức dân, làm kế sâu gốc bền là thượng sách để giữ nước.

- Tránh thế giặc lúc buổi đầu còn mạnh, đánh địch khi tàn lụi lúc buổi chiều.

Lấy toàn dân chiến đấu, đoàn kết vua quan, lãnh đạo và quần chúng, quân dân, tướng binh như cha con một nhà làm quyết định chiến thắng.

Trên cơ sở tư tưởng toàn dân chiến đấu mà tổ chức các thứ quân, gồm quân triều đình, quân các vương hầu, trấn giữ các trại ấp và hương binh ở các thôn xã cho nên lực lượng vũ trang lên đến mấy chục vạn. Lực lượng vũ trang ta bố trí khắp nơi trên toàn quốc, giặc đi đến đâu cũng bị đánh. Ta hình thành thế bao vây toàn diện và từng điểm, quân địch càng vào sâu càng mắc kẹt, phải phân tán đối phó khắp nơi.

Địch muốn đánh lớn, tìm quân chủ lực để giáp chiến, tiêu diệt mà không được, lại luôn bị tiêu hao, đánh tỉa, đến lúc mệt mỏi hết lương, tinh thần rã rời bải hoải thì cũng là lúc chủ lực quân thiện chiến của triều đình Trần xuất hiện, đánh những đòn tiêu diệt lớn.

Trần Hưng Đạo đã giải quyết một cách tài tình mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ: giữ đất và tiêu diệt địch. Qua kinh nghiệm 2 lần kháng chiến, vì không muốn địch xâm phạm kinh thành, ta tổ chức phòng ngự chiến lược, nhưng đều không ngăn được địch, và trong lần kháng chiến thứ hai, ta buộc địch rút lui chiến lược, với biết bao tình huống hiểm nghèo. Lần kháng chiến thứ ba, với thế lực đã chuẩn bị sẵn, ta hoàn toàn chủ động, buộc địch phải dàn mỏng lực lượng, từ chủ động chuyển thành bị động, từ tiến công chuyển sang phòng ngự và rút lui, từ mạnh chuyển thành yếu. Đây chính là thời cơ để ta tiến hành phản công chiến lược tiêu diệt địch và giải phóng đất nước. Chỉ có “tránh cái thế hăng hái lúc ban mai” của địch, để địch vào sâu đất nước ta, kéo dài đường tiếp tế, bị quân ta triệt lương, lại gặp lúc dân ta làm thanh dã, lâm vào cảnh thiếu đói, địch mới nhanh chóng rơi vào thế “tàn lụi lúc buổi chiều”. Lợi dụng sở đoản, kiềm chế sở trường của địch là nguyên tắc của nghệ thuật quân sự phép dùng binh của Trần Quốc Tuấn.

Như Trần Quốc Tuấn đã nêu rõ: Lấy đoản binh thắng trường trận là việc thường của binh pháp; Đoản binh là chỉ bộ binh của ta, một đội quân với số lượng không nhiều nhưng tinh nhuệ, biên chế gọn nhẹ là cái mạnh của ta. Kỵ binh và quân đông, sức cơ động nhanh là cái mạnh của địch. Nhưng khi trường trận bị dàn mỏng ra, bị phân tán, đứt quãng, không được tiếp tế đầy đủ, không ứng cứu được nhau và lâm vào tử địa, sức không phát huy được thì trở thành yếu, dễ bị công kích và tan vỡ. Như trong trận Đông Bộ Đầu, chiến đấu diễn ra ban đêm, quân địch không kịp lên ngựa, bị những bộ binh nhẹ mang vũ khí ngắn của ta xông vào chém giết đã hỗn loạn và tan tác. Hoặc như trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng, 1 đoàn thuyền lớn, nặng nề chậm chạp của địch đã bị những thuyền nhẹ của ta từ các nhánh sông lao ra đón đánh, đã không xoay trở kịp, chạy đâm vào cọc nhọn, bị đắm chìm và bị tiêu diệt.

Rõ ràng “dĩ đoản chế trường” là một sáng tạo độc đáo của ta dừng để chống lại một kẻ địch đông và trang bị mạnh hơn mình.

Nguyên nhân thất bại của nhà Hồ trong cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhà Minh là do không tin vào dân, không được dân ủng hộ, chỉ dựa vào phòng ngự chiến lược thụ động, trên cơ sở cố thủ các quân thành vững chắc, có thành cao hào sâu, quân đông, pháo mạnh để mong đạt mục đích chiến lược là làm đối phương mòn mỏi không thắng nổi mà cầu hòa.

Phương thức chiến tranh toàn dân, phòng ngự tích cực, tiến công, phản công kiên quyết, chủ động, chọn địa điểm xây dựng thế trận có lợi để phát huy sở trường của ta, đánh vào sở đoản của địch, hạn chế sở trường của chúng, giành chiến thắng vẻ vang trong truyền thống đánh giặc giữ nước của tổ tiên ta đã không được phát huy, mà còn bị quên lãng.

Quang Trung tiêu diệt quân xâm lược Thanh chỉ trong một trận tiến công quyết chiến chiến lược thần tốc bảy ngày đêm ngay tại Thăng Long đã thể hiện sức mạnh hơn đối phương của một quân đội thiện chiến và tài thao lược hơn người của Nguyễn Huệ. Phương thức tiến công chiến lược thần tốc, bất ngờ, giải quyết chiến tranh chỉ trong một trận khi chống lại quân xâm lược của một nước lớn mạnh hơn, đã tỏ ra phù hợp vì trên chiến trường có sức mạnh tổng hợp của thế, thời. Dù lực ít hơn, nhưng tinh hơn và lại có tướng giỏi trí dũng song toàn thì vẫn giành chiến thắng. Quan điểm quân sự của Quang Trung “quân cốt tinh, không cốt đông” thể hiện tính chân lý của nghệ thuật lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn là truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Dưới thời nhà Nguyễn, tư tưởng sợ địch, đầu hàng và phòng ngự thụ động dựa vào quân thành đã đưa nhân dân Việt Nam đến chỗ mất nước trước một đế quốc phương Tây có phương tiện, vũ khí, kỹ thuật tốt hơn.

Như vậy ta có thể thấy chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có lấy đặc điểm sau:

Một là: Địch thường mạnh hơn ta cả về tiềm lực chiến tranh và về lực lượng quân sự huy động vào chiến đấu trực tiếp trên chiến trường. Chúng tiến công từ ngoài vào đất nước ta bằng nhiều hướng, đường bộ, đường thủy, cả phía Bắc, có khi cả phía Nam. Mục đích của địch thường là, tiến công nhanh, giải quyết nhanh chiến tranh bằng các thủ đoạn chiến lược cổ truyền của quân xâm lược là tiêu diệt quân đội đối phương, đánh chiếm thủ đô, bắt thủ lĩnh (vua, lãnh đạo), tổ chức ngụy quân, ngụy quyền, thực hiện bình định, càn quét đánh phá các phong trào yêu nước, dập tắt các cuộc khởi nghĩa.

Hai là: Thời gian kết thúc chiến tranh thường ngắn, chỉ trong vài tháng đến một năm, ít khi kéo dài, như Lý chống Tống, khoảng 5 tháng; Trần chống Mông - Nguyên lâu nhất cũng chỉ 6 tháng; Hồ chống Minh, khoảng 2 tháng; Tây Sơn chống Thanh, hơn 1 tháng.

Ba là: Phương thức tiến hành chiến tranh truyền thống của Việt Nam nói chung thể hiện mấy điểm sau:

- Toàn dân tham gia chống xâm lược, làm thanh dã, không cho địch lấy người và của cải của ta; trực tiếp chiến đấu vũ trang bằng ba thứ quân, quân chủ lực (triều đình), quân địa phương (của các tộc trưởng, vương hầu, các lộ) và dân quân (hương binh), đánh chặn phía trước, đánh phá phía sau, đánh vào hậu cần, hậu phương của địch.

- Kết hợp chiến tranh chính quy của quân đội chủ lực với chiến tranh du kích của toàn dân, lấy dân quân (hương quân), quân địa phương làm nòng cốt, vừa có phân tuyến, vừa có xen kẽ cài răng lược, buộc địch phải phân tán lực lượng, đối phó khắp nơi, không thể tập trung đánh quân chủ lực của ta.

- Phương thức tác chiến thường là phòng ngự tích cực kết hợp phòng ngự theo kiểu phòng tuyến hoặc hệ thống quân thành, quan ải, đánh giữ các trục đường giao thông chiến lược và các thị trấn, thị xã, thành phố với tiến công phía sau lưng địch của bộ đội địa phương, quân các lộ, cả dân quân các làng xã và phản công, tiến công quyết định của quân chủ lực. Đánh diệt quân lương của địch là biện pháp chiến lược, kết hợp với thanh dã làm cho quân địch đông lại thêm khó khăn vì thiếu hậu cần tiếp tế, lương thực và đạn dược, nhiên liệu, phương tiện chiến tranh.

- Bảo toàn chủ lực, bảo vệ cơ quan lãnh đạo chiến tranh, tránh sức mạnh lúc khởi đầu của địch làm địch mệt mỏi, bị tiêu hao, phân tán, buộc phải chuyển từ chủ động tiến công sang bị động phòng ngự, rồi rút chạy. Trên cơ sở đó mà tiến hành phản công, tiến công tiêu diệt lực lượng chủ lực của địch.

- Kết hợp tiến công tiêu diệt địch trên đất nước mình với ngoại giao mềm dẻo để kết thúc chiến tranh.

- Trong điều kiện địch quá mạnh, ta không đủ sức phòng ngự ngăn chặn đối phương, có khi phải dùng chiến tranh du kích lâu dài như cuộc chiến tranh chống Tần thế kỷ thứ ba trước công nguyên, rồi tổng tiến công kết hợp khởi nghĩa (khi có thời cơ địch chiếm đóng bị suy yếu, nội bộ địch ở trong nước rối loạn) mà tiêu diệt.

- Nhưng cũng có khi chỉ bằng một trận tiến công chiến lược tại một khu vực được chuẩn bị kỹ, trên thế mạnh, có địa hình hiểm, có quân đội mạnh, mưu trí, bất ngờ, nhanh chóng tiêu diệt đại bộ phận quân địch ngay từ trận đầu mà ta đã giải quyết thắng lợi chiến tranh.

Như vậy phương châm tích cực phòng ngự, kết hợp phòng ngự với phản công tiến công trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là một tư tưởng có tính quy luật trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của một nước nhỏ đánh lại nước lớn xâm lược, của một quân đội ít hơn và kém hơn về tổ chức trang bị, kỹ thuật đánh lại một quân đội mạnh hơn.

- Chiến tranh giải phóng dân tộc diễn ra khi địch đã chiếm đóng nước ta. Đặc điểm của chiến tranh giải phóng dân tộc là kẻ địch đã ở trên đất nước ta, có đội quân cướp nước, lại có ngụy quân, ngụy quyền, địch đã làm chủ trên cả nước, còn nhân dân ta thì đang bị kìm kẹp, ta không có sẵn quân đội, không có sẵn lực lượng vũ trang.

Do các điều kiện khách quan như vậy, nên phương thức tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc nói chung vẫn dựa trên nền tảng của khởi nghĩa vũ trang nhân dân và chiến tranh nhân dân, nhưng có nhiều đặc điểm hoàn toàn khác với chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Trải qua các thời kỳ bị mất nước, dân tộc Việt Nam đều phải dùng phương thức truyền thống để giải phóng dân tộc như sau:

- Thực hiện khởi nghĩa vũ trang từng khu vực, tiến lên tổng khởi nghĩa cướp chính quyền và tiến hành chiến tranh giải phóng. Bà Trưng, Bà Triệụ, Lý Bí, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử, Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền, trong 1000 năm Bắc thuộc, cũng như Phạm Chấn, Trần Nguyệt Hồ, Phạm Tất Đạt, Trần Nguyên Khôi, Trần Ngỗi, Trần Quý Kháng, và Lê Lợi dưới thời thuộc Minh, và cả trong 100 năm Pháp thuộc cho tới chiến tranh giải phóng chống Pháp, Mỹ mấy chục năm qua, chúng ta đều thấy muốn giành được độc lập, nhân dân ta đều phải đi từ đấu tranh chính trị đến đấu tranh vũ trang, từ khởi nghĩa, tổng khởi nghĩa đến chiến tranh giải phóng trường kỳ của toàn dân với 2 lực lượng, (lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang) mới giành được độc lập cho dân tộc.

- Kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao và binh vận địch vận, kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng, nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy giành quyền làm chủ.

Mỗi mặt đấu tranh đều có vị trí chiến lược của nó, có tác dụng quyết định trong từng thời điểm, từng địa bàn khác nhau, nhưng nói chung đấu tranh quân sự, vũ trang bao giờ cũng giữ vị trí quyết định và nó quyết định việc trực tiếp tiêu diệt lực lượng quân sự và bộ máy chính quyền của đối phương, vừa đánh địch vừa địch vận, cả địch ở chiến trường trên nước ta, cả vào lòng dân và bộ máy chính quyền của đối phương ở nước địch.

- Thực hiện một cuộc chiến tranh xen kẽ cài răng lược, không chiến tuyến, đánh địch cả ở tiền tuyến và hậu phương địch, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó khắp nơi, không có chỗ nào là an toàn tuyệt đối đối với chúng, kể cả ở đô thị.

- Kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp ba thứ quân, kết hợp các cách đánh tiêu diệt sinh lực địch và phá hậu cần, kho tàng, phương tiện chiến tranh, phá giao thông vận chuyển, kết hợp tiêu diệt địch với giành quyền làm chủ, đánh phá bình định của đối phương.

Chiến tranh du kích trong chiến tranh giải phóng có vị trí hết sức quan trọng. Nó vừa là khởi đầu của đấu tranh vũ trang, nòng cốt của khởi nghĩa, vừa là hình thức bạo lực quyết định của quần chúng nhân dân đánh địch và bảo vệ quyền làm chủ của các thôn xã.

Chiến tranh du kích là biện pháp chủ yếu để đánh bại chiến lược đánh nhanh giải quyết nhanh của địch, đồng thời nó tạo điều kiện cho chủ lực phát huy sức mạnh, tập trung lực lượng đánh đòn quyết định, buộc địch phân tán đối phó, phối hợp với chủ lực giải quyết chiến tranh.

Chiến tranh chính quy của quân chủ lực trong chiến tranh giải phóng bao giờ cũng từ chiến tranh du kích mà phát triển lên, giữ vị trí quyết định giải quyết chiến tranh, đánh tiêu diệt lớn quân địch.

Không có cuộc chiến tranh giải phóng nào của Việt Nam giành được thắng lợi mà lại không tiêu diệt được đại quân của đối phương. Chủ lực quân trong chiến tranh giải phóng, khi không phân chiến tuyến, tác chiến với kẻ thù mạnh hơn, thường dùng cách đánh du kích như phục kích, tập kích, đánh bất ngờ của kẻ yếu đánh mạnh, như Nguyễn Trãi đã tổng kết:

“Yếu đánh mạnh hay đánh bất ngờ
Ít địch nhiều thường dùng mai phục”.

Đánh thành, chiếm đất thường ít gặp hơn là đánh tiêu diệt địch trong vận động. Tiến công là phương thức tác chiến chủ yếu, có vị trí chiến lược, còn phòng ngự chỉ giữ vai trò phối hợp và quan trọng trong thời kỳ cuối của cuộc chiến tranh giải phóng trường kỳ.

- Nếu đặc trưng của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc thường là ngắn, thì đánh lâu dài để chuyển biến tương quan thế lực lại có tính quy luật của chiến tranh giải phóng. Kẻ địch thường tiến công, rồi lại thất bại, lại tăng cường lực lượng tiến công rồi thất bại, chịu thua trong khi lực lượng còn đông, có khi còn mạnh hơn cả lúc bắt đầu cuộc chiến tranh giải phóng. Do đó phương châm trường kỳ kháng chiến, đánh lâu dài đồng thời biết tạo thời cơ và nắm vững thời cơ, mở những trận tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện tổng tiến công và nổi dậy đè bẹp quân thù, giành thắng lợi cuối cùng, thường trong cuộc chiến tranh giải phóng nào cũng được vận dụng, như trong chiến tranh chống phong kiến Trung Quốc, cũng như chống Pháp, Mỹ.

- Trong thời đại ngày nay việc phát huy sức mạnh của đất nước và tranh thủ sức mạnh quốc tế trong chiến tranh giải phóng dân tộc là một phương châm hết sức quan trọng. Trong các cuộc chiến tranh giải phóng chống Pháp, Mỹ vừa qua ta đã vận dụng triệt để phương châm này. Điều này lại càng quan trọng hơn trong tình hình hiện nay và sau này.

Do có cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật mới, mà các ngành thông tin, truyền thông, giao thông đã có bước phát triển thần kỳ, làm cho không gian của địa cầu hầu như thu hẹp lại, cùng với sự phát triển của tinh thần độc lập dân tộc chống đế quốc, chống kẻ thù chung của nhân loại, yếu tố quốc tế trong chiến tranh giải phóng đã khác hẳn so với thời kỳ chống phong kiến phương Bắc xưa.

Nghệ thuật quân sự truyền thống.

Nghệ thuật quân sự truyền thống Việt Nam độc đáo ở chỗ, nó là nghệ thuật quân sự lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, được thể hiện trên mấy mặt sau:

- Nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc, nghệ thuật đấu tranh vũ trang của lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân, quân chủ lực (với hiệp đồng quân binh chủng), quân địa phương và dân quân du kích (tự vệ) cùng nhân dân đứng lên đánh giặc bằng mọi phương tiện và hình thức, kết hợp chặt chẽ quân sự, chính trị, binh vận, kết hợp hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương, dân quân tự vệ và nhân dân, làm thanh dã, bất hợp tác với quân thù hoặc khởi nghĩa. Nghệ thuật quân sự này tạo ra một hình thức chiến tranh cài răng lược, xen kẽ triệt để giữa ta và địch, có phân tuyến mà cũng không phân tuyến với quân thù, buộc địch phải phân tán, đông mà hóa ít, mạnh mà hóa yếu. Nó làm cho quân đội chính quy của đối phương không thể phát huy cách đánh thông thường, tiến công, phòng ngự không theo chiến tuyến, mà theo diện địa phương, hậu phương tiền tuyến khó phân biệt, không có một nơi nào là an toàn tuyệt đối, khó phân biệt đối tượng dân và quân.

Hăng-ri Na-va, tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương viết trong cuốn Đông Dương hấp hối: “Ngay cả trong những vùng có chiến dịch quân sự thực sự cũng không phải là một cuộc chiến tranh kiểu kinh điển. Chúng tôi cố gắng ép họ phải chấp nhận hình thức chiến tranh đó, luôn luôn Việt - Minh từ chối việc đó”. Và Oét-mo-len, tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam đã phải buồn bã kêu lên, sau khi bị cách chức: “Công chúng Mỹ cũng dễ bị lầm lẫn vì không thể theo dõi cuộc chiến tranh bằng những chiến tuyến đơn giản trên bản đồ như trong các cuộc chiến tranh khác”. Bất kể quân địch nào, dù là phong kiến phương Bắc trước kia hoặc đế quốc Pháp, Mỹ, khi xâm lược nước ta đều phải bị động trước nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc của Việt Nam và không thể thi thố được cách đánh sở trường của chúng”.

Ngay một số cán bộ quân sự của ta, đã qua nhiều năm chiến đấu muốn nắm chắc nghệ thuật ngay trong các cấp, từ chiến lược đến chiến dịch, chiến thuật và vận dụng cho nhuần nhuyễn, cũng không phải đơn giản. Kinh nghiệm mấy ngàn năm lịch sử cho thấy, nắm chắc nghệ thuật quân sự này là bảo đảm chiến thắng bất kỳ kẻ địch nào, ngay cả những đội quân xâm lược mạnh nhất của từng thời như quân Mông - Nguyên ở thế kỷ XIII, hay quân Mỹ trong thế kỷ XX.

Nghệ thuật truyền thống này luôn luôn được quán triệt trong chiến tranh giải phóng, vì ta phải đi từ đấu tranh chính trị lên đấu tranh vũ trang, từ khởi nghĩa lên chiến tranh giải phóng, từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy, luôn kết hợp chiến tranh chính quy với khởi nghĩa và chiến tranh du kích. Các nhà lãnh đạo chiến tranh như Hai Bà Trưng, Lê Lợi, Hồ Chí Minh đều đi theo quá trình này. Nhưng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc thì kinh nghiệm chiến tranh toàn dân của nhà Trần đã không được vận dụng dưới thời nhà Hồ và nhà Nguyễn. Tư tưởng quân sự của chiến tranh thông thường dựa vào quân đội chủ lực, lại chi phối nghệ thuật quân sự. Muốn có nghệ thuật quân sự toàn dân chiến đấu phải có chính nghĩa, phải có dân ủng hộ, quốc gia tinh lực, phải có quân đội có tinh thần yêu nước bảo vệ nhân dân, phải có quan điểm dựa vào dân như Trần Hưng Đạo đã nói: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục - cả nước chung sức”, “... khoan thư sức dân, làm kế sâu gốc bền là thượng sách để giữ nước”.

Trong Bình Ngô đại cáo có câu:

“Thế giặc mạnh, ta yếu mà ta địch nổi,
Quân địch nhiều, ta ít mà ta được luôn.
Cho hay, đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân mà thay cường bạo”

Bộ đội Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng, rèn luyện, luôn phát huy truyền thống “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc”.

Nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân thời Lê Lợi thể hiện ở việc vây thành, tỏa quân ra đánh ngụy quân ngụy quyền ở cơ sở, nghệ thuật sức dùng một nửa mà công gấp đôi vừa giành được dân, giải phóng vùng đất đai rộng lớn, vừa nhanh chóng xây dựng được lực lượng vũ trang. “Thế trận làng nước” là biểu hiện của tư tưởng quân sự này. Trong chiến tranh chống Pháp, việc tổ chức các đại đội độc lập đưa về các huyện để xây dựng cơ sở chính trị và dân quân du kích năm 1947, cũng như việc đưa hai đại đoàn vào địch hậu trong chiến dịch Hòa Bình năm 1951. Trong chiến tranh chống Mỹ giải phóng miền Nam, việc phân tán đơn vị chủ lực đi xây dựng cơ sở chính trị và phát động du kích chiến, thực hiện chủ trương tiêu diệt địch để giành quyền làm chủ, giành quyền làm chủ để tiêu diệt địch, đã chứng tỏ rằng Bộ tư lệnh tối cao của Việt Nam luôn nắm vững nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc.

Đặc biệt, trong chiến tranh giải phóng miền Nam, Đảng ta đã vận dụng khéo léo tài tình nghệ thuật này, kết hợp các mặt đấu tranh một cách linh hoạt, tùy theo tình hình cụ thể. Khi thì lực lượng chính trị giữ vai trò chủ yếu, có lực lượng vũ trang làm chỗ dựa, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, tiến hành khởi nghĩa từng phần như trong phong trào “Đồng khởi”. Khi thì kết hợp chặt chẽ lực lượng vũ trang với lực lượng chính trị, đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, khởi nghĩa vũ trang với chiến tranh cách mạng thích hợp với điều kiện cụ thể của từng thời kỳ như trong cuộc chiến đấu chống các chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ”, “chiến tranh Việt Nam hóa” của Mỹ trong quá trình kháng chiến chống Mỹ.

Trong quá trình chỉ đạo cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam, nghệ thuật này đã phát huy tác dụng hết sức to lớn. Luận điểm thiên tài của Ăng-ghen về phương thức tiến hành chiến tranh của một dân tộc nhỏ đã được thể hiện một cách sinh động và phong phú, muôn màu muôn vẻ.

Sự kết hợp hai hình thức đấu tranh này không chỉ thực hiện trong lĩnh vực chiến lược, mà cả trong lĩnh vực chiến dịch và chiến đấu trên chiến trường. Đảng ta đã từng chỉ rõ: nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy là quy luật chung, mà đỉnh cao phát triển của nó là tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Những cuộc tiến công quân sự phải kết hợp với nổi dậy của quần chúng, những cuộc nổi dậy của quần chúng cũng phải kết hợp với tiến công quân sự thì mới phát huy được sức mạnh tổng hợp lớn để đánh thắng địch.

Khi cuộc chiến tranh cách mạng phát triển ngày càng quyết liệt quy mô ngày càng lớn, ta đã nắm vững quy luật chiến tranh là phải tiêu diệt và làm tan rã lực lượng quân sự của địch, bao gồm cả sinh lực và phương tiện chiến tranh, nhất là quân chủ lực, chỗ dựa chủ yếu của chính quyền phát xít tay sai của đế quốc Mỹ. Tiêu diệt để làm chủ, làm chủ để tiêu diệt, làm suy yếu, tiến tới đè bẹp lực lượng quân sự và bộ máy kìm kẹp của địch thì mới tạo được điều kiện thuận lợi cho quần chúng nổi dậy. Chỉ trên cơ sở tiêu hao, tiêu diệt ngày càng nhiều sinh lực lớn của địch, đánh bại các cuộc phản kích của chúng, thì ta mới giành được quyền làm chủ cho nhân dân trên phạm vi ngày càng rộng. Ngược lại, giành và giữ vững quyền làm chủ sẽ tạo ra thế và lực mới để tiến lên tiêu diệt lực lượng địch lớn hơn.

Trong quá trình tiến hành chiến tranh giải phóng ở miền Nam, nghệ thuật quân sự Việt Nam đã phát triển lên một trình độ cao, xuất hiện nhiều loại hình chiến dịch khác nhau, như những chiến dịch tiến công của các binh đoàn chủ lực trên chiến trường có lựa chọn nhằm tiêu diệt lực lượng quân sự địch; những chiến dịch tổng hợp trên mặt trận nông thôn, đồng bằng, kết hợp tiến công quân sự với khởi nghĩa vũ trang của cả lực lượng quân sự và lực lượng chính trị nhằm đánh bại kế hoạch “bình định”, đập tan hệ thống kìm kẹp của địch, giải phóng các vùng nông thôn và tiêu diệt lực lượng quân sự địch; những chiến dịch lớn đánh vào đô thị, hoặc những chiến dịch tổng hợp lớn trên mặt trận đô thị, đánh vào cơ quan đầu não của địch, kết hợp vây hãm, tiến công quân sự với khởi nghĩa vũ trang để giải phóng thành phố, thị xã.

Những trận chiến đấu nhằm tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ được tiến hành bằng nổi dậy của quần chúng và tiến công quân sự, không phải là hiếm trong cuộc chiến tranh vừa qua.

Đặc biệt là sau khi Hiệp định Pa-ri về Việt Nam được ký kết, từ năm 1973 trở đi, không những ta đã đập tan các chiến dịch lấn chiếm, bình định của địch, giữ vững vùng giải phóng, mà còn chuyển sang những chiến dịch tiến công tổng hợp, phá vỡ từng mảng hệ thống kìm kẹp của địch ở các địa bàn xung yếu, uy hiếp mạnh các vùng ven thành phố và nhiều thị trấn, thị xã.

Ta đã kiên quyết đẩy mạnh các cuộc tiến công và nổi dậy, mở rộng diện tiêu diệt và tiêu hao lực lượng quân sự địch trên nhiều căn cứ, chi khu, phân chi khu quân sự, kết hợp với việc xóa bỏ hệ thống kìm kẹp của địch ở ấp, xã, giành dân và giành quyền làm chủ.

Ta đã dồn địch vào thế bị bao vây, căng kéo, buộc địch phải phân tán lực lượng để đối phó khắp nơi, không còn khả năng cơ động trên các địa bàn hành quân trọng điểm và không có đủ lực lượng tăng viện, ứng cứu cho các chiến trường khác. Lực lượng bảo an, dân vệ liên tục bị tiêu hao và tan rã, không đủ sức đương đầu với lực lượng vũ trang cách mạng và lực lượng chính trị của quần chúng. Hàng loạt đồn bốt, hệ thống chiếm đóng và bình định của địch bị phá vỡ.

Trong các trận chiến đấu và chiến dịch, ta đã đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh vận. Tiến công binh vận kết hợp với tiến công quân sự và tiến công chính trị cũng là một mũi tiến công chiến lược rất sắc bén, có hiệu lực cao, với nhiều hình thức phong phú, linh hoạt diễn ra cả ở nông thôn và thành thị.

Đặc biệt, ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng ven biển miền trung, ở nhiều thành phố, thị xã khác, những thắng lợi rực rỡ của ba mũi giáp công, những cuộc nổi dậy bùng nổ dây chuyền đã phát huy sức mạnh rất lớn. Kết hợp với các mũi tiến công quân sự, hàng vạn quần chúng đã bao vây, gọi hàng, đánh chiếm các quận lỵ, trụ sở ngụy quyền, giành quyền làm chủ. Lực lượng vũ trang của ta đã mở những cuộc tiến công vào các mục tiêu quân sự then chốt, làm đòn bẩy thúc đẩy, hỗ trợ đắc lực cho phong trào nổi dậy của quần chúng.

Các đội du kích, dân quân, tự vệ vũ trang phát triển rộng khắp đã cùng đồng bào tích cực bao vây, tiến công tiêu diệt địch trong các đồn bốt, diệt ác, trừ gian, làm chỗ dựa cho quần chúng nổi dậy phá ách kìm kẹp của địch. Bộ đội địa phương và dân quân, du kích, tự vệ còn là lực lượng nòng cốt để xây dựng chính quyền địa phương, xây dựng lực lượng và các đoàn thể cách mạng.

Các chiến dịch và các trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng quy mô lớn đã tạo thành những quả đấm rất mạnh, có sức đột kích lớn, sức cơ động cao, sức chiến đấu liên tục, có khả năng đánh tiêu diệt lớn.

Với lối đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, bộ đội chủ lực của ta đã thực hiện đánh tiêu diệt lớn, phá vỡ hệ thống phòng ngự chiến lược của địch, giải phóng các địa bàn quan trọng, tiêu diệt và làm tan rã từng bộ phận quan trọng của địch, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang địa phương và lực lượng chính trị nổi dậy giành quyền làm chủ.

Vào thời kỳ cuối của cuộc chiến tranh, chúng ta đã nắm vững quy luật của phong trào cách mạng của quần chúng, phát triển phong trào đấu tranh chính trị thành cao trào, khi có điều kiện đã kịp thời nắm vững thời cơ, phối hợp với tổng công kích mà thực hiện nổi dậy đều khắp, đánh đổ chính quyền của địch ở nhiều vùng nông thôn rộng lớn và ở cả đô thị, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long.

Nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc tạo ra một tương quan thế lực khác hẳn giữa ta và địch so với nghệ thuật quân sự thông thường.

Do đó, trong khi đánh giá tình hình, so sánh tương quan địch, ta, kẻ địch xâm lược không bao giờ so sánh đúng tương quan thực tế, luôn luôn bị nghệ thuật quân sự cổ điển của chiến tranh giữa hai quân đội chi phối. Chỉ khi kết thúc chiến tranh, trong hồi ký của họ, họ mới cảm thấy có lúc 90% lực lượng của họ đã bị căng ra để giữ hậu phương, chống du kích và nhân dân, để thực hiện bình định hậu phương. Và ngay cả trong cán bộ của ta, cũng có hiện tượng không nắm vững nghệ thuật quân sự độc đáo này. Hiện nay trong công tác tham mưu, trong điều lệnh chiến đấu, sách giáo khoa của ta, vấn đề phán đoán tình hình so sánh lực lượng cũng chưa được thể hiện một cách đầy đủ. Đây còn là một vấn đề khoa học chưa được giải đáp trong hoạt động cụ thể của người chỉ huy quân sự của chúng ta.

Nghệ thuật quân sự “thế thắng lực”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích mối quan hệ giữa thế và lực như sau:

“Quả cân chỉ có một ki lô gam ở vào thế lợi thì lực nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm tổng được một vật nặng hàng trăm ki lô gam. Đó là thế thắng lực. Ta đánh Mỹ lấy ít thằng nhiều được là nhờ cái thế của ta rất lợi. Thế ta thắng đã rõ ràng, thế địch thua đã rõ ràng”1. Như vậy là Hồ Chủ tịch nói, lấy ít thắng nhiều được là nhờ cái thế có lợi. Nguyễn Trãi viết: “Người dùng binh giỏi là ở chỗ biết rõ thời thế mà thôi. Được thời, có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn, mất thời không thế thì mạnh hóa ra yếu, yên lại thành nguy, sự thay đổi ấy chỉ trong khoảng trở bàn tay mà thôi”. Và Hồ Chủ tịch lại còn viết trong “Nhật ký trong tù”

“Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ,
Kiên quyết không ngừng thế tiến công.
Lạc nước hai xe, đành bỏ phí,
Được thời, một tốt cũng thành công”

Nghệ thuật quân sự của Việt Nam lấy ít địch nhiều, nhỏ thắng lớn hoàn toàn đối lập với nghệ thuật quân sự truyền thống của các quân đội mạnh của các nước đông người, tiềm lực lớn, quân đông và trang bị kỹ thuật tốt hơn đối phương. Cho nên, những nhà quân sự lỗi lạc của Trung Quốc như Tôn Tử, Mao Trạch Đông lại nêu những nguyên tắc khác hẳn. Tôn Tử viết: “Phép dùng binh là: có binh lực gấp mười lần thì bao vây, gấp năm lần thì tiến công, gấp đôi thì bắt địch phân tán, bằng ngang thì cũng có thể đánh được, nhưng nếu như binh lực ít hơn thì rút lui, yếu hơn thì tránh. Cho nên lấy binh lực nhỏ mà đánh liều thì sẽ trở thành tù binh của kẻ địch”.

Theo Mao Trạch Đông, khi đánh địch thì phải tập trung lực lượng gấp ba lần trở lên, có khi đến chín, mười lần hơn địch. Nguyên tắc chỉ đạo tác chiến chỉ có thể chính xác, đem lại hiệu quả, nếu nó xuất phát từ quy luật khách quan mà quy luật của chiến tranh là mạnh được yếu thua. Lực lượng là một yếu tố quan trọng để có sức chiến đấu thắng địch, lực lượng đông hơn thì dễ thắng, đó là lẽ thường tình, cho nên ta mới có tục ngữ “Ba đánh một chẳng chột cũng què”. Nhưng trong chiến tranh đánh giặc giữ nước của ta nói chung, lực lượng đối phương thường đông hơn ta mà chúng lại chịu thất bại. Trong chiến đấu, nếu không biết sử dụng lực lượng khéo léo thì có khi có lực lượng đông hơn mà không giành được chiến thắng.

Khi lực lượng ít hơn mà muốn thắng kẻ thù đông hơn thì nghệ thuật quân sự lại càng phải cao hơn. Đó chính là yêu cầu có tính nguyên tắc của nghệ thuật truyền thống quân sự Việt Nam. Đó là nghệ thuật lấy thế ta để phá thế địch, để với một lực lượng ít hơn, tạo ra một sức mạnh chiến đấu lớn hơn địch, giành chiến thắng. Thế - có thế chiến tranh, có thế chiến đấu.
_______________________________________
1. Hồ Chủ tịch nói chuyện với cán bộ cấp cao trong quân đội, tháng 5 năm 1969. 

Đứng về chiến tranh, qua quá trình lịch sử, ta thấy thế chiến tranh đã đem lại chiến thắng cho dân tộc là:

Chiến tranh nhân dân tạo ra một thế chiến tranh xen kẽ, cài răng lược triệt để, nên quân đội địch vào đất nước ta bị chia cắt, bao vây, bị tiến công từ mọi phía ở khắp mọi nơi, đâu cũng là chiến trường, không có chiến tuyến, không có hậu phương an toàn. Địch buộc phải phân tán chiếm đóng, bị động đối phó, muốn đem lực lượng mạnh, với thế sở trường, dùng bom đạn, phương tiện khí giới tốt hơn đánh tiêu diệt đối phương, giải quyết chiến tranh nhanh mà không thực hiện được. Thế trận chiến lược này tạo nên sức mạnh chiến tranh to lớn, đã đánh bại quân xâm lược mạnh nhất đương thời, như trong chiến tranh nhà Trần chống Mông - Nguyên và chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ xâm lược trong thời đại Hồ Chí Minh. Đây là thể hiện thế chiến lược của ba thứ quân, của toàn dân chiến đấu, của thế trận làng nước. Đó là thế trận của nghệ thuật sử dụng lực lượng toàn dân và phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân, nghệ thuật sử dụng không gian của chiến tranh.

Trần Quốc Tuấn đánh giá quân Nguyên xâm lược lần thứ hai năm 1285, như sau:

“Nguyên Binh thế nhuệ đang hăng,

Kíp đánh thắng, chẳng bằng kiên thủ chờ suy”.

Trương Phổ cũng nhận định về cuộc chiến tranh của quân Nguyên xâm lược Đại Việt như sau: “Quân Thoát Hoan tuy có ngựa mạnh rong ruổi nhanh như chớp, đánh thành, phá ấp, nhưng giữa đường phải quay giáo tháo lui, quân lính bị tan tác trong chốn của quân kia... Trần Nhật Huyên giấu mình nơi biển khơi, giấu quân chốn ải hiểm, tránh cái thế hăng hái lúc ban mai, đánh khi tàn lụi, buổi chiều”.

Như vậy, ta thấy rõ, trong chiến tranh đánh kẻ địch mạnh không phải cứ đem quân đánh chọi ngay từ buổi đầu địch tới, lúc chúng khí thế đang hăng, lực lượng hùng hậu, mà phải tạo ra thế trận đánh kìm địch, tiêu hao, làm cho chúng mệt, lâm vào thế khó khăn, đánh không được, ở không xong, mà đánh lúc chúng mệt, phải rút lui. Chính đó là nghệ thuật sử dựng thời gian để tạo thế, chuyển tương quan lực lượng mà lực ít thắng được quân đông hơn. Đó cũng chính là tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta trong đánh Pháp, khi tương quan thế lực ban đầu địch hơn ta, thì phải phát động chiến tranh toàn dân, trường kỳ kháng chiến để thay đổi tương quan thế lực thì mới có thể thắng được. Lấy trường kỳ thắng tốc quyết, lấy du kích chiến kết hợp với chính quy chiến và khởi nghĩa của nhân dân để thắng một quân đội mạnh hơn và có tổ chức hơn. Đó là nghệ thuật sử dụng thời gian trong chiến tranh, nghệ thuật tạo thế, trường kỳ kháng chiến đi tới thắng lợi. Điều này hoàn toàn trái ngược với binh pháp của Tôn Tử và nghệ thuật của quân xâm lược. Tôn Tử đã viết “trong cuộc binh chỉ nghe nói đến tốc quyết vụng về không nghe nói lâu dài khôn khéo. Chiến tranh kéo dài mà có lợi cho quốc gia là việc không có thế”1.
Luôn luôn chú ý đến thế để quyết định việc lấy yếu thắng mạnh, nên Trần Hưng Đạo, trong Binh thư yếu lược mới nêu bí quyết của phép binh: “Địch đem quân đến, thế không thể ở lâu được thì ta cầm. Thế bách kíp muốn thắng ngay thì ta cầm. Nó ở thế hiểm, ta ở thế yếu thì ta cầm. Thiên thời sắp hại, địa nạn sắp hãm, nhuệ khí sắp nhụt thì ta cầm, làm cho nó đã mệt, bấy giờ ta mới nổi dậy mà đánh thì sức vẹn mà công nhiều... Đó là điều bí của binh pháp”.

Đúng về tác chiến mà xét, ta lại có thế chiến đấu.

Nguyễn Trãi đã từng viết: “Ít địch nhiều thì thường mai phục, yếu đánh mạnh hay đánh bất ngờ”.
Trong trận Trà Long, Lê Lợi chủ trương “Giặc đông ta ít, lấy ít đánh đông, chỉ ở nơi đất hiểm mới lập được công”.

Trong kháng chiến chống Pháp, Mỹ, chiến thuật thường dùng của lực lượng vũ trang ta, kể cả chủ lực và dân quân du kích, là phục kích và tập kích, đánh nhanh giải quyết nhanh trong thế địch bị bất ngờ, trở tay không kịp, đông, mạnh mà phải chịu thua. Cách đánh bất ngờ “nở hoa từ trong lòng địch” của bộ đội đặc công là điển hình của cách lợi dụng sơ hở, quân đông mà không phòng bị, không kịp triển khai đối phó khi bị tiến công. Những trận chiến thắng lịch sử ở Chi Lăng, Bạch Đằng, đều do phía ta biết lợi dụng địa thế hiểm, có lợi cho mai phục. Khi địch trong thế thua chạy, tan vỡ, thì ta một đánh được mười. Các trận đánh khi địch rút lui của Trần Hưng Đạo ở Vạn Kiếp hay các trận đánh tiêu diệt hai binh đoàn Lơ-pa-giơ và Sác-tông ở Khôn Luông, Cốc Xá, cao điểm 477, khi chúng tháo chạy trong chiến dịch Biên Giới năm 1950, cũng như trận đánh của quân ta sau chiến thắng Buôn Ma Thuộc, lúc địch rút khỏi Tây Nguyên đều hiệu quả cao như vậy. Khi thế trận của địch đã bị vỡ, ta đã ở thế thừa thắng mà truy đuổi thì đó là thế chẻ tre. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, địch đã ở vào thế bị cô lập, cố thủ trong một thung lũng, bị ta bao vây, tiến công từ bốn phía. Địch ở thế thủ, bị động đối phó trong một thế chiến lược mà chúng buộc phải phân tán trên các chiến trường, không còn quân tăng viện cho Điện Biên Phủ, còn ta thì tập trung được lực lượng. Sau nhiều ngày bị tiến công liên tục, bị bao vây, lâm vào cảnh thiếu thốn, khổ sở, tinh thần chiến đấu càng ngày càng sa sút, cuối cùng phải đầu hàng, dù quân còn đông (trên một vạn). Trong khi đó quân ta càng đánh khí thế càng cao.
____________________________________
1. Binh pháp Tôn Tử, thiên 2, điều 7. 

Trong cuốn “Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam” đã được Hội đồng khoa học quân sự của Bộ Quốc phòng thông qua năm 1976, có viết về cách đánh chiến dịch của ta là: “sử dụng lực lượng, vận dụng mưu trí sáng tạo phương thức tiến hành chiến dịch, hình thành thế chiến dịch có lợi, nhằm phá thế địch, tiêu diệt địch”1.

Như vậy là trong chiến tranh và chiến đấu, địch có lực, có phương thức tiến hành chiến tranh, phương pháp hình thức chiến thuật, có thế chiến tranh, và thế chiến đấu, ta cũng có lực lượng (thường ít hơn), muốn chiến thắng đối phương ta phải có phương thức tác chiến, có thế trận lợi hại để phá thế, diệt địch.

Cách đánh lập thế, phá thế để diệt địch của ta bao gồm 5 nội dung:

1. Chọn hướng, khu vực, mục tiêu, đối tượng tác chiến.
2. Vận dụng phương thức tác chiến.
3. Tổ chức và bố trí lực lượng.
4. Chuyển hóa thế trận chiến dịch.
5. Tạo và nắm bắt thời cơ có lợi.

Mọi nội dung đều phải quán triệt yêu cầu lập thế và phá thế. Trong chọn hướng, mục tiêu, đối tượng chủ yếu, phải nhằm đánh trúng vào nơi có thể tạo ra phản ứng dây chuyền làm rung chuyển toàn bộ thế trận địch, tiến đến đòn quyết định nhất đánh bại hoàn toàn chúng. Nơi đó, trong nghệ thuật lập thế, phá thế khác với nghệ thuật quân sự chọn hướng chủ yếu của các quân đội đông, lấy nhiều hiếp ít là ở chỗ không đánh vào chỗ mạnh có đề phòng cẩn mật của địch, hướng chủ yếu của chúng mà là phải đánh vào nơi yếu nhưng hiểm yếu. Có khi phải chọn vào nơi hiểm yếu nhưng ở đó chúng mạnh hoặc tương đối mạnh nhưng khi đã đánh là địch phải rung chuyển thế trận, đảo lộn thế bố trí, làm cho địch rối loạn, hoang mang, tạo ra một phản ứng dây chuyền tiến đến đòn quyết định nhất, trong các trận, các chiến dịch lớn như trong chiến dịch Biên Giới năm 1950, ta đánh vào Đông Khê buộc địch phải rút Cao Bằng mà rơi vào thế trận đã bầy sẵn của ta ở Khâu Luông, tạo ra trận tiêu diệt lớn hai binh đoàn Lơ-pa-giơ và Sác-tông ở Khâu Luông, Cốc Xá, cao điểm 477.

Trong cuộc tiến công chiến lược mùa xuân 1975, bộ máy chiến tranh của địch được bố trí trên toàn bộ chiến trường miền Nam rộng lớn, làm thế nào chọn hướng và mục tiêu để đánh đòn chủ yếu quyết định tiêu diệt, làm tan rã địch trên quy mô lớn, phá vỡ thế bố trí chiến lược, tạo ra một phản ứng dây chuyền làm rung chuyển thế chiến lược, dẫn đến đòn quyết định nhất. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, ta đã chọn thủ đô ngụy là Sài Gòn - Gia Định làm phương hướng và mục tiêu chủ yếu quyết định số phận của ngụy quân và ngụy quyền. Nhưng với lực lượng có hạn, phải dùng 3 đòn liên tiếp có tác động dây chuyền thì việc chọn hướng và mục tiêu cho đòn mở đầu cuộc tổng tiến công có tác dụng thôi động là hết sức quan trọng, chứ không thể đánh mở đầu ngay vào Sài Gòn mà thắng được chiến tranh. Bộ Chính trị đã chọn Tây Nguyên là nơi địch yếu hơn cả, nhưng lại hiểm yếu, có tác dụng chia cắt chiến lược, cô lập quân khu I và khi cần có thể tập trung lực lượng nhanh vào hướng chủ yếu. Thắng lợi ở Tây Nguyên vừa có ý nghĩa tiêu diệt một lực lượng quân sự có ý nghĩa chiến lược, vừa có ý nghĩa phá thế phòng ngự hoàn chỉnh về chiến lược của địch và có khả năng thực tế tạo ra một thế mới để khuếch trương thắng lợi, chuyển thắng lợi cục bộ thành thắng lợi toàn bộ. Như vậy là bắt đầu vào nơi yếu nhưng hiểm yếu, kết thúc vào nơi quyết định nhất của phòng ngự chiến lược của địch là thủ đô của ngụy quyền.

Muốn phá vỡ thế địch, lấy ít thắng nhiều, phải có phương thức tác chiến đúng. Không thể đem phương thức của quân mạnh đánh quân mạnh mà làm được. Do đó, mới có chiến thuật phục kích, tập kích, đánh bất ngờ, mới có cách lập thế diệt quân lương, kết hợp với dân làm thanh dã, địch càng đông thiếu lương thực, nhiên liệu, càng nguy; dùng quân các lương hầu, hương binh đánh quân Mông - Nguyên làm chúng hao mòn, buộc địch rút chạy sa vào thế trận mai phục ở Bạch Đằng Giang. Cũng vì vậy mới có phương thức tác chiến chiến dịch đánh điểm diệt viện, điệu hổ ly sơn, điều địch, buộc chúng rơi vào cạm bẫy không lối thoát, không thể chỉ có một bài bản cứng nhắc trong trận mà phải mưu trí lừa địch, điều địch tránh chỗ địch mạnh, đánh vào chỗ yếu của nó, tìm chiến thuật, phương thức tác chiến chiến dịch phù hợp như Quang Trung dùng thế trận 5 mũi tiến quân, vừa đánh chính diện, vừa đánh thọc sâu vào đầu não, vừa bao vây vu hồi trong trận đánh quân Thanh năm 1789. Phương thức tác chiến dùng để phá thế địch bao giờ cũng phải có nhiều trận, đồng thời liên tục bảo đảm làm vỡ thế địch, tạo ra thời cơ buộc địch sa vào thế bất lợi, thế tan vỡ tháo chạy, tiến tới trận quyết định cuối cùng.

Giá trị của từng đòn, quy hoạch thứ tự và tập trung nỗ lực của từng đòn là hạt nhân trong quyết tâm để tạo ra sự phát triển bùng nổ dây chuyền mà trong nghệ thuật quân sự thường được gọi là sự tiếp nối của phá vỡ với khuếch trương chiến quả của nghệ thuật yếu đánh mạnh, ít địch nhiều.

Chúng ta thấy bài học này đã thể hiện, không những chỉ ở trận quyết chiến chiến lược kết thúc chiến tranh mà còn cả trong chiến lược giải phóng miền Nam suốt quá trình từ 1959 - 1960 đến khi kết thúc. Đồng chí Lê Duẩn đã viết trong thư gửi thành ủy Sài Gòn - Gia Định ngày 1-7-1967: “Trong quá trình chiến tranh cứu nước ở miền Nam, nếu ở giai đoạn đầu, đấu tranh chính trị và quân sự ở nông thôn đã có tác dụng quyết định giành thắng lợi từng bước và làm thay đổi lực lượng so sánh ngày càng có lợi cho cách mạng, thì ở giai đoạn cuối những đòn tiến công mãnh liệt về quân sự và chính trị ở thành phố đánh vào một trong những chỗ dựa cơ bản của địch, cũng là những đòn quyết định đánh bại hoàn toàn chính sách xâm lược của đế quốc Mỹ...”.
_________________________________
1. Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam, Viện khoa học quân sự xuất bản năm 1976, trang 65.

Khác với nghệ thuật quân sự của các nước có sức mạnh quân sự thường đánh vào chỗ mạnh bằng một đòn chết tươi, bài học nghệ thuật quân sự trong chiến tranh giải phóng, trong lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh này đã được Nguyễn Trãi, nhà lý luận thiên tài của dân tộc khái quát trong mấy câu thơ:

“Một tiếng trống, ngạc kình đứt đoạn
Hai tiếng trống, chim muông sợ tan
Tổ kiến hổng, làm tan đê vỡ.
Trận gió rung, rụng trút lá khô...”.

Nghệ thuật này đã được phát huy trong chiến tranh chống Pháp với đỉnh cao là chiến cục Đông Xuân 1953 - 1954 bằng năm đòn liên tiếp, buộc địch phân tán và đòn quyết định kết thúc chiến tranh chống Pháp ở Điện Biên Phủ. Trong chiến tranh giải phóng miền Nam, nghệ thuật này đã được phát triển lên đỉnh cao và còn có giá trị về sau này đối với chúng ta trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Thế trận được thể hiện trên cơ sở ta tổ chức và bố trí triển khai lực lượng cả quân sự, chính trị, cả 3 thứ quân vào một thế chiến lược hiểm và cơ động. Nòng cốt của thế trận này là thế trận của khối chủ lực trên các hướng gồm các quân đoàn, sư đoàn của các quân khu và của Bộ Tổng tư lệnh trong chiến cuộc Xuân 1975, ta bố trí 3 khối chủ lực lớn ở Tây Nguyên, Huế - Quảng Nam, miền Đông Nam Bộ, có khả năng giáng những đòn tiêu diệt lớn về chiến dịch trên từng khu vực và khi cần có thể tập trung nhanh chóng tạo nên thế áp đảo trên hướng quyết định.

Ngoài lực lượng chủ lực, ta đã biết tập trung các lực lượng vũ trang địa phương và lực lượng chính trị vào các thành phố, thị xã, quận lỵ, chi khu để sẵn sàng phối hợp với chủ lực khi có thời cơ.

Việc tổ chức bố trí lực lượng này đã tạo ra các khả năng.

Một là, vừa đánh được địch trên diện rộng, lại vừa tập trung được lực lượng đánh địch mạnh trên hướng chủ yếu, đánh được địch cả trên ba vùng chiến lược, rừng núi, đồng bằng, đô thị và khi cần, nhanh chóng tập trung vào đô thị, trung tâm quân sự, chính trị, kinh tế của từng vùng, cũng như toàn miền Nam, buộc địch phân tán lực lượng, kể cả khối chủ lực cơ động chiến lược, không sao tập trung nổi.

Hai là, thế trận có thể chia cắt chiến lược ở Tây Nguyên và miền Trung, bao vây, cô lập cụm quân phía Bắc, không cho địch rút lui co cụm chiến lược, không cho địch ứng cứu lẫn nhau.

Ba là, có thể cơ động lực lượng, tập trung nhanh chóng chớp thời cơ chiến lược mới xuất hiện vào hướng chủ yếu là Sài Gòn - Gia Định.

Bốn là, có thể cho phép ta bằng đòn tiến công mạnh vào nơi hiểm yếu của địch là Tây Nguyên, tạo nên một phản ứng mạnh làm cho địch rối loạn và suy sụp nhanh chóng, có tính chất dây chuyền ở từng khu vực cũng như trên quy mô toàn bộ chiến trường. Thế trận này vừa bảo đảm đánh địch trong phương án thời cơ, bảo đảm giành thắng lợi của cuộc tổng tiến công theo quy luật nhảy vọt của giai đoạn kết thúc chiến tranh.

Thế trận thể hiện nghệ thuật sử dụng lực lượng trong mối tương quan với kẻ địch cụ thể cả về lực và thế. Thế trận không phải chỉ là biết tập trung lực lượng vào địa điểm và thời cơ có lợi để đánh đòn tiêu diệt mà còn là biết phân tán địch cao độ, điều khiển được địch theo ý muốn của ta trong quá trình diễn biến tác chiến.

Thế trận vận động chuyển hóa trên toàn chiến trường chiến lược chứ không tĩnh tại ở một khu vực, một điểm. Nó bao gồm cả tập trung lực lượng ta, phân tán lực lượng địch, tạo nên sự phát triển dây chuyền từ phá vỡ đối phương đến khuếch trương thắng lợi và tiêu diệt địch khi thời cơ đến cho nên không nên hiểu thế trận chỉ là triển khai bố trí lực lượng lúc mở màn chiến dịch mà phải có nội dung chuyển hóa thế trận. Đây là một nội dung hoàn toàn khác với nội dung trong quyết tâm chiến dịch của các nước.

Vấn đế tạo thời cơ và nắm thời cơ: trong nghệ thuật đấu tranh cách mạng cũng như nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, Đảng ta rất coi trọng nhân tố thời cơ, coi thời cơ là lực lượng hết sức quan trọng.

Thời cơ do nhiều nhân tố phát triển đến chín muồi tạo thành, gồm cả nhân tố chủ quan và khách quan, cả về địch và ta, tác động lẫn nhau. Những nhân tố đó đều có quá trình phát triển tiệm tiến, ta có thể nhận thức được xu thế phát triển của nó. Muốn tạo và vận dụng thời cơ, phải nắm vững các nhân tố, nắm được quy luật, xu hướng phát triển của nó và phải có nỗ lực chủ quan để tác động, thúc đẩy chúng phát triển chín muồi, hạn chế những nhân tố không có lợi và nỗ lực chuẩn bị những điều kiện chủ quan để tận dụng thời cơ. Các chiến dịch biên giới 1950, Điện Biên Phủ 1954, cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, đặc biệt là tổng công kích và nổi dậy Xuân 1975 đều là những diễn biến thành công về sáng tạo và tận dụng thời cơ chiến lược một cách có ý thức và có hệ thống của ta trong cách đánh lập thế, phá thế tiêu diệt địch.

Thời cơ của trận quyết chiến chiến lược Xuân 1975 tạo ra bước nhảy vọt của chiến tranh đã được xác định trong quyết tâm của Bộ Chính trị tháng 1-1975, trên cơ sở phân tích các yếu tố địch, ta được xác định sau chiến thắng Buôn Ma Thuộc và Tây Nguyên. Trong Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 18 và 25 tháng 3-1975, đã xác định thời cơ chiến lược mới trên cơ sở các yếu tố sau:

- Một là tinh thần quân ngụy đã có bước sa sút mới, đòn Tây Nguyên làm rung động cả đồng bằng và đô thị.

- Hai là ta đã phá vỡ thế chiến lược phòng ngự của địch xây dựng từ 20 năm nay, buộc địch phải điều chỉnh, bố trí chiến lược.

- Ba là chỉ đạo của quân ngụy bắt đầu rối loạn và mất hiệu lực, có triệu chứng bước đầu của sự tan rã và suy sụp lớn.

- Bốn là khả năng can thiệp của Mỹ một lần nữa tỏ ra rất hạn chế.

- Năm là ta còn sung sức, khí thế ngày càng cao, lực lượng và khả năng chiến đấu tăng thêm, đã tạo ra một thế chiến lược mới rất cơ động và có lợi.

Trình độ chiến đấu của chủ lực đã có bước phát triển mới, có khả năng đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, giải quyết nhanh gọn một thị xã lớn và đánh tiêu diệt gọn từng đơn vị cấp sư đoàn của địch.

Như vậy, rõ ràng đến 24-3-1975 tổng số quân địch tuy còn lớn (trên 60 vạn), trong đó có 30 vạn quân chủ lực, gồm 10 sư đoàn và 8 trung đoàn, nhưng thế đã hoàn toàn khác.

Thời cơ chiến lược được tạo ra do hành động tích cực của ta mà thể hiện chủ yếu là đòn tiêu diệt lớn ở Tây Nguyên và nó cũng còn do địch phạm sai lầm nghiêm trọng về chiến lược và vội vã rút bỏ Tây Nguyên một cách thiếu tổ chức.

Thời cơ xuất hiện trong một thời gian nhất định, kịp thời nắm thời cơ chiến lược là một vấn đề quyết định của thắng lợi. Lúc này, thời gian là lực lượng, mọi hành động phải theo đúng phương châm “kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất, chắc thắng”. Chiến dịch Huế - Đà Nẵng và cả chiến dịch Hồ Chí Minh đều là sản phẩm nghệ thuật chỉ đạo tài tình về lập thế trận, tạo thời cơ mới liên tiếp trong quy luật nhảy vọt của giai đoạn kết thúc chiến tranh. Nằm thời cơ thể hiện ở chỗ nắm vững địch, đặc biệt là thế chiến lược của chúng, có dự kiến đối với sự phát triển tuần tự và nhảy vọt của chiến tranh, chiến dịch, có chuẩn bị mọi mặt cả lực lượng, vật chất, sẵn sàng ứng phó với tình thế, đồng thời nắm vững lực lượng dự bị chiến lược kịp thời cơ động lực lượng để khuếch trương chiến quả. Chỉ trong vài ngày, 40 vạn quân địch đã bị tiêu diệt. Điều đó không thể có được nếu không có thời cơ và không có sự chỉ đạo kiên quyết tài giỏi và nghệ thuật tổ chức chỉ huy, tập trung lực lượng, hiệp đồng tác chiến của chiến dịch chiến lược nhiều quân đoàn và phát động được các lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang địa phương phối hợp hành động.

Thời cơ tới, phải có sức mạnh của quần chúng, sự nhất trí từ trên xuống dưới và hành động nhanh chóng, kịp thời của các cấp chỉ huy binh đoàn đến phân đội và lãnh đạo chính trị các cấp xuống quần chúng nhân dân trong lực lượng chính trị.

Nghệ thuật tạo thời cơ, nắm thời cơ, có liên quan mật thiết đến nghệ thuật tạo lực lượng, sử dụng lực lượng và nằm trong nghệ thuật lập thế trận. Thời cơ thường được xuất hiện do thế trận của trận trước tạo ra cho trận tiếp nối và thế trận được hoàn thành trong quá trình vận động của thế trận lúc cuối cùng.

Lực - thế - thời là ba yếu tố có liên quan hữu cơ với nhau tạo ra chiến thắng, đặc biệt là đối với các cuộc chiến tranh, chiến dịch, chiến đấu mà lực lượng ta ít hơn đối phương thì thời, thế lại có tác dụng quyết định đến sự phát huy lực nhỏ thành sức mạnh lớn hơn địch để chiến thắng đối phương.

Tóm lại: Trong tác chiến, chiến tranh nhỏ có thể thắng lớn, ít có thể địch nhiều thì phải có thế lợi hơn địch. Muốn có thế lợi phải có thời thế, thiên thời, địa lợi, nhân hoà, quân đội phải có khí thế cao hơn, có kỹ chiến thuật, nghệ thuật giỏi hơn, quân ít mà tinh hơn, có kỷ luật nghiêm minh, tinh thần chiến đấu cao, chỉ huy giỏi, có mưu trí, linh hoạt, có tài cầm quân, phát huy được lực lượng có trong tay tức là phải có chất lượng cao, lại phải có cách đánh đúng, lợi dụng được mặt yếu của địch, hạn chế được cái mạnh của chúng, biết giữ bí mật, tận dụng địa thế có lợi, bố trí lực lượng thế trận hiểm theo một mưu kế đưa địch vào thế giả, thế bị động, bị điều khiển, đi từ thất bại này đến thất bại khác, từ mạnh chuyển sang thế yếu, lực kém, vỡ thế, rối loạn, tạo ra thời cơ quyết định để thừa thắng phát huy.

Thế là gì?

Có nhiều tài liệu nói về thế. Trong sách “bài giảng về đường lối quân sự của Đảng” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, có giải thích thế là hoàn cảnh điều kiện trong đó, hai bên tiến hành chiến tranh, là hình thái bố trí, triển khai và hoạt động của lực lượng hai bên trên chiến trường, là sự vận động tổng hợp của tất cả các yếu tố nói trên trong chiến tranh.

Tôn Tử viết trong chương V về thế của binh như sau: “Thế chỉ có hai là: Chính và Kỳ - nước chảy mạnh thì đá cũng trôi, đó là vì đúng thế... thế thì như cung đã dương... được thế tốt thì đánh với địch, như xoay gỗ, vần đá... Cho nên người thiện chiến tạo ra cái thế, cũng như lăn hòn đá tròn từ trên núi cao ngàn trượng (800 trượng) xuống. Đó tức là thế vậy”. Trong “Binh thư yếu lược” có giải thích về thế như sau “Cá lớn lội ở chỗ nước nông, bắt sống được chẳng cần chài lưới. Thú mạnh vào đồng nội, bắt tay được chẳng cần bầy hầm... Nhân họ (địch) sợ hãi, là để lấy một đánh mười... Thế mà nên có năm điều: 1. Thừa thế, 2. Khí thế, 3. Giả thế, 4. Tùy thế, 5. Địa thế.

Thế mà thua có ba điều: 1. Tỏa thế, 2. Chí thế, 3. Khinh thế với giải thích như sau:

Phàm khi mới đánh vỡ được quân địch lớn, tướng sĩ hăng đánh, uy danh lừng lẫy, địch nghe đều khiếp sợ, quay cái thế đó mà đánh người, đó gọi là thừa thế. Tướng có uy đức, bộ ngũ chỉnh tề, quân có đủ sức, tiếng tăm đều biết, mạnh như sấm sét đó gọi là khí thế. Quân lính ít ỏi, trông chờ rộn dịp, trương làm nghi binh, khiến địch sợ hãi, đó gọi là Giả thế. Nhân địch mệt, trễ nải mà đánh úp đó gọi là Tùy thế. Tiện cho can qua, lợi cho bộ kỵ, tổ chức trước sau, đó gọi là Địa thế. Người dùng binh mà nhận được năm thế ấy, chưa có ai là không thể theo kẻ trốn, đuổi kẻ thua mà dựng nên công to.

Thua nhiều trận, quan và quân sợ đánh giặc, đó gọi là Tỏa thể. Tướng không có uy đức, mưu kế, thưởng phát không đồng lòng, quan và quân phần nhiều tan rã, đó gọi là Chí thế; quan và quân ồn ào, không theo lệnh cấm, bộ ngũ không nghiêm, đó gọi là Khinh thế. Phàm dùng binh có ba điều ấy, chưa thấy có ai không tan quân, chết tướng bao giờ. Phàm được quân địch tỏa thế, thì có thể từ ngoài đánh được, địch bị chí thế thì có thể từ trong mà đánh, địch bị khinh thế thì có thể xông đánh, đó là tùy ba thế hại mà đánh vậy”.

Trong ngôn ngữ Việt Nam có nhiều từ nói về thế như: Tình thế, thời thế, xu thế, địa thế, ưu thế (thế lợi), thế chiến tranh, thế trận, thừa thế, khí thế. Trong các văn kiện tư liệu quân sự xưa nay, có nhiều nội dung nói về thế, như thế thắng, thế trên đầu thù, thế chẻ tre, thế trong miệng cọp, thế chiến tranh nhân dân, thế trận ba thứ quân, thế chủ động, thế bị động, thế bị bất ngờ, thế bí, thế đi lên, thế đi xuống.

Có người gọi thế là lực lượng với nghĩa như thời cơ là lực lượng, cơ động là lực lượng, cũng như trong kinh tế, người ta gọi thời gian là vàng bạc.

Tức là có thế lợi thì cũng như là lực lượng, được tăng thêm chứ không thể hiểu thế là lực lượng. Mà hiểu thế là cách đánh cũng không hoàn toàn chính xác.

Như vậy nghệ thuật “lấy thế thắng lực” là nhằm lập được thế ta, phá được thế địch, phải buộc địch đánh theo cách đánh của ta, bị điều khiển theo ý muốn của ta, mà ta lại tập trung được đánh đòn chủ yếu vào nơi hiểm yếu, trong lúc chúng phải phân tán. Các mặt mạnh của địch thì bị kìm chân, các mặt yếu bị ta khoét sâu, sở đoản của ta thì được khắc phục, sở trường lại được phát huy.

Thế trận vận động, chuyển hóa trên toàn chiến trường cbứ không tĩnh tại. Nó tạo ra sự phát triển dây chuyền từ phá vỡ địch đến khuếch trương thắng lợi và tiêu diệt địch, thời cơ địch ở thế thất bại rõ ràng, nguy cơ bị tiêu diệt bầy ra trước mắt, trong thế hoang mang rối loạn cao độ, không có cơ cứu vãn, nếu bị bồi ngay một đòn giáng quyết định cuối cùng. 

Tóm lại:

Trong chiến tranh, đấu tranh vũ trang là hình thức đấu tranh đặc trưng, mà lực lượng vũ trang bao giờ cũng đóng vai trò quyết định, quân đội nhất là bộ đội chủ lực luôn giữ vai trò chủ yếu trong việc tiêu diệt lực lượng đối phương.

Do đặc điểm cơ bản của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và giải phóng dân tộc của Việt Nam là luôn luôn phải chống kẻ thù xâm lược mạnh hơn, phải lấy ít địch nhiều lấy nhỏ đánh lớn cho nên dân tộc Việt Nam đã tạo ra một nghệ thuật quân sự riêng của mình qua mấy nghìn năm đấu tranh chống ngoại xâm.

Lịch sử Việt Nam chứng minh khi nào phát huy được nghệ thuật đánh giặc giữ nước truyền thống thì thắng.

Nghệ thuật đó được tập trung vào hai đặc trưng:

Một là, Nghệ thuật của toàn dân đánh giặc của chiến tranh nhân dân, lấy lực lượng vũ trang có chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc để chống lại những đội quân đông hơn, được trang bị tốt hơn của những nước có tiềm lực mạnh hơn. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị, đấu tranh toàn diện trên các mặt quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa tư tưởng, binh địch vận, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, và khởi nghĩa của quần chúng nhân dân là quy luật phát huy sức mạnh tổng hợp, là nguyên tắc.

Hai là, do lực lượng thường thua kém địch về số lượng và trang bị, nên nghệ thuật lấy thế mạnh để với lực nhỏ hơn thắng lực lớn hơn, là truyền thống quân sự của Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát là “lấy thế thắng lực”. Đặc trưng chủ yếu của nghệ thuật này:

- Tinh thần yêu nước của toàn dân, khí thế cao của lực lượng vũ trang bao gồm cả tinh thần chiến đấu, trình độ kỹ chiến thuật, tài nghệ chỉ huy theo quan điểm quý hồ tinh bất quý hồ đa, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông.

- Phát huy cái mạnh và cách đánh sở trường của ta không cho địch phát huy cái mạnh, cái sở trường của chúng, lấy cái mạnh của ta đánh thẳng vào chỗ yếu của địch mà Trần Hưng Đạo đã khái quát ngắn gọn “địch cậy trường trận, ta cậy đoản binh - dĩ đoản chế trường là lẽ thường của binh pháp”.

- Nghệ thuật đánh địch một cách chủ động tích cực mưu trí linh hoạt, sáng tạo, bí mật bất ngờ, luôn nghi binh lừa địch, điều địch vào thế bị bất ngờ, thế bất lợi, thế bí, buộc địch đánh theo cách đánh của ta.

- Tư tưởng tiến công là tư tưởng chỉ đạo trong mọi hình thức tác chiến, tiêu diệt địch là mục tiêu trong tác chiến để đạt mục đích.

- Tập kích, phục kích là hình thức chiến thuật phổ biến theo quan điểm:

“Yếu đánh mạnh hay đánh bất ngờ,

Ít địch nhiều thường dùng mai phục”.

Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam do quá trình lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, thường là kẻ địch mạnh hơn nên có những nét đặc sắc riêng của nó. Ngoài những điểm riêng, nghệ thuật quân sự của ta vẫn phải theo những nguyên tắc chung phù hợp với quy luật của chiến tranh và đấu tranh vũ trang mà mọi lực lượng vũ trang trong hành động tác chiến phải tuân theo.

Phải phát huy được nghệ thuật quân sự độc đáo này trong tác chiến với kẻ thù mạnh, hiện đại, có vũ khí chính xác, uy lực lớn và có sức cơ động cao, có đủ phương tiện hiện đại để phát hiện đối phương và có sức mạnh về chiến tranh điện tử hơn hẳn là một yêu cầu hết sức cấp thiết đối với quân đội Việt Nam.

Đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết trong cuốn sách về bài giảng “đường lối quân sự của Đảng”.

“Điểm nổi bật trong chỉ đạo chiến tranh của ta là phải biết phát huy cái mạnh và cách đánh sở trường của ta, không cho địch phát huy cái mạnh và cách đánh sở trường của chúng, lấy cái mạnh của ta đánh thẳng vào chỗ yếu của địch, liên tiếp phá tan âm mưu chiến lược của chúng”1.
_________________________________
1. Võ Nguyên Giáp, bài giảng về “đường lối quân sự của Đảng”, Viện khoa học quân sự, 1977, trang 404. 

II
MẤY VẤN ĐỀ VỀ ĐỊA LÝ QUÂN SỰ VIỆT NAM



Như mọi người đều biết, những phương pháp tiến hành chiến tranh, quá trình và kết cục của chiến tranh phụ thuộc vào trình độ xã hội, chính trị và kinh tế của các nước tham chiến, vào trình độ phát triển khoa học, tinh thần của nhân dân và sức mạnh của các lực lượng vũ trang. Nhưng các điều kiện tự nhiên và mức độ chuẩn bị vùng lãnh thổ mà ở đó có thể xảy ra các hoạt động tác chiến cũng ảnh hưởng rất quan trọng đến cuộc đấu tranh vũ trang.

Chiến tranh hiện đại là một hiện tượng xã hội phức tạp, nó đụng chạm đến mọi mặt đời sống và hoạt động của cả nước cũng như của liên minh nhiều nước. Nếu chiến tranh thế giới xảy ra, nó sẽ là cuộc xung đột vũ trang quyết liệt giữa hai hệ thống xã hội đối địch trên thế giới. Cuộc chiến quy mô lớn xâm lược nước ta nếu xảy ra, cũng có tính chất phức tạp và hủy hoại lớn. Với tính chất của một cuộc chiến tranh như thế thì tri thức của khoa học quân sự không thể chỉ giới hạn ở những phương thức tiến hành đấu tranh vũ trang, mà khoa học quân sự còn phải quan tâm đến những khả năng chính, kinh tế, tinh thần và quân sự của các nước như của liên minh các nước, phải quan tâm đến những điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh xã hội ở các vùng có thể xảy ra tác chiến.

Những yêu cầu trên đây phải được các ngành khoa học, trong đó có địa lý quân sự, cùng nghiên cứu. Do đó, nghiên cứu địa lý quân sự Việt Nam chính là góp phần giải đáp những vấn đề mà khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự đề ra.

Từ những điều kiện tự nhiên, điều kiện chính trị - quân sự và kinh tế - quân sự của đất nước Việt Nam, có thể rút ra những kết luận về ảnh hưởng của nhân tố địa lý quân sự đến các hoạt động quân sự dưới đây.


VIỆT NAM GIŨ VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC QUAN TRỌNG TRONG KHU VỰC ĐÔNG NAM Á VÀ ĐẶC BIỆT LÀ Ở ĐÔNG DƯƠNG

Về vị trí địa lý, Việt Nam nằm ở phía Đông của bán đảo Đông Dương kéo dài từ bắc xuống nam theo chiều dài của bán đảo, là cửa ngõ của Đông Nam Á; là cái cầu nối liền phần lục địa của Đông Nam Á với các quần đảo bao bọc quanh biển Đông; là đầu mối giao thông quan trọng của những con đường biển quốc tế đi từ Ấn Độ Dương lên phía Bắc Thái Bình Dương, từ bán đảo Đông Dương đến các quần đảo ở châu Đại Dương và khống chế một ngã tư đường biển trọng yếu. Một đầu của đất nước nằm ở phía Bắc của bán đảo Đông Dương, Việt Nam có tác dụng án ngữ các con đường từ Trung Quốc xuống các nước Đông Nam Á. Chiều dài của đất nước nằm ở phía Đông của bán đảo, Việt Nam như một chiếc áo giáp che chở cho Lào và Cam-pu-chia ở hướng biển Đông.

Về chính trị, Việt Nam là một nước ở Đông Nam Á đã đánh thắng hai tên đế quốc đầu sỏ là đế quốc Pháp và Mỹ nên cách mạng Việt Nam có tác động đến Lào và Cam-pu-chia và có ảnh hưởng đến phong trào cách mạng ở các nước Đông Nam Á.

Từ xưa đến nay, bất cứ một tên xâm lược nào, dù là ở phương Bắc hay là các nước ở phương Tây, có tham vọng bành trướng ra vùng Đông Nam Á đều coi chiến trường Đông Dương là một địa bàn cần chiếm lấy để cướp đoạt những tài nguyên giầu có, dùng xứ sở này làm nơi cung cấp cho chiến tranh và làm bàn đạp đánh ra các nước ở Đông Nam Á. Do đó đối với các nước trên bán đảo Đông Dương, nếu kẻ địch đã thôn tính được nước này thì cũng đồng thời sẽ uy hiếp nước kia.

Chính vì thế mà ba dân tộc Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia đã từng chiến đấu bên nhau để bảo vệ sự tồn tại và phát triển của dân tộc mình.

Ngày nay, ba dân tộc Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia đã giành được độc lập hoàn toàn, có nhà nước của mình. Cho nên mối quan hệ chiến lược giữa ba nước trên bán đảo Đông Dương trong điều kiện mới là một yêu cầu tất yếu của cả ba nước, là nhân tố quan trọng bảo vệ hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ ở Đông Nam Á và trên thế giới.

ĐỊA HÌNH CHỦ YẾU Ở VIỆT NAM


Ở Việt Nam, rừng núi chiếm 3/4 diện tích đất liền, gồm có nhiều vùng:

Vùng Đông Bắc nằm ở phía tả ngạn sông Hồng, độ cao từ 200 đến 1.000 mét, phần lớn là 500 mét; khu vực thượng lưu sông Chảy, sông Lô, sông Gấm tiếp giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) cao trên 1.000 mét, có những đỉnh cao trên 2.000 mét, là khu vực cao nhất vùng Đông Bắc. Độ chia cắt sâu tới 700 - 800 mét, sông suối cách nhau 500 - 600 mét.

Vùng Tây Bắc nằm ở phía hữu ngạn sông Hồng, là vùng núi cao nhất cả nước, phần lớn có độ cao trên dưới 1.500 mét.

Dải núi Hoàng Liên Sơn kéo dài 180 km với những đỉnh cao trên dưới 3.000 mét; dải núi sông Mã dọc theo biên giới Việt - Lào dài 500 km với những đỉnh cao tới 1.800 mét và vào đến Thanh Hóa, Bắc Nghệ An vần còn cao tới 1.000 - 1.500 mét. Nằm kẹp giữa hai dải núi trên là dải Cao nguyên đá vôi xen kẽ núi, rộng 10 - 25 km, dài 400 km từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Thanh Hóa, cao trên dưới 1.000 mét.

Độ chia cắt sâu ở Tây Bắc từ 750 - 1.000 mét, sông suối cách nhau 600 - 750 mét. Vùng Trường Sơn Bắc từ thung lũng sông Cả đến đèo Hải Vân, nằm trong một địa bàn hẹp bề ngang nhất cả nước, là vùng núi thấp, hiểm trở với sườn phía Đông dốc mạnh chạy sát ra tới biển; sườn phía Tây thoải dần về phía sông Mê Công. Độ cao từ 800 đến 2.000 mét. Độ chia cắt sâu từ 500 đến 1.000 mét, sông, suối cách nhau 450 đến 600 mét.

Vùng Trường Sơn Nam và Tây Nguyên từ đèo Hải Vân đến hết cực Nam Trung Bộ gồm có núi xen kẽ các sơn nguyên và cao nguyên. Các cao nguyên phía Tây (Tây Nguyên) có độ cao khoảng 700 - 800 mét, dải núi chạy dọc rìa phía Đông của Tây Nguyên, cao trên 1.500 mét.

Trong các vùng rừng núi, những núi cao trên dưới 1.000 mét thường tập trung thành những khu vực lớn ở Hoàng Liên Sơn, thượng nguồn sông Chảy, dãy núi sông Mã, vùng cực Nam Trung Bộ; những núi thấp dưới 1.000 mét phân bố chủ yếu ở Đông Bắc, phần Tây Nam của vùng Tây Bắc, ở Trường Sơn Bắc và một phần ở cực Nam Trung Bộ.

Rừng ở nước ta bị khai phá nghiêm trọng, hiện nay rừng còn che phủ khoảng 30% diện tích cả nước với nhiều kiểu rừng khác nhau, từ rừng lá kim, rừng lá bản đến rùng hỗn hợp, rừng tre nứa và các loại rừng hình thành trong những điều kiện đặc biệt như rừng gỗ chai, gỗ nghiến trên núi đá vôi, rừng đước, vẹt trên đất mặn. Trong rừng thường nhiều tầng cây (nhiều nhất là 5 tầng cây), nhiều dây leo chằng chịt và mặt đất trong rừng hầu như bị phủ kín.

Viền quanh biên giới nước ta với Trung Quốc và Lào hầu hết là địa hình rừng núi. Địa hình rừng núi từ biên giới phía Bắc và phía Tây chuyển tiếp tới vùng đồi trung du là tấm áo giáp ôm lấy đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Thanh Hóa và là nơi tựa lưng cho các đồng bằng miền Trung.

Vùng đồi trung du cao từ 100 - 500 mét phân bố chủ yếu ở rìa Tây Bắc và Bắc của đồng bằng Bắc Bộ và rìa phía tây của đồng bằng miền Trung. Vùng đồi trung du bị khai phá từ lâu đời, lớp phủ rừng tự nhiên bị hủy hoại mạnh, nay chỉ còn lại lớp phủ tre nứa, cọ và sim, mua; nhiều nơi đồi bị trọc hoàn toàn. Đây là vùng thuận lợi để triển khai binh lực lớn, nó có vai trò quan trọng trong công cuộc phòng thủ bảo vệ đồng bằng và chi viện cho các vùng biên giới của đất nước. Tuy nhiên, diện tích cửa vùng đồi trung du không lớn, đáng kể là vùng đồi trung du Bắc Bộ (Phúc Yên, Bắc Ninh, Nam Bắc Giang và Nam Thái Nguyên).

Vùng đồng bằng chỉ chiếm gần 1/4 diện tích cả nước, phần lớn là những đồng bằng nhỏ hẹp, nằm giáp biển và có xu thế đang mở rộng ra phía biển như đồng bằng Bắc Bộ, và đồng bằng sông Cửu Long (hàng năm mở rộng ra phía biển gần 100 mét). Từ Bắc vào Nam là đồng bằng Bắc Bộ, diện tích 15.000 km2, gồm hai bộ phận: đồng bằng sông Thái Bình và đồng bằng sông Hồng, nằm lọt giữa các vùng đồi núi bao quanh, trừ phía Đông giáp với biển Đông; đồng bằng Thanh Hóa rộng 3.100 km2, ngăn cách với đồng bằng Bắc Bộ bởi dãy núi đá vôi Tam Điệp; đồng bằng miền Trung kéo dài trên 1.000 km theo dọc bờ biển, gồm các đồng bằng Nghệ Tĩnh rộng 3.400 km2; Nam Nghệ Tĩnh, 4.350 km2; Bình Trị thiên, 2.150 km2; Phú Khánh, 1.220 km2; Thuận Hải, 530 km2. Những đồng bằng này thường phân cách nhau bởi những dãy núi chạy theo hướng Tây - Đông và có thể lan sát ra tận biển như dãy Hoành Sơn, Bạch Mã. Cuối cùng là đồng bằng Nam Bộ, diện tích 63.000 km2, gồm 2 bộ phận: đồng bằng cao miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Tuy hai đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ lớn hơn cả, nhưng so với các phương tiện hỏa lực hiện đại thì cũng không phải lớn. Đồng bằng của ta phần lớn là cấy lúa nước, có nhiều vùng lầy, trũng, ngập nước. Mạng lưới sông ngòi ở đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa, trung bình 5 - 15 km có một sông rộng trên 20 mét, 2 - 5 km có một sông rộng trên 10 mét, 1 - 2 km lại có một mương máng rộng dưới 10 mét. Ở đồng bằng sông Cửu Long lại có thêm mạng lưới kênh, lạch chằng chịt, mật độ trung bình 2km/km2, có nơi 2 - 3km/km2, dọc bờ biển, cứ 20 km lại có gặp một cửa sông. Mạng lưới đường sá ở đồng bằng tuy có phát triển hơn ở vùng núi, nhưng phát triển cũng không đều, chất lượng còn kém, lại phải vượt qua nhiều cầu, phà, nên sử dụng xe tăng, xe cơ giới bị hạn chế.

Lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam từ xa xưa cũng như trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ, chiến trường chủ yếu để tiêu diệt địch cũng thường diễn ra ở rừng núi. Nhiều chiến dịch có tính chất chiến lược đã diễn ra ở vùng rừng núi như chiến thắng Chi Lăng năm 981, chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, chiến dịch Tây Nguyên năm 1975. Cũng có một số đòn chiến lược quyết định diễn ra ở vùng đồng bằng như trận đại phá quân Thanh tại Thăng Long của Quang Trung năm 1789, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975.

Do vậy, ở Việt Nam, địa hình rừng núi là địa hình cơ bản và phổ biến.

Đặc điểm địa hình rừng núi ở nước ta là bị chia cắt lớn: núi cao, vực sâu, khe núi hẹp, nhiều sông, suối (trung bình 3 - 10 km đường lại có một chướng ngại nước), rừng dày, rậm rạp; đường sá kém phát triển: đường sắt, đường ô-tô còn ít (mật độ đường ô-tô chưa tới 100m/km2), chất lượng đường kém, hay bị sụt lở, dễ gây ùn tắc. Các trục đường thường chạy theo hướng các thung lũng sông lớn (hướng Tây Bắc - Đông Nam) như sông Hồng, sông Đà, sông Mã... tạo nên những con đường độc đạo chạy từ biên giới phía Bắc về tới đồng bằng. Điều đó, một mặt tạo thuận lợi cho cơ động lực lượng lớn, mặt khác, cũng gây khó khăn không ít khi phải cơ động ngang theo hướng Tây - Đông, thậm chí cơ động giữa các khu vực trong vùng cũng gặp nhiều trở ngại (như Cao Bằng - Lạng Sơn, Cao Bằng - Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn - Lai Châu... ). Các đường ở vùng núi cách xa nhau từ 30 - 60 km, có chỗ tới 100 km, gây khó khăn cho hiệp đồng, chỉ huy cơ động lực lượng giữa các hướng, thậm chí có khi không thực hiện được. Khí hậu của Việt Nam nói chung và của vùng rừng núi nói riêng luôn có nhiều biến động: mưa nắng thất thường, dao động nhiệt độ trong tháng lớn. Trong phạm vi rừng núi cũng có nhiều vùng khí hậu khác nhau: vùng núi Đông Bắc có mùa đông lạnh nhất cả nước, độ ẩm trung bình cũng cao nhất, nên cũng là vùng ẩm ướt nhất; vùng núi Tây Bắc, mùa hạ đến sớm nhất trong nước và có nhiều hiện tượng thời tiết đặc biệt như: giông, mưa đá, sương mù và gió Tây khô nóng; vùng Bắc Trung Bộ có mùa mưa hoàn toàn không trùng với mùa hạ như ở đồng bằng Bắc Bộ; các thung lũng núi lớn ở phía Tây của vùng, khí hậu có phần khắc nghiệt hơn như ở Mường Xén (Nghệ An) là trung tâm hạn hán của cả nước...

Dân cư vùng rừng núi rất thưa thớt, làng bản ít, lại ở rất phân tán và cách xa nhau. Mật độ dân ở vùng núi Bắc Bộ: 50 người/km2, miền núi Thanh - Nghệ - Tĩnh: trên 40 người/km2, Tây Nguyên: 27 người/km2; Lai Châu, thấp nhất cả nước: 18 người/km2, huyện thấp nhất của Lai Châu là Mường Tè chỉ có 4 người/km2. Kinh tế ở vùng rừng núi kém phát triển...

Những đặc điểm trên đây của địa hình rừng núi có nhiều ảnh hưởng đến chiến đấu và tổ chức chiến đấu. Sự ảnh hưởng đó còn liên quan đến sự phát triển của phương tiện chiến đấu, đến tình hình và khả năng hoạt động của lực lượng vũ trang trong các điều kiện khác nhau của địa hình rừng núi.

Trong chiến đấu tiến công, địa hình rừng núi hạn chế việc sử dụng tập trung lực lượng lớn, tính cơ động và hiệu quả của các hỏa lực bắn thẳng, khó quan sát, hạn chế tác dụng của xe thiết giáp, pháo binh cơ giới, các phương tiện vận tải đường bộ..., do đó tốc độ tiến công không cao như ở địa hình thông thường. Địa hình mấp mô nhiều, lại hiểm trở, ít đường sá, bị những núi cao chia cắt, nên tác chiến với lực lượng lớn khó hiệp đồng.

Trong chiến đấu phòng ngự, có điều kiện phòng giữ, che giấu lực lượng, ngăn cản được hành động tiến công của địch. Lợi dụng địa hình hiểm trở, lấy ít đánh nhiều, có điều kiện xây dựng các công trình trận địa, các vật chướng ngại, nhưng do địa hình rộng, nhiều khe hở, bị che khuất, nên cũng dễ bị đối phương chia cắt, bao vây, vu hồi, tập kích bất ngờ...

Cần nắm vững những đặc điểm này để tận dụng những thuận lợi và khắc phục những khó khăn của địa hình rừng núi và nghiên cứu cách đánh cho phù hợp, đồng thời vận dụng những kinh nghiệm tác chiến của bộ đội ta trước đây trên địa hình này.

Xuất phát từ cách đánh, từ nhiệm vụ của đơn vị phải đảm nhiệm và đặc điểm của địa hình rừng núi mà tổ chức trang bị, huấn luyện cho thích hợp. Không nhất thiết biên chế đồng loạt cho các đơn vị có nhiệm vụ khác nhau và chiến đấu trên các địa hình khác nhau.

ĐỊA HÌNH CỦA VIỆT NAM DỄ BỊ CHIA CẮT CHIẾN LƯỢC VÀ CHIA CẮT TỪNG VÙNG


Hình thế của nước ta kéo dài theo hướng Bắc - Nam, từ điểm cực bắc (xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang) đến điểm cực Nam (xóm Rạch Tầu trên mũi Cà Mâu, tỉnh Minh Hải) dài 1.650 km. Hai đầu của đất nước mở rộng, đoạn giữa thon hẹp. Ở phía Bắc, chỗ rộng nhất từ bờ biển Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đến mỏm núi Khoan La San thuộc tỉnh Lai Châu dài 500 km; ở phía Nam chỗ rộng nhất từ xã Tân Phú huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đến xã Vĩnh Hi, huyện An Sơn, tỉnh Thuận Hải dài 380 km. Đoạn giữa rất hẹp, từ thung lũng sông Cả đến đèo Hải Vân là dải đất hẹp bề ngang nhất của nước ta với chiều rộng khoảng vài chục ki-lô-mét, chỗ hẹp nhất từ lũng Co Rong đến Đồng Hới thuộc tỉnh Quảng Bình, rộng 50 km.

Ở phía Tây Việt Nam có đường biên giới chung với hai nước Lào và Cam-pu-chia anh em khá dài, hàng mấy nghìn ki-lô-mét.

Ở phía Đông, Việt Nam có bờ biển dài 3.260km, từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan; những đồng bằng nằm sát biển thường bị ngăn cách nhau bởi những núi lấn sát ra biển. Đường giao thông Bắc - Nam chạy sát ven biển miền Trung dễ bị hỏa lực của không quân và hải quân địch khống chế, ngăn chặn cơ động Bắc Nam. Vùng biển của ta rộng gấp ba lần đất liền, lại tiếp giáp với hải phận của nhiều nước: phía Bắc, giáp với một phần hải phận của Trung Quốc, phía Đông, phía Nam và Tây - Nam giáp với hải phận của các nước Đông Nam Á: Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Cam-pu-chia và Thái Lan. Vùng biển của ta là một bộ phận xung yếu của Biển Đông - một biển đang có nhiều tranh chấp về chủ quyền và thềm lục địa, nên nhiều nước có âm mưu xâm chiếm.

Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, hướng đường biển phía Đông là một hướng chiến lược mà kẻ địch có thể tận dụng để tổ chức những chiến dịch đổ bộ bằng đường biển để đánh chiếm các đảo hoặc các bờ biển xung yếu như bờ biển vịnh Bắc Bộ, bờ biển Trung Bộ nhằm chia cắt chiến lược chiến dịch, buộc ta phải đối phó trên nhiều hướng và phải phân tán lực lượng.

Đặc điểm về địa hình dễ bị chia cắt có ảnh hưởng lớn tới sự bố trí lực lượng trên các hướng và ảnh hưởng đến việc bảo đảm mọi mặt để tác chiến cho các vùng khác nhau trong hoàn cảnh bị chia cắt.

Biển Đông, trong đó vùng biển Việt Nam chiếm một phần quan trọng (bằng 1/3 diện tích của Biển Đông), là một biển rộng gần 3,5 triệu km2 (đứng thứ ba trong các biển trên thế giới) và là một trong những biển quan trọng bậc nhất trên thế giới. Biển Đông là đầu mối giao thông quan trọng trên biển không chỉ cho những quốc gia có biển trong vùng Đông Nam Á, mà còn là đường giao thông nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương qua hai eo biển Ba Si và Ma-lắc-ca vừa ngắn, vừa an toàn hơn đường đi vòng qua châu Đại Dương, và cũng từ Biển Đông còn có thể qua các eo biển khác để tới các biển kế cận rồi ra đại dương như eo Đài Loan đến biển Trung Hoa, eo Ca-lim-man-ta đến biển Gia-va...

Sự vận chuyển trên Biển Đông rất thuận tiện, lại có nhiều vị trí neo, đậu tránh sóng, bão và để tiếp tế bổ sung nhiên liệu, thực phẩm, nước ngọt... Từ các nước trong vùng Biển Đông đến bờ biển Việt Nam bằng đường biển, đường không đều tương đối ngắn gọn do vị trí nước ta nằm gần chính giữa bờ phía Tây của Biển Đông. Với Việt Nam, Biển Đông chẳng những là đường thông thương với quốc tế mà còn là đường giao thông trong nước giữa Bắc và Nam.

Đường bờ biển phía Bắc và phía Tây của Biển Đông dài khoảng 7.600 km, trong đó đường bờ biển của Việt Nam dài gần bằng một nửa và nằm chắn gần hết bờ phía Tây. Do tính chất đường bờ biển khúc khuỷu, nên đã tạo thành những vịnh lớn, lớn nhất là vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan, cả hai vịnh đều có quan hệ mật thiết đến chủ quyền của Việt Nam, có nhiều căn cứ quân sự lớn quan trọng, có nhiều thương cảng lớn mà trong thời chiến có thể nhanh chóng biến thành các căn cứ hải quân.

Biển Đông có gần 20.000 đảo lớn nhỏ, trong đó Việt Nam có trên 3.000 đảo (đứng thứ 3 trong các nước có đảo ở Đông Nam Á). Các đảo và quần đảo liên kết thành từng cụm, từng tuyến chạy dài thèo đường kinh tuyến: tuyến đảo giáp Thái Bình Dương, tuyến đảo giữa Biển Đông, tuyến đảo gần bờ phía Tây của Biển Đông cũng phân bố thành từng tuyến, có tác dụng che chắn bờ biển, thuận tiện cho việc phòng thủ bờ biển, trong đó hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có tác dụng kiểm soát phần lớn Biển Đông và là hai tiền đồn bảo vệ suốt dải đảo và bờ biển của ta từ vịnh Bắc Bộ đến mũi Cà Mau.

Với vùng biển rộng, đường biển dài, có nhiều đảo, lại là bộ phận xung yếu của Biển Đông, một biển có vị trí chiến lược quan trọng trong vùng Đông Nam Á và Thái Bình Dương, ta cần phải xây dựng lực lượng hải quân mạnh để bảo vệ vững chắc vùng biển và hải đảo, bảo đảm cho nước ta không bị bao vây tứ phía, ngăn chặn mũi tiến công từ phía Biển Đông và cũng là để phá vỡ thế bị chia cắt chiến lược.

Ở VIỆT NAM, CÁC HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN THƯỜNG THEO MÙA KHÍ HẬU

Chiến tranh bao giờ cũng diễn ra trong một không gian nhất định và trong một thời gian nhất định. Không gian rộng hay hẹp, thời gian ngắn hay dài là tùy thuộc vào mục tiêu và so sánh lực lượng của hai bên đối địch trong chiến tranh. Nhưng ở không gian nào và thời gian nào trong năm thuận lợi cho các chiến dịch lại còn do mùa khí hậu quyết định.

Hai yếu tố địa hình và khí hậu thời tiết luôn luôn có tác động đến hoạt động tác chiến của quân đội.

Khí hậu là một trong những yếu tố quan trọng nhất của địa lý tự nhiên, nó tác động sâu sắc đến địa hình như một nhân tố ngoại lực chính. Địa hình ở nước ta, như đã trình bày ở trên, 3/4 là rừng núi, có nhiều núi cao, vực sâu, khe núi hẹp, nhiều sông, suối, đồng bằng chiếm gần 1/4 diện tích cả nước nhưng có nhiều vùng trũng, nhiều sông ngòi, đầm lầy… Mưa to sẽ làm cho bề mặt địa hình thay đổi: sông ngòi lúc rộng lúc hẹp, bãi cát khi nổi khi chìm, sông, suối nhỏ cũng có thể biến thành sông rộng mênh mông, đất lở, đá trôi, phá hủy đường sá, gây nên ùn tắc..., gây nhiều trở ngại cho việc cơ động lớn.

Khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, khí hậu không đồng nhất, có sự phân biệt rõ rệt từ Bắc vào Nam, từ vùng đồng bằng lên vùng núi. Gió mùa ở nước ta đặc biệt phức tạp, tạo nên nhịp điệu mùa và sự phân hóa giữa các vùng khí hậu. Cả nước chia thành ba miền khí hậu lớn. Miền khí hậu phía Bắc tính từ dãy Hoành Sơn (đèo Ngang) trở ra Bắc, có hai mùa nóng, lạnh rõ rệt ứng với hai mùa: mưa và mùa ít mưa, khí hậu thời tiết rất không ổn định. Miền khí hậu phía Đông Trường Sơn từ đèo Ngang đến khoảng vĩ tuyến 12 độ vĩ Bắc (tỉnh Phú Yên), có mùa mưa ẩm lệch pha hẳn với toàn quốc cũng như với toàn bán đảo Đông Dương; mùa hạ ở các nơi trong nước thường là mùa mưa, trong khi đó ở đây những tháng đầu mùa hạ lại là những tháng khô hạn nhất. Miền khí hậu phía Nam bao gồm vùng Tây Nguyên và đồng bằng Nam Bộ, thể hiện rõ nét khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm hầu như chỉ có một mùa nóng với nhiệt độ, độ ẩm lớn và sự tương phản giữa mùa mưa và mùa khô sâu sắc nhất trong phạm vi toàn quốc (mùa mưa tập trung tới 90% lượng mưa cả năm), khí hậu ở đây ít biến động hơn nhiều so với hai miền khí hậu trên.

Trong mỗi miền khí hậu lại gồm nhiều vùng khí hậu khác nhau và có ảnh hưởng khác nhau đến các hoạt động tác chiến. Trong năm lại có nhiều loại mùa khác nhau: mùa nóng, mùa lạnh, mùa mưa, mùa khô, mùa bão và các loài mùa có tính chất địa phương khác nhau như mùa mưa phùn, mùa gió Tây khô nóng v.v..., trong đó mùa mưa, mùa khô có ảnh hưởng nhất tới các hoạt động tác chiến lớn.

Các nơi trên lãnh thổ nước ta đều có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Tuy thời gian bắt đầu và kết thúc có khác nhau giữa năm này với năm khác, giữa nơi này với nơi khác, nhưng mùa mưa đều chiếm tới 70 - 80% lượng mưa cả năm.

Mùa mưa thường kéo dài 5 - 6 tháng từ tháng 4, tháng 5 đến tháng 9, tháng 10, với độ xê dịch của các năm, từ nửa tháng đến một tháng và sự chênh lệch giữa vùng này với vùng khác có thể từ một đến hai tháng.

Mùa khô từ tháng 9 năm nay tới tháng 5 năm sau, tùy nơi, có xê dịch từ một đến một tháng rưỡi, là mùa ít mưa, lượng mưa không đáng kể, địa hình khô ráo, mức nước sông thấp, không có dông bão, ít mây, có nhiều sương mù.

Đặc biệt, thời gian mùa mưa của dải đất miền Trung ở phía Đông dãy Trường Sơn, từ đèo Ngang đến gần Cam Ranh, lại lệch pha với cả nước, tức là mùa mưa ở đây lại trùng vào mùa khô ở Bắc Bộ và Nam Bộ (mùa mưa ở dải đất này từ tháng 8 đến tháng 12, tháng 1 năm sau).

Như vậy, mùa khô là thời kỳ thuận lợi nhất cho các hoạt động tác chiến lớn trên không, trên biển, trên mặt đất. Tuy nhiên, trong đó kế hoạch phối hợp hoạt động giữa các chiến trường trên cả nước cũng như trong chỉ đạo tác chiến cụ thể, cần phải tính toán đầy đủ đến sự không đồng nhất về thời gian mùa của dải đất miền Trung so với cả nước.

Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, phần lớn những trận tiêu diệt địch có ý nghĩa chiến lược đều diễn ra vào mùa khô:

Trận Bạch Đằng, cuối năm 938; Trận Chi Lăng, cuối năm 981; Trận đánh thành Ung Châu, mùa xuân năm 1076; Trận Như Nguyệt, tháng 2 năng 1077; Trận Đông Bộ Đầu, tháng 1 năm 1258; Trận Vạn Kiếp, tháng 6 năm 1258; Trận Bạch Đằng, tháng 4 năm 1288; Trận Chi Lăng - Xương Giang, tháng 10 năm 1247; Trận Rạch Gầm - Xoài Mút, 1 năm 1785; Trận đại phá quân Thanh, tháng 1 năm 1789, v. v...

Các chiến dịch lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ cũng diễn ra vào mùa khô:

Chiến dịch Việt Bắc, tháng 12 năm 1947; Chiến dịch Biên Giới, tháng 10 năm 1950; Chiến dịch Hòa Bình, tháng 12 năm 1951 đến tháng 2 năm 1952; Chiến dịch Tây Bắc, cuối năm 1952; Chiến dịch Thượng Lào, đầu năm 1953; Chiến dịch Điện Biên Phủ, tháng 3 đến tháng 5 năm 1954; Cuộc tiến công Mậu Thận, đầu năm 1968; Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, tháng 3 năm 1971; Cuộc tiến công chiến lược đầu năm 1972; Cuộc tổng tiến công và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975.

Đứng về mặt quân sự, qua các sự kiện lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, thì tác chiến lớn theo mùa khí hậu đã trở thành hiện tượng có tính quy luật nói chung đối với các nước trên bán đảo Đông Dương và nói riêng với Việt Nam - những nước nằm trong miền nhiệt đới, ẩm, gió mùa.

VIỆT NAM CÓ TRUYỀN THỐNG ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC

Từ khi dựng nước, Việt Nam đã là một quốc gia có nhiều thành phần dân tộc, có thành phần đông người, có thành phần ít người, có thành phần bản địa có mặt từ buổi đầu lịch sử, có thành phần mới gia nhập trong những thời kỳ lịch sử khác nhau.

Hiện nay, dân nước Việt Nam có 54 dân tộc anh em, dân tộc Việt (Kinh) chiếm đa số (84% dân số), tập trung chủ yếu ở các vùng đồng bằng, các thành phố, thị xã, thị trấn. Các dân tộc ít người sống xen kẽ nhau ở các vùng rừng núi, trung du. Trong số các dân tộc ít người, có hàng chục dân tộc từ nhiều địa phương di cư đến Việt Nam và phần lớn là từ miền Hoa Nam (Trung Quốc) di cư sang bằng nhiều đường khác nhau, trong những thời gian lịch sử khác nhau, do những nguyên nhân như chiến tranh, loạn lạc, thiên tai, dịch tễ, đói khổ...

Trải qua hơn 4.000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước, thời gian chống ngoại xâm đã chiếm tới gần một nửa thời gian lịch sử (tức là trên 12 thế kỷ). Trong hầu hết các trường hợp, những nước đi xâm lược lại lớn hơn ta nhiều lần và thường diễn ra trong so sánh lực lượng rất chênh lệch. Nhưng dân tộc Việt Nam đã chiến thắng và ngày nay đã giành được độc lập và thống nhất đất nước một cách trọn vẹn.

Đó là ý thức dân tộc, tinh thần đoàn kết toàn dân đánh giặc, tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên quyết tiêu diệt quân cướp nước, sẵn sàng hy sinh vì đất nước, vì thắng lợi chung. Đứng trước nạn xâm lăng và nguy cơ mất nước, các thành phần dân tộc khác nhau đã tự nguyện đoàn kết để bảo vệ sự sống còn của đất nước. Các dân tộc ít người cùng hòa vào với dân tộc Việt Nam, cùng nhau đoàn kết chống xâm lược để bảo vệ đất nước và cũng là bảo vệ sự sống còn của bản thân dân tộc mình, bảo vệ quê hương, làng bản của mình. Các triều đại phong kiến như nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần... trước lợi ích sống còn của đất nước, đã biết phát huy ưu thế của các dân tộc là tinh thần đoàn kết toàn dân đánh giặc giữ nước. Còn mọi tầng lớp xã hội, mọi thành phần dân tộc, mọi lứa tuổi, mọi giới tạm gác quyền lợi riêng tư, những mâu thuẫn nội bộ, đoàn kết xung quanh triều đình để đánh giặc.

Tinh thần đoàn kết toàn dân đánh giặc, tinh thần hy sinh chiến đấu, kiên quyết tiêu diệt giặc đã được thể hiện trong hàng phục cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trong hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc trên 12 thế kỷ chiến đấu chống xâm lược. Tinh thần ấy, được tôi luyện, thử thách trong hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ.

Nếu chỉ tính 14 cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc từ cuối thế kỷ thứ III trước công nguyên đến nay thì 11 cuộc kháng chiến đã giành thắng lợi hiển hách; chỉ có ba cuộc kháng chiến bị thất bại tạm thời dẫn đến ba lần mất nước đau thương và nguy hiểm. Nguyên nhân của sự thất bại đó là không thực hiện được khối đoàn kết toàn dân, để cho sự chia rẽ làm yếu thế nước.

Dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết trong sản xuất và chiến đấu trên cơ sở đấu tranh để dựng nước và giữ nước. Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ý thức dân tộc, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết vì việc lớn đã được phát huy cao độ làm cho sức mạnh chính trị tinh thần của nhân dân được tăng lên gấp bội. Từ xa xưa trong lịch sử, dân tộc Việt Nam đã ở vào một hoàn cảnh vô cùng khó khăn, luôn luôn phải đương đầu với kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần và ở ngay sát nách mình, vì thế dân tộc Việt Nam đã thực hiện chính sách “cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc”, biến cả nước thành một khối thống nhất, mỗi làng là một làng chiến đấu trong thế trận làng nước, cư dân trong làng gắn bó với nhau bằng tình nghĩa gia đình, dòng họ, quê hương, lại thông thuộc địa hình, tùy theo thế đất mà tổ chức chiến đấu làm cho giặc đến như rơi vào thiên la địa võng, bị phân tán, chia cắt, cô lập, bị bao vây, rồi bị tiêu hao, tiêu diệt.

Ngày nay, với đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta, phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tinh thần hy sinh chiến đấu, kế thừa những kinh nghiệm đánh giặc của dân tộc trong điều kiện địa lý của đất nước chúng ta đã tạo nên sức mạnh của toàn dân, sức mạnh toàn diện của đất nước, sức mạnh tổng hợp lớn nhất để đánh địch và thắng địch. Tuy nhiên, thực trạng phân bố dân cư và mật độ dân cư hiện nay cũng gây những khó khăn đối với việc phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng, ảnh hưởng tới việc thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân, nhất là ở vùng rừng núi biên giới. Dân cư phân bố không đều, mật độ từng vùng cũng rất chênh lệch. Vùng đồng bằng đất đai ít, số dân lại quá đông, vùng núi đất đai nhiều nhưng số dân lại quá ít. Ở đồng bằng Bắc Bộ chỉ riêng 3 tỉnh Hải Hưng, Thái Bình, Nam Hà mật độ lên tới 870 người/km2, ở vùng rừng núi phía Bắc 50 người/km2, trong đó Lai Châu thấp nhất cả nước, chỉ có 18 người/km2.

Vùng núi phía Bắc, nơi có tiềm năng kinh tế, nơi có thể bị kẻ thù dùng làm bàn đạp tiến công, lại là những địa bàn chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, quân sự, nhưng dân cư ở đây thưa thớt, số du canh du cư cũng còn lớn, còn vài chục vạn lao động chưa được bố trí ổn định.

Do đó, việc phân bố lại dân cư, lao động một cách hợp lý, đưa thêm người lên vùng núi, biên giới, hải đảo..., các vùng nhiều đất mà thưa dân để phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng và tăng cường thêm mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc, đang là một yêu cầu khẩn trương.

VIỆT NAM CÓ TIỀM LỰC KINH TẾ MẠNH BẢO ĐẢM CHO CUỘC CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC

Việt Nam có nhiều khả năng to lớn để xây dựng tiềm lực mọi mặt cho đất nước.

Nguồn nhân lực dồi dào, cả nước có gần 25 triệu lao động và hàng năm tăng khoảng 1 triệu, trong đó có gần 11 triệu lao động ở lứa tuổi thanh niên, có trình độ văn hóa, nghiệp vụ và hàng năm được bổ sung thêm hàng chục vạn người. Lực lượng lao động kỹ thuật khoảng 2 triệu người (8% lực lượng lao động xã hội) và hằng năm cũng được tăng thêm hàng vạn người với nhiều ngành, nghề khác nhau.

Tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, bao gồm khoáng sản, đất đai, rừng, nguồn năng lượng, sông, biển... có ý nghĩa to lớn đối với việc phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng:

Có khoáng sản năng lượng: than, dầu mỏ, khí đốt; kim loại đen: sắt, ti-tan, crôm, măng-gan, đặc biệt là sắt có trữ lượng lớn; kim loại màu: đồng, chì, kẽm, thiếc, bô-xít, ăng-ti-moan; kim loại quý: vàng, bạc; kim loại phóng xạ, đất hiếm; khoáng sản không kim loại: đá quý a-pa-tít, cát thủy tinh, gra-phít, py-rít; khoáng sản làm nguyên liệu trợ dụng và làm nguyên liệu xây dựng.

Có đất đai phong phú và tốt gồm nhiều loại, trong đó có trên 6 triệu ha đất canh tác mà nhiều vùng có thể làm 2 đều 3 vụ lúa/năm, 12 triệu ha đất rừng và 12 triệu ha các loại đất khác.

Có gần 10 triệu ha rừng giầu về số lượng loại và tăng trưởng nhanh: hàng chục nghìn loại và nhiều loại có giá trị kinh tế và khoa học cao, như để lấy gỗ, lấy dầu, làm sợi, lấy nhựa, làm thuốc, ăn quả... Mỗi héc-ta rừng hằng năm tăng trưởng 4 - 5m3. Trữ lượng gỗ tới 800 triệu mét khối và hơn 10 tỷ cây tre, nứa.

Có khí hậu nhiệt đới ẩm với lượng nhiệt của mặt trời rất lớn, một tháng mùa hè có khoảng 200 giờ nắng, còn tháng mùa đông cũng được 70 giờ nắng, tổng lượng bức xạ trong một năm ở khắp nơi đều vượt quá 100 Kcal/cm2. Lượng ẩm hàng năm cũng khá phong phú, độ ẩm tương đối thường đạt trên 80%, lượng mưa trung bình năm từ 1.200 - 2.000mm, có nơi mưa tới trên 3.000mm. So với những nước cùng vĩ độ thì việt Nam có khí hậu tươi mát, chan hòa ánh sáng, ẩm nhiệt phong phú, làm cho cây cối mau tăng trưởng, có điều kiện thâm canh, tăng vụ trong nông nghiệp.

Có nguồn nước sông dồi dào là nguồn “than trắng” không mất tiền và luôn luôn được tái tạo. Nước trong các sông chính của ta sạch và nói chung bảo đảm cho tiêu dùng và cho công nghiệp, nhưng hiện nay sử dụng chưa nhiều, khoảng 3 – 5% toàn bộ nước sông. Trữ năng thủy điện của nước ta rất lớn. Nếu chỉ tính những sông, suối dài trên 10 km trong 10 hệ thống sông đã có 2.500 dòng sông, trong đó mới tính toán cho 2.192 sông, suối đã có một năng lượng trên 30 triệu ki-lô-oát, với lượng điện hàng năm gần 300 tỷ ki-lô-oát/giờ điện.

Có vùng biển rộng gần 3 lần đất liền với nhiều tài nguyên phong phú và giàu có như: khoáng sản, năng lượng, sinh vật mà ta mới khai thác được một phần rất nhỏ. Từ nước biển có thể thu được nhiều kim loại quý, hiếm, kể cả đất hiếm mà trên đất liền rất hạn chế về số lượng. Muối ăn rất cần thiết cho người mà còn là nguyên liệu quan trọng của công nghiệp hóa chất. Nước ta có bờ biển dài, bãi biển rộng, số ngày nắng cao... là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành làm muối. Hiện nay ta đang dùng cát biển để nấu thủy tinh, khai thác các hóa chất hiếm từ các loại rong biển, khai thác dược liệu từ nhiều loại hải sản như vỏ bào ngư, ngọc diệp, ngọc trai, mai mực...; sử dụng vỏ sò, ốc biển, xương san hô để nung vôi, làm nguyên liệu cho công nghiệp xi-măng. Dầu mỏ nằm ở vùng thềm lục địa nước ta là nguồn tài nguyên rất có giá trị và có trữ lượng lớn đang được đầu tư thăm dò và khai thác. Vùng biển của ta có những bãi cá lớn và những nguồn lợi hải sản khác.

Một kho báu nữa của biển nước ta là nguồn năng lượng vô tận của thủy triều, nhiệt biển và gió biển. Bờ biển nước ta có nhiều ưu việt đối với việc sử dụng trong tương lai cả ba nguồn năng lượng mới này.

Những tiềm năng trên đây nói lên khả năng xây dựng một tiềm lực kinh tế - một trong những yếu tố quyết định sức mạnh của đất nước - bảo đảm xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại, đáp ứng những yêu cầu cho lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Nhưng nền kinh tế của ta còn lạc hậu, trình độ phát triển kinh tế còn yếu do nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ, đang từng bước đi lên sản xuất lớn.

Điều kiện và hoàn cảnh kinh tế của đất nước ta như thế, nhất là công nghiệp còn kém phát triển, cơ sở hạ tầng về đường sá, bến cảng, sân bay... còn ít và chất lượng về nhiều mặt còn thấp, khả năng bảo đảm về vật chất và kỹ thuật còn hạn chế... đã ảnh hưởng lớn tới việc bảo đảm cho một quân đội chiến đấu trong cuộc chiến tranh hiện đại.

Xây dựng đất nước và bảo vệ đất nước là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ mật thiết với nhau, do đó việc xây dựng phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng cũng phải cân đối và phù hợp với tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Xây dựng nền quốc phòng vững mạnh, xây dựng quân đội chính quy, ngày càng hiện đại phải dựa trên cơ sở nền kinh tế phát triển.

Ta phải tận dụng sức lao động và tài nguyên sẵn có để xây dựng và phát triển các ngành kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng cơ bản... và dựa trên nền tảng công nghiệp quốc dân mà xây dựng công nghiệp quốc phòng, nhằm đáp ứng một phần yêu cầu về trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang trong những năm gần đây; mặt khác phải dựa vào sự hợp tác quốc tế và mở rộng sự hợp tác quốc tế đó để bảo đảm cho quân đội phát triển và chiến đấu thắng lợi trên các chiến trường, cần xây dựng hậu phương vững chắc, các cơ sở hậu cần kỹ thuật cần thiết. Những yêu cầu này đặt ra cho kinh tế trung ương và kinh tế địa phương, cần xây dựng được những lực lượng dự trữ về sức người, sức của để động viên cho chiến tranh trên từng hướng, từng vùng và trên cả nước. Trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đất nước lại đòi hỏi phải có một lực lượng dự trữ lớn về vật chất, thì lực lượng vũ trang cũng phải căn cứ vào nhiệm vụ được xác định, có thể đảm nhiệm nhiệm vụ lao động sản xuất để góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo đảm xây dựng tiềm lực quốc phòng.

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ kinh tế có quan hệ chặt chẽ đến xây dựng kinh tế. Vì vậy, phải thực hiện chủ trương của Đảng về kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, thể hiện trong các kế hoạch kinh tế dài hạn và ngắn hạn của Nhà nước, trong việc xây dựng thế bố trí chiến lược của nền kinh tế, xây dựng các khu vực chiến lược quan trọng, trong kinh tế trung ương và kinh tế địa phương, trong từng ngành và các đơn vị kinh tế, cả trong thiết kế, xây dựng các công trình dân sự, thiết kế sản xuất những phương tiện và dụng cụ phục vụ dân sinh.

Địa hình của ta dài và hẹp, dễ bị chia cắt chiến lược và chia cắt từng vùng. Phải dựa vào chiến lược kinh tế và chiến lược quân sự, dựa vào tài nguyên từng vùng và thế hiểm của địa hình mà xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân trên cả nước và trên từng vùng chiến lược.

Trong những năm tới, kinh tế nước ta sẽ có những chuyển biến từng bước. Cho nên, cần biết phát huy những cái mạnh mới của ta do những trang bị kỹ thuật hiện đại tạo nên để sử dụng chúng có hiệu quả trong chiến đấu, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội, đáp ứng yêu cầu của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; mặt khác phải phát triển khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự để bảo đảm chiến thắng mà không gây căng thẳng trong kinh tế.

VỊ TRÍ CHIẾN LUỢC CỦA SÔNG BIỂN TRONG CHIẾN TRANH Ở VIỆT NAM


Đất nước Việt Nam mà Hiến pháp Việt Nam đã tuyên bố thuộc chủ quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm đất liền với diện tích 331.688 km2, vùng biển rộng gần một triệu km2 và các hải đảo trên 3.000 đảo lớn nhỏ và vùng trời có liên quan. Tài nguyên trên Biển Đông thuộc chủ quyền của ta rất to lớn, trữ lượng dầu hỏa theo khảo sát hiện nay đã lên tới 10 tỷ tấn. Ngoài ra, hải sản hiện nay đã là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của ta.

Như vậy, phần đất bao gồm cả sông ngòi nằm trong đó chỉ bằng 1/3 diện tích của phần biển, nếu bao gồm cả phần nước của sông ngòi và biển thì phần đất thực, không bị nước thường xuyên bao phủ, không được một phần ba diện tích thuộc chủ quyền. Do đó, Tổ quốc Việt Nam ngay từ xa xưa đã được người Việt Nam dùng từ “đất nước” để gọi, vì nó không phải chỉ có vùng đất mà còn có vùng nước rộng lớn. Do đất ở đồng bằng trũng với số lượng mưa ở nước ta cao vào loại nhất nhì trên thế giới, trung bình 1.500mm/năm (ở miền núi lên tới 2.000 - 3.000mm/năm), cho nên ở Bắc Bộ, trong thời kỳ chưa có đê, 80% diện tích đồng bằng Bắc Bộ đã bị ngập nước vào mùa mưa và 60% ngập nước vào mùa khô. Cho đến năm 1974, diện tích mặt nước ở miền Bắc vẫn còn tới 50 vạn héc-ta. Tính chất sông nước và đầm ao thể hiện rõ trong cảnh quan xưa của nước ta. Từ đó, ta thất rõ nền kinh tế nông nghiệp của Việt Nam gắn liền với sông nước, từ lúa nước đến đạm thủy sản và giao thông cho đến thời trung đại ở nước ta, chủ yếu cũng là giao thông thủy.

Sông ngòi và biển ven đất liền trở thành trục sống của dân cư, sống bám vào trục sông, ven biển. Và từ đó, phần lớn các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và cả quân sự đều nằm ở đây, như các thành phố, thị xã: Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, ngay cả trên vùng núi, như Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Giang, đến trung du và đồng bằng, như Bắc Giang, Bắc Ninh, Nam Định, Hải Dương, Thanh Hóa, Vinh, Quảng Bình và cả vào phía Nam, như Nha Trang, Bình Định, Phú Yên và các thị xã lớn ở Nam Bộ, như Cần Thơ, Bến Tre... Nhân dân làm ăn, cư trú, đi lại trong suốt bao thế kỷ đều gắn chặt với sông nước, và cũng từ đó truyền thống thạo nghề sông nước đã gắn liền với dân tộc Việt Nam. Chiến tranh và nghệ thuật quân sự ở nước ta cũng bị đặc điểm sông nước này chi phối rất lớn. Cho nên, trong lịch sử chiến tranh ở Việt Nam từ cổ xưa, các trận chiến đấu phần lớn đều mang tính chất tác chiến hiệp đồng thủy, bộ. Ngay kẻ địch từ phương Bắc đến xâm lược nước ta, thường lấy quân bộ làm chủ yếu, cũng không thể quên đặc điểm địa hình nhiều sông ngòi chằng chịt, có biển lớn phía Đông và phải đương đầu với những đội quân và người dân quen nghề sông nước, cơ động chủ yếu bằng thuyền.

Vì vậy khi Triệu Đà đánh Âu Lạc có Nhâm Ngao mang thuyền đến Tiền Giang, Mã Viện có Đoàn Chí mang 2.000 thuyền đánh Hai Bà Trưng. Và các trận thất bại lớn của quân xâm lược phương Bắc từ thế kỷ thứ X, sau 1.000 năm Bắc thuộc chẳng đã diễn ra trên sông Bạch Đằng năm 938 với chiến thắng của Ngô Quyền; năm 1077 quân Tống bị đánh bại trên tuyến sông Như Nguyệt. Các trận phòng ngự rút lui tiến công chiến lược trong thời Trần đều dựa vào sông biển để cơ động và tác chiến ở Lục Đầu Giang, Vạn Kiếp, A Lỗ, Hàm Tử, Tây Kết, Chương Dương, Thăng Long, Bạch Đằng Giang, Vân Đồn.

Quân thủy Đại Việt thiện chiến đã bao lần cùng quân bộ làm nên chiến tích lịch sử, như cuộc đổ bộ lên Liêm Châu, Khâm Châu và đánh Ung Châu, rồi đánh Chiêm Thành của Lý Thường Kiệt; trận đánh quân Xiêm ở Rạch Gầm, Xoài Mút của Nguyễn Huệ và trận diệt 20 vạn quân Tôn Sĩ Nghị; thủy quân trên hai cánh quân đánh vào sườn và phía sau của tập đoàn quân xâm lược nhà Thanh ở Hải Dương và Lạng Giang, Phượng Nhỡn. Thủy binh Việt Nam từ thời Lý đến thế kỷ XVIII dưới thời Tây Sơn vẫn là thủy binh mạnh vào loại nhất ở Đông Nam Á.

Kháng chiến chống Mỹ cứu nước nổ ra, ngoài các nhiệm vụ chiến đấu trên biển, trên các triền sông ở miền Bắc, từ sông Gianh đến sông Hồng, các tàu chiến của hải quân ta đã tham gia với lực lượng phòng không bảo vệ các mục tiêu trọng yếu ở ven sông chống sự bắn phá của máy bay Mỹ, đạt hiệu quả chiến đấu khá tốt. Mùa xuân 1979, cùng với các cánh quân trên bộ, một mũi tiến công bằng đường thủy do các tàu hải quân đảm nhiệm đã ngược dòng Mê-công đánh đuổi các tàu của quân Pôn Pốt, bắn phá các mục tiêu trên bờ, bảo đảm vượt sông cho các binh đoàn chủ lực và tiến vào giải phóng Phnôm-pênh cùng với cánh quân trên bộ.

Như vậy, lịch sử sông nước trong chiến tranh chống xâm lược nói lên một điều: các hoạt động chiến đấu hiệp đồng thủy, bộ trên sông là những hoạt động không thể thiếu được trong quá trình đấu tranh vũ trang của dân tộc ta, trước đây nó được tiến hành bởi các đơn vị thuỷ bộ của các triều đại phong kiến, gần đây của lực lượng vũ trang Việt Nam. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tới đây, nếu xảy ra, các hoạt động trên có thể sẽ phong phú hơn, và sự có mặt của hải quân trên một số dòng sông và ven biển là cần thiết trong phòng ngự và tiến công của các binh đoàn Lục quân.

Nhìn rộng ra để tham khảo, chúng ta thấy, trong chiến tranh giữ nước vĩ đại của Liên Xô, ngoài các hạm đội Xô-viết hoạt động trên biển, các giang đội trên các sông Von-ga, sông Đu-nai,... đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của quân đội Xô-viết. Giang đội Đu-nai đã tiến ngược sông Đu-nai 2.000 km với những trận đánh ác liệt và tham gia giải phóng 6 nước Trung Âu. Trong quá trình tác chiến, các tàu của giang đội này đã vận chuyển trên sông Đu-nai khoảng 250 sư đoàn.

Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc sắp tới nếu xảy ra, sẽ là chiến tranh toàn dân, toàn diện, hiện đại, diễn ra trong một không gian rộng lớn, lượng tiêu hao vặt chất kỹ thuật rất lớn. Việc cơ động lực lượng và bảo đảm vận chuyển cho chiến trường kịp thời là một yêu cầu cấp bách. Hành động của địch và của ta khi tổ chức phòng ngự và tiến công vượt sông bằng sức mạnh, cũng như khi đổ bộ của các đội đổ bộ đường sông, biển là những hoạt động chiến đấu cần thiết với địa hình của đất nước ta. Do đó, vị trí của sông và ven biển vẫn giữ nguyên giá trị của nó và có thể được nhân lên trong điều kiện trang bị kỹ thuật đổi mới. Chiến trường sông biển gắn với chiến trường trên bộ, chiến tranh nhân dân trên chiến trường này vẫn thể hiện một cách sinh động phương. thức chiến tranh nhân dân địa phương và chiến tranh nhân dân bằng binh đoàn chủ lực, trong đó có các binh đội, binh đoàn hải quân tham chiến để đánh bại địch trên đất liền, trên sông biển, đồng thời hoàn thành các nhiệm vụ bảo đảm khác. Các yêu cầu về hoạt động tác chiến trên sông, biển trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có thể sẽ nhiều hơn đối với hải quân trong hoạt động phối hợp với lục quân trên những chiến trường có những trục sông lớn chảy qua ven biển, trên đảo và trên biển có các quần đảo xa bờ.

Đặc biệt, với chiến lược phát triển biển của một số nước vùng Biển Đông, chúng ta cần nghiên cứu tổ chức quân đội ta cho phù hợp, đáp ứng các yêu cầu trên.

Từ nhu cầu thực tế đó, trên một vài chiến trường trọng yếu có hệ thống sông ngòi thuận lợi, có cần một lực lượng thủy quân có khả năng tác chiến cả trên bờ, dưới nước trong các hoạt động chiến đấu không? Đây là những hải đội tàu có lượng giãn nước phù hợp, hoạt động được ở biển gần và trên sông. Cũng có thể nên có những phân đội hải quân đánh bộ đi kèm theo những hải đội tàu mặt nước trên để cùng nhau thực hiện một số nhiệm vụ, như đổ bộ ven sông hay vượt sông, hộ tống các đoàn tàu vận tải, quét mìn trên sông... Khi đã xác định đây là một dạng hoạt động chiến đấu của quân đội ta trên địa hình có nhiều sông nước, thì trong nghệ thuật quân sự cần đề cập tới việc phối hợp giữa bộ đội lục quân và các đơn vị thủy quân, hoạt động trên sông và các trận tác chiến hiệp đồng thủy bộ.

Các vùng hải quân trên các chiến trường có sông ngòi lớn cùng với các quân khu ven biển thống nhất soạn thảo một kế hoạch phòng thủ vùng ven biển, các căn cứ hải quân, đồng thời cũng có một kế hoạch tác chiến trên một số địa bàn trong nội địa, ở đó các tàu hải quân sẽ đóng vai trò hỗ trợ đắc lực cho lục quân trong các trận tác chiến lớn có thể xảy ra tại các thành phố, thị xã ven sông, biển.

Cũng có thể trên một chiến trường nào đó, trong điều kiện cho phép, chúng ta xây dựng một giang đội với quy mô thích hợp, với loại tàu mà chúng ta có thể tự thiết kế và đóng lấy, trang bị vũ khí phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ.

Đối với việc vận chuyển bộ đội và những trang bị khí tài khi cần cơ động lực lượng, ngoài đường sắt, đường bộ và đường không ra, giao thông đường thủy có vai trò rất quan trọng. Trong báo cáo chính trị ở Đại hội VI, khi nói về giao thông vận tải, khâu trung tâm của kết cấu hạ tầng có đoạn viết “phù hợp với điều kiện địa lý và tình hình thực tế hiện nay, chúng ta ưu tiên phát triển vận tải đường thủy”. Đường sắt và đường bộ yêu cầu đầu tư cả về làn đường, cả về phương tiện như tầu xe có chiều cao hơn mức thông thường. Trái lại, sông biển có sẵn, chỉ cần nạo vét và tầu pha sông biển ta có khả năng tự sản xuất, giá thành rẻ. Truyền thống thạo sông biển, thích sống ngay trên thuyền, cả gia đình sống trên thuyền là một thuận lợi cho việc phát triển giao thông thủy.

Trên quan điểm kinh tế kết hợp với quốc phòng, và phù hợp với tinh thần trên của báo cáo chính trị, ngành giao thông thủy của nhà nước đã đưa vào sử dụng loại tàu, sà lan pha sông biển với trọng tải tương đối lớn, loại phương tiện này có thể đáp ứng được yêu cầu vận chuyển của quân đội trong phạm vi một chiến trường hoặc giữa các chiến trường. Nên chăng, có sự kết hợp giữa kinh tế và quốc phòng, để khi các loại phương tiện này được động viên, diện tích và dung tích chuyên chở được phát huy tối ưu. Ngoài ra, các bến sông ở các đầu mối giao thông quan trọng cần được xây dựng để nâng cao năng lực bốc xếp các thiết bị nặng của ngành kinh tế và quốc phòng. Trong vấn đề này, ngành vận tải quân sự có vai trò nhất định. Việc phát triển các loại phương tiện vận chuyển chủ yếu có lẽ nên tập trung vào một số kiểu loại, đảm bảo chức năng như chiến đấu đổ bộ chẳng hạn.

Sông biển Việt Nam giữ vị trí chiến lược của nó trong cả hai nhiệm vụ, xây dựng Tổ quốc và bảo vệ Tổ quốc, đó là đặc trưng của địa lý Việt Nam và truyền thống dân tộc, cả về các mặt hoạt động kinh tế, đời sống xã hội và nghệ thuật quân sự.

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, vai trò của lục quân, không quân, phòng không và cả hải quân là hết sức quan trọng. Cần nghiên cứu tổ chức lực lượng quân sự với nghệ thuật quân sự phù hợp với đặc điểm của địa lý, con người và truyền thống quân sự của đất nước.

Hải quân Việt Nam hiện đại lấy chiến trường biển là hướng chủ yếu để hoàn thành nhiệm vụ của mình trong việc bảo vệ chủ quyền trên biển của ta. Hoạt động trên sông chỉ được đặt ra trên một số địa bàn khi có yêu cầu nhưng cũng là một nhiệm vụ không thể thiếu dược. Từ đó, gợi ra cơ cấu thành phần lực lượng tàu mặt nước của hải quân: bên cạnh lực lượng hải quân hoạt động ở biển và quần đảo xa bờ cần có lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ. Lực lượng này hoạt động ở biển gần, và khi cần có thể cơ động vào trong sông được để phối hợp chiến đấu cùng lục quân. Việc tổ chức một vài giang đoàn trên một số trục sông lớn có nên đặt ra không? Lúc nào nên đặt ra? Đó cũng là một vấn đề gợi ra để chúng ta cùng suy nghĩ.

Ngoài ra, các tỉnh, các quân khu đồng bằng và ngay cả một số binh đoàn hoạt động ở đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long trên địa hình nhiều sông, rạch, có nên có thêm binh chủng thủy trong hoạt động và tác chiến chăng? Kẻ địch xâm lược dù từ đâu tới, mạnh về xe tăng thiết giáp, xe cơ giới và cả hải quân, nhưng vào sâu nội địa không thể phát huy được trong hệ thống sông ngòi chằng chịt của ta. Kỵ binh Mông Cổ mạnh, đi khắp Á - Âu, thuyền chiến Mông - Nguyên lớn nhưng đều thua bộ binh và thủy binh nhẹ của Đại Việt trong các trận tác chiến trên sông Hồng, sông Thái Bình và sông Bạch Đằng thời Trần. Truyền thống đó ta cần phát huy. Địch cậy trường trận (kỵ binh), ta cậy đoản binh (bộ binh và thủy binh) là lẽ thường của binh pháp. Đến nay địch mạnh về xe tăng thiết giáp, hải quân với tầu chiến lớn, ta lại càng phải chú ý phát huy thủy binh và chiến tranh nhân dân địa phương trên chiến trường sông biển, đặc biệt ở các làng, xã ven sông, ven biển đông dân của đồng bằng. Chúng ta cần giải quyết thế trận trên biển kết hợp bờ - đảo - quần đảo, biển; kết hợp hải quân, không quân, thủy quân đánh bộ, bộ đội giữ các đảo, quần đảo với phát triển lực lượng tự vệ trên các tàu dân dụng và dân quân du kích trên bờ biển, trên đảo và quần đảo để bảo vệ chủ quyền trên biển và giải quyết các vùng còn đang tranh chấp.

III
MỘT SỐ VẤN ĐỀ
VỀ CÁCH ĐÁNH TRONG CHIẾN TRANH
BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY



KẾT HỢP CHẶT CHẼ CÁC CÁCH ĐÁNH TIẾN CÔNG, PHẢN CÔNG VÀ PHÒNG NGỰ, LẤY PHẢN CÔNG, TIẾN CÔNG LÀM HÌNH THỨC TÁC CHIẾN CHỦ YẾU


Mỗi cuộc chiến tranh, về nguyên tắc, đều được tiến hành bằng những phương thức và hình thức khác nhau. Những phương thức và hình thức đó đã thể hiện qua lịch sử được tích lũy của từng nước, từng dân tộc trong tiến hành chiến tranh. Chúng được hoàn thiện và biến đổi theo sự phát triển của xã hội, của phương tiện đấu tranh vũ trang và do điều kiện chính trị cụ thể của việc phát sinh chiến tranh và việc tiến hành chiến tranh. Ngày nay, nước ta đang ở trong một bối cảnh vừa phải ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, vừa phải chuẩn bị để đối phó với một cuộc chiến tranh xâm lược có thể xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau, mà đối tượng bảo vệ hòa bình, độc lập và chủ nghĩa xã hội, phản đối chiến tranh phi nghĩa xâm lược dưới mọi hình thức khác nhau. Do đó, mọi cuộc chiến tranh, nếu chúng ta buộc phải tiến hành đều mang tính chất tự vệ chính nghĩa chống xâm lược.

Trong một bức thư của Mác gửi cho Ăng-ghen ngày 17-8-1870, bàn về chiến thuật của vô sản Đức trong chiến tranh Pháp - Phổ có đoạn: “Cu-ghen-man nhầm lẫn chiến tranh phòng thủ (bảo vệ) với chiến đấu phòng ngự, có nghĩa là nếu có kẻ côn đồ nào đó đánh tôi giữa đường phố thì tôi chỉ có thể gạt đỡ chứ không phải đánh gục nó, bởi vì nếu làm như vậy tôi sẽ là kẻ đi tiến công: Những người này trong từng chữ từng lời tỏ ra hiểu sai phương pháp biện chứng”.

Xác định tính chất, nhiệm vụ của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là thuộc về đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng và Nhà nước. Còn để thực hiện những nhiệm vụ đó về mặt quân sự phải có chiến lược quân sự. Trong đường lối quân sự, chiến lược quân sự có nhiều nội dung lớn mà phương thức đấu tranh vũ trang và hình thức tác chiến có vị trí đặc biệt quan trọng.

Trong một cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chiến tranh tự vệ thì dù có vận dụng hình thức tác chiến nào cũng phải tiến công, như Ăng-ghen đã nói: “Thường người ta cho rằng tiến công sẽ đem lại thắng lợi lớn, vì vậy một quân đội giữ thế thủ, tức là tiến hành một chiến tranh có tính chất phòng ngự nghiêm ngặt, thì thường hay mở những chiến dịch tiến công, thậm chí trong các chiến dịch phòng ngự cũng tiến hành những hoạt động tiến công”1.

Vì vậy vấn đề đặt ra là cần phải nghiên cứu một cách đầy đủ và khách quan tinh thần đó, nhất là thông qua những bài học kinh nghiệm về các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, chiến tranh tự vệ của ông cha ta chống lại các cuộc xâm lược của các thế lực bên ngoài và kinh nghiệm của thế giới, đặc biệt là của Liên Xô.

Vào thế kỷ XI, Lý Thường Kiệt, trong cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhà Tống, đã mở một cuộc tiến công trước đánh phá các căn cứ xuất phát tiến công của chúng ở Ung - Khâm - Liêm, sau đó nhanh chóng rút về phòng ngự có chiều sâu từ biên giới đến phòng tuyến sông Như Nguyệt. Từ phòng ngự trận địa với phòng tuyến tiền duyên theo đê sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt đã chọn thời cơ thực hành phản công, tiến công tiêu diệt đại bộ phận quân Tống, buộc chúng phải rút chạy về nước.
__________________________________
1. Tuyển tập luận văn quân sự, Ăng-ghen, NXBQĐ, HN 1978, quyển II, trang 318. 

Đến đời Trần, năm 1285, trước cuộc tiến công xâm lược lần thứ 2 của quân Nguyên Mông, với chiến lược “Kiên thủ chờ suy - hoàn kích”, dùng phòng ngự để chặn địch rồi phản công. Do không chặn nổi quân địch ở Nội Bàng (Chũ), Bình Than (Phả Lại), sông Cầu, nên phải rút lui chiến lược (rút đại quân về Thanh Hóa). Nhưng sau đó đã chiến thắng 60 vạn quân Nguyên - Mông bằng một cuộc tiến công chiến lược của ba đạo quân:

Đạo quân của Trần Quang Khải đánh dọc sông Hồng với các trận Tây Kết, Hàm Tử - Chương Dương, Thăng Long, đánh bại lực lượng chủ lực của Thoát Hoan, buộc chúng phải rút lui chiến lược.

Đạo quân vu hồi do Trần Quốc Tuấn trực tiếp chỉ huy đánh từ Vạn Kiếp qua Quế Võ và sông Sách trên đường rút lui của địch.

Đạo quân do vua Trần trực tiếp chỉ huy tiêu diệt cánh quân Toa Đô từ Thanh Hóa ra, bắt sống 5 vạn tên ở Tây Kết.

Trong cuộc tiến công xâm lược của quân Nguyên Mông năm 1288 (lần thứ ba), bằng cách đưa dịch vào thế trận biển, ta đã buộc địch tiến công vào nơi không có chủ lực của ta, lại bị bao vây và quân tiếp tế lương thực bị diệt. Bị tiêu hao, mệt mỏi, tinh thần chiến đấu giảm sút, địch buộc phải chuyển sang phòng ngự và rút lui. Ta tiến công địch rút lui trên sông Bạch Đằng và trên đường 13, tiêu diệt 30 vạn tên, kết thúc vẻ vang chiến tranh, lần thứ ba đại thắng quân Nguyên - Mông. Đến năm 1789, Mãn Thanh xâm lược nước ta, do đặc điểm vùng Bắc Hà lúc ấy, khi Lê Chiêu Thống “rước voi về giày mồ”, Ngô Thì Nhậm với kế sách “cho giặc ngủ trọ một đêm”, quân ta tạm thời bỏ Thăng Long rút lui về giữ phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn, sau đó, bằng một cuộc phản công chiến lược chớp nhoáng, Quang Trung đã đập tan đạo quân xâm lược cùng bè lũ tay sai, làm nên chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa, Thăng Long lịch sử, tiêu diệt 30 vạn quân Thanh trong mấy ngày đêm.

Nhưng lịch sử cũng đã ghi lại những bài học cay đắng như thất bại của nhà Hồ ở thế kỷ XV và nhà Nguyễn ở thế kỷ 19. Cũng chỉ vì mang nặng tư tưởng phòng ngự đơn thuần tiêu cực, dựa vào thành quách để cố thủ của quân triều đình với chiến lược quân sự “kiên thủ chặn địch” mà đi đến thất bại. Tnrớc cuộc xâm lược của Na-pô-lê-ông, Ku-tu-dốp sau trận Bô-rô-đi-nô đã rút lui chiến lược, bỏ ngỏ thủ đô Ma-xcơ-va, thực hiện tiêu thổ kháng chiến (thanh dã), phát động chiến tranh du kích phía sau lưng địch, buộc Na-pô-lê-ông phải rút lui mà truy kích tiêu diệt quân đội Pháp.

Lịch sử chiến tranh Xô Viết cho thấy, trong những năm chống phát xít Đức xâm lược 1941 - 1945, Liên Xô, lúc đầu, với ý đồ chiến lược chặn địch ở biên giới rồi nhanh chóng tiến công ra ngoài nước, đánh bại chiến tranh xâm lược, nhưng đã bị bất ngờ chiến lược, mất quyền chủ động chiến lược buộc phải chuyển sang phòng ngự chiến lược trong 2 năm 1941 - 1943, rồi mới phản công chiến lược và kết thúc chiến tranh bằng tiến công chiến lược năm 1945.

Nói chung, trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc chống xâm lược dù có phòng ngự ban đầu, nhưng cuối cùng muốn giành thắng lợi, vẫn phải lấy phản công, tiến công làm chủ yếu. Nhưng phòng ngự ở đây phải là phòng ngự tích cực, phòng ngự có mối quan hệ chặt chẽ với phản công và tiến công. Nếu không, dù có vững chắc như chiến lũy Ma-gi-nô của Pháp cũng trở nên vô ích. Khi bàn về đặc điểm của phòng ngự chiến lược đối với sự phát triển nghệ thuật quân sự Xô Viết đồng chí Đại tướng M. Cô-dơ-lốp, Viện trưởng Học viện Bộ Tổng tham mưu Liên Xô có nêu: “Với tính thuyết phục của mình, chiến tranh chỉ ra rằng, tiến công chiến lược là loại hình chủ yếu, chỉ bằng tiến công kiên quyết mới có thể tiêu diệt được hoàn toàn quân địch, đập tan khả năng, tiếp tục chiến tranh của địch. Thế nhưng, trên các chiến trường lục địa riêng biệt hoặc là trên các hướng chiến lược, khi điều kiện tình huống không thuận lợi, khi quân địch có ưu thế rõ rệt về lực lượng và phương tiện, hoặc là địch giành được quyền chủ động chiến lược, thì phòng ngự chiến lược có thể xảy ra”1.

Ngày nay, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra), Nghị quyết 24 Bộ Chính trị về đường lối quân sự đã chỉ rõ cách đánh “Kết hợp các cách đánh tiến công, phản công và phòng ngự, lấy tiến công, phản công làm hình thức tác chiến chủ yếu của bộ đội ta. Tiến công và phản công giữ vai trò quyết định trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Chỉ có tiến công, Phản công kiên quyết, chủ động, với quy mô ngày càng lớn mới thực hiện được tiêu diệt lớn quân địch, làm chủ chiến trường, làm chủ đất nước, mới thay đổi được so sánh lực lượng và cục diện chiến tranh, mới đập tan được ý chí xâm lược của địch và giành thắng lợi về ta”2.

Như vậy, ta có thể đi đến một kết luận là trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, một cuộc chiến tranh mang tính chất phòng ngự nghiêm ngặt thì tiến công vẫn là hình thức tác chiến chủ yếu để đánh bại quân xâm lược, đuổi địch ra khỏi đất nước. Dù có dùng hình thức phòng ngự mang tính chất chiến lược chủ động như Lý Thường Kiệt đã làm, hoặc bắt buộc như Liên Xô năm 1941 đến 1943, thì đòn quyết định kết thúc chiến tranh vẫn phải là phản công, tiến công chiến lược.
______________________________________
1. Tạp chí Quân đội nhân dân số 6-1982.
2. Trích Nghị quyết 24 Bộ Chính trị, Đại hội Đảng lần thứ V. 

MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA PHÒNG NGỰ TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC.


Trong Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị đã nêu: “Tổ chức phòng ngự phải kết hợp chặt chẽ hoạt động của các lực lượng trực tiếp bám giữ trân địa, phản kích, phản đột kích với các hoạt động tiến công của các lực lượng khác trên địa bàn tác chiến, nhằm chặn đứng, làm chậm từng bước tiến công của địch, giữ vững mục tiêu và địa bàn trọng yếu, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân địch tiến công, làm cho chúng suy yếu, sa lầy, tạo điều kiện và kết hợp chặt chẽ với các hoạt động tiến công, phản công đánh bại hoàn toàn quân địch”. Như vậy, mục đích của phòng ngự trong chiếu tranh bảo vệ Tổ quốc là: chặn đứng hoặc kìm hãm từng bước tiến công của địch, giữ vững các khu vực trọng yếu có ý nghĩa chiến lược, chiến dịch; tiêu diệt từng bộ phận quan trọng quân địch tiến công, làm chúng suy yếu, sa lầy, tạo điều kiện và kết hợp chặt chẽ với tiến công, phản công, đánh bại hoàn toàn quân địch.

Tùy hoàn cảnh khác nhau mà đặt mục đích, nhiệm vụ cho bộ đội phòng ngự phù hợp với ý đồ của cấp trên. Thí dụ, trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh chống phát xít Đức của Liên Xô, mục đích của phòng ngự là ngăn chặn bước tiến công của địch, tranh thủ thời gian để tổ chức phòng ngự trong chiều sâu. Sang giai đoạn II và III của cuộc chiến tranh, mục đích của phòng ngự thường là giữ vững địa bàn phòng ngự, đánh lui các đợt tiến công, tạo điều kiện cho các hướng khác tiến công hoặc cho chiến dịch phản công, tiến công tiếp nối, như những chiến dịch chiến lược ở vòng cung Cuốc-xcơ. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của ta, tư tưởng chỉ đạo tác chiến trong Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị đã chỉ ra là: “phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn quân và toàn dân, đánh bại các cuộc tiến công của địch ngay trên khu vực tuyến đầu (vùng biên giới và vùng ven biển), không để chúng mở rộng chiến tranh và quyết đánh bại chúng trong một thời gian ngắn”. Các chiến dịch phòng ngự cấp quân khu và quân đoàn với chiều sâu là chiều sâu của khu vực tuyến đầu cửa Tổ quốc nhằm mục đích chặn đứng quân địch trước khu vực phòng ngự của mình, tạo điều kiện cho phản công và tiến công đánh bại hoàn toàn quân địch. Mục đích của chiến dịch phòng ngự quân khu, quân đoàn do đó rất kiên quyết. Chiến dịch phòng ngự quân khu trên khu vực tuyến đầu có ý nghĩa chiến lược. Nó phải quán triệt tinh thần “tổ chức các khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng thế trận làm chủ trong từng địa phương và trong cả nước để tiến công tiêu diệt địch”, chứ không thể chỉ nhằm ngăn chặn bước tiến công của địch, tranh thủ thời gian để phòng ngự trong chiều sâu như của Liên Xô năm 1941 được.

Kinh nghiệm cho thấy, các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam trong lịch sử chống xâm lược phong kiến thường diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, mà một phần cũng do nước ta đất đai không rộng và chiều sâu cũng không lớn (nhà Lý chống Tống khoảng 5 tháng, từ tháng 11-1076 đến tháng 3-1077; nhà Trần chống Nguyên - Mông lần thứ nhất hơn 1 tháng, từ tháng 1-1258 đến đầu tháng 2-1258, lần thứ hai, khoảng 6 tháng, từ tháng 2-1258 đến tháng 7-1285, lần thứ ba, khoảng 4 tháng, từ tháng 1-1288 đến tháng 4-1288; Tây Sơn chống Thanh, khoảng tháng rưỡi, từ 16 tháng 12- 1788 đến 30-1-1789; nhà Hồ chống xâm lược Minh cũng chỉ vài tháng là mất nước).

Trong điều kiện hiện đại, khi quân đội có sức cơ động rất cao như trong chiến tranh Triều Tiên 1953, và các cuộc chiến tranh Ấn - Hồi (1975), I-xra-en - Li-băng (1984), chiến tranh vùng vịnh 1991 do có khả năng tiến công trên nhiều hướng xa nhau vào chiều sâu đất nước và có tốc độ tiến công nhanh, sức đột kích và hỏa lực mạnh của đối phương, nên chiến tranh có thể diễn biến nhanh và đột ngột. Do đó phòng ngự lại càng phải vững chắc và tiến công, phản công cũng phải có khả năng tiến hành ở quy mô chiến lược trong những tháng đầu của chiến tranh. Nó đòi hỏi phải có một thế trận chiến lược vừa vững chắc vừa cơ động cao. Tất nhiên, chúng ta cũng phải đồng thời chuẩn bị sẵn sàng lực lượng và thế trận để có thể đánh lâu và kiên quyết giành thắng lợi hoàn toàn trong tình huống chiến tranh kéo dài và mở rộng.

Để đảm bảo yêu cầu trên, khu vực tuyến đầu phải phòng thủ vững chắc, tiến công kiên quyết, ghìm địch tại chỗ, chia cắt bao vây, tiêu diệt chúng, cả nước dồn sức chặn đánh địch, tiêu diệt địch, đánh bại chiến tranh xâm lược của địch ngay trên khu vực tuyến đầu (Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị).

Do đó, lại càng không thể không nắm vững mục đích của chiến dịch phòng ngự quân khu, quân đoàn với tung thâm là tuyến đầu của Tổ quốc. Hơn nữa, với đặc điểm địa lý và kinh tế của nước ta, tung thâm đó còn mang ý nghĩa chiến lược. Vì vậy mục đích của chiến dịch phòng ngự quân khu phải là chặn đứng quân địch trên địa bàn quân khu, giữ vững mục tiêu và địa bàn trọng yếu, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân địch tiến công, làm cho chúng suy yếu, sa lầy, tạo điều kiện và kết hợp chặt chẽ với phản công, tiến công, đánh bại hoàn toàn quân địch. Chiến dịch phòng ngự quân khu, quân đoàn không phải chỉ để đánh lui tiến công, giữ vững địa bàn khu vực được giao, mà còn phải tạo điều kiện cho phản công chiến lược, tiến công chiến lược, phải chặn đứng quân địch lại, đánh bại địch trên một hướng chiến dịch, đặc biệt là trên hướng chủ yếu. Muốn vậy, ngay trong quyết tâm của chiến dịch phòng ngự đã phải hình thành những nhân tố cơ bản cho phản công và tiến công kế tiếp, từ đó nắm vững mục đích và nhiệm vụ để tổ chức phòng ngự cho đúng. Các cấp chỉ huy cần hết sức khách quan, trên cơ sở thực tế địch, ta, địa hình, mà xây dựng quyết tâm cho chính xác trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐÁNH BẠI HOÀN TOÀN QUÂN ĐỊCH
TRONG CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC


Không thể không tiêu diệt lớn quân địch mà kết thúc được chiến tranh. Thực tế lịch sử của chúng ta đã chứng tỏ điều đó thí dụ như:

- Lý chống Tống, ta đã diệt gần 40 vạn quân địch, thu hàng chục vạn tấn lương thực, khí giới chiến cụ.

- Trần chống Nguyên - Mông:

+ Lần thứ nhất 1258: địch có 4-5 vạn quân, ta diệt.gần 3 vạn.

+ Lần thứ hai 1285: địch có 60 vạn quân, ta diệt gần 50

+ Lần thứ ba 1288: Địch có khoảng 50 vạn quân, ta diệt 30 vạn.

- Quang Trung chống Thanh ta diệt gần 29 vạn quân của Tôn Sĩ Nghị: (đi có 29 vạn tên, về còn 500 tên).

Nhà Hồ để đất nước rơi vào tay quân Minh cũng chỉ vì phương châm chiến lược sai lầm, định dùng phòng ngự trong thành quách lớn, kiên cố để cố thủ, hãm chân địch, làm chúng nản chí mà buộc rút quân. Lịch sử chiến tranh thế giới cũng đã chứng minh nguyên tắc: chỉ có tiêu diệt lớn quân xâm lược mới bảo vệ được đất nước. Chiến tranh thế giới thứ 2 chỉ kết thúc với thắng lợi của các nước bị xâm lược trên cơ sở lực lượng vũ trang của Đức, Ý, Nhật bị tiêu diệt về cơ bản trên các mặt trận Châu Âu, Châu Á và Thái Bình Dương.

Phải có thế trận chiến lược đúng.

Không thể tiêu diệt lớn quân xâm lược nếu không có thế trận đúng. Tiêu diệt địch ngay trên tuyến đầu, thời gian ngắn, thì tất nhiên lúc đó địch còn đông. Tuy nằm trong thế đông nhưng chúng không mạnh. Trong lịch sử chiến tranh, thế trận đó đã từng thể hiện trong các tình huống sau:

- Khi địch phải chuyển từ tiến công sang phòng ngự.

Như Quách Quỳ 1077, sau ba tháng xâm lược nước ta vẫn bị chặn đứng trước phòng tuyến sông Như Nguyệt, mặc dù đã vận dụng nhiều biện pháp, thủ đoạn, mở hai cuộc tiến công hòng chọc thủng phòng tuyến, nhưng đều thất bại nặng nề, buộc phải chuyển vào phòng ngự bị động ở phía Bắc sông Như Nguyệt.

- Khi địch đã phải dừng lại trong thế phân tán không tập trung.

Như Thoát Hoan năm 1285, mặc dù đã chiếm được Thăng Long, nhưng không thể nào kiểm soát nổi những vùng đã đi qua, tướng của Thoát Hoan là A-rich-kha-đai đã lập các đồn trại trên con đường từ Lạng Sơn đến Thăng Long. Cứ ba mươi dặm, chúng lập một trại, sáu mươi dặm dựng một trạm ngựa. Mỗi trại hoặc mỗi trạm có ba trăm quân đóng giữ. Ngoài ra, chúng còn dựng thêm nhiều đồn để đốc thúc công việc của các trại, trạm. Với việc xây dựng nhiều đồn trại như thế, không những không kiểm soát và khống chế được vùng sau lưng chúng, mà còn làm cho lực lượng bị phân tán. Các đồn trại đóng rải rác trên khắp miền đất rộng chỉ làm mục tiêu cho các cuộc tiến công của các đội dân binh địa phương hay những cánh quân của vua Trần ở lại tiếp tục hoạt động sau lưng địch.

- Khi địch phải rút chạy.

Như Thoát Hoan (1288), vì lương hết, không giao chiến được trận nào với chủ lực của ta, không bắt được vua Trần, lại có nguy cơ bị bao vây và bị tiến công, buộc phải rút lui khốn đốn trên con đường rút chạy khỏi biên giới nước ta, cũng như Na-pô-lê-ông (1810) trong cuộc chiến tranh ở nước Nga.

- Trong tình thế địch còn đông nhưng lâm vào hoàn cảnh bất lợi không có tiếp tế hậu cần.

Như năm 1077, đạo quân xâm lược của Quách Quỳ đã bị Lý Thường Kiệt đưa vào thế “cô quân”, phía trước là phòng tuyến Như Nguyệt, phía sau bị quân và dân ta đánh phá giao thông vận chuyển lương thực và thực hiện thanh dã. Năm 1288 Thoát Hoan bị thất bại, bởi ngay từ đầu cuộc chiến tranh đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ đã bị ta tiêu diệt, đồng thời ở những nơi nào địch tiến đánh, “người Giao Chỉ dấu hết thóc gạo rồi trốn đi”.

Bị kéo xa tuyến xuất phát, như Na-pô-nê-ông, năm 1810 đã mang đạo quân viễn chinh sang đánh nước Nga, cách xa nước Pháp hàng ngàn ki lô mét; Quách Quỳ năm 1077 và Thoát Hoan năm 1288 cũng đều ở vào thế “cô quân”, cách xa tuyến xuất phát, trong khi tiếp tế hậu cần thì lâm vào tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng. Tinh thần sa sút do mệt nhọc và không thắng được trận quyết định nào như Thoát Hoan năm 1288, trong cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ ba. Đối với quân và dân ta, do đã có kinh nghiệm của hai lần chiến thắng trước, chúng ta đã tạo nên được một thế trận hiểm mà kẻ địch sa vào, đó là thế trận “thiên la địa võng”, địch có mắt cũng như mù, bị đẩy đến chỗ suy sụp ý chí.

Bị bệnh tật, chết chóc do thời tiết khí hậu: như đạo quân chủ lực của Quách Quỳ (1077) gồm người phương Bắc vùng Thiên Tây, không quen thủy thổ, sang xâm lược nước ta vào khoảng tháng 2-3, lúc đó thời tiết oi bức, ẩm tháp, sinh nhiều bệnh tật “vì nóng nực và lam chướng, quan phu đã chết mất quá nửa rồi, còn non nửa cũng đều ốm”1; hoặc đối với đạo quân của Na-pô-nê-ông (1810), khi vào sâu trong đất Nga, vượt qua sông Nê-va, mệt mỏi vì chưa thắng được trận nào quyết định, lại gặp phải thời tiết giá lạnh rất khắc nghiệt... đã làm cho quân đội Pháp giảm sút rất nhanh khả năng chiến đấu và cơ động.

Phải tạo ra được thời cơ chiến lược

Thời cơ tiêu diệt địch là lúc địch bị động, sa sút, tinh thần, ý chí khó khăn về mọi mặt. Thời cơ do nhiều nhân tố phát triển đến độ chín muồi tạo thành, gồm cả nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan, cả về ta và địch. Những nhân tố đó có quá trình phát triển và tác động lẫn nhau. Ta có thể nhận thức được xu thế phát triển của chúng.

Muốn tạo và tận dụng thời cơ phải nắm vững các nhân tố đó, nắm được quy luật của chúng, phải có sự tác động chủ quan thúc đẩy chúng phát triển chín muồi, hạn chế những nhân tố không có lợi và ra sức chuẩn bị những điều kiện chủ quan để tận dụng thời cơ. Vì thế phải có lực lượng, có kế hoạch rõ, đặc biệt chú trọng sử dụng lực lượng dự bị mạnh để thực hành phản công và tiến công. Ngay khi tổ chức phòng ngự tại chiến tuyến sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt đã “tiết kiệm lực lượng”, tổ chức những đội dự bị mạnh gồm 20.000 quân của Hoàng Chấn và Chiêu Văn đóng quân ở Vạn Lý, vừa có khả năng cơ động để tiếp ứng cho Lý Kế Nguyên, vừa có khả năng làm lực lượng phản công trên hướng chủ yếu. Hoặc như cuộc kháng chiến lần thứ hai chống Nguyên - Mông năm 1285 của nhà Trần, với lực lượng dự bị chiến lược có tới 30 vạn quân, Trần Quốc Tuấn đã tổ chức một cuộc tiến công chiến lược của 3 đạo quân, vùa đánh chính diện kết hợp với bao vây, vu hồi tiêu diệt 60 vạn quân địch.

Thời cơ có sự tác động mạnh mẽ của chủ quan. Thời cơ thuận lợi nhất là khi buộc địch rút và tiêu diệt địch khi chúng rút lui. Kinh nghiệm này đã diễn ra vào năm 1288, khi quân và dân nhà Trần đã tạo được thế chiến tranh nhân dân sâu hiểm, buộc quân Nguyên-Mông phải rút lui để ta tiêu diệt. Ở nước Nga năm 1810, một sự ngẫu nhiên trùng lặp mà Cu-tu-đốp cũng đẩy Na-pô-lê-ông vào thế buộc phải rút lui mà đi tới bị diệt vong. Còn đến năm 1944-1945, giai đoạn cuối của chiến tranh thế giới lần thứ 2, bị thất bại nặng nề, quân phát xít Đức buộc phải rút lui, Hồng quân Liên Xô đã giáng những đòn quyết định, chôn vùi chủ nghĩa phát xít ngay tại hang ổ của chúng.

Bài học về nghệ thuật nắm và sử dụng thời cơ đã được Đảng ta vận dụng một cách sáng suốt và tài tình, mà đỉnh cao là nghệ thuật nắm và sử dụng thời cơ chiến lược của trận quyết chiến chiến lược mùa Xuân 1975. Thời cơ này đã được xác định trong quyết tâm của Bộ Chính trị tháng 1-1975. Đặc biệt, sau chiến thắng Buôn Ma Thuộc và Tây Nguyên, Bộ Chính trị đã xác định thời cơ chiến lược mới trên cơ sở các yếu tố sau:

- Tinh thần quân ngụy đã có bước sa sút mới, đòn Tây Nguyên làm rung động cả nông thôn và đồng bằng đô thị.

- Ta đã phá vỡ thế chiến lược phòng ngự của địch được xây dựng từ 20 năm nay, buộc địch phải điều chỉnh việc bố trí chiến lược.

- Bộ máy chỉ huy của quân ngụy đã bắt đầu rối loạn và mất hiệu lực, có triệu chứng bước đầu của sự tan rã và suy sụp lớn.

- Khả năng can thiệp của Mỹ một lần nữa tỏ ra rất hạn chế.

- Ta còn sung sức, khí thế ngày càng cao, lực lượng và khả năng chiến đấu tăng thêm, đã tạo ra một thế chiến lược mới rất cơ động và có lợi, trình độ chiến đấu của chủ lực đã có bước phát triển mới.

Như vậy, đến ngày. 24-3-1975, tổng số quân địch tuy còn đông (trên 60 vạn, trong đó có 30 vạn quân chủ lực gồm 10 sư đoàn và 8 trung đoàn), nhưng thế và tinh thần của quân địch đã suy yếu. Thời cơ chiến lược được tạo ra do hành động tích cực chính xác của ta thể hiện chủ yếu ở đòn tiêu diệt lớn ở Tây Nguyên. Điều đó còn do địch phạm sai lầm nghiêm trọng về chiến lược: vội vã rút bỏ Tây Nguyên một cách thiếu tổ chức.

Thời cơ chỉ xuất hiện trong một thời gian nhất định, cho nên kịp thời nắm thời cơ chiến lược là một vấn đề quyết định của thắng lợi.
_____________________________________
1. Tống sử, theo cuốn “Lý Thường Kiệt” của Hoàng Xuân Hãn, Hà Nội, 1947, tập II, 294. 

Phải có khu vực quyết chiến chiến lược và kế hoạch quyết chiến chiến lược được xác định đúng đắn và chuẩn bị từ trước khi nổ ra chiến tranh.

Muốn vậy yêu cầu quyết tâm chiến lược là:

Phải nắm chắc địch: Quân xâm lược thường được trang bị hiện đại, có tiềm lực kinh tế, có thể từ đất liền, từ biển, từ trên không tiến vào nước ta, vì vậy:

Thời gian chuẩn bị của chúng không cần dài, nên ta cần chú ý đề phòng địch tiến công bất ngờ. Điểm lại lịch sử về vấn đề này ta thấy:

- Để xâm lược nước ta nhà Tống chuẩn bị 1 năm kể từ khi chọn tướng, điều quân (2-2-1076), đến khi đại quân vượt biên giới (11-2-1076).

- Đế quốc Mông - Nguyên đầu năm 1287 ra lệnh chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ ba, tháng 6-1287 quân tới Tĩnh Giang (Quế Lâm), tháng 9-1287 tập trung 300 chiến thuyền ở Khâm Liêm; 11-12-1287 cánh quân Vân Nam đã vượt biên giới đến Bạch Hạc, thời gian cũng mất khoảng 1 năm.

Địch tiến quân trên nhiều hướng, kết hợp tiến công chính diện với bao vây vu hồi sâu trên đất liền, trên biển, đánh nhiều hướng, cả Bắc, Nam, Đông, Tây. Tất nhiên từ phía Bắc và trên hướng đất liền là hướng tiến công chủ yếu. Nhưng có thể cả từ phía Nam tới, như cuộc xâm lược của đế quốc Nguyên - Mông 1285, hoặc từ hướng Biển Đông vào như cuộc xâm lược của Nguyên - Mông 1288. Trên hướng đất liền là hướng chủ yếu thì cũng đánh bằng nhiều mũi và nhằm vào trung tâm là Thăng Long (Hà Nội).

Địch tập trung trên hướng chủ yếu mà con đường ngắn nhất từ biên giới Trung - Việt đến thủ đô của ta là đường số 1 và số 13.

Thời Tống xâm lược, Quách Quỳ tập trung toàn bộ lực lượng tiến công theo hướng đường thiên lý (số 1), cánh chủ yếu theo đường số 1 và một cánh yểm hộ theo đường Thất Khê, Bình Gia (Lạng Sơn). Thời Nguyên - Mông xâm lược, năm 1285 Thoát Hoan tập trung 50 vạn quân tiến theo hai trục đường số 1 và số 13, đến năm 1288 chúng cũng vẫn tiến quân theo hai đường đó và có thêm một lực lượng theo đường Hà Tuyên - Việt Trì và một lực lượng theo đường biển.

Địch có khả năng huy động lực lượng ưu thế hơn ta. Đây cũng là một đặc điểm nổi bật mang tính chất lịch sử khi mà bên cạnh đất nước ta kẻ xâm lược là một nước lớn, dân đông.

- Lý chống Tống: ta 10 vạn, địch 40 vạn.

- Trần chống Nguyên – Mông:

Năm 1285: ta 30 vạn, địch 60 vạn.

Năm 1288: ta 30 vạn, địch 50 vạn.

- Quang Trung chống Thanh: ta 10 vạn, địch 30 vạn.

- Tháng 2-1979: địch 32 sư đoàn, ta có 10 sư ở miền Bắc, còn trên từng hướng, từng khu vực tác chiến, thường quân địch ưu thế hơn ta từ 3 đến 4 lần, như ở Cao Bằng, địch 7 sư đoàn, ta 2 sư đoàn; ở Phong Thổ, địch có 4 sư đoàn, ta 1 sư đoàn; tại Lạng Sơn, địch 8 sư đoàn, ta lúc đầu chỉ có 1 sư đoàn.

Tóm lại, nếu chiến tranh xâm lược xảy ra, ta có thể thấy tư tưởng quân sự của đối phương sẽ được thực hiện thông qua các hành động sau:

Tập trung ưu thế binh hỏa lực và phương tiện.

Thực hiện kết hợp tiến công chính diện với bao vây vu hồi, chia cắt.

Tiến công bất ngờ với tốc độ cao.

Liên tục nhiều thê đội, tiến nhanh, vào sâu.

Kết hợp tiến công quân sự với bạo loạn lật đổ 

Phải nắm chắc địa lý quân sự Việt Nam:

Trước một kẻ địch mạnh, đông quân, liền đất, liền trời, liền biển với ta, kinh nghiệm lịch sử đã chỉ ra là thường ta phải chặn đánh từ biên giới, trên Biển Đông. Nhưng những khu vực quyết chiến tiêu diệt địch, đánh bại quân địch thường diễn ra xung quanh khu vực Chũ, Chi Lăng, Phả Lại, Bắc Hà Nội.

- Quân Quách Quỳ (1077) bị đánh bại trước phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu).

- Quân của Thoát Hoan (1285) bị đánh bại từ Thăng Long, nơi diễn ra các trận Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long, đến Bắc Giang với trận đánh của Hoài văn hầuTrần Quốc Toản và Vạn Kiếp với các trận ở Quế Võ và sông Sách (sông Thương) của Trần Quốc Tuấn.

- Quân của Tôn Sĩ Nghị (1788) bị diệt ở Ngọc Hồi, Đống Đa, Thăng Long, Phượng Nhỡn.

Khu quyết chiến này bao gồm các yếu tố:

+ Địch không phát huy được sức mạnh lúc mới xuất quân, thế hăng hái lúc ban đầu, lúc tập trung, khí thế cao, gần nơi xuất phát, lương thực còn nhiều và dễ dàng bảo đảm khi vẫn còn gần nước địch. Cho nên, thường các trận đánh sát biên giới không thể là những trận quyết chiến, những trận thắng lớn, mà chỉ có thể là những trận có tính chất tạo thế, tiêu hao, làm chậm bước tiến của địch.

+ Địch bị động phân tán, tiến công không thắng, lực lượng hao mòn, quân lính mệt mỏi, bị bao vây chia cắt, phân tán, bị cắt tiếp tế giao thông, buộc phải chuyển sang phòng ngự một cách bị động.

+ Ta có điều kiện đột phá kết hợp với bao vây vu hồi chiến lược. Ta lại có 6 con sông có thể cơ động lực lượng, thực hiện bao vây vu hồi, đánh vào bên sườn, kết hợp đột phá từ chính diện. Như trong chiến tranh 1285, cánh quân của Trần Quang Khải đột phá theo sông Hồng vào Thăng Long, cánh quân của Trần Hưng Đạo bao vây vu hồi ở Vạn Kiếp, tiêu diệt quân Nguyên - Mông; hoặc như Nguyễn Huệ đánh bại Tôn Sĩ Nghị năm 1768 bằng 5 cánh quân, kết hợp đột phá Ngọc Hồi, vu hồi vào Đống Đa, phát triển vào Thăng Long, đồng thời bao vây chiến lược bên sườn ở Hải Dương và phía sau ở Bắc Giang theo cửa sông Hồng và sông Thái Bình vào Lục Đầu Giang từ cửa biển tiến vào, hình thành thế bao vây chia cắt quân địch, trong chiều sâu thế trận chiến lược của địch.

+ Ta có điều kiện tạo thế đánh sau lưng địch khi địch đã tiến qua, như thời Lý chống Tống: Thân Cảnh Phúc dựa vào các khẩu ải và động giáp, thường xuyên đánh vào đội hình phía sau lưng địch, cắt phá đường vận chuyển lương thực chiến lược của địch khi đội hình của chúng đã vượt qua.

Đến thời nhà Trần chống quân Nguyên - Mông, khi đội hình quân địch đã vượt qua, năm 1285, ta vẫn có các trận đánh lớn của Nguyễn Lộc ở Lạng Sơn, hoặc năm 1288 có trận đánh lớn ở Nội Bàng (1-2-1288), trận đánh ở ba cửa sông (sông Bình Than, sông Cầu, sông Thương) khi Thoát Hoan rút khỏi Thăng Long.

Một vấn đề nữa không thể quên được là địa hình của hầu hết các tỉnh biên giới phía bắc nước ta là địa hình rừng núi. Đặc điểm tác chiến ở rừng núi khó cho việc triển khai lực lượng và binh khí kỹ thuật, hơn nữa khó sử dụng lực lượng tập trung và phát huy sức mạnh, hiệu quả của các loại vũ khí. Tuy nhiên, khi bàn về chiến tranh ở miền núi Ph. Ăng-ghen đã chỉ rõ: “Phòng ngự không được chỉ mang tính chất phòng ngự, nó phải lấy sức mạnh của nó trong tính linh hoạt và bất kỳ ở đâu mà điều kiện cho phép, thì người phòng ngự bao giờ cũng phải hành động tiến công”. Theo Ph. Ăng-ghen, “ưu thế duy nhất mà một đạo quân phòng ngự có thể lợi dụng được, là ở chỗ tìm ra những nhược điểm đó của quân thù và lao vào quãng giữa những đội quân phân tán của chúng. Trong trường hợp đó, những vị trí phòng ngự mạnh mẽ mà một cuộc phòng ngự thụ động sẽ trông mong độc vào chúng thôi, thì sẽ trở thành những chiếc cạm bẫy đối với quân thù, ở đấy có thể thu hút chúng vào bằng cách bắt chúng đánh đòn chủ yếu đúng vào những điểm đó, trong lúc những cố gắng chính của phòng ngự lại nhằm chống lại các đơn vị đang thực hiện việc đánh bọc, mỗi một đơn vị này đến lượt mình lại có thể bị đánh bọc và rơi vào đúng tình hình không lối thoát mà nó định đặt phía phòng ngự vào”1.

Như vậy, chiến dịch phòng ngự quân khu, quân đoàn ở trên tuyến đầu mà địa bàn của nó lại trùng hợp với yêu cầu của chiến lược là phải đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược ở đó thì tính kiên quyết của nó phải hết sức cao. Nó phải bảo đảm các điều kiện cần thiết cho phản công và tiến công chiến lược giành thắng lợi hoàn toàn trong thời gian ngắn. Đây là một vấn đề cực kỳ khó khăn mà trong đó đòi hỏi nó phải đáp ứng được những yêu cầu rất khe khắt, thậm chí mâu thuẫn gay gắt với nhau. Cụ thể là nó phải tiêu diệt được bộ phận quan trọng của địch, làm chúng suy yếu, sa lầy tạo điều kiện và kết hợp chặt chẽ với hoạt động tiến công, phản công. Trên cơ sở yêu cầu chiến lược này mà xác định quyết tâm chiến dịch phòng ngự cấp quân đoàn, quân khu ở trên tuyến đầu cho phù hợp với tình huống diễn ra trong thực tế. Vì thế nội dung của quyết tâm phải bao hàm những bước chuẩn bị hết sức quan trọng cho phản công và tiến công. Hay nói một cách khác là phải kết hợp nhuần nhuyễn ý định phòng ngự với phản công và tiến công, trong đó phản công và tiến công là chủ yếu, phòng ngự là quan trọng.

Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị đã nêu rõ, muốn chiến thắng quân xâm lược phải nắm vững việc vận dụng kết hợp các cách đánh của chiến tranh nhân dân; phải dựa trên cơ sở quán triệt tư tưởng tiến công, nắm vững chiến lược quân sự làm chủ và tiến công, tiến công và làm chủ, nắm vững các phương thức tác chiến và tình hình mọi mặt của chiến tranh; phải căn cứ vào tình hình cụ thể về lực lượng so sánh giữa ta và địch về thế trận và địa hình trong từng tình huống chiến tranh và trên từng địa bàn tác chiến để có quyết tâm chính xác, sử dụng sáng tạo các lực lượng, các thứ quân dựa trên thế trận đã được chuẩn bị sẵn và ngày càng được củng cố, kết hợp chặt chẽ và linh hoạt tiến công, phản công và phòng ngự một cách có hiệu quả nhất, nhằm làm thất bại mọi chủ trương, biện pháp chiến lược và mọi thủ đoạn chiến dịch, chiến thuật của kẻ thù, giành thắng lợi về ta.

Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam nếu xảy ra sẽ là một cuộc chiến tranh nhân dân hiện đại cao với quy mô lớn về lực lượng và phương tiện được huy động của cả hai bên địch và ta. Trên cơ sở cách đánh chung của Bộ Chính trị nêu trong đường lối quân sự của Đảng, phải có phương thức tiến hành chiến tranh về chiến lược, phải tìm ra cách đánh của từng quân chủng, từng thứ quân trong mọi thế trận chiến lược đã được xác định.

Đó là trách nhiệm của Đảng ủy quân sự Trung ương, của Bộ Quốc phòng, của các cơ quan chiến lược của các quân khu quân đoàn và cũng là của toàn thể cán bộ cao cấp trong quân đội. Quán triệt các cách đánh trong đường lối quân sự là phải trên cơ sở tìm ra cách đánh sáng tạo về chiến lược và cách đánh cụ thể về chiến dịch mà chiến đấu, đó là một trọng trách của khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại.
__________________________________
Ph. Ăng-ghen, Bàn về chiến tranh nhân dân, NXB Sự thật Hà Nội, 1970, trang 110. 

BÀN VỀ MẤY VẤN ĐỀ TÁC CHIẾN TRÊN ĐỊA HÌNH RỪNG NÚI

Địa hình rừng núi nước ta kéo dài từ Đồng Văn (Hà Tuyên) đến cực nam Trung Bộ. Rừng núi chiếm hơn 3/4 diện tích cả nước, trong đó có khoảng 40% diện tích là địa hình núi; chỉ có 1/4 là địa hình đồng bằng. Thảm thực vật thường là rừng tự nhiên, cây cối không đồng nhất. Viền quanh biên giới nước ta với Trung Quốc, với Lào, hầu hết là địa hình rừng núi.

Trong lịch sử nước ta, một trong những chiến trường chủ yếu để diệt địch cũng là chiến trường rừng núi. Nhiều chiến thắng lịch sử có tính chất chiến lược đã diễn ra ở đây như: chiến thắng Chi Lăng (1427), chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), chiến dịch Tây Nguyên (1975)...

Địa hình rừng núi từ biên giới phía bắc và phía tây chuyển tiếp tới vùng đồi trung du là tấm áo giáp ôm lấy đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Thanh Hóa và là nơi tựa lưng cho các đồng bằng miền Trung. Ngày nay, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, ta có thể dựa vào tấm áo giáp rừng núi chặn đánh địch từ biên giới phía bắc theo đường bộ đánh xuống, phía tây đánh sang, không cho chúng vào sâu đất liền.

Địa hình rừng núi là địa hình đặc biệt đối với nhiều nước, nhưng lại là địa hình cơ bản và phổ biến ở Việt Nam. Ngược lại địa hình mấp mô trung bình là địa hình cơ bản và phổ biến ở nhiều nước, nhưng lại là địa hình không phổ biến ở nước ta.



NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VÀ ĐIỀU KIỆN CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH ĐỘNG CHIẾN ĐẤU TRÊN ĐỊA HÌNH RỪNG NÚI

Những đặc điểm thiên nhiên của địa hình rừng núi có ảnh hưởng rất nhiều đến tổ chức chiến đấu và chiến đấu của các lực lượng đối địch, khác với điều kiện địa hình đồng bằng thông thường. Bất cứ một đội quân nào dù hiện đại hoặc kém hiện đại, dù sử dụng vũ khí hủy diệt lớn hay không, muốn đánh thắng đều phải tính đến những đặc điểm này.

Địa hình rừng núi vùng nhiệt đới nói chung và đặc biệt là địa hình rừng núi nước ta mang đặc điểm là hết sức mấp mô: núi cao vách đứng, vực sâu, khe núi hẹp, rừng dày rậm rạp, nhiều suối; khí hậu thay đổi đột ngột theo độ cao, theo ngày và đêm, theo mùa, không khí ẩm thấp. Hiện nay, ở vùng rừng núi làng bản ít lại phân tán, dân cư thưa thớt, kinh tế kém phát triển, ít đường ô tô và đường sắt, chất lượng đường xấu, đường mòn khó đi.

Những đặc điểm địa hình trên đều có anh hưởng đến khả năng chiến đấu của ta và địch. Nổi bật nhất là:

Trong chiến đấu tiến công, bị hạn chế trong việc sử dụng tập đoàn đột kích lớn trên một hướng, bị hạn chế về tính cơ động và tác dụng của hỏa lực bắn thẳng, khó quan sát, do đó hạn chế nhiều tác dụng của xe tăng, thiết giáp, pháo binh cơ giới, các phương tiện vận tải đường bộ,... tốc độ tiến công không thể cao như ở địa hình thông thường. Địa hình mấp mô, ít đường sá, bị núi cao chia cắt nên khi tác chiến với lực lượng lớn thì khó hiệp đồng. Trên các hướng riêng lẻ, thường dễ hở cạnh sườn, bộ đội phải sẵn sàng độc lập hoàn thành nhiệm vụ của mình, không có đơn vị bạn phối hợp. Vì vậy, việc xác định vị trí của các phân đội, trung đoàn, binh đoàn chiến thuật để nó có khả năng cơ động kịp thời, thực hiện được nhiệm vụ đã giao là hết sức quan trọng.

Các hệ thống đường cách xa nhau, khoảng cách giữa các hướng lớn, nên các dải tiến công thường rộng hơn ở địa hình thông thường, hiệp đồng và chỉ huy khó khăn hơn, bố trí lại lực lượng lớn và cơ động lực lượng từ hướng này sang hướng khác cũng gặp nhiều khó khăn, thậm chí có khi không làm được.

Tuy vậy, nếu lực lượng gọn nhẹ, trang bị thích hợp thì có thể lợi dụng sự kín đáo, che khuất của núi rừng để tiếp cận một cách bí mật, bất ngờ, thực hiện bao vây, vu hồi, luồn sâu chia cắt quân địch phòng ngự.

Trong chiến đấu phòng ngự, do có địa hình mấp mô, có cây, có vật che chắn, nên bên phòng ngự có thế lợi để ngăn cản hành động tiến công của địch, lợi dụng địa hình hiểm trở, lấy ít địch nhiều, có điều kiện thuận lợi để làm công trình, vật chướng ngại. Nhưng điều không lợi cơ bản cho hoạt động phòng ngự là do dịa hình rộng, nhiều khe hở, bị che khuất, nên dễ bị đối phương chia cắt, bao vây, đánh bọc, tập kích bất ngờ, từng bộ phận (điểm tựa, cụm điểm tựa) dễ bị cô lập, cơ động lực lượng, cơ động phương tiện rất khó khăn...

Như vậy, đặc điểm của địa hình rừng núi ảnh hưởng rất lớn đến hành động chiến đấu của bộ đội. Phải từ thực tế ấy mà nghiên cứu cách đánh, tổ chức lực lượng, trang bị và huấn luyện bộ đội cho phù hợp, phát huy những thuận lợi và hạn chế, đi đến khắc phục khó khăn của loại địa hình này. Không thể rập khuôn máy móc cách đánh và tổ chức lực lượng như khi tác chiến ở địa hình mấp mô trung bình, đồng thòi cũng không vì khó khăn của địa hình rừng núi mà không tìm cách phát huy hết sức mạnh của trang bị vũ khí hiện đại, của phương tiện cơ động các loại…

Các lực lượng vũ trang ta, nhất là các binh đoàn chủ lực ngày nay được trang bị nhiều vũ khí và phương tiện hiện đại, cần tổ chức và thực hành chiến đấu phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh kinh tế của đất nước ta, nhất là khi nền công nghiệp ta còn rất kém phát triển; đường sá, bến cảng, sân bay... còn ít, và chất lượng về nhiều mặt còn thấp; khả năng bảo đảm về vật chất và kỹ thuật còn hạn chế. Ở vùng rừng núi, những hạn chế đó càng nhiều hơn. Trong những năm tới nền kinh tế nước ta đương nhiên sẽ có những chuyển biến mới, nhưng chưa chắc có thể biến đổi một cách cơ bản. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải biết phát huy những cái mạnh mới của ta do vũ khí và trang bị kỹ thuật hiện đại tạo nên, mạnh dạn sử dụng và kiên quyết khắc phục khó khăn để sử dụng những vũ khí, trang bị đó trong chiến đấu ở địa hình rừng núi. Mặt khác cần nghiên cứu hoàn thiện hơn nữa tổ chức, biên chế, trang bị và cách đánh, nâng cao chất lượng tổ chức, biên chế, trang bị của bộ đội phù hợp với địa hình rừng núi, tạo nên sức đột kích, hỏa lực mạnh và sức cơ động cao hơn trong chiến dịch, chiến đấu. Đồng thời, ta cũng phải biết phát huy những cái mạnh, những sở trường vốn có của bộ đội ta trên chiến trường rừng núi, nhất là biết phát huy kinh nghiệm của bộ binh trang bị nhẹ đã từng chiến thắng rất oanh liệt quân đội Pháp và Mỹ. Quân đội Mỹ được trang bị rất hiện đại, khi vào Việt Nam cũng đã phải thay đổi cả cách tổ chức, trang bị cũng như cách đánh ở chiến trường rừng núi ở miền Nam nước ta (như sư đoàn bộ binh cơ giới phải chuyển thành các sư đoàn bộ binh, sư đoàn kỵ binh đổ bộ đường không...). Kinh nghiệm của quân đội Xô-viết tác chiến ở rừng núi cũng cho ta những điều bổ ích. Theo tư liệu của Liên Xô, quân đoàn và tập đoàn quân tác chiến ở địa hình rừng núi đều có trang bị, biên chế và cách đánh khác với các đơn vị tác chiến trên địa hình trung bình phổ biến trên chiến trường châu Âu. Quân đoàn và tập đoàn quân chiến đấu ở rừng núi trong biên chế đều có sư đoàn trang bị nhẹ, có các phương tiện, vũ khí phù hợp với địa hình rừng núi, và về cách đánh, cũng rất coi trọng kết hợp sức mạnh đột kích từ chính diện của lực lượng mạnh, trang bị nhiều xe tăng, thiết giáp, bộ binh cơ giới hóa với bộ đội trang bị nhẹ, quân đổ bộ đường không, thực hiện bao vây, vu hồi, lợi dụng các đường hẻm, bí mật, bất ngờ tiến công ngay vào phía sau quân địch.

Việc chuẩn bị cho quân và dân ta trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là chuẩn bị cho bộ đội để đánh thắng quân xâm lược trên vùng địa hình rừng núi, ở biên giới, có rất nhiều vấn đề mới và vô cùng phức tạp. Chúng ta cần phát huy và phát triển những kinh nghiệm phong phú đã có của ta, học tập một cách sáng tạo kinh nghiệm của các nước để nghiên cứu góp phần giải quyết tốt những vấn đề đó.

CHIẾN ĐẤU TRÊN ĐỊA HÌNH RỪNG NÚI


Kinh nghiệm các cuộc chiến tranh đã qua cho thấy, chiến đấu trên địa hình rừng núi thường phải tuân theo một số nguyên tắc có tính quy luật sau đây.

Trong tiến công:

Tiến công ở địa hình rừng núi thường phải đặc biệt coi trọng hành động luồn sâu, bao vây, vu hồi kết hợp với đột phá chính diện hệ thống phòng ngự của đối phương.

Việc đột phá thọc sâu thường phải tiến hành dọc theo các thung lũng và các đường, đặc biệt phải dựa theo đường ô tô mới có thể sử dụng được đầy đủ ưu thế về trang bị kỹ thuật hiện đại, xe tăng, cơ giới. Cần phải tạo điều kiện để phát huy hết chỗ mạnh của trang bị kỹ thuật hiện đại. Đột phá thành công là điều kiện quyết định để đưa lực lượng lớn, cơ động mạnh với hỏa lực mạnh tiến hành thọc sâu, đập tan hệ thống phòng ngự chủ yếu của đối phương để nhanh chóng tiêu diệt chúng, hoàn thành nhiệm vụ tiến công.

Tuy vậy, đột phá chính diện sẽ gặp nhiều khó khăn, nhất là trong tình hình binh khí kỹ thuật của bên tiến công còn ở mức độ nhất định, các quân chủng khác như không quân chưa đủ sức làm chủ vùng trời trong một thời gian dài; khả năng cơ động, sử dụng cơ giới bị hạn chế nhiều do mạng đường sá xuống cấp nghiêm trọng, địa hình phức tạp; đối phương lại có quân đông, tổ chức phòng thủ có chiều sâu, gồm nhiều thê đội.

Do đó, bên tiến công không thể chỉ tiến hành đột phá, tiến công chính diện. Phải biết lợi dụng địa hình rừng núi, những đường mòn, rừng rậm kín đáo, lợi dụng việc bên phòng ngự tổ chức phòng thủ theo hệ thống điểm tựa, khống chế những điểm quan trọng, thường dễ lộ cạnh sườn, hở khoảng trống, để bí mật, bất ngờ dùng lực lượng nhẹ bao vây vu hồi, luồn sâu phía sau đối phương, kết hợp với tiến công chính diện, tiêu diệt từng bộ phận lực lượng phòng ngự của đối phương. Những ý kiến của Ph. Ăng-ghen về chiến tranh ở miền núi đến nay vẫn còn ý nghĩa hiện thực: “Chính cái khả năng giản đơn có thể đi vòng quân thù đó đang bù trừ lại một cách thừa thãi sức mạnh của các vị trí phòng thủ mà việc đánh chính diện thường là một sự điên rồ hoàn toàn”1.

Do đó, nếu bên tiến công chỉ đột phá chính diện, đánh những điểm tựa mà bên phòng ngự đã lợi dụng địa hình để cố thủ, thì sẽ vấp phải sự chống cự mạnh mẽ, việc phát triển tiến công sẽ chậm chạp, thương vong sẽ tăng lên, và có khi bị địch phản kích đánh bại. Nếu khéo tiến hành bao vây, vu hồi, thì chỉ cần một lực lượng nhỏ tiến đánh cạnh sườn và sau lưng bên phòng ngự, thì cũng gây được tác động rất lớn.

Việc bao vây, vu hồi, luồn sâu không phải chỉ có thể tiến hành rộng rãi ở cấp chiến thuật, với các phân đội nhỏ đánh vào sườn vào sau lưng các điểm tựa mạnh và các ổ đề kháng của bên phòng ngự, nhằm chia cắt chúng, mà còn có thể tiến hành ở cấp chiến dịch, với các binh đoàn bộ binh nhẹ, các đơn vị tinh nhuệ, đánh vào trận địa pháo, sở chỉ huy, các căn cứ hậu cần của đối phương, cắt đường tiếp tế, phá kho tàng, chặn tiếp viện từ tuyến sau của bên phòng ngự.

Khi tiến công ở rừng núi, đổ bộ đường không có vai trò rất quan trọng. Kết hợp chặt chẽ với đột phá chính diện, nó làrn tăng tốc độ tiến công, đặc biệt khi có điều kiện thuận lợi nó có thể giữ lâu được các vị trí đã chiếm ở sau lưng đối phương. Việc đổ bộ đường không vào những chiều sâu khác nhau của bên phòng ngự có thể chia cắt các lực lượng cơ bản của bên phòng ngự, chiếm các mục tiêu quan trọng ở tung thâm, kiềm chế bên phòng ngự cơ động lực lượng từ các phía, làm rối loạn việc chỉ huy và công tác hậu phương của chúng.

Trong tiến công ở địa hình rừng núi, các hình thức chiến thuật mà ta đã có kinh nghiệm và sở trường đều có thể được vận dụng linh hoạt và phát triển thêm: như tiến công địch phòng ngự vững chắc; tiến công địch đang vận động dã ngoại; phục kích, tập kích địch đang vận động; bao vây, tiến công liên tục, v.v...
_________________________________
1. Ph. Ăng-ghen, Chiến tranh ở miền núi trước kia và hiện nay, trích cuốn “Bàn về chiến tranh nhân dân”, Nhà xuất bản Sự thật. Hà Nội, 1970, trang 107, 108.

Trong phòng ngự:

Phòng ngự ở địa hình rừng núi, do sự chi phối của địa hình, thường được tổ chức theo hướng, theo đường, nhằm giữ vững các đường giao thông quan trọng, các điểm cao khống chế, đèo, ải, đầu mối giao thông bằng các điểm tựa, cụm điểm tựa, có công sự vững chắc, có đường hầm kiên cố. Ở các trung tâm đô thị, có thể tổ chức các khu vực phòng ngự của các đơn vị lớn với hệ thống trận địa gồm công sự dã chiến kết hợp với các điểm tựa kiên cố, các pháo đài, chiến lũy xây dựng lâu bền. Trong điều kiện địa hình của ta, tổ chức phòng ngự ở vùng núi phải là hệ thống trận địa phòng ngự nhiều tầng, có chiều sâu. Ngoài việc tổ chức các điểm tựa và hệ thống cụm điểm tựa vững mạnh, chống bộ binh, chống tăng, chống pháo, chống không quân và chống vũ khí hóa học của địch (như ở các loại địa hình thông thường), còn phải đặc biệt coi trọng việc bảo vệ cạnh sườn, phía sau, chống mọi hành động bao vây, luồn sâu, vu hồi của bên tiến công. Lực lượng phòng ngự phải phát huy được sức mạnh của chiến tranh nhân dân, kết hợp bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ.

Hành động phòng ngự cơ bản có thể là: dựa vào các trận địa đã được chuẩn bị, dùng hỏa lực tại chỗ ngăn chặn, tiêu hao đối phương tiến công, đồng thời tích cực phản kích, phản đột kích vào sườn và phía sau quân địch bằng nhiều phương pháp và hình thức tác chiến khác nhau; dựa vào các căn cứ chiến đấu để xây dựng, các lực lượng chủ lực bộ binh, pháo binh, công binh, không quân, đặc công, và lực lượng vũ trang địa phương để phát triển nhiều hình thức tiến công như đánh hậu cứ, giao thông, đánh vào các sân bay, căn cứ hỏa lực các sở chỉ huy của đối phương... Cần xây dựng các bản, làng, xã chiến đấu, công trường, nông trường chiến đấu, các cụm chiến đấu vững chắc để các lực lượng tại chỗ (chủ yếu là dân quân, tự vệ và một phần bộ đội địa phương) ngoan cường, kiên quyết đánh bại quân địch tiến công nhằm thu hút, giam chân, phân tán, làm giảm tốc độ tiến công và tiêu hao lớn lực lượng bên tiến công. Đồng thời, các lực lượng tại chỗ tích cực đánh địch trong phạm vi phụ trách bằng các phương pháp thích hợp như phục kích, tập kích, đánh mìn, phá đường... trên các đường tiến quân và giao thông của bên tiến công.

Trong quá trình phòng ngự, trước kẻ địch tiến công có ưu thế về lực lượng, trong điều kiện chiến đấu bất lợi hoặc bị bao vây, bên phòng ngự phải biết tổ chức chiến đấu trong vòng vây để giữ vững trận địa, hoặc phá vây. Bộ đội phải biết hành động khi có lệnh rút lực lượng ra khỏi vòng vây hoặc cơ động sang một hướng khác, thậm chí phải biết cả rút lui về phía sau để củng cố khi cần thiết. Song, mặt khác, để tạo nên một thế từ trong đánh ra, từ ngoài đánh vào, đánh xen kẽ và đánh theo tuyến, kết hợp chặt chẽ chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực với chiến tranh nhân dân địa phương, lực lượng phòng ngự phải biết trụ lại phía sau quân địch, để tiếp tục đánh địch khi địch tràn qua khu phòng ngự của ta. Một bộ phận của quân chủ lực kết hợp với lực lượng địa phương có thể tổ chức được những căn cứ chiến đấu có ý nghĩa chiến dịch (chiến lược) để chiến đấu liên tục. Kinh nghiệm cho thấy, các đơn vị dù nhỏ, nhưng nếu ngoan cường giữ vững các mục tiêu then chốt ở phía sau lưng địch, vẫn có thể tiêu diệt được một bộ phận lớn lực lượng tiến công của đối phương và nhiều khi đã chặn được bước tiến của chúng.

Có thể nói việc xây dựng căn cứ chiến đấu sau lưng địch là chức năng chủ yếu của quân địa phương. Song, trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó, quân chủ lực cũng phải tham gia xây dựng căn cứ chiến đấu để trụ lại đánh địch tạo nên thế xen kẽ, chia cắt đi đến thực hiện đòn tiêu diệt lớn quân địch. Kinh nghiệm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho thấy, ngay ở địa hình đồng bằng, chúng ta cũng đã đưa bộ đội chủ lực vào phát động chiến tranh nhân dân địa phương, hình thành những căn cứ chiến đấu, những vùng giải phóng ở ngay sau lưng địch.


Trong phản công:

Phản công là tiến công quân địch đang tiến công, có thể vận dụng kết hợp tiến công với phòng ngự, lấy phòng ngự phục vụ tiến công, dùng phòng ngự chặn địch lại, đưa địch vào khu vực có chuẩn bị sẵn để tiến hành tiến công, thường là vào cạnh sườn, sau lưng địch, nhằm tiêu diệt chúng. Ưu thế lực lượng sử dụng trong phản công thường không lớn như trong tiến công, có khi chỉ xấp xỉ so với đối phương. Nhưng với cách đánh mưu trí, và trong điều kiện đã làm chủ được địa hình rừng núi, nên vẫn có thể bảo đảm giành thắng lợi. Lực lượng tiến công trong chiến dịch phản công là lực lượng chủ yếu, lực lượng phòng ngự các khu vực chỉ là để tạo thế, tạo thời cơ, chỉ là bộ phận. Đó là điểm khác nhau cơ bản của phản công so với phòng ngự. Kinh nghiệm chiến dịch phản công ở Đường 9 - Nam Lào trong kháng chiến chống Mỹ đã chứng minh rõ những vấn đề này. Tùy theo điều kiện địa hình của từng hướng, chiến dịch phản công ở địa hình rừng núi trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có thể sử dụng kết hợp lực lượng bộ binh trang bị mạnh, bộ binh cơ giới, xe tăng với lực lượng bộ binh nhẹ để tiến hành tiến công và phòng ngự trong quá trình chiến dịch.

Địa hình rừng núi có nhiều thung lũng, khe hở lớn, tạo ra khả năng cho quân địch tiến công có thể thực hiện vu hồi bằng lực lượng tương đối lớn từng sư đoàn hoặc hơn nữa. Do đó bên phòng ngự và phản công phải nghiên cứu để đập tan các mũi vu hồi, tiến tới đánh bại cuộc tiến công lớn của đối phương trên chính diện, bên phản công có thể buộc bên tiến công phải vu hồi vào những hướng mà họ đã định sẵn nhằm tiêu diệt từng cánh quân vu hồi của chúng.

TỔ CHỨC TRANG BỊ VÀ HUẤN LUYỆN CHO BỘ ĐỘI CHIẾN ĐẤU Ở ĐỊA HÌNH RỪNG NÚI


Việc tổ chức, trang bị và huấn luyện cho bộ đội chiến đấu ở địa hình rừng núi phải xuất phát từ cách đánh, từ nhiệm vụ mà đơn vị phải đảm nhiệm và từ đặc điểm của địa hình. Nhưng điều kiện địa lý của đất nước có ảnh hưởng đến việc xây dựng các lực lượng vũ trang. Không thể áp dụng một loại tổ chức, biên chế, huấn luyện thống nhất cho các đơn vị, trong khi các đơn vị lại làm nhiệm vụ khác nhau trên những chiến trường có những đặc điểm địa hình khác nhau.

Về tổ chức biên chế của bộ đội chiến đấu ở rừng núi, mỗi nước đều có những cách tổ chức riêng: Quân đội Liên Xô trong những năm 1920 - 1930 có sư đoàn bộ binh rừng núi. Quân đội Tây Đức có sư đoàn bộ binh rừng núi. Quân đội Pháp, Ý có quân leo núi. Quân đội Trung Quốc có binh đoàn sơn cước, quân đoàn bộ binh nhẹ... Sư đoàn bộ binh rừng núi của Liên Xô gồm 3 - 4 trung đoàn bộ binh, 1 - 2 trung đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ, 1 tiểu đoàn pháo chống tăng, 1 đại đội kỵ binh và các phân đội chuyên môn. Sư đoàn rừng núi Tây Đức có 2 lữ đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn cơ giới, một trung đoàn pháo, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ, các đơn vị bảo đảm và phục vụ. Ngoài ra còn có thể có các đơn vị vận tải hoặc dùng súc vật thồ.

Như vậy, kinh nghiệm chiến đấu ở rừng núi cho thấy có thể tổ chức các sư đoàn bộ binh mạnh, sư đoàn bộ binh cơ giới, lữ đoàn xe tăng, đồng thời có các sư đoàn bộ binh nhẹ là các binh đoàn chiến thuật cơ bản. Khi đột phá chính diện, thọc sâu, tiến công trong hành tiến hiệp đồng binh chủng và quân chủng, ở những vùng đường sá phát triển, những hướng có thể cơ động được thuận lợi, có thể sử dụng các sư đoàn bộ binh mạnh, sư đoàn bộ binh cơ giới, các lữ đoàn xe tăng. Khi thực hành bao vây, vu hồi chiến dịch, vượt qua những địa hình khó khăn, đánh vào hậu phương, chia cắt đối phương, luồn sâu vào sau lưng địch, tác chiến trong các căn cứ chiến đấu... có thể sử dụng những sư đoàn bộ binh được trang bị nhẹ, dễ cơ động, lợi dụng được cả những đường mòn khó đi.

Từ những sư đoàn bộ binh mạnh, sư đoàn bộ binh cơ giới, lữ đoàn xe tăng, sư đoàn bộ binh nhẹ, tùy theo yêu cầu, nhiệm vụ của từng chiến dịch, theo ý định chiến lược từng giai đoạn của chiến tranh, có thể hình thành các tổ chức liên binh đoàn lớn hơn, như quân đoàn, tập đoàn quân, cụm quân đoàn với các sư đoàn từng loại khác nhau cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ. Kinh nghiệm của quân đội các nước anh em cho thấy, khi quân đoàn tiến công ở hướng chủ yếu dọc theo thung lũng rộng, có đường cái lớn, nơi mà địa hình cho phép sử dụng tập trung xe tăng, cơ giới, thì biên chế của các liên binh đoàn có thể chỉ gồm các sư đoàn bộ binh cơ giới, sư đoàn xe tăng. Khi quân đoàn hoạt động ở điều kiện địa hình phức tạp, biên chế có thể gồm một hay hai sư đoàn bộ binh cơ giới và một sư đoàn bộ binh miền núi.

Đối với nhiệm vụ bao vây, vu hồi, đánh vào vùng sau lưng địch trong chiến dịch, cần phát huy mạnh mẽ vai trò của quân địa phương. Tuy vậy, cách tiến công của quân chủ lực trên địa hình rừng núi theo phương thức chiến tranh bằng các bình đoàn chủ lực là cách đánh hoàn chỉnh: có tiến công chính diện, có bao vây, vu hồi; do đó cần nghiên cứu tổ chức ra các loại sư đoàn như trên. Chúng ta tiến hành chiến tranh bằng hai phương thức kết hợp chặt chẽ với nhau, phải lấy quân chủ lực làm lực lượng tập trung đánh những đòn quyết định. Do đó, việc bao vây, vu hồi, chia cắt lớn quân địch phía sau, không phải chỉ do các đơn vị địa phương thực hiện mà còn có các binh đoàn chủ lực tham gia. Những lực lượng đó phải được thống nhất chỉ huy, hiệp đồng chặt chẽ, nhằm thực hiện tốt nhất mục đích của chiến dịch.

Tùy theo khả năng của máy bay lên thẳng, ở địa hình rừng núi, có thể và cần thiết tổ chức ra các đơn vị đổ bộ đường không để giải quyết các nhiệm vụ như đánh chiếm các địa hình có lợi, góp phần nâng cao tốc độ tiến công, bao vây chia cắt, phản kích, tiêu diệt quân địch. Trong tình hình nào cũng vậy, việc tổ chức các tiểu đoàn, trung đoàn đặc công đánh rừng núi là rất cần thiết và có nhiều tác dụng lớn.

Việc trang bị vũ khí và phương tiện kỹ thuật cho các đơn vị chiến đấu ở địa hình rừng núi cũng có những đặc điểm riêng.

Địa hình rừng núi nói chung hạn chế việc sử dụng tập trung số lượng lớn xe tăng. Nhưng cũng có thể sử dụng tập trung xe tăng ở một số khu vực, xe tăng có thể đi lại được, như trên những thung lũng lớn và trên cao nguyên vùng núi. Nói chung, việc trang bị, sử dụng xe tăng và cơ giới đối với chiến trường Việt Nam cần phải được nghiên cứu chu đáo. Theo tổng kết của Pháp trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, chúng cho rằng địa hình Việt Nam là một địa hình khó dùng cơ giới một cách rộng rãi. Không phải chỉ ở chiến trường rừng núi, mà ngay cả ở đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ, đất thường có nhiều nước, độ lún cao, cho nên những đơn vị cơ giới cũng chỉ có thể chủ yếu hoạt động trên các trục đường chính, không thể cơ động rộng rãi ở ruộng được.

Địa hình Việt Nam lại lồi lõm bất thường, chiến xa tiêu thụ rất tốn nhiên liệu, tuổi thọ của các xe tăng sau khi sử dụng ở Việt Nam chỉ bằng 1/10 so với khi sử dụng trên chiến trường châu Âu. Như vậy, xe tăng dùng ở chiến trường châu Âu dùng được 10 năm, nhưng dùng ở Việt Nam chỉ một năm là hỏng1.

Đối với các sư đoàn bộ binh nhẹ, thường trang bị vũ khí nhẹ, kích thước nhỏ, các xe quân sự và phương tiện vận tải dễ cơ động ở rừng núi.

Pháo mặt đất và pháo cao xạ thường trang bị các loại có tầm cỡ và cấu tạo thích hợp, có thể cơ động dễ dàng theo đường rừng núi, mang vác bộ, hoặc do lừa ngựa kéo. Ngoài pháo nòng dài, pháo tên lửa, có thể trang bị và sử dụng pháo, cối có đường đạn cầu vồng, có góc bắn lớn, bắn được các mục tiêu che khuất để khắc phục địa hình có nhiều góc chết.

Máy bay là một loại phương tiện có thể sử dụng có hiệu quả nhất để tiêu diệt sinh lực và binh khí kỹ thuật cửa đối phương bố trí ở mặt dốc phía sau, trong các khe hẹp và sâu. Máy bay lên thẳng có thể được sử dụng rộng rãi ở địa hình rừng núi, vận chuyển đội dự bị, di chuyển đài hiệu chỉnh pháo binh, vận chuyển khí tài, lương thực, đạn dược, bắc cầu qua sông ngòi, khe núi, xây dựng đường liên lạc thông tin, đặt mìn, v.v...

Các đơn vị công binh thường phải được tăng cường gấp 2 - 3 lần so với điều kiện bình thường, được trang bị phương tiện bảo đảm cơ động đặc biệt để có thể dễ dàng vượt sông hoặc khe núi, thi công đường quân sự làm gấp và có thể đưa được những vật nặng lên cao.

Các đơn vị kỹ thuật và hậu cần, ngoài việc vận tải bằng cơ giới cần sử dụng vận tải bộ và cả súc vật thồ hàng.

Về huấn luyện chiến đấu, các đơn vị có nhiệm vụ chiến đấu trên địa hình rừng núi thường phải có những chương trình huấn luyện, nội dung giáo dục về chiến dịch, chiến thuật, kỹ thuật, tinh thần - tâm lý, thể lực v.v... với các thiết bị bãi tập, phương tiện huấn luyện, thiết bị địa hình sát với thực địa.

Các sư đoàn bộ binh nặng, sư đoàn bộ binh cơ giới và xe tăng phải được huấn luyện bảo đảm xử trí tốt các tình huống phức tạp trong chiến đấu ở rừng núi. Các sư đoàn bộ binh nhẹ phải được huấn luyện sử dụng các hình thức chiến thuật truyền thống, như vận động tiến công, phục kích, tập kích, đánh địch trong công sự vững chắc... ở địa hình rừng núi.

Việc rèn luyện thể lực cho cán bộ và chiến sĩ ở các đơn vị này cần chú ý rèn luyện khả năng cơ động, tập leo vách đá, bơi, vượt suối có mang vác trang bị, hành quân (đêm và ngày) trên đường rừng rậm và nhiều dốc.
_______________________________________
1. Trần Ngọc Quế - Nhận định của quân đội Pháp về sử dụng cơ giới trên chiến trường Việt Nam, Tạp chí Quân đội nhân dân số tháng 3-1958.

IV
MẤY SUY NGHĨ VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI



Bảo vệ Tổ quốc hiện nay là sự vận động và phát triển của quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta trong những điều kiện và hoàn cảnh của thời đại mới.

Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, kỷ nguyên xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay là giai đoạn phát triển và kế tục lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Dân tộc Việt Nam hình thành rất sớm với tư cách là một dân tộc độc lập, một quốc gia có chủ quyền. Nhân dân ta vốn giàu nghị lực và tài năng, giàu tinh thần tự lực tự cường, từ thế hệ này sang thế hệ khác, đã cùng nhau chung lưng đấu cật, đem hết sức lực và trí tuệ đấu tranh liên tục và bền bỉ để xây dựng cuộc sống, xây dựng nước nhà. Trong quá trình đó, đi đôi với cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên và các cuộc đấu tranh giai cấp trong nội bộ dân tộc là những cuộc chiến tranh yêu nước quyết liệt chống lại những thế lực xâm lược lớn mạnh và hung bạo đã liên tiếp diễn ra trên đất nước ta.

Lịch sử đấu tranh của dân tộc ta cũng đã chỉ rõ, trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của dân tộc, qua tất cả các thời đại, các thế lực bành trướng và xâm lược luôn luôn nhòm ngó nước ta, đã gây nhiều cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo hòng nô dịch và bóc lột nhân dân ta1. Vì vậy, nhìn chung cả quá trình mấy ngàn năm xây dựng đất nước, nhiệm vụ giữ nước được đặt ra một cách thường xuyên trong tất cả các thời đại. Dựng nước đi đôi với giữ nước đã trở thành một quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam.

Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thời kỳ mà thế giới đang thay đổi, đầy biến động. Các mâu thuẫn xã hội trong giai đoạn quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sâu sắc. Chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ đang có ý đồ xóa bỏ chủ nghĩa xã hội.

Các hình thức đấu tranh quân sự, chính trị, kinh tế ngoại giao trong thế kỷ XX đang thay đổi trước một tương quan thực tế giữa các cường quốc thế giới, không còn giống như những năm sau đại chiến thế giới thứ 2.

Các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng công nghệ với sự tăng trưởng chưa từng có của lực lượng sản xuất đang tiến nhanh với những bước thần kỳ, vừa đem lại cho loài người một tương lai tươi sáng, văn minh hạnh phúc, vừa làm tăng thêm cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các nước trong hai hệ thống xã hội thế giới, tạo ra nguy cơ tiêu hủy cả nền văn minh nhân loại khiến toàn thế giới phải lo lắng tìm cách kiên quyết đấu tranh ngăn chặn chiến tranh thế giới, chiến tranh hạt nhân và chiến tranh vũ trụ.
__________________________________
1. Từ cuộc kháng chiến chống Tần thế kỷ thứ III trước công nguyên đến nay, dân tộc ta đã tiến hành 15 cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc quy mô cả nước, trong đó 12 cuộc kháng chiến đã giành được thắng lợi lớn; chỉ có 3 cuộc kháng chiến thất bại tạm thời đưa đến thảm họa mất nước (thời Bắc thuộc trên 10 thế kỷ, thời Minh được 20 năm và thời Pháp thuộc 100 năm); đã tiến hành hàng trăm cuộc khởi nghĩa, trong đó có hơn 10 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc quy mô rộng lớn. Thời gian chống ngoại xâm (mà chủ yếu là bọn xâm lược phương Bắc) lên đến trên 12 thế kỷ, chiếm hơn 1/2 thời gian lịch sử.

Hệ thống xã hội chủ nghĩa, sau một thời kỳ phát triển nhanh với những thành tựu to lớn về các mặt chính trị, kinh tế xã hội, quân sự, khoa học..., hiện nay đang đứng trước một cuộc khủng hoảng to lớn chưa từng có, Liên Xô và các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa đã thay đổi chế độ, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại đang tập trung thực hiện một cuộc cải cách to lớn, đổi mới để vượt qua thử thách lớn lao.

Trong lúc đó, chủ nghĩa đế quốc đang hết sức tìm cách khai thác điểm yếu và dùng nhiều thủ đoạn, hình thức tiến công các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, thực hiện diễn biến hòa bình, bao vây kinh tế. Cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống xã hội đã chuyển vào một thời kỳ hết sức đặc biệt: vừa hợp tác vừa đấu tranh quyết liệt. Chủ nghĩa đế quốc đang lợi dụng ưu thế về kinh tế và công nghệ, tăng cường “diễn biến hòa bình” mà bước đầu là thâm nhập kinh tế, đánh vào lý tưởng và ý thức hệ của chủ nghĩa xã hội, coi đó là “một thời điểm cuối cùng của một tư tưởng, giai đoạn kết thúc của thử nghiệm Cộng sản” 1. Đó chính là chủ nghĩa đế quốc đang thực hiện âm mưu giành chiến thắng mà không cần chiến tranh.

Các nước thuộc thế giới thứ ba: trừ một vài nước vượt lên thành các nước công nghiệp mới (NIC), còn phần lớn bị phụ thuộc vào các nước tư bản chủ nghĩa về tài chính, công nghệ, thị trường tiêu thụ, tài nguyên, bị chìm đắm trong nạn đói thất nghiệp, nợ nần liên miên, mù chữ và bệnh tật, đang đòi hỏi một cuộc đấu tranh cho một trật tự kinh tế thế giới.

Khu vực châu Á Thái Bình Dương.

Đó là khu vực đáng chú ý nhất và là khu vực rộng lớn nhất trên hành tinh này (với diện tích 220 triệu km2, chiếm gần 1/2 diện tích của hành tinh, trên 40 nước và 3 tỷ dân). Với tính chất phong phú và đa dạng về nhiều mặt: kinh tế, chính trị, quân sự, địa lý, nhất là tài nguyên hầu như vô tận2, khu vực này đang phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, sẽ trở thành trung tâm phát triển kinh tế thế giới trong thế kỷ XXI, đang thu hút sự quan tâm của nhiều nước, nhất là các nước lớn đã được đế quốc Mỹ quan tâm đặc biệt, nhằm thực hiện mục tiêu mà Ru-dơ-ve trước đây đã nêu ra: “Mỹ phải trở thành cường quốc khống chế Thái Bình Dương”.

Nhìn toàn cục, trong thời đại có khả năng đẩy lùi chiến tranh hạt nhân hủy diệt, xu thế hòa hoãn phát triển đi đôi với đấu tranh bằng các hình thức khác nhau, cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống xã hội một mất một còn vẫn tiếp tục diễn ra quyết liệt dưới những hình thức mới của bối cảnh lịch sử mới. Cần lưu ý là hiện nay chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ, đang ra sức lợi dụng khó khăn, có cả những lệch lạc trong công cuộc cải tổ, đổi mới, cải cách ở một số nước xã hội chủ nghĩa, tiến hành một chiến lược mới chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, và các nước thuộc thế giới thứ 3, hòng thủ tiêu chủ nghĩa xã hội và chống lại độc lập dân tộc. Chiến lược này áp dụng rộng rãi các biện pháp kinh tế và kỹ thuật, chính trị, tư tưởng và tâm lý, đồng thời vẫn lấy “răn đe quân sự” khi cần thiết, dưới nhiều hình thức xâm lược vũ trang bộ phận, “xung đột cường độ thấp”, “chiến tranh ủy nhiệm qua tay người khác, chiến tranh cục bộ”3.
_________________________________
1. Bush: Diễn văn đọc ở Học viện những người bảo vệ biển 25-5-1989.
2. - 5 trong 7 nước lớn nhất thế giới nằm ở khu vực này.
- 11 trong 19 nguyên liệu khoáng sản chiến lược có trữ lượng lớn nhất thế giới nằm ở khu vực này.
- 1/3 kim ngạch buôn bán của Mỹ tập trung ở khu vực này.
- Đầu tư trực tiếp của Mỹ ở khu vực này hiện nay là 30 tỷ đô la.
3. Nguyễn Văn Linh: “Củng cố hòa bình, đề cao cảnh giác, phát huy sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc”, Tạp chí quốc phòng toàn dân, 12-1989, trang 4, 5.

Cục diện chiến lược quốc tế hình thành từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay đã tan vỡ. Cục diện thế giới mới với nhiều trung tâm quyền lực đang hình thành. Thế so sánh lực lượng chiến lược quốc tế thay đổi nghiêng hẳn về có lợi cho chủ nghĩa đế quốc và bất lợi cho các lực lượng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc. Mỹ là siêu cường duy nhất còn lại tuy sức mạnh có hạn, sau khi nhà nước Liên Xô tan rã bớt đi một đối thủ chủ chốt, âm mưu xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, đẩy lùi chủ nghĩa dân tộc tiến bộ, xúc tiến lập một trật tự thế giới tư bản chủ nghĩa kiểu Mỹ: Trong nhiều năm trước mắt tìm cách đóng vai trò áp đặt đối với nhiều vấn đề quốc tế quan trọng và tại Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, ngăn chặn Nhật, châu Âu hay bất kỳ cường quốc nào nổi lên tranh giành vị trí dẫn đầu bá chủ thế giới của Mỹ.

Nhưng trật tự thế giới cũ bị phá vỡ tạo nhiều mâu thuẫn mới. Châu Âu nhất thể hóa ngày càng tỏ ra muốn độc lập hơn với Mỹ. Đức và Nhật ngày càng lớn mạnh thách thức địa vị lãnh đạo của Mỹ. Chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy ở các lục địa chống lại sự khống chế, áp đặt của Mỹ. Nhân dân Mỹ nhất là các tầng lớp lao động đấu tranh đòi nhà cầm quyền quan tâm hơn giải quyết các vấn đề gay cấn về kinh tế xã hội có nhiều mặt bị trì trệ suy thoái ở trong nước.

Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản vẫn là mâu thuẫn rất quyết liệt biểu hiện dưới nhiều hình thức mới. Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau nhất là giữa Mỹ, Nhật, Đức trước hết trên lĩnh vực kinh tế thương mại phát triển hết sức phức tạp.

Trong nhiều năm tới mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc Mỹ âm mưu áp đặt trật tự thế giới kiểu Mỹ, bá chủ thế giới với xu hướng độc lập tự chủ, tiến bộ của các dân tộc trên thế giới đang nổi lên là mâu thuẫn chủ yếu của thời đại.

Trong cục diện mới của tình hình quốc tế đang biến động mau lẹ. Xu thế hòa bình và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, hòa bình thế giới có khả năng giữ vững, sự đối kháng về quân sự giữa các siêu cường cũng như nguy cơ chiến tranh thế giới giảm bớt. Nhưng đồng thời những nhân tố tranh chấp, khống ổn định, các cuộc xung đột chiến tranh khu vực mới nổ ra dưới nhiều hình thức quy mô khác nhau trong đó có nội chiến do tranh chấp về chủng tộc, tôn giáo, lãnh thổ, vùng biển, sự áp đặt bá quyền của các nước lớn... lại nổ ra tại nhiều nơi trên thế giới (Đông Âu, Liên Xô cũ, châu Phi, Trung Đông...). Nhiều sự liên kết khu vực mới về kinh tế, chính trị, an ninh, tôn giáo, dân tộc đang xuất hiện. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan lan rộng có thể kéo theo các cuộc tranh chấp, xung đột về lãnh thổ. Tình hình còn biến động, đầy bất trắc, khó lường hết.

Trước cục diện mới, các nước lớn nhỏ đều tìm cách điều chỉnh chiến lược quốc gia. Tùy theo lợi ích dân tộc và thế so sánh lực lượng mới trên thế giới và ở từng khu vực nhằm vượt qua thử thách, nắm bắt thời cơ mới đưa dân tộc mình tiến lên, tạo đà phát triển nhanh chóng khi bước sang thế kỷ 21.

Tình hình quốc tế và khu vực còn đang biến động phức tạp cuộc chạy đua vũ trang đang tiếp tục. Hợp tác và đấu tranh đều phát triển không thể coi nhẹ việc mở rộng hợp tác quốc tế nhưng cũng phải thấy mặt đấu tranh mâu thuẫn cũng không ngừng tăng.

Dân tộc Việt Nam ta trải qua mấy chục năm đấu tranh gian khổ, đã giành được thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng liên tiếp những tên đế quốc mạnh nhất của thời đại.

Đất nước đã giành được độc lập tự do. Chúng ta đã tạo được môi trường hòa bình trên toàn cục để xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Từ cục diện tình hình trên, trong điều kiện lịch sử của dân tộc, nhiệm vụ xây dựng đất nước và bảo vệ đất nước của nhân dân ta hiện nay mang tính chất một cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc sâu rộng trong hoàn cảnh hòa bình.

Nhiệm vụ đó nhằm chiến thắng lạc hậu và nghèo nàn; nâng cao không ngừng đời sống của nhân dân, đồng thời nhằm tạo nên những tiền đề vật chất, chính trị, tinh thần để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của bọn phản động trong nước, đánh bại mọi âm mưu xâm lược chống phá xã hội chủ nghĩa của kẻ thù. Cuộc đấu tranh đó vừa có ý nghĩa dân tộc, vừa có ý nghĩa quốc tế, bảo đảm cho dân tộc ta tiến lên mạnh mẽ trong kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân các dân tộc ở Đông Dương, Đông Nam Á và trên thế giới.

Vì vậy, yêu cầu thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vẫn đang được đặt ra một cách nghiêm túc trước toàn dân.

Hiện nay nhiều kẻ vẫn chưa từ bỏ các mưu đồ đen tối của chúng đối với cách mạng Việt Nam, cách mạng ba nước Đông Dương. Chúng áp dụng các biện pháp kinh tế, chính trị, tâm lý và xâm lược vũ trang trong bộ phận, lấn chiếm cục bộ, gây chiến tranh xâm lược trên các quy mô, kể cả chiến tranh xâm lược quy mô lớn (tuy khó diễn ra trong tương lai gần, nhưng không thể loại trừ hoàn toàn). Chiến lược phá hoại toàn diện của địch vẫn đang tiến hành trên cả nước ta.

Tình hình trên đây đòi hỏi quân và dân ta phải ra sức củng cố nền hòa bình mới giành được, phải nhận thức rõ âm mưu thâm độc trước mắt và lâu dài của mọi thế lực, phải không ngừng nêu cao cảnh giác, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Giữ gìn hòa bình, tập trung xây dựng kinh tế, xã hội, tranh thủ nhanh chóng đưa đất nước tiến lên, là một yêu cầu có tính chiến lược hiện nay của đất nước.

Xây dựng kinh tế xã hội theo đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm trong công cuộc xây dựng đất nước. Xây dựng kinh tế vừa là yêu cầu bức thiết của đời sống nhân dân, yêu cầu phát triển của dân tộc để tiến kịp các nước trên thế giới, vừa là yêu cầu của quốc phòng và an ninh. Trong kinh tế, vừa có vấn đề chính trị, vừa là định hướng chính trị của kinh tế, vừa là một mặt trận đấu tranh giai cấp, gắn liền với các mặt trận đấu tranh về chính trị, quân sự, tư tưởng, liên quan chặt chẽ đến quốc phòng và an ninh.

Vì vậy, tập trung xây dựng kinh tế luôn luôn gắn chặt với củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội. Tập trung xây dựng theo hướng đó không phải là mất cảnh giác, vì quân sự mạnh trong bảo vệ Tổ quốc phải trên cơ sở phát triển kinh tế. Có phát triển kinh tế thì mới bảo đảm, phát huy và phát triển được quân đội tiến lên chính quy, ngày càng hiện đại. Đương nhiên, chỉ tập trung xây dựng kinh tế mà lơ là cảnh giác, không quan tâm đến việc củng cố quốc phòng là sai lầm rất nguy hiểm.

Từ kinh nghiệm lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc, đặc biệt là kinh nghiệm đấu tranh cách mạng trong mấy chục năm qua, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng: trong những điều kiện lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta hiện nay, xây dựng và củng cố quốc phòng phải được coi là một bộ phận không thể tách rời của toàn bộ sự nghiệp xây dựng đất nước ta, của toàn bộ công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta. Đó không phải chỉ là một vấn đề cấp bách đặt ra trước mặt chúng ta, mà là một vấn đề cơ bản và lâu dài khi mà chủ nghĩa đế quốc chưa bị xóa bỏ, đấu tranh giai cấp trên phạm vi thế giới còn tồn tại.

Sức mạnh quốc phòng của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sức mạnh của toàn dân ta trong thời đại mới, của chế độ xã hội chủ nghĩa từng bước được xây dựng và củng cố trên đất nước ta. Đó là sức mạnh tổng hợp hết sức to lớn và ngày càng được tăng cường.

Sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, cơ sở của nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, là sức mạnh toàn diện do nhiều yếu tố hợp thành: chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, khoa học, tư tưởng, tổ chức và cơ sở vật chất kỹ thuật. Sự nhất trí về lợi ích kinh tế trong toàn dân, cơ sở khách quan vững chắc của sự nhất trí hoàn toàn về chính trị và tinh thần trong cả nước mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Nhờ đó, chúng ta sẽ phát huy được cao độ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa để động viên một cách rộng rãi và tổ chức một cách khoa học lực lượng vật chất và tinh thần của toàn dân ta, của cả nước, vừa xây dựng đất nước, vừa bảo vệ đất nước. Nói một cách khác, nền quốc phòng của ta trước hết dựa trên sức mạnh toàn dân. Toàn dân làm quốc phòng, toàn dân chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Như vậy, nền quốc phòng của ta là nền quốc phòng toàn dân và toàn quốc, một nền quốc phòng thực sự vì dân và do dân với nội dung và ý nghĩa đầy đủ nhất, phát triển cao nhất, xuất hiện lần đầu tiên ở nước ta. Nền quốc phòng đó khắc phục được những hạn chế trong nền quốc phòng của dân tộc ta dưới thời đại phong kiến, do có sự đối lập về lợi ích giai cấp giữa nông dân và phong kiến trong nội bộ dân tộc.

Ngày nay, khi nhân dân ta tập trung vào nhiệm vụ xây dựng đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong tình hình đất nước có hòa bình trên cả nước nhưng vẫn phải luôn luôn cảnh giác trước âm mưu xâm lược của các thế lực thù dịch, với khẩu hiệu “toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”, thì chúng ta đã có nhiều điều kiện mới rất thuận lợi để xây dựng sức mạnh tổng hợp lớn nhất của nền quốc phòng toàn dân, xây dựng một cách chủ động và có kế hoạch.

Nếu sức mạnh của chiến tranh nhân dân là một sức mạnh tổng hợp, thì sức mạnh của quốc phòng toàn dân cũng là một sức mạnh tổng hợp, thể hiện mọi mặt của đất nước. Chỉ khác nhau là: khi ta kháng chiến cứu nước thì toàn bộ sức mạnh tổng hợp đó đều được động viên và phát huy trên tất cả các mặt trận của cuộc chiến tranh nhân dân, chiến tranh cách mạng để đánh bại kẻ thù, giành thắng lợi về ta. Còn ngày nay thì sức mạnh tổng hợp của quốc phòng toàn dân biểu hiện một phần ở lực lượng thường trực để làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, còn một bộ phận cực kỳ quan trọng khác thì đang ẩn chứa tiềm tàng trong lực lượng mọi mặt của đất nước: lực lượng chính trị và tinh thần, lực lượng kinh tế, lực lượng văn hóa khoa học và kỹ thuật.

Vì vậy, trong các yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc, tất yếu phải có yếu tố quân sự. Phải có lực lượng quân sự đủ mạnh, an ninh, biên phòng đủ mạnh, phải rất coi trọng quốc phòng và an ninh.

Những khó khăn về kinh tế, tình trạng kém phát triển của đất nước không những kìm hãm dân tộc trong lạc hậu, nghèo nàn mà còn làm suy yếu tiềm lực chính trị, quân sự, đặt đất nước trước nguy cơ mất an ninh. Khủng hoảng kinh tế có thể dẫn tới khủng hoảng chính trị - xã hội.

Ngày nay, đứng trước sự phát triển cao của khoa học kỹ thuật, của phát minh về vũ khí hạt nhân và phi hạt nhân..., trong khi ở một số nước, người ta quan niệm việc bảo vệ quốc gia là việc riêng của quân đội và chỉ có quân đội mới làm được, thì Đảng ta vẫn kiên trì quan điểm quốc phòng toàn dân. Quan điểm quốc phòng toàn dân là một quan điểm có tính truyền thống của dân tộc đã được đúc kết qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.

Kiên trì quan điểm quốc phòng toàn dân, xuất phát từ nhận thức của chúng ta, có sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, cũng như sự nghiệp cách mạng nói chung là sự nghiệp của quần chúng. Chỉ khi nào động viên, tổ chức được đông đảo quần chúng tham gia thì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc mới trở nên vững chắc. Hơn nữa, trong tình hình hiện nay, kẻ thù tiến công ta không chỉ bằng quân sự mà cả về chính trị, kinh tế, ngoại giao, tâm lý, tư tưởng, cả về kỷ cương lối sống xã hội. Hình thức mà chúng tiến hành không chỉ là gây vũ trang xâm lược quy mô lớn, mà trên thực tế, chúng đã và đang tiến hành “chiến lược phá hoại toàn diện” bằng bạo loạn, diễn biến hòa bình, bằng các cuộc xung đột vũ trang xâm lấn biên giới và hải đảo, bằng chiến tranh xâm lược qua tay người khác, với những dạng khác nhau của chiến tranh cục bộ theo “học thuyết xung đột cường độ thấp”.

Một lẽ khác nữa là dù tiềm lực mọi mặt của đất nước ta ngày càng được tăng cường, thì trong tiến hành chiến tranh tương lai chúng ta vẫn phải lấy nhỏ đánh lớn (về mặt địa lý, dân số), lấy ít địch nhiều (về số lượng vũ trang), lấy yếu đánh mạnh (về tiềm lực) ngay từ khi bắt đầu chiến tranh. Do đó, sức mạnh của chúng ta phải là sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của mọi lĩnh vực, của mỗi địa phương và của cả nước, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.

Để thực hiện được quốc phòng toàn dân, cần xây dựng và phát huy mấy yếu tố chính sau đây:

Phát huy tiềm lực chính trị và tinh thần.

Tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, trình độ giác ngộ chính trị, tinh thần đoàn kết các dân tộc, lòng tin ở Đảng... là ưu thế tuyệt đối của nhân dân ta trong chiến tranh giải phóng cũng như trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ngày nay, cần được ra sức bồi dưỡng và phát huy.

Trong tình hình chính trị thế giới đang có những biến động rất mới mẻ và phức tạp, nhận thức tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta nẩy sinh nhiều vấn đề cần phải làm rõ. Đã có không ít những biểu hiện giảm sút lòng tin vào chủ nghĩa xã hội, vào sự lãnh đạo của Đảng, mơ hồ về bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, về đấu tranh giai cấp, dao động về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, sa sút về nghĩa vụ và trách nhiệm đối với sự nghiệp chung của đất nước, nhiều tệ nạn xã hội đang phát triển thành quốc nạn.

Những biểu hiện đó tất nhiên tác động đến tiềm lực chính trị, tinh thần của nhân dân ta trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Cho nên, tăng cường công tác tư tưởng, công tác giáo dục chính trị lúc này là hết sức cần thiết và trở nên cấp bách. Phải làm cho mọi người giác ngộ sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, và sự giác ngộ đó phải biểu hiện thành sức mạnh chính trị vững vàng, kiên trì phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội theo đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng.

Ra sức phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, kết hợp kinh tế với quốc phòng, xây dựng hậu phương vững chắc.

Phát triển kinh tế nhằm nâng cao từng bước đời sống nhân dân, nhưng đồng thời cũng là tạo ra cơ sở vật chất để tăng cường sức mạnh quốc phòng, tạo điều kiện ngày càng vững chắc trong việc đảm bảo hậu cần - kỹ thuật cho chiến tranh. Kinh tế càng phát triển thì càng có điều kiện xây dựng quốc phòng mạnh.

Đương nhiên, kinh tế và quốc phòng là hai lĩnh vực khác nhau; quá trình vận động của mỗi lĩnh vực đều có những quy luật riêng của nó. Vấn đề đặt ra là phải giải quyết tốt việc kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng. 

Trong chiến lược phát triển kinh tế, cần xem xét kết hợp với chiến lược xây dựng và củng cố quốc phòng. Các kế hoạch kinh tế của trung ương cũng như của từng địa phương, dài hạn hay ngắn hạn cũng cần được xem xét mọi mặt, vừa đảm bảo yêu cầu kinh tế, vừa có tác dụng nâng cao tiềm lực quốc phòng. Trong xây dựng cơ cấu của nền kinh tế, bố trí chiến lược các vùng kinh tế, cũng phải kết hợp với yêu cầu xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, nhu cầu đảm bảo cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Mỗi cơ sở kinh tế, ngoài nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất phục vụ đời sống xã hội, cần có kế hoạch chuyển sang hoạt động phục vụ quốc phòng khi có chiến tranh.

Kết hợp trong việc phát triển nền công nghiệp nặng của đất nước với việc xây dựng hệ thống các xí nghiệp công nghiệp quốc phòng để ngày càng tăng cường các khả năng tự sản xuất đảm bảo nhu cầu trang bị thiết yếu cho lực lượng vũ trang. Đứng về mặt kinh tế, việc kết hợp với quốc phòng cũng là yêu cầu về đảm bảo an toàn, an ninh của bản thân nền kinh tế trong thời bình cũng như trong thời chiến.

Vì vậy, có tập trung sức lực vào nhiệm vụ kinh tế, ra sức phát triển kinh tế, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng mới tăng cường được tiềm lực quốc phòng, nâng cao được khả năng quốc phòng, mới xây dựng được nền quốc phòng toàn dân vững chắc. Do đó, xây dựng kinh tế và xây dựng quốc phòng về cơ bản là thống nhất. Phải làm cho việc kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng và kinh tế được thực hiện cân đối, nhịp nhàng, hợp lý, tiết kiệm, làm sao cho mỗi bước phát triển của nền kinh tế đều có tác dụng nâng cao sức mạnh quốc phòng và mỗi bước phát triển của nền quốc phòng lại tăng cường khả năng xây dựng và bảo vệ kinh tế, bảo vệ đất nước. Mặt khác, để góp phần phát triển kinh tế, giảm bớt một phần đóng góp của nhân dân, quân đội phải tích cực lao động sản xuất, tham gia xây dựng kinh tế với những hình thức tổ chức thích hợp.

Lực lượng quân đội làm kinh tế nói chung và các đơn vị chuyên làm kinh tế nói riêng có thể đóng góp đáng kể vào việc cải thiện đời sống của bộ đội, xây dựng nền kinh tế của đất nước, kết hợp kinh tế quốc phòng (như làm đường, tham gia xây dựng các công trình hiện đại với kỹ thuật tinh vi phức tạp ở những môi trường gian khổ, khó khăn, những vùng chiến lược hiểm yếu... ).

Quân đội làm kinh tế phải phấn đấu trở thành một bộ phận tiêu biểu của lực lượng kinh tế quốc doanh.

Phải nghiên cứu sử dụng các tiềm lực phương tiện quân sự lưỡng dụng và các xí nghiệp quốc phòng vào làm kinh tế để tự đổi mới trang bị và bảo quản duy trì vũ khí trang bị hiện có.

Xây dựng sức mạnh toàn dân đánh giặc với lực lượng vũ trang 3 thứ quân làm nòng cốt trên cơ sở thế trận chiến tranh nhân dân đã được chuẩn bị sẵn.

Sức mạnh của toàn dân đánh giặc trong thời kỳ bảo vệ Tổ quốc phải được thể hiện ngày càng cao ở những điểm sau: trình độ tổ chức sẵn sàng chiến đấu của toàn dân, khả năng động viên đông đảo quần chúng tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu bằng mọi loại vũ khí và phương tiện, chất lượng lực lượng vũ trang, trình độ xây dựng và trình độ tác chiến ngày càng tinh nhuệ, vận dụng giỏi cách đánh, các hình thức chiến đấu có hiệu quả của các đơn vị quân đội; trình độ tổ chức chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến, khả năng động viên để khôi phục và phát triển nhanh các lực lượng vũ trang, khả năng tổ chức huy động phương tiện vật chất của các ngành kịp thời đáp ứng yêu cầu chiến tranh; khả năng chiến đấu của mỗi làng xã, mỗi khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, quận, huyện, tự lực bảo vệ địa phương một cách vững chắc; khả năng tổ chức vừa đánh địch, vừa sản xuất, duy trì được mức chiến đấu liên tục dài ngày, càng đánh, càng mạnh.

Tóm lại, xây dựng nền quốc phòng toàn dân là một quá trình lâu dài và phức tạp, là nhiệm vụ của cả hệ thống chuyên chính vô sản dưới sự chỉ đạo tập trung của các cấp ủy đảng và chính quyền. Chỉ có kiên trì nắm vững quan điểm quốc phòng toàn dân mới tạo được sức mạnh tổng hợp để đánh bại mọi âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc phải là lực lượng vũ trang nhân dân gồm 3 thứ quân, là quân đội nhân dân chính quy và ngày càng hiện đại.

Trong thời bình, do tác động tổng hợp của các yếu tố chính trị, kinh tế, đối ngoại..., do có sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân và cơ sở của chiến tranh nhân dân, tình hình phát triển của đất nước, của sự nghiệp củng cố quốc phòng, đang trực tiếp đặt ra những yêu cầu mới đối với việc xây dựng lực lượng vũ trang.

Phương hướng cơ bản là “xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân phải phù hợp với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, sẵn sàng bảo vệ vững chắc thành quả của chủ nghĩa xã hội và Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống”.

Đảng ta xác định: “tạo một bước chuyển biến mạnh hơn và vững chắc hơn về chất lượng của các lực lượng vũ trang với số quân thường trực hợp lý..., chú trọng xây dựng lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ”.

Điều đó có nghĩa là trong tình hình mới, lực lượng vũ trang phải được xây dựng theo hướng giảm số lượng nhưng tăng cường chất lượng và sức mạnh chiến đấu. Giảm số lượng, trước hết và chủ yếu là giảm số lượng quân đội thường trực. Về thực chất, điều đó sẽ giảm bớt một phần ngân sách của nhà nước dành cho quốc phòng, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, cho công cuộc đổi mới hiện nay.

Song, đây không phải là giảm số lượng đơn thuần mà là giảm số lượng một cách hợp lý. Nói một cách khác là tạo nên một tương quan mới giữa số lượng và chất lượng, giữa các thứ quân, giữa quân thường trực và lực lượng dự bị, giữa quân đội chính quy và lực lượng vũ trang quần chúng, giữa các quân chủng, binh chủng... phù hợp với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đó cũng là tạo nên tương quan phù hợp giữa tổ chức quân sự và khả năng kinh tế cũng như nhu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tình hình mới.

Vì vậy, xây dựng lực lượng vũ trang trong tình hình mới không chỉ tập trung xây dựng quân đội thường trực mà phải chú ý xây dựng lực lượng dự bị và xây dựng dân quân tự vệ.

Bên cạnh đội quân thường trực gọn nhẹ, thiện chiến, phải xây dựng lực lượng dự bị hùng hậu và dân quân tự vệ mạnh mới tạo nên sức mạnh chiến đấu tổng hợp của lực lượng vũ trang nhân dân, bù đắp được việc giảm quân thường trực, bảo đảm yêu cầu bảo vệ đất nước trong điều kiện giảm mạnh quân thường trực. Do đó, cần có một phương hướng xác định mô hình tổ chức quân sự tối ưu nhằm giải quyết những co kéo giữa yêu cầu xây dựng đất nước với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, tránh cách nhìn lệch lạc, chỉ thấy giảm số lượng, không thấy yêu cầu nâng cao chất lượng, chỉ thấy trước mắt mà không thấy phải xây dựng một tổ chức quân sự mạnh để bảo vệ Tổ quốc lâu dài.

Nói gọn lại là xây dựng một quân đội thường trực vừa đủ số lượng không lớn nhưng chất lượng và hiệu lực cao, với một lực lượng hậu bị hùng hậu được quản lý chặt và huấn luyện tốt, có cơ chế động viên thích hợp để nhanh chóng mở rộng lực lượng khi có chiến tranh. Đồng thời, phải xây dựng lực lượng vũ trang địa phương một cách thích hợp, bao gồng cả bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Xây dựng bộ đội địa phương mạnh ở tuyến đầu để phòng thủ những vùng xung yếu. Tổ chức dân quân tự vệ phải rất linh hoạt, phù hợp với đặc điểm của từng cơ sở.

Trước tình hình và nhiệm vụ mới, mỗi thứ quân cần được nghiên cứu, xây dựng về mặt tổ chức, biên chế, trang bị cũng như phương thức hoạt động phù hợp.

Dân quân tự vệ cần phải được củng cố và bồi dưỡng nâng cao chất lượng cả về chính trị và quân sự. Cần quan tâm và tích cực giải quyết các chính sách cụ thể về hậu phương quân đội, bảo đảm để họ yên tâm rèn luyện và sản xuất.

Tổ chức dân quân tự vệ cần gọn, nhẹ, phù hợp với đặc điểm địa lý, dân cư và điều kiện sản xuất, trình độ tổ chức hoạt động và tác chiến, khắc phục kiểu tổ chức hình thức, không thiết thực, nặng về số lượng, phù hợp với nền kinh tế nhiều thành phần.

Bộ đội địa phương phải được xây dựng theo hướng chính quy và được tăng cường trang bị, phương tiện vũ khí ngày càng hiện đại hơn, đủ sức thực hành các hoạt động tác chiến theo quy mô vừa và nhỏ, theo phương thức tập trung và phân tán linh hoạt, có khả năng bám trụ chiến đấu dài ngày sau lưng địch.

Bộ đội chủ lực là thành phần chủ yếu của lực lượng vũ trang, là lực lượng chủ yếu đánh những đòn quyết định trong chiến tranh, thực hiện những nhiệm vụ chiến lược, chiến dịch trên chiến trường cả nước. Bộ đội chủ lực cần được xây dưng theo hướng chính quy, ngày càng hiện đại, có số lượng hợp lý, có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, chất lượng cao.

Cần xây dựng quân đội thường trực với các quân chủng và binh chủng thích hợp, trang bị hiện đại và tương đối hiện đại, có khả năng phản ứng kịp thời với các cuộc xung đột vũ trang bộ phận, những hình thức xâm lược hạn chế hoặc chiến tranh hạn chế, và đủ sức đối phó thắng lợi với các cuộc tiến công lớn của địch trong thời gian đầu chiến tranh quy mô lớn, đảm bảo cho đất nước chuyển sang thời chiến.

+ Lục quân phải tiến lên, có đủ những binh chủng cần thiết, có cơ cấu và quy mô tổ chức thích hợp; có hỏa lực và sức đột kích mạnh, có khả năng cơ động cao trên mọi địa hình và trong mọi thời tiết ở nước ta, phát huy đầy đủ vai trò quyết định thắng lợi trên chiến trường. Với tình hình hiện nay, yêu cầu trước mắt, ngoài các binh đoàn và bộ đội đặc công thiện chiến, cần phải có một số binh đoàn mạnh có khả năng cơ động nhanh bằng cơ giới trên các chiến trường.

+ Không quân phải được tăng cường mạnh hơn nữa với yêu cầu có số lượng thích hợp, nhưng phải có chất lượng chiến đấu cao (như có sức cơ động cao, tốc độ lớn, tầm hoạt động xa. có uy lực mạnh và khống chế được một không gian rộng), có cách đánh thật sáng tạo để bảo vệ vững chắc bầu trời của Tổ quốc, có khả năng phối hợp chiến đấu chặt chẽ với hải quân và lục quân trong tác chiến hợp đồng, sẵn sàng đánh bại các cuộc đổ bộ đường không của địch. Không quân cũng cần có trang bị máy bay chiến đấu hiện đại, có khả năng vươn tới đảo xa.

Ở địa hình rừng núi, cần có tổ chức những đơn vị máy bay lên thẳng và máy bay lên thẳng vũ trang.

+ Phòng không cần được tổ chức thích hợp với yêu cầu quản lý bầu trời tốt hơn và sẵn sàng chiến đấu cao hơn.

+ Hải quân phải được xây dựng theo phương hướng có số lượng vừa đủ, nhưng chất lượng chiến đấu phải cao; luôn có cách đánh thích hợp trên chiến trường sông biển của ta, đủ sức bảo vệ bờ biển dài (3260 km) và hệ thống sông ngòi dày đặc của Tổ quốc. Cần có một hạm đội đủ sức và cùng với các lực lượng vũ trang nhân dân địa phương đánh bại các cuộc tập kích đổ bộ của hải quân địch, phối hợp với không quân làm thất bại những mưu đồ đánh chiếm các đảo và quần đảo của ta.

Hiện nay, trong việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, mà nòng cốt là quân đội nhân dân, có nhiều vấn đề cần giải quyết, nhưng nổi lên vẫn là mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng, mối quan hệ giữa con người và vũ khí.

- Về mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng: giải quyết mối quan hệ này không đúng thì quân số có thể rất đông mà không mạnh, ngược lại quân có thể mạnh mà không cần đông. Nhiều khi quân đông nhưng tổ chức không hợp lý, cồng kềnh, kém hiệu lực, kỷ luật lỏng lẻo, các điều kiện đảm bảo vật chất thiếu thốn, các mặt hoạt động của tổ chức không ăn khớp, chồng chéo lẫn nhau do yếu kém của lãnh đạo, chỉ huy, do cơ chế không thích hợp.

Giải pháp của vấn đề này là có số lượng thích hợp nhưng chất lượng phải cao.

Lấy chất lượng cao của ta thắng số lượng đông của địch là vấn đề chiến lược cốt tử để giải quyết mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng. Số lượng quân đội quá đông, trong tình hình kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn là một vấn đề cần phải được giải quyết. Thông thường tỷ lệ quân số so với dân số ở một số nước lớn cũng chỉ chiếm 0,5 đến 1% (như ở Mỹ, tỷ lệ đó cũng chỉ từ 0,9 - 1%; Trung Quốc cũng chỉ có 0,3%. Còn các nước ASEAN thì tỷ lệ rất thấp như In-đô-nê-xi-a dân số 160 triệu người, quân đội chỉ có 281 nghìn người, tỷ lệ là 1/517, Phi-líp-pin là 1/525 người, Thái Lan là 1/269 người, Ma-lay-xi-a là 1/140 người)1.

- Về mối quan hệ giữa con người và vũ khí.

Không phải quân đội có trang bị hiện đại là đã mạnh. Trang bị hiện đại mới chỉ là cơ sở vật chất của chiến đấu. Quyết định trực tiếp sức mạnh chiến đấu là tổ chức, là những con người hợp thành tổ chức, cả cán bộ và chiến sĩ, mà nòng cốt là đội ngũ cán bộ. Do đó, đòi hỏi cán bộ và chiến sĩ phải quản lý tốt và sử dụng thành thạo vũ khí. Không thể có tình trạng vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại mà trình độ con người lại quá thấp kém, không quản lý và sử dụng được các loại trang bị vũ khí đó, nhất là đối với cán bộ chỉ huy các cấp.

Thực trạng của ta hiện nay là nhiều vũ khí trang bị hiện đại chưa được bảo quản và sử dụng tốt nên chóng hư hỏng và uy lực của vũ khí trang bị không được phát huy tốt trong chiến đấu. Đó là những mặt yếu kém cần được khắc phục.

Nói tóm lại là quân phải tinh, không nhất thiết phải đông (quý hồ tinh, bất quý hồ đa).
__________________________________
1. AFP. Uacarta 25-10-1987. 

Trong cục diện tình hình hiện nay, vấn đề cơ bản nhất của việc xây dựng lực lượng vũ trang vẫn phải là coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị tư tưởng. Nâng cao ý chí cách mạng, tinh thần cảnh giác, kiên quyết bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội, đánh thắng chiến lược “diễn biến hòa bình” và mọi hình thức chiến tranh xâm lược của địch.

Cần gắn chặt việc xây dựng lực lượng vũ trang với công cuộc xây dựng và củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ và vững chắc trên từng địa phương, từng chiến trường và trên cả nước, cả trên biển, đảo và quần đảo, đặc biệt trên các trọng điểm, đảm bảo cả nước làm quốc phòng, cả nước sẵn sàng chiến đấu, cả nước đánh giặc, thế trận quốc phòng an ninh vững chắc.

Quá trình xây dựng lực lượng vũ trang đòi hỏi phải cải tiến và thực hiện tốt các chính sách đối với lực lượng vũ trang, đối với quân đội thường trực và chính sách hậu phương quân đội.

Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, chế độ đối với lực lượng vũ trang. Song trong tình hình mới, nhiều điểm trong các chính sách, chế độ không còn phù hợp nữa. Vì thế, hiện nay đời sống của cán bộ chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và hậu phương của họ gặp nhiều khó khăn mà chưa được giải quyết. Mối quan tâm chung của xã hội đối với nhiệm vụ củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội cần được tăng cường hơn. Trong cán bộ, chiến sĩ quân đội, nẩy sinh những tư tưởng lệch lạc và những vướng mắc trong tâm tư, ảnh hưởng không tốt đến việc nâng cao chất lượng của các lực lượng vũ trang.

Yêu cầu quan trọng và cấp bách là “có tổ chức và chính sách đúng nhằm đào tạo và xây dựng đội ngũ sĩ quan và tướng lĩnh giỏi, đội ngũ nhân viên chuyên môn, kỹ thuật giỏi, coi đó là một khâu then chốt trong xây dựng quân đội. Cải tiến và thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với quân thường trực và chính sách hậu phương quân đội”.

Muốn vậy, phải đổi mới những nội dung của chính sách hiện hành và nghiên cứu đề ra chính sách mới phù hợp với thực tế.

Đẩy mạnh khoa học kỹ thuật phục vụ sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang và củng cố quốc phòng.

Trong sự nghiệp phát triển khoa học và kỹ thuật phục vụ cho việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là “xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, nhân dân ta đang đứng trước sự thách thức lớn lao về trí tuệ và tư duy lý luận, về kỹ thuật và công nghệ, về khoa học quản lý, thời đại mà thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ sôi động đang được nhiều nước sử dụng như một nhân tố quyết định để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm thay đổi bộ mặt của đời sống xã hội và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang.

Các nước đang phát triển cũng không đứng ngoài trào lưu lịch sử đó. Một số nước năng động, sáng tạo đã chớp lấy thời cơ thuận lợi đó của những thập kỷ 60, 70, tranh thủ được sức mạnh của thời đại, chủ động đề ra những chính sách thích hợp để thu hút ồ ạt vốn và kỹ thuật hiện đại của nước ngoài; đề cao tự lực tự cường, nhanh chóng làm chủ kỹ thuật hiện đại được chuyển giao, thích nghi và phát triển các kỹ thuật đó để hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân và đã vươn lên trở thành những nước công nghiệp mới (NIC) chỉ trong vòng có vài ba mươi năm, chứ không phải vài ba thế kỷ (Nam Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Lông, Sing-ga-po - 4 con rồng của châu Á).

Các nước Asean với chính sách “Hướng về phương Đông”, đang ra sức áp dụng những kinh nghiệm của Nhật Bản và Nam Triều Tiên vào điều kiện cụ thể của mỗi nước để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, tốc độ công nghiệp hóa và cũng đã đạt được những thành tích to lớn.

Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nước nghiên cứu chiến lược trên thế giới thuộc nhiều trường phái khác nhau đều thống nhất dự báo rằng: đến cuối thế kỷ XX, khu vực châu Á Thái Bình Dương sẽ là khu vực phồn vinh nhất thế giới và thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ châu Á Thái Bình Dương.

Về mặt lịch sử cũng như về mặt địa lý, nước ta có một vị trí cực kỳ quan trọng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Vấn đề đặt ra cho chúng ta hiện nay là làm sao tiếp thu được những thành tựu của cách mạng công nghệ, các tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giới, để nhanh chóng vượt ra khỏi tình trạng lạc hậu, đói nghèo hiện nay, phấn đấu trở thành một đất nước phồn vinh trong một khu vực phồn vinh.

Vì vậy, chúng ta cần phải tiếp cận nền khoa học thế giới, áp dụng những tiến bộ kỹ thuật nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, trên cơ sở đó mà tăng cường tiềm lực quốc phòng, đưa khoa học kỹ thuật phục vụ sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang và củng cố quốc phòng.

Ngày nay, tiềm lực khoa học đã trở thành một yếu tố cơ bản, một động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, tăng cường sức mạnh quốc phòng. Trong lĩnh vực quân sự, khoa học cũng trở thành lực lượng chiến đấu trực tiếp; ở các nước, những thành tựu mới nhất và quan trọng nhất đều được ưu tiên vận dụng vào quân sự.

Đối với nhiệm vụ bảo vệ đất nước, củng cố quốc phòng, nhiều bộ môn khoa học, có lẽ là những bộ môn quan trọng nhất của khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật là những cơ sở không thể thiếu được về lý luận và thực tiễn để phát triển khoa học quân sự. Đó là một ngành khoa học tổng hợp đặc thù của lĩnh vực đấu tranh cho vũ trang, có nhiệm vụ nghiên cứu những quy quật của chiến tranh và chiến tranh cách mạng trong điều kiện của đất nước ta và thời đại của chúng ta trên quan điểm chiến tranh toàn dân và quốc phòng toàn dân.

Đi đôi với khoa học quân sự, cần phát triển đồng thời khoa học kỹ thuật quân sự. Đây là một ngành khoa học có nhiệm vụ cực kỳ phức tạp trong hoàn cảnh của một nước công nghiệp chưa phát triển, kinh tế có nhiều khó khăn, nhưng lại phải xây dựng một quân đội chính quy ngày càng hiện đại, có một sức mạnh để giành thắng lợi trong chiến tranh hiện đại.

Trên cơ sở một chính sách kỹ thuật quân sự đúng đắn, phải xác định rõ các mục tiêu kỹ thuật cụ thể của các lực lượng vũ trang, và các biện pháp, bước đi để thực hiện các mục tiêu kỹ thuật đó.

Cần từng bước xây dựng nền công nghiệp quốc phòng của nước ta, kết hợp với sự giúp đỡ của các nước anh em để trang bị cho các lực lượng vũ trang những phương tiện kỹ thuật có hiệu quả chiến đấu cao, theo yêu cầu của chiến tranh nhân dân trong điều kiện hiện đại.

Trong hoàn cảnh cụ thể của nước ta, phần lớn các trang bị kỹ thuật hiện đại đều do Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũ cung cấp hoặc thu được của địch, nhiệm vụ quản lý kỹ thuật và đảm bảo kỹ thuật nổi lên thành nhiệm vụ rất quan trọng và rất khó khăn của các hoạt động khoa học kỹ thuật quân sự lực lượng vũ trang. Hơn thế nữa, các phương tiện kỹ thuật đó cần không ngừng được hiện đại hóa. Bởi vì, với thời gian, những phương tiện kỹ thuật đó sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu, trong khi trang bị kỹ thuật của đối phương lại được hiện đại hóa rất nhanh bằng cách áp dụng những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật hiện đại.

Có hai cách nâng cao trình độ hiện đại của trang bị kỹ thuật quân sự: hoặc là thay thế trang bị cũ bằng trang bị mới hiện đại hóa, đó là cách thường dùng của những nước có tiềm lực lớn về công nghiệp hiện đại và những nước giàu ngoại tệ như những nước xuất khẩu dầu lửa ở Trung Cận Đông; hoặc là tiến hành hiện đại hóa từng phần những trang bị kỹ thuật hiện có nhằm nâng cao những chỉ tiêu chiến thuật, kỹ thuật quan trọng nhất của trang bị. Hiện đại hóa các trang bị kỹ thuật hiện có phải được đặt thành một nhiệm vụ ngày càng quan trọng của các hoạt động khoa học kỹ thuật của chúng ta. Nhiều thành tựu của cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là trong các lĩnh vực vi điện tử vật liệu mới và công nghệ mới ngày càng tạo ra nhiều khả năng to lớn để hoàn thành tốt nhiệm vụ đó mà không đòi hỏi quá nhiều đầu tư về cơ sở vật chất kỹ thuật. Đồng thời phải nhìn vào đặc điểm và hình thái của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai nhằm đối phó có hiệu quả với những âm mưu thủ đoạn của kẻ địch, với các quy mô và hình thái chiến tranh. Vì vậy, ngay trong thời bình, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa khoa học quân sự và khoa học kỹ thuật quân sự để đề xuất các giải pháp chiến thuật, kỹ thuật có khả năng hạn chế tác dụng hoặc vô hiệu hóa các thủ đoạn chiến thuật và kỹ thuật của địch, như vấn đề chống phá chiến tranh điện tử, phá hệ thống CSIS chỉ huy, kiểm tra, thông tin, trinh sát của đối phương.

Trong khoa học kỹ thuật quân sự, cần chú ý đến khoa học kỹ thuật hậu cần. Chuyên ngành này có nhiệm vụ vận dụng những thành tựu của khoa học dinh dưỡng, vi sinh học, công nghệ sinh học và nhiều bộ môn khoa học kỹ thuật khác để bảo đảm đời sống vật chất, trang bị kỹ thuật, giữ gìn và hồi phục sức khỏe của bộ đội trong thời bình cũng như thời chiến.

Để làm tốt được các vấn đề nêu trên cần phải:

Kiện toàn các tổ chức nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng và hiệu quả của các hoạt động khoa học và kỹ thuật trong các lực lượng vũ trang: Cần tổ chức thành đội ngũ cán bộ có trình độ cao trong những cơ quan khoa học thì mới có thể thu hút được sự tham gia có hiệu quả của các cơ quan khoa học và kỹ thuật của các nhà nước, mới có thể tiếp thu được một cách nhanh nhạy và sáng tạo những thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật trong nước và trên thế giới, phục vụ cho nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của các lực lượng vũ trang. Các hoạt động khoa học và kỹ thuật trong quân đội phải phục vụ tốt các mục tiêu trước mắt như các yêu cầu của công tác huấn luyện bộ đội, công tác đảm bảo kỹ thuật, đảm bảo hậu cần, các yêu cầu sẵn sàng chiến đấu ở các vùng biên giới, trên đất liền, và trên biển v.v... Đồng thời phải coi trọng phục vụ các mục tiêu lâu dài, đảm bảo cho các yêu cầu của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai.

Tăng cường công tác thông tin khoa học, nghiên cứu sâu và có hệ thống sự phát triển của địch về nhiều mặt: học thuyết quân sự, âm mưu chiến lược, tổ chức lực lượng, trang bị kỹ thuật, thủ đoạn chiến đấu v.v... Trên cơ sở đó và trên cơ sở đường lối quân sự, chiến lược quân sự, thực trạng tình hình quân đội và tình hình kinh tế nước ta, xác định đúng đắn những mục tiêu và phương hướng chủ yếu phát triển khoa học và kỹ thuật trong quân đội; nhanh chóng phát triển tiềm lực khoa học và kỹ thuật một cách tương xứng về lực lượng cán bộ cũng như về cơ sở vật chất kỹ thuật; triển khai mạnh mẽ và kiên trì các hoạt động nghiên cứu khoa học; áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong nước và trên thế giới để hiện đại hóa từng phần các trang bị kỹ thuật hiện có; nâng cao hiệu lực công tác quản lý và chỉ huy bộ đội; nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu theo yêu cầu của chiến tranh hiện đại.

Kết hợp chặt chẽ các hoạt động khoa học và kỹ thuật trong và ngoài quân đội.

Các cơ quan quản lý khoa học và nghiên cứu khoa học trong quân đội cần tích cực tham gia vào việc xây dựng dự báo về chiến lược khoa học và kỹ thuật, các kế hoạch dài hạn, các chương trình khoa học và kỹ thuật trọng điểm của nhà nước để cho nội dung các chiến lược, kế hoạch và chương trình đó thể hiện được sự kết hợp những yêu cầu phát triển kinh tế xã hội với những yêu cầu quốc phòng. Các cơ quan nghiên cứu khoa học trong quân đội cần dành một lực lượng thích đáng để tham gia thực hiện những đề tài vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa quốc phòng trong các chương trình khoa học và kỹ thuật trọng điểm của nhà nước. Sự tham gia có thể ở những mức độ khác nhau, từ mức độ phối hợp từng mặt đến mức độ chủ trì đề tài. Các kết quả của nghiên cứu khoa học và kỹ thuật trong quân đội cần được nhanh chóng áp dụng vào thực tế để phục vụ chẳng những cho các yêu cầu của lực lượng vũ trang, mà còn cho các yêu cầu của các ngành kinh tế. Ngược lại, đối với những vấn đề khoa học và kỹ thuật đặc thù của quân đội mà cần tập hợp lực lượng rộng rãi để giải quyết, thì có thể trình bày dưới dạng các chuyên đề khoa học và kỹ thuật chung để tranh thủ sự hợp tác của các chuyên gia có liên quan của các cơ quan khoa học nhà nước, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang và củng cố quốc phòng.

Trong tình hình của đất nước ta hiện nay, chúng ta phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, làm cho khoa học kỹ thuật thực hiện được vai trò động lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, tăng cường sức mạnh quốc phòng để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

KẾT LUẬN



Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã biết bao phen đứng trước nguy cơ còn, mất, suy vong và cũng có nhiều thời thịnh vượng. Trong quá trình đấu tranh chinh phục thiên nhiên, đấu tranh chống kẻ thù xâm lược bền bỉ và anh dũng, liên tục và kiên cường, dân tộc ta vẫn tồn tại, vẫn tiến lên với một sức sống phi thường. Tổ tiên ta đã biết kết hợp chặt chẽ ngay từ ngày đầu dựng nước quy luật “dựng nước gắn liền với giữ nước”, và ngày nay quy luật đã phát triển thành quy luật “xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn liền với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, như Lê-nin đã từng nói: “Bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là Tổ quốc”.

Ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ dưới mái đền Hùng năm xưa: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau ra sức giữ nước”, toàn thể dân tộc ta, trong khi tập trung sức lực vào sự nghiệp xây dựng đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, vẫn không ngừng chăm lo quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Điều đó đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, trong báo cáo chính trị của mình, khẳng định: “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng, tiếp tục thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa...”.

Cũng như sự nghiệp xây dựng đất nước, sự nghiệp quốc phòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Sức mạnh quốc phòng của ta là sức mạnh tổng hợp, tiềm lực quốc phòng của ta là tiềm lực toàn diện.

Đường lối quân sự của Đảng ta trong giai đoạn mới, đường lối về quốc phòng toàn dân, về chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc đang soi sáng cho công cuộc xây dựng thắng lợi nền quốc phòng và an ninh của Tổ quốc Việt Nam độc lập thống nhất, xã hội chủ nghĩa.

Ngày nay, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhân dân ta nhất định sẽ vượt qua những thử thách mới trên con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, giành lấy ấm no hạnh phúc cho nhân dân, giữ vững độc lập tự do, bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Hết!

 

 

Last Updated ( Saturday, 04 April 2009 )
 
< Prev   Next >
Trang chủ Diễn đàn Lịch Sử Việt Nam